LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ « Mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại » là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu do chính tôi thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS Trần Ngọc Thơ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU ……… 1
1.1 Lý do chọn đề tài ……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu ……… 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu ……… 4
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu ……… 4
1.7 Kết cấu luận văn ……… 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ……… 6
2.1 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
2.1.1 Lý thuyết năng suất cận biên vốn 6
2.1.2 Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm 6
2.1.3 Mô hình “đàn nhạn” của Akamatsu 7
Trang 42.1.4 Lý thuyết chiết trung của Dunning 8
2.2 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 9
2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học cổ điển 9
2.2.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Karl Marx 9
2.2.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Tân cổ điển 10
2.2.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của J M Keynes 11
2.2.5 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại 14
2.3 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan 16
2.3.1 Các nghiên cứu thực tiễn ngoài nền kinh tế Việt Nam 16
2.3.2 Các nghiên cứu thực tiễn nền kinh tế Việt Nam 18
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM ………… 20
3.1 Tăng trưởng kinh tế … ……… 20
3.2 Thương mại … ……… 21
3.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ……… 22
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… 25
4.1 Phương pháp nghiên cứu ……… 25
4.2 Kết quả nghiên cứu ……… ……… 27
4.2.1 Mô tả dữ liệu 27
4.2.2 Thống kê mô tả 28
Trang 54.2.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 28
4.2.4 Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết 30
4.2.5 Kiểm định chuẩn đoán các mô hình 32
4.2.6 Ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM) dài hạn theo phương pháp ARDL đối với biến DLn(Y) là biến phụ thuộc 36
4.2.7 Ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM) dài hạn theo phương pháp ARDL đối với biến DLn(K) là biến phụ thuộc 38
4.2.8 Phân tích Granger Causality và hướng tác động của các biến 39
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ……… 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Các hàm ý chính sách 41
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ « Mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại » là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Ngọc Thơ
Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi xin đảm bảo tính chân thật của số liệu mà mình thu thập, đây là số liệu có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
TP Hồ Chí Minh, Ngày 05 tháng 12 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Văn Dũ
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AUSTRALIA – NEW ZEALAND
AIC Tiêu chí thông tin dùng để lựa chọn độ trễ tối ưu của các biến
trong mô hình
Dương
Trang 8EVIPA Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – Liên minh Châu Âu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 FDI được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế - Luỹ kế các dự
án còn hiệu lực đến ngày 31-12-2017
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị bằng phương pháp ADF, PP
thông qua chuỗi gốc (at level)
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị bằng phương pháp ADF, PP
thông qua sai phân bậc 1
Bảng 4.5 Kết quả tử kiểm định mối quan hệ đồng liên kết
Bảng 4.7 Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số dài hạn theo
phương pháp ARDL đối với biến DLn(Y) là biến phụ thuộc Bảng 4.8 Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số dài hạn theo
phương pháp ARDL đối với biến DLn(K) là biến phụ thuộc
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1994 – 2018
Biểu đồ 3.2 Tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch XNK của Việt Nam giai đoạn
1994 – 2018
Biểu đồ 4.1 Kết quả kiểm định Cusumsq cho biến DLn(Y)
Biểu đồ 4.2 Kết quả kiểm định Cusumsq cho biến DLn(K)
Trang 11TÓM TẮT Bài nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2018
Dữ liệu được lấy theo năm từ nguồn World Bank, World Development Indicators Thông qua phương pháp nghiên cứu phân phối trễ tự hồi quy – ARDL được phát triển bởi Pesaran and Shin (1999); Pesaran và cộng sự (2001) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: trong dài hạn, (1) đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tổng nguồn vốn đầu tư và (2) tổng nguồn vốn đầu tư có tác động tích cực đến tăng trưởng Trong ngắn hạn, (a) thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực qua lại lẫn nhau; (b) tăng trưởng và thương mại có tác động tích cực đến tổng vốn đầu tư, hướng tác động từ tăng trưởng và thương mại đến tổng vốn đầu tư; (c) lực lượng lao động có tác động tích cực đến thương mại theo hướng từ lực lượng lao động đến thương mai Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp thêm một bằng chứng nghiên cứu thực tiễn về chủ đề mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại để các nhà quản lý có một cái nhìn khách quan hơn về chủ đề này
Từ khóa chính: Thương mại, Tăng trưởng, Đồng liên kết ARDL, Việt Nam
Trang 12ABSTRACT This paper aims to examine the relationship between growth, foreign direct investment, and trade in Vietnam from 1994 to 2018 Data are taken yearly from World Bank, World Development Indicators Through the method of research Autoregressive Distributed Lag - ARDL developed by Pesaran and Shin (1999); Pesaran et al (2001) The results of the study indicate that: in the long run, (1) foreign direct investment effects on gross fixed capital formation and (2) gross fixed capital formation effects on growth In the short run, the Granger Causality analysis shows that (a) the relationship between trade and foreign direct investment trade is two-way and that both directions are positive; (b) growth and trade effect on gross fixed capital formation and the direction is from growth and trade; (c) labour force effects on trade and its direction is from labour force The results of the study are intended to provide more empirical evidence on the topic of the relationship between growth, foreign direct investment, and trade to support authorities a more objective view of the this topic
Key word: FDI, Trade, Economic growth, ARDL cointegration, Viet Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia đo lường đồng thời cả hai chỉ tiêu đó
là tổng thu nhập quốc gia và tổng chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ của quốc gia đó (Mankiw, 2012) Đồng thời, cũng theo lý thuyết này, mức sống tiêu chuẩn của người dân được đo bằng năng suất của lực lượng lao động, mà năng suất lại được quyết định bởi vốn vật chất, vốn con người, tài nguyên thiên nhiên, và khoa học công nghệ Do vốn là một yếu tố sản suất, cho nên một cách để tăng năng suất trong tương lai thì ở hiện tại phải đầu tư nhiều hơn các nguồn lực vào vốn vật chất và vốn con người cũng như khoa học công nghệ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do FDI làm tăng vốn vật chất, vốn con người, và mang lại cho nền kinh tế những công nghệ tiên tiến Bên cạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì thương mại cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy FDI và thương mại là hai yếu tố quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trước hết, thương mại thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước Thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa khu vực sản xuất với tiêu dùng, và cung ứng các tư liệu sản xuất cần thiết đến khu vực sản xuất Hoạt động thương mại kích thích các nhà sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, đổi mới trang thiết bị và quy trình sản xuất, ứng dụng khoa học vào quản lý để nền sản xuất ngày một tiên tiến hơn nhằm đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng Thứ hai, hoạt động thương mại thúc đẩy phát triển các ngành khác của nền kinh tế, và đồng thời thúc đẩy việc phân phối các nguồn lực Thứ ba, thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và đóng vai trò trực tiếp mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu, thiết lập và mở rộng quan hệ buôn bán với các nước trên thế giới, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần tích lũy vốn, nhất là vốn ngoại tệ và đổi mới công nghệ
Trang 14Bên cạnh yếu tố thương mại, FDI là nguồn lực quan trọng đóng góp lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng dần, từ gần 15% năm 2005 lên 23.7% năm 2017; riêng năm 2018 tỷ trọng này lên tới 30.8% Thêm vào
đó, đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế cũng ngày càng cao, nếu giai đoạn 1986
- 1996, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đóng góp 15.04% thì đến giai đoạn
2010 - 2017 đã đóng góp đến 27.7% Đối với nguồn thu ngân sách, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách, với giá trị nộp ngân sách tăng từ 1.8 tỷ USD (giai đoạn 1994 - 2000) lên 14.2 tỷ USD (giai đoạn 2001
- 2010) Giai đoạn 2011 - 2015, thu ngân sách từ khu vực FDI đạt 23.7 tỷ USD, chiếm gần 14% tổng thu ngân sách; năm 2017, khu vực FDI đã đóng góp vào thu ngân sách gần 8 tỷ USD, chiếm 14.46% tổng thu ngân sách nhà nước Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hiện nay, 58.2% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin , tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thúc đẩy quá trình hiện đại hóa - công nghiệp hóa của đất nước (30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam)
Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trong quá khứ đã nghiên cứu hoặc là sự tương tác thương mại, FDI với tăng trưởng kinh tế (Balasubramanyam và cộng sự, 1996; Karbasi và cộng sự, 2005); hoặc mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Lipsey, 2000); hoặc mối quan hệ giữa tăng trưởng thương mại và kinh tế (Pahlavani và cộng
sự, 2005) trích trong Belloumi (2014) Tất cả các nghiên cứu này đã kết luận rằng cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại đều thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu đã không cung cấp một kết quả cuối cùng về mối quan hệ nói
Trang 15chung và hướng của quan hệ nhân quả nói riêng ở nhiều nước đang phát triển Các tác động tăng trưởng từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại khác nhau giữa các quốc gia theo thời gian Đối với một số quốc gia, đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (Balasubramanyam và cộng sự, 1996; Borensztein và cộng sự, 1998; Lipsey, 2000; De Mello, 1999; Xu, 2000) trích trong Belloumi (2014)
Thêm vào đó, Odhiambo (2009) trích trong Belloumi (2014) chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây về chủ đề này bị hạn chế bởi việc sử dụng kỹ thuật đồng liên kết dựa trên kiểm định đồng liên kết hoặc là của Engle và Granger (1987) hoặc kiểm định khả năng tối đa dựa trên Johansen (1988) hoặc Johansen và Juselius (1990) Hoặc, các kỹ thuật đồng liên kết này có thể không phù hợp khi cỡ mẫu quá nhỏ Sử dụng phương pháp kiểm định giới hạn đồng liên kết được phát triển bởi Pesaran và cộng sự (2001) mạnh hơn đối với cỡ mẫu nhỏ Do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư rực tiếp nước ngoài, và thương mại” nhằm mục đích xem xét mối quan
hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại của Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn là như thế nào và hướng tác động giữa các biến này ra sao thông qua phương pháp ước lượng phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) với bộ dữ liệu được cập nhật mới nhất, đến năm 2018 Trong đó, các biến trong mô hình gồm có thương mại (T), là độ mở thương mại được đo lường bằng tổng xuất khẩu và nhập khẩu chia cho GDP Đầu tư trực tiếp nước ngoài (F) là tỷ lệ của tổng dòng vốn vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài thực so với GDP Biến tăng trưởng (Y) được đo lường bằng GDP thực bình quân đầu người Lực lượng lao động (L) là tổng lực lượng lao động Vốn đầu tư (K) được đo bằng giá trị thực của tổng chi phí đầu tư Tất cả các biến được chuyển sang dạng logarit tự nhiên để ước lượng Nguồn dữ liệu để thực hiện bài nghiên cứu này được lấy từ nguồn dữ liệu của World Bank, World Development Indicators, trong giai đoạn 1994 – 2018
Trang 161.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại Cụ thể, bài nghiên cứu sẽ nghiên cứu sự tác động qua lại giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn và hướng tác động của chúng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại, trong dài hạn và trong ngắn hạn có tác động qua lại như thế nào và hướng tác động của chúng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ được thực hiện dựa trên mẫu nghiên cứu của các biến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; và thương mại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua
kỹ thuật hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian Mô hình kinh tế lượng được áp dụng cho bài nghiên cứu này là mô hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag – ARDL)
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại của Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn là như thế nào và hướng tác động của chúng ra sao thông qua bộ dữ liệu chuỗi thời gian được cập nhật mới nhất, đến năm 2018 Qua đó, tác giả mong muốn rằng bài nghiên cứu sẽ đóng góp thêm một bằng chứng nghiên cứu thực tiễn có giá trị
Trang 17về chủ đề mối quan hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại
Xa hơn nữa, tác giả hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ cung cấp thêm một bằng chứng nghiên cứu thực tiễn để các nhà quản lý kinh tế có thêm một cái nhìn khách quan về đề tài này từ đó có các chính sách quản lý kinh tế hiệu quả nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững
1.7 Kết cấu luận văn
Bài luận văn được kết cấu như sau: chương 1 giới thiệu và chương 2 tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn có liên quan Tiếp đến, tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam; phương pháp và kết quả nghiên cứu; kết luận và hàm ý chính sách lần lượt được thể hiện trong các chương 3, 4, và 5
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN
2.1 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.1 Lý thuyết năng suất cận biên vốn
Lý thuyết của MacDougall (1960) được coi là một trong những lý thuyết đầu tiên về FDI Lý thuyết này được đặt trên giả định là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và phát triển từ lý thuyết của Hescher Ohlin và Samuaelson về sự vận động vốn – mô hình H-
O Lý thuyết này sau đó lại được phát triển bởi Kemp (1964) Lý thuyết này đặt trên một mô hình giải định rằng hai nước có chi phí vốn bằng với năng suất biên MacDougall và Kemp cùng phát biểu rằng khi dòng vốn di chuyển tự do từ nước đầu
tư sang nước nhận đầu tư, năng suất biên của vốn có xu hướng trở nên cân bằng giữa hai nước Các tác giả nhận thấy rằng sau đầu tư, sản lượng của nước đầu tư giảm đi nhưng thu nhập quốc dân lại không giảm Điều này là do về dài hạn nước đầu tư nhận được thu nhập lớn hơn từ các khoản đầu tư ra nước ngoài của nó Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm 1960 Nhưng sau đó, lý thuyết này đã không lý giải được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra, hay tỷ suất đầu tư trong nước cao nhưng tỷ suất đầu tư ra nước ngoài cũng cao Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu để nghiên cứu FDI
2.1.2 Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm
Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm được phát triển bởi Raymond Vernon (1966) lý thuyết này cho phép giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ việc xuất khẩu các sản phẩm sang thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Vernon cho rằng các sản phẩm phải trải qua một chu kỳ sống bao gồm bốn giai đoạn: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái Trong giai đoạn giới thiệu, vì
Trang 19sản phẩm là sản phẩm mới, còn sản xuất độc quyền nên giá cao, sản lượng tiêu thụ ít, chủ yếu được tiêu thụ ở nước phát minh ra sản phẩm Ở giai đoạn phát triển, sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng tham giai sản xuất các sản phẩm tương tự và dẫn đến cạnh tranh tăng, các nhà sản xuất bắt đầu xuất khẩu những sản phẩm và đồng thời tìm cách di chuyển địa điểm sản xuất sang các quốc gia có tương đồng về mức sống và văn hóa Trong giai đoạn thứ 3, giai đoạn chín muồi, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, giá sản phẩm giảm nhiều, thị phần cũng giảm Sau khi cải tiến thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm cách phát triển thị trường mới, di chuyển địa điểm sản xuất sang các nước kém phát triển hơn Trong giai đoạn sản phẩm suy thoái, sản phẩm đã lão hóa, chủ yếu chỉ còn ở thị trường của những nước đang phát triển Trong giai đoạn này có hiện tượng xuất khẩu ngược sản phẩm về các nước công nghiệp phát triển do một bộ phận dân cư vẫn còn có nhu cầu về sản phẩm Lý thuyết này chỉ giải thích cho việc đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số doanh nghiệp theo nguyên lý vòng đời quốc tế của sản phẩm mà không giải thích cho việc tại sao các dạng thâm nhập thị trường khác lại không hiệu quả hoặc kém hiệu quả
2.1.3 Mô hình “đàn nhạn” của Akamatsu
Mô hình “đàn nhạn” của sự phát triển công nghiệp của Akamatsu (1961) Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn: (1) sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài
để phục vụ cho nhu cầu trong nước; (2) sản phẩm trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu; (3) sản xuất để xuất khẩu FDI sẽ thực hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với
sự thay đổi về lợi thế tương đối Ozawa là người tiếp theo nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và mô hình “đàn nhạn” Theo ông, một ngành công nghiệp của nước đang phát triển có lợi thế tương đối về lao động, sẽ thu hút FDI vào để khai thác lợi thế này Tuy nhiên sau đó tiền lương lao động của ngành này dần dần tăng lên do lao động của địa phương đã khai thác hết và FDI vào sẽ giảm đi Khi đó các công ty trong nước đầu tư
ra nước ngoài (nơi có lao động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tương đối của nước này Đó
Trang 20là quá trình liên tục của FDI Mô hình đã chỉ ra quá trình đuổi kịp của các nước đang phát triển: khi một nước đuổi kịp ở nấc thang cuối cùng của một ngành công nghiệp từ kinh tế thấp sang kỹ thuật cao thì tỷ lệ FDI ra sẽ lớn hơn tỷ lệ FDI vào Một quốc gia đứng đầu trong đàn nhạn, đến một thời điểm nhất định sẽ trở nên lạc hậu và nước khác
2.1.4 Lý thuyết chiết trung của Dunning
Lý thuyết chiết trung hay còn gọi là mô hình OLI, được phát triển bởi Dunning (1977) Theo Dunning, một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) lợi thế về sở hữu (Ownership advantages – O) bao gồm: lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch; (2) lợi thế về khu vực (Locational advantages – L) bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chính phủ và (3) lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages – I) bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế Theo lý thuyết này thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI Lý thuyết cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI Những lợi thế
Trang 21này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunning phát hiện vào năm 1979
2.2 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học cổ điển
Adam Smith (1776) cho rằng sự giàu có của các quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trong đó có hai nhân tố quan trọng là (1) số lượng lao động làm việc trong nền sản xuất; (2) vật chất và trình độ của phân công lao động “Con người kinh tế” dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” sẽ làm cho nền kinh tế phát triển, người lao động sẽ sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho xã hội; lợi ích cá nhân sẽ gắn liền với lợi ích xã hội thông qua thị trường tự do Thị trường sẽ giải quyết tất cả, Chính phủ không cần can thiệp vào nền kinh tế Nguyên tắc phân phối là “ai có gì được nấy”, tư bản có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất thì nhận được địa tô, công nhân có sức lao động thì nhận được tiền lương Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng thị trường tự do dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” làm cho lợi ích cá nhân gắn với lợi ích xã hội Sự linh hoạt của giá cả và cơ chế tiền lương có khả năng tự điều chỉnh sự mất cân đối của nền kinh tế thị trường, xác lập cân đối mới Khi tổng sản lượng quốc gia đạt mức tiềm năng
nó quyết định số lượng việc làm của nền kinh tế
2.2.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Karl Marx
Quan niệm của Karl Marx, tăng trưởng là quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Các yếu tố tác động: đất đai, vốn, lao động, và tiến bộ kỹ thuật Trong đó, lao động là yếu tố quan trọng nhất bởi lao động sẽ tạo ra giá trị bằng sức lao động cộng với giá trị thặng dư Theo Karl Marx, thặng dư là nguồn gốc tăng trưởng và phát triển kinh tế Kỹ thuật là phương tiện lâu dài để tăng giá trị thặng
Trang 22dư Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự tăng trưởng Ông chia hoạt động xã hội thành 2 lĩnh vực: (1) sản xuất vật chất và (2) sản xuất phi vật chất Sản xuất vật chất tạo ra sản phẩm xã hội
Karl Marx bác bỏ lý thuyết cổ điển về “cung tạo nên cầu” cũng như sự hạn chế của đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng Nền kinh tế chỉ thông suốt khi hàng hóa có sự đảm bảo cân bằng giữa khối lượng và cơ cấu mua và bán Nếu khoảng cách này lớn sẽ tạo
ra khủng hoảng Khủng hoảng là giải pháp khôi phục thế cân bằng đã bị rối loạn Chính sách kinh tế của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là chính sách nâng cao mức cầu hiện có
2.2.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Tân cổ điển
Nội dung cơ bản của lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Tân cổ điển là (1) giá cả và tiền công là hai nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế; (2) Vai trò của Chính phủ trong sự phát triển nền kinh tế là mờ nhạt; (3) nền kinh tế đạt sự cân bằng ở sản lượng tiềm năng Những nội dung mới của mô hình tăng trưởng kinh tế của trường phái Tân cổ điển: (1) yếu tố lao động và vốn có thể liên kết theo tỉ lệ khác nhau, vốn có thể thay thế nhân công; (2) có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất; (3) yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là yếu tố cơ bản thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Hàm sản xuất Cobb – Douglas,
Y = F (K, L, R, T)
Trong đó:
Y: là tổng sản phẩm xã hội (sản lượng đầu ra)
K: là vốn
Trang 23L: là lao động
R: là tài nguyên
T: là khoa học công nghệ
2.2.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của J M Keynes
Keynes cho rằng, nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển
Mà nền kinh tế chỉ có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào
đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống như mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, và AS - SR phản ánh khả năng thực tế Và
sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng thực tế đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người
Vai trò của tổng cầu trong việc tăng sản lượng của nền kinh tế.
Theo Keynes, khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết, có thể xuất hiện tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập Nhưng khi mức thu nhập tuyệt đối được nâng lên thì
sẽ có khuynh hướng nới rộng sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng Đặc biệt khi người ta đạt đến sự tiện nghi nào đó, thì họ sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn, còn cho tiết kiệm nhiều hơn Đây là quy luật tâm lý cơ bản của bất cứ cộng đồng tiên tiến nào Theo Keynes, khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập thực tế tăng lên, do vậy cũng làm tăng tiêu dùng Song do quy luật tâm lý nêu trên, nên sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thu nhập, và khoảng cách đó ngày càng tăng theo tốc độ gia tăng thu nhập Nói cách khác, tiết kiệm có khuynh hướng gia tăng nhanh hơn Keynes cho rằng sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng là xu hướng của mọi
Trang 24xã hội tiên tiến Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng nền kinh tế trì trệ, suy giảm tăng trưởng kinh tế
Mặt khác, khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư của các doanh nghiệp, ông cho rằng đầu
tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân, cầu về
tư liệu sản xuất Do vậy, làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên Đến lượt nó, tăng thu nhập lại là tiền
đề cho sự gia tăng đầu tư mới Đây là quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới - nền kinh tế tăng trưởng Quá trình này được tính toán như sau:
K = dR/dI
Trong đó:
dR: là gia tăng thu nhập
dI: là gia tăng đầu tư
K: là số nhân
vì dI = Ds nên K = dR/dI = dR/dS = dR/(dR-dC) = 1/(1-dC/dR)
dC: là gia tăng tiêu dùng; dS: là gia tăng tiết kiệm
Theo Keynes, cùng với việc tăng lên của vốn đầu tư, thì hiệu quả giới hạn của tư bản, tương quan giữa thu hoạch tương lai của đầu tư và phí tổn đầu tư, sẽ giảm sút Có hai nguyên nhân làm cho hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút Thứ nhất, đầu tư tăng sẽ làm tăng thêm khối lượng hàng hoá cung ra thị trường Điều đó làm giảm giá hàng hoá
và kéo theo làm giảm thu nhập tương lai Thứ hai, tăng cung hàng hoá sẽ làm giá cung của tài sản tư bản tăng lên hay tăng phí tổn thay thế Từ đó, làm cho thu nhập tương lai
Trang 25giảm xuống Hơn nữa, giữa đầu tư và lãi suất lại có quan hệ với nhau Sự khuyến khích đầu tư tuỳ thuộc một phần vào lãi suất Người ta sẽ tiếp tục đầu tư, chừng nào hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường
Như vậy, đầu tư mới tăng lên, việc làm gia tăng sẽ làm gia tăng thu nhập, và từ đó, sẽ làm tăng tiêu dùng Song, do khuynh hướng tiêu dùng giới hạn, nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với tăng thu nhập, còn tiết kiệm lại tăng nhanh hơn Điều này làm cho tiêu dùng giảm tương đối Việc giảm tiêu dùng tương đối sẽ làm giảm cầu có hiệu quả, còn cầu lại ảnh hưởng đến quy mô sản xuất và đến tăng trưởng kinh tế Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng, cần phải tăng chi phí đầu tư, tăng tiêu dùng sản xuất Song khối lượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn đầu tư cho tới khi nào hiệu quả giới hạn của tư bản giảm xuống bằng mức lãi suất Nhưng trong nền kinh tế, hiệu suất tư bản có
xu hướng giảm sút, còn lãi suất cho vay có xu hướng ổn định, điều đó tác động đến đầu
tư mới, và khủng hoảng xuất hiện, nền kinh tế trở nên trì trệ
Chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế
Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng
Về đầu tư nhà nước, Keynes cho rằng, ngân sách nhà nước là một công cụ hữu hiệu trong việc kích thích đầu tư tư nhân cũng như tiêu dùng của nhà nước Ông chủ trương thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà nước, trợ cấp về tài chính, tín dụng sẽ tạo ra sự ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho tư bản độc quyền Về hệ
Trang 26thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, theo Keynes, hệ thống tài chính, tín dụng
có vai trò quan trọng trong việc kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh Theo ông, Nhà nước có thể đưa thêm tiền vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh mở rộng quy mô đầu tư Đồng thời, để tăng hiệu quả tư bản, ông chủ trương “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá cả hàng hoá nhờ đó các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận nhiều hơn (trong điều kiện chi phí sản xuất chưa thay đổi) Có thể nói, đây là một trong các động lực trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng kinh tế Về các hình thức tạo việc làm, ông cho rằng để nâng cao tổng cầu và việc làm cần mở rộng nhiều hình thức đầu tư Bởi lẽ, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, khi có đầu tư thì sẽ có nhiều việc làm và mang lại thu nhập Như vậy, thông qua đầu tư có thể tránh được khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp Về khuyến khích tiêu dùng, để mở rộng tiêu dùng, Keynes khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với các nhà tư bản, tầng lớp giàu có cũng như đối với người nghèo 2.2.5 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế theo mô hình của Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế thường dưới mức tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường của nền kinh tế vẫn có lạm phát và thất nghiệp Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận được Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung và tổng cầu Đồng thời, lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất Họ cho rằng tổng mức cung (Y) của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất:
Trang 27lao động (L), vốn sản xuất (K), tài nguyên thiên nhiên được sử dụng (R), khoa học công nghệ (A)
Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu
tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc
dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn
có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục
Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê út Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao Nhật Bản là một nước gần như không
có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy
mô
Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị…nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa
Trang 28là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải
do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia…), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi…
Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới … có những bước tiến như
vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất
2.3 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan
2.3.1 Các nghiên cứu thực tiễn ngoài nền kinh tế Việt Nam
Trong quá khứ, đã có nhiều nghiên cứu thực tiễn liên quan đến mối liên hệ giữa tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thương mại Trong số đó, Blomstrom và cộng
sự (1992) đã tập trung nghiên cứu của mình vào mức tăng trưởng thực của thu nhập bình quân trên người của 78 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1960 – 1985 và phát hiện ra rằng dòng vốn FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế nước tiếp nhận là phát triển Trong khi đó, Boyd và Smith (1992) lại cho thấy dòng vốn FDI có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế do sự phân bổ nguồn lực bị sai lệch khi
có một số biến dạng trong thương mại, giá cả và những thứ khác Cũng liên quan đến
Trang 29chủ đề này, Borensztein và cộng sự (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế và kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng nguồn vốn FDI có thể là một công cụ quan trọng và là kênh chuyển giao công nghệ hiện đại, nhưng hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào nguồn vốn nhân lực ở những nước tiếp nhận nguồn vốn FDI này Kết quả nghiên cứu mối liên hệ nhân quả giữa thương mại, tăng trưởng kinh tế, và dòng vốn FDI của Liu, Burridge, Sinclair (2002) về nền kinh tế của Trung Quốc trong thời kỳ 1981 – 1997 cho thấy có mối liên hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế, dòng vốn FDI, và xuất khẩu, nhưng nghiên cứu của họ lại cho thấy bằng chứng rất yếu về mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, dòng vốn FDI, và nhập khẩu Ngược lại với nghiên cứu của Liu, Burridge, Sinclair (2002), nghiên cứu của Anthukorala (2003) lại cho ra kết quả dòng vốn FDI có tác động tích cực đến GDP và quan hệ nhân quả một chiều chạy từ GDP sang FDI ở Sri Lanka Trong khi đó, nghiên cứu của Baliamoune-Lutz (2004) tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế là tích cực và có mối quan hệ hai chiều giữa xuất khẩu và dòng vốn FDI ở Morocco Kết quả này ngụ ý rằng FDI cũng có thể thúc đẩy xuất khẩu và ngược lại Cùng cho ra kết quả nghiên cứu giống như Baliamoune-Lutz (2004), nghiên cứu của Dritsaki, Dritsaki, Adamopoulos (2004) ủng hộ mối liên hệ hai chiều giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Tuy nghiên, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế theo hướng từ dòng vốn FDI đến tăng trưởng GDP và cũng không có mối quan hệ giữa dòng vốn FDI với xuất khẩu theo hướng từ dòng vốn FDI đến xuất khẩu Khác với các kết quả nghiên cứu trên, Mamun và Nath (2005) đã tìm thấy mối quan hệ một chiều dài hạn từ xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế
ở Bangladesh
Bài nghiên cứu thực nghiệm của Kohpaiboon (2003) về sự ảnh hưởng của chế độ chính sách thương mại đối với đóng góp của dòng vốn FDI vào tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế Thái Lan Phân tích thực nghiệm được xây dựng dựa trên giả thuyết
Trang 30‘Bhagwati’, cụ thể là chế độ thúc đẩy xuất khẩu có nhiều khả năng hơn chế độ thay thế nhập khẩu để tạo ra hiệu ứng thuận lợi từ dòng vốn FDI cho các nước sở tại Những phát hiện của nghiên cứu này là phù hợp với giả thuyết ‘Bhagwati’ Một nghiên cứu khác của Yao (2006), sử dụng bộ dữ liệu bảng bao gồm 28 tỉnh của Trung Quốc trong giai đoạn 1978 - 2000 Một kết luận chính của nghiên cứu này là xuất khẩu và dòng vốn FDI là rất quan trọng đối với thành công kinh tế của Trung Quốc
Bên cạnh đó, Makki, Somwaru (2004) thực hiện nghiên cứu trên mẫu của sáu mươi sáu quốc gia đang phát triển trong thời kỳ 1971 – 2000 về sự tương tác giữa dòng vốn FDI, thương mại, và tăng trưởng kinh tế và kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dòng vốn FDI
và thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Dòng vốn FDI thường là kênh chính thông qua đó công nghệ tiên tiến được chuyển giao cho các nước đang phát triển Ngoài ra, một số tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hội nhập khu vực và nguồn vốn FDI Darrat và cộng sự (2005) trích trong Belloumi (2014) đã điều tra tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở khu vực Trung Âu và Đông Âu (CEE)
và Trung Đông và Bắc Phi (MENA) Họ phát hiện ra rằng dòng vốn FDI kích thích tăng trưởng kinh tế ở các nước gia nhập EU, trong khi tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở MENA và ở các nước không gia nhập EU là không tồn tại hoặc tiêu cực
2.3.2 Các nghiên cứu thực tiễn nền kinh tế Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa nguồn vốn FDI, thương mại, và tăng trưởng kinh tế trong số đó, Hoang, Wiboonchutikula, Tubtimtong (2010) đã sử dụng dữ liệu bảng của 61 tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2006 để nghiên cứu sự ảnh hưởng của nguồn vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự tác động tích cực và mạnh mẽ của nguồn vốn FDI lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Thêm vào đó, nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Hà Thu (2014) thực hiện phân tích mối quan hệ giữa FDI và
Trang 31tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam từ quý I năm 2004 đến quý III năm 2012 Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này chỉ ra rằng nguồn vốn FDI có tác động tích cực đến tất cả các biến có mặt trong mô hình Đặc biệt, nguồn vốn FDI tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, tổng vốn đầu tư và trình độ công nghệ Tương tự, Sử Đình Thành, Nguyễn Minh Tiến (2014) sử dụng dữ liệu bảng với 43 tỉnh thành trong giai đoạn 1997 – 2012 Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm kiểm tra: (i) Hiệu ứng lan toả của dòng vốn FDI đến các yếu tố tăng trưởng kinh tế; và (ii) Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh
tế địa phương trong dài hạn Kết quả nghiên cứu của họ khẳng định rằng nguồn vốn FDI có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế địa phương ở Việt Nam
Trang 32CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM
3.1 Tăng trưởng kinh tế
Công cuộc đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ năm 1986 với chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở cửa hợp tác với đầu tư nước ngoài Để đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước, cuối năm 1987, luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời, đánh dấu sự thay đổi mang tính bước ngoặc về nhận thức, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với ĐTNN Tiếp đến, năm 1990, luật Công ty và luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành Sau đó, luật Khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành vào năm 1994 Những luật này đã tạo tiền đề giúp nền kinh tế Việt Nam từng bước phát triển và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Biểu đồ 3.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1994 – 2018 là rất ấn tượng Trong giai đoạn này, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt mức thấp nhất là 4.77% vào năm 1999
và đạt mức tăng trưởng cao nhất (9.54%) vào năm 1995 Mức tăng trưởng của năm
1994 là 8.84% và con số này của năm 1996 và 1997 lần lượt là 9.34% và 8.15% Giai đoạn 10 năm tiếp theo, từ 1998 đến 2007, tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, trên 6% Riêng năm 1998 và 1999, tăng trưởng kinh tế lần lượt là 5.76% và 4.77% Đây là thời
kỳ nền kinh tế Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở khu vực Châu Á Sau đó, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có phần sụt giảm so với trước đó, ở mức trên 5%, do chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay, tăng trưởng kinh tế nước ta đạt mức tương đối cao, hơn 6% Riêng năm 2018, tăng trưởng kinh tế đạt mức 7.08%
Trang 333.2 Thương mại
Tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1994 –
2018 là rất cao, tổng giá trị xuất nhập khẩu của năm sau luôn cao hơn năm trước (Biểu
đồ 3.2) Ngoại trừ năm 2009, tốc độ tăng trưởng là âm Như đã giải thích ở phần trên, tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Tốc độ tăng trưởng đạt mức cao nhất (47.53%) vào năm
1996 Tốc độ tăng trưởng thương mại của năm 1994, 1995 lần lượt là 44.57% và 22.80% Trong các năm, từ năm 1997 đến năm 2000, tình hình tăng trưởng thương mại của Việt Nam có phần chậm lại do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra
ở khu vực Châu Á Từ năm 2001 đến năm 2008, tăng trưởng thương mại của Việt Nam tăng trưởng đều đặn qua các năm và đạt mức cao nhất vào năm 2007 với tốc độ tăng trưởng là 30.38% Một lần nữa, tình hình thương mại của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng rất nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, dẫn đến tình hình tăng trưởng thương mại bị âm và đây cũng là năm duy nhất mà tình hình tăng trưởng thương mại của Việt Nam bị âm trong cả giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2018 Nhưng ngay sau đó, tăng trưởng thương mại của Việt Nam đã tăng trở lại trong năm 2010 và
2011 với mức tăng trưởng trên 20% Từ năm 2012 đến năm 2017, tình hình thương
Trang 34mại có phần chậm lại và đạt mức cao nhất trong khoảng thời gian này là 18.28% vào năm 2017 Riêng năm 2018, số liệu về tình hình thương mại chỉ là sơ bộ nên chưa phản ánh được cụ thể về thương mại của Việt Nam trong năm này
3.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nguồn vốn FDI được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế, lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2017 (Bảng 3.1) như sau: tổng số dự án được cấp phép là 24,803
dự án với tổng vốn đăng ký là 319,613.20 triệu USD Trong đó số dự án được cấp phép nhiều nhất rơi vào khu vực công nghiệp chế biến chế tạo với 12,460 dự án, chiếm 50.24% trong tổng số dự án được cấp phép trong giai đoạn này Đồng thời, tổng nguồn vốn đăng ký của khu vực này là 186,514.20 triệu USD, chiếm 58.36% tổng nguồn vốn đăng ký Kế đến, lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác với số dự án được cấp phép là 2,805 dự án, chiếm 11.31% tổng số dự án được cấp phép nhưng chỉ chiếm 1.94% tổng vốn đăng ký Đứng thứ ba về số lượng dự
án được cấp phép là lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ Tổng số
dự án được cấp phép là 2,478, chiếm 9.99%, nhưng số vốn đăng ký thì khá nhỏ, 3,096.30 triệu USD tương đương 0.97% tổng vốn đăng ký Hai lĩnh vực có cả số lượng
dự án được cấp phép thấp và số vốn đăng ký cũng thấp là cung cấp nước, hoạt động
Trang 35quản lý và xử lý rác thải, nước thải và lĩnh vực hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm Số lượng dự án được cấp phép của hai lĩnh vực này lần lượt là 68 và 81, chiếm tỷ
lệ lần lượt là 0.27% và 0.33% trong tổng số dự án được cấp phép Đồng thời, tỷ lệ vốn đăng ký của hai lĩnh vực này lần lượt là 0.73% và 0.47% trong tổng vốn đăng ký Bảng 3.1 – Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép phân theo ngành kinh tế (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2017)
(triệu USD), (*)
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước
nóng, hơi nước và điều hoà không khí
Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý
rác thải, nước thải
Hoạt động chuyên môn, khoa học và công
nghệ
Trang 36Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 298 527.1
Trang 37CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ được phân tích theo mô hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag – ARDL) được phát triển bởi Pesaran and Shin (1999); Pesaran và cộng sự (2001) Tính ưu việt của mô hình ARDL ở chỗ mô hình ARDL rất phù hợp để phân tích mối quan hệ đồng liên kết trong trường hợp mẫu nghiên cứu có số lượng quan sát hạn chế Hơn nữa, mô hình ARDL sử dụng được ngay
cả trong trường hợp các biến không cùng mức liên kết bậc 1, I(1) hoặc I(0) Một ưu điểm khác là bằng cách áp dụng kỹ thuật ARDL, chúng ta có được các ước lượng không chệch của mô hình dài hạn Do đó, ARDL được coi là một phương pháp mạnh trong nghiên cứu mối quan hệ đồng liên kết của các chuỗi thời gian (Harris and Sollis, 2003) được trích trongBelloumi (2014)
Quy trình phân tích số liệu theo mô hình ARDL được thực hiện qua các bước sau: Trước tiên, do kiểm định mối quan hệ đồng liên kết dựa trên giả định rằng các biến trong mô hình có mối liên kết I(0) hoặc I(1) Cho nên điều cần thiết là phải thực hiện kiểm tra nghiệm đơn vị (kiểm tra tính dừng) của các biến trong mô hình để đảm bảo rằng các biến trong mô hình không liên kết ở bậc 2, I(2) Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp kiểm định Augmented Dickey–Fuller (ADF) và phương pháp Phillips-Perron (PP) để thực hiện việc kiểm tra nghiệm đơn vị đối với các biến trong
mô hình Sau đó, bài nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ tiêu Akaike Information Criterion – AIC, để lựa chọn bậc trễ tối ưu của các biến cho mô hình ARDL Tiếp đến là việc thực hiện kiểm định mối quan hệ đồng liên kết theo cách tiếp cận của mô hình ARDL Kết quả của kiểm định mối quan hệ đồng liên kết chỉ ra rằng các biến có mối quan hệ đồng liên kết thì thực hiện việc ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model-ECM) dài hạn Nêu kết quả của kiểm định mối quan hệ đồng liên kết chỉ ra rằng các biến không có mối quan hệ đồng liên kết thì sẽ thực hiện ước lượng mô hình
Trang 38ARDL ngắn hạn Thêm vào đó, bài nghiên cứu cũng thực hiện các kiểm tra chuẩn đoán
mô hình như kiểm tra phương sai thay đổi, kiểm tra tự tương quan, kiểm tra xem mô hình có bỏ xót biến không, và kiểm tra độ ổn định của mô hình Cuối cùng, bài nghiên cứu sẽ thực hiện việc kiểm định Granger Causality và hướng tác động của các biến trong ngắn hạn
Mô hình ARDL được sử dụng trong nghiên cứu này được thể hiện như sau:
Trang 39Trong đó tất cả các biến được xác định trước đó trong Bảng 4.1 – mô tả dữ liệu, ln (.)
Là toán tử logarit, D là sai phân bậc 1 và εt là các sai số của mô hình ước lượng
4.2 Kết quả nghiên cứu
World Bank – World Development Indicators
(https://databank.worldbank.org/so urce/world-development-indicators)
K
Vốn đầu tư (capital stock) được đo bằng giá trị thực của tổng chi phí đầu tư (gross fixed capital formation-GFCF) (VND theo giá cố định)
World Bank – World Development Indicators
World Bank – World Development Indicators
Trang 40Nguồn: World Bank – World Development Indicators
Tất cả các biến trong Bảng 4.1 đều được lấy theo năm, từ năm 1994 đến 2018 và đều được chuyển sang dạng logarit tự nhiên để ước lượng
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Nguồn: Tác giả tự tính toán thông qua phần mềm Stata
Bảng 4.2 thể hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu Tất cả gồm có 5 biến và mỗi biến đều có 25 quan sát Các biến được mô tả về giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối thiểu và giá trị tối đa Cụ thể, biến tăng trưởng được đại diện bởi GDP thực bình quân đầu người và được biểu thị bằng LnY có giá trị trung bình 16.79258 với
độ lệch chuẩn là 0.3861285 Đồng thời thống kê mô tả cũng cho biết giá trị nhỏ nhất của biến tăng trưởng là 16.12617, và giá trị lớn nhất là 17.41459 Tương tự, các giá trị thông kê mổ tả cho các biến còn lại được thể hiện trong Bảng 4.2
4.2.3 Kiểm định nghiệm đơn vị