Theo Rose và Yellen 1989, mọi nghiên cứu dựa trên mô hình cán cân thương mại giảm đều cho rằng cán cân thương mại của một quốc gia với đối tác thương mại phụ thuộc vào mức độ hoạt động k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN DUY THÔNG
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ THỰC VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN DUY THÔNG
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ THỰC VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng (Hướng Nghiên Cứu)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại ở việt nam” là một nghiên cứu độc lập, do chính tôi thực hiện trên cơ sở các kiến thức đã học, có tham khảo một số nghiên cứu và không sao chép bất kỳ tài liệu nào khác Tôi xin cam đoan những điều trên là sự thật và sẽ chịu mọi trách nhiệm nếu vi phạm qui định của nhà trường
TP Hồ Chí Minh, Ngày Tháng 10 Năm 2019
NGUYỄN DUY THÔNG
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
TÓM TẮT (ABSTRACT)
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Bố cục luận văn 5
1.5 Đóng góp của đề tài 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 15
2.3 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Mô tả các biến 20
3.1.1 Tỷ giả thực song phương: 20
3.1.2 Tỷ số xuất nhập khẩu 24
3.1.3 Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam và đối tác 25
Trang 53.2 Mô hình nghiên cứu: 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Trường hợp Việt Nam – Hoa Kỳ……… 26
4.2 Trường hợp Việt Nam – Trung quốc ………33
4.3 Trường hợp Việt Nam – Nhật Bản ………38
4.4 Trường hợp Việt Nam – Hàn Quốc………48
4.5 Trường hợp Việt Nam – Thái Lan ……….…56
4.6 Trường hợp Việt Nam – Australia……….64
4.7 Trường hợp Việt Nam và tổng hợp 6 quốc gia ………69
CHƯƠNG 5: TỔNG KẾT VÀ KẾT LUẬN 5.1 Tổng kết……….76
5.2 Hạn chế của đề tài……….….77
5.3 Khuyến nghị chính sách ………77
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
1 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
2 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
3 REER Real Effective Exchange Rate Tỷ giá thực đa phương
4 RER Real exchange rate Tỷ giá thực song phương
5 VAR The Vector Autoregression Model Mô hình hồi qui Vector
6 VECM Vector Error Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số
7 AIC Akaike information criterion Tiêu chuẩn thông tin Akaike
Trang 7Tên đề tài: Phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại ở Việt Nam
dựa trên mô hình VAR
Tóm tắt
Bài viết sử dụng mô hình VAR để tìm kiếm mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa cán cân thương mại của Việt Nam với tỷ giá hối đoái thực, thu thập của Việt Nam và các đối tác Với việc sử dụng dữ liệu quan hệ thương mại song phương và đa phương của Việt Nam với 6 đối tác lớn, bao gồm: Trung quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Australia và Thái Lan, dữ liệu được lấytrong giai đoạn từ Quý 1 năm 2002 đến quý 4 năm 2018 Qua thực nghiệm, nghiên cứu đã xác nhận đường cong chữ J có tồn tại ở 2 trường hợp Nhật Bản và Thái Lan, đối với trường hợp Mỹ, tuy đường cong chữ J
không tồn tại, nhưng nghiên cứu cũng tìm ra sự tác động tích cực của việc phá giá đồng tiền lên cán cân thương mại Trong khi đó, với trường hợp Australia, Hàn Quốc và Trung Quốc lại không tìm thấy mối quan hệ tích cực của tỷ giá lên cán cân thương mại
Từ khóa: tỷ giá thực, cán cân thương mại, chỉ số giá tiêu dùng, tổng thu nhập quốc gia
ABSTRACT
The paper uses the VAR model to find the short-term and long-term relationship
between Vietnam's trade balance with real exchange rates, betweenVietnam and its partners With the use of Vietnam's bilateral and multilateral trade relations data with 6 major partners, including: China, Korea, the United States, Japan, and Australia and Thailand, with data taken in the period from Quarter 1, 2002 to Quarter 4, 2018
Through experiments, the study has confirmed that the J curve exists in 2 cases Japan and Thailand, in the case of US, although the curve J does not exist, but research has also found a positive effect of currency devaluation on the trade balance Meanwhile,
in the case of Australia, South Korea and China did not find a positive relationship of the exchange rate on the trade balance
Keywords: real exchange rate, trade balance, consumer price index
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang cải thiện dần cán cân thương mại, từ một nước nhập siêu, Việt Nam đang dần trở thành một nước xuất siêu, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, tạo nền tảng tốt cho nền kinh tế Có nhiều yếu tố vĩ mô tác động đến cán cân thương mại, như cung cầu tiền, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những cơ chế và chính sách ưu đãi, v.v nhưng trong đó yếu tố tỷ giá luôn đóng vai quan trọng, tác động đến cán cân thương mại không chỉ ở Việt Nam mà đối với bất kỳ quốc gia nào khác
Bên cạnh đó, chiến tranh thương mại Mỹ Trung đang căng thẳng trong một vài năm gần đầy, các quốc gia trong cuộc chiến thương mại như Hoa Kỳ và Trung Quốc,và các nước trong khu vực đều cố gắng để tăng xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào hàng nhập khẩu, qua đó kích thích tăng trưởng cho nền kinh tế Trong cuộc chiến thương mại, tỷ giá luôn đóng vai trò quan trọng như là một yếu tố để giành chiến thắng trong cuộc chiến thương mại, tỷ giá sẽ giúp các nước kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tạo ảnh điều kiện ổn định nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và góp phần tăng trưởng kinh tế
Điều đó cho thấy, tỷ giá là một yếu tố quan trọng trong cán cân thương mại của một quốc gia, việc tăng giảm tỷ giá có thể sẽ kích thích hoặc hạn chế lĩnh vực xuất nhập khẩu Có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề quản lý và điều hành tỷ giá trong nền kinh tế Việt Nam Trong đó, có ý kiến cho rằng, nếu giảm tỷ giá sẽ kích thích xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Tuy nhiên, những ý kiến khác cho rằng, trong một nền kinh tế chưa phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, việc giảm tỷ giá chỉ làm thâm hụt thương mại tăng lên, do xuất khẩu không đạt tăng trưởng như kỳ vọng và nhập khẩu không giảm như kỳ vọng, qua đó gây tác động xấu nên nền kinh tế Bài viết
Trang 9này được thực hiện nhằm xác định tác động của tỷ giá thực lên cán cân thương mại của Việt Nam, qua đó với hy vọng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về sự thay đổi của tỷ giá tác động đến sự thay đổi của cán cân thương mại
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Tỷ giá thực song phương và đa phương có ảnh hưởng lên cán cân thương mại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn hay không? Nếu có, sự tác động của tỷ giá sẽ như thế nào?
Hiệu ứng đường cong chữ J có tồn tại ở Việt Nam hay không? Nếu có, sẽ tồn tại ở các đối tác thương mại nào đối với Việt Nam?
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Khi xây dựng chính sách thương mại hay chính sách tỷ giá hối đoái, một trong những mối quan tâm hàng đầu của những nhà hoạch định chính sách là sự thay đổi của cán cân thương mại đối với sự thay đổi của tỷ giá Đối với một nền kinh tế mở nhỏ, thì tổng của độ co giãn của cầu nhập khẩu và xuất khẩu cho ta biết liệu một sự phá giá sẽ
có tác động thuận lợi đến cán cân thương mại hay không? Trước đây cũng đã có nhiều
về ước tính và đo lường cầu nhập khẩu và xuất khẩu, tuy nhiên ở bài viết này chúng ta
sẽ sử dụng phương pháp của Rose và Yellen (1989) để nghiên cứu tác động của tỷ giá
đến cán cân thương mại
Theo Rose và Yellen (1989), mọi nghiên cứu dựa trên mô hình cán cân thương mại giảm đều cho rằng cán cân thương mại của một quốc gia với đối tác thương mại phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh tế ở quốc gia đó, mức độ hoạt động kinh tế của đối tác thương mại, và tỷ giá hối đoái song phương thực sự giữa hai quốc gia Với phương trình cân bằng như sau:
Ln TB(t) = ß0 + ß1ln Y(t) + ß2 Ln Y*(t) + ß3 Ln R(t) + ε (t)
Trang 10Trong đó:
TB: là tỷ số xuất khẩu/ Nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác
Y : là thu nhập thực của Việt Nam ở thời kỳ
Y* : là thu nhập thực của các đối tác
R: là tỷ giá thực của đa phương hoặc song phương của Việt Nam với các đối tác
ε: là sai số (nhiễu trắng)
Bên cạnh đó, với nghiên cứu của Arora, Bahmani-Oskooee, và GoswamI (2003)
về sự tác động của tỷ giá thực và cán cân thương mại của Ấn Độ, cũng sử dụng
mô hình của Oskooee và Brooks (1999) cho thấy môi quan hệ giữa tỷ giá, cán cân thương mại như sau:
và đối tác Trong nghiên cứu, các tác giả nhận thấy rằng: F Statistics tỏ ra rất nhạy cảm đối với các độ trễ khác nhau, do đó, kết hợp giữa kiểm định F Statistic
và tiêu chí về AIC(Akaike information criterion) để tìm ra độ trễ tối ưu cho mô hình, với việc sử dụng phương pháp ARDL, kết quả cho thấy đường cong chữ J không tồn tại ở bất kỳ thương mại song phương nào, tuy nhiên đối với trường hợp của Australia, Đức, Ý và Nhật một sự phá giá đồng tiền sẽ có tác động tích cực đến cán cân thương mại của Ấn Độ
Đối tượng nghiên cứu: là dữ liệu quan sát được từ giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam
với các đối tác thương mại, thu nhập thực của Việt Nam và đối tác, và tỷ giá thực trong giai đoạn từ Quý 1 năm 2002 đến quý 4 năm 2018
Trang 11Đối tác nghiên cứu: căn cứ vào giá trị xuất nhập khẩu của 15 đối tác lớn nhất có quan
hệ với Việt Nam trong năm 2018 (bảng phụ lục 7) Bài viết sẽ phân tích 5 đối tác có quan hệ thương mại lớn nhất đối với Việt Nam, gồm: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Thái Lan Bên cạnh đó, tác giả cũng chọn ra thêm 1 quốc gia trong 15 nước trên mà Việt Nam đã thiết lập đối tác chiến lược (vào tháng 3/2018) là Australia
Do đó, bài nghiên cứu sẽ nghiên cứu cán cân thương mại của Việt Nam với các nước, bao gồm: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Australia (Chiếm 63.4% tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2018)
1.4 Bố cục của đề tài:
Bài viết nghiên cứu tác động của các yếu tố ; Tổng sản phẩm quốc gia, tỷ giá thực tác động đến cán cân thương mại của Việt Nam với các đối tác thương mại (Gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Australia), gồm có các phần chính sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết Luận
1.5 Đóng góp của đề tài:
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước về đường cong chữ J trong cán cân thương mại trên thế giới Tuy nhiên, với việc nghiên cứu và áp dụng mô hình VAR và VECM ở Việt Nam và trong đó tác giả đã áp dụng một cách nhìn mới trong việc sử dụng chỉ số F- Statistic và các chỉ số khác để đưa ra các độ trễ phù hợp cho mô hình Qua đó, sẽ thấy được sự tác động của việc phá giá đồng tiền lên cán cân thương mại trong một khoảng thời gian phù hợp hơn đối với cán cân thương mại song phương
và đa phương của Việt Nam đối với các đối tác chính
Trang 12Kết quả của mô hình sẽ hỗ trợ cho các nhà điều hành và quản lý nền kinh tế có cái nhìn toàn diện chính xác hơn trong quá trình điều hành và quản lý Qua đó, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển ở các thời kỳ, với các mức độ phù hợp và bền vững
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
Tỷ giá danh nghĩa song phương (NER)
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá mà 2 đồng tiền có thể được trao đổi được với nhau Tỷ giá danh nghĩa song phương luôn được thể hiện dưới dạng lượng ngoại tệ có thể được mua cho một đơn vị tiền tệ trong nước mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
Đồng tiền lên giá và giảm giá:
- Khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn, nên gọi là lên giá và đồng tiền định giá trở nên đổi được ít đồng tiền ít giá hơn, nên được gọi là giảm giá
- Khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá trở nên đổi được ít đồng tiền định giá cao hơn, nên gọi là giảm giá; đồng tiền định giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền yết giá hơn, nên được gọi là lên giá
Trang 14Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER)
Là tỷ lệ trung bình có trọng số chưa được điều chỉnh bởi lạm phát, tại đó tiền tệ của một quốc gia đổi lấy một rổ nhiều ngoại tệ Tỷ giá danh nghĩa đa phương là lượng nội
tệ cần thiết để mua ngoại tệ(ở rổ ngoại tệ)
Về kinh tế, NEER là một chỉ số về khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia về thị trường ngoại hối (ngoại hối) Các nhà giao dịch ngoại hối đôi khi gọi NEER là chỉ số tiền tệ có trọng số thương mại NEER có thể được điều chỉnh để bù cho tỷ lệ lạm phát của nước sở tại so với tỷ lệ lạm phát của các đối tác thương mại Con số kết quả là tỷ giá hối đoái hiệu quả thực sự (REER) Không giống như các mối quan hệ trong tỷ giá danh nghĩa song phương, NEER không được xác định cho từng loại tiền riêng biệt Thay vào đó, một số riêng lẻ, điển hình là một chỉ số, biểu thị giá trị của một loại tiền
tệ trong nước so với nhiều ngoại tệ cùng một lúc
Tỷ giá thực song phương (Bilateral real exchange rate)
Mặc dù hai loại tiền tệ có thể có tỷ giá hối đoái nhất định trên thị trường ngoại hối, nhưng điều này không có nghĩa là hàng hóa và dịch vụ được mua bằng một loại tiền có giá tương đương với loại tiền khác Điều này là do tỷ lệ lạm phát khác nhau với các loại tiền tệ khác nhau Do đó, có thể thấy, qua thời gian sức mua của hai loại tiền tệ sẽ khác nhau Tỷ giá hối đoái thực được tính như một tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát khác nhau giữa hai loại tiền tệ
Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức:
Trang 15 E : là tỷ giá danh nghĩa ( số đơn vị nội tệ trên ngoại tệ)
P*: mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ
P :mức giá cả ở trong nước bằng nội tệ
Ý nghĩa của sự thay đổi tỷ giá thực:
1 Tỷ giá thực tăng, làm cho sức mua tương đối đồng nội tệ của một quốc gia giảm, Như vậy, một đồng tiền giảm giá thực khi sức mua hàng nhập khẩu của
nó giảm từ thời điểm này sang thời điểm khác Đồng tiền giảm giá thực có tác dụng làm tăng sức cạnh tranh thương mại của hàng hóa quốc gia đó, cả trong nước lẫn xuất khẩu
2 Tỷ giả thực giảm, làm cho sức mua hàng nhập khẩu tăng lên, do giá giảm hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước Như vậy, một đồng tiền lên giá thực khi sức mua nhập khẩu của nó tăng từ thời điểm này sang thời điểm khác Đồng tiền lên giá thực sẽ làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này
Tỷ giá thực đa phương (REER)
REER là chỉ số thể hiện tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại REER có thể đo lường giá trị cân bằng tiền tệ của một quốc gia, nó giúp việc xác định các yếu tố cơ bản của dòng chảy thương mại của một quốc gia Bên cạnh đó, REER cũng hỗ trợ phân tích tác động của các yếu tố vĩ mô khác, như: năng lực cạnh tranh quốc gia, khả năng thương mại, sức mạnh công nghệ, v.v
Ta tiến hành tính REER qua một số bước:
Bước 1: Tính tỷ giá NEER
Bước 2: Tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ theo tỷ trọng
GDP của mỗi nước
Bước 3: Tính REER theo công thức:
Trang 16Trong đó: 𝐶𝑃𝐼𝑖𝑤 = ∑𝑛𝑗=1𝐶𝑃𝐼𝑖𝑗 x GDPj
𝐶𝑃𝐼𝑖𝑤 : là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ
𝐶𝑃𝐼𝑖𝑉𝑁 : là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ
j: là số thứ tự của các đồng tiền trong rổ
i: là kỳ tính toán
Từ phương trình trên cho thấy, REER là trung bình có trọng số của tiền tệ một quốc gia đối với rổ các loại tiền tệ khác REER chủ yếu được sử dụng để xác định giá trị tiền tệ của một quốc gia riêng lẻ so với các loại tiền tệ chính khác REER được điều chỉnh theo tác động của lạm phát đối với mọi loại tiền tệ trong rổ, cho phép nó trở thành thước đo cho những gì thực sự có thể được mua bởi một loại tiền tệ REER được sử dụng để hiểu một loại tiền tệ hoạt động tốt như thế nào đối với các loại tiền tệ khác và cũng liên quan đến chính nó trong quá khứ
Tổng sản phẩm quốc nội thực (hàng quý):
GDP thực của một nước là chỉ số được sử dụng làm thước đo cho hoạt động kinh tế của một quốc gia, với dữ liệu của GDP danh nghĩa hàng quí và chỉ số giá tiêu dùng CPI, ta tính được GDPR thực hàng quí của một quốc gia như sau:
Điều kiện Marshall-Lerner
Điều kiện Marshall-Lerner cho rằng trong dài hạn một sự phá giá đồng tiền của một quốc gia sẽ làm cán cân thương mại được cải thiện nếu tổng độ co giãn của cầu đối với
REERi = NEERi x 𝐶𝑃𝐼𝑖
𝑤
𝐶𝑃𝐼𝑖𝑉𝑁
GDPR = GDP danh nghĩa của Quí x năm 20XX
Chỉ số CPI của quí x năm 20XX
Trang 17hàng nhập khẩu và xuất khẩu lớn hơn 1 Tổng của độ co giãn càng cao thì cán cân thương mại càng được cải thiện nhanh chóng Do sự mất giá của một loại tiền tệ sẽ làm tăng giá nhập khẩu và giảm giá xuất khẩu Do đó, giá cầu nhập khẩu và xuất khẩu càng
co giãn thì nhu cầu nhập khẩu càng giảm và nhu cầu xuất khẩu càng tăng và sự cải thiện về cán cân thương mại sẽ càng lớn
Hệ số co giãn xuất khẩu: thể hiện phần trăm thay đổi của xuất khẩu khi tỷ giá thay đổi 1%:
Hệ số co giãn nhập khẩu: thể hiện phần trăm thay đổi của nhập khẩu khi tỷ giá thay đổi 1%
Nếu | Ƞx | > 1 - | Ƞn |, khi đó một sự phá giá tiền tệ sẽ khiến số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng đủ mạnh để bù đắp bất kỳ sự gia tăng nào của chi phí hàng nhập khẩu, do đó cải thiện cán cân thương mại cho nước xuất khẩu Nhưng khi mà Ƞn < Ƞx, số tiền phải trả cho hàng nhập khẩu sẽ không tăng nhiều do mức tăng doanh thu từ xuất khẩu hoặc chi phí nhập khẩu thậm chí có thể giảm Tuy nhiên, nếu Ƞn > Ƞx, thì sự phá giá tiền tệ đối với nước xuất khẩu sẽ khiến tổng doanh thu thay đổi từ xuất khẩu thấp hơn so với chi phí thay đổi phải trả cho hàng nhập khẩu, do đó làm tăng thâm hụt thương mại cho nước xuất khẩu Mặt khác, nếu Ƞn = Ƞx, thì độ co giãn là đồng nhất, do đó cán cân thương mại của nước xuất khẩu sẽ không thay đổi
Ƞx = 𝑑𝑋/𝑋𝑑𝐸/𝐸
Ƞn = 𝑑𝑋/𝑋𝑑𝐸/𝐸
Trang 18Đường cong chữ J
Sự mất giá hoặc mất giá của một loại tiền tệ của một quốc gia có thể dẫn đến sự sụt giảm giá trị tiền tệ của quốc gia đó so với các quốc gia khác Điều này làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên tương đối rẻ hơn so với giá trị đồng ngoại tệ trong khi nhập khẩu trở nên tương đối đắt hơn nếu so với giá trị đồng nội tệ Giá xuất khẩu giảm sẽ làm tăng lượng cầu xuất khẩu trong khi giá nhập khẩu tăng sẽ dẫn đến giảm lượng cầu nhập khẩu
Với nhưng phân tích trên cho thấy, sau khi phá giá, hiệu ứng giá cả có tác dụng làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi ngay lập tức, trong khi đó hiệu ứng khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu chỉ cải thiện được cán cân thương mại trong dài hạn Do đó, trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội so với hiệu ứng khối lượng, nên làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi; ngược lại, trong dài hạn, hiệu ứng khối lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả, nên cán cân thương mại được cài thiện Do đó, phá giá tiền tệ được biểu diễn như sau:
Trang 19Tuy nhiên, tác động của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái của một quốc gia đối với các thành phần khác nhau của cán cân thương mại không phải là ngay lập tức hay đồng thời Mỗi thành phần chính của cán cân thương mại có thể đi theo một con đường điều chỉnh khác nhau, tùy thuộc vào cấu trúc thương mại và cách các tác nhân kinh tế phản ứng với việc thay đổi giá cả Ví dụ, một khối lượng lớn thương mại quốc tế có thể được thực hiện theo các hợp đồng tương lai có thể ấn định giá hàng hóa giao dịch (cả về nội
tệ hoặc ngoại tệ) trong ngắn hạn, trong khi ảnh hưởng đến khối lượng hàng hóa giao dịch quốc tế trong dài hạn
Ngoài phạm vi và thời hạn của các hợp đồng thương mại, các thành phần kinh tế cũng
có thể phản ứng với độ trễ khác nhau đối với sự thay đổi về giá Ví dụ, Junz và
Rhomberg (1973) đã xác định ít nhất năm độ trễ có thể xảy ra trong việc điều chỉnh khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu để thay đổi giá tương ứng:
Chậm trễ trong việc nhận ra tình hình đã thay đổi
Chậm trễ trong việc đưa ra quyết định với những thay đổi trong thực tế các biến
và nhập khẩu Hơn nữa, nếu có sự chậm trễ trong phản ứng của giá hàng hóa giao dịch sau khi đồng tiền mất giá thì số lượng xuất khẩu và nhập khẩu có thể mất nhiều thời gian hơn để điều chỉnh theo tỷ giá hối đoái mới Tuy nhiên, với thời gian trôi qua, cả
Trang 20khối lượng xuất nhập khẩu sẽ phản ứng nhanh hơn với những thay đổi về giá tương đối của họ và do đó, cán cân thương mại của đất nước dự kiến sẽ được cải thiện
Do đó, sau sự mất giá của đồng tiền quốc gia, thâm hụt thương mại của nước này có thể sẽ tăng trong ngắn hạn (sau những thay đổi về giá xuất khẩu và nhập khẩu) trước khi nó được cải thiện do đáp ứng dài hơn về khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu Con đường thời gian điều chỉnh cán cân thương mại sau khi mất giá của một loại tiền tệ có thể giống với chữ cái J, vì trong ngắn hạn, sự mất giá của đồng nội tệ có thể dẫn đến thâm hụt thương mại (Krugman và Obstfeld, 2000)
Về lâu dài, khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu dự kiến sẽ phản ứng hoàn toàn với những thay đổi về giá xuất khẩu và nhập khẩu Và, nếu điều kiện Marshall-Lerner được thỏa mãn thì một sự mất giá của đồng tiền quốc gia trong nước sẽ dẫn đến sự cải thiện trong cán cân thương mại của quốc gia Mặt khác, nếu điều kiện Marshall-Lerner
không được thỏa mãn ngay cả trong dài hạn, những thay đổi bất lợi trong cán cân
thương mại do thay đổi tỷ giá hối đoái có thể bị kéo dài theo thời gian
Tóm lại, phá giá làm cho khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm, nhưng không vì thế mà cán cân thương mại được cải thiện Trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội so với hiệu ứng khối lượng làm cho cán cân thương mại bị xấu đi; trong dài hạn, hiệu ứng khối lượng lại có tính trội so với hiệu ứng giá cả làm cho cán cân thương mại được cải thiện, đây chính là nguyên nhân tạo nên hiệu ứng tuyến J
2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài:
Trong các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tỷ giá thực, GDP với cán cân xuất nhập khẩu thường dùng phương pháp ARDL Tuy nhiên trên thực tế, các yếu tố về tỷ giá, GDP hay cán cân thương mại luôn hỗ trợ và tác động lẫn nhau Việc tăng giá trị xuất khẩu trong cán cân xuất nhập khẩu trong dài hạn, sẽ làm cho cầu đồng tiền nội địa tăng lên và dẫn đến giá tri đồng nội địa tăng theo thời gian Việc đồng nội địa tăng giá,
Trang 21tạo áp lực cho xuất khẩu và tạo thuận lợi cho hàng hóa nhập khẩu, Qua đó làm ảnh hưởng lại đến giá trị xuất nhập khẩu, tạo cho thị trường một trang thái cân bằng
Rose (1990) đã kiểm tra tác động thực nghiệm của tỷ giá hối đoái thực đối với cán cân thương mại của một số nước đang phát triển sử dụng bình phương tối thiểu ba giai đoạn và ông thấy rằng có rất ít bằng chứng cho thấy thặng dư thương mại của họ bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ giá hối đoái thực Rose (1991) cũng ước tính trực tiếp mức độ đáp ứng của cán cân thương mại của năm quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đối với tỷ giá hối đoái thực trong thời kỳ hậu Bretton Woods sử dụng một số kỹ thuật và ông kết luận rằng có rất ít để hỗ trợ xem rằng tỷ giá hối đoái thực tế ảnh hưởng đến cán cân thương mại Kapoor và Ramakrishnan (1999) đã thực hiện một nghiên cứu để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Nhật Bản trong cơ chế thả nổi từ 1975 đến 1996 bằng cách sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM: Vector Error Correction Model) Kết quả chỉ ra rằng đã tồn tại hiệu ứng đường cong J
Deyak et al (1993) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cầu nhập khẩu của Canada đối với những thay đổi về sản lượng, mức giá và tỷ giá Đặc điểm mô hình của ông, với việc sử dụng cấu trúc độ trễ đa thức, cho phép ông ước tính độ co giãn dài hạn và điều chỉnh ngắn hạn của hàng nhập khẩu để thay đổi giá hối đoái Không giống như hầu hết các nghiên cứu áp đặt tính đồng nhất trong giá cả (xác định biến giá là tỷ lệ giá cả ở trong nước so với giá nhập khẩu), mô hình này phân biệt giữa giá trong nước và giá xuất khẩu ngoại tệ Chỉ số giá bán thương mại ở Canada được sử dụng làm giá trong nước nhưng chỉ số giá xuất khẩu ngoại tệ được đo bằng mức trung bình trọng số của chỉ số giá bán thương mại nước ngoài Tỷ giá hối đoái được định nghĩa là ngoại tệ trên một đơn vị tiền tệ trong nước Công việc thực nghiệm sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1958 - 1989 Tuy nhiên, kết quả của họ cho ra không rõ ràng Nó cho thấy rằng hàng nhập khẩu của Canada phản ứng nhanh hơn với những thay đổi về giá trong nước
Trang 22và ngoại tệ so với thay đổi về tỷ giá hối đoái Độ trễ của tỷ giá hối đoái là chín quý trong khi giá trong nước và giá bán thương mại xuất khẩu được hiển thị có độ trễ tương ứng là ba và bảy quý
Có một vài nghiên cứu thực nghiệm về cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái ở Malaysia Yusoff (1991) đã sử dụng mô hình độ trễ phân tán để ước tính cung và cầu xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất của Malaysia Ông thấy rằng tỷ giá hối đoái thực
và thu nhập thế giới là những yếu tố quan trọng quyết định xuất khẩu của các nhà sản xuất Phá giá sẽ làm tăng nhu cầu xuất khẩu và nó kéo dài trong hai năm Một nghiên cứu của Baharumshah (2001) chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái thực, thu nhập trong nước và thu nhập nước ngoài là những yếu tố quan trọng quyết định cán cân thương mại song phương của Malaysia Mặc dù ảnh hưởng của mất giá kéo dài trong tám đến chín quý, ông không tìm thấy hiệu ứng đường cong J Wilson (2001) đã xem xét các mối quan hệ giữa cán cân thương mại hàng hóa song phương thực sự của Malaysia, Hàn Quốc và Singapore với Hoa Kỳ và Nhật Bản Ông không tìm thấy bằng chứng nào về hiệu ứng đường cong chữ J ngoại trừ cán cân thương mại của Hàn Quốc với Hoa Kỳ
Các nghiên cứu trước đây của Matiur Rahman, Muhammad Mustafa & Daryl V
Burckel, bằng mô hình VECM về mối quan hệ tỷ giá giữa Yên/USD và cán cân thương mại của Nhật Bản cho thấy những tín hiệu của sự tồn tại đường cong chữ J trong dài hạn, tuy không quá ổn định Hay nghiên cứu của Mohammed B Yusoff về mối quan
hệ của giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại ở Malaysia, bằng mô hình VECM cho thấy mối quan hệ giữa Tỷ giá hối đoái, Thu nhập trong và ngoài quốc gia là những yếu
tố quan trọng tác động đến cán cân xuất nhập khẩu trong ngắn hạn, và sự tồn tại đường cong chữ J bị trì hoãn cho thấy rằng một sự giảm giá đồng nội tệ có thể cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn Như trong nghiên cứu của Tantatape Brahmasrene và Komain Jiranyakul, sử dụng kiểm định ADF test (Augmented Dicky‐Fuller) để kiểm định mối quan hệ tỷ giá hối đoái thực đối với cán cân thương mại giữa Thái Lan và
Trang 23các đối tác thương mại lớn kết quả từ nghiên cứu này cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế tác động đáng kể đến cán cân thương mại song phương giữa Thái Lan và các đối tác thương mại lớn
Nghiên cứu của Anil và Thomas (2002), sử dụng mô hình hiệu chỉ sai số xem xét mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa cán cân thương mại và những thay đổi về tỷ giá hối đoái thực của bảy quốc gia Đông Á (Bao gồm: Indonesia, Japan, Korea, Malaysia, Philippin, Siagapore, Thailand), qua thực nghiệm cho thấy có tồn tại mối quan hệ lâu dài giữa tỷ lệ xuất nhập khẩu và tỷ giá hối đoái thực, và GDP của các quốc gia Đông Á với 15 đối tác xuất khẩu lớn nhất Qua thực nghiệm ở từng quốc gia Đông Á, ngoại trừ Nhật Bản, đã xác nhận sự tồn tại của hiện tượng đường cong J Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự khác biệt về tốc độ và mức độ điều chỉnh khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu của các nước Đông Á đối với những thay đổi về giá hàng hóa có thể giao dịch của mỗi quốc gia
Hay theo nghiên cứu Hassan và Barry(2006), với việc sử dụng phương pháp hợp nhất
đa biến Johansen-Juselius, kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại của Hoa Kỳ và các nước G7, thực nghiệm cho thấy trong ngắn hạn cán cân thương mại phản ứng khá chậm với các cú sốc tỷ giá, do đòi hỏi một khoảng thời gian là hai năm khi đó có bằng chứng mạnh mẽ rằng tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tích cực đến cán cân thương mại trong dài hạn Hay theo Soo và Subhash(1998), Nghiên cứu sử dụng mô hình Vector sửa lỗi (VECM) phân tích các phản ứng của nhập khẩu và xuất khẩu đối với những thay đổi về giá trong nước, giá nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực đối với Hàn Quốc, Philippines, Singapore và Thái Lan, cho thấy giá trong và ngoài nước có tác động lớn hơn đến cán cân thương mại so với tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá thực có tác động mạnh đến cán cân thương mại trong trường hợp hợp Sigapore, còn các trường hợp khác không có bằng chứng rõ ràng, bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra phản ứng của xuất nhập khẩu đối với thay đổi giá sẽ lớn hơn đối với các quốc gia có môi trường
Trang 24thương mại tự do hơn so với các quốc gia có hạn chế về thương mại như Philippines
và Thái Lan
2.3 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam:
Bài nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Mustafa và Hamid (2017), sử dụng mô hình ARDL và mô hình tự sửa lỗi ECM phân tích mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc nội (GDP), biến động tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong dài hạn và ngắn hạn tại Việt Nam, kết quả cho thấy biến động tỷ giá ngắn hạn và dài hạn ảnh hưởng đến cán cân thương mại tại Việt Nam; cả hai phương pháp và ECM cho thấy rằng tỷ giá hối đoái có tác động tiêu cực về mặt thống kê đối với cán cân thương mại Đặc biệt, độ trễ phân tán của mô hình ARDL được sử dụng để kiểm tra tác động dài hạn, cho thấy thâm hụt cán cân thương mại trở nên tồi tệ hơn khi REER tăng Phương trình dựa trên
phương trình hợp nhất dài hạn và phản ứng đẩy, cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ không thể cải thiện cán cân thương mại, cho thấy hiệu ứng đường cong J không tồn tài
ở Việt Nam
Hay như bài nghiên cứu của Khiều Văn Hoàng (2013), sử dụng phương pháp VAR để ước tính các phản ứng của cán cân thương mại đối với cú sốc tích cực đối với tỷ giá VND/USD thực, sử dụng dữ liệu từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2012, kết quả cho thấy tồn tại đường cong J cho Việt Nam trong đó tác động xấu đi trên cán cân thương mại do cú sốc tích cực đối với tỷ giá hối đoái thực sự là mạnh nhất trong tháng thứ 3 và thứ 4 và kéo dài khoảng 11 tháng sau đó cán cân thương mại mới được cải thiện do sự phá giá của tỷ giá thực Kết quả nảy cũng cùng kết quả với nghiên cứu của Thị Xuân Thơm (2017), về tỷ giá thực và cán cân thương mại trong giai đoạn 2001-
2015 qua đó cho thấy, với cú sốc từ sự gia tăng của REER (đồng VND mất giá), cán cân thương mại xấu đi trong hai quý đầu tiên và sau đó bắt đầu cải thiện cho đến quý 6, sau đó kết quả sẽ không rõ ràng
Trang 25Nghiên cứu của Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân(2015) bằng cách sử dụng dữ liệu tổng hợp và sử dụng phương pháp ARDL, có thấy rằng thấy rằng tỷ giá hối đoái thực (giữa VND và 22 loại tiền tệ của đối tác thương mại chính) có tác động đáng kể
về mặt thống kê đối với cán cân thương mại của Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn Cả hai kết quả từ phân tích mô hình ARDL và hàm phản ứng xung cho thấy sự xuất hiện của hiện tượng đường cong J đối với cán cân thương mại ở Việt Nam Trong ngắn hạn, sự mất giá của tỷ giá hối đoái thực sự gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến cán cân thương mại Việt Nam Tuy nhiên, tác động tiêu cực này của tỷ giá hối đoái thực đối với cán cân thương mại chỉ kéo dài trong 5 quý Cán cân thương mại sẽ được cải thiện từ quý thứ năm sau khi mất giá Về lâu dài, việc tăng tỷ giá hối đoái thực sự giúp cải thiện cán cân thương mại hay như nghiên cứu của Nguyễn Thành Việt (2018),
sử dụng phương pháp ARDL, kiểm tra tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại của Việt Nam Kết quả cho thấy, đường cong chữ J xuất hiện ở cán cân thương mại của Việt Nam với Nhật Bản và Thái Lan, qua đó một sự phá giá đồng tiền sẽ làm cho cán cân thương mai bị xấu đi trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn, cán cân sẽ được cải thiện
Trang 26CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu:
Để tiến hành xác định mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của tỷ giá thực và cán cân thương mại, bài viết sẽ sử dụng mô hình VAR và VECM để phân tích mối quan hệ trên cơ sở nghiên cứu của Rose năm 1991 và được phát triển từ Tarlok Singh năm
2002, thể hiện vai trò của thu nhập và tỷ giá lên cán cân thương mại như sau:
Trong đó:
TB: là tỷ số xuất khẩu/ Nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác
Y : là thu nhập thực của Việt Nam ở thời kỳ
Y* : là thu nhập thực của các đối tác
R: là tỷ giá thực của đa phương hoặc song phương của Việt Nam với các đối tác
ε: là sai số (nhiễu trắng)
3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu:
Bước 1: kiểm tra tính dừng các chuỗi dữ liệu
- Nếu các chuỗi cùng dừng ở chuỗi gốc, thực hiện hồi quy OLS
- Nếu các chuỗi cùng dừng sau khi lấy sai phân bậc 1, chuyển sang bước 2
Bước 2: Kiểm định quan hệ đồng liên kết giữa các chuỗi dữ liệu theo phương pháp Johansen với giả thiết Ho: không có mối quan hệ đồng liên hết giữa các biến trong mô hình
Bước 3: Xây dựng mô hình hồi quy mối quan hệ trong dài hạn và ngắn hạn giữa các chuỗi dữ liệu với 2 trường hợp:
Ln TB(t) = ß0 + ß1ln Y(t) + ß2 Ln Y*(t) + ß3 Ln R(t) + ε (t)
Trang 27- Trường hợp 1 (Không có đồng liên kết): sử dụng mô hình VAR để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của các chuỗi dữ liệu
- Trường hợp 2 (Có đồng liên kết): sử dụng mô hình VECM để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của các chuỗi dữ liệu
Bước 4 : Chạy kiểm định F statistic để xác định độ trễ tối ưu cho mô hình
Bước 5: Chạy mô hình và nhận xét kết quả
3.3 Mô tả các biến:
3.3.1 Tỷ giả thực song phương
Để có thể tính được tỷ giá thực song phương, từ dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng CPI, và
tỷ giá danh nghĩa được lấy từ nguồn dữ liệu sau:
Ngân hàng IMF (http://data.imf.org)
Ngân hàng thế giới WB (https://data.worldbank.org)
Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (https://fred.stlouisfed.org)
Dưới đây là biểu đồ chỉ số giá tiêu dùng (CPI), được lấy từ ngân hàng thế giới, biểu thị như sau:
Trang 28Từ chỉ số giá tiêu dùng CPI, chúng ta có thể thấy rằng, từ nằm 2002 đến năm 2018, ngoài Việt Nam và Nhật Bản chỉ số CPI của các nước khác có nét tương đồng nhau, mặt bằng giá cả Quý 4 năm 2018 tăng khoảng 43% - 50% so với thời điểm năm 2012 Trong đó, các nước có mức tăng lớn là Australia, Trung Quốc (China) và Hàn Quốc (Korean), với mức tăng xấp xỉ 50%, sau đó là các nước: Hoa Kỳ và Thái Lan với mức tăng từ 41% - 43%
Sau đó, chúng ta xem xét đến chỉ số giá của Nhật Bản, có một điều khá bất ngờ so với các nước còn lại, Nhật Bản là nước có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất, trong đó từ quí 1 năm 2002 đến quí 4 năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng Nhật tăng không đáng kể, chỉ 4.6%, trong đó có hơn 10 năm (từ 2002 -2014), chỉ số giá tiêu dùng của Nhật gần như không thay đổi Điều đó cho thấy, sự ổn định trong mặt bằng giá cả của Nhật Bản luôn
là sự quan tâm hàng đầu của những nhà điều hành và quản lý chính sách của Nhật Bản Cuối cùng, ta xem xét đến chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng tăng gần 230% so với thời kỳ đầu năm 2002, và so với các nước khác, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam không những tăng cao nhất mà còn cao hơn rất nhiều so với phần còn lại Điều đó cho thấy, thị trường Việt Nam mang đặc điểm của một nước đang phát triển, chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh cho thấy sự tăng giá nhanh của mặt bằng giá cả của Việt Nam so với các nước khác
Từ nguồn dữ liệu, ta sẽ thể hiện được tỷ giá thực song phương như sau:
Trang 29Từ biểu đồ tỷ giá thực song phương của Việt Nam với các đối tác nhìn chung tất cả các chỉ số đều thể hiện dưới 1, điều đó cho thấy đồng tiền Việt Nam đang được định giá cao so với các đối tác khác Việc định giá cao làm cho sức mua hàng nhập khẩu của Việt Nam tăng lên và làm cho sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam so với các quốc gia khác giảm đi, do hàng hóa xuất khẩu sẽ trở nên đắt hơn, do đó
sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại xuất khẩu
Trang 30Tỷ giá thực song phương của Việt Nam so với các đối tác luôn dưới 1, thấp nhất là giữa Việt Nam và Nhật Bản, điều này cùng dễ hiểu, một phần là chỉ số giá tiêu dùng của Nhật tăng chậm nhất so với các đối tác khác trong khi chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam tăng rất mạnh trong giai đoạn này
có thể thấy vấn đề nhập siêu luôn là một vấn đề Việt Nam cần phải giải quyết trong tình hình hiện nay
Trang 313.3.3 Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam và đối tác (GDP):
Định nghĩa: Tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định
Dữ liệu tổng sản phẩm quốc nội được tính bằng đồng USD, đã được điều chỉnh theo chu kỳ vụ mùa, với nguồn dữ liệu được lấy ở những nguồn sau:
Ngân hàng thế giới WB (https://data.worldbank.org)
Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (https://fred.stlouisfed.org)
mô hình hay không, khi đó, giả thuyết H0 được phát biểu như sau:
H0 :
B3 = 0, B4 = 0, B5 = 0 (2) Giả thuyết không tạo ra ba ràng buộc loại bỏ biến, nếu (2) đúng thì X1, X2, X3 sẽ không
có tác động lên Y khi X1 và X2 được kiểm soát và như vậy chúng nên được loại bỏ khỏi mô hình Kiểm định nhiều ràng buộc cùng lúc gọi là kiểm định giả thuyết bội hoặc kiểm định giả thuyết đồng thời Khi đó thống kê F(hoặc tỷ số F) được xác định bằng công thức sau:
Trang 32Trong đó:
SSRr : là tổng bình phương phần dư của mô hình đã gán ràng buộc
SSRur :tổng bình phương phần dư của mô hình chưa gán ràng buộc
q: bậc tự do tử số = dfr - dfur
n – k – 1= bậc tự do mẫu số = dfur
Với SSR là tổng bình phương phần dư, với công thức sau: SSR = ∑𝑛𝑖=1 ûi2
Để sử dụng thống kê F, chúng ta phải biết phân phối mẫu dưới giả thuyết không để lựa chọn giá trị tới hạn và quy tắc bác bỏ Thống kê F là biến ngẫu nhiên có phân phối F với bậc tự do là (q,n – k – 1) Chúng ta có thể viết là:
F ~ Fq,n – k – 1 Một điều dễ nhận ra từ định nghĩa của F là chúng ta sẽ bác bỏ H0 và ủng hộ H1 khi F đủ
“lớn” Lớn bao nhiêu là đủ còn phụ thuộc vào mức ý nghĩa được chọn Giả sử rằng chúng ta quyết định kiểm định ở mức 5% Gọi c là phân vị thứ 95% trong phân phối Fq,n – k – 1 Giá trị tới hạn này còn phụ thuộc vào q (df ở tử số) và n – k – 1 (df mẫu số) Điều quan trọng là cần giữ đúng thứ tự về bậc tự do ở từ số và mẫu số
Nếu H0 bị bác bỏ, thì chúng ta nói X3, X4, X5 có ý nghĩa thống kê đồng thời (hoặc nói gọn lại là có ý nghĩa đồng thời) tại mức ý nghĩa phù hợp Kiểm định này không cho phép chúng ta kết luận rằng các biến có tác động riêng phần lên Y; có thể tất cả chúng
cùng tác động đến Y hoặc có thể chỉ có một biến tác động lên Y Nếu giả thuyết không
không bị bác bỏ, thì các biến đồng thời không có ý nghĩa, khi đó người ta thường xem
xét loại bỏ chúng khỏi mô hình
F =
(𝑆𝑆𝑅𝑟−𝑆𝑆𝑅𝑢𝑟)/𝑞 𝑆𝑆𝑅𝑢𝑟 /(𝑛−𝑘−1)
Trang 33CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Trường hợp Việt Nam – Hoa Kỳ
Trend and intercend
Ln(XM) -1.881826 -2.199529 -5.182769* -5.780624*
Ln(GDPVN) -2.751805 -3.40689*** -1.65286 -3.168123*
Ln(GDPUS) 1.060816 -0.068209 0.753072 -0.411732
Ln(RER) -1.826652 -3.01307 -1.781966 -3.01307
(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Với mức ý nghĩa 1%, các biến thể hiện không thể hiện tính dừng (ta không thể bác bỏ giả thuyết Ho), do đó ta sẽ lấy sai phân các biến trên và kiểm định tính dừng của các sai phân đó Như sau:
Các biến
Intercend
Trend and intercend Intercend
Trend and intercend
Trang 34Với mức ý nghĩa 1%, ta thấy các sai phân đã dừng ở mức ý nghĩa trên
4.1.b Kiểm định đồng liên kết:
Tác giả sẽ chạy mô hình kiểm định đồng liên kết bằng kiểm định Johansen Test, kết
quả như sau:
(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Với giả thuyết Ho không có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình, với kết quả kiểm định Johansen cho thấy, với mức ý nghĩa 5% không tồn tại đồng liên kết với hai loại kiểm định trên (Kiểm định Maximum Eigenvalue value test và kiểm định
Trang 35Trace test) Do đó, mô hình VAR được dùng để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn
và dài hạn của chuỗi dữ liệu trong bài nghiên cứu
4.1.c Xác định độ trễn tối ưu của mô hình:
Tác giả cho mô hình chạy độ trễ từ 2 đến 12, sau đó lựa chọn độ trễ tối ưu dựa vào 3 tiêu chí: R-squared, F-statistic, AIC Akaike, như sau:
Việt Nam- US Lag 2 Lag 3 Lag 4 Lag 5 Lag 6 Lag 7 R-squared 0.244394 0.280274 0.485 0.495057 0.534009 0.54493 F-statistic 2.264083 1.655024 2.707526 2.009866 1.718946 1.325765 AIC Akaike 0.442081 0.501671 0.304904 0.250936 0.323119 0.344819
(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Có thể thấy, qua của thử nghiệm F rất nhạy cảm với độ dài của độ trễ Ví dụ, khi chạy
mô hình với độ trễ là 4, tác giả thấy thông kê F có ý nghĩa rất cao, tuy nhiên khi chuyển sang độ trễ cao hơn thì không có ý nghĩa đáng kể, tuy nhiên với các biến độ trễn 8,9 thêm vào F lại tăng lên, chứng tỏ các biến có đóng góp có ý nghĩa cho mô hình Qua đó cho thấy lựa chọn độ trễ là 9 sẽ tối ưu (F=1.811 > F * =1.72, ở mức ý nghĩa 10%) cho
mô hình, với thống kê R giải thích được 75.64% ý nghĩa của biến phụ thuộc
4.1.d: Kiểm định tính ổn định của mô hình:
Việt Nam- US Lag 8 Lag 9 Lag 10 Lag 11 Lag 12
R-squared 0.643774 0.756454 0.764642 0.757374 0.922065
F-statistic 1.468357 1.811833 1.299542 0.780394 1.478911
AIC Akaike 0.258174 0.051727 -0.04567 -0.01508 -1.06229
Trang 36(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Theo kết quả của kiểm định tính ổn định của mô hình, cho thấy không có các điểm nào nằm ngoài đường tròn, qua đó nhận xét mô hình VAR ổn định
4.1.e Kết quả mô hình VAR cho mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ:
Trang 38(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Kết quả chạy mô hình VAR với độ trễ là 9, cho thấy d(XM) ở giai đoạn t phụ thuộc vào d(XM) ở giai đoạn t-1 và t-2 với 1 mức ý nghĩa rất lớn, cho thấy cán cân thương mại tăng ở giai đoạn t sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại của 2 giai đoạn t kế tiếp
Tác giả không tìm thấy dấu hiện đường cong chữ J, đối với cán cân thương mại của Việt Nam – Hoa Kỳ, tuy nhiên theo mô hình VAR, một sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm ảnh hưởng tích cực lên cán cân thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, ngay từ độ trễ 1, với việc trong 9 hệ số các biến của tỷ giả thực song phương (RER) có 7 hệ số mang dấu dương và 2 hệ số mang dấu âm Tuy nhiên giá trị t- statistic nhỏ, nên ảnh hưởng của tỷ giá lên các cân thương mại sẽ không rõ ràng, do thiếu ý nghĩa thống kê, đó cũng là một hạn chế của mô hình
4.1.f Kết quả phân rã phương sai
Trang 39(Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ phần mềm Eview 8)
Trang 40Từ kết quả phân rã phương sai, chúng ta rút ra được các kết luận sau:
- Kết quả phân rã phương sai cho thấy, sự thay đổi tỷ số cán cân xuất nhập khẩu bị tác động lớn từ cán cân xuất nhập khẩu ở giai đoạn trước, các biến GDPUS và GDPVN có tác động không đáng kể, biến tỷ giá thực song phương(RER) chỉ có ý nghĩa với cán cân thương mại từ quý thứ 5, sau đó tăng dần đến 10 quý, RER giải thích được 14.1% ý nghĩa của cán cân thương mại, qua đó cũng chính xác với kết luận ở trên, tỷ giá thực có tác động tích cực với cán cân thương mại (XM) nhưng không rõ ràng
- Biến tỷ giá thực song phương (RER) chịu tác động của biến GDP Hoa Kỳ từ quý 2 trở đi, và sau 10 quý, các biến XM, GDPVN, GDPUS sẽ giải thích ý nghĩa cho quý RER tương ứng với mức ý nghĩa là :14.8%, 7.29% và 27%
- Biến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của các biến XM, RER và GDPUS trong 5 quý, tuy nhiên từ quý thứ 6, các biến trên dần có ý nghĩa với biến GDPVN, và sau 10 quý, biến XM, RER, GDPUS sẽ giải thích ý nghĩa cho quý RER tương ứng với mức ý nghĩa là :8.9%, 12.4% và 21% Qua đó, tác giả nhận thấy sự hợp lý, vì khi các quốc gia thương mại tăng trưởng, cần một khoảng thời gian để nguồn vốn từ Hoa Kỳ (nhất là FDI) tác động đến nền kinh tế Việt Nam, thông qua đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp
- Biến tổng sản phẩm quốc nội của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng nhiều bởi biến Tỷ giá thực, qua đó cho thấy tầm quan trọng của tỷ giá tối với nền kinh tế Hoa Kỳ
4.2.Trường hợp Việt Nam – Trung quốc
4.2.a Kiểm định tính dừng:
1% level (*) 5% level (**) 10% level (***)
Kiểm định tính dừng của các biến số trong mô hình ở các mức level: