1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2010 2017

85 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 Phương pháp nghiên cứu 1.4.1 Phương pháp định lượng Để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại, bài nghiên cứu này tiến hành phân tích t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS ĐẶNG VĂN DÂN

TP Hồ Chí Minh- Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Văn Dân Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Học viên

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.4.1 Phương pháp định lượng 3

1.5 Kết cấu đề tài 3

Tóm tắt chương 1 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ CHI PHÍ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN .5

2.1 Hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại 5

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại 7

2.2.1 Các nhân tố nhân tố bên ngoài 7

2.2.2 Các nhân tố nhân tố bên trong 8

2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả chi phí của ngân hàng thương mại 10

2.3.1 Phân tích bao dữ liệu ( Data Envelopment Analysis -DEA) 11

2.3.2 Phân tích biên ngẫu nhiên ( Stochastic Frontier Analysis -SFA) 12

2.4 Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại 14

2.4.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam 14

2.4.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 15

Tóm tắt chương 2 22

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VẦ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Phương pháp nghiên cứu 23

Trang 5

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 23

3.3 Mô hình nghiên cứu 24

3.3.1 Mô hình xác định hiệu quả chi phí sử dụng Phương pháp SFA 24

3.3.2 Mô hình đánh giá tác động của các yếu tố tới hiệu quả chi phí của các NHTM 28

3.3.3 Các nhân tố nhân tố bên ngoài 29

3.3.4 Các nhân tố nhân tố bên trong 30

Tóm tắt chương 3 34

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Thống kê mô tả về đầu ra và giá của đầu vào 35

4.2 Bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả chi phí các ngân hàng Việt Nam 36

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của ngân hàng Việt Nam 40

Tóm tắt chương 4 48

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Giải pháp 49

5.2.1 Kiến nghị đối với các Ngân hàng thương mại 49

5.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và chính phủ 50

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 52

5.3.1 Hạn chế: 52

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo: 52

Tóm tắt chương 5 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng giải thích các biến trong mô hình SFA

Bảng 3.2: Bảng các biến sử dụng trong mô hình hồi quy tobit

Bảng 4.1: Miêu tả các biến được sử dụng để ước tính hiệu quả chi phí của các ngân

hàng TMCP Việt Nam

Bảng 4.2: Hiệu quả chi phí của 25 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2017 Bảng 4.3: Bảng tổng hợp hiệu quả chi phí của từng ngân hàng trong giai đoạn 2010-

2017

Bảng 4.4: Bảng thống kê mô tả phi hiệu quả về chi phí của 25 ngân hàng TMCP Việt

Nam giai đoạn 2010-2017

Bảng 4.5: Bảng ma trận tương quan giữa các biến độc lập-1

Bảng 4.6: Bảng ma trận tương quan giữa các biến độc lập-2

Bảng 4.7: Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của ngân hàng

Trang 7

Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy hiệu quả chi phí của các ngân hàng Việt Nam có xu cải thiện trong thời gian nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lợi trên tài sản, tỷ lệ an toàn vốn, cho vay trên tiền gửi và nợ xấu là những biến số nội bộ ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí các ngân hàng Việt Nam trong thời gian nghiên cứu Trong khi đó, các chỉ số kinh tế vĩ mô cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí ngân hàng của Việt Nam trong giai đoạn này

Từ khóa: hiệu quả chi phí ngân hàng, phi hiệu quả chi phí ngân hàng, phương pháp

biên ngẫu nhiên

Trang 8

ABSTRACT

Commercial banks are an intermediary institution whose main role is to transfer capital from the place of excess capital to the place of lack of capital Commercial banks function as the lifeblood of the economy The effectiveness of commercial banks

is a top concern of governments as well as economic regulators To assess the effectiveness of Vietnamese commercial banks, this study examines the cost effectiveness of Vietnamese commercial banks in the period 2010-2017 The method used to analyze the cost-effectiveness of banks is the random marginal method according to the Battese-Coelli 1992 model (BC92) The Tobit regression was used to analyze the factors affecting the cost effectiveness of Vietnamese commercial banks during this period

The findings of the study show that the cost effectiveness of Vietnamese banks tended to improve during the study period The research results have proved that bank size, return on assets, capital adequacy ratio, lending to deposit and bad debt are internal variables affecting the cost effectiveness of banks Vietnamese goods during the study period Meanwhile, the macroeconomic indicators also affect Vietnam's bank cost effectiveness in this period

Keywords: Bank cost efficiency, Bank cost inefficiency, Stochastic frontier analysis

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Hệ thống ngân hàng đóng một vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế, là các

tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ tập trung, phân phối lại vốn tiền

tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính-tiền tệ khác trong nền kinh tế Hoạt

động kinh doanh ngân hàng luôn được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm và giám

sát chặt chẽ Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã phát triễn trên 25 năm Trải

qua chặng đường trên, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã không ngừng phát triễn

về quy mô (vốn điều lệ, tổng tài sản, mạng lưới chi nhánh), chất lượng hoạt động và

hiệu quả kinh doanh Trong những năm gần đây, sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hệ thống

ngân hàng Việt Nam đã tạo nên môi trường năng động, thúc đẩy sự phát triễn của các

ngân hàng và đang đặt ra yêu cầu cần phải đánh giá hiệu quả của các ngân hàng Việc

đánh giá này không chỉ cần thiết đối với các nhà quản lý mà còn cả khách hàng - những

người đầu tư vào ngân hàng kỳ vọng lợi nhuận cao

Chính vì vậy, tác giả thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả chi phí của các

Ngân hàng Thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiệu quả chi phí của các Ngân hàng

Thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 Với mục tiêu nghiên cứu này, đề ra

đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai 2010-2017

như thế nào?

- Các nhân tố bên ngoài và bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí

của các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 như thế nào?

Trang 10

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả chi phí của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài dựa trên dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 25 Ngân hàng TMCP Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2017

Danh sách các ngân hàng TMCP:

STT Ngân Hàng Mã chứng khoán

Trang 11

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp định lượng

Để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại, bài nghiên cứu này tiến hành phân tích theo 2 giai đoạn: giai đoạn 1 sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) để ước lượng hiệu quả bằng cách thu thập các yếu tố đầu ra và đầu vào để xác định chi phí hiệu quả của mô hình SFA Giai đoạn 2 sử dụng kết quả phân tích hiệu quả từ giai đoạn 1 và sử dụng phương pháp hồi quy Tobit, mô hình Tobit là mô hình áp dụng cho biến phụ thuộc là biến định lượng nhưng bị giới hạn, để đánh giá sự tác động của các nhân tố riêng, đặc trưng của Ngân hàng và các điều kiện thị trường bên ngoài đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại

1.5 Kết cấu đề tài

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả chi phí và các nghiên cứu liên quan

Chương 3: Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và giải pháp

Trang 12

Tóm tắt chương 1

Chương 1 giới thiệu tổng quát về lý do chọn đề tài, mụu tiêu nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu trong luận văn Với việc phân tích 2 giai đoạn: sử dụng mô hình SFA và hồi quy Tobit để đánh giá sự tác động của các nhân tố riêng, đặc trưng của Ngân hàng và các điều kiện thị trường bên ngoài đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Từ đó, đề tài đưa ra các giải pháp để cải thiện và nâng cao hiệu quả chi phí của các Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ CHI PHÍ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN.

2.1 Hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại

Theo Farrell (1957) thì vấn đề đo lường hiệu quả sản xuất của một ngành rất quan trọng đối với cảc nhà nghiên cứu kinh tế và nhà hoạch định chính sách kinh tế

Đo lường hiệu quả là một chủ đề được quan tâm vì các tổ chức luôn mong muồn cải thiện năng suất Vì những lý do này, sáu mươi năm trước trong bài viết kinh điển của mình Farrell nói về hiệu quả của một công ty, tức là công ty tạo ra sản lượng càng lớn càng tốt từ một đầu vào nhất định Với điều kiện là tất cả các yếu tố đầu vào và đầu ra đều được đo lường chính xác Tương tự, nếu kế hoạch kinh tế liên quan đến các ngành

cụ thể, điều quan trọng là phải biết một ngành công nghiệp nhất định có thể được tăng cường để tăng sản lượng của mình bằng cách đơn giản là tăng hiệu quả mà không cần hấp thụ thêm tài nguyên

Theo Berger et al (1993) đo lường hiệu quả của các ngân hàng là một trong những vấn đề quan trọng nhất trên thị trường tài chính, vì hiệu quả của chúng có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của ngành ngân hàng và hiệu quả của cả một hệ thống tiền

tệ Đối với các ngân hàng, hiệu quả là cải thiện lợi nhuận, số tiền lớn hơn được chuyển qua hệ thống, giá cả và chất lượng dịch vụ tốt hơn cho khách hàng và an toàn hơn về

mặt đệm vốn được cải thiện trong việc hấp thụ rủi ro

Đánh giá năng suất của hệ thống ngân hàng là mối quan tâm lớn đối với các cơ quan chính phủ vì sự tăng năng suất của các ngân hàng có thể dẫn đến hiệu quả ngân hàng tốt hơn, giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như cải thiện việc phân

bổ nguồn lực và tăng năng suất của toàn bộ nền kinh tế Sự gia tăng năng suất cũng góp phần làm tăng tính lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng, với điều kiện lợi nhuận đạt được hướng tới việc tăng vốn chủ sở hữu và các điều khoản cho phép hấp thụ rủi ro tốt hơn (Casu et al, 2004)

Trang 14

Theo Berger và Mester (1997) có ba khái niệm hiệu quả kinh tế quan trọng : chi phí, lợi nhuận tiêu chuẩn và hiệu quả lợi nhuận khác Những khái niệm này có nền tảng kinh tế tốt nhất để phân tích hiệu quả của các tổ chức tài chính bởi vì chúng dựa trên

sự tối ưu hóa kinh tế để phản ứng với giá cả thị trường và cạnh tranh, thay vì chỉ dựa vào việc sử dụng công nghệ Hiệu quả chi phí đưa ra thước đo mức độ chi phí của ngân hàng gần với chi phí của ngân hàng tốt nhất sẽ như thế nào khi sản xuất cùng một gói đầu ra trong cùng điều kiện Ví dụ: chỉ số hiệu quả X theo chi phí của ngân hàng I là 0,7 cho thấy rằng ngân hàng I đạt hiệu quả 70% và thấp hơn 30% so với ngân hàng chuẩn xét trong cùng một điều kiện nhất định Hiệu quả X có giá trị trong đoạn (0,1]

và bằng 1 đối với ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất

Theo Ariff và Can (2008) thì hiệu quả chi phí liên quan đến việc giảm thiểu chi phí của một công ty được phản ánh bởi mức độ chi phí của nó gần với mức mà một công ty thực hiện tốt nhất sẽ tạo ra cùng một lượng đầu ra được bán ở mức giá nhất định với giá đầu vào nhất định

Cũng theo Farell (1957) có 2 loại hiệu quả là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân

bổ Hiệu quả kỹ thuật là tối đa hóa đầu ra ( sản xuất ra sản lượng tối đa ) với đầu vào cho trước ( như lao động, máy móc, nhà xưởng, phát minh, công nghệ… ) hoặc tối thiểu hóa đầu vào đế sản xuất một lượng đầu ra nhất định Mặt khác, hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng của một công ty sử dụng các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ tối ưu khi giá

cả tương ứng của chúng đã biết và công nghệ sản xuất của công ty Hai loại hiệu quả này sau đó được kết hợp thành một hiệu quả kinh tế tổng thể (CE)

Giống như các mô hình sản xuất truyền thống, các ngân hàng sử dụng vốn và lao động làm đầu vào để sản xuất đầu ra như cho vay và cung cấp dịch vụ Các ngân hàng thu tiền bằng cách sử dụng lao động và vốn (đầu vào) và kiếm lợi nhuận từ khối lượng tài sản kiếm được (đầu ra) Vì vây, luận văn đánh giá hiệu quả chi phí của các

Trang 15

ngân hàng dựa trên việc kết hợp các yếu tố đầu vào như lao động, tiền gửi, vốn, công nghệ…) và đầu ra ( tổng tài sản,…) để có mức hiệu quả chi phí tối ưu

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại

Hiệu quả chi phí là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các công ty nói chung và ngân hàng nói riêng Để nâng cao hiệu quả, các NHTM cần cải thiện năng lực quản trị và điều hành, tạo đào nhân sự, đầu tư công nghệ… qua

đó tạo ra giá trị tích lũy, nâng cao giá tri thương hiệu và phát triễn quy mô Để thực hiện mục tiêu trên, các ngân hàng cần nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Theo Anwar (2018) thì có hai nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng bao gồm: nhân tố bên ngoài và bên trong ngân hàng Các nhân tố bên ngoài ngân hàng như là: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng GDP, chỉ số VNIndex, tỷ giá Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm các yếu tố như quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lợi trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi cho vay, nợ xấu của ngân hàng

2.2.1 Các nhân tố nhân tố bên ngoài

Nhân tố bên ngoài là các nhân tố có ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội Khi nền kinh tế phát triễn các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu về vốn để đầu tư, mở rộng hoạt động sản suất Để đáp ứng nhu cầu tăng cao về vốn của thị trường các ngân hàng sẽ có cơ hội tăng trưởng tín dụng từ đó tạo ra thu nhập Ngược lại, nếu nên kinh tế không phát triễn sẽ tạo ra các nguy cơ về việc gia tăng nợ xấu, chi phí sử dụng vốn tăng, giảm doanh thu do giảm nhu cầu về vốn của thị trường Các nhân tố ảnh hưởng đến đến nền kính tế bao gồm: lạm phát, tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái,…

Hoạt động của các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài Tác động của chúng mang tính chất khách quan và khó kiểm soát được Khi những nhân tố bên

Trang 16

ngoài thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của ngân hàng thương mại Để tồn tại các ngân hàng thương mại buộc phải thích nghi với sự thay đổi Vấn đề của ngân hàng

là nhận biết kịp thời, để có thể thích nghi với chúng

Chan và Karim (2010) cho rằng GDP bình quân đầu người, tín dụng cho khu vực tư nhân và sự tập trung thị trường có tác động tiêu cực đến hiệu quả chi phí ngân hàng

Andries (2011) đề xuất các cơ quan chính phủ nên hỗ trợ tự do hóa và cải cách ngân hàng và thực hiện một số nỗ lực để duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức thấp để cải thiện hiệu quả của các ngân hàng

2.2.2 Các nhân tố nhân tố bên trong

Các nhân tố bên trong cấu thành nên một ngân hàng bao gồm: quy mô tài sản, công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống phòng ngừa rủi ro, năng lực tài chính, tỷ lệ nợ xấu Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả chi phí của NHTM

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ vào tất

cả các mặt của nền kinh tế và xã hội như ngày nay, đã tạo ra những thách thức cũng như cơ hội cho các ngân hàng Việc ứng dụng công nghệ của ngành ngân hàng là một

xu thế tất yếu để gia tăng hiệu quả và phát triễn Năng lực công nghệ của mỗi ngân hàng bao gồm: hạ tầng công nghệ ngân hàng, nguồn vốn được sử dụng tối ưu để đầu

tư xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, nâng cao kỹ thuật công nghệ của ngân hàng Các ngân hàng ứng dụng tốt công nghệ sẽ giảm thiểu chi phí nhân sự, xây dựng

có sở dữ liệu lớn (big data) giúp cho ngân hàng chiếm lĩnh thị phần

Trang 17

Suhaemi, Abdullah và Saban (2010) chứng minh rằng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông có tác động tích cực đến hiệu quả lợi nhuận mặc dù hiệu quả không đáng kể, trong khi quy mô có mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả lợi nhuận

Quy mô ngân hàng thể hiện tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại, trong nền kinh tế các Ngân hàng thương mại có quy mô khác nhau Theo Suhaemi, Abdullah

và Saban (2010) quy mô có mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả lợi nhuận, trong khi đó theo Yeh (2011) thì quy mô ngân hàng có tác động lớn đến hiệu quả ngân hàng, các ngân hàng có quy mô lớn có hiệu quả hơn

Trong cơ cấu chi phí hoạt động của ngân hàng, thì chi phí nhân sự chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên, con người luôn là yếu tố quan trọng đối với bất cứ tổ chức nào Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao năng suất lao động, tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng Việc sử dụng nguồn nhân lực giỏi nghiệp vụ, chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp các ngân hàng hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh, từ đó giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí họat động

Tỷ lệ nợ xấu:

Các khoản nợ phân loại từ nhóm (3) - (5) được xem là nợ xấu theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa tổng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay Tỷ lệ nợ xấu cho thấy chất lượng nợ của ngân hàng, ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thì rủi ro mất vốn cao, theo quy định của

Trang 18

Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng có nợ xấu phải trích lập dự phòng rủi ro từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả chi phí của ngân hàng thương mại

Kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu về hiệu quả của các ngân hàng cho thấy mức độ hiệu quả khác nhau theo thời gian và từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, hậu quả của một loạt các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô Hoạt động của một ngân hàng được xác định bởi các yếu tố bên trong dành riêng cho ngân hàng và bởi các yếu

tố bên ngoài cụ thể đối với môi trường mà ngân hàng thực hiện các hoạt động của mình; những yếu tố này ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả của ngân hàng Như vậy, việc công nhận và sử dụng các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của các ngân hàng là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả

Theo Anwar (2018) đo lường hiệu suất ngân hàng là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu ngân hàng trong nhiều thập kỷ Có hai cách tiếp cận chủ đạo trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, đó là phương pháp tỷ số tài chính

và phương pháp tiếp cận biên Phương pháp tỷ số tài chính khám phá điều kiện tài chính của từng ngân hàng về tính thanh khoản, lợi nhuận, tỷ lệ đòn bẩy và tỷ lệ hoạt động và so sánh các tỷ số này với tỷ lệ trung bình của ngành là điểm chuẩn Trong khi

đó, cách tiếp cận biên đo lường hiệu suất của ngân hàng bằng cách so sánh hiệu suất của từng ngân hàng với biên thực tiễn tốt nhất Cách tiếp cận biên có thể đưa ra các khuyến nghị có giá trị không chỉ cho một công ty với tư cách là một thực thể duy nhất

để tăng cường hiệu suất mà còn cho các nhà hoạch định chính sách thiết lập các quy định có liên quan Trong phương pháp tiếp cận biên, có hai phương pháp nổi bật được

sử dụng, đó là phân tích bao dữ liệu (DEA) và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

Trang 19

2.3.1 Phân tích bao dữ liệu ( Data Envelopment Analysis -DEA)

Farell (1957) đã đưa ra cánh đo hiệu quả kỹ thuật để phản ánh khả năng của một đơn vị đạt được đầu ra cực đại từ một tập hợp đầu vào đã cho Dựa trên những nghiên cứu của Farell, Charnes et al (1978) đã xây dựng quy trình đánh giá hiệu quả tương đối của các đơn vị sản xuất đa đầu ra và đa đầu là phương pháp bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis) DEA là phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của một tập hợp những đơn vị ra quyết định được gọi là các DMU (Decision Making Unit) Các đầu ra và đầu vào này thường sẽ có nhiều đặc tính và cũng có thể giả định nhiều dạng khác nhau

Nghiên cứu của Andries (2011) cho thấy phương pháp DEA đòi hỏi phải sử dụng lập trình tuyến tính để tạo ra hiệu quả của bộ dữ liệu và để đánh giá hiệu quả của một đơn vị, nó không tính đến các sai số ngẫu nhiên và do đó không yêu cầu định nghĩa trước về phân phối thuật ngữ lỗi Phương pháp DEA ước lượng biên tối ưu của toàn bộ mẫu và so sánh mức hiện tại của từng đơn vị với mức tối ưu Các đơn vị quyết định được coi là không hiệu quả khi so sánh với một đơn vị quyết định khác có thể sản xuất cùng một lượng đầu ra với số lượng đầu vào thấp hơn hoặc số lượng đầu ra cao hơn với cùng số lượng đầu vào Các đơn vị có hiệu suất tốt nhất sẽ gần với biên hiệu quả, mức độ hiệu quả của bất kỳ đơn vị nào cũng không thể cao hơn 1 Nếu một đơn vị không hiệu quả, phương pháp DEA sẽ gợi ý các chiến lược cần thiết để tăng hiệu quả của đơn vị bằng cách tham khảo các đơn vị được chọn là có các thực tiễn tốt nhất Tùy thuộc vào những dữ liệu này, người quản lý có thể đánh giá mức độ mà một đơn vị kém hiệu quả sử dụng hoặc lạm dụng một số đầu vào nhất định và thực hiện những gì

có thể để cải thiện tình hình

Theo Banker et al (1984) các mô hình DEA có thể là các mô hình định hướng đầu vào hoặc đầu ra Trong các mô hình định hướng đầu vào, phương pháp DEA xác định biên hiệu quả, tìm kiếm cho mỗi đơn vị quyết định được phân tích, giảm tối đa

Trang 20

việc sử dụng đầu vào để duy trì đầu ra ở mức không đổi.Trong các mô hình định hướng đầu ra, các mức đầu vào không đổi được duy trì và tìm kiếm mức tối đa có thể cho đầu

ra

Phương pháp DEA không tính đến nhiễu thống kê nên các ước tính về hiệu quả

có thể bị sai lệch nếu quy trình sản xuất của công ty được đặc trưng bởi các yếu tố ngẫu nhiên Phương pháp DEA đòi hỏi giả thuyết rằng tất cả các sai lệch so với hiệu quả là

do công ty gây ra Tuy nhiên, có một số yếu tố, chẳng hạn như khung pháp lý và mức

độ cạnh tranh, không thể được kiểm soát bởi công ty và điều đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty Ngược lại, phương pháp SFA cho phép định hình các yếu

tố này bằng cách đưa ra sai số ngẫu nhiên trong đặc điểm kỹ thuật của mô hình để xác định biên hiệu quả (Murillo-Zamorano, 2004)

2.3.2 Phân tích biên ngẫu nhiên ( Stochastic Frontier Analysis -SFA)

Phương pháp thứ hai được sử dụng để ước tính mức độ hiệu quả của ngân hàng

là phương pháp SFA, đây là một phương pháp để ước tính hiệu quả biên

Phương pháp này lần đầu tiên được đề xuất bởi Aigner et al (1977) và sau đó được phát triễn bởi Battese và Coelli (1995) Một ngân hàng thương mại được coi là không hiệu quả nếu chi phí hoặc lợi nhuận của nó cao hơn một ngân hàng thương mại hiệu quả tạo ra cùng một sản lượng trong cùng điều kiện hiện có

Theo Dellnitz và Kleine (2019) phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) là một phương pháp tham số được thiết lập để ước tính điểm hiệu quả cho các hoạt động của một số thực thể kinh tế Trong SFA cổ diển, hầu hết các ứng dụng dựa trên các hàm sản xuất

rõ ràng có tính đến nhiều đầu vào và một đầu ra duy nhất - hoặc ngược lại Với những hạn chế này, trong hầu hết các trường hợp - một hàm sản xuất rõ ràng chỉ có một biến phụ thuộc và một tập hợp các biến được gọi là biến giải thích Tuy nhiên, một số tác giả đã cố gắng xử lý nhiều đầu vào và nhiều đầu ra bằng cách tổng hợp nhiều đầu ra

Trang 21

thành một chỉ mục đầu ra, như Collier, Johnson và Ruggiero (2011).Trong trường hợp như vậy, một quy trình hai bước được áp dụng: tính toán đầu ra tổng hợp, sau đó ước tính mối quan hệ giữa bộ tổng hợp và đầu vào

Không giống như phương pháp không tham số dựa trên kỹ thuật lập trình tuyến tính, phương pháp SFA đòi hỏi một hình thức chức năng nhất định cho mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra

Theo Andries (2011) hai phương pháp trên có cả ưu điểm và nhược điểm Phương pháp DEA là một phương pháp xác định dựa trên lập trình tuyến tính; nó không tính đến các sai số ngẫu nhiên và do đó không yêu cầu xác định trước việc phân phối thuật ngữ lỗi Phương pháp SFA là một phương pháp ngẫu nhiên, tích hợp các sai số ngẫu nhiên nhưng cũng đòi hỏi sự xác định trước của hình thức chức năng Trong phương pháp SFA, đầu ra của một công ty là một hàm của đầu vào, không hiệu quả và sai số ngẫu nhiên và yêu cầu xác định trước sự phân phối của thuật ngữ lỗi Phương pháp DEA không tính đến nhiễu thống kê, và do đó, các ước tính về hiệu quả có thể bị sai lệch nếu quy trình sản xuất của công ty được đặc trưng bởi các yếu tố ngẫu nhiên

Như vậy, cả hai phương pháp đã được sử dụng để tìm hiệu quả biên Mặc dù hai cách tiếp cận này khác nhau về các giả định và quy trình tạo biên hiệu quả, hiệu suất tương đối của các mô hình này so với nhau không được công nhận rõ ràng Vài kết quả nghiên cứu so sánh quan trọng được thảo luận theo Casu và Girardone (2006)

đã đánh giá hiệu quả chi phí, lợi nhuận và thay đổi năng suất của các tập đoàn tài chính

Ý trong những năm 1990 bằng cách sử dụng cả hai mô hình tham số và không tham

số trong nghiên cứu này, cả hai phương pháp tham số và không tham số đã cho thấy

sự thay đổi tương tự về mức độ hiệu quả Berger và Humphrey (1997) cũng đã phát hiện ra rằng hiệu quả chi phí là tương tự cho cả phương pháp tham số và không tham

số

Trang 22

2.4 Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại 2.4.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Phương pháp phân tích tham số (SFA) và phi tham số (DEA) được sử dụng để đánh giá 32 ngân hàng thương mại ở Việt Nam bao gồm: 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 4 ngân hàng liên doanh và 23 ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn tiền hội nhập WTO 2001-

Trang 23

Nguyễn Hữu Dự (2017) đã sử dụng mô hình phân tích biên ngẫu nhiên để đánh giá hiệu quả hoạt động của 15 ngân hàng TMCP Việt nam trong giai đoạn 2007-2015 Nghiên cứu đã tính toán mức hiệu quả chung của các NHTMCP Việt Nam là 72,54%, các NHTMCP Việt Nam vẫn còn có thể tăng khoản 27,46% hiệu quả Các yếu tố có thể tác động làm giảm hoặc tăng hiệu quả của các ngân hàng TMCP như: vốn chủ sở hữu, công nghệ, mở rộng thị phần…Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy các NHTMCP

tư nhân thì có hiệu quả cao hơn các NHTMCP có vốn nhà nước trong giai đoạn

2007-2015

2.4.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Có rất ít nghiên cứu hiệu quả của các hệ thống ngân hàng ở các nước châu Á đã được thực hiện (Ariff và Can, 2008; Chang và Chiu, 2006; Hung, 2008; Margono et al (2010)

Có nhiều nghiên cứu về hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về các thị trường mới nổi ít hơn so với các nghiên cứu về những thị trường phát triển (Fethi & Pasiouras, 2010)

Altunbas et al (2000) đã kiểm tra các yếu tố rủi ro và chất lượng cũng như ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả chi phí ngân hàng và thay đổi kỹ thuật bằng phương pháp SFA Họ sử dụng dữ liệu từ các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản trong giai đoạn 1993-1996 bao gồm 139 ngân hàng cho năm 1993-1995 và 136 ngân hàng vào năm 1996 Các phát hiện cho thấy rằng các ngân hàng không quan tâm các yếu tố rủi

ro và chất lượng, (tất cả các ngân hàng Nhật) ngoại trừ các ngân hàng lớn nhất Nhật Bản có quy mô Khi các yếu tố rủi ro và chất lượng được kiểm soát, phần lớn các ngân hàng thương mại gặp phải sự không hiệu quả về kinh tế, ngoại trừ các ngân hàng nhỏ nhất Kết quả này cũng cho thấy chi phí ngân hàng có thể được giảm bằng thay đổi kỹ thuật

Trang 24

Bonin, Hasan và Wachtel (2005) đã nghiên cứu tác động của quyền sở hữu, đặc biệt là chủ sở hữu chiến lược nước ngoài, đối với hiệu quả của ngân hàng tại mười một quốc gia chuyển đổi ở châu Âu trong giai đoạn 1996 Họ đã thực hiện nghiên cứu với

lý do phần lớn tài sản của các ngân hàng thương mại ở các quốc gia đó bị chi phối bởi

sở hữu nước ngoài trong thời gian đó Họ đã sử dụng dữ liệu của 225 ngân hàng từ mười một quốc gia (Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Bulgaria, Croatia, Romania, Slovenia, Estonia, Latvia và Litva) Kết quả cho thấy các ngân hàng quốc doanh hoạt động không kém hiệu quả so với các ngân hàng tư nhân trong nước, có nghĩa là chính tư nhân hóa không đảm bảo các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả hơn Các kết quả khác chỉ ra rằng các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài có hiệu quả chi phí cao hơn so với các ngân hàng ngang hàng

Mamatzakis, Staikouras và Filippaki (2008) đã sử dụng SFA để ước tính chi phí ngân hàng thương mại và sự thiếu hiệu quả của 10 thành viên châu Âu mới trong giai đoạn 1998-2003 10 quốc gia trong nghiên cứu của họ là Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Cộng hòa Slovak và Slovenia Họ tìm thấy kết quả rằng hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận thấp giữa các ngân hàng thương mại trên khắp các quốc gia trong giai đoạn này và không có sự khác biệt đáng kể về điểm kém hiệu quả giữa các quốc gia Trong khi về hiệu quả chi phí, các ngân hàng thuộc

sở hữu của chính phủ là ngân hàng hiệu quả nhất trong số các ngân hàng khác

Hamiltona et al (2010) đã kiểm tra hiệu quả chi phí và lợi nhuận tại các ngân hàng Jordan trong giai đoạn 1993-2006 Họ đã sử dụng SFA để ước tính hiệu quả của các ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu từ tất cả 22 ngân hàng, bao gồm các ngân hàng nước ngoài và trong nước ở Jordan Các ngân hàng nghiên cứu được phân loại thành ba loại ngân hàng là Hồi giáo, đầu tư và ngân hàng thương mại Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy mức độ hiệu quả cgxhi phí trung bình ở các ngân hàng này cao hơn nhiều so với hiệu quả lợi nhuận của họ Mức độ hiệu quả lợi nhuận tiêu chuẩn

Trang 25

của các ngân hàng thương mại cao hơn so với các ngân hàng Hồi giáo và đầu tư Về mặt đo lường khác về hiệu quả lợi nhuận thay thế, kết quả cho thấy các ngân hàng Hồi giáo hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại

Chan và Karim (2010) điều tra mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và hiệu quả ngân hàng bao gồm 43 quốc gia đang phát triển ở châu Á, Trung Đông / Bắc Phi và châu Phi trong giai đoạn 2000-2005 Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đó đến hiệu quả ngân hàng giữa các khu vực là không đồng nhất Các ngân hàng thương mại ở khu vực Trung Đông / Bắc Phi

có hiệu quả nhất về hiệu quả chi phí, trong khi các ngân hàng thương mại ở châu Á có hiệu quả lợi nhuận cao nhất trong giai đoạn này Các ngân hàng thương mại ở khu vực châu Phi có lợi nhuận và hiệu quả chi phí thấp nhất Ở khu vực châu Á, GDP bình quân đầu người, tín dụng cho khu vực tư nhân và sự tập trung thị trường có tác động tiêu cực, nhưng độ mở thương mại có tác động tích cực, đến hiệu quả chi phí ngân hàng tương ứng Ở Trung Đông / Bắc Phi, sự tập trung thị trường có tác động tích cực nhưng

sự mở cửa thương mại có tác động tiêu cực, cả về chi phí ngân hàng không hiệu quả Tuy nhiên, cả sự tập trung thị trường và mở cửa thương mại đều có ảnh hưởng tích cực đến sự thiếu hiệu quả của các ngân hàng ở khu vực châu Phi

Chunhachinda và Li (2010) đã so sánh lợi nhuận và chi phí hiệu quả của các ngân hàng thương mại Thái Lan trong giai đoạn khủng hoảng năm 1997 (họ chia giai đoạn trước khủng hoảng, khủng hoảng và giai đoạn hậu khủng hoảng) Lợi ích của nghiên cứu này so với các nghiên cứu khác là việc sử dụng cả các kỹ thuật tham số và không tham số trong việc ước tính điểm hiệu quả chi phí và lợi nhuận thông qua các phương pháp SFA và DEA Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả chi phí trung bình trước khủng hoảng, khủng hoảng và sau khủng hoảng lần lượt là 8%, 9% và 15%

và hiệu quả lợi nhuận trung bình trong các giai đoạn là 15%, 28% và 17% tương ứng Kết quả phân tích thực nghiệm giai đoạn hai cho thấy GDP thực tế hàng năm có tác

Trang 26

động tích cực đến hiệu quả lợi nhuận dự kiến trong khi tuổi của ngân hàng cũng có tác động tích cực đến hiệu quả chi phí Các ngân hàng nhỏ có mức hiệu quả chi phí thấp hơn so với các ngân hàng vừa và lớn Hiệu quả chi phí trung bình của các ngân hàng

tư nhân cao hơn nhiều so với các ngân hàng quốc doanh Tỷ lệ dự phòng cho vay có tác động tiêu cực đến hiệu quả lợi nhuận, trong khi tỷ lệ tiền gửi cho vay cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả chi phí Các kết quả khác cho thấy vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản không có bất kỳ tác động nào đến hiệu quả ngân hàng nhưng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên thu nhập lãi có tác động tiêu cực đến hiệu quả chi phí

Suhaemi, Abdullah và Saban (2010) đã điều tra các yếu tố quyết định hiệu quả lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 1995 Họ đã sử dụng SFA để tìm ra điểm hiệu quả cho 23 ngân hàng thương mại hoạt động tại Malaysia Các phát hiện cho thấy hiệu quả lợi nhuận trung bình cho cả ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài có xu hướng giảm trong giai đoạn này Xu hướng giảm hiệu quả lợi nhuận được xác định do thực tế thu nhập lãi đã phải đối mặt với xu hướng giảm tương tự trong kỳ Bằng chứng thực nghiệm thứ hai chứng minh rằng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông có tác động tích cực đến hiệu quả lợi nhuận mặc dù hiệu quả không đáng kể Các yếu tố quan trọng cho hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng là cơ sở hạ tầng, thị phần và công nghệ có liên hệ tích cực, trong khi quy

mô có mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả lợi nhuận

Sự kết hợp giữa cấu trúc vốn và hiệu quả chi phí trong ngành ngân hàng đã được Yeh (2011) thực hiện Nghiên cứu nhằm kiểm tra xem các ngân hàng có thể giảm chi phí đại diện thông qua việc tối ưu hóa cấu trúc vốn trong việc nâng cao hiệu quả của

họ hay không Họ đã thông qua SFA để ước tính hiệu quả chi phí ngân hàng của 44 ngân hàng thương mại tại Đài Loan từ năm 1999 đến 2004 Họ cũng sử dụng bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn để điều tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của ngân hàng Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy rằng cấu trúc vốn tối ưu

Trang 27

có thể được các nhà quản lý sử dụng để giảm bớt chi phí đại lý và tăng hiệu quả ngân hàng như là một ủy quyền của hiệu suất ngân hàng Những kết quả này được chứng minh bằng mối liên hệ tích cực giữa tỷ lệ nợ và hiệu quả ngân hàng Một phát hiện khác là quyền sở hữu cổ phần nội bộ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả ngân hàng Điều này có nghĩa là bằng cách giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần của người quản lý, các ngân hàng có thể giảm chi phí đại diện và cuối cùng nâng cao hiệu quả hoạt động của

họ Quy mô ngân hàng có tác động lớn đến hiệu quả ngân hàng phản ánh rằng các ngân hàng lớn có hiệu quả hơn

Vai trò của quyền sở hữu, sức mạnh thị trường và thể chế liên quan đến hiệu quả ngân hàng đã được Fang, Hasan và Marton (2011) kiểm tra Họ đã kiểm tra lợi nhuận và hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại ở Đông Nam Âu (XEM) trong giai đoạn 1998-2008 bằng cách sử dụng kỹ thuật SFA Họ đã sử dụng dữ liệu của 171 ngân hàng tại sáu quốc gia Đông Nam Âu (ví dụ Albania, Bulgaria, Croatia, Macedonia, Romania và Serbia) và 209 ngân hàng ở Trung và Đông Âu (ví dụ Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Ba Lan, Slovakia và Slovenia) để so sánh Kết quả cho thấy hiệu quả chi phí ngân hàng trung bình ở các quốc gia Đông Nam Âu thấp hơn so với các quốc gia Trung và Đông Âu, nhưng hiệu quả lợi nhuận ngân hàng trung bình của các quốc gia XEM được biểu thị cao hơn so với các quốc gia Trung và Đông Âu Các kết quả khác cho thấy rằng các ngân hàng tư nhân có hiệu quả cao hơn

so với các ngân hàng quốc doanh Các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài có hiệu quả chi phí thấp hơn nhưng hiệu quả lợi nhuận cao hơn so với các công ty cùng ngành Kết quả hồi quy cho thấy sức mạnh thị trường và sự phát triển thể chế có tác động tích cực đến hiệu quả ngân hàng Những phát hiện này phản ánh rằng các ngân hàng có sức mạnh thị trường cao có xu hướng tăng chi phí và lợi nhuận hiệu quả hơn và sự phát triển thể chế thông qua cải cách ngân hàng, tái cấu trúc doanh nghiệp và tư nhân hóa

là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy cả lợi nhuận và hiệu quả chi phí của ngân hàng

Trang 28

Andries (2011) đã thực hiện nghiên cứu về hiệu quả ngân hàng ở các nước Trung

và Đông Âu với cả hai phương pháp, SFA và DEA Nghiên cứu đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng Hiệu quả và năng suất của hệ thống ngân hàng tại bảy quốc gia Trung và Đông Âu trong giai đoạn 2004-2008 Ông đã sử dụng một bộ

dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu niên giám của 112 ngân hàng ở 7 quốc gia: Romania,

Ba Lan, Bulgaria, Hungary, Slovenia, Cộng hòa Séc và Slovakia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn 2004-2008, hiệu quả trung bình của các ngân hàng thương mại ở các nước Trung và Đông Âu đã tăng lên Hiệu quả kỹ thuật trung bình cao nhất theo SFA là Romania với số điểm 0,8644, trong khi theo DEA là Cộng hòa Séc với điểm hiệu quả trung bình là 0,9135 Trong khi đó, hiệu quả SFA trung bình thấp nhất là Slovakia với số điểm 0,6275 và đối với DEA là Slovenia với số điểm 0,6338 Các phát hiện khác cho thấy dựa trên chỉ số Malmquist, năng suất của các ngân hàng đã tăng lên trong thời gian nghiên cứu thêm 24,27% do sự gia tăng trong sửa đổi công nghệ Các ngân hàng quốc doanh kém hiệu quả hơn các ngân hàng tư nhân, nhưng

về năng suất, các ngân hàng quốc doanh có mức tăng lớn hơn so với các ngân hàng tư nhân Các ngân hàng nhỏ (có tài sản dưới 1 tỷ đô la) là các ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất so với các ngân hàng trung bình (có tài sản lớn hơn 1 tỷ đô la nhưng dưới 10

tỷ đô la) và các ngân hàng lớn (có tài sản lớn hơn 10 tỷ đô la) Nhưng về năng suất, các ngân hàng tăng trưởng cao nhất là các ngân hàng trung bình Những phát hiện về hồi quy OLS cho thấy rằng để nâng cao hiệu quả, các ngân hàng nên cải thiện chất lượng tài sản của mình bằng cách nâng cao chất lượng xử lý khoản vay và thực hiện quản lý rủi ro để giảm các khoản nợ xấu Phát hiện cũng cho thấy sự gia tăng tài sản dẫn đến tăng hiệu quả Từ góc độ kinh tế vĩ mô, phát hiện cho thấy các cơ quan chính phủ nên

hỗ trợ tự do hóa và cải cách ngân hàng và thực hiện một số nỗ lực để duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức thấp

Trang 29

Nghiên cứu của Mokhamad Anwar (2018) điều tra hiệu quả chi phí của các ngân hàng Indonesia bằng phương pháp SFA tham số trong giai đoạn 2002-2010 cho rắng logarit của tổng tài sản (LNTA), lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ an toàn vốn (CAR),

tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) và tỷ lệ nợ xấu (NPL) là các yếu tố cụ thể của ngân hàng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát (INFL), tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDPGR) và thất nghiệp (UNEMP) cũng có ý nghĩa trong việc ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí ngân hàng

Trang 30

Tóm tắt chương 2

Chuơng 2 trình bày các khái niệm về hiệu quả chi phí của một ngành nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng mà cụ thể là lĩnh vực Ngân hàng Hiệu quả của Ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài và bên trong Ngân hàng Các nhân tố bên ngoài là các nhân tố có ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội như lạm phát, tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái,… Các nhân tố bên trong cấu thành nên một ngân hàng bao gồm: quy mô tài sản, công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược marketing,

hệ thống phòng ngừa rủi ro, năng lực tài chính, tỷ lệ nợ xấu Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả chi phí của Ngân hàng

Để đánh giá hiệu quả của các ngân hàng thì có nhiều phương pháp trong đó có hai phương pháp chủ đạo đó là phương pháp tỷ số tài chính và phương pháp phân tích hiệu quả biên Trong phương pháp phân tích hiệu quả biên có hai cánh tiếp cận là tiếp cận phi tham số và tiếp cận tham số Phương pháp phi tham số dược sử trong đề tài là phương pháp SFA

của các ngân hàng đã được tổng hợp trong chương này nhằm nhìn lại một cách tổng quan về việc sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA

Trang 31

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VẦ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu về hiệu quả của các ngân hàng đã được thực hiện trong những thập niên gần đây, nhờ đó góp phần phát triễn những phương pháp mới như phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) và phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) Các phương pháp này giúp chúng ta có thể linh hoạt hơn trong việc xây dựng mô hình quá trình sản xuất phức tạp với nhiều đầu vào và nhiều đầu ra với các cấu trúc chi phí phức tạp như trong môi trường hoạt động của các ngân hàng thương mại

Luận văn này phân tích hai giai đoạn, giai doạn một sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để ước lượng hiệu quả bằng cách thu thập các yếu tố đầu ra và đầu vào để xác định chi phí hiệu quả của mô hình SFA Giai đoạn hai sử dụng kết quả phân tích hiệu quả từ giai đoạn một và sử dụng phương pháp hồi quy Tobit, mô hình Tobit là mô hình áp dụng cho biến phụ thuộc là biến định lượng nhưng bị giớ hạn, hồi quy với biến phụ thuộc bị giới hạn để đánh giá sự tác động của các nhân tố riêng, đặc trưng của Ngân hàng và các điều kiện thị trường bên ngoài đến hiệu quả chi phí của các ngân

hàng thương mại

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Để đánh giá tác động của các yếu tố tới hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam Nghiên cứu sử dụng tập hợp dữ liệu dạng bảng cân bằng (balanced panel data), được thu thập từ cơ sở dữ liệu thứ cấp là báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 30 NHTM trong khoảng thời gian từ 2010-2017 và được tải tại trang vietstock.vn, , bài nghiên cứu xây dựng mẫu nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, tác giả lựa chọn các NHTM có các thông tin Tài chính - Kế toán được báo cáo liên tục 8 năm trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017

Trang 32

Thứ hai, bài nghiên cứu tiếp tục tiến hành loại trừ khỏi mẫu nghiên cứu các NHTM không có thông tin, thiếu hoặc mất dữ liệu (dữ liệu không liên tục)

Sau khi đã loại bỏ các NHTM theo các tiêu chí nói trên, mẫu nghiên cứu của bài nghiên cứu còn lại bao gồm 25 NHTM trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2017 Căn cứ vào nguồn dữ liệu hiện có và những gợi ý từ kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về lĩnh vực mà luận văn đang nghiên cứu, cũng như thực tế sử dụng chi phí của các NHTM ở Việt Nam, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như sau

3.3 Mô hình nghiên cứu

3.3.1 Mô hình xác định hiệu quả chi phí sử dụng Phương pháp SFA

Để tính toán hiệu quả chi phí của NHTM theo Fu và Heffernan (2009) thì hiệu quả chi phí của một ngân hàng được tính bằng chỉ số chi phí ước lượng thấp nhất được

sử dụng bởi một ngân hàng chuẩn nhất để sản xuất một lượng đầu ra ngang nhau trong cùng một điều kiện để từ đó ước lượng chi phí thực tế của ngân hàng i Ví dụ: chỉ số hiệu quả theo chi phí của ngân hàng là 0,8 cho thấy rằng ngân hàng đó đạt hiệu quả trong việc sử dụng chi phí là 80% và thấp hơn 20% so với ngân hàng chuẩn xét trong cùng một điều kiện nhất định Hiệu quả sử dụng chi phí có giá trị tron đoạn (0,1) và bằng 1 đối với ngân hàng đạt hiệu quả chi phí cao nhất

Theo Aigner et al (1977) mô hình của phương pháp SFA có thể được viết: lnyi = lnf(xi;β) + εi

với εi = vi + ui

Trong đó f (xi, β) là hàm sản xuất, ui là thành phần không hiệu quả kỹ thuật, νi

là thành phần sai số ngẫu nhiên, β là hệ số của các yếu tố đầu vào, xi là đầu vào và yi

là đầu ra Biến νi phản ánh ảnh hưởng của các điều kiện độc lập với đơn vị quyết định

Trang 33

được phân tích và các lỗi đo lường, νi tuân theo phân phối chuẩn ui là một biến có thể quản lý được bởi đơn vị quyết định, đại diện cho sự không hiệu quả và giả định rằng một phân phối chuẩn sẽ theo sau

Có thể viết hàm sản xuất cho một tập hợp dữ liệu kiểu bảng có thể viết:

mô hình SFA Theo Sealey và Lindley (1977) chưa có tiếp cận tối ưu trong việc xác định đầu ra và đầu vào của ngân hàng, không có cách tiếp cận nào có thể phản ánh được tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng với tư cách là chủ thể cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính

Trang 34

Bài nghiên cứu sử dụng 3 biến đầu vào (tiền gửi, lao động và vốn thực) và một

biến đầu ra ( tổng tài sản) theo như nghiên cứu của Ariss (2010) Sử dụng phương pháp

SFA, bài nghiên cứu dùng hệ số Likelihood cực đại để ước lượng phương trình (1), từ

đó thu thập được hệ số của các biến và tỷ số hiệu quả Ở bài nghiên cứu này, tác gỉa

đánh giá hiệu quả chi phí ( Cost Efficiency ) Để mô hình hóa cấu trúc chi phí cơ sở

của lĩnh vực ngân hàng luận văn sử dụng hình thức hàm Translog

𝑘=1 trendtlnWkit + ∑ 3 𝑘

𝑘=1 trendtln Zkit + it

Bảng 3.1: Bảng giải thích các biến trong mô hình SFA:

TOCit Tổng chi phí bao gồm: chi phí hoạt động, chi phí lãi, chi phí khác

của ngân hàng i tại năm t

Qit (Output) Tổng tài sản của ngân hàng i tại năm t

W1it (Giá của

các quỹ)

Chi phí từ lãi tiền gửi/ tổng tiền gửi của ngân hàng i tại năm t

W2it (Giá vốn) Chi phí hoạt động khác/ tổng tài sản cố định của ngân hàng i tại

năm t

Trang 35

Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản của ngân hàng i tại năm t

Trendt Xu thế thay đổi công nghệ Giả định là các ngân hàng có xu thế

thay đổi công nghệ như nhau trong thời gian nghiên cứu

 (sai số của

hàm chi phí)

vit + uit

vit Sai số ngẫu nhiên 2 chiều

uit Chỉ số phi hiệu quả

Trong đó lnTOC là logarit của tổng chi phí, các biến độc lập với đầu ra là tổng tài

lãi tiền gửi và tổng tiền gửi, giá vốn W2 được tính bằng tỷ lệ chi phí hoạt động khác và tài sản cố định, mức lương W3 được tính bằng tỷ lệ giữa chi phí nhân viên và tổng tài sản, một vectơ cố định ( Z1 cho tài sản cố định và Z2 tổng giá trị ngoại bảng, Z3 tài sản

Trang 36

cố định) Trend là biến giả thể hiện xu thế thay đổi công nghệ của các ngân hàng νit phản ánh ảnh hưởng của các điều kiện độc lập với đơn vị quyết định, νit tuân theo phân phối chuẩn uit là một biến đại diện cho sự không hiệu quả, uit là một biến có thể quản lý được bởi đơn vị ra quyết định

3.3.2 Mô hình đánh giá tác động của các yếu tố tới hiệu quả chi phí của các

NHTM

Theo Andries (2011) trong phân tích liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các ngân hàng sử dụng phương pháp hồi quy đa biến sử dụng mức hiệu quả ước tính thông qua các phương pháp tham số hoặc không tham số làm biến phụ thuộc Hầu hết các mô hình thực nghiệm (Favero và Papi, 1995; Grigorian và Manole, 2002) sử dụng quy trình hai giai đoạn: trong giai đoạn đầu tiên, mức độ hiệu quả được ước tính thông qua các phương pháp tham số hoặc không tham số, và trong phân tích hồi quy giai đoạn thứ hai được áp dụng trong đó mức độ hiệu quả là các biến phụ thuộc

Có nhiều nghiên cứu về hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về các thị trường mới nổi ít hơn so với các nghiên cứu về những thị trường phát triển (Fethi và Pasiouras, 2010) Theo Mokhamad Anwar (2018) thì có hai nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng bao gồm: nhân

tố bên ngoài và bên trong ngân hàng Các nhân tố bên ngoài ngân hàng như tỷ lệ lạm phát , tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng GDP, chỉ số VNINDEX Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm các yếu tố như quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lợi trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi cho vay, nợ xấu của ngân hàng Dựa trên dữ liệu thu thập được

và các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước cũng như trên thế giới về hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại, luận văn sử dụng mô hình nghiên cứu của Anwar (2018) như sau:

CEit = b0 +b1LNTAit + b2ROAit +b3CARit + b4LDRit +b5NPLit + b6INFLt + b7GDPGRt

+ b8UNEMPt + b9MKTINDEXt + b10USDRATEt + εit

Trang 37

3.3.3 Các nhân tố nhân tố bên ngoài

Trong kinh tế học, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch

vụ trong một nền kinh tế trong một khoảng thời gian Khi mức giá tăng, mỗi đơn vị tiền

tệ mua ít hàng hóa và dịch vụ hơn Do đó, lạm phát phản ánh sự giảm sức mua trên mỗi đơn vị tiền Một thước đo chính của lạm phát giá là tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ phần trăm thay đổi hàng năm trong một chỉ số giá chung, thường là chỉ số giá tiêu dùng, theo thời gian

Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả

và chi phí tăng ” Còn Milton Friedman lại quan niệm khác: “Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài”

Tỷ lệ thất nghiệp

Những người thất nghiệp là những người là những nghười nằm trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc nhưng chưa tìm được việc làm tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người chưa được thuê mướn so với lực lượng lao động Lực lượng lao động bao gồm những người hiện đang làm việc hay đang tìm kiếm việc làm

Tỷ lệ thất nghiệp = Số người thất nghiêp

Lực lượng lao động

Tăng trưởng GDP

Chỉ số GDP có tên tiếng Anh đầy đủ là Gross Domestic Product, nghĩa là tổng sản phẩm quốc nội, hoặc tổng sản phẩm nội địa GDP là tổng giá trị (quy đổi ra thành tiền) của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm

Trang 38

Chỉ số VNIndex

Là chỉ số chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE), thể hiện sự biến động tổng hợp của tất cả các chứng khoán được niêm yết trên sàn HOSE Con số của VNIndex nhằm thể hiện xu hướng giá theo từng thời điểm của tất cả các cổ phiểu được niêm yết trên sàn này Thường được sử dụng để đánh giá toàn diện về thị trường mã cổ phiếu được niêm yết tại sở giao dịch chứng khóa TP HCM

Tỷ giá hối đoái

Theo luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam năm 2010 định nghĩa tỷ giá hối đoái

là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài, có sự điều tiết của Nhà Nước trên thị trường và do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công

bố

3.3.4 Các nhân tố nhân tố bên trong

Quy mô ngân hàng được đo bằng logarit tự nhiên của giá trị tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng Theo nghiên cứu của Olson and Zoubi (2011) quy

mô ngân hàng và lợi nhuận có mối tương quan tích cực, các ngân hàng sẽ có chi phí và lợi nhuận hiệu quả hơn nếu chúng có quy mô lớn hơn Các ngân hàng cũng có thể kiểm soát chi phí bằng cách sử dụng các kế hoạch sản xuất tối ưu, áp dụng các công nghệ mới hoặc giảm công suất dư thừa thông qua sáp nhập

Tỷ suất sinh lợi trên tài sản

ROA là viết tắt của từ Return on Assets có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA là một chỉ số thể hiện mối tương quan giữa mức sinh lợi nhuận của một công ty so với chính tài sản của nó Thông qua chỉ số ROA chúng ta sẽ biết được hiệu quả kinh doanh của công ty trong việc sử dụng tài sản để sinh lời

Trang 39

ROA = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

Hệ số an toàn vốn (CAR) phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại Hệ số CAR là thông tin quan trọng để đánh giá mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng, Hệ số này được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel phát triển Đến nay, hệ số CAR đã được công nhận rộng rải và có mặt tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam

Theo Quyết định số 297/1999/QĐ - NHNN “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng chính thức” ban hành ngày 25/8/1999, hệ số CAR đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam Theo đó, Quyết định nêu rõ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% Quy định này đưa ra phương pháp tính đơn giản và tỷ lệ này chưa phản ánh đầy đủ nội dung Basel I

Theo Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày 19/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng”: Tổ chức tín dụng, trừ chinh nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản "Có" rủi ro

Trang 40

mức độ rủi ro quy định tại Điều 5 Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày

19/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước

Tỷ lệ tiền gửi cho vay

Tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM, các NHTM sử dụng tiền gửi để tái cấp vốn và đầu tư Tỷ lệ tiền gửi cho vay thể hiện tỷ trọng sử dụng tiền gửi để cho vay nhằm tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Việc huy động và sử dụng tiền gửi cho vay hiệu quả là một trong những nhân tố ản hưởng đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng

Tỷ lệ nợ xấu

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước,

dư nợ tín dụng khách hàng của ngân hàng được phân loại từ Nhóm 1 đến Nhóm 5, tương ứng với các loại:

Ngày đăng: 23/03/2020, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Coelli, T. J. et al, 2005. An introduc-tion to efficiency and productivity analysis. 2sd ed. Brisbane: Springer Science and Business Media Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduc-tion to efficiency and productivity analysis
11. Bonin, J. P., Hasan, I., Wachtel, P., 2005. Bank performance, efficiency and ownership in transition countries. Journal of Banking & Finance, 29, 31–53 Khác
12. Casu, B., Girardone, C., 2002. A Comparative Study of the Cost Efficiency of Italian Bank Conglomerates. Managerial Finance , 9, 3–23 Khác
13. Casu, B., Molyneux, P, 2003. A comparative study of efficiency in European banking. Applied Economics, 35, 1865–1876 Khác
14. Casu, B., Girardone, C., and Molyneux, P., 2004. Productivity Change in European Banking: A Comparison of Parametric and Non-Parametric Approaches. Journal of Banking and Finance, 10, 2521–2540 Khác
15. Chan, S. G., Karim, M. Z. A., 2010. Bank efficiency and macro-economic factors: The case of developing countries. Global Economic Review:Perspectives on East Asian Economies and Industries, 39(3), 269–289 Khác
16. Charnes, A., et al, 1978. Measuring the efficiency of decision making units. European Journal of Operational Research, 2, 429-444 Khác
17. Chunhachinda, P., Li, L., 2010. Efficiency of Thai commercial banks: Prevs. post-1997 financial crisis. Review of Pacific Basin Financial Markets and Policies, 13(3), 417–447 Khác
19. Collier, T., et al, 2001. Technical efficiency estimation with multiple inputs and multiple outputs using regression analysis. European Journal of Operational Research, Volume 208, Issue 2, 153-160 Khác
20. Dellnitz, A., Kleine, A., 2019. Multiple input-output frontier analysis – From generalized deterministic to stochastic frontiers. Computer & Industrial Engineering, 28-38 Khác
21. Fang, Y., Hasan, I., & Marton, K., 2011. Bank efficiency in south-eastern Europe: The role of ownership, market power, and institutional development.Economics of Transition, 19(3), 495–520 Khác
22. Farell, M.J., 1957. The Measurement of productive efficiency. Journal of the Royal Statistical Society. Series A (General), 3, 253-290 Khác
23. Favero, C.A., Papi, L., 1995. Technical efficiency and scale efficiency in the Italian banking sector: a non-parametric approach. Original Articles, 385-395 Khác
24. Fethi, M. D., Pasiouras, F., 2010. Assessing bank efficiency and performance with operational research and artificial intelligence techniques: A survey.European Journal of Operational Research, 204, 189–198 Khác
25. Fu, X., Heffernan, S., 2009. The effects of reform on China’s bank structure and performance. Journal of Banking & Finance, 33, 39-52 Khác
26. Gardener, E., Molyneux, P., & Nguyen-Linh, H., 2011. Determinants of efficiency in south east Asian banking. The Service Industries Journal, 31(16), 2693–2719 Khác
27. Grigorian, D.A., Manole, V., 2006. Determinants of commercial banks performance in transition: An application of data envelopment analysis.Comparative Economic Studies, 48, 497–522 Khác
28. Hamiltona, R., et al, 2010. Cost and profit efficiency in the Jordanian banking sector 1993–2006: A parametric approach. International Research Journal of Finance and Economics Khác
29. Lê Thị Thanh Ngân, 2014. Profit and Cost Efficiency Analysis in Banking Sector: A Case of Stochastic Frontier Approach for Vietnam. Journal of Knowledge Management, Economics and Information Technology, 4 , 1-17 Khác
30. Mamatzakis, E., Staikouras, C., & Filippaki, A. K., 2008. Bank efficiency in the new European union member states: Is there convergence?. International Review of Financial Analysis, 1156–1172 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w