Tuy nhiên, trong những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kết quả của các hoạt động, khả năng chống chịu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Trần Thị Đào
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
LƯU VỰC SÔNG LAM
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn (Chương trình đào tạo chuẩn)
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Trần Thị Đào
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
LƯU VỰC SÔNG LAM
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn (Chương trình đào tạo chuẩn)
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn
Hà Nội – 2017
Trang 3và Hải dương học và các bạn trong lớp đã giúp đỡ, đưa ra ý kiến đóng góp để em hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ làm việc tại Đài Khí Tượng Thủy văn Khu vực Bắc Trung Bộ đã giúp đỡ và trao đổi nhiệt tình trong quá trình thu thập thông tin, số liệu tại tỉnh Nghệ An
Khóa luận hoàn thành song không thể không mắc những sai lầm và thiếu sót
do đây là một đề tài tương đối rộng, phức tạp, bản thân em cũng có rất ít kinh nghiệm và khả năng làm việc còn hạn chế Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, những lời phê bình quý báu từ các thầy cô để giúp em tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội – 2017 Sinh viên Trần Thị Đào
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
1 ADRC Asian Disaster Reduction Center (Trung tâm giảm nhẹ
thiên tai Châu Á)
3 BĐKH Biến đổi khí hậu
4 IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change (Ủy ban
liên chính phủ về biến đổi khí hậu)
5 ISDR International Strategy for Disaster Reduction (Chiến
lược giảm nhẹ thiên tai quốc tế)
6 SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần 2)
7 TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần 3)
9 UNESCO – IHE Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc - Viện giáo dục Tài nguyên nước
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG LAM 2
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 2
1.1.1 Vị trí địa lý 2
1.1.2 Địa hình, địa mạo 3
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 4
1.1.4 Thảm phủ thực vật 5
1.1.5 Khí hậu 7
1.1.6 Đặc điểm thủy văn 10
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI 12
1.2.1 Dân cư 12
1.2.2 Dân tộc 12
1.2.3 Cơ cấu kinh tế 13
1.2.4 Y tế, giáo dục 17
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 18
2.1 KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 18
2.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương 18
2.1.2 Tính dễ bị tổn thương lũ lụt 20
2.1.3 Sự cần thiết của đánh giá tổn thương lũ 20
2.1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu 21
2.2 CÁC THÀNH PHẦN ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 24
2.2.1 Độ phơi nhiễm 24
2.2.2 Tính nhạy 25
Trang 62.2.3 Khả năng chống chịu 25
2.3 XÁC ĐỊNH BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 26
2.3.1 Bộ tiêu chí xác định tính dễ bị tổn thương 26
2.3.2 Thiết lập bộ tiêu chí 27
2.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 28
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 31
3.1 LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 31
3.1.1 Tình hình mưa lũ 31
3.1.2 Tình hình ngập lụt 34
3.2 XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 35
3.2.1 Lựa chọn chỉ số 35
3.2.2 Nguồn số liệu, phân tích số liệu 38
3.3 XÁC ĐỊNH TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 41
3.3.1 Chuẩn hóa các tham số đánh giá 41
3.3.2 Xác định trọng số tổn thương cho các tham số 42
3.3.3 Tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương 43
3.3.4 Phân hạng mức độ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam 43
3.3.5 Kết quả tính toán trọng số theo phương pháp Iyengar và Sudarhan 43
3.3.6 Kết quả tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương FVI 45
3.4 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 46
3.5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Lam 2
Hình 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam 4
Hình 3: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Lam 5
Hình 4: Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam 6
Hình 5: Bản đồ mạng lưới sông chính lưu vực sông Lam 39
Hình 6: Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam (trận lũ tháng X/2010) 40
Hình 7: Bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam 46
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực 8
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam 11
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam 13
Bảng 4: Diện tích đất rừng của các tỉnh trên lưu vực sông Lam 14
Bảng 5: Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam 31
Bảng 6: Lượng mưa các trận lũ các năm 2007, 2010 34
Bảng 7: Bộ tiêu chí đánh giá dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam 37
Bảng 8: Phân hạng mức độ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt 43
Bảng 9: Trọng số các biến thành phần tính giá trị tính dễ bị tổn thương 43
Bảng 10: Minh họa giá trị tính dễ bị tổn thương một số xã tính toán 45
Phụ lục 1: Bảng kết quả tính chỉ số tính dễ bị tổn thương FVI cho các xã 53
Phụ lục 2: Bảng chuẩn hóa độ phơi nhiễm 55
Phụ lục 3: Bảng chuẩn hóa một số biến tính nhạy 58
Phụ lục 4: Bảng chuẩn hóa khả năng chống chịu 61
Trang 9MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là một trong những thách thức lớn đối với toàn cầu Việt Nam là một trong năm nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề này Trong đó, khu vực miền Trung nước ta hàng năm chịu ảnh hưởng của thiên tai với tần xuất và mức độ ngày càng tăng cao
Lũ lụt hàng năm gây ra thiệt hại rất lớn về người và của nên phòng chống lũ lụt là mối quan tâm hàng đầu của xã hội Lũ lụt không chỉ gây tổn thất thiệt hại về người và tài sản, cơ sở hạ tầng của xã hội mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần
và kinh tế - xã hội như: nguồn cung về lương thực, thực phẩm khan hiếm, đất đai bị ngập úng không sản xuất được, dịch bệnh phát sinh và những tổn thương về tinh thần khác Ứng phó nhanh với lũ bằng các biện pháp cảnh báo lũ tức thời như cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến vùng an toàn,… đã tỏ ra rất hiệu quả trong hạn chế những thiệt hại về người và tài sản Đánh giá được tính dễ tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh tế - xã hội góp phần không nhỏ trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên tai, xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của
lũ gây ra Khóa luận đã lựa chọn lưu vực sông Lam là đối tượng nghiên cứu để bước đầu xây dựng bức tranh về thiệt hại có thể có trong tương lai gây ra bởi lũ lụt
Khóa luận có tên: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lưu vực sông Lam”
Với khuôn khổ của một khóa luận, tác giả mới tìm hiểu và áp dụng các phương pháp nghiên cứu thông qua việc lựa chọn bộ chỉ số thích ứng cho lưu vực sông Lam Kết quả mới ở mức thử nghiệm do đó vẫn còn nhiều vấn đề đang bị ngỏ Tác giả sẽ tìm hiểu và hoàn thành trong các bài nghiên cứu sau
Bố cục của khóa luận bao gồm :
Mở đầu
Chương 1: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Lam
Chương 2: Khái niệm và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
Chương 3: Tính toán và đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG LAM
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Lam là lưu vực lớn thứ hai thuộc vùng Bắc Trung Bộ, bắt nguồn từ vùng rừng núi của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Toàn bộ lưu vực sông Lam nằm trên tọa độ địa lý từ: 18015'05'' đến 20010'30'' vĩ độ Bắc, 1030
45'20'' đến 1050
15'20'' kinh độ Đông
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Lam
Điểm đầu của lưu vực chảy vào Việt Nam qua biên giới Việt - Lào tại xã Kỳ Sơn trên dòng Nậm Mô có tọa độ 19024’59’’ vĩ độ Bắc, 104004’12’’ kinh độ Đông Cửa ra của lưu vực là Cửa Hội nằm ở tọa độ 18045’27’’ vĩ độ Bắc, 105046’40’’ kinh
độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, sông Bạng; phía Tây giáp lưu vực sông
Mê kông; phía Nam giáp lưu vực sông Gianh; phía Đông giáp Biển Đông
Trang 11Sông Lam có tổng chiều dài 531 km với tổng diện tích lưu vực là 27.200km2 Phần chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 361 km với diện tích lưu vực 17.730km2, chiếm 65,2% diện tích toàn bộ lưu vực Sông Lam chảy qua địa phận hai tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh và một phần huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa.[7]
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Lưu vực sông Lam có thể phân chia thành các dạng địa hình chính sau:
- Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển nhỏ, hẹp nằm sát với dòng
chính Toàn bộ đồng bằng được bảo vệ bằng đê hai bờ sông, trừ vùng hữu ngạn Thanh Chương và vùng hữu ngạn Nam Đàn chỉ bảo vệ bằng đê bối Tổng diện tích vùng này vào khoảng 350.000 (ha) chiếm 10% diện tích lưu vực sông Cả và khu hưởng lợi
- Vùng đồi trung du thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Anh
Sơn, Thanh Chương (Nghệ An), Vũ Quang, Hương Sơn và Hương Khê (Hà Tĩnh) Đây là dạng địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh có thế dốc nhiều chiều do các sông
nhỏ tạo nên Tổng diện tích dạng địa hình này vào khoảng 680.000 (ha)
- Địa hình vùng núi cao chủ yếu tập trung ở phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam
lưu vực Dạng địa hình này có độ cao từ 1200 ÷ 1500 m như một bức tường ngăn giữa lưu vực sông Mê Kông và lưu vực sông Cả Dạng địa hình này có độ dốc lớn, thung lũng hẹp, chiếm tới 60% diện tích lưu vực Đây được xác định chủ yếu là vùng lâm nghiệp phòng hộ đầu nguồn
Tóm lại, địa hình sông Lam tổng hợp nhiều dạng địa hình có thế dốc chung theo hướng Tây - Đông, Tây Bắc - Đông Nam, Tây Nam - Đông Bắc và rốn trũng nhất là cửa sông Lam Độ dốc bình quân lưu vực lớn, phần đồng bằng hẹp Địa hình trên lưu vực đa dạng thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồng thời rất thuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và có khả năng tạo ra các vùng chuyên canh cây hàng hoá, cây công nghiệp
Toàn bộ lưu vực sông Lam nằm trong miền uốn nếp Bắc Bộ và miền uốn nếp Varixêt Đông Dương, ranh giới giữa hai miền uốn nếp là đới khâu sông Mã Những nghiên cứu trong chuyên khảo “Thành hệ địa chất và địa động học Việt Nam 1993”
do Nguyễn Xuân Tùng biên tập, xếp lưu vực sông Lam nằm trong “lĩnh vực Bắc Bộ Dương Tử - KaTaZia” giữa đai vỏ lục địa Bắc Trường Sơn tuổi Paleozoi Thời kỳ trước Cambri đến Paleozoi sớm đến Paleozoi muộn vùng sông Cả tồn tại chế độ đại dương vi lục địa, sườn châu lục địa, cận lục địa Chế độ rift và prerift tồn tại trong thời gian Paleozoi muộn đến Merozoi muộn Từ Merozoi muộn phát sinh các bồn
Trang 12trũng nhỏ mang tính orogen dọc theo đứt gãy sông Lam lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên vụn thô.[9]
Hình 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Đất trong lưu vực có các nguồn gốc hình thành khác nhau Ở vùng đồi núi, đất được phát triển trên nhiều loại nham thạch Ở vùng đồng bằng, đất được hình thành từ phù sa sông Phần lớn vùng đồi núi nằm dưới độ cao 800 – 1000 m, nên bị phong hoá mạnh Quá trình feralít là quá trình chủ yếu Nhóm đất feralít đồi và núi thấp, phân bố ở độ cao dưới 800 – 1000 m, chiếm diện tích lớn nhất và là nơi hoạt động của con người Các nhóm đất cát phù sa, đất phèn, đất mặn, đất than bùn và đất đen ở vùng đồng bằng
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, các loại đất chính trên lưu vực sông Lam là: đất phù sa và đất cát ven biển; đất bùn lầy; đất mặn; đất Feralitic mùn vàng nhạt trên núi; đất Feralitic trên núi; đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi; đất Macgalit Feralitic; đất lúa nước vùng đồi
Vùng đồng bằng sông Lam có các loại đất chủ yếu là đất phù sa và đất cát ven biển, đất bùn lầy, đất mặn và đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi Đất đai vùng trung du khá đa dạng: các loại đất chua, đất glây hoặc glây mạnh úng nước
Trang 13Do phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố địa lý, địa hình, khí hậu, lớp phủ
bề mặt,… nên đất đai ở vùng đồng bằng và trung du sông Lam được xếp vào loại kém màu mỡ.[7]
Hình 3: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Lam
1.1.4 Thảm phủ thực vật
Thảm phủ thực vật vùng canh tác nông nghiệp
Diện tích canh tác nông nghiệp trên toàn lưu vực chỉ chiếm khoảng 7% diện tích toàn lưu vực Trên diện tích đất này hiện nay canh tác với hệ số quay vòng ruộng đất từ 1,7 đến 1,8 lần trong năm nghĩa là trong một năm chỉ có khoảng 6 tháng có cây che phủ còn lại 6 tháng đất trống Trong 6 tháng phần cây có lá che phủ cho diện tích chỉ chiếm 3,5 – 4 tháng, có thể đánh giá thảm phủ thực vật trên đất nông nghiệp chỉ đạt 20 – 25%.[10]
Thảm phủ thực vật trên đất lâm nghiệp
Lưu vực sông Lam có rừng tập trung chủ yếu thuộc lãnh thổ bên Lào, sáu huyện miền núi Nghệ An và hai huyện Hương Sơn, Hương Khê thuộc Hà Tĩnh Độ
Trang 14che phủ rừng chung trên toàn lưu vực là 52% (năm 2010) Ở Việt Nam, diện tích rừng đang bị thu hẹp do tốc độ phát triển dân số cao ở miền núi và tập quán du canh
du cư cửa đồng bào các dân tộc Năm 1943 có khoảng 1,2 triệu ha rừng, đến nay diện tích rừng chiếm khoảng 35,5% diện tích tự nhiên, so với diện tích đất của các huyện miền núi và Hương Khê, Hương Sơn thì diện tích đất có rừng chiếm đến 43% Diện tích rừng già và rừng trung bình toàn lưu vực phần Việt Nam chỉ còn chiếm khoảng 12 ÷ 14%.[7]
Các kiểu rừng chủ yếu trên lưu vực sông Lam là:
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm phần lớn diện tích
- Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm diện tích không lớn song lại có
tác dụng phòng hộ, điều tiết dòng chảy để giữ nước và giữ đất chống xói mòn đất
Diện tích đất trống đồi núi trọc trên lưu vực khá lớn, 20% diện tích đất tự nhiên Do vậy, khi có mưa xuống khả năng giữ nước ở các sườn dốc kém làm gia tăng thời gian tập trung nước trong sông tạo nên các con lũ có cường độ lớn
Hình 4: Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam
Trang 15+ Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương hoạt động từ tháng V tới tháng
X và mạnh nhất vào tháng IX, X với đặc điểm là nóng ẩm mưa nhiều gây nên nhiều nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới Những nhiễu động thời tiết có thể đơn thuần là một hình thế thời tiết gây mưa hoặc tổ hợp nhiều hình thế thời tiết như bão và áp thấp, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh gây mưa lớn trên diện rộng tạo nên lũ lụt nghiêm trọng trên lưu vực sông Lam Các nhiễu động thời tiết như hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới lưu vực gây nên những đợt mưa có cường độ lớn kéo dài trên diện rộng gây lũ lụt khá nghiêm trọng như các năm 1978, 1988, 1996, 2002,…
+ Khối không khí nhiệt đới ẩm Ấn Độ Dương hoạt động mạnh từ tháng V tới tháng VIII, mạnh nhất vào tháng VII Khối không khí này nóng và khô, ít mưa thường gọi là gió Tây Nam hay gió Lào Ảnh hưởng của gió Tây Nam đã làm nhiệt
độ không khí, nhiệt độ đất tăng rất nhanh
Nhân tố khí hậu kết hợp với yếu tố địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí hậu giữa các vùng khá sâu sắc Phần phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực mang đặc điểm của vùng khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Trung Bộ Về phía Nam của lưu vực ảnh hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu hơn Những vùng được bao bọc bởi các dãy núi, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam
Vị trí, dạng địa hình, địa mạo, thảm phủ thực vật là những nhân tố chính quyết định chế độ khí hậu lưu vực Sự phân cách của địa hình và chế độ khí hậu đã làm cho chế độ thủy văn trên dòng chính và các phụ lưu lớn diễn ra phức tạp
1.1.5.1 Chế độ nhiệt
Mùa lạnh thường từ tháng XII năm trước đến tháng III năm sau Nhiệt độ thấp nhất đã ghi nhận được là -0,50C ở Quỳ Châu; 1,70C ở Cửa Rào và 40C ở Vinh, đều vào tháng I năm 1974
Trang 16Mùa nóng từ tháng V đến tháng VIII, nhiệt độ trung bình đạt 27 – 290C, tháng VII là tháng nóng nhất Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được đạt 42,10C ở Vinh (VI/1912); 42,70C ở Cửa Rào (V/1966) và 42,10C ở Tây Hiếu (V/1931)
Bảng 1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực
Đô Lương 17,2 18,2 20,6 24,2 27,3 28,7 29,1 27,9 26,4 24,3 21,3 18,6 23,7 Vinh 17,0 17,9 20,3 24,1 27,7 29,2 29,6 28,7 26,8 24,4 21,6 18,9 23,9 Quỳnh Lưu 17,0 17,6 20,1 23,7 27,5 28,9 29,4 28,3 26,8 24,4 21,4 18,5 23,6 Hương Khê 17,0 18,1 20,3 24,6 27,5 28,5 29,0 27,7 25,9 23,7 20,7 18,2 23,5
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương)
1.1.5.2 Chế độ ẩm
Độ ẩm tương đối trung bình năm của lưu vực dao động từ 80% đến 85% Độ
ẩm trung bình tháng VII đạt trị số thấp nhất vì thường có gió Lào Độ ẩm trung bình mùa lạnh ở đồng bằng cao hơn ở vùng núi, nhưng độ ẩm tương đối trung bình tháng thì ngược lại Vùng có độ ẩm bình quân năm cao là Con Cuông 86,5%; Đô Lương 85,5%; Tương Dương 81,5%; Quỳ Châu 86,6% Độ ẩm cũng phù hợp với lượng bốc hơi năm, vùng trung lưu có độ ẩm lớn - độ bốc thoát hơi nước nhỏ và vùng miền núi, đồng bằng có lượng bốc thoát hơi lớn - độ ẩm không khí nhỏ Tháng có
độ ẩm cao nhất là tháng I, II độ ẩm cao đạt tới 94%; tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VII, có ngày độ ẩm thấp chỉ còn 36 ÷ 38%.[7]
1.1.5.3 Bốc hơi
Lượng bốc hơi năm toàn vùng dao động từ 700 – 1000 mm Vùng ven biển
do tốc độ gió trung bình lớn hơn nên lượng bốc hơi cao hơn ở vùng núi Lượng nước bốc hơi bình quân năm đồng bằng nhỏ hơn miền núi, nhưng phần trung lưu giữa lưu vực lại có lượng bốc hơi nhỏ hơn cả
Trang 17Lượng nước bốc hơi bình quân tháng lớn nhất vào tháng VII khi gió Lào và nắng hoạt động lớn trên lưu vực Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng II chỉ đạt 29,7 mm/tháng Bốc hơi bốn tháng lớn nhất là V, VI, VII, VIII có tổng lượng bốc hơi đạt tới 541 mm, chiếm gần 60% tổng lượng bốc hơi năm.[7]
1.1.5.4 Bức xạ
Số giờ nắng trung bình năm trên lưu vực đạt từ 1500 ÷ 1800 giờ, bức xạ tổng cộng đạt 120 ÷ 130 kcal/cm2/năm Từ tháng IX đến tháng XI hàng năm bức xạ tổng cộng nhỏ hơn 400 kcal/cm2/ngày, thời gian còn lại trong năm đều đạt lớn hơn trị số này.[7]
Nguyên nhân gây ra lũ đặc biệt lớn, lũ quét trên lưu vực thường là tổ hợp của các hình thế thời tiết gây mưa lớn:
+ Bão và áp thấp nhiệt đới
+ Bão (áp thấp nhiệt đới) kết hợp cùng tác động của không khí lạnh
+ Dải hội tụ nhiệt đới và không khí lạnh
+ Không khí lạnh kết hợp cùng các hình thế gây mưa khác
1.1.5.6 Gió, bão
Gió: Các tháng mùa đông có hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Bắc,
vận tốc trung bình từ 1,5 ÷ 2 m/s Về mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Tây và Tây Nam, với vận tốc gió bình quân đạt từ 2 ÷ 3 m/s Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt tới 40 m/s Hàng năm từ tháng V đến tháng VIII có 30 – 35 ngày có gió Lào và được chia thành 5 – 7 đợt
Trang 18Bão: Bão thường đổ bộ vào lưu vực trong tháng IX và tháng X gây ra mưa
lớn trên diện rộng Những đợt mưa lớn kéo dài từ 5 – 7 ngày gây lũ lụt nghiêm trọng Cường độ mưa lớn nhất khi có bão đạt 700 ÷ 899 mm/ngày và xảy ra trên diện rộng tạo nên lũ lớn trên lưu vực như lũ năm 1978, 1996
Trong những thập kỷ gần đây, số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng tới lưu vực sông Lam ngày càng gia tăng Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh trong năm bão bắt đầu ảnh hưởng từ tháng VI mặc dù chỉ với tần suất 5%, sang tháng VII là 20%, cao điểm nhất là tháng IX đạt 65%, tháng X là 37%, tháng XI là 2% Mùa bão ở Nghệ An, Hà Tĩnh từ tháng VII đến tháng XI.[7]
1.1.6 Đặc điểm thủy văn
1.1.6.1 Đặc điểm sông ngòi
Hệ thống sông Lam có mật độ lưới sông là 0,6 km/km2, dòng chính sông Lam dài 531 km bắt nguồn từ các dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) có độ cao trên 2000 m và chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cho tới vị trí cách biển
40 km thì chuyển theo hướng Tây – Đông rồi đổ ra biển tại Cửa Hội Lòng chính sông Lam ổn định, ít bãi bồi, hệ số uốn khúc sông Lam là 1,74 Phần thượng nguồn trên đất Lào có độ dốc lòng sông lớn, khi đến Việt Nam thì độ dốc giảm nhiều Sông Lam có 44 phụ lưu cấp I (diện tích lưu vực từ 90 km2 trở lên) Trong đó đáng chú ý là sông Nậm Mô, sông Hiếu, sông Giăng, sông La Các nhánh sông thường ngắn, bắt nguồn từ các tâm mưa lớn nên nước lũ tập trung nhanh Sông Lam có hai nhánh sông lớn nhất là sông Hiếu và sông La (gồm hai sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu)
+ Sông Nậm Mô: Một phần nằm trên đất Lào với diện tích lưu vực 3970 km2 Chiều dài dòng chính là 160 km, độ dốc lòng sông là 0,35%, độ rộng bình quân từ
30 ÷ 35 m và đổ vào sông Lam tại Cửa Rào
+ Sông Hiếu: Bắt nguồn từ dãy núi Phu Hoạt, dòng chính thượng nguồn chảy
qua vùng có lượng mưa năm trên 2000 mm, càng về hạ lưu sông chảy qua các vùng
có lượng mưa năm nhỏ hơn (1500 ÷ 1800 mm) và đổ vào sông Lam ở ngã ba Cây Chanh Thượng nguồn sông Hiếu về đến Quỳ Châu lòng hẹp, có nhiều ghềnh thác Sông Chàng, sông Dinh là hai chi lưu lớn của sông Hiếu
+ Sông La: Có diện tích lưu vực 3.210 km2 đổ vào sông Lam ở ngã ba Chợ Tràng Sông La được tạo bởi hai nhánh lớn: sông Ngàn Phố có diện tích 1.070 km2
Trang 19chảy trong địa phận của huyện Hương Sơn; sông Ngàn Sâu chảy qua vùng mưa lớn của huyện Hương Khê (2200 ÷ 2400 mm/năm)
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam
TT Lưu vực
sông F (km
2) Lsông (km)
Độ cao bình quân (m)
Độ dốc bình quân lưu vực (%o)
Độ rộng bình quân (m)
Mật độ lưới sông km/m2
Hệ số không đối xứng
Hệ số hình dạng lưu vực
Dòng chảy kiệt: Mùa kiệt trên lưu vực từ tháng I – VIII, nhưng do có lũ tiểu mãn nên ở đây có hai thời kỳ kiệt là tháng III, tháng IV và tháng VII, tháng VIII Tháng III, IV là tháng kiệt nhất trong năm
Dòng chảy lũ: Trên lưu vực có 2 thời kỳ lũ tiểu mãn vào tháng V, VI và lũ chính vụ tháng IX – XI Thời kỳ xuất hiện lũ chính vụ trên các nhánh sông khác nhau Phía dòng chính lũ bắt đầu từ tháng VI kết thúc vào tháng X, XI Phía sông
La lũ từ tháng VIII và kết thúc vào tháng XII Lũ trên sông Lam từ tháng VI – XII
Lũ trên các nhánh sông Lam không bao giờ xuất hiện đồng thời, nhất là các con lũ lớn Lũ nhánh sông Hiếu, sông Lam thường xuất hiện lũ kép; sông Giăng, sông La lại xuất hiện lũ đơn Lượng nước mùa lũ chiếm 61% – 75% lượng dòng chảy cả năm, lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IX Nước lũ trên lưu vực sông Lam ảnh hưởng mạnh đến khu vực đồng bằng Nghệ An – Hà Tĩnh và thường gây lũ lụt
Trang 20khi có mưa bão Thời gian lũ lên nhanh 3 – 5 ngày ở lưu vực sông lớn, vài giờ ở lưu vực sông nhỏ Khi các hình thế gây mưa tác động mạnh thì thời gian duy trì đỉnh lũ
từ 3 – 5 giờ, thời gian kéo dài trận lũ 15 – 20 ngày như các trận lũ lịch sử năm 1978, năm 1988, năm 2002, năm 2005
Hiện nay trên lưu vực sông Lam đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa nước lớn, đó là bậc thang hồ chứa Bản Vẽ và Khe Bố trên dòng chính sông Lam, Hồ Bản Mồng trên sông Hiếu là một nhánh chính đổ vào sông Lam, hồ Thác Muối trên sông Giăng, một nhánh chính đổ vào sông Lam, và hồ sông Sào trên sông Sào, một nhánh của sông Hiếu Ngoài những hồ chứa này, trên hệ thống sông Lam còn rất nhiều các hồ chứa khác trên các sông suối nhỏ với dung tích nhỏ chủ yếu phục vụ nông nghiệp
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI
1.2.1 Dân cư
Vùng lưu vực sông Lam là vùng có tốc độ tăng dân số khá cao Tổng số dân tại thời điểm năm 2015 trên hai tỉnh Nghệ An (3.063.944 người) và Hà Tĩnh (1.261.290 người) là 4.325.234 người Mật độ dân số trung bình 194 người/km2 Tốc độ tăng trưởng dân số bình quân lưu vực là 0,68%, cơ cấu dân số là 15,5% dân
đô thị và 84,5% dân sống ở vùng nông thôn Tỷ lệ nam giới là 49,5%; tỷ lệ nữ giới
là 50,5% Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với dân số chiếm 60,2%
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 18%.[12] Nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công thấp là một lợi thế để thu hút đầu tư và tham gia vào lực lượng lao động xuất khẩu của cả nước
1.2.2 Dân tộc
Lưu vực sông Lam là một khu vực đa dân tộc, trong đó dân tộc chính là người Kinh, chiếm trên 90% Bên cạnh đó, còn có nhiều dân tộc khác cùng sinh sống như người Thái, người Mường, người Thổ, người Khơ Mú, Lào,… Các dân tộc cư trú đan cài nhau trên lưu vực, mỗi dân tộc mang một bản sắc riêng tạo nên sự
đa dạng và độc đáo trong văn hóa khu vực
Về tôn giáo, dân cư trên lưu vực sông Lam chủ yếu theo Phật giáo, Công giáo và các tôn giáo khác như đạo Mẫu, đạo Nho và tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
Có hàng trăm đền, chùa, miếu mạo như đền Ông Hoàng Mười, đền Cờn, đền Bạch
Mã, tháp Cửa Diêu, chùa Hương Tích, đền Tam Lang, Riêng đạo Công giáo, Hà Tĩnh là một trong 15 tỉnh có số lượng tín đồ Công giáo đông nhất toàn quốc
Trang 211.2.3 Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân khá đồng đều giữa các vùng trên lưu vực sông Đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên lưu vực sông, từ nông – lâm – ngư nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Dịch vụ đang ngày càng chiếm ưu thế trong cơ cấu kinh tế Việc tăng trưởng mạnh mẽ về công nghiệp và dịch vụ là những nhân tố tác động đến diễn biến lũ trên lưu vực sông
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam
Công nghiệp
Dịch
vụ
Nông nghiệp
Tốc độ Tăng trưởng
Công nghiệp
Dịch
vụ
Nông nghiệp Nghệ An 8,5÷9,5 30÷31 44÷45 24÷26 10,5 45÷46 36÷38 17÷18
(Nguồn: Viện Khí tượng Thủy văn)
1.2.3.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
có khoảng 353.100 (ha) diện tích canh tác cây lương thực, 146.800 (ha) lúa đông xuân; 102.100 (ha) lúa hè thu, 40.100 (ha) lúa mùa; 64.000 (ha) ngô và 35.400 (ha) lạc.[3,4]
Chăn nuôi phát triển nhanh, hình thức chăn nuôi hiện đại theo hộ gia đình Một vài nơi đã hình thành trang trại nhỏ với quy mô đàn gia súc dưới 100 con, đàn gia cầm dưới 10 nghìn con và đàn lợn dưới 200 con Những điểm nuôi tập trung như vậy vẫn là hộ gia đình và có sự hợp tác của nhiều hộ Vật nuôi chủ yếu đại gia súc là trâu, bò; gia cầm là gà vịt, chim cút và lợn.[7] Năm 2015, toàn lưu vực có
Trang 22khoảng 20.700 nghìn gia cầm; 368.700 con trâu; 556.500 con bò và 1.331.100 con lợn.[3,4]
Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp trên lưu vực sông Lam chiếm tới 65% diện tích nằm trên lãnh thổ Việt Nam Do chế độ khai thác rừng không có bảo dưỡng, do đốt nương làm rẫy và do cháy rừng nên trong giai đoạn từ 1945 ÷ 1990 rừng càng ngày càng cạn kiệt, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên Từ năm 1990 ÷ 2004 với chương trình 327, chương trình 5 triệu ha và chương trình giao đất giao rừng nên dần dần rừng được phục hồi; độ che phủ trên lưu vực ngày càng được nâng cao Đây là một tiềm năng kinh tế lớn trên lưu vực và là khu vực có khả năng tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.[7]
Bảng 4: Diện tích đất rừng của các tỉnh trên lưu vực sông Lam
Đơn vị: Nghìn ha
Năm 2014 Tổng diện
tích rừng
Rừng tự nhiên Rừng trồng Mới trồng
Tỷ lệ che phủ rừng (%)
(Nguồn: Tổng cục thống kê) Tính đến năm 2014, tổng diện tích rừng trên lưu vực vào khoảng 1230,2 nghìn ha Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 956 nghìn ha; diện tích rừng trồng là 274,1 nghìn ha; diện tích rừng mới trồng là 15,7 nghìn ha Tỷ lệ che phủ rừng đạt 53,6% Sản lượng khai thác gỗ đạt loại khá, gỗ thu hoạch sử dụng để làm ván ép, dăm gỗ, nguyên liệu giấy và phục vụ nhu cầu xây dựng
So với các giai đoạn trước, tỷ lệ che phủ rừng trên lưu vực đã có sự giảm sút Việc diện tích đất lâm nghiệp giảm sẽ làm giảm đi một lớp bảo vệ tự nhiên, kéo theo nhiều hệ quả xấu, nguy cơ lưu vực chịu ảnh hưởng của lũ lụt sẽ tăng cả về tần xuất và mức độ
Ngư nghiệp
Thủy sản đang là ngành được quan tâm đầu tư trên cả hai lĩnh vực, phương tiện đánh bắt, cảng cá, nuôi trồng thủy sản ven bờ phục vụ cho xuất khẩu Việc nuôi trồng này đòi hỏi sử dụng một khối lượng nước lớn, chất lượng đảm bảo nhưng
Trang 23thường ở xa nguồn nước và nằm cuối hệ thống cấp nước Tương lai của ngành thủy sản sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nhất là khu vực nuôi trồng, đây cũng là ngành hướng tới xuất khẩu nhiều nhất.[7] Năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản tính trên toàn lưu vực gần 27,3 nghìn ha, sản lượng thủy sản ước tính đạt 204.000 tấn.[3,4]
1.2.3.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp trên lưu vực sông Lam trong những năm qua đã có bước phát triển nhất định, công nghiệp đã hình thành cơ cấu đa ngành: cơ khí luyện kim, hóa chất, dệt may, thuộc da, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản, vật liệu xây dựng, Trong đó công nghiệp chế biến, sản xuất phân phối điện, khí đốt chiếm tỷ trọng lớn và tăng dần; tỷ trọng công nghiệp khai khoáng giảm Việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất công nghiệp đang ngày càng mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, công nghiệp trong khu vực vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của lưu vực Vùng đã bước đầu hình thành các cụm công nghiệp tập trung thuộc sở hữu tư nhân, thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài
Năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành trên lưu vực sông Lam đạt 60793,8 tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm 2014 Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 8,58%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,14%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,52%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng
10,41%.[3,4]
Các khu công nghiệp trên lưu vực góp phần lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực và cả nước như: Formosa, Vũng Áng, nhà máy Bia Sài Gòn – Hà Tĩnh, nhà máy sản xuất cọc sợi Vinatex, nhà máy Tôn Hoa Sen, nhà máy chế biến cá hộp Royal Foods, nhà máy chế biến thực phẩm Masan, nhà máy xi măng Sông Lam 2, nhà máy gỗ MDF,
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã phát triển theo hình thức làng nghề
đã thu hút hàng vạn lao động dư thừa ở vùng nông thôn và thu hút lực lượng lao động nông nhàn Các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh tại đây là chế biến nước mắm, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đan vá lưới,
Cùng với việc thu hút đầu tư, triển khai các dự án lớn trên địa bàn, chính quyền đã quan tâm ưu tiên phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới; tiếp tục huy động nguồn vốn đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đồng thời rà soát, lập hồ sơ thành lập mới các cụm công
Trang 24nghiệp Từng bước triển khai kế hoạch di dời các cơ sở vào sản xuất tập trung trong các cụm công nghiệp Thực hiện đầu tư, nâng cấp hệ thống điện, di dời cột điện ảnh hưởng đến quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.2.3.3 Thương mại, dịch vụ và du lịch
Ngành thương mại và dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh, lưu vực sông Lam nằm ở vị trí cầu nối Bắc - Nam và có hướng mở mạnh ra hướng Đông và sang phía Tây Các xã đều đã có nhà văn hóa, bưu điện trung tâm xã, bưu chính viễn thông trên toàn lưu vực phát triển mạnh đã phủ sóng điện thoại di động toàn bộ vùng đồng bằng hạ lưu Việc thông tin liên lạc trong khu vực rất thuận lợi để hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế xã hội trên khu vực.[7]
Chất lượng cung cấp các dịch vụ du lịch và thương mại ngày càng cao Công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại; quản lý thị trường được tăng cường, tập trung chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển thương mại nông thôn Các địa phương tập trung tuyên truyền, kiểm tra và xử lý kinh doanh hàng hóa không
rõ nguồn gốc xuất xứ và an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm tra hoạt động của các ban quản l ý chợ, hệ thống nhà hàng, khách sạn, hộ kinh doanh, thực hiện niêm yết giá công khai và bán theo giá niêm yết Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, đặc biệt là tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong vùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại; xăng dầu
Năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế ước tính đạt 75.335,1 tỷ đồng Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 4,482 tỷ USD (Nghệ An 682 triệu USD, Hà Tĩnh 3,8 tỷ USD) Dịch vụ vận tải đạt mức tăng trưởng khá, số lượt hành khách vận chuyển bằng đường bộ đạt 62 triệu lượt khách; khối lượng hàng hóa vận chuyển 73.784 nghìn tấn.[3,4]
Lĩnh vực thương mại, du lịch, thông tin truyền thông, vận tải, tài chính ngân hàng phát triển ổn định: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 86.066 tỷ đồng, tăng 12,86% so với năm 2014 Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn năm
2015 ước đạt 3.729,3 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 585,35 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 3.144 triệu USD Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,33% so với năm 2014.[3,4]
Trang 25Lưu vực sông Lam là vùng có nhiều địa danh du lịch nổi tiếng Hàng năm thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước Việc khai thác hiệu qua các nguồn tài nguyên du lịch đã góp phần làm tăng doanh thu cho vùng Doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2015 ước đạt 5.564,76 tỷ đồng
1.2.4 Y tế, giáo dục
Theo thống kê về y tế năm 2015, trên lưu vực sông Lam có 816 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 45 bệnh viện, 27 phòng khám đa khoa khu vực và 742 trạm y tế phường xã, 2 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, với 12.696 giường bệnh và 2.290 bác sĩ, 2.282 y sĩ, 4.010 y tá và khoảng 1.227 nữ
hộ sinh.[12] Mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh được củng cố, tăng cường ở các tuyến Tập trung phát triển chuyên môn kỹ thuật chẩn đoán, điều trị Không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và nâng cao y đức trong các cơ sở khám chữa bệnh, đảm bảo công tác khám chữa bệnh Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, khống chế không để dịch lớn xảy ra; tăng cường quản lý bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh; tập trung giảm sinh, giảm số người sinh con thứ 3 trở lên
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2014, trên địa bàn Nghệ An và Hà Tĩnh có 1.498 trường học ở cấp phổ phông, trong đó: trung học phổ thông có 131 trường, trung học cơ sở có 536 trường, tiểu học có 804 trường, có 25 trường phổ thông cơ sở Tổng số học sinh phổ thông khoảng 723.909 học sinh Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 99,5% Hệ thống thư viện gồm 33 thư viện với khảng 571 nghìn đầu sách phục vụ độc giả.[12] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong vùng cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong vùng
Ngoài ra, các hoạt động văn hóa - xã hội - thể thao được chính quyền và người dân địa phương tích cực thực hiện Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa được quan tâm và đầu tư đúng mức Phong trào xây dựng Nông thôn mới ngày càng đạt được những kết quả tốt đẹp
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.1 KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương
Trong những năm gần đây, khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học đề cập và phát triển trong các lĩnh vực quy hoạch, quản lý và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt Đánh giá tính dễ bị tổn thương được coi như là một hệ thống nhằm phân tích các tai biến rủi ro nội, ngoại sinh của hệ thống Từ đó tìm cách tăng khả năng phục hồi của xã hội thông qua việc tìm biện pháp tăng khả năng chống chịu của những thành phần dễ bị tổn thương
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển trong hơn 20 năm qua Các hướng nghiên cứu nhằm phân loại các thành phần, yếu tố tham gia vào đánh giá tính dễ bị tổn thương Có hai hướng tiếp cận chính để đánh giá tính dễ bị tổn thương: các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thường chú trọng vào khái niệm rủi ro (risk), trong khi các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội thường nhắc đến thuật ngữ tính dễ bị tổn thương (vulnerability) Khái niệm tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học xã hội gắn với nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội và xác định khả năng của cộng đồng trong việc chống chọi với hiện tượng thiên tai Đối với khoa học tự nhiên, như các nhà khoa học về khí hậu lại thường xem khái niệm tính dễ bị tổn thương là khả năng xuất hiện và các tác động tiềm tàng của các hiện tượng thời tiết và khí hậu có liên quan.[1] Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi trong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau
Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con
người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở
hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại, sức đề kháng của cộng đồng nhưng không đề cập đến mặt tự nhiên, mức độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai Tuy nhiên, trong những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kết quả của các hoạt động, khả năng chống chịu khác nhau xã hội, bối cảnh kinh tế và công nghệ không đồng nhất
Tính dễ bị tổn thương được mô tả bởi tổ chức chiến lược giảm nhẹ thiên tai thế giới (ISDR, 2004) như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố vật lý, xã hội,
Trang 27kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng dưới tác động của thiên tai.
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, tính dễ bị tổn tập trung vào
năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức về hệ thống địa lý
vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn
thương, tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm Năm 1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Năm 1996, SAR (báo cáo đánh giá lần 2) đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005) Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
IPCC TAR (báo cáo đánh giá lần 3) (2001) đã giải thích khái niệm tính dễ bị tổn thương như mức độ dễ bị ảnh hưởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đối phó được với các tác động của BĐKH Tính dễ bị tổn thương là một hàm đặc trưng của cường độ, tốc độ BĐKH khi hệ thống bị phơi nhiễm, bao gồm cả độ nhạy và khả năng thích ứng
Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển, với định nghĩa của SAR và TAR đã bao gồm các thành phần xã hội để giải thích tính dễ bị tổn thương Trong những năm 1980 và đặc biệt trong những năm 1990 thì những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướng tổn thương kinh tế - xã hội đã tăng lên Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực
tự nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống
Trang 282.1.2 Tính dễ bị tổn thương lũ lụt
Trong các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đề cập ở trên, có những định nghĩa được đưa ra cho những hiện tượng thiên tai nhất định như: biến đổi khí hậu, (IPCC, 1992, 1996, 2001) hay các hiểm họa môi trường (ISDR, 2004) Hướng nghiên cứu của tác giả trong khóa luận này theo hướng tính dễ tổn thương do lũ lụt
Theo Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2012) [8] khái niệm tính dễ bị tổn
thương sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO – IHE “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”
Để tăng cường tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) đã
đưa ra một khái niệm về bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ: “là bản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ô nhiễm môi trường”.[5]
Chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt (FVI) được xác định theo tính dễ bị tổn thương
của UNESCO – IHE là mức độ thiệt hại có thể xác định được trong điều kiện tiếp xúc (độ phơi nhiễm), tính nhạy và khả năng chịu đựng nhất định.[10]
Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ lụt còn được nhận định là việc xem xét lựa chọn, tiếp xúc, sự nhạy cảm và các chỉ số đối phó của người dân trong khu vực nghiên cứu Phân tích các chỉ số này giúp nhận ra đặc tính dễ bị tổn thương của người dân bị ảnh hưởng và tác động tới quản lý nguy cơ lũ lụt Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây
ra mà xã hội phải hứng chịu
2.1.3 Sự cần thiết của đánh giá tổn thương lũ
Trong những năm qua việc quản lý lũ bằng các phương án công trình như đê
và hồ chứa, được thiết kế với các trận lũ có tần suất khác nhau đã chiếm ưu thế Đây
là cách tiếp cận nhằm giảm thiên tai lũ, nghĩa là giảm xác suất xuất hiện; cường độ; lưu lượng lũ cũng như giảm diện ngập lụt
Trong thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng là chuyển mục tiêu quản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại do lũ lụt gây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định Vì thế, việc
Trang 29đánh giá những thiệt hại, tổn thương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn trọng trong quản lý rủi ro lũ.Việc đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ đang đạt được những kết quả quan trọng phục vụ cho việc đưa ra các quyết định trong quản lý rủi ro lũ thông qua các bước sau:
Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tượng trong vùng lũ như nhà ở, cộng đồng,
công trình, bị tổn thương một cách biến động không chỉ theo không gian, thời gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của người dân tại đó Ví dụ, các cộng đồng phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lược đối phó với các hiện tượng đó Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ lụt thường bỏ qua việc thích nghi với các nguy cơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thương lớn hơn khi phải đối diện với lũ Do đó, những đánh giá về tổn thương lũ đóng vai trò quan trọng trong bài toán xác định phương án giảm rủi ro thích hợp, như phát triển các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp
Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổn thương lũ là một phần quan trọng
trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tượng, thể hiện một cách trực quan về những rủi ro tiềm tàng trong vùng có nguy cơ lũ
Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: An toàn lũ và giảm thiểu
tổn thương lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phương án giảm thiểu tổn thương lũ phải được xác định và những lợi ích, chi phí cho các lựa chọn khác phải được định lượng và so sánh Những bước này nhằm sử dụng chi phí quản
lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ là một yếu tố quan trọng
Đánh giá tài chính ngay sau lũ được thực hiện khi lũ xảy ra Cơ quan quản lý
thiên tai và Chính phủ cần đánh giá nhanh những thiệt hại, tổn thương do lũ, để dự thảo ngân sách và đưa ra các quyết định về bồi thường thiệt hại cho các đối tượng trong vùng bị lũ lụt.[5]
2.1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu
2.1.4.1 Trên thế giới
Để đánh giá rủi ro lũ lụt, Plate (2002) đã xây dựng một chương trình khung cho việc đánh giá rủi ro lũ lụt bao gồm: phân tích rủi ro (xác định tai biến, phân tích tính dễ bị tổn thương, và xác định rủi ro), giảm nhẹ thiên tai (công nghệ và phi công nghệ) và sự sẵn sàng đương đầu với lũ lụt (các dự án cứu trợ, sự cảnh báo sớm và
Trang 30việc sơ tán) Tuy nhiên phương pháp này khá khó khăn ngay từ việc thu thập số liệu cũng như dữ liệu địa phương
Crichton (2002) đã định nghĩa: rủi ro là tổn thất tiềm năng của cộng đồng trước một hiện tượng tai biến nhất định, nó phụ thuộc vào mức độ tai biến, tính dễ
bị tổn thương và độ phơi nhiễm Từ đó, Crichton đưa ra tam giác rủi ro và diện tích của tam giác ấy chính là độ rủi ro Tam giác được hình thành bởi 3 thành phần là: tai biến, tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm Nếu một trong 3 thành phần này tăng lên thì diện tích tam giác tăng lên và kéo theo là mức độ rủi ro tăng theo và ngược lại mức độ rủi ro sẽ giảm Tai biến đặc trưng cho tần suất, cường suất của hiện tượng cực đoan mà nó có thể gây thiệt hại Tính dễ bị tổn thương đặc trưng cho giá trị tích lũy và trạng thái gần của đối tượng chính bị ảnh hưởng bởi tai biến Các đối tượng chính này là tính mạng, sức khỏe của con người hay vật nuôi, tài sản, số liệu hay khía cạnh môi trường Phơi nhiễm đặc trưng cho các đối tượng bị tác động bởi tai biến (con người, nhà cửa, công trình, cơ sở hạ tầng, kinh tế và môi trường)
Dwyer và cộng sự (2004) đã đề xuất một kim tự tháp 3 chiều và thể tích của kim tự tháp là giá trị rủi ro Ba mặt của kim tự tháp đặc trưng cho 3 thành phần là tai biến, tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm Bất kỳ thành phần nào của kim tự tháp tăng lên đều làm cho thể tích kim tự tháp tăng, kéo theo là giá trị rủi ro tăng và ngược lại
Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á ADRC (2005) sử dụng 3 vòng tròn đặc trưng cho 3 thành phần và độ rủi ro được xác định là phần diện tích giao nhau giữa
3 vòng tròn này Rủi ro là giá trị mong chờ của thiệt hại như là: tính mạng, tài sản,… bị ảnh hưởng bởi tai biến Rủi ro là hàm số của tai biến, tính dễ bị tổn thương
và phơi nhiễm Ở đây tai biến đặc trưng cho các hiện tượng cực đoan như động đất,
lũ lụt, bão, sóng thần, Chú ý rằng các hiện tượng không được coi là tai biến trong chính bản thân chúng Ví dụ động đất xảy ra ở nơi không có con người hoặc động vật sinh sống thì không được coi là tai biến
Trong các nghiên cứu đã sử dụng các điều tra về kinh tế và xã hội để xây dựng bộ chỉ số, sau đó đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên bộ chỉ số đã thu được gồm: (1) Chỉ số độ phơi nhiễm (khoảng cách từ nhà tới sông, thời gian ngập lũ, độ sâu ngập lũ, ); (2) Chỉ số kinh tế - xã hội (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập hàng tháng và nghề nghiệp,…); (3) Chỉ số nhạy (cấu trúc nhà, thời gian ở trong khu vực ảnh hưởng lũ, kinh nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về tai biến lũ lụt, nhận
Trang 31thức về rủi ro lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện lũ,…); (4) Chỉ số chống chịu (năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ, hỗ trợ có thể nhận được,…)
Nghiên cứu của Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng Theo UNESCO – IHE (2007) tổn thương lũ được xác định qua khả năng chống chịu, tính nhạy và độ phơi nhiễm của các đối tượng trước nguy cơ lũ
2.1.4.2 Trong nước
Trong nghiên cứu của Viet Trinh (2010) đã đánh giá rủi ro do lũ trên lưu vực sông Thạch Hãn – Quảng Trị dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương Tác giả đã coi tính dễ bị tổn thương do lũ là một hàm của bản đồ sử dụng đất và mật độ dân số mà chưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng
Nguyễn Kim Lợi (2010) đã nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương do trượt lở đất ở Việt Nam Kết hợp với các phương pháp, quy trình và tiêu chí mà đưa
ra bản đồ phần vùng dễ bị tổn thương Ở đây, các thành phần tính dễ bị tổn thương chủ yếu là các yếu tố tự nhiên của hệ thống mà chưa xét đến các yếu tố xã hội
Nguyen Mai Dang (2010) đã nghiên cứu xây dựng chỉ số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã được tác giả mở rộng và khái quát: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác Tuy nhiên, các tham
số được đưa vào tính toán chỉ số dễ bị tổn thương còn hạn chế, chưa bao trùm và phản ánh hết các yếu tố xã hội, đặc biệt đặc trưng quan trọng nhất là tình hình sử dụng đất đã không được xem xét
Lê Thị Kim Ngân đã đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định bằng việc xác định yếu tố gây tổn thương như: bão,
lũ, hạn hán,… tác động trực tiếp vào nhóm đối tượng dễ bị tổn thương: hệ sinh thái, các thành phần kinh tế - xã hội, coi yếu tố gây tổn thương không chịu ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp, sinh hoạt đô thị và chỉ xét đến yếu tố sản xuất nông nghiệp là chính
Đối với từng ngành cụ thể thì Tô Ngọc Thúy đã nghiên cứu đánh giá tổn thương do nước biển dâng ở Thừa Thiên Huế, tập trung vào các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản
Ngô Thị Vân Anh đã đánh giá tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu của thành phố Cần Thơ, đã xem xét các thành phần là: độ phơi nhiễm, độ
Trang 32nhạy và khả năng chống chịu Tuy nhiên, các biến được xác lập cho các thành phần: dân cư, nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng được xác định bằng phương pháp tích hợp bản đồ Vì thế tiêu chí độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu chưa được thể hiện rõ nét trong việc tính chỉ số dễ bị tổn thương đã nêu
Trong một số công trình, Trịnh Minh Ngọc, Nguyễn Thanh Sơn đã đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Thạch Hãn và lưu vực sông Nhuệ - Đáy, đã đưa vào các tham số: sức ép nguồn nước, sức ép khai thác sử dụng, hệ số sinh thái và thông số quản lý để tính toán
Đặng Đình Khá (2011) đã áp dụng để xây dựng bộ chỉ số và bản đồ tổn thương do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị, đồng thời đề cập đến độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu
Cấn Thu Văn (2015) xác định tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một
hệ thống dễ bị ảnh hưởng và khó có thể chống chịu với các tác động tiêu cực của lũ lụt, được xác định thông qua các tiêu chí nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu, qua đó nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn phục vụ quy hoạch phòng chống thiên tai
2.2 CÁC THÀNH PHẦN ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.2.1 Độ phơi nhiễm
Tiêu chí độ phơi nhiễm đặc trưng cho mức độ ảnh hưởng của hiện trạng bề mặt hệ thống khi tiếp xúc với nguy cơ lũ lụt Hiện trạng bề mặt hệ thống ở đây có thể là: hiện trạng sử dụng đất, mật độ nhà cửa, mật độ các công trình công cộng hay diện tích gieo trồng,… Các đặc trưng của tiêu chí này có thể là: độ sâu ngập lụt, thời gian ngập lụt, diện tích ngập lụt, vận tốc dòng chảy lũ, cường suất lũ hay tần xuất suất hiện lũ lớn,… Độ phơi nhiễm được coi là mối đe dọa trực tiếp đến hệ thống
Mỗi đặc trưng hiện trạng bề mặt khác nhau khi tiếp xúc trực tiếp với cùng một mức độ tai biến lũ lụt như nhau vẫn có tính dễ bị tổn thương khác nhau Ví dụ cùng một mức độ ngập lụt tương đương nhưng vùng trồng cây lâu năm hay vùng đất trống chưa sử dụng sẽ bị tổn thương ít hơn là vùng đất nông nghiệp, thủy sản hay đất ở Ngoài ra, với các đặc trưng nguy cơ lũ lụt khác nhau thì loại sử dụng đất
sẽ bị tổn thương khác nhau Ví dụ đất trồng lúa chịu tác động nhiều bởi đặc trưng thời gian ngập hơn là đặc trưng độ sâu ngập lụt hay vận tốc dòng chảy lũ
Trang 33Các đặc trưng thuộc tiêu chí độ phơi nhiễm có thể được xác định bằng các hình thức: khai thác bản đồ, dữ liệu hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; niên giám thống kê hay điều tra xã hội học,… hay mô phỏng những trận lũ bằng các mô hình toán thích hợp
2.2.2 Tính nhạy
Tiêu chí tính nhạy đặc trưng các tính chất về kinh tế, xã hội và môi trường sẽ phản ứng ra sao trước tai biến lũ lụt Các biến thuộc tiêu chí tính nhạy như: dân số, dân tộc, trình độ học vấn, giới tính, độ tuổi và môi trường Mỗi đặc trưng thuộc tiêu chí tính nhạy có mức ảnh hưởng khác nhau trước tai biến lũ lụt (cùng mức độ nguy cơ lũ lụt), ví dụ như người dân có trình độ học vấn cao hơn sẽ có nguy cơ bị tổn thương thấp hơn, hay một địa phương có hệ thống giao thông, liên lạc tốt hơn thì người dân ở đó có nguy cơ tổn thương thấp hơn và ngược lại Giả sử, xét cụ thể đối với đặc trưng độ tuổi thì trẻ em và người già sẽ bị tác động nhiều hơn và dễ bị tổn thương hơn là thanh niên và trung niên trước tai biến lũ lụt
Các đặc trưng thuộc tiêu chí tính nhạy có thể được xác định từ: niên giám thống kê (cùng thời điểm tính toán với các đặc trưng khác), phiếu điều tra xã hội học hay phỏng vấn (ghi âm, ghi hình) dành cho các cá thể và tổ chức hành chính quản lý các cấp, Để kết quả thu thập có chất lượng và đảm bảo đủ độ tin cậy thì phải thiết kế bộ câu hỏi (cả phiếu và phỏng vấn) có mục tiêu, trọng tâm và chứa đựng đủ thông tin, ngoài ra việc tiến hành điều tra, phỏng vấn cần đảm bảo tính đại diện
2.2.3 Khả năng chống chịu
Tiêu chí khả năng chống chịu đặc trưng cho khả năng chống đỡ và chịu đựng
trước tai biến lũ lụt Khả năng chống chịu phản ánh sức kháng cự của của người dân, của cộng đồng, của chính quyền và hệ thống tự nhiên trước tai biến lũ lụt Các biến thuộc tiêu chí khả năng chống chịu như kinh nghiệm; điều kiện; khả năng chống lũ; công trình phòng, tránh lũ; khả năng dự báo, cảnh báo lũ; sự hỗ trợ của cộng đồng; khả năng tự phục hồi;… Cùng một lực tác động nhưng khả năng chống chịu khác nhau sẽ mang lại hậu quả khác nhau Ví dụ, khi có lũ về với cùng mức độ như nhau người dân sống ở vùng sông nước, quen với việc đối mặt với lũ, có đầy đủ các dụng
cụ cũng như kinh nghiệm chống lũ sẽ ít bị tổn thương hơn so với người dân sống ở vùng chưa hoặc ít phải gặp lũ
Trang 34Giống như các đặc trưng tiêu chí tính nhạy, các đặc trưng tiêu chí khả năng chống chịu cũng nhận được từ điều tra xã hội học (phiếu, phỏng vấn, ghi âm, ghi hình…) và thông tin trong niên giám thống kê cấp huyện thuộc lưu vực nghiên cứu
Phần lớn các đặc trưng thuộc hai tiêu chí tính nhạy và khả năng chống chịu rất khó tách bạch và có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau chứ không phản ánh tính độc lập tuyệt đối Vì vậy, sự thay đổi của biến này (thuộc tiêu chí này) sẽ kéo theo
sự thay đổi biến khác (thuộc tiêu chí kia) Trong mỗi nghiên cứu cụ thể, việc phân chia các đặc trưng theo tiêu chí tính nhạy hay tiêu chí khả năng chống chịu là mang tính tương đối và phụ thuộc vào mục đích của bài toán cần giải quyết
2.3 XÁC ĐỊNH BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.3.1 Bộ tiêu chí xác định tính dễ bị tổn thương
Để triển khai việc thiết lập bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt cho lưu vực sông cần phải tập hợp những dữ kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường trong mối liên quan đến tai biến lũ lụt Các phản ứng của lưu vực nhiều khi là thể hiện đơn lẻ lên từng tiêu chí nhưng có khi lại thể hiện lên nhiều tiêu chí Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu cần đánh giá mà lựa chọn xếp yếu tố ảnh hưởng này vào tiêu chí này hay tiêu chí kia
Bộ tiêu chí được xác lập bằng cách xác định riêng lẻ từng tiêu chí, sau đó được tổng hợp lại theo phương pháp được lựa chọn Bộ tiêu chí sử dụng trong báo cáo này gồm ba thành phần: độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng phục hồi
Để thuận tiện cho việc xác định tính dễ bị tổn thương do lũ lụt của một lưu vực nhất định, có thể tập hợp các đặc trưng có tính chất tương đối đồng nhất thành một nhóm trong cùng một tiêu chí Tuy nhiên khi có một thành phần thỏa mãn bằng hoặc hơn hai tiêu chí thì chỉ được phép gán nó cho một tiêu chí mà người sử dụng quan tâm (tiêu chí ưu tiên)
A Feteke đưa ra 41 biến số thuộc 3 thành phần (kinh tế, xã hội và môi trường) trên cơ sở đáp ứng 3 tiêu chí (độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu), được thể hiện qua 8 yếu tố (độ tuổi, sự phụ thuộc, trình độ, nguồn thu nhập, y
tế, thể chế, loại hình nhà cửa, tiềm năng kinh tế khu vực) Các yếu tố dễ bị tổn thương xã hội chính gồm độ tuổi, giới tính, trình độ, nguồn thu nhập, các biến phụ
là y tế, đô thị - nông thôn, nhà cửa, tiềm năng của vùng Các biến này được đánh giá theo 4 tiêu chuẩn người có sức khỏe yếu dẫn đến tử vong, người phụ thuộc hoàn toàn vào y tế, trình độ của con người và nguồn lực tài chính của con người Hạn chế trong nghiên cứu của A.Feteke thể hiện ở thành phần độ phơi nhiễm được lấy theo
Trang 35mật độ kết cấu hạ tầng là chưa phản ánh đầy đủ yếu tố này Ví dụ, nơi mà có mật độ nhà cửa, kết cấu hạ tầng ít nhưng là đất quốc phòng, an ninh là dễ bị tổn thương hơn
so với đất ở nông thôn,… Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp so sánh các biến với các tiêu chuẩn để xác định là mức độ tính nhạy cao, thấp hay trung bình cũng không tránh khỏi sự phụ thuộc vào tính chủ quan của người nghiên cứu hoặc chưa đảm bảo tính khách quan của biến số.[1]
2.3.2 Thiết lập bộ tiêu chí
Theo lý thuyết, để đánh giá định lượng dễ bị tổn thương, thông thường thực hiện bằng cách xây dựng “chỉ số dễ bị tổn thương” Trong nghiên cứu tính dễ bị tổn thương thì chỉ số là độ lớn giá trị tính toán từ bộ biến số đã lựa chọn cho vùng (huyện, tỉnh, lưu vực) nghiên cứu và đã sử dụng để so sánh chúng với một hoặc một
số vùng khác Giá trị số này được sử dụng theo nghĩa thông thường, tức là trên cơ
sở của chỉ số này khu vực khác nhau được xếp hạng và nhóm thành mức độ dễ bị tổn thương cao hay thấp tương ứng
Phương pháp xác định bộ tiêu chí tham gia tính toán chỉ số dễ bị tổn thương
lũ lụt trong yếu tố độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của người dân được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu, phân tích các mối quan hệ thành phần giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội
Bên cạnh sự phát triển của xã hội dựa vào tự nhiên thì con người lại để lộ ra những mặt “nhạy” dễ bị ảnh hưởng bởi các tai biến thiên nhiên như độ tuổi, trình độ, kinh tế, sự phát triển không bền vững,… Ngược lại, với bất kỳ tai biến thiên nhiên nào thì con người cũng có những biện pháp phòng ngừa, chống chịu và thích ứng nhất định Xét trong bối cảnh con người chịu tác động của thiên tai lũ lụt thì “tính nhạy” và “khả năng chống chịu” của mỗi hộ dân, cộng đồng phụ thuộc vào yếu tố nội lực (kinh tế, sức khỏe, sinh kế…), ngoại lực (cơ sở hạ tầng, công trình phòng lũ, chính quyền địa phương…) và điều kiện môi trường (nguồn nước sinh hoạt, môi trường sống,…) Trên cơ sở đó nghiên cứu tiến hành phân nhóm tiêu chí, thành phần và các biến trong mỗi thành phần ấy
Việc thiết kế các thành phần, biến này phụ thuộc vào khu vực nghiên cứu, cách tiếp cận, đặc tính vốn có của hiện tượng nghiên cứu, phương pháp và sự sẵn có của dữ liệu Quá trình lựa chọn là chìa khóa để đảm bảo chất lượng của các chỉ tiêu Các tiêu chí được lựa chọn phục vụ tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ cho lưu vực sông được thiết lập theo ba tiêu chí theo báo cáo thứ 3 của IPCC “Tính dễ bị