1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCHTỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030

112 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là những định hướng chiến lược quan trọng, mở ra cơ hội phát triển mạnh mẽ cho Vĩnh Phúc, nhưng đồng thời cũng là những thách thức vô cùng to lớn với cả tỉnh.Trong vị thế của Đô thị

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc Vùng Du lịch Bắc Bộ, một trong những địa phương

có nhịp độ phát triển kinh tế cao nhất trong cả nước, minh chứng cho tính đúng đắn củađường lối chính sách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa củaĐảng và Nhà nước thời gian qua Bên cạnh thế mạnh về phát triển công nghiệp, với lợi thếnằm gần thủ đô Hà Nội, đặc biệt gần sân bay Nội Bài, cửa ngõ đối ngoại quan trọng nhấtcủa miền Bắc, du lịch cũng là một trong những thế mạnh đặc biệt có thể khai thác pháttriển tốt, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước

Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch Vĩnh Phúc là trung tâmkinh tế lớn của Vùng Thủ đô, tương lai sẽ phát triển một thành phố hiện đại, phát triển bềnvững, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, môi trường sống có chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ vàhài hòa giữa đô thị Vĩnh Phúc và Thủ đô Hà Nội, vùng Thủ đô và vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ, tăng cường hợp tác quốc tế gắn với hành lang kinh tế Côn Minh-Hà Nội-HảiPhòng

Quy hoạch này được xây dựng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Theo

đó, diện tích khu vực nghiên cứu quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc khoảng 328,6 km2.Quy hoạch đề cập đến việc xây dựng đô thị hạt nhân-hợp nhất gồm thành phố Vĩnh Yên,thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên và các khu vực đô thị hóa nhanh thuộc các huyện YênLạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo để trong tương lai từng bước hình thành một đôthị loại I trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc

Đây là những định hướng chiến lược quan trọng, mở ra cơ hội phát triển mạnh

mẽ cho Vĩnh Phúc, nhưng đồng thời cũng là những thách thức vô cùng to lớn với cả tỉnh.Trong vị thế của Đô thị loại 1, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng Thủ

đô, Vĩnh Phúc cần phát triển mạnh thương mại - dịch vụ - du lịch , bên cạnh thế mạnh vềcông nghiệp, đồng thời đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo

Vĩnh Phúc, bên cạnh những thuận lợi về vị trí địa lí, hạ tầng giao thông, còn làmột địa phương giàu tiềm năng du lịch với hệ thống tài nguyên du lịch cả nhân văn và tựnhiên phong phú, có giá trị Đó là những lợi thế to lớn là tiền đề quan trọng cho sự pháttriển mạnh và bền vững du lịch, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chuyển đổi cơcấu GDP và cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống người dân

Với những tiềm năng nổi trội, cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịchtương đối phát triển, du lịch Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong thờigian qua Tuy nhiên, để có thể khai thác hiệu quả nhất nguồn tài nguyên với mục tiêu pháttriển du lịch nhanh, mạnh và bền vững trong bối cảnh biến động nhanh của nền kinh tế cảnước và thế giới cần thiết xây dựng Quy hoạch Tổng thể Phát triển Du lịch tỉnh Vĩnh Phúcđến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 nhằm xác định chiến lược phát triển lâu dài làm cơ sởcho các định hướng, các dự án đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

Với quan điểm trên, thời gian qua Tỉnh Uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhândân Tỉnh đã chỉ đạo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Nghiên Kiến trúcNhiệt đới - Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và một số chuyên gia của Tổng cục Du lịch

xây dựng dự án "Quy hoạch Tổng thể Phát triển Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc đến năm

Trang 3

2020, tầm nhìn đến 2030" làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của

tỉnh nói chung và của ngành du lịch nói riêng

Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch là:

khai thác có hiệu quả, bền vững tiềm năng lợi thế phát triển du lịch của Vĩnh Phúcnhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương

nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên, trật tự và antoàn xã hội

7 Đề xuất các biện pháp tổ chức và các giải pháp thực hiện quy hoạch

Trong quá trình xây dựng quy hoạch nhóm tác giả luôn nhận được sự quan tâmchỉ đạo thường xuyên của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh Uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ banNhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo Tổng cục Du lịch,Viện Kiến trúc Nhiệt đới, sự giúp đỡ có hiệu quả của các Sở, Ban, Ngành và các huyện,thị Chúng tôi bày tỏ lòng cám ơn chân thành nhất đối với sự giúp đỡ quý báu đó và mongnhận được nhiều ý kiến đóng góp để dự án được hoàn thiện, mang tính khả thi cao làm tiền

đề cho các quy hoạch chi tiết, các dự án khả thi đầu tư phát triển du lịch Vĩnh Phúc xứngvới tiềm năng to lớn cũng như hướng tới mục tiêu trở thành đô thị loại 1 trong thời kỳ tới

BAN CHỦ NHIỆM DỰ ÁN

Trang 4

CÁC CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU

LỊCH TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN 2020, TẦM NHÌN ĐẾN 2030

- Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, năm 2011

- Luật Du lịch được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ VII (5/5/2005 đến14/6/2005) và có hiệu lực từ 1/1/2006

- Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 về lập, phê duyệt và quản lý quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

- Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 được Chính phủphê duyệt ngày 22 tháng 7 năm 2002

- Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việcban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21của Việt Nam)

- Thông tư 01/2005/TT-BKH ngày 9/3/2005 của Bộ KH-ĐT về việc triển khai thựchiện quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ

- Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 1/7/2008 của Bộ KH-ĐT hướng dẫn thực hiệnmột số điều của Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006

- Quyết định 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ trưởng Bộ KH-ĐT

- Nghị quyết Đại hội 15 của Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc

- Quyết định số 904/2005/QĐ-UB ngày 06/4/2005 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc vềphê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010

định phê duyệt số 307/TTg ngày 24/5/95 của Thủ tướng Chính phủ )

2.2 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020 (Quyết định phê duyệt số

97/2002/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ)

định hướng đến 2020

2.5 Quy hoạch TT Phát triển Du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và Phụ cận

đến 2050

2.9 Dự án bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích danh thắng Tây Thiên

Trang 5

2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam và trên thế giới những năm gần đây, xu thế

phát triển du lịch những năm tiếp theo

du lịch của người dân địa phương cũng như cả nước và quốc tế

Trang 6

Viện Kiến trúc Nhiệt đới - Đại học Kiến trúc Hà Nội.

a Cơ quan Trung ương:

- Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch - Tổng cục Du lịch

- Các Vụ chức năng thuộc Tổng cục Du lịch

- Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng

- Viện Chiến lược Phát triển - Bộ Kế hoạch - Đầu tư

b Cơ quan địa phương:

Trang 7

PHẦN I ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU

và Tuyên Quang

1.1 Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, tiếp giáp với các tỉnh TháiNguyên, Tuyên Quang ở phía Bắc, Phú Thọ ở phía Tây và Hà Nội ở phía Đông và Nam,trong khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trọng điểm kinh tếphía Bắc với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và xa hơn là Trung Quốc Vĩnh Phúc có

vị trí thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và dịch vụ, đặc biệt trong điều kiện VĩnhPhúc nằm trên tuyến quốc lộ 2, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai nối Hà Nội với các tỉnhphía Bắc và nằm kề với cảng hàng không quốc tế Nội Bài đang được nâng cấp mở rộng lênquy mô 4 triệu khách vào năm 2000 và 9 triệu khách vào năm 2010, định hướng lâu dài là

15 triệu lượt khách/năm

Một trong những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý của Vĩnh Phúc là nằm kề với Thủ

đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Lợi thế này cho phép VĩnhPhúc tiếp cận với thông tin, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ phục vụphát triển kinh tế trong đó có du lịch Bên cạnh đó, do nằm trong vùng ảnh hưởng kinh tế -

xã hội trực tiếp của Thủ đô, Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạtầng hoặc sử dụng những cơ sở hạ tầng chiến lược như đường cao tốc 18 - cửa mở ra biển

để phát triển các ngành kinh tế cũng như dịch vụ du lịch

1.1.2 Địa hình

Vĩnh Phúc là tỉnh vừa thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, vừa thuộc địa bànđỉnh tam giác châu thổ sông Hồng Nhìn chung địa hình nằm trên một bán bình nguyên bócmòn, mang tính chất miền đồi với độ cao trung bình khoảng 500m, tuy nhiên có thể phân

ra 3 vùng : miền núi, đồng bằng và miền Trung du

Phía Đông Bắc của tỉnh là dãy núi Tam Đảo nổi tiếng của Việt Nam, là ranh giới tựnhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc với Tuyên Quang và Thái Nguyên Dãy Tam Đảo chạy dàikhoảng 50 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với hơn 10 đỉnh cao trên dưới 1.400m

Trang 8

trong đó đỉnh cao nhất là Tam Đảo (1592m), ngoài ra còn có các đỉnh cao khác như ThạchBàn (1388m), Thiên Thị (1376m), Phù Nghĩa (1300m) nối liền với nhau như 3 hòn đảo.Đoạn cuối dãy núi hạ thấp đột ngột, tới đầu Sóc Sơn độ cao chỉ còn 600m Cách Tam Đảokhoảng 10 km về phía Tây Bắc là khu danh thắng Tây Thiên với độ cao trung bình gần nhưTam Đảo (900m) Ở phía Bắc của tỉnh, gắn vào dãy núi Tam Đảo có một dãy núi thấp trênđất huyện Lập Thạch với đỉnh cao nhất là 663m, thường được gọi là khu vực Núi Sáng -Thác Bay Nơi đây là căn cứ địa của nghĩa quân Đề Thám trước kia.

Miền núi Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện tổ chức hoạt động du lịch, các dạng địahình đặc biệt như cacxtơ hay các thác nước, suối đẹp trên núi rất thu hút du khách điểnhình là Thác Bạc với dòng suối Bạc đổ từ độ cao 40 m, suối Bát Nhã, suối Hạc, suốiVàng

Miền đồng bằng Vĩnh Phúc gồm lãnh thổ các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, thànhphố Vĩnh Yên và một số xã thuộc huyện Tam Đảo, huyện Bình Xuyên, là đỉnh của tamgiác châu thổ sông Hồng Địa hình khu vực này nhìn chung bằng phẳng, đất đai khá phìnhiêu, màu mỡ, một vài chỗ địa hình hơi võng lòng chảo, có nhiều đầm hồ và vực lớn nhưđầm Vạc, đầm Rưng, đầm Cả Chủ yếu là các kiểu đồng bằng tích tụ ngoài đê, đồng bằngtích tụ gian sông, đồng bằng thềm tích tụ xâm thực Hiện nay vùng đồng bằng phát triểntrồng lúa, rau xanh, các cây vụ đông và phát triển chăn nuôi

Vùng đồi trung du chiếm gần nửa diện tích toàn tỉnh Phần lớn địa hình cao 50 - 60

m, xen kẽ một số đồi cao 200 - 300m Đây là vùng phù sa cổ được các vận động tạo sơnnâng lên Quỹ đất của vùng còn tương đối khá, đặc biệt là đất đồi, có thể phát triển câycông nghiệp ăn quả

1.1.3 Khí hậu

Lãnh thổ của tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực khí hậu gió mùa chí tuyến, có mùađông lạnh khô Do đặc điểm địa hình phía Đông bắc là dãy núi Tam Đảo chạy dài xuốngĐông Nam tạo nên một bức tường chắn ảnh hưởng của gió mùa cực đới trong mùa đônglạnh nên về mùa đông Vĩnh Phúc ít nhiều ấm hơn một số tỉnh cùng vĩ độ ở vùng đông bắc

và ngược lại về mùa hè lại là hướng mở đón gió nên cũng khá nhiều mưa

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24oC Riêng vùng Tam Đảo khí hậu mát mẻhơn, nhiệt độ trung bình khoảng 18oC Tháng giêng là tháng lạnh nhất, nhiệt độ thườngdưới 18oC (Tam Đảo trên dưới 11oC) Tháng nóng nhất là tháng 7 Vào mùa hạ số tháng cónhiệt độ trên 25oC là 6 tháng Tuy nhiên ở Tam Đảo quanh năm không có tháng nào nhiệt

độ trung bình vượt quá 25oC và nhiệt độ tối cao tuyệt đối không vượt quá 35oC

Khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi thể hiện ở biên độgiao động nhiệt độ ngày đêm khá lớn và có khả năng xảy ra hiện tượng sương muối

Lượng mưa trung bình năm ở Vĩnh Phúc là 1500 - 1800 mm, thấp hơn mức bìnhquân ở các tỉnh phía Bắc (1830 mm) Mưa chủ yếu vào mùa hạ, mưa thường do bão gây ra,hay gặp dạng mưa rào và mưa dông Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung 85%lượng mưa cả năm Tháng 7,8 là tháng mưa nhiều nhất, khoảng 300mm/tháng

Trang 9

Độ ẩm trung bình năm của toàn tỉnh là 83 - 84%, giữa các tháng độ ẩm chênh lệchkhông lớn, vào các tháng đầu mùa đông độ ẩm thấp hơn cả chỉ khoảng 79 - 81%, tháng ẩmnhất là tháng 3, 4, độ ẩm trung bình 86-87%.

* Các hiện tượng thời tiết đáng chú ý

- Dông: thường xảy ra vào mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 10 trong đố nhiều hơn cảvào tháng 7 và tháng 8 Vào các tháng từ mùa đông chuyển sang mùa hạ thỉnh thoảng cóxuất hiện mưa đá trong cơn dông

- Sương mù: Đôi khi xảy ra hiện tượng sương mù trên địa phận Vĩnh Phúc, chủ yếuvào mùa đông do đặc điểm địa hình là vùng chuyển tiếp giữa miền núi và vùng đồng bằng

Ngoài ra còn có các hiện tượng úng lụt, khô hạn, lốc xoáy ảnh hưởng không tốt đếnsản xuất và đời sống sinh hoạt trong đó có hoạt động du lịch

Nhìn chung trong toàn tỉnh, Tam Đảo là nơi có khí hậu thuận lợi nhất cho hoạtđộng du lịch, phù hợp với sức khoẻ của con người, thuận tiện cho tổ chức nghỉ ngơi, giảitrí và chữa bệnh

1.1.4 Thuỷ văn

Do tác động của điều kiện địa hình, khí hậu nên hệ thống sông ngòi của vĩnh Phúc

có lượng dòng chảy ở mức trung bình (30l/s/km2) và mật độ lưới sông cũng vào mức trungbình (0,5 - 1 km/km2)

Trên lãnh thổ của tỉnh có 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô cùng rất nhiềucon sông nhỏ khác như sông Phó Đáy, sông Cà Lồ và các chi lưu cũng như hệ thống cáckênh đào là nguồn cung cấp nước cho trồng trọt cũng như giao thông đi lại

Sông Hồng: hợp với sông Đà, sông Lô ở đoạn Việt Trì sau đó đi vào Vĩnh Phúc vàcác tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Sông có lưu lượng trung bình 820m/s, hàm lượng phù sa khálớn, bồi đắp cho đồng bằng Vĩnh Phúc

Sông Lô: Bắt nguồn từ Trung Quốc với tổng chiều dài 470km, chảy qua các tỉnh

Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc rồi nhập vào sông Hồng

Sông Phó Đáy: Bắt nguồn từ vùng núi Tuyên Quang chảy qua địa phận VĩnhPhúc(dài 45km) rồi nhập vào sông Lô

Sông Cà Lồ: Là con sông chảy trong địa phận tỉnh Vĩnh Phúc, bắt nguồn từ dãy núiTam Đảo dài khoảng 22km

Nhìn chung dòng chảy chia ra 2 mùa rõ rệt phù hợp với mùa khí hậu Mùa lũ kéodài từ 4 - 5 tháng (thường từ tháng 6 đến hết tháng 10), cực đại vào tháng 7, 8 đạt 15 - 35%lượng nước cả năm

Trang 10

Sông Hồng và sông Lô hàng năm thường có lũ đột ngột, nước dâng nhanh chóng,gây nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh đặc biệt ở vùngtrũng Tam Đảo - Vĩnh Lạc nếu bị mưa kéo dài vài ngày liền thì bị ngập lâu có khi lên tớihàng chục ngày.

Ngoài hệ thống sông ngòi như đã nói ở trên Vĩnh Phúc còn có một hệ thống các hồ,đầm, ao phong phú như đầm Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Bò Lạc, Xạ Hương, đầm Vạc,đầm Dưng, Thanh Lanh có thể vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu nước cũngnhư có giá trị cho du lịch

Theo các số liệu điều tra, nước ngầm của Vĩnh Phúc có tiềm năng khá lớn có thểđạt tới hàng triệu m3 trong một ngày đêm

1.1.5 Tài nguyên sinh vật

Tiềm năng về tài nguyên rừng trong tỉnh không lớn, do lịch sử hình thành và pháttriển lãnh thổ, cùng với sự định cư từ rất sớm của con người, lớp phủ thực vật tự nhiên ởđây đã bị phá huỷ nhiều Thảm thực vật ở đây chủ yếu gặp thực vật rừng chí tuyến chânnúi có nhiều loài ưa ẩm và nhiệt, lên cao hơn nữa là đai rừng á nhiệt đới trên núi

Vĩnh Phúc ngoài địa thế, khí hậu mát mẻ nổi tiếng, phù hợp với sức khoẻ của conngười, Vĩnh Phúc còn nổi tiếng với vườn quốc gia Tam Đảo Vườn quốc gia Tam Đảo códiện tích tự nhiên 36.883 ha, trong đó có trên 23.000 ha rừng Quần hệ thực vật rừng phongphú với 490 loài bậc cao, thuộc 334 chi và 130 họ Rừng có nhiều loại cây quí hiếm như

Pơ Mu, Sam Bông, Kim Giao, Lát hoa, Lim xanh, Đỗ Quyên, Sến mật, Thông tre Hệđộng vật rừng cũng rất phong phú với 281 loại động vật khác nhau trong đó có nhiều loàiquí hiếm có giá trị kinh tế cao vừa phục vụ cho nghiên cứu khoa học như voọc đen mátrắng, cheo cheo, cá lóc Tam Đảo, gà lôi trắng, gà tiền

Ngoài động thực vật rừng ra, Vĩnh Phúc còn trồng nhiều cây ăn quả như vải nhãn,cây lương thực như lúa, hoa màu cũng như có nguồn cá tôm phong phú trên các sông,đặc biệt là loài cá anh vũ rất nổi tiếng

1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

có sức thu hút du khách rất lớn như đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Đây là một di tích gắn

Trang 11

với truyền thuyết về một danh tướng của Vua Hùng Ngoài giá trị lịch sử, Tây Thiên còn làmột vùng thắng cảnh với núi rừng, thác nước và suối đá ẩn hiện thơ mộng Hoặc di tích núiSáng với hang Đề Thám, thác Bay, hồ Vân Trục, tất cả đã tạo nên một quần thể di tíchthắng cảnh rất hấp dẫn

* Một số di tích lịch sử văn hoá điển hình

- Khu danh thắng Tây Thiên, nơi thờ Quốc Mẫu Năng Thị Tiêu thời Vua Hùng, cóhiện vật từ thời Lý, Trần;

- Đền thờ Tả Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch;

- Chùa Hà Tiên ở xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên là một trong những trungtâm phật giáo lớn thời Lý, Trần Đây cũng là di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh khingười về thăm tỉnh Vĩnh Phúc, đến thưởng ngoạn thắng cảnh chùa Hà Tiên ngày25/1/1963;

- Cụm đình Hương Canh, với kiến trúc hoành tráng bằng gỗ với hơn 300 năm tuổi.Đây là nơi thờ Ngô Quyền, phu nhân, con trai thứ Ngô Xương Văn và tướng của NgôQuyền, (lục vị đại vương);

- Di chỉ Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc được phát hiện lần đầu năm

1962, khai quật lần thứ 6 năm 1999 Nơi đây đã tìm được nhiều di chỉ khảo cổ học thuộcnền văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Đây là một minh chứng về sự xuất hiệnrất sớm của nghề trồng lúa nước ở nước ta Di chỉ này là di tích văn hoá quý hiếm của quốcgia;

- Thiền viện trúc lâm Tây Thiên

1.2.2 Các lễ hội truyền thống:

Hiện nay các lễ hội truyền thống đang có xu hướng phục hồi phát triển trở lại Hầunhư ở khắp các địa phương trong nước đều có tổ chức các lễ hội văn hoá truyền thống.Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử văn hoá, có tác dụng tích cực trong việc giáodục truyền thống yêu nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá

cổ truyền Chính vì vậy lễ hội có sức thu hút rất lớn đối với nhân dân và khách du lịch cácnơi, nhất là khách du lịch quốc tế

Vĩnh Phúc cũng có nhiều lễ hội truyền thống, có thể được nghiên cứu tổ chức khaithác phục vụ mục đích phát triển du lịch

Hàng năm ở Vĩnh Phúc có tới hàng trăm lễ hội được tổ chức Có thể chia lễ hộithành các loại hình sau:

Trang 12

+ Lễ hội tín ngưỡng: Thường là tín ngưỡng dân gian, thờ các thần thánh, như thờ

thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế như nông nghiệp,ngư nghiệp

Những lễ hội tiêu biểu của nhóm này phải kể đến lễ hội Mậu Lâm thuộc thành phốVĩnh Yên với trò múa Mo nổi tiếng còn gọi là Bách nghệ khôi hài hay Tứ dân, hoặc là hộilàng Sơn Đông thuộc xã Sơn Đông, huyện Sông Lô, hay hội làng Thổ Tang đều là nhữnghội trình diễn nghề mang tính tín ngưỡng dân gian độc đáo

+ Các lễ hội lịch sử: Thường gắn với việc tưởng niệm các nhân vật lịch sử như lễ

hội Tây Thiên, lễ hội Tam Đảo; lễ hội đền Bách Trữ Đây là các lễ hội đáng chú ý và thuhút khá đông du khách

1.2.3 Các sản phẩm thủ công truyền thống:

Khai thác các sản phẩm nghề thủ công truyền thống và khôi phục phát triển cáclàng nghề truyền thống có vai trò lớn trong việc phát triển du lịch Kinh nghiệm cho thấynhiều làng nghề truyền thống nếu được đầu tư xây dựng, khôi phục quá trình hoạt động cóthể trở thành một điểm tham quan hấp dẫn đồng thời có thể tổ chức bán được các sản phẩmlưu niệm cho du khách Tuy nhiên cần phải biết lựa chọn những nghề phù hợp và nhữnglàng nghề có vị trí thuận tiện, gần các tuyến điểm du lịch để đầu tư phát triển và tổ chứckhai thác phục vụ du lịch

Ở Vĩnh Phúc có nhiều nghề thủ công truyền thống độc đáo, đặc sắc như làng rắnVĩnh Sơn, nghề mộc ở làng Bích Chu (huyện Vĩnh Tường); nghề gốm gia dụng ở làngHương Canh; nghề rèn ở Lý Nhân, tơ tằm ở Thổ Tang, nghề đá Hải Lựu, mây tre đan TriệuXá Các làng nghề này đều nằm gần các tuyến điểm du lịch cho nên có thể tổ chức để dukhách đến tham quan, đồng thời nghiên cứu một cơ cấu sản phẩm lưu niệm để phục vụ dukhách

1.2.4 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác:

Ngoài những nguồn tài nguyên chính kể trên, Vĩnh Phúc còn có thể khai thác cácnguồn tài nguyên nhân văn khác phục vụ du lịch như ca múa nhạc dân tộc, các món ăn từlâm thổ sản phong phú của địa phương mình

Trang 13

Vĩnh Phúc vốn là miền đất văn hiến giàu chất dân gian, là xứ xở của những làn điệudân ca đặc sắc như hát trống quân, hát ví giao duyên, hát Soọng Cô, hát Sịnh Ca Các tròchơi dân gian của Vĩnh Phúc cũng rất độc đáo, hấp dẫn du khách vào những dịp xuân vềnhư trò tung còn của dân tộc Cao Lan ở Lập Thạch, trò chơi đu, nhất là đu bay ở VănTrưng, Tứ Trung - Vĩnh Tường, chọi trâu ở Lập Thạch, leo cầu ùm ở Vĩnh Tường, bắtchạch cầu đinh ở Thổ Tang- hát ghẹo Vĩnh Tường, bắt vịt trong ao ở Thượng Trưng, đánhđáo đá ở Bá Văn-Yên Lạc, trò tả cáy, tục đả cầu cướp phết, bơi chải

Về ẩm thực, Vĩnh Phúc có nhiều đặc sản hiếm có như cá anh vũ, xôi trứng kiến, đấtđồng Cốc nướng chín… cùng với nhiều món ăn đặc trưng của các dân tộc Sán Dìu, CaoLan và các món dân dã hấp dẫn như vó cần, cá thính, nem chua, bánh hòn Hội Hợp Đây

là các nét đặc trưng hấp dẫn có giá trị cao phục vụ cho phát triển du lịch Vĩnh Phúc

Tóm lại tài nguyên du lịch nhân văn Vĩnh Phúc khá phong phú và có giá trị phục vụ

du lịch cao Nếu đầu tư xây dựng và tổ chức quản lý khai thác tốt, nguồn tài nguyên trên cóthể đáp ứng cho du khách một chương trình tham quan phong phú, hấp dẫn

1.3 So sánh tài nguyên du lịch Vĩnh Phúc với các tỉnh tiếp giáp Hà Nội.

1.3.1 Về tính đa dạng của tài nguyên du lịch

Để tạo lực hút đối với khách du lịch từ Hà Nội – trung tâm phân phối khách du lịchcủa miền Bắc thì các tài nguyên du lịch giữ vai trò quan trọng mang tính tiền đề So vớicác tỉnh tiếp giáp với Hà Nội, Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế so sánh về tính đa dạng của tàinguyên du lịch, bao gồm cả các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Các phân tích cụthể có thể thấy như sau:

* Vĩnh Phúc

- Có Vườn quốc gia với nhiều loài sinh vật đặc trưng

- Có khu nghỉ dưỡng Tam Đảo quy mô lớn với đặc trưng khí hậu núi cao

- Có nhiều hồ lớn, các điểm cảnh quan đẹp (thác nước, khe, hẻm núi…)

- Có nhiều di tích lịch sử, đình chùa, công trình kiến trúc lâu năm

- Có nhiều lễ hội, làng nghề, đặc sản ẩm thực

* Bắc Ninh

- Không có Vườn quốc gia

- Không có khu nghỉ dưỡng quy mô lớn đặc trưng

- Có không nhiều điểm cảnh quan đẹp

- Có nhiều di tích lịch sử, đình chùa, công trình kiến trúc lâu năm

- Có nhiều lễ hội, làng nghề, đặc sản ẩm thực

* Hưng Yên

- Không có Vườn quốc gia

Trang 14

- Không có khu nghỉ dưỡng quy mô lớn đặc trưng.

- Có không nhiều điểm cảnh quan đẹp

- Có di tích lịch sử, đình chùa, công trình kiến trúc lâu năm

- Có lễ hội, làng nghề, đặc sản ẩm thực

* Hà Nam

- Không có Vườn quốc gia

- Không có khu nghỉ dưỡng quy mô lớn đặc trưng

- Có không nhiều điểm cảnh quan đẹp

- Có di tích lịch sử, đình chùa, công trình kiến trúc lâu năm

- Có lễ hội, làng nghề, đặc sản ẩm thực

* Hòa Bình

- Có Vườn quốc gia (chỉ 1 phần của VQG Cúc Phương, khả năng tiếp cận hạn chế)

- Không có khu nghỉ dưỡng quy mô lớn đặc trưng

- Có nhiều điểm cảnh quan đẹp (có công trình quốc gia thủy điện Hòa Bình)

- Có nhiều di tích lịch sử, đình chùa, công trình kiến trúc lâu năm

- Có nhiều lễ hội, làng nghề, đặc sản ẩm thực

- Văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân tộc Mường nổi trội

Căn cứ các phân tích so sánh sơ bộ như trên, có thể thấy Vĩnh Phúc có lợi thế sosánh hơn về sự đa dạng của các tài nguyên du lịch, trên cơ sở đó có thể phát triển nhiềuloại hình du lịch hơn so với các địa phương khác tiếp giáp với Hà Nội Mặt khác, sự đadạng về tài nguyên du lịch đó còn mang lại cho Vĩnh Phúc lợi thế trong việc xây dựng cáctour du lịch chuyên đề bổ trợ cho các tour du lịch của Hà Nội chứ không chỉ riêng các tour

du lịch của Vĩnh Phúc

1.3.2 Về tính đặc trưng của tài nguyên du lịch

Ngoài sự phong phú và đa dạng, tài nguyên du lịch Vĩnh Phúc cũng có những nétđặc trưng riêng có thể thấy như sau:

- Khu du lịch Tam Đảo của Vĩnh Phúc là khu nghỉ dưỡng đã được hình thành từlâu với nét đặc trưng là khí hậu vùng núi cao Nét đặc trưng này không những không cókhu du lịch của địa phương nào trong khu vực Hà Nội và lân cận có được mà chỉ có rất íttrên cả nước nói chung (Mộc Châu, Sa Pa, Mẫu Sơn, Bà Nà, Đà Lạt)

- Khu di tích - danh thắng Tây Thiên là một quần thể các chùa, miếu, am… đượcxây dựng trên núi cao, trong khu cảnh thiên nhiên hùng vĩ Đây cũng là điểm tài nguyênmang tính đặc trưng cao của du lịch Vĩnh Phúc vì cũng chỉ một vài địa phương trong cảnước có được những điểm du lịch có nét tương đồng (Chùa Hương - Hà Nội, Yên Tử -Quảng Ninh)

Trang 15

- Các di chỉ khảo cổ, đình, miếu… trong số các di tích lịch sử văn hóa - tài nguyên

du lịch nhân văn của Vĩnh Phúc cũng có những nét đặc trưng riêng là gắn liền với giaiđoạn đầu của sự hình thành nền văn minh sông Hồng – văn minh lúa nước và công cuộcbảo vệ đất nước Việt Nam (thời Hùng vương, Trưng nữ vương và nhà tiền Lê…) Đây là

sự khác biệt về giai đoạn lịch sử thể hiện đặc trưng riêng so với các di tích tương tự (đình,chùa, miếu) có nhiều ở Hà Nội và các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Nam…nhưng lại ở những giai đoạn lịch sử khác

- Các lễ hội truyền thống, các đặc sản ẩm thực do gắn liền với các dân tộc cư trútrên địa bàn nên cũng có những nét đặc trưng riêng của khu vực chuyển tiếp giữa vùngmiền núi trung du xuống vùng đồng bằng châu thổ Các lễ hội như cướp phết, săn cuốc, tếtrâu, chọi trâu… hay các món ăn đặc sản như cá anh vũ, đất đồng Cốc nướng chín, xôitrứng kiến… không địa phương nào trong khu vực Hà Nội và lân cận có được

1.3.3 So sánh về điểm du lịch “hạt nhân”.

Để xây dựng tour du lịch, thông thường các điểm du lịch được kết nối theo các đặctrưng riêng trên từng địa bàn và trong số đó thường có điểm du lịch “hạt nhân” là nơi cóđặc điểm nổi trội và đặc trưng hơn cả, thể hiện điểm nhấn trong tour du lịch Nếu xét cảVĩnh Phúc là một địa bàn xây dựng tour du lịch thì có thể xem Tam Đảo là một điểm dulịch “hạt nhân” bởi các đặc điểm nổi trội của nó (nằm trong Vườn quốc gia, cảnh quan đẹp,khu nghỉ dưỡng có khí hậu đặc trưng lý tưởng, có các hoạt động vui chơi giải trí, có các ditích lịch sử văn hóa, khách du lịch được biết đến các phong tục tập quán truyền thống vàcác món ăn đặc sản…) So sánh điểm du lịch “hạt nhân” này của Vĩnh Phúc với các điểm

du lịch “hạt nhân” của các tỉnh tiếp giáp với Hà Nội có thể thấy các nét chính như sau:

Tam Đảo Vĩnh Phúc Đình Bảng Đền, đình

-– Bắc Ninh

Phố Hiến – Hưng Yên Ngũ động sơn – Hà

Nam

Mai Châu – Hòa Bình

Cảnh quan vùng thung lũng lòng chảo

Phố Hiến, chùa Hiến, chùa Chuông, đền Mẫu

Đền Trúc thờ

Lý Thường Kiệt

Bản làng dântộc Thái, Mường

Trang 16

Qua các phân tích so sánh trên, có thể thấy Tam Đảo – Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế

so sánh hơn so với các điểm du lịch “hạt nhân” của các tỉnh lân cận hà nội và đây là lợi thế

cơ bản để thu hút khách du lịch từ trung tâm phân phối khách là Hà nội Trên thực tế, điểm

du lịch Tam Đảo hiện nay được xem là “điểm nóng” thu hút khách du lịch cuối tuần từ Hànội, đặc biệt là vào mùa hè và các dịp nghỉ lễ

1.4 Đánh giá chung về tài nguyên du lịch và điều kiện tự nhiên

- Về tự nhiên, Vĩnh Phúc có một tiềm năng phong phú, đa dạng bao gồm cả sôngngòi, rừng, núi, hang động , có nhiều nét đặc sắc với những thắng cảnh nổi tiếng Đây lànhững điều kiện lý tưởng để Vĩnh Phúc có thể khai thác phát triển đa dạng các loại hình dulịch khác nhau như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, thể thao, leonúi Khu du lịch Tam Đảo cùng với những điểm di tích, danh thắng như Tây Thiên, ĐầmVạc, Vân Trục là những điểm du lịch văn hoá sinh thái hấp dẫn

- Các di tích lịch sử văn hóa của Vĩnh Phúc có giá trị đặc sắc về mặt du lịch, đặcbiệt là khu di tích thắng cảnh Tây Thiên, tháp Bình Sơn Đây là những tài nguyên cónhiều tiềm năng để phát triển du lịch tâm linh

- Có lợi thế so sánh so với các tỉnh lân cận Hà Nội cả về sự đa dạng, tính đặc trưng

và tính nổi trội của điểm du lịch “hạt nhân” để tạo sức hút mạnh mẽ đối với nguồn khách

từ trung tâm phân phối khách Hà Nội

1.4.2 Thách thức

- Vĩnh Phúc có điều kiện tự nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa Yếu tố này đã ảnh hưởngsâu sắc đến tính chất mùa du lịch Các yếu tố khí hậu bất thường như dông bão, lũ lụt, giómùa đông bắc cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động du lịch

- Khoảng cách tương đối gần giữa Vĩnh Phúc và Hà Nội, nên khách tham quan cácđiểm tài nguyên nhân văn của Vĩnh Phúc có thể quay lại Hà Nội trong ngày, vì vậy khảnăng lưu giữ khách qua đêm của Vĩnh Phúc không cao

Trang 17

- Mâu thuân lợi ích khai thác tài nguyên, sử dụng quỹ đất, bảo vệ môi trường

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, với lợi thế về vị trí địa lí, chínhsách thông thoáng, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, Vĩnh Phúc đã đạt tốc độ tăng trưởngkinh tế cao ổn định, cao hơn nhiều so với mức chung của toàn quốc và các tỉnh thuộc VùngKTTĐ Bắc Bộ

Nhịp độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1998-2000 đạt 18,12%/năm, trong đó,nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 6,03%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng72,17%/năm và dịch vụ tăng 10,31%/năm Giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng kinh tếbình quân đạt 15,02%/năm Giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng GDP đạt 15,4%/năm.Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh từ 1.417,3 tỷ đồng năm 1995 tăng lên 8.872 tỷ đồng vàonăm 2005, và 31.275 vào năm 2010 Trong giai đoạn 2005-2010 tốc độc tăng trưởng củakhối nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,6%/năm, khối công nghiệp - xây dựng tăng 20%/năm vàkhối dịch vụ tăng 19,5%/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao đã đưa chỉ số GDPbình quân đầu người của Vĩnh Phúc tăng mạnh trong những năm qua, đạt 31 triệu vào năm

2010, gấp 3,45 lần so với năm 2005

Tới năm 2010, Vĩnh Phúc tiếp tục đạt được những thành tựu đáng kể trong pháttriển kinh tế - xã hội Cụ thể:

Về phát triển kinh tế: Tăng trưởng kinh tế năm 2010 của tỉnh đạt 19,1% Cơ cấu kinh

tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp (56,03%) vàdịch vụ (30,23%), tỷ trọng nông nghiệp còn trên 13,74% trong GDP Kim ngạch xuất khẩu

2010 đạt 457 triệu USD Thu hút đầu tư trực tiếp vào tỉnh đạt kết quả tốt, trong 5 năm đãthu hút được 507 dự án mới trong đó có 113 dự án FDI tổng vốn đăng ký trên 20 nghìn tỷđồng Đến cuối năm 2010 trên toàn tỉnh có 596 dự án, trong đó 127 dự án FDI với tổng sốvốn khoảng 2,3 tỷ USD Thu ngân sách trên địa bàn trong 5 năm 2006-2010 đạt trên 42,2nghìn tỷ đồng (tăng 4,3 so với 5 năm trước)

Về phát triển văn hóa xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng: kinh tế phát triển, đời

sống nhân dân tiếp tục được nâng lên GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) năm

2010 đạt 31 triệu đồng (tương đương 1.630 USD) Tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm Chỉ số giátiêu dùng đã được kiềm chế và giảm dần; an sinh xã hội được bảo đảm, các lĩnh vực giáodục, y tế, văn hóa, thể thao có nhiều tiến bộ Công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chốngtham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; công tác tiếpdân và giải quyết khiếu nại tố cáo được tăng cường đạt hiệu quả Công tác cải cách hànhchính tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là cải cách thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơchế “một cửa”, “một cửa liên thông”, đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân vàdoanh nghiệp Tình hình an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được bảođảm và giữ vững, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế của tỉnh

Về cơ cấu kinh tế, Vĩnh Phúc đã có những bước chuyển rõ nét theo hướng CÔNGNGHIỆP - THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ - NÔNG NGHIỆP Tỷ trọng các khối này năm

2005 là 52,7-27,9-19,4, năm 2010 là 56,3-30,23-13,74, dự kiến năm 2015 là 66-24-10 vàvào năm 2020 là 60-33-7 Nhưng chỉ số này cho thấy kinh tế Vĩnh Phúc đang phát triển và

Trang 18

có định hướng đúng đắn nhằm khai thác thế mạnh của tỉnh và hướng tới nền kinh tế cónăng suất, chất lượng và hàm lượng công nghệ, dịch vụ cao.

Trong giai đoạn tới, các mục tiêu phát triển của Vĩnh Phúc là tăng trưởng kinh tế14-15%, trong đó công nghiệp 16,0 - 16,5%, dịch vụ 14 - 14,5% và nông nghiệp 3 - 3,5%;quy mô kinh tế (giá thực tế) đến 2015 đặt khoảng 85-86 nghìn tỷ (4-4,5 tỷ USD), GDP đầungười đạt khoảng 75 triệu đồng (3.500-4000USD), tông huy động vốn đầu tư phát triểntoàn xã hội đạt 142-145 nghìn tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt 3-3,5 tỷ USD

3.1 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch

3.1.1 Cấp điện:

Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong vùng thuận lợi về cung cấp điện từnguồn điện lưới quốc gia với hệ thống truyền tải và phân phối được quy hoạch và đầu tưđồng bộ, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển của tỉnh Chất lượng cung cấp điệnluôn được cải thiện, sự cố và số lần cắt giảm rõ rệt

Về phát triển lưới điện: Hiện tại, trên địa bàn tỉnh lưới điện truyền tải có các tuyến220VK và 110KV vận hành tốt Có 3 trạm biến áp 110 KV với tổng dung lượng 231MVA,lưới trung áp có 1150 km đường dây và 870 trạm biến áp với tổng dung lượng là 330MVA Tình còn đang triển khai xây dựng 3 đường dây và trạm biến áp 110KV tại Thiện

Kế, Vĩnh Tường và Quang Minh và nâng cấp trạm Phúc Yên hiện có

Về phát triển lưới điện nông thôn: Đến nay 100% số xã, phường có lưới điện quốcgia, 100% hộ dân có điện sử dụng Hệ thống các trạm biến áp phân phối đều trên cáchuyện

Mặc dù có rất nhiều khó khăn nhưng được sự lãnh đạo của Tỉnh Uỷ, sự chỉ đạo củacác cấp chính quyền tỉnh và sự ủng hộ của nhân dân, ngành điện đã cơ bản hoàn thànhnhiệm vụ cung cấp điện phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên,với nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế tỉnh, trong đó có du lịch, lưới điện của Vĩnh Phúccần phải được tiếp tục nâng cấp và hiện đại hóa hơn nữa

Ngoài ra Vĩnh Phúc cũng cần nghiên cứu các giải pháp sử dụng khai thác nănglượng thay thế, thân thiện với môi trường, đặc biệt là tại các khu dân cư, điểm du lịch nằm

xa nguồn cấp, trong khu vực bảo tồn thiên nhiên, nhạy cảm về môi trường nhằm cải thiệnchất lượng môi trường và nâng cao nhận thức xã hội về bảo vệ môi trường

3.1.2 Giao thông:

Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá phát triển và phân bố đều khắp với 3 loại:giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông Mặc dù tỉnh không có sân bay, tuy nhiênkhoảng cách chỉ 25km tới cảng hàng không quốc tế Nội Bài là lợi thế vô cùng to lớn đốivới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt sắp tới tuyến cao tốc Nội Bài -Lào Cai hoàn thành thì việc kết nối các tỉnh vùng núi phía Bắc qua Vĩnh Phúc đến Nội Bài

và Hà Nội còn thuận lợi hơn nữa

Trang 19

a Giao thông đường bộ

Trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến quốc lộ đi qua là QL2, QL2B, và QL2C với tổng chiềudài 105,3 km, trong đó tỉnh quản lý 3 tuyến với chiều dài 89km

Đường tỉnh có 18 tuyến với tổng chiều dài 302 km, trong đó có 52,2% mặt đườngloại tốt, 40% loại trung bình;

Đường nội thị có tổng chiều dài 103,5 km, bề rộng mặt đường từ 3-22m, rải nhựahoặc bê tông được gần 90%

Đường giao thông nông thôn có tổng chiều dài 3.562km, gồm đường huyện 98tuyến, dài 426km; đường xã, thôn xóm dài 3.136km, cứng hóa 2582/3562km, ô tô đã đếnđược tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh từ năm 2000

Đến nay tỉnh đã có 8 tuyến xe búyt đi qua tất cả các huyện lỵ trong tỉnh, hiện đangtriển khai một số tuyến ngoại tỉnh, bổ sung các tuyến nội tỉnh khác

b Giao thông đường sắt

Trên lãnh thổ tỉnh có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy xuyên qua tỉnh theohướng Đông Tây với chiều dài tuyến khoảng 40 km, khổ 1000 và 5 nhà ga, trong đó, có 2

ga chính là Phúc Yên và Vĩnh Yên Đây là tuyến đường sắt nối thủ đô Hà Nội qua VĩnhPhúc tới các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc và với Vân Nam, Trung Quốc

c Giao thông đường thủy:

Tỉnh có hai tuyến sông chính cấp II do trung ương quản lý là sông Hồng và sông

Lô Hai sông này chỉ thông được các phương tiện vận tải có trọng tải không quá 300 tấn.Hai tuyến sông địa phương là sông Cà Lồ (27km) và sông Phó Đáy (32km) chỉ thôngthuyền trong mùa mưa, phục vụ các phương tiện vận tải có sức chở không quá 50 tấn

Hệ thống cảng hiện có 2 cảng là Vĩnh Thịnh, và cảng Như Thụy trên Sông Lô

Đánh giá chung về mạng lưới giao thông của tỉnh Vĩnh Phúc:

Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh phân bố khá hợp lý, mật độ đường giao thôngcao Nhiều tuyến được đầu tư đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội như dự ánnâng cấp đường TL305 và xây dựng cầu Bến Gạo đã nối liền Lập Thạch với tỉnh và cáchuyện, nâng cao đời sống kinh tế văn hoá cho nhân dân vùng miền núi

Giao thông đô thị và giao thông nông thôn đã được quan tâm đầu tư nâng cấp, đảmbảo thông thương và giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong tỉnh và với bên ngoài

Tuy vậy, hệ thống giao thông còn những hạn chế sau:

- Chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, các tuyến trọng yếu đều có hiệntượng quá tải Giao thông nối liền Vĩnh Phúc với Sơn Tây vẫn đi qua phà, chưa nối thôngđược Vĩnh Phúc với Thái Nguyên Tất cả các nút giao thông giữa đường bộ với đường bộ,

Trang 20

đường bộ với đường sắt đều là nút giao đồng mức (chỉ có 1 cầu vượt đường sắt Vĩnh Yênnhưng hiệu quả giao thông kém);

- Các đường giao thông liên xã, giao thông nông thôn nhỏ hẹp, hạn chế vận tải nênảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn;

- Các nhà ga xe lửa đã xây dựng từ khá lâu nên đang xuống cấp cần được cải tạo,nâng cấp;

- Các cảng sông đều là cảng tạm, phương tiện bốc xếp thủ công, công suất bốc xếpthấp;

Các phương tiện vận tải đường bộ hầu hết đã cũ với tuổi xe đã khai thác tới 15

-20 năm, trong đó, phương tiện vận tải hành khách có tuổi xe sử dụng 5-10 năm chỉ chiếm 5

3.1.3 Cấp thoát nước

a Cấp nước: Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về nguồn nước Nguồn nước mặt, nướcngầm tự nhiên dồi dào đủ để cung cấp cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,thuỷ lợi trên địa bàn

Về cung cấp nước sạch cho sinh hoạt: Hiện nay tỉnh có một số nhà máy nước:

- Nhà máy nước Vĩnh Yên, công suất cấp nước 16.000 m3/ngày đêm với 17 giếngkhoan và 1 nhà máy xử lý chất lượng nước;

- Nhà máy nước Phúc Yên (do Công ty cấp thoát nước môi trường số II quản lý) cócông suất 12.000 m3/ngày đêm với 5 giếng khoan, trong đó, nước cấp cho sản xuất côngnghiệp 3.174 m3 /ngày đêm Ngoài các nhà máy nước nêu trên, tỉnh còn có các dự án nhỏcấp nước sạch ở thị trấn Tam Đảo (công suất 5000m3 /ngày đêm), Yên Lạc, Lập Thạch và

xã Thổ Tang (Vĩnh Tường) với công suất 3.000m3 /ngày đêm

Hệ thống cung cấp nước sạch của tỉnh cho đến nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ chonhu cầu sinh hoạt của nhân dân và cho sản xuất công nghiệp Cung cấp nước đô thị chưatốt và chất lượng nước chưa đạt yêu cầu Mới chỉ có 57% dân đô thị được cấp nước và chấtlượng cũng chưa đạt yêu cầu

Trong tương lai cần từng bước nâng cao chất lượng nguồn nước sạch, đảm bảo đápứng các yêu cầu về hóa lí cũng như vi sinh theo các tiêu chuẩn quốc tế

Trang 21

b Thoát nước: Hệ thống thoát nước mới được xây dựng ở các đô thị lớn, song nhìnchung đều chưa đáp ứng yêu cầu Nhiều thị trấn thường xẩy ra ngập úng vào mùa mưa,gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Cho đến nay, hệ thống thoát nước thải của hầu hếtcác điểm dân cư đô thị đang là vấn đề bức xúc, cần được quan tâm đầu tư thoả đáng đểđảm bảo môi trường sống không ô nhiễm cho nhân dân Vấn đề thoát nước và xử lý nướcthải của các khu, cụm công nghiệp cũng cần được hết sức lưu ý nhằm đảm bảo phát triểnbền vững.

3.1.4 Bưu chính viễn thông

Ngành dịch vụ bưu điện có tốc độ tăng trưởng khá trong các năm qua Cơ sở vậtchất ngành đã phát triển nhanh chóng Đến năm 2010 tất cả các xã đã có điểm phục vụ vớitổng số 176 điểm, trong đó có 27 bưu cục và 123 điểm bưu điện văn hóa xã Cho tới nay100% số xã, phường đã có máy điện thoại, mật độ điện thoại đạt trên 100 máy/100 dân.Các tổng đài cũng được thay thế bằng thiết bị mới với công nghệ hiện đại Đường truyềncáp quang đã được kéo tới tất cả các huyện Qua địa bàn tỉnh có 3 tuyến cáp quang liêntỉnh của VNPT, Viettel và EVN theo hướng Hà Nội - Vĩnh Phúc - Việt Trì Tất cả cácmạng di động hiện có ở Việt Nam đều đã triển khai cung cấp dịch vụ tại Vĩnh Phúc

Khai thác dịch vụ internet và phổ cập tin học trong hoạt động sản xuất, quản lýkinh tế và trong các trường học đã phát triển khá nhanh Ngành dịch vụ bưu điện là ngành

có tốc độ phát triển cao nhất trong nhóm ngành dịch vụ của tỉnh, đảm bảo tốt nhu cầuthông tin trên địa bàn So với nhiều địa phương trong cả nước, ứng dụng internet tại VĩnhPhúc phát triển hơn rất nhiều, và đã trở thành một kênh thông tin quan trọng của tỉnh

Trong tương lai, internet sẽ là phương tiện quản lí, giao thương, liên lạc quan trọng,chính vì vậy việc chú trọng phát triển internet và hệ cơ sở dữ liệu trực tuyến khi được thiết

kế, xây dựng và vận hành có hiệu quả sẽ là lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn của VĩnhPhúc Vĩnh Phúc cũng cần quan tâm tới việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ kết nốiinternet không dây, đặc biệt tại các trung tâm hội nghị, các đầu mối giao thông, các kháchsạn lớn

Đánh giá chung hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch

Nhìn chung, so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng nói riêng, cũng như với đa số địaphương trên cả nước nói chung, Vĩnh Phúc có điều kiện hạ tầng kỹ thuật tương đối thuậnlợi hơn cho phát triển du lịch Tuy nhiên để có thể kết nối thuận tiện các tour du lịch ngoạitỉnh, khép kín tour du lịch nội tỉnh, tỉnh cần nỗ lực hơn nữa trong việc cải tạo, nâng caochất lượng hệ thống đường bộ, đường sắt, đặc biệt chú trọng kết nối với sân bay Nội Bài.Trong tương lai, tuyến đường xuyên Á chạy qua tỉnh sẽ là một thuận lợi to lớn, tuy nhiên,trước việc hoàn thiện nhanh chóng tuyến quốc lộ 2 là hết sức bức thiết Vấn đề cấp điệncần được cải thiện trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của du lịch cũng nhưcác ngành kinh tế khác Việc cải thiện khả năng cấp điện và lưới điện cần kết hợp vớinghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học nhằm tăng cường sử dụng năng lượng thay thế, tiếtkiệm điện năng Tình hình cung cấp nước sạch là vấn đề quan trọng cần được quan tâmđầu tư nhằm phục vụ tốt, an toàn du khách, đồng thời góp phần ngăn ngừa dịch bệnh vốn

là các nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển du lịch Trước mắt, tuy ô nhiễmmôi trường chưa là vấn đề bức xúc với Vĩnh Phúc, tuy nhiên trong tương lai gần, vấn đề

Trang 22

này cần được quan tâm xử lí triệt để nhằm bảo vệ môi trường của địa phương đồng thờigóp phần tăng sức hấp dẫn của môi trường du lịch Vĩnh Phúc.

3.2 Hệ thống hạ tầng xã hội

3.2.1 Y tế - giáo dục

Mạng lưới y tế Vĩnh Phúc đã được quan tâm đầu tư và phát triển khá tốt trong mọilĩnh vực của hoạt động y tế: phòng bệnh, khám và chữa bệnh, đào tạo và sản xuất kinhdoanh; chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ y tế và công tác khám chữa bệnh cho nhândân ngày càng được củng cố

Công tác vệ sinh phòng dịch và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân đã đượcquan tâm Trong những năm qua không để dịch lớn xẩy ra Công tác khám chữa bệnh chonhân dân được coi trọng, đáp ứng cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnhvới chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao các chương trình quốc gia về y tế đượctriển khai sâu rộng Tỷ lệ trẻ em được tiêm đầy đủ 6 loại vác xin đạt trên 95%; tỷ lệ trẻ emsuy dinh dưỡng giảm từ 33,4 năm 2001 xuống còn dưới 20% năm 2007

Đến nay tỉnh có 5 bệnh viện với 1270 giường, trong đó 1 bệnh viện đa khoa tỉnhvới 600 giường, bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên (330 giường), 1 Bệnh viện Y học cổtruyền với 120 giường bệnh, 1 Bệnh viện PHCN gồm 120 giường bệnh; Bệnh viện Tâmthần với quy mô 100 giường bệnh Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 3 bệnh viện/cơ sở y tếthuộc các Bộ ngành với tổng quy mô 500 giường bệnh (dành 10% để tiếp nhận và điều trịcho nhân dân Vĩnh Phúc)

Ngoài mạng lưới các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa, tỉnh còn có hệ thống các

cơ sở phòng bệnh (TT Y tế dự phòng, TT phòng chống các bệnh xã hội, TT KHHGĐ, TT kiểm nghiệm dược phẩm - mỹ phẩm và TT truyền thông), 1 cơ sở đào tạo -bồi dưỡng cán bộ y tế và 1 cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc đạt tiêu chuẩn JMP

BVBMTE-Tuyến huyện, thị có 6 bệnh viện đa khoa huyện (730 giường bệnh), 3 trung tâm y tế

và 8 phòng khám đa khoa khu vực với 170 giường bệnh và các đội làm nhiệm vụ phòngbệnh tuyến huyện

Hiện Vĩnh Phúc có 137 xã, phường, thị trấn với 138 trạm y tế cấp xã Toàn tỉnh có

697 cán bộ định biên tại các trạm y tế cấp xã, phường, trong đó có 109 bác sỹ, tỷ lệ cáctrạm có bác sỹ là 80% 100% trạm y tế xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh 100% số thônbản trong tỉnh đã có cán bộ y tế hoạt động

Đội ngũ cán bộ y tế của tỉnh đã được củng cố khá nhanh, đến nay toàn tỉnh có2.989 cán bộ y tế (2.560 cán bộ có chuyên môn y dược), trong đó bác sỹ là 545 người

Trong lĩnh vực giáo dục, toàn tỉnh có 2.875 nhóm trẻ (391 nhóm trẻ tập thể và2.484 nhóm trẻ gia đình) Đến năm 2009 toàn tỉnh có 174 trường tiểu học, 146 trườngtrung học cơ sở phủ kín tất cả các xã phường, 38 trường trung học phổ thông (36 trườngcông lập và 2 trường dân lập)

Trang 23

Giáo dục phổ thông của tỉnh nhìn chung đạt chất lượng khá cao Tỷ lệ huy độnghọc sinh trong độ tuổi vào học các cấp đều cao hơn mức bình quân cả nước 99,5% trẻ 6tuổi vào lớp 1, trong đó 98% hoàn thành chương trình tiểu học đúng đội tuổi 99,5% họcsinh tốt nghiệp tiểu học vào học lớp 6 và trên 85% thanh thiếu niên độ tuổi 15-18 có bằngtốt nghiệp THCS Tỉnh được xếp thứ 16 trong cả nước về tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học, caođẳng Số học sinh đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh đều tăng; hàng năm tỉnh đều

có học sinh tham gia các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế 100% học sinh THPT và50% học sinh THCS được học ngoại ngữ

Ngay từ năm 2002, Vĩnh Phúc là tỉnh thứ 13 được công nhận phổ cập THCS

Công nghệ thông tin đã được ứng dụng trong giảng dạy và học tập ở trường học.Đến nay hầu hết các trường THPT và một số trường THCS đã được trang bị máy vi tính vànối mạng intrnet phục vụ cho công các quản lý và giảng dạy

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 8 trungtâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện và 135 trung tâm học tập cộng đồng cấp xã

Vĩnh Phúc hiện có 78 cơ sở đào tạo gồm: 3 trường đại học, 7 trường cao đẳng, 13trường trung cấp chuyên nghiệp và 55 cơ sở dạy nghề

Hoạt động dạy nghề phát triển nhanh thời gian gần đây, cả về số cơ sở cũng như sốngười được đào tạo Mạng lưới dạy nghề thường tập trung tại các đô thị và các khu côngnghiệp

Tỉnh cũng đã có các cơ sở dạy nghề cho nông dân, nhưng nhìn chung phân bốkhông đều, và chưa gắn với nhu cầu học nghề của người lao động

3.2.2 Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng:

Hệ thống tài chính - tín dụng của tỉnh đã phát triển khá đồng bộ với mạng lưới cácchi nhánh ngân hàng công thương, ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng thương mại, ngânhàng đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty xổ số kiến thiết và mạng lưới tín dụng nhân dân.Các tổ chức này đã đáp ứng tốt cho nhu cầu của sản xuất kinh doanh và đời sống Dư nợcho vay trong nền kinh tế của các đơn vị kinh doanh tiền tệ ngày càng tăng do sản xuấtkinh doanh trên địa bàn tỉnh phát triển khá

Tuy nhiên để phục vụ tốt hơn khách du lịch cần tăng cường các điểm đặt ATM, cácđiểm nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, và đặc biệt triển khai các chương trìnhphát triển thương mại điện tử

- Vĩnh Phúc có vị trí chiến lược, đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế

xã hội nói chung và du lịch nói riêng của khu vực đồng bằng sông Hồng

- Các điều kiện tự nhiên của tỉnh nhìn chung thuận lợi cho phát triển du lịch

Trang 24

- Tài nguyên du lịch tự nhiên của Vĩnh Phúc khá phong phú, đa dạng với nhiềucảnh quan hấp dẫn, đặc biệt khu vực VQG Tam Đảo, các loài động thực vật phong phúthuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch gắn với thiên nhiên.

- Tài nguyên du lịch nhân văn của Vĩnh Phúc khá đặc trưng cho khu vực đồng bằngsông Hồng nói chung, thuận lợi cho tổ chức các loại hình du lịch văn hóa, tham quan ditích lịch sử, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng gắn liền với sinh thái nhân văn của cộngđồng dân cư địa phương

- Kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc có những bước phát triển mạnh trong những năm qua,đặc biệt giai đoạn 2001 đến nay là một thuận lợi lớn đối với sự thu thút đầu tư cũng nhưphát triển khối du lịch - dịch vụ - thương mại

- Kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ góp phầnthúc đẩy phát triển du lịch, thu hút khách du lịch cả trong và ngoài tỉnh

- Vĩnh Phúc có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội tương đối phát triển so vớikhu vực đồng bằng sông Hồng, bước đầu các hệ thống hạ tầng này đã tạo tiền đề tốt chophát triển du lịch, tuy nhiên để du lịch có thể thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọngcủa tỉnh, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như xã hội cần được đầu tư mạnh hơn nữa

- Sự quan tâm của Tỉnh Uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân và các ngànhcác cấp là một thuận lợi vô cùng to lớn đối với phát triển du lịch

Tóm lại, các tài nguyên du lịch của Vĩnh Phúc khá đa dạng và phong phú, thuận lợi cho việc tổ chức và phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái và du lịch văn hóa Mặc dù có những tiềm năng thuận lợi cơ bản như trên, du lịch Vĩnh Phúc vẫn chưa có những bước phát triển xứng với tiềm năng do hệ thống hạ tầng chưa được đầu tư theo kịp nhu cầu của phát triển, nhận thức về du lịch nói chung, du lịch bền vững nói riêng còn chưa được rõ nét, việc đầu tư cho các sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên thế mạnh của địa phương chưa thực sự được đầu tư đúng mức Đồng thời để phát huy tối đa thuận lợi về mặt vị trí, tính chất, đặc thù của tài nguyên du lịch, quá trình lập kế hoạch và quản lý phát triển du lịch phải luôn gắn liền với quan điểm và mục tiêu phát triển liên ngành, liên vùng, đồng thời đảm bảo an ninh chính trị quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

GIAI ĐOẠN ĐẾN 2010

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh TháiNguyên và Tuyên Quang, Phía Tây giáp Phú Thọ và phía phía Nam và Đông giáp thủ đô

Hà Nội Tính đến 2010 toàn tỉnh có tổng diện tích tự nhiên là 1.230,98km2, dân số 1.012nghìn người Sau khi sát nhập và chia tách 1 số huyện, Vĩnh Phúc hiện nay gồm 9 đơn vịhành chính là: Thành phố Vĩnh Yên (tỉnh lỵ), thị xã Phúc Yên và các huyện: Lập Thạch,Sông Lô, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo, Bình Xuyên Toàn tỉnh có 137 xã,phường, thị trấn

Trang 25

Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là tỉnhđồng bằng cầu nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảnghàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trụcđường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùngKTTĐ Bắc Bộ, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội: kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ đảm bảovững chắc khu vực phòng thủ cho Hà Nội; góp phần cùng Thủ Đô Hà Nội thúc đẩy tiếntrình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số,các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội.

Trong bối cảnh đất nước mở cửa, du lịch trở thành một ngành kinh tế non trẻ vàtừng bước khẳng định vị trí quan trọng trong tiến trình hội nhập, Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (1998-2010) đã đề xuất bốn quan điểm phát triển cho ngành

du lịch của tỉnh, bao gồm:

- Phù hợp với chiến lược, đường lối phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước;

- Phát triển du lịch dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành kinh tế;

- Phát huy mọi nguồn lực, mọi ngành cùng phát triển du lịch, đẩy mạnh phát triển

du lịch nội địa, song song với việc mở rộng, gia tăng nguồn khách quốc tế;

- Phát triển du lịch gắn liền với việc mở rộng giao lưu, hợp tác khu vực

Thực tế phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ 2000 - 2010 đã khẳng định rằngcác quan điểm và mục tiêu trên là phù hợp với chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xãhội nói chung và du lịch nói riêng của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với quan điểm pháttriển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm đầu thế kỷ XXI

Ngành kinh tế du lịch của Tỉnh đã phát huy tổng hợp mọi nguồn lực, mọi ngànhnghề liên tục phát triển, nhiều sản phẩm và loại hình du lịch được đưa vào khai thác kinhdoanh thu hút ngày càng đông du khách Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân làm du lịchtrên địa bàn đã ý thức nhiều hơn trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm phục

vụ du khách, tạo dựng uy tín và hình ảnh tốt của mình cho du khách

Với những mục tiêu đề ra phù hợp với bối cảnh phát triển trong tình hình mới, dulịch Vĩnh Phúc đã từng bước thể hiện được vai trò của một ngành kinh tế tổng hợp có tínhliên ngành liên vùng và xã hội hoá cao, và du lịch Vĩnh Phúc thực sự trở thành một bộphận quan trọng của Du lịch vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc và trung tâm du lịch HàNội - phụ cận nói riêng và du lịch cả nước nói chung, đạt được những thành tựu đáng kể vềkinh tế và xã hội như: góp phần nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, tăng cường cơ sởvật chất cho Tỉnh, nâng cao trình độ dân trí và nhận thức cộng đồng đối với du lịch, giáodục ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường qua đó khả năng cạnh tranh của ngành du lịchcũng như của từng doanh nghiệp từng bước được nâng lên, hình ảnh về du lịch Vĩnh Phúcngày càng được nhiều người biết đến Với hệ thống quan điểm phát triển phù hợp, du lịchVĩnh Phúc đã có những bước đi ổn định và tạo được những tiền đề vững chắc cho giaiđoạn phát triển tiếp theo

Trang 26

1 Hiện trạng khách du lịch:

Bảng 1 Lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc thời kỳ 1995 - 2010

Đơn vị tính: Lượt kháchNăm

Tổng số khách du lịch Khách nội địa Khách quốc tế

Số lượng

% tăng so cùng kỳ năm trước

Sốlượng

% tăng so với cùng kỳ năm trước

Sốlượng

% tăng so với cùng kỳ năm trước

Mặc dầu là địa phương có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phongphú, hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, nhưng nằm trong bối cảnh chung của cảnước, trước đây khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc chủ yếu là khách đến tham quan,nghỉ dưỡng và chỉ tập trung ở một số khu du lịch như Tam Đảo, Đại Lải , vì vậy lượngkhách hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch mà Tỉnh có

Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước(đặc biệt từ khi có Nghị quyết 45/CP của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành

du lịch và chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng) hoạt động kinh doanh dulịch Vĩnh Phúc đã có bước chuyển mình quan trọng Địa bàn hoạt động du lịch được mởrộng; các điểm danh thắng được tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng;

hệ thống các cơ sử lưu trú du lịch được quan tâm đầu tư phát triển đã tạo nên nhữngchuyển biến rõ rệt trước hết về số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc Đặc biệt trong giaiđoạn 2000 - 2010, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 15,04% - đây thực sự là một tínhiệu đáng mừng đối với du lịch Vĩnh Phúc

Nhận định được tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh ngày càng phát triển mạnh và

xu thế phát triển của ngành du lịch, các tổ chức, cá nhân tích cực tập trung đầu tư xây dựng

Trang 27

các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng với nhiều quy mô khác nhau, từng bước tiêu chuẩn hoá

cơ sở vật chất, kỹ thuật và chất lượng phục vụ Tuy nhiên việc phục vụ tại các cơ sở lưu trúcòn mang nhiều tính chất gia đình, thiếu tính chuyên nghiệp Số lượt khách đến Vĩnh Phúchàng năm đều tăng, với mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước (năm 2001 tăng16,49%, năm 2004 tăng 18,06%, 2006 tăng 18,92% và năm 2010 tăng 16%) Tuy nhiên,thời gian lưu trú của khách du lịch còn rất ngắn,do dịch vụ và chất lượng dịch vụ cònnghèo nàn, ở mức thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách

1.1 Khách quốc tế

- Số lượng khách: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc trong những năm

vừa qua (1998 - 2010) tăng trưởng mạnh, trung bình hàng năm tăng 25,56%, nhưng không

có sự đột biến lớn như một số tỉnh khác Như vậy khẳng định rằng, các điểm du lịch ởVĩnh Phúc vẫn có sức hấp dẫn khách trong thời gian dài mặc dù trên thị trường ngày nay

sự cạnh tranh ngày càng đang trở nên gay gắt hơn

Bảng 2 Khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc, giai đoạn 1998 - 2010

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Số liệu thống kê của ngành du lịch những năm qua cho thấy lượng khách quốc tếđến Vĩnh Phúc tăng trưởng đều và ổn định, đáng chú ý là cơ cấu khách quốc tế trong tổnglượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giữ được tỷ trọng khá ổn định trong cơ cấu khách toànTỉnh (từ 0,78% năm 1998, đến năm 2002 chiếm 1,74%, đến năm 2007 chiếm 2,2%, năm

2010 mặc dù ngành du lịch chịu ảnh hưởng chung từ khủng hoảng kinh tế khu vực nhưngvẫn duy trì được mức 1,78% tổng lượng khách du lịch) Tuy vậy, lượng khách quốc tế vẫnchỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, trung bình hàng năm đạt 1,62%

Giai đoạn 1997 - 2000: đây là giai đoạn đầu thực hiện Quy hoạch, do xác định rõ

các mục tiêu phát triển nên thời gian này du lịch Vĩnh Phúc đã tập trung các nguồn lực đầu

tư phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng như đầu tư phát triển sảnphẩm du lịch nên đã thu hút được khá đông khách du lịch Lượng khách du lịch quốc tếcũng vì thế tăng mạnh, năm 1999 khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc đạt 3.000 lượt (tăng1,36 lần so với năm 1997), và đến năm 2000 đạt 6.500 lượt khách Tốc độ tăng trương giaiđoạn 1997 - 2000 đạt 43,49%/năm

Giai đoạn 2001 - 2010: Triển khai thực hiện kết luận của Thường vụ Tỉnh ủy số 19/

KL-TU ngày 12/08/2002 về Chương trình phát triển du lịch Tỉnh Vĩnh Phúc, ngành du lịch

Trang 28

Vĩnh Phúc đã phối hợp tích cực với các cấp, các ngành, đoàn thể, các địa phương trongtỉnh cùng các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền sâu rộng về du lịch, nâng cao ýthức bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường du lịch, tạo nên một thị trường kinhdoanh du lịch sôi động và đa dạng.

Vẫn duy trì nhịp tăng trưởng ổn định từ những năm 1997, 1998, lượng khách dulịch quốc tế đến Vĩnh Phúc giai đoạn này vẫn tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước.Năm 2001 toàn tỉnh đã đón được 10.700 lượt khách quốc tế (tăng 1,64 lần so với năm2000), chỉ sau 4 năm thực hiện chương trình phát triển du lịch thì năm 2005 lượng kháchquốc tế đã đón được 18.000 lượt khách, năm 2007 đón được 28.500 lượt khách quốc tế.Năm 2010, giai đoạn sau suy thoái, lượng khách quốc tế đến Vĩnh Phúc đã tăng mạnh vàđạt 32.485 lượt khách Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 16%/năm

Nhìn chung, lượng khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc đáp ứng được các mục tiêu

đề ra Nguyên nhân cơ bản do nhu cầu của thị trường khách quốc tế đến Việt Nam hiện naythường quan tâm đến du lịch biển, tham quan các di tích lịch sử, văn hóa, du lịch cộngđồng và du lịch nông thôn , mà đây chính là thế mạnh của Vĩnh Phúc Bên cạnh đó, với

cơ chế chính sách thu hút đầu tư linh hoạt nên thời gian qua các dự án đầu tư phát triển hạtầng và phát triển du lịch đã tạo ra một lợi thế cho Vĩnh Phúc

Kết quả phân tích thị trường trong 5 năm trở lại đây (2005-2010) cho thấy trongtổng số khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc gồm:

Bảng 3 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc,

phân theo thị trường giai đoạn đến 2010

* So sánh lượng khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc với các tỉnh trong vùng KTTĐ Phía Bắc:

Bảng 4 Khách quốc tế đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc,

Trang 29

Bắc Ninh 1,00 1,30 1,50 1,90 2,20 4,00 4,50 4,80

Ghi chú: * Số liệu của Hà Nội đã bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ

Nguồn: Viện NCPT Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Bảng 4 so sánh lượng khách quốc tế đến Vĩnh Phúc với các địa phương Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh… cho thấy lượng khách du lịchđến với Vĩnh Phúc còn chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn 0,64% (chỉ cao hơn Bắc Ninh 0,11% vàHưng Yên 0,02%), nhưng tốc độ tăng trưởng tương đối cao (23,51%, chỉ đứng sau BắcNinh 25,12%) Nguyên nhân là do Vĩnh Phúc là tỉnh tập trung nhiều nguồn tài nguyên cógiá trị như Khu nghỉ mát Tam Đảo, sân golf Tam Đảo và Đầm Vạc và đặc biệt là tàinguyên du lịch nhân văn như các làng nghề truyền thống gốm Hương Canh, mộc ThanhLãng, mộc Bích Chu, rèn Lý Nhân, đá Hải Lựu, rắn Vĩnh Sơn; các lễ hội truyền thống vàcác làn điệu dân ca độc đáo như hát xoan, hát trống quân, hát soọng cô (lối hát giao duyêncủa dân tộc Sán Dìu) Nhìn chung, các điểm tài nguyên trên địa bản tỉnh đều còn ở dạngtiềm năng, nên trong tương lai nếu có chiến lược đầu tư thích hợp đó sẽ là thế mạnh của dulịch Vĩnh Phúc

- Loại khách du lịch phân theo mục đích: Theo số liệu của Sở VH, TT và DL thì

khách quốc tế đến Vĩnh Phúc với mục đích du lịch - nghỉ dưỡng thuần túy là 45,5%, vớimục đích thương mại trung bình chiếm 13,5%; với mục đích thăm thân chiếm 10%; còn lại

là các mục đích khác

Trong những năm gần đây khách du lịch có mục đích thương mại có tăng nhưngnhìn chung vẫn duy trì ở mức 14-15% thị phần, khách đi với các mục đích khác nhưnghiên cứu, học tập, công tác, tham quan có xu hướng ngày càng tăng Như vậy cần xemxét những nhu cầu, thị hiếu của khách và xu hướng trong tương lai để định hướng thịtrường Ví dụ như Tam Đảo có đầy đủ điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch sinh thái.Hiện tại tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể là bao nhiêu lượng khách đi du lịch với loạihình này nhưng trong tương lai có thể phát triển loại hình này nhằm thu hút, hấp dẫn kháchđến nhiều hơn Đó là ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh khác, các khu du lịch khác

Bảng 5 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc

phân theo mục đích chuyến đi, giai đoạn đến năm 2010

2 Các mục đích chính

2.1 - Du lịch thuần thuý % 45% 46% 45% 46% 2.2 - Thương mại % 10% 15% 14% 15% 2.3 - Thăm thân % 10% 10% 10% 10% 2.4 - Mục đích khác % 35% 30% 30% 30% Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

- Ngày khách lưu trú trung bình: Ngày khách quốc tế lưu trú ở khách sạn tương đối

ngắn, trung bình khoảng 0,5-1,2 ngày Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do Vĩnh Phúc tương

Trang 30

đối gần với Hà Nội, điều kiện đi lại cũng không khó khăn nên số khách đi từ Hà Nộithường chỉ đi nghỉ ở Vĩnh Phúc vào các dịp lễ, nghỉ cuối tuần.

Nguyên nhân một phần do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân trong cảnước, đặc biệt là từ Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận ngày càng cao; bên cạnh đó làviệc ngành du lịch Vĩnh Phúc chú trọng phát triển du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịchvăn hóa - lễ hội, du lịch về nguồn và đặc biệt là du lịch nông thôn phù hợp với thị hiếukhách du lịch trong nước Điều đó có cũng nghĩa rằng, trong tương lai gần thị trườngkhách nội địa sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch Vĩnh Phúc

Bảng 6 Khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc, giai đoạn đến 2010

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Bảng 7 Cơ cấu thị trường khách du lịch nội đến Vĩnh Phúc,

phân theo thị trường giai đoạn đến 2010

- Huế- Đà Nẵng % 10% 10% 10% 10% 2.4

.

-Các tỉnh Bắc Trung Bộ

Trang 31

- Tp Hồ Chí Minh % 5% 5% 5% 5% 2.6

- Du lịch thăm thân % 10% 10% 10% 10% 3.3

3.4

- Mục đích khác % 35% 35% 35% 35% Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Bảng trên cho thấy khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc thường là khách đi thamquan, du lịch, nghỉ dưỡng, công tác , năm sau cao hơn năm trước đặc biệt là vào thời điểmcủa các lễ hội như lễ hội Tây Thiên, lễ hội Chọi Trâu, hội Kéo Song Tuy nhiên thời gianlưu trú của khách du lịch còn ngắn, do dịch vụ và chất lượng dịch vụ còn nghèo nàn ở mứcthấp chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch

Khách du lịch nội địa thường là khách đi theo nhóm do các công ty du lịch, lữ hành

tổ chức, hoặc do các tổ chức công đoàn của các cơ quan, xí nghiệp tổ chức hoặc tự tổ chứctheo các nhóm Đa phần là khách từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các địa phương ởkhu vực Bắc Trung Bộ

* So sánh lượng khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc với các tỉnh trong vùng KTTĐ Phía Bắc:

Bảng 8 Khách nội đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc, giai đoạn 2000 - 2010

Ghi chú: * Số liệu của Hà Nội đã bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ

Nguồn: Viện NCPT Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Trang 32

1.3 Đánh giá độ sai lệch giữa dự báo và thực tế phát triển thị trường khách du

Ghi chú: ( * ) Thực hiện năm 2010 Nguồn: Viện Ngiên cứu phát triển du lịch

So sánh thực tế phát triển với dự báo quy hoạch 1998-2010, các chỉ tiêu dự báo về

cơ bản không chênh lệch nhiều so với thực tế phát triển Đáng chú ý là mốc phát triển năm

2000 hoàn toàn trùng khớp với thực tế Năm 2005, cùng với xu hướng phát triển chung của

du lịch cả nước, sự sai lệch trong thực tế với dự báo cũng chỉ ở mức trong khoảng 10%.Điều này cho thấy du lịch Vĩnh Phúc đã phát triển đúng theo quy hoạch đã đề ra

Nhận xét chung: Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Ngoài

khách nội địa là lượng khách chủ yếu, thường xuyên của tỉnh, thì cũng cần nhấn mạnh đếnvai trò của khách quốc tế Vĩnh Phúc có thể mở mang, phát triển các loại hình du lịch mớinhư du lịch núi, du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch nghiên cứu để thu hút khách dulịch, phát triển thành khu du lịch, nghỉ dưỡng quan trọng trên phạm vi cả nước

2.1 Thu nhập du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã áp dụng hệ thống thống kê cho các nướcthành viên về thu nhập du lịch được tính bằng toàn bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trảkhi đi thăm một nước khác (trừ chi phí cho việc vận chuyển hàng không quốc tế) Tuynhiên, ở nước ta nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng, hệ thống thống kê chưa được hoànchỉnh nên toàn bộ các khoản chi trả của khách du lịch trong toàn bộ chương trình du lịchchưa tập hợp được đầy đủ và chính xác Ngược lại, trên thực tế có những doanh nghiệp dulịch tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh tổng hợp v.v , nhưng nguồn thu nàylại được tính cho ngành du lịch, điều này cũng chưa hợp lý Chính vì lẽ đó mà theo thống

kê sự đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế chưa được đầy đủ và chuẩn xác

Bảng 10 Hiện trạng thu nhập từ du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010

Tổng số Quốc tế Nội địa Tổng số Quốc tế Nội địa

1998 69.200 9.800 59.400 100,00 14,16 85,84

Trang 33

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc.

Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, thu nhập dulịch của tỉnh trong những năm qua đã có sự tăng trưởng đáng kể Nếu như năm 1997 tổngthu nhập của toàn ngành du lịch mới đạt 50,0 tỷ đồng thì đến năm 2000 đã tăng lên gấp3,51 lần để đạt mức 175,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 1997 - 2000 là51,95%/năm Đến năm 2001, thu nhập du lịch đạt 185,5 tỷ đồng, đến năm 2006 toàn ngành

du lịch thu được 428,0 tỷ đồng, năm 2010 ước tính toàn ngành thu được 739 tỷ đồng Tốc

độ tăng trưởng trung bình về doanh thu du lịch giai đoạn 2001 - 2010 đạt 18,81%/năm.Chính do điểm xuất phát của du lịch Vĩnh Phúc thấp, nên trong giai đoạn đầu của sự pháttriển tốc độ tăng trưởng ở mức cao, những năm tiếp theo du lịch Vĩnh Phúc vẫn duy trìđược mức tăng trên 15%/năm

Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch: Theo kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch

do Tổng cục Thống kê và Tổng cục Du lịch tiến hành năm 2005 tại một số điểm danh lamthắng cảnh và khách sạn trên địa bàn Vĩnh Phúc, bình quân chi tiêu của khách du lịch:

- Khách du lịch quốc tế là 1,05 triệu VND/ngày/người Trong đó

khách quốc tế chi 300.000VND cho dịch vụ lưu trú; 250.000VND cho ănuống; 150.000VND cho vận chuyển đi lại; 120.000VND cho hoạt độngtham quan

bình 178.000 VND cho dịch vụ lưu trú; 100.000 VND cho ăn uống; còn lại

là cho các hoạt động khác

* So sánh thu nhập du lịch với các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc

Nếu so sánh với các tỉnh lân cận trong vùng KTTĐ phía Bắc như Hà Nội, QuảngNinh, Hải Phòng thì cho thấy thu nhập từ du lịch của Vĩnh Phúc còn thấp hơn nhiều.Không chỉ vậy, với các địa phương khác co thu nhập du lịch thấp hơn như Hải Dương,Hưng Yên, Bắc Ninh thì tốc độ tăng trưởng về thu nhập du lịch của Vĩnh Phúc cũng thấphơn Đây là một vấn đề cần đặt ra cho du lịch Vĩnh Phúc trong giai đoạn tới khi tiếp tụcphải đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng đồng thời tăng cường các hoạt động xúctiến quảng bá và liên kết khu vực để phát triển du lịch

Trang 34

Bảng 11 Thu nhập du lịch các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc,

6.850,00

Ghi chú: * Số liệu của Hà Nội + Hà Tây cũ Nguồn: Viện NCPT Du lịch

* So sánh thực tế phát triển với dự báo quy hoạch: Nhìn vào bảng so sánh có thể

thấy, thu nhập du lịch trên thực tế chỉ bằng khoảng 68,4% giá trị của dự báo Nguyên nhânlà:

(như đã phân tích trên), chỉ đạt xấp xỉ 90% kế hoạch đề ra;

nhiều (dự báo 1 khách du lịch quốc tế chi tiêu 100USD/ngày đêm cho giaiđoạn 1999 - 2000 và 150USD/ngày đêm cho giai đoạn 2001 - 2005, nhưngthực tế chỉ đạt tương ứng cho từng giai đoạn là 35,0 USD và 61,76 USD)

Bảng 12 So sánh doanh thu du lịch giữa dự báo tại thời điểm 1998 với thực tế phát triển

(Không kể thu từ vận chuyển hàng không, đường sắt - phương án chọn)

Đơn vị tính: Triệu USD, 1 USD = 11.000 VND

Tốc độ tăng trưởng TB 34,33% 25,73% 25,17%

Tốc độ tăng trưởng TB 28,53% 18,88% 20,36% Chênh lệch so với dự báo -2,74 0,81 -2,22 -4,65 -17,80 -94,53

% sai lệch so với dự báo -38,71 7,42 -16,52 -27,42 -41,99 -72,71 Ghi chú: ( * ) Thực hiện năm 2007

Nguồn: - Viện NCPT Du lịch.

2.2 Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch)

Bảng 13 Cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế của Vĩnh Phúc (2000-2010)

Trang 35

Đơn vị: Tỷ đồng, Giá so sánh 1994

Tăng trưởng TB

1995 2000

2001 2010

Chia theo ngành kinh tế

1 Nông, lâm ngư

-Nguồn: - Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2007

- Báo cáo QHTT phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc đến 2020 và tầm nhìn đến 2030

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, tích cực thu hút đầu tư nướcngoài, Vĩnh Phúc đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ổn định, cao hơn nhiều so với mứcchung của toàn quốc và các tỉnh thuộc Vùng KTTĐ Bắc Bộ

Giai đoạn 1995-2000: Nhịp độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1995-2000 đạt

16,4%/năm, trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,3%/năm, công nghiệp-xâydựng tăng 43,94%/năm và nhóm ngành dịch vụ tăng 13,77%/năm

Giai đoạn 2001-2010, trong 10 năm trở lại đây (2001-2010), tốc độ tăng trưởng

kinh tế bình quân toàn tỉnh đạt 15,67%/năm, trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng3,53%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 22,06%/năm và dịch vụ tăng 15,0%/năm Giá trịtổng sản phẩm của tỉnh từ 1.417,4 tỷ đồng năm 1995 tăng lên 12.509,0 tỷ đồng vào năm

2010, tính theo giá so sánh 1994

Vĩnh Phúc đạt được những thành tựu kinh tế trên chủ yếu là nhờ sự đóng góp củacác dự án công nghiệp FDI lớn trên địa bàn (Honda, Toyota) Giá trị tăng thêm của côngnghiệp - xây dựng từ 190,1 tỷ đồng năm 1995 tăng lên 2.571,0 tỷ đồng năm 2004 và đạt7.219 tỷ đồng vào 2010 (giá ss94) GDP công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng43,9% thời kỳ 1996-2000 và 22,06%/năm trong 2001-2010là mức tăng rất cao so với cảnước

Đối với khu vực kinh tế dịch vụ, trong đó có hoạt động du lịch đã có sự vươn lênmạnh mẽ Đáng chú ý là ngành kinh tế du lịch Giá trị tăng thêm của ngành du lịch đã tăng

Trang 36

lên đáng kể, năm 2007 tăng 1,84 lần so với năm 2000 và 6,44 lần so với năm 1995 Đâythực sự là một tín hiệu đáng mừng và cũng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế củaĐảng và Nhà nước nói chung và Nghị quyết phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng làchuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế dịch vụ.

* So thực tế phát triển với dự báo của quy hoạch

Bảng 14: So sánh giá trị GDP du lịch giữa dự báo của quy hoạch 1998

-Thời gian qua, thực trạng phát triển và chuyển dịch kinh tế cho thấy từ một tỉnhnông nghiệp (1995-2000), Vĩnh Phúc đã nhanh chóng trở thành tỉnh có cơ cấu công nghiệp

- dịch vụ - nông nghiệp (2001 - 2010) Tuy nhiên, trong từng ngành, từng lĩnh vực cũngcòn một số tồn tại sau:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanhhơn mức dự kiến Năm 2000, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng của tỉnh mới chiếmchưa đến 40%, thì từ 2010 đến nay đã tăng lên trên 57%

- Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ còn chậm, tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế tỉnh có

xu hướng giảm, chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển củanền kinh tế

- Lĩnh vực kinh tế dịch vụ du lịch còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tếtỉnh (Năm 1995 mới chiếm 2,26% thì sau hơn 10 năm phát triển có những bướcphát triển nhanh nhưng vẫn chỉ tăng lên 2,27% vào năm 2010) Kinh tế côngnghiệp phát triển cao thường gắn với sự phát triển mạnh của khối dịch vụ Tuynhiên, do Vĩnh Phúc có xuất phát điểm thấp, dân số nông nghiệp còn chiếm tới gần90%, do đó nhu cầu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí của người dân còn thấp, bên cạnh

đó việc chuyển đổi cơ cấu sản phẩm du lịch cũng như việc đầu tư cho hoạt độngtuyên truyền quảng bá và phát triển sản phẩm còn thấp nên việc thu hút khách dulịch đến cũng còn nhiều hạn chế, do đó ngành dịch vụ đặc biệt là dịch vụ du lịchphát triển không theo kịp công nghiệp nên tỷ trọng ngành khó có thể đạt 10-11%vào năm 2010 như mục tiêu dự báo

Trang 37

3 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng góp một phần quan trọng trong quá trình phục vụkhách du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch vềlưu trú, ăn uống, vận chuyển, các điều kiện về vui chơi giải trí và các dịch vụ khác Nóiđến cơ sở vật chất kỹ thuật chúng ta không chỉ đánh giá về mặt số lượng mà còn phải đánhgiá mặt chất lượng Chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật tốt thì mới đáp ứng được đầy đủcác nhu cầu và làm hài lòng khách du lịch

3.1 Cơ sở lưu trú:

Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách ngày càng tăngnên các khách sạn, nhà trọ được xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách dulịch Ngành du lịch Vĩnh Phúc cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉphục vụ khách du lịch Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh

tế tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và phương thức hoạt động Hiện nay, toàn tỉnh có

156 khách sạn, nhà nghỉ (với 3.000 phòng) có thể đưa vào phục vụ kinh doanh du lịch,trong đó có 19 khách sạn được phân hạng sao

Bảng 15 Hiện trạng cơ sở lưu trú của Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2010

2.700

3.00

Giai đoạn 1990 - 1995 là giai đoạn khởi đầu của du lịch Việt Nam, nên có nhiều

dấu hiệu lạc quan Trong bối cảnh đó, ngành du lịch Vĩnh Phúc cũng tiến hành đầu tư xâydựng hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng Thời kỳ này chủ yếu là các nhàkhách, nhà nghỉ của các cơ quan, đoàn thể phục vụ các đoàn khách về dự hội nghị tổng kếtngành Chất lượng và số lượng các cơ sở lưu trú còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chophát triển du lịch

Giai đoạn 1997 - 2000, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong

khu vực đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu đi du lịch của người dân kéo theo đó là

sự sa sút của ngành du lịch Một số đơn vị kinh doanh cơ sở lưu trú đã chuyển đổi hìnhthức kinh doanh, một số doanh nghiệp khác muốn tồn tại phải nâng cao chất lượng cácdịch vụ vụ của mình, điều này lý giải cho sự sụt giảm về số lượng các cơ sở lưu trú du lịchtrên địa bàn Chất lượng của các khách sạn nhìn chung vẫn chưa được cải thiện, chưa đápứng được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch thương mại.Quy mô trung bình khoảng 10 - 12 phòng/cơ sở

Giai đoạn từ 2001 - nay: Năm 2001, toàn tỉnh có 81 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số

974 phòng thì đến năm 2005 số lượng cơ sở lưu trú du lịch tăng lên 108 với hơn 1.600

Trang 38

phòng và đến cuối năm 2010 đã có 156 cơ sở với 3000 phòng Tốc độ tăng trưởng trungbình đạt 6,76% về cơ sở lưu trú và 12,62% về số phòng.

Công suất sử dụng phòng tại các khu vực nói chung đạt mức 34,08%, riêng khu vựcTam Đảo thì có những đặc thù riêng là du lịch theo mùa vụ cho nên vào chính mùa du lịchthì công xuất phòng đạt mức 70% đến 80% nhưng trái lại không phải mùa du lịch thì côngxuất lại xuống chỉ còn 34,88%

* Sự phân bố các cơ sở lưu trú: không đồng đều, chủ yếu tập trung ở Vĩnh Yên

(39,06%) và Tam Đảo (33,59%) tổng số cơ sở lưu trú hiện có trên địa bàn tỉnh; tiếp theo làPhúc Yên (17,97%) và Hương Canh (5,47%)

Bảng 16 Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Vĩnh Phúc (đến 31/12/2010)

CSLT

Tổng số Buồng

Tổng số Giường

và các cơ sở dịch vụ du lịch khác của các thành phần kinh tế khác nhau Sự phát triểnnhanh chóng của hệ thống các sơ sở lưu trú và các cơ sở dịch vụ du lịch khác ở Tam Đảo

đã làm gia tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng trên phạm vi toàn tỉnh

* Cơ cấu hệ thống cơ sở lưu trú du lịch:

Bảng 17 Phân loại cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2005 - 2010

II Phân loại cơ sở lưu trú

1 Phân loại theo hình

Trang 39

Năm 2000, toàn tỉnh có duy nhất 1 khách sạn được xếp hạng từ 2 sao với 50 buồng

và 39 cơ sở được thẩm định đạt tiêu chuẩn đón khách du lịch, đến cuối năm 2005 số kháchsạn được xếp hạng tăng lên 4 cơ sở với 3 khách sạn 2 sao và 1 khách sạn 1 sao Trong giaiđoạn 2000 - 2005, nhiều khách sạn trên địa bàn Tỉnh được đầu tư mở rộng quy mô, tăngthêm phòng, các dịch vụ bổ sung như tắm hơi, massage, nhà hàng, karaoke, vũ trường; một

số khách sạn còn tổ chức thêm các dịch vụ lữ hành nội địa, vận chuyển như khách sạn HạLong 1, Sao Mai, Ngọc Lan, Sông Hồng để cải thiện chất lượng dịch vụ

Như vậy đến 31/12/2010, toàn tỉnh đã có 19 khách sạn được xếp hạng với 12 kháchsạn đạt tiêu chuẩn 02 sao và 07 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao Cụ thể:

- Thẩm định và làm thủ tục gắn sao cho 04 khách sạn đạt tiêu chuẩn 02 sao đó là:Khách sạn Hạ long - Tam Đảo, Khách sạn Sao Mai - Tam Đảo, Khách sạn An Du -Vĩnh Yên, Khách sạn Mi Mi- Tam Đảo

chuẩn 02 sao và 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao, cụ thể như sau: Khách sạn NgọcLan, K/s Hoàng Linh, K/s Thế giới xanh, K/s Vĩnh yên, K/s Hoàng gia RiêngKhách sạn Vĩnh Yên cơ sở vật chất đã xuống cấp, đoàn thẩm định để cơ sở đầu tư

sửa chữa và nâng cấp (nên chưa thẩm định).

3.2 Các cơ sở vật chất kỹ thuật khác: bao gồm nhà hàng, phòng hội nghị, phòng ăn

trong khách sạn, cơ sở vui chơi giải trí

* Cơ sở ăn uống: Ngày nay hoạt động ăn uống trong việc kinh doanh du lịch cũng

mang lại lợi nhuận không kém gì hoạt động kinh doanh khách sạn Các cơ sở ăn uống bao

Trang 40

gồm restaurant, coffee-shop, bar, quán ăn nhanh v.v Các tiện nghi phục vụ ăn uống có thểnằm trong các cở sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưucủa khách đang lưu trú tại các khách sạn hoặc có thể nằm độc lập bên ngoài các các cơ sởlưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí nhằm phục vụkhách du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương

Hiện tại Vĩnh Phúc có khoảng 40 phòng ăn (restaurants) nằm trong các cơ sở lưutrú với khoảng hơn 1000 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhu cầu củakhách lưu trú Các tiện nghi ăn uống bên ngoài khách sạn, tại các điểm tham quan kémphát triển hơn

Ngoài ra hiện còn có 16 nhà hàng và quán hàng ăn uống tư nhân phục vụ chủ yếucác món ăn Việt Nam bình dân nằm ở khu vực Vĩnh Yên, Tam Đảo Tổng số vốn đầu tưcho hệ thống các nhà hàng là 18 tỷ đồng với sức chứa 2.620 người Hiện các nhà hàng nàyphục vụ đầy đủ các món ăn đặc sản Âu, Á truyền thống; phục vụ chuyên môn các món gà,chim, rắn Chưa có các hoạt động tiêu khiển nhằm tạo cảm giác nghỉ ngơi và hấp dẫn đốivới du khách Bố trí nội thất trong các nhà hàng còn đơn giản

* Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí, các điểm tham quan và các tiện nghi

phục vụ du lịch khác:

- Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí: Bao gồm bể bơi, sân tenis, trung tâm thể

thao, sân golf, massage, câu lạc bộ ban đêm, casinô, vũ trường, nhà hát, cinema các tiệnnghi này góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú,khuyến khích sự chi tiêu của du khách

Thời gian qua việc phát triển các tiện nghi thể thao và vui chơi giải trí cũng như cáchoạt động tiêu khiển khác ở Vĩnh Phúc hiện còn rất hạn chế, hầu như mới chỉ dừng ở cáchoạt động karaoke, massage, bơi lội, phòng tập thể hình và sân tennis Hiện nay Vĩnh Phúc

có 11 bể bơi, 10 sân tennis, 5 điểm tắm hơi - massage và 2 phòng tập thể hình, karaoke đềunằm trong các khách sạn Các tiện nghi vui chơi giải trí ngoài khách sạn như câu lạc bộ banđêm, các điểm tham quan và các hoạt động tiêu khiển cũng thiếu

Ngày đăng: 24/03/2020, 01:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w