Một hiệp định thương mại thế hệ mới mà Việt Nam đã hoàn tất việc ký kết một cách thành công và mới đi vào hiệu lực trong thời gian gần đây chính là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dươn
Trang 1ĐINH QUỐC THỊNH
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐINH QUỐC THỊNH
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Đinh Quốc Thịnh – là học viên lớp Cao học Khoá 27 chuyên ngành
Tài chính, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế với đề tài “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết
quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa
học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của
một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có
thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn
khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
ĐINH QUỐC THỊNH
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
ABSTRACT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 4
1.1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
1.1.1 Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckscher – Ohlin (Lý thuyết H – O) 4
1.1.2 Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon 5
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương của Michael Porter 7
1.2 TỔNG QUAN CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP 9
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN HIỆP ĐỊNH TPP 14
CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 26
2.1 GIAI ĐOẠN 2009 – 2018 26
2.2 GIAI ĐOẠN 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2019 42
2.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI 49
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT DÀNH CHO VIỆT NAM NHẰM TẬN DỤNG TỐT HƠN HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP 54
3.1 BỐI CẢNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SẮP TỚI 54
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SẮP TỚI 55
3.2.1 Nhóm kiến nghị dành cho cơ quan ban ngành 55
Trang 53.2.2 Nhóm kiến nghị dành cho doanh nghiệp 61 3.2.3 Nhóm kiến nghị dành cho một số lĩnh vực cụ thể 63
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
(Asia-Pacific Economic Cooperation)
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations)
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) FTA Hiệp đinh thương mại tự do (Free Trade Agreement)
GDP Tổng sản phẩm quốc gia (Gross Domestic Products)
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour
Organization)
USD Đô-la Mỹ (United States dollar)
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030 41
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ các nước
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Tóm tắt vòng đời của sản phẩm theo Raymond
Hình 1.2 Lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương
Hình 2.1 Quy mô GDP Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 31 Hình 2.2 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 32 Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước và thế giới 33
Hình 2.4 Thu nhập bình quân đầu người một số nước và thế
51
Hình 2.12 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 9 tháng
Trang 9TÓM TẮT
Khởi đầu từ một đất nước nghèo trải qua giai đoạn chiến tranh dài, sau hơn 30
năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã vươn mình mạnh mẽ trở thành điểm sáng
trong phát triển kinh tế không chỉ trong khu vực mà còn cả trên thế giới Để đạt được
những bước tiến đó, Việt Nam đã tiến hành mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế, đẩy
mạnh quan hệ thương mại với các quốc gia, các khu vực trên thế giới Một hiệp định
thương mại thế hệ mới mà Việt Nam đã hoàn tất việc ký kết một cách thành công và
mới đi vào hiệu lực trong thời gian gần đây chính là Hiệp định Đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP), hay sau này thay đổi thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Đây là một hiệp định được cho kiểu mẫu của
thế kỷ XXI, với hàng loạt các điều khoản chặt chẽ, bao trùm lên cả các vấn đề mới
mà các hiệp định trước đây không có Việt Nam được đánh giá là một trong những
nước được hưởng lợi nhiều nhất từ hiệp định này Cơ hội cũng sẽ đi kèm với không
ít thách thức và rào cản, khi mà hiệp định này được quy định rất cụ thể, chi tiết và
nghiêm ngặt trong các điều khoản, mục đích là để hình thành một tiêu chuẩn mới cho
thương mại toàn cầu Việt Nam sẽ phải liên tục thay đổi, tự làm mới mình, thậm chí
còn cần phải tự phá bỏ rào cản cũ, tìm hướng đi mới để đáp ứng những tiêu chuẩn
cao cấp trong hiệp định Việc tham gia đàm phán và đi đến thống nhất chung giữa
các bên trong khoảng một thập kỷ có lẽ cũng đã để lại cho Việt Nam nhiều kinh
nghiệm quý báu, từ đó có thể rút ra những yếu tố then chốt cần quan tâm để có thể
tạo ra thêm một cuộc đổi mới Hiệp định đã thúc đẩy một số thay đổi về mặt chính
sách, tuy nhiên tác động tích cực lên nền kinh tế là chưa rõ ràng do hiệp định cần có
độ trễ nhất định Vì vậy, các nghiên cứu trong tương lai cần có thời gian quan sát dài
hơn cũng như chờ đợi những thay đổi mang tính đột phá hơn về mặt chính sách để
có những phân tích chuẩn xác và rõ ràng hơn
Từ khoá: TPP, CPTPP, phát triển, thương mại, kinh tế Việt Nam
Trang 10ABSTRACT
Begin from a poor country after a long war time, after more than 30 years of renovation and development, Vietnam has risen up and became a bright spot about development not only in regional area but also on global position In order to attain such progress, Vietnam has opened its market, actively commenced international integration, promoted commercial relationship with countries and regions all over the world One new trade agreement that Vietnam has successfully concluded and just came into effect recently is Trans-Pacific Partnership (TPP), which afterwards changed into Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership (CPTPP) This agreement is seen as model for 21st century, with a bunch of tight provisions, covering even new issues which were not included in past ones Vietnam is appraised with most benefits from this agreement Chances will bring along challenges and barriers, as this agreement was strictly and detailedly regulated, to form a new standard for global trade Vietnam will have to continuously renew itself, even need
to break its own box, find a new way to adapt to high standard of the agreement The fact that negotiation and conclusion took around a decade between members must have left many experience for Vietnam, then importance points can be drawn out for better attention for a new renovation The agreement has made some changed on policies, however, the positive impacts on the economy are not clear as the agreement needs a specific lag time Therefore, future researches should have a longer observation period as well as wait for remarkable changes in policies in order to output more precise and clearer analysis
Keywords: TPP, CPTPP, development, trade, Vietnam economy
Trang 11MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Khởi đầu từ một đất nước nghèo trải qua giai đoạn chiến tranh dài, sau hơn 30 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã vươn mình mạnh mẽ trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế không chỉ trong khu vực mà còn cả trên thế giới Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, không những thế còn bị bao vây và cấm vận, Việt Nam
đã xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên đạt ngưỡng thu nhập trung bình, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng
để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đạt được những bước tiến đó, Việt Nam đã tiến hành mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh quan hệ thương mại với các quốc gia, các khu vực trên thế giới Một hình thức thường thấy chính là các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, các hiệp định đối tác chiến lược Trong đó, một hiệp định thương mại thế hệ mới mà Việt Nam
đã hoàn tất việc ký kết một cách thành công và mới đi vào hiệu lực trong thời gian gần đây chính là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hay sau này thay đổi thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, được ký chính thức vào tháng
02 năm 2016, dự kiến có hiệu lực vào năm 2018, là một hiệp định thương mại tự do bao gồm 12 thành viên là Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam Tuy nhiên đến đầu năm 2017, Mỹ
đã chính thức tuyên bố rút khỏi TPP, vì vậy mà hiệp định này đã không thể có hiệu lực do không thể đáp ứng được điều kiện cần thiết Sau đó, các thành viên còn lại đã thống nhất tiếp tục theo đuổi hiệp định mà không có Mỹ Tháng 01 năm 2018, các nước đã ra tuyên bố đổi tên hiệp định thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
Trang 12xuyên Thái Bình Dương CPTPP và ký kết chính thức vào tháng 03 năm 2018 Sau khi Úc phê chuẩn CPTPP vào ngày 31 tháng 10 năm 2018, CPTPP chính thức có hiệu lực bắt đầu từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 Đây là một hiệp định được cho kiểu mẫu của thế kỷ XXI, với hàng loạt các điều khoản chặt chẽ, bao trùm lên cả các vấn đề mới mà các hiệp định trước đây không có Không những thế, nó còn được kỳ vọng
sẽ là nền tảng tham khảo hữu ích cho các hiệp định mang tầm vóc khu vực giai đoạn sau này, đơn cử như Hiệp định Thương mại Tự do châu Á – Thái Bình Dương FTAAP thuộc diễn đàn APEC, hay vòng đàm phán Doha của Liên Hợp Quốc
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước được hưởng lợi nhiều nhất
từ hiệp định này Từ việc có thêm một thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hoá dịch
vụ, cho đến những ưu đãi thuế về mức 0% cho hầu hết mọi mặt hàng, điều này được xem là một cơ hội lớn cho một đất nước chú trọng hoạt động xuất nhập khẩu như Việt Nam Việc Mỹ rút ra khỏi hiệp định vào những thời khắc cuối được coi như một sự kiện khá đáng tiếc, khi đây là nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới Không những thế,
cơ hội cũng sẽ đi kèm với không ít thách thức và rào cản, khi mà hiệp định này được quy định rất cụ thể, chi tiết và nghiêm ngặt trong các điều khoản, mục đích là để hình thành một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu Việc tham gia đàm phán và đi đến thống nhất chung giữa các bên trong khoảng một thập kỷ có lẽ cũng đã để lại cho Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu, từ đó có thể rút ra những yếu tố then chốt cần quan tâm để có thể tạo ra thêm một cuộc đổi mới Nắm bắt được tính cấp thiết cùng với mong muốn có một nghiên cứu về đề tài này, tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là: “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam”
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung vào tìm hiểu, phân tích và đánh giá các tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) lên những khía cạnh về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tìm ra những khó khăn, bất cập, hạn chế còn tồn tại để từ đó
đề xuất các chính sách, phương án nhằm tận dụng hiệu quả và tối đa hoá lợi ích có thể đạt được từ hiệp định này
Trang 13Câu hỏi nghiên cứu
- Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tác động như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ năm 2009 đến tháng 09 năm 2019?
- Việt Nam cần làm gì để có thể tận dụng tối đa các cơ hội và hoá giải những thách thức do hiệp định này mang đến?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những ảnh hưởng từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: nền kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2009 đến tháng
09 năm 2019 Năm 2009 là năm mà Việt Nam bắt đầu tham gia vào các vòng đàm phán của Hiệp định TPP
Phương pháp nghiên cứu
- Thông tin, dữ liệu cần thu thập: tổng sản phẩm nội địa, thu nhập bình quân đầu người, kim ngạch xuất nhập khẩu và các chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác cùng với các chính sách của Việt Nam giai đoạn 2009 đến tháng 09 năm 2019
- Nguồn của thông tin, dữ liệu: website và các báo cáo của Chính phủ và các
bộ ngành, Cục Thống kê, Thông tấn xã và các cổng thông tin điện tử các cơ quan có liên quan, Ngân hàng Thế giới (WB), Liên Hợp Quốc (UN), v.v
- Kỹ thuật thu thập và phân tích số liệu: luận văn sử dụng các phương pháp
mô tả, so sánh, phân tích định tính với thông tin và số liệu thứ cấp được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Tổng quan về thương mại quốc tế, Hiệp định TPP/CPTPP và các nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Những ảnh hưởng của Hiệp định TPP/CPTPP đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Chương 3: Những đề xuất dành cho Việt Nam nhằm tận dụng tốt hơn Hiệp định TPP/CPTPP
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1.1 Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckscher – Ohlin (Lý thuyết H – O)
Trong lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế so sánh của David Ricardo, hai nhà kinh tế học đã mô tả được sản lượng có thể gia tăng nếu hai quốc gia chuyên môn hoá sản xuất vào các sản phẩm mà họ có lợi thế Lợi thế tuyệt đối mà Adam Smith nêu lên chính là lượng sản phẩm được sản xuất ra nhiều hơn với cùng một nguồn lực Trong khi đó, David Ricardo nhấn mạnh tới năng suất lao động
và lập luận rằng những sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nước là ngụ ý về lợi thế so sánh Hai lý thuyết trên còn khá nhiều hạn chế, vì vậy hai nhà kinh tế học
là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã cho ra đời Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố (Lý thuyết
H – O) nhằm đưa ra cách giải thích khác về lợi thế so sánh Hai ông đã lập luận rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất
Lý thuyết H – O cho rằng trong tiến trình sản xuất người ta phải phối hợp các yếu tố sẵn có theo nhiều tỷ lệ khác nhau Các yếu tố sẵn có được đề cập ở đây là mức
độ mà một quốc gia có sẵn các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn Các nước có
độ sẵn có các yếu tố là khác nhau, và sự sẵn có các yếu tố khác nhau đó giải thích sự khác biệt về giá cả của các nhân tố, độ dồi dào của nhân tố càng lớn thì giá cả của nhân tố đó càng rẻ Cụ thể, đất nhiều thì giá thuê đất càng rẻ, vốn nhiều thì lãi suất thấp, thất nghiệp nhiều thì tiền lương thấp Chi phí thấp sẽ giúp các nước sản xuất và xuất khẩu sản phẩm sử dụng nhân tố sản xuất dư thừa và do đó sẽ rẻ hơn Nhưng giá sản phẩm khác nhau không chỉ phụ thuộc vào sự khác biệt trong giá cả các yếu tố đầu vào mà còn phải kể đến kỹ thuật sản xuất và sự phối hợp các yếu tố sản xuất, mỗi thứ hàng có hàm số sản xuất riêng, mỗi quốc gia có kỹ thuật sản xuất riêng
Nội dung cơ bản của Lý thuyết H – O là: “Một quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất để xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối, đổng thời nhập khẩu trở lại sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó khan hiếm tương đối” Theo đó, nguồn lực sản xuất vốn có của mỗi quốc gia quy định sự khác
Trang 15nhau về yếu tố sản xuất dư thừa tương đối, dẫn đến sự khác nhau về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia, tạo nên sự khác biệt về giá cả sản phẩm Đây là nguồn gốc để xác định lợi thế so sánh và mô hình mậu dịch của mỗi quốc gia Một ví
dụ có thể thấy là Mỹ, với sự dồi dào về diện tích đất có thể canh tác đã trở thành một nước xuất khẩu lớn về hàng nông sản Hay ngược lại, Trung Quốc nổi trội về xuất khẩu những hàng hoá được sản xuất trong những ngành thâm dụng lao động như là dệt may và giày dép, điều này phản ánh mức độ dồi dào tương đối của Trung Quốc
về lao động giá rẻ Trong khi đó Mỹ vốn không có nhiều lao động giá rẻ, từ lâu đã là nước nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng này
1.1.2 Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon
Raymond Vernon là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về vòng đời sản phẩm vào giữa thập kỷ 1960 của thế kỷ trước Lý thuyết của ông dựa trên những quan sát thực
tế là trong suốt thế kỷ XX một tỷ lệ rất lớn các sản phẩm mới của thế giới đã được phát triển bởi các công ty Mỹ và được tiêu thụ ban đầu tại thị trường Mỹ (ví dụ như sản xuất ô tô ở quy mô công nghiệp, máy thu hình, máy ảnh chụp lấy ngay, máy photocopy, máy tính cá nhân, và các chíp bán dẫn) Để giải thích thực tế này, Raymond Vernon lập luận rằng sự thịnh vượng và quy mô của thị trường Mỹ đã mang lại cho các công ty Mỹ một động lực rất lớn đề phát triển các sản phẩm tiêu dùng mới Thêm vào đó, chi phí nhân công cao ở Mỹ cũng khiến cho các công ty Mỹ có lý do
để sáng chế ra các quy trình công nghệ tiết kiệm chi phí sản xuất
Raymond Vernon đã lập luận rằng ở giai đoạn đầu trong vòng đời của một sản phẩm mới điển hình, khi nhu cầu đang bắt đầu tăng cao một cách nhanh chóng ở Mỹ thì nhu cầu tại các nước tiên tiến khác chỉ giới hạn ở một số nhóm khách hàng có thu nhập cao mà thôi Do nhu cầu ban đầu tại các nước tiên tiến khác còn hữu hạn vậy nên các công ty chưa thấy cần thiết phải đầu tư vào sản xuất tại các nước này, nhưng vẫn thấy cần thiết phải xuất khẩu một số sản phẩm từ Mỹ sang các thị trường đó
Theo thời gian, nhu cầu đối với sản phẩm mới sẽ tăng dần tại các nước phát triển khác ngoài Mỹ (ví dụ như Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản) cho đến khi các nhà sản xuất tại đó thấy đã đến lúc phải tiến hành sản xuất để phục vụ cho thị trường nước
Trang 16mình Thêm nữa, các công ty Mỹ cũng có thể sẽ thiết lập các dây chuyền sản xuất tại các nước phát triển có nhu cầu đang tăng nhanh và như vậy, quá trình sản xuất tại các nước này bắt đầu hạn chế bớt tiềm năng xuất khẩu từ nước Mỹ
Khi thị trường ở Mỹ và một số nước phát triển khác trở nên bão hoà thì sản phẩm mới cũng đạt tới mức độ tiêu chuẩn hoá, và giá cả bắt đầu trở thành vũ khí cạnh tranh chủ yếu trên thị trường Khi điều này xảy ra, những cân nhắc về chi phí bắt đầu đóng một vai trò lớn hơn trong quá trình cạnh tranh Các nhà chế tạo tại các nước phát triển nơi mà chi phí lao động thấp hơn so với chi phí lao động tại Mỹ (ví dụ như
Ý, Tây Ban Nha) bây giờ có thể sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Nếu các sức ép về chi phí trở nên mạnh hơn nữa thì quá trình cũng sẽ không dừng ở đó Chu kỳ theo đó nước Mỹ đánh mất lợi thế của mình cho các nước phát triển khác có thể tiếp tục lặp lại một lần nữa, khi các nước đang phát triển (ví dụ như Thái Lan) bắt đầu có được những lợi thế sản xuất so với các nước phát triển Do vậy, chu kỳ của sản xuất toàn cầu sẽ theo trật tự: bắt đầu từ Mỹ chuyển sang các nước phát triển khác và tiếp đó là từ những nước này chuyển sang các nước đang phát triển
Hình 1.1 Tóm tắt vòng đời của sản phẩm theo Raymond Vernon
Theo thời gian, kết quả của những xu hướng này đối với các mô hình trao đổi của thương mại thế giới là một nước xuất khẩu sản phẩm sẽ trở thành một nước nhập
Giai đoạn đầu
Nước đi đầu (phát minh sản
phẩm mới) chiếm ưu thế cạnh
tranh và dẫn đầu về xuất khẩu
Giai đoạn hai Sản xuất tại chỗ ở các nước nhập khẩu tăng, xuất khẩu của nước đi đầu giảm tương ứng
Giai đoạn cuối
Sản xuất được di chuyển đến cả
một số nước đang phát triển, nơi
có chi phí thấp nhất
Giai đoạn ba Các nước công nghiệp có chi phí
rẻ hơn tăng sản xuất để xuất khẩu trở lại nước đi đầu
Trang 17khẩu khi quá trình sản xuất được tập trung tới những địa điểm ở nước ngoài có chi phí sản xuất thấp hơn Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon có thể được tóm tắt trong hình 1.1
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương của Michael Porter
Michael Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó Đây là kết quả nghiên cứu chuyên sâu của Michael Porter và các cộng sự nhằm tìm hiểu về
sự thành công và thất bại của một số quốc gia trong thương mại quốc tế Bốn thuộc tính lớn trong mô hình của Michael Porter bao gồm:
- Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Michael Porter đã phân cấp các yếu tố sản xuất thành hai nhóm gồm các yếu tố cơ bản (ví dụ như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực) và các yếu tố tiên tiến (ví dụ như
cơ sở hạ tầng truyền thông, lao động có kỹ năng và trình độ cao, các bí quyết công nghệ) Không giống như nhóm yếu tố cơ bản được ưu đãi một cách tự nhiên, nhóm yếu tố tiên tiến thường được hình thành trên cơ sở các yếu tố cơ bản thông qua các hoạt động đào tạo cơ bản và nâng cao, cải thiện trình độ kiến thức và kỹ năng chung cũng như kích thích nghiên cứu tiên tiến Michael Porter cũng lập luận rằng các yếu tố tiên tiến có vai trò quan trọng hơn
- Các điều kiện về nhu cầu: Michael Porter nhấn mạnh tới vai trò của cầu trong nước trong việc giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh của quốc gia Thông thường, các công ty thường tỏ ra nhạy cảm nhất với những nhu cầu của những khách hàng ở gần với họ nhất Vì vậy, nhu cầu nội địa cao cấp sẽ đặt ra chuẩn mực buộc các doanh nghiệp sáng tạo đổi mới, cải tiến chất lượng và hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh Cũng vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn cao đối với những sản phẩm và dịch vụ đòi hỏi các công ty muốn thành công trên thị trường nước ngoài củng phải liên tục thay đổi, cải thiện để đáp ứng những tiêu chuẩn này
Trang 18- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan: Những lợi ích của việc đầu
tư vào các yếu tố sản xuất tiên tiến bởi các ngành hỗ trợ và liên quan có thể sẽ lan tỏa sang một ngành, từ đó giúp ngành này đạt được một vị trí cạnh tranh vững mạnh Các mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa các ngành giúp cho các ngành phát huy được thế mạnh kết hợp, tăng được khả năng cạnh tranh của từng ngành trong cụm công nghiệp đó Cụ thể là các ngành hỗ trợ có thể giúp các công ty nhận thức được các phương pháp mới và những cơ hội mới để ứng dụng công nghệ mới Quá trình trao đổi thông tin sẽ diễn ra mạnh hơn giữa chúng và các hoạt động phối hợp nghiên cứu và triển khai, phối hợp giải quyết các vấn đề sẽ thúc đẩy các công ty gia tăng khả năng thích ứng với các cơ hội
và vấn đề Đây là quá trình gia tăng khả năng cạnh tranh về lâu dài
- Chiến lược, cấu trúc công ty và môi trường cạnh tranh: Chiến lược của công ty có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh trong tương lai bởi vì các mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức công ty trong các ngành công nghiệp khác nhau rất lớn giữa các quốc gia Yếu tố này liên quan đến hoạt động đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm
và thị trường của từng công ty và cả ngành Khả năng cạnh tranh quốc gia là kết quả của sự kết hợp hợp lý giữa các lựa chọn này với các nguồn lực của lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các công ty trong một nước càng gay gắt thì khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty đó càng cao Các đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành gây sức ép lẫn nhau đối với việc giảm chi phí, cải thiện chất lượng, giá cả và sáng tạo ra các sản phẩm và các quá trình mới Điều này kích thích hoạt động đổi mới để vượt qua mối lo ngại bị tụt hậu trong quá trình vượt lên phía trước
Ngoài bốn nhóm yếu tố trên, cơ hội và vai trò của chính phủ là những yếu tố tác động rất quan trọng đến khả năng cạnh tranh Điều kiện về yếu tố sản xuất có thể
bị ảnh hưởng bởi các khoản trợ cấp, các chính sách đối với thị trường vốn, các chính sách đối với giáo dục, v.v Chính phủ có thể xác lập nhu cầu nội địa thông qua các
Trang 19tiêu chuẩn sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hoặc ảnh hưởng tới nhu cầu của người mua hàng Chính sách của chính phủ có thể tác động tới các ngành hỗ trợ và liên quan thông qua các quy định và ảnh hưởng tới đối thủ cạnh tranh thông qua các công cụ như quy định trên thị trường vốn, chính sách thuế, và luật chống độc quyền Các cơ hội thường tạo ra những thay đổi đột ngột và làm thay đổi vị thế cạnh tranh Các cơ hội có thể làm vô hiệu hoá các lợi thế của đối thủ cạnh tranh được hình thành trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty của một quốc gia mới có thể loại
bỏ chúng để đạt được lợi thế cạnh tranh khi có các điều kiện mới và khác trước
Theo lý thuyết của Michael Porter, các nước nên xuất khẩu những sản phẩm của những ngành mà tại đó cả bốn thành phần của mô hình kim cương có điều kiện thuận lợi, và nhập khẩu trong những lĩnh vực tại đó các thành phần không có điều kiện thuận lợi Mô hình kim cương của Michael Porter được tóm tắt trong hình 1.2
Hình 1.2 Lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương của Michael Porter
1.2 TỔNG QUAN CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP là một hiệp định thương mại
tự do bao gồm 12 thành viên là Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia,
Chiến lược, cấu trúc công ty và môi trường cạnh tranh
Điều kiện về các
yếu tố sản xuất
Các điều kiện về nhu cầu
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan Chính phủ
Chính phủ
Trang 20Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam Tiền thân của TPP là Hiệp định Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPSEP hay P4) do Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký kết vào năm 2005 và đi vào hiệu lực năm 2006 Đến tháng 02 năm 2008, Mỹ chính thức tham gia vào các vòng thảo luận TPP Sự tham gia của Mỹ đã kéo thêm các thành viên khác tham gia là Úc, Peru và Việt Nam vào tháng 11 năm 2008 Đến tháng 10 năm 2010, thành viên tiếp theo gia nhập là Malaysia Sau đó, đến tháng 10 năm 2012, Canada và Mexico chính thức gia nhập Và đến tháng
05 năm 2013, thành viên cuối cùng là Nhật Bản đã gia nhập các vòng thảo luận Hiệp định TPP được ký chính thức vào tháng 02 năm 2016, dự kiến có hiệu lực vào năm
2018 Tuy nhiên đến tháng 01 năm 2017, Mỹ đã chính thức tuyên bố rút khỏi TPP,
vì vậy mà hiệp định này đã không thể có hiệu lực do không thể đáp ứng được điều kiện cần thiết Sau đó, vào tháng 05 năm 2017, các thành viên còn lại đã thống nhất tiếp tục theo đuổi hiệp định mà không có Mỹ Tháng 01 năm 2018, các nước đã ra tuyên bố đổi tên hiệp định thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP hay TPP-11) và ký kết chính thức vào tháng 03 năm 2018 Sau khi Úc phê chuẩn CPTPP vào ngày 31 tháng 10 năm 2018, CPTPP chính thức có hiệu lực bắt đầu từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 theo như điều kiện trong hiệp định Tính đến hết 2018, đã có 7 thành viên phê chuẩn CPTPP theo thứ tự là Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada, Úc và Việt Nam (Việt Nam chính thức phê duyệt CPTPP vào ngày 15 tháng 11 năm 2018) Cơ quan lưu chiểu được chỉ định là Chính phủ New Zealand Ngày hiệp định chính thức đi vào hiệu lực đối với Việt Nam là ngày 14 tháng 01 năm 2019
Một số nội dung chính trong TPP/CPTPP
Sau khi TPP không thể đi vào hiệu lực, CPTPP tiếp nối hầu như toàn bộ các cam kết của TPP ngoại trừ các cam kết riêng của Mỹ hoặc với Mỹ, tạm hoãn một số cam kết trong các chương, và sửa đổi/điều chỉnh một số thư song phương giữa các thành viên
Tất cả các hiệp định song phương giữa các thành viên và các hiệp định khu vực đang đàm phán sẽ có hiệu lực song song với CPTPP, kể cả WTO
Trang 21Các thành viên đã cam kết xoá bỏ thuế quan cho Việt Nam ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với 78% đến 95% số dòng thuế, và 97% đến 100% số dòng thuế khi đến cuối lộ trình Lộ trình xoá bỏ thuế là 5 đến 10 năm cho hàng hoá thông thường, trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan cho hàng hoá nhạy cảm
Về phía mình, Việt Nam đưa ra biểu thuế ưu đãi áp dụng chung cho các thành viên khác, cam kết loại bỏ 65.8% số dòng thuế ngay khi CPTPP có hiệu lực, 86.5%
số dòng thuế vào năm thứ 4, 97.8% vào năm thứ 11, phần còn lại có lộ trình tối đa vào năm thứ 16 hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan
Đối với một số sản phẩm đặc thù như tạm nhập tái xuất, sản phẩm CNTT, tài nguyên thiên nhiên, nông sản, có các cam kết về không đánh thuế xuất nhập khẩu, tuy nhiên các thành viên vẫn có quyền bảo lưu đối với các trường hợp cụ thể Các thành viên cũng không được ban hành hoặc duy trì các biện pháp cấm xuất nhập khẩu trừ khi có cam kết hoặc ngoại lệ, và phải chấp hành nghiêm túc nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với các thành viên khác
CPTPP xem hàng hoá là có xuất xứ CPTPP khi: (a) có xuất xứ thuần tuý, (b) được sản xuất toàn bộ trong CPTPP và chỉ từ nguyên liệu có xuất xứ CPTPP hoặc, (c) hàng hoá được sản xuất tại CPTPP, sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ CPTPP nhưng đáp ứng được các quy tắc xuất xứ cụ thể Có 3 phương pháp xác định xuất xứ là: (i) quy tắc chuyển đổi mã hàng hoá (CTC), (ii) quy tắc hàm lượng giá trị nội khối (RVC) và (iii) quy tắc công đoạn chế biến Lưu ý là có thể kết hợp các phương pháp khi xác định cho từng loại hàng hoá Một số trường hợp được miễn chứng nhận xuất
xứ khi có giá trị hải quan không quá $1,000 hoặc thuộc diện xuất khẩu nhiều lần cùng một loại hàng hoá
CPTPP có một chương riêng dành cho Dệt may do đây là ngành quan trọng đối với một số thành viên Quy tắc xuất xứ chủ đạo là “yarn-forward” (“từ sợi trở đi”) Đồng thời có một khái niệm quan trọng là Tỷ lệ tối thiểu (De minimis) quy định khối lượng các nguyên liệu không đáp ứng xuất xứ CPTPP không được quá 10% tổng khối lượng sản phẩm Tuy nhiên, cũng có các ngoại lệ linh hoạt trong một số trường hợp, cũng như danh mục một mặt hàng thuộc nguồn cung thiếu hụt tạm thời hoặc vĩnh viễn vẫn sẽ được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan
Trang 22Về vấn đề đầu tư, CPTPP có quy định khá rõ ràng về các nguyên tắc đầu tư, bao gồm: (i) các nguyên tắc về mở của thị trường và xoá bỏ rào cản đầu tư (gồm các nguyên tắc về không phân biệt đối xử NT và MFN, nguyên tắc liên quan tới “Các yêu cầu về hoạt động”, và nguyên tắc liên quan tới “Nhân sự quản lý cao cấp và Ban lãnh đạo”), (ii) nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư (gồm nguyên tắc chuẩn đối xử tối thiểu MST, nguyên tắc bảo vệ tài sản của nhà đầu
tư trước các biện pháp tịch thu, cưỡng chế, quốc hữu hoá, và nguyên tắc đảm bảo việc chuyển vốn tự do), và (iii) các bảo lưu và ngoại lệ được CPTPP thừa nhận trong đối
xử với nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, CPTPP còn có một phần riêng quy định rất chi tiết về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư (ISDS)
Đối với DNNN, các nguyên tắc áp dụng chung gồm: (a) phải hoạt động dựa trên tính toán thương mại thuần tuý, (b) không được phân biệt đối xử khi mua bán hàng hoá, dịch vụ và, (c) phải tuân thủ các nghĩa vụ của hiệp định khi được nhà nước
uỷ quyền Hơn nữa, CPTPP cũng đề ra những nguyên tắc dành cho nhà nước khi quản
lý và kiểm soát DNNN gồm: (a) không hỗ trợ phi thương mại riêng đến mức gây ra tác động tiêu cực đến lợi ích của thành viên khác, (b) cơ quan nhà nước phải hành xử khách quan trong quản lý và điều hành, (c) toà án nội địa phải xử lý các khiếu kiện với DNNN nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ của mình và, (d) minh bạch hoá các thông tin cơ bản về DNNN
Về vấn đề sở hữu trí tuệ, CPTPP đã đưa ra những cam kết cụ thể về tiêu chuẩn bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cho nhãn hiệu thương mại (trade mark), chỉ dẫn địa
lý, sáng chế, quyền tác giả và kiểu dáng công nghiệp Song song đó, có cam kết về
sở hữu trí tuệ cho một số sản phẩm đặc thù như nông hoá phẩm và dược phẩm Bên cạnh đó, CPTPP cũng đặt ra các yêu cầu chi tiết về các nguyên tắc và thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ, quy định rõ về các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp xử lý hình sự tương ứng
Đối với một số lĩnh vực như quản lý hải quan, phòng vệ thương mại, an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), nhập cảnh tạm thời, lao động, mội trường, minh bạch hoá và chống tham
Trang 23nhũng, giải quyết tranh chấp, CPTPP khẳng định lại các nguyên tắc trong các hiệp định của WTO, các công ước của Liên Hợp Quốc và của các tổ chức có liên quan Tuy nhiên, CPTPP cũng có đưa ra thêm một số quy định chi tiết và chặt chẽ hơn
Đối với các lĩnh vực thương mại dịch vụ xuyên biên giới, dịch vụ tài chính, thương mại điện tử, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, CPTPP xây dựng các quy định và cam kết dựa trên các nguyên tắc chung như Đối xử quốc gia (NT), Đối
xử tối huệ quốc (MFN), công bằng và minh bạch, mở cửa thị trường, bảo vệ người tiêu dùng, chia sẻ thông tin
Ngoài ra, CPTPP cũng sẽ thành lập và vận hành một số uỷ ban chuyên môn như uỷ ban về môi trường, uỷ ban về DNNVV như những đầu mối để xúc tiến hợp tác giữa các thành viên
Một số điểm đáng chú ý trong TPP/CPTPP
Chứng nhận xuất xứ theo CPTPP không có mẫu cố định, tuy nhiên cần phải
có đầy đủ thông tin theo quy định, có thể theo dạng văn bản hoặc điện tử Chứng nhận còn cho phép người nhập khẩu, người xuất khẩu hay người sản xuất đều có thể tự chứng nhận, khác với nhiều FTA khác
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, có các cam kết không yêu cầu đặt hệ thống máy chủ ở nước sở tại thì mới được hoạt động, và cam kết cho phép truyền thông tin qua biên giới bằng phương tiện điện tử
Đối với mua sắm chính phủ, hình thức chỉ định thầu chỉ được áp dụng trong rất ít các trường hợp theo quy định, và mỗi trường hợp đều đi kèm các điều kiện rất chi tiết và cụ thể
Việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin DNNN được xem như một bước tiến lớn về minh bạch hoá vì hiện nay thông tin này ở Việt Nam không được công bố
Các DNNVV được CPTPP quan tâm nhằm giúp nhóm này có thể tiếp cận được thông tin và tận dụng tốt các lợi ích từ CPTPP Cam kết về DNNVV cũng nằm rải rác trong nhiều chương
Cơ chế đảm bảo thực thi trong CPTPP đa dạng và chặt chẽ hơn so với WTO, giúp các thành viên tăng khả năng giám sát việc thực thi của các thành viên khác, đồng thời cũng đặt mỗi thành viên dưới áp lực phải thực thi đúng theo CPTPP
Trang 24Những cơ hội từ Hiệp định TPP/CPTPP
Thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
Do hiệp định đưa ra các tiêu chuẩn cao về mặt thể chế cũng như khuôn khổ pháp luật,
từ đó sẽ thúc đẩy thực hiện cải cách về thể chế, hướng đến các luật lệ quốc tế Ngoài
ra, Việt Nam còn có thể học tập, trao đổi kinh nghiệm để hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như quản lý và điều hành nền kinh tế
Tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó tạo ra cơ hội cải thiện sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, và mở rộng các ngành nghề, lĩnh vực có nhu cầu phát triển
Tạo cơ hội kinh doanh mới và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các ngành Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày và thuỷ sản
Những thách thức đến từ Hiệp định TPP/CPTPP
Áp lực từ việc điều chỉnh, sửa đổi các quy định pháp luật để thực thi các cam kết trong hiệp định Việt Nam cần phải phát triển hệ thống pháp luật lên tương xứng với các bên khác
Hàng hoá của Việt Nam sẽ chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ sản phẩm của các nước khác, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao và các sản phẩm mà Việt Nam chưa xây dựng được hàng rào kỹ thuật hoặc đã có nhưng không cao
Hiệp định còn đòi hỏi phải mở cửa thị trường ngân hàng và gây áp lực lên thu ngân sách do yêu cầu phải cắt giảm thuế nhập khẩu
Các DNNN sẽ đứng trước yêu cầu phải tái cơ cấu để hoạt động hiệu quả và minh bạch hơn Cả thị trường mua sắm công cũng sẽ phải mở cửa, từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh sòng phẳng và làm ăn chân chính
Chính phủ cũng sẽ phải đối xử công bằng, tạo sân chơi bình đẳng cho cả các loại hình doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp nước ngoài
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN HIỆP ĐỊNH TPP
Trans-Pacific Partnership or Trampling Poor Partners? A Tentative Critical Review (Tạm dịch: Đối tác xuyên Thái Bình Dương hay Giày xéo các Đối tác nghèo? Một bài phê bình thăm dò)
Tác giả: Raj Bhala, xuất bản năm 2014, xếp hạng Q4
Trang 25Bài nghiên cứu chủ yếu phân tích, đánh giá những điểm đang được thảo luận trong TPP dựa trên góc nhìn của nước Mỹ Do vấn đề đàm phán TPP được bảo mật
và không công khai nên bài nghiên cứu chỉ đưa ra những đánh giá mang tính thăm dò
và dựa trên một số ít tài liệu được công bố cũng như một vài nghiên cứu trước đó
Bài nghiên cứu mở đầu bằng việc giới thiệu về TPP, hiệp định thương mại thế
hệ mới gồm 29 chương và Phụ lục, bao gồm những vấn đề về cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan, chứng nhận xuất xứ, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, môi trường, lao động, v.v Bài nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề: một là TPP không phải một hiệp định “tự do” đơn thuần mà là “được quản lý”; hai là việc TPP tạo ra tăng trưởng kinh tế để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là chưa rõ ràng
Có 5 trụ cột chính trong TPP, bao gồm: tiếp cận thị trường (mọi lĩnh vực đều được bao quát trừ những trường hợp được miễn, tuy nhiên mỗi thành viên đều có những lĩnh vực nhạy cảm mà họ muốn bảo vệ); tính khu vực (nhấn mạnh tính khu vực của TPP, không phải song phương hay đa phương); xuyên biên giới (những vấn đề về rào cản phi thương mại, cũng như tăng cường hợp tác xuyên biên giới); tính mới lạ (một
số lĩnh vực mới như thương mại điện tử, phát triển xanh, sở hữu trí tuệ được đặt ra với những tiêu chuẩn cao); và tính sống (hiệp định sẽ được cập nhật khi cần thiết)
Hiệp định TPP được mở rộng từ một hiệp định ban đầu chỉ có 4 thành viên, sau đó số thành viên tăng lên 9, và sau cùng là lên 12 Đã có khoảng 20 vòng đàm phán tính đến hết năm 2013 Việc Nhật Bản tham gia gây khá nhiều tranh cãi do nước này đang có nhiều khúc mắc với Mỹ trong việc thoả thuận một hiệp định song phương giữa hai bên Ấn Độ đã không tham gia vì họ không muốn trở thành một “cấu trúc kinh tế mới” của Mỹ, và vì họ chưa sẵn sàng để đáp ứng các tiêu chuẩn mức độ cao của TPP Đài Loan cũng đã không tham gia do nhiều nước đề với Trung Quốc Kết nạp Đài Loan mà loại bỏ Trung Quốc được coi là một hành động không chấp nhận được đối với Đảng Cộng Sản Trung Quốc
Có bốn động lực của Mỹ khi tham gia TPP: tự do hoá cạnh tranh, tiêu chuẩn cao và toàn diện (do một số thành viên chưa có hiệp định song phương với Mỹ nên điều này được cho là cần thiết, tuy nhiên ngay cả một số thành viên đã có FTA với
Trang 26Mỹ thì họ vẫn có một số lĩnh vực nhạy cảm, điều này dẫn đến câu hỏi liệu TPP có thực sự mở rộng khả năng tiếp cận thị trường mà không cần thoả hiệp), giành lấy ảnh hưởng chiến lược tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để đối trọng với Trung Quốc, và để giảm bớt các chỉ trích rằng Mỹ có chính sách thương mại “không làm gì cả” (“do-nothing” trade policy) khi tham gia vào các vòng đàm phán TPP
Bài nghiên cứu nhấn mạnh về việc Mỹ xem TPP như một cách thức để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua việc không có Trung Quốc trong TPP, và đặt ra các tiêu chuẩn ở mức độ cao để khiến Trung Quốc phải chấp nhận mà không được đàm phán
Tuy nhiên, sự minh bạch của TPP trở thành một vấn đề đối với nhiều bên khi các thành viên theo đuổi phương thức bảo mật và công khai một lần, hiểu nôm na là
“không có gì được quyết định cho đến khi mọi thứ đều được quyết định” và chỉ công khai sau khi đã quyết định hết mọi vấn đề Điều này dẫn đến việc nhiều tổ chức, chính thể không có cơ hội tham gia góp ý
Đối với các FTA hiện hữu, TPP được xem như một phương tiện để nâng cấp các hiệp định khác
Có thể thấy, nếu Việt Nam trở thành một thành viên của TPP thì sẽ được tiếp cận với một khối thị trường rộng lớn, với các thành viên mà trước đó Việt Nam chưa
hề có hiệp định song phương như Canada, Chile và lớn nhất là Mỹ Đồng thời, Việt Nam còn có khả năng xây dựng các động lực tăng trưởng mới như thương mại điện
tử, dịch vụ tài chính xuyên biên giới Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức không nhỏ khi Việt Nam tham gia hiệp định này Mặc dù vậy, khó có thể phủ nhận khả năng Việt Nam là một công cụ trong chính sách cô lập Trung Quốc của Mỹ
The Trans Pacific Partnership (TPP)
Tác giả: V.S Seshadri, xuất bản năm 2013, xếp hạng Q4
Bài viết dựa trên góc nhìn của một nhà nghiên cứu người Ấn Độ về các vấn
đề đang trong giai đoạn đàm phán của TPP, và những hàm ý dành cho Ấn Độ
Bài nghiên cứu mở đầu bằng việc giới thiệu chung về TPP, được xem như là
“hiệp định của thế kỷ XXI với tiêu chuẩn cao” Mỹ đóng một vai trò dẫn dắt trong
Trang 27việc đàm phán TPP do hiệp định đáp ứng được rất nhiều mối quan tâm của nước này,
từ việc tự do hoá thương mại cho đến mong muốn nâng cao các tiêu chuẩn về công nghệ, dịch vụ và đầu tư Trước đó Mỹ đã từng đưa ra nhiều tiêu chuẩn cao trong FTAA, tuy nhiên lại bị phản đối bởi một số nước như Brazil Đúng lúc thì Mỹ đã nhận ra hiệp định P-4 có các tiêu chuẩn rất phù hợp với mong muốn của mình, và đã tham gia đàm phán TPP cũng được cho là sẽ giúp Mỹ cạnh tranh hiệu quả hơn với một số thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ hay Indonesia, đồng thời cũng giúp
Mỹ cân bằng sức mạnh chính trị của mình tại khu vực châu Á nhằm mục tiêu ngăn chặn sự ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc
TPP được cho là một bước đi khá tham vọng, bao gồm nhiều nền kinh tế từ phát triển, mới nổi và cả đang phát triển Các nước thành viên không chỉ xây dựng khung pháp lý cho những vấn đề truyền thống như tiếp cận thị trường, quy định thương mại, mà còn phải bao hàm các vấn đề mới như sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, đồng thời còn phải đảm bảo môi trường đầu tư và kinh doanh cạnh tranh
Một số nước cũng được trông chờ sẽ tham gia TPP như Hàn Quốc hoặc Thái Lan Tuy nhiên, tâm điểm lại là Trung Quốc khi mà TPP sẽ tạo ra nhiều ảnh hưởng đến nước này Dẫu vậy, Mỹ được cho là sẽ không chấp nhận cho Trung Quốc tham gia, khi mà nước này đang cáo buộc phía bên kia có những động thái thao túng tiền
tệ, bảo trợ sản phẩm nội địa hay thiếu sự minh bạch Trung Quốc cũng đưa ra tuyên
bố là đang tìm hiểu về hiệp định Một số ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ chờ xem những ảnh hưởng tác động đến Việt Nam, nước có nền kinh tế hoạch định từ trung ương giống Trung Quốc
Những hàm ý dành cho Ấn Độ: (a) không nhất thiết phải tham gia ngay do chưa thể đáp ứng được các tiêu chuẩn cao như vậy; (b) chưa có lời mời nào dành cho
Ấn Độ; (c) nếu TPP đi vào hiệu lực, thị phần của Ấn Độ trong các nước TPP sẽ sụt giảm; (d) đầu tư vào các nước TPP như Việt Nam hay Malaysia sẽ gia tăng thay vì
Ấn Độ; (e) nếu môi trường kinh doanh của các nước TPP trở nên tốt hơn thì các doanh nghiệp Ấn Độ tại đây cũng được hưởng lợi, nhưng sẽ có nguy cơ ngay cả họ cũng sẽ đầu tư vào đây thay vì nước nhà; (f) nếu các rào cản về nông nghiệp được giảm xuống
Trang 28thì sẽ có tác động tốt đến việc kinh doanh trong lĩnh vực này; (g) nếu TPP thành công,
Mỹ sẽ đem khuôn mẫu này áp dụng lên vòng đàm phán Doha; (h) điều trên sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành RCEP, cần hợp tác chặt chẽ với Indonesia, Trung Quốc, Philippines và Thái Lan, các nước có các quan điểm tương đồng; (i) nên trở thành một thành viên của APEC
Ngay cả Ấn Độ cũng đánh giá Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều hơn họ nếu tham gia vào Hiệp định TPP Một điểm tương đồng có thể thấy giữa hai quốc gia chính là nền kinh tế còn phát triển ở mức độ thấp, cho thấy lo lắng của Ấn Độ về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn cũng có thể đúng khi áp dụng vào Việt Nam Tuy nhiên, nếu Việt Nam chấp nhận tự thay đổi bản thân thì hiệp định này có thể tạo tiền đề cho một bước phát triển nhanh cho nền kinh tế
Trade Implications of the Trans-Pacific Partnership for ASEAN and Other Asian Countries (Tạm dịch: Hàm ý thương mại của TPP đối với ASEAN
và các nước châu Á khác)
Tác giả: Alan V Deardorff, xuất bản năm 2014, xếp hạng Q3
Bài nghiên cứu đánh giá tác động của TPP đến thương mại của các nước thành viên TPP và một số nước trong khu vực châu Á, dựa trên các dữ liệu về trao đổi thương mại từ WTO và các hiệp định FTA
Bài nghiên cứu mở đầu bằng việc giới thiệu chung về TPP như một hiệp định
“đỉnh cao, thế hệ mới của thế kỷ XXI” Điều khiến tác giả thích thú là vì có hai nền kinh tế lớn tham gia TPP, đó là Mỹ và Nhật Tác giả muốn đánh giá xem liệu TPP có ảnh hưởng chồng lấn lên các FTA hiện tại của các thành viên như thế nào
Phần một giới thiệu chung về các FTA đang hiện hành của các thành viên TPP, trong đó có các FTA song phương và cả đa phương như hiệp định chung của 10 nước ASEAN (AFTA) Tác giả đã chỉ ra rằng các FTA thông thường chỉ đơn thuần là xoá
bỏ thuế quan, còn các vấn đề khác vẫn chỉ ở mức tương đối Trong khi đó, TPP được cho là sẽ thảo luận sâu sắc hơn, chi tiết hơn về cả những vấn đề phi thương mại như
sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, lao động và môi trường, dịch vụ, đầu tư Tác giả có liệt kê ra những vấn đề sẽ được thảo luận trong TPP, đa phần là những yêu cầu
Trang 29từ phía Mỹ Một biểu đồ cho thấy quy mô GDP của các thành viên trong TPP chiếm hơn một nửa tổng số GDP của chúng cộng với một số nước châu Á khác
Trong phần hai, tác giả có thống kê các FTA đã được ký giữa các nước thuộc TPP và châu Á Tác giả đã nhận thấy rằng mức độ ký kết FTA giữa các nước là khá cao, 40 FTA trên 66 cặp quốc gia Với bốn nước vừa thuộc ASEAN vừa thuộc TPP
là Brunei, Malaysia, Singapore và Việt Nam thì mức độ ký kết hiệp định với 8 thành viên còn lại cũng là hơn một nửa Đáng chú ý, Singapore là nước duy nhất trong 4 nước này có hiệp định với Mỹ Các nước còn lại trong khối ASEAN cũng có FTA chung với Úc, Nhật và New Zealand Ngoài ra thì khối ASEAN còn có hiệp định với một số nền kinh tế lớn trong châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc
Phần ba là phân tích tác động của TPP, được mở đầu bằng việc dựa trên khái niệm về sự hình thành thương mại (trade creation) và suy giảm thương mại (trade diversion) của Viner (1950) Theo lý thuyết của Viner thì hai nước ký FTA sẽ chịu tổn thất do hiệu ứng suy giảm thương mại vì thất thu thuế Tuy nhiên, để áp dụng lên TPP thì tác giả đã chỉ ra hai thiếu sót trong lý thuyết của Viner, đó là sự giảm ưu tiên (preference erosion) và sự đảo ngược thương mại (trade reversion) Tác giả đã làm thêm hai bảng chi tiết về thị trường xuất nhập khẩu lớn của các nước nêu trong phần hai, sau đó sử dụng mô hình CGE và các thông tin giao dịch thương mại giữa các nước từ WTO để đưa ra kết quả được/mất của các nước tác động bời TPP, có thể được tóm tắt như sau:
- Úc sẽ được hưởng lợi từ TPP
- Canada, Chile, New Zealand: tuỳ thuộc vào mức độ cân bằng giữa được
và mất
- Mexico, Peru: TPP không có tác động đáng kể đến hai quốc gia này
- Nhật: tác động của TPP tương tự FTA với Mỹ nếu có trong tương lai
- Mỹ: tác động của TPP cũng là không rõ ràng
- Brunei, Malaysia, Việt Nam: sẽ được hưởng lợi do có hiệp định với Mỹ, riêng Việt Nam tác động sẽ ít hơn do Việt Nam không nhập nhiều hàng từ Mỹ như hai nước còn lại
Trang 30- Các nước còn lại trong ASEAN: trừ Myanmar thì còn lại sẽ chịu bất lợi gây ra do TPP
- Một số nước khác trong khu vực châu Á: đa số sẽ đều chịu thiệt hại do TPP gây ra, riêng Ấn Độ và Hàn Quốc thì sẽ ít nghiêm trọng hơn Trường hợp tồi
tệ nhất chính là Trung Quốc, nước này được cho là sẽ trở thành kẻ thua cuộc lớn nhất
Regionalism in Asia as Disguised Multilateralism: A Critical Analysis of the East Asia Summit and the Trans-Pacific Partnership (Tạm dịch: Chủ nghĩa khu vực dưới lớp nguỵ trang Chủ nghĩa đa phương: Một bài phân tích về Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á và TPP)
Tác giả: David Camroux, xuất bản năm 2012, xếp hạng Q2
Bài viết đưa ra cách nhìn của tác giả về khái niệm “khu vực” hay “cộng đồng” được che dấu dưới những thay đổi hướng tới chủ nghĩa đa phương, thông qua hai đề
án trong khu vực châu Á là Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) và TPP
Mở đầu, tác giả nhắc lại về hiện trạng của châu Á trong thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa đế quốc còn đang tung hoành, thì khái niệm châu Á được cho là xoay quanh mối quan hệ Trung – Ấn Tuy nhiên, sau khi Ấn Độ giành độc lập thì họ chỉ tập trung vào phát triển trong nước, mãi cho đến thập niên 90, Ấn Độ mới bắt đầu thực hiện chính sách “Hướng Đông” Lúc này, Ấn Độ được cho là đã bắt đầu gia nhập vào sự phát triển của châu Á Việc định nghĩa châu Á còn được so sánh với EU đã được thể chế hoá Tuy nhiên, các nhà học giả đã khá dè dặt khi đưa ra ý kiến về sự hội nhập nội khu vực châu Á Tác giả muốn trả lời cho câu hỏi việc hội nhập nội khu vực châu
Á là hợp tác nội khu vực và xây dựng cộng đồng chung, hay là dưới dạng chủ nghĩa song phương và chủ nghĩa đa phương, thông qua việc phân tích EAS và TPP Cả hai
đề án này đều chưa có hiệu lực thực tế, nhưng có khả năng trở thành nhân tố mới trong việc chi phối toàn cầu
Một số định nghĩa về chủ nghĩa đa phương đã được nhắc đến, chẳng hạn như
“một thể chế chung” theo John Ruggie, khi các bên đều hoạt động dựa trên các nguyên tắc đã được thống nhất hoá Tuy nhiên, định nghĩa này đã không cân nhắc
Trang 31đến vai trò của các tổ chức phi chính quyền, cũng như đã đặt điều kiện tiên quyết cho
sự tồn tại của các cơ quan điều hành Vì vậy, bài nghiên cứu này dựa trên định nghĩa của Bouchard và Peterson, rằng chủ nghĩa đa phương là “ba hoặc nhiều hơn các bên tham gia tự nguyện hợp tác quốc tế bằng các quy chuẩn và nguyên tắc, với luật lệ áp dụng bình đẳng cho mọi nước” Ngoài ra, James Caporaso cho rằng chủ nghĩa đa phương là một tổng thể các chủ nghĩa song phương, điều này khá đúng với đa số các FTA trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương hiện nay Tuy nhiên, cách hiểu về chủ nghĩa đa phương cũng sẽ thay đổi theo thời gian và tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận của từng người, mà nó sẽ là tích cực hay tiêu cực
Khác với ASEAN có tổng thư ký riêng, EAS không có tổng thư ký hay cơ quan thể chế Các cuộc gặp trong EAS thường đi kèm trong các hội nghị ASEAN, ASEAN+3 (Trung, Hàn, Nhật) cũng như các cuộc gặp song phương với Mỹ Sau này, các hội nghị đã mời thêm Ấn Độ, Úc và New Zealand, và còn dự tính sẽ thêm Nga
Do sự đối đầu trong mối quan hệ Trung-Nhật mà ASEAN được chọn là điều phối viên Tuy nhiên, trong nội bộ ASEAN cũng có sự chia rẽ trong việc mở rộng ASEAN+3 Việc phê chuẩn thêm hai thành viên mới cho EAS là Mỹ và Nga vào năm
2010 được cho là bước ngoặt trong mối quan hệ châu Á – Thái Bình Dương Tuy nhiên, điều này không hẳn là được đồng thuận giữa các bên Trong khi phía Úc ủng
hộ cho sự tham dự của Mỹ thì phía Nhật lại tỏ ra khá nước đôi về việc này Điều này được cho là ảnh hưởng của Trung Quốc khi nước này tham gia rất nhiều diễn đàn đa phương Trung Quốc đã trở thành một thế lực lớn, bằng chứng chính là trong cuộc khủng hoảng tài chính, nước này đã trở thành cứu cánh cuối cùng cho Mỹ và châu
Âu Tuy nhiên, sự mở rộng quân sự của Trung Quốc đã gây ra tâm lý e ngại trong khu vực Vì vậy, phía Mỹ đã nêu rõ quan điểm và tái khẳng định về sự hiện diện của nước này trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, như một bên không thể thiếu Ở đây, nước Nhật được cho là điểm mấu chốt khi xét về mối quan hệ Mỹ – Trung Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng kinh tế và thảm hoạ sóng thần, Nhật Bản càng theo đuổi chiến lược quốc tế hoá khu vực, để nâng cao vai trò của mình trên toàn cầu
Sau các cuộc khủng hoảng, các nhà điều hành đã đặt ra câu hỏi về sự phụ thuộc vào xuất khẩu và việc xây dựng nền kinh tế nội địa Đồng thời, một số lượng lớn FTA
Trang 32đã hình thành trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Khởi đầu từ hiệp định P-4, TPP đã được đề xuất, đánh dấu sự phát triển của FTA trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Đây được cho là sáng kiến thương mại quan trọng nhất của Mỹ ở châu
Á trong vài năm trở lại John Ravenhill đã chỉ ra 4 đặc điểm riêng biệt của TPP: liên khu vực (châu Á – Thái Bình Dương); sự trở lại châu Á mang tính chính trị của Mỹ;
nỗ lực xoay sở các chính sách khu vực; tìm cách đạt được mục tiêu của APEC là thương mại tự do giữa các thành viên; và dưới góc nhìn của bài nghiên cứu, TPP tìm cách “đa phương hoá chủ nghĩa khu vực” bằng việc cho phép gia nhập trong tương lai Tuy nhiên, phía Nhật lại không mặn mà lắm với việc tham gia TPP do sự chia rẽ trong nội bộ giữa mối quan hệ với Mỹ Dẫu vậy, Nhật đã đồng ý tham gia đàm phán sau đó, với suy nghĩ TPP có thể là công cụ để cạnh tranh với Trung Quốc Đối với Trung Quốc, nước này xem TPP như một chiến lược bao vây mình
Tóm lại, khái niệm về khu vực châu Á vẫn còn khá mù mờ Nhiều mô hình đã được nhắc đến trong việc hội nhập trong khu vực châu Á như EAS hay TPP, cái mà được Mỹ ủng hộ Và dù có là mô hình nào thì thì ASEAN vẫn ở trung tâm Bài nghiên cứu đã nhận định sự hội nhập trong khu vực bản chất không phải là mục tiêu, mà là
để che giấu cho sự hợp tác và đa phương trong khu vực châu Á (và châu Á – Thái Bình Dương) Nếu “chủ nghĩa khu vực” là một khái niệm sai lầm để đánh giá các mối quan hệ quốc tế trong châu Á thì nó vẫn còn những lợi ích khác Theo Arnold Wolfers,
đó có thể là những mục tiêu như giành lấy khả năng tiếp cận thị trường, bảo vệ chủ quyền, kìm hãm Trung Quốc, v.v Tuy nhiên, Amy Searight lại cho rằng đây là cách
Mỹ hình thành nên quy trình và nhận thức Có thể nói chủ nghĩa khu vực đang tìm cách xây dựng các chuẩn mực về hành xử đa phương trong khu vực
Multilateralising regionalism: what role for the Trans-Pacific Partnership Agreement? (Tạm dịch: Đa phương hoá chủ nghĩa khu vực: vai trò nào cho Hiệp định TPP?)
Tác giả: Ann Capling và John Ravenhill, xuất bản năm 2011, xếp hạng Q1
Bài nghiên cứu phân tích những đặc điểm của TPP mà có thể giải quyết được hiệu ứng “noodle bowl” trong khi cả WTO hay APEC đều không cho thấy hiệu quả
Trang 33Đồng thời, TPP cũng được kỳ vọng sẽ một bước ngoặt lớn trong việc tự do hoá thương mại trên cơ sở không phân biệt
Mở đầu, bài nghiên cứu nêu lên thực trạng gia tăng nhanh chóng số lượng hiệp định mại trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Các hiệp định này cũng rất khác nhau về hình thức, phạm vi và mục đích Kết quả của sự bùng nổ này là một mạng lưới dày đặc và phức tạp các luật lệ thương mại, thậm chí đôi chỗ mâu thuẫn với nhau Giữa lúc đó, TPP được đề xuất với mục tiêu trở thành một hiệp định toàn diện, chất lượng cao, đa phương để giải quyết tình trạng rối rắm trong các hiệp định thương mại hiện tại, đồng thời đạt đến mục đích của WTO và APEC trong tự do hoá thương mại
TPP bắt nguồn từ hiệp định P-4 giữa Brunei, Chile, New Zealand và Singapore Xét theo mức độ ảnh hưởng về kinh tế thì P-4 là rất nhỏ, tuy nhiên hiệp định này đã được Mỹ để ý do có nhiều điều khoản chất lượng cao, đúng với mục tiêu theo đuổi của Mỹ Sau khi Mỹ công khai ý định tham gia, Úc, Peru và Việt Nam cũng đã nhanh chân bước theo TPP được đánh giá là khác biệt hẳn so với phần còn lại trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương do 4 lý do: liên khu vực; đánh dấu sự cam kết của
Mỹ tại khu vực này; là hiệp định kiểu mới vượt qua khỏi khuôn khổ thông thường;
và được kỳ vọng sẽ “đa phương hoá chủ nghĩa khu vực”, giải quyết hiện tượng
“noodle bowl” và đáp ứng mục tiêu dài hạn của APEC về thương mại tự do
Mục tiêu chính trị của TPP được cho là việc giữ lại sự hiện diện của Mỹ tại châu Á Điều này phù hợp với mục tiêu chung trong các hiệp định thương mại mà
Mỹ có mặt (là vì mục tiêu đối ngoại và an ninh hơn là thương mại), đồng thời cũng khẳng định quyết tâm “quay lại châu Á” của chính phủ Mỹ đương thời Hơn thế nữa, điều này cũng được coi như là công cụ để kềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Mục tiêu kinh tế đầu tiên của TPP là hình thành một hiệp định kiểu mới của thế kỷ XXI Một mục tiêu kinh tế khác của TPP là đa phương hoá chủ nghĩa khu vực Mặc dù được đánh giá là có nhiều tiềm năng, tuy nhiên tác động kinh tế trực tiếp từ TPP được cho là khá hạn chế Nguyên nhân là do các nền kinh tế tham gia đã khá mở, quy mô nhỏ nếu không tính đến Mỹ, và phần nhiều cũng đã có hiệp định song phương với nhau Tuy vậy, điều quan trọng hơn so với lợi ích kinh tế ngắn hạn chính là việc
Trang 34TPP có khả năng tháo gỡ những rắc rối trong mạng lưới hiệp định thương mại hiện tại trong khu vực, giái quyết vấn đề “noodle bowl”, và “đa phương hoá chủ nghĩa khu vực” bằng cách cho phép các nền kinh tế khác gia nhập
Sự đóng góp của TPP cho công cuộc đa phương hoá bị thách thức bởi các rào cản chính trị Các doanh nghiệp khi gặp phải các rào cản hoặc bị cạnh tranh không lành mạnh, họ sẽ tiến hành vận động để chính phủ thay đổi Tuy nhiên, đối với các chính phủ theo đuổi đa mục tiêu, thì mục đích thương mại có thể không phải là trọng tâm Mặc dù giao thương có thể được thực hiện ở những nhóm hàng có thuế suất MFN bằng 0, một số nhóm hàng vẫn được áp dụng thuế MFN thay cho thuế suất trong hiệp định song phương Điều này chứng tỏ lý do kinh tế chính trị là nguyên nhân đứng sau, nhằm bảo vệ thị trường trong nước
Khác với châu Âu và Mỹ, các nước Đông Á dường như không bận tâm đến chi phí khi gia tăng số lượng các hiệp định thương mại cũng như vấn đề “noodle bowl” TPP được cho là sẽ giải quyết tình trạng này Tuy nhiên, cũng không thể chắc chắn rằng doanh nghiệp sẽ tiến hành vận động để chống lại chủ nghĩa bảo hộ Sự cân bằng về kinh tế và chính trị cũng là đặc thù cho từng nước, tuỳ hoàn cảnh và giai đoạn Có một số bằng chứng còn cho thấy có sự gia tăng về tư tưởng bảo hộ trong các cuộc đàm phán hiệp định thương mại, và ví dụ cụ thể nhất là ngay chính trong nước Mỹ Những người theo chủ nghĩa bảo hộ đã nêu ra vấn đề thâm hụt thương mại với Trung Quốc khi nhắc đến các hiệp định thương mại với các nước đang phát triển khác, hay muốn loại bỏ ngành sữa trong bất kỳ hiệp định thương mại với New Zealand, hoặc loại Việt Nam ra khỏi các vòng đàm phán về ngành dệt may Mặc dù quy mô kinh tế Mỹ lớn hơn rất nhiều so với các thành viên còn lại, nhưng có thể thấy được lợi ích về mặt thương mại là không nhiều, không những thế còn có thể gây hại đến một số ngành nhạy cảm như nông nghiệp Một lý do chính trị khác được cho là việc TPP mở cửa cho phép các thành viên mới gia nhập, mà có khả năng là những nền kinh tế lớn Việc Hàn Quốc ký hiệp định với EU và Mỹ, hay Đài Loan ký hiệp định với Trung Quốc, đã khiến Nhật Bản nhanh chóng tham gia TPP và trở thành thành viên chủ lực, một phần là vì thảm hoạ năm 2011 và vì vấn đề nông nghiệp với Mỹ
Trang 35Tại thời điểm nghiên cứu của tác giả, TPP vẫn còn đang trong giai đoạn đàm
phán Dẫu vậy nó vẫn trở thành một nhân tố chính trong chính sách hướng về châu Á
của Mỹ Nhiều doanh nghiệp không đạt được lợi ích đáng kể từ các hiệp định hiện tại
do các xu hướng bảo hộ cũng như định hướng theo chính phủ (vì mục đích chính trị)
thay vì định hướng theo doanh nghiệp (vì mục đích thương mại) TPP được kỳ vọng
sẽ tạo ra thay đổi trên một vài khía cạnh, tuy nhiên nó sẽ không phải là một bước đột
phá thực sự nếu chỉ là tập hợp của nhiều hiệp định song phương thay vì một hiệp định
đa phương toàn diện WTO cũng có thế mang mô hình TPP đến để bàn bạc tại vòng
đàm phán Doha Nhưng nếu vòng đàm phán này thất bại thì TPP có thể bị xem là một
bức màn chia rẽ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, với một bên là Mỹ và các đồng
minh, và bên còn lại là Trung Quốc
Tóm tắt chương 1
Thương mại quốc tế vốn đã hình thành từ lâu, trải qua hình thái hàng đổi hàng
và sau này dùng tiền để làm vật ngang giá chung Có nhiều nhà kinh tế học đã nghiên
cứu để tìm hiểu về bản chất và phương thức vận hành của thương mại quốc tế Trải
qua một thời gian với các hiệp định thương mại đơn thuần, Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương TPP và sau này là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương CPTPP đã xuất hiện như một tiêu chuẩn mới cho thương mại quốc
tế trong thế kỷ XXI, với nhiều điều khoản mới nhằm thúc đẩy tự do thương mại một
cách mạnh mẽ hơn cùng với phát triển bền vững Hiệp định TPP ban đầu có 12 thành
viên, sau đó Mỹ rút lui thì đã thay đổi thành CPTPP Một số nghiên cứu về Hiệp định
TPP đã cho rằng Việt Nam sẽ là quốc gia hưởng được nhiều lợi ích nhất
Trang 36CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP/CPTPP ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 GIAI ĐOẠN 2009 – 2018
Hình 2.1 mô tả quy mô GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2018 Có thể thấy quy mô GDP của Việt Nam tăng đều đặn trong giai đoạn này, từ 106.01 tỷ USD năm 2009 lên 244.95 tỷ USD vào năm 2018 Trong vòng một thập kỷ qua, quy mô GDP của Việt Nam đã tăng lên khoảng 2.5 lần
Hình 2.1 Quy mô GDP Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018
Nguồn: Ngân Hàng Thế Giới Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn này đạt ở mức khá trên 6% Tuy nhiên, có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng giai đoạn năm năm đầu thấp hơn giai đoạn năm năm sau Năm 2009, tốc độ tăng trưởng ở mức thấp 5.40%, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008, khi mà cuộc khủng hoảng xuất phát từ Mỹ đã lan ra toàn thế giới và khiến cho tốc độ tăng trưởng toàn cầu trong năm 2009 xuống mức âm Hai năm tiếp theo, kinh tế có
sự phục hồi và tăng trưởng trên 6%, được cho là kết quả của hoạt động nới lỏng tín dụng nhằm thúc đẩy phục hồi nên kinh tế Tuy nhiên, hậu quả là lạm phát tăng cao
và đạt đỉnh vào năm 2011, được minh hoạ trong hình 2.2 Sau khi áp dụng các biện
0.0%1.5%3.0%4.5%6.0%7.5%9.0%
Trang 37pháp nhằm kiềm chế lạm phát và thận trọng hơn trong điều tiết cung tiền, lạm phát
đã giảm hẳn nhưng cũng kéo giảm tốc độ tăng trưởng xuống dưới 6% trong hai năm
2012 và 2013 Ngoài ra, một nguyên nhân khác có tác động không nhỏ được cho là thế giới vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau cuộc khủng hoảng tài chính
Hình 2.2 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018
Nguồn: Ngân Hàng Thế Giới Giai đoạn 2014 – 2018, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam có mức tăng tốt hơn so với giai đoạn năm năm trước đó, đạt trung bình trên 6.5% Đặc biệt là năm
2018, mức tăng trưởng đạt đến 7.08%, là mức cao nhất trong vòng một thập kỷ Đồng thời, lạm phát cũng đã được kiểm soát chặt chẽ và trở nên ổn định hơn Trong ba năm gần đây, lạm phát luôn tiệm cận dưới mức 4%, là mức mục tiêu chung trong các kế hoạch phát triển kinh tế trong giai đoạn này
So với một số nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 cũng có xu hướng tích cực hơn Hình 2.3 minh hoạ tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước và trung bình thế giới trong giai đoạn này Có thể thấy rằng chỉ có Philippines và Việt Nam đang có xu hướng tăng tốc, trong khi đó Trung Quốc giảm tốc mạnh, còn các nước khác thì hầu như đi ngang Việt Nam cũng là nước duy nhất có biên độ dao động về tốc độ tăng trưởng GDP trong khoảng khá hẹp Không những thế, năm 2018 còn là năm mà Việt Nam vươn lên dẫn đầu về tốc độ
Trang 38tăng trưởng GDP so với các nước còn lại được xem xét Tuy nhiên, nếu xét đến tốc
độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn thì Việt Nam vẫn xếp sau hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ Dẫu vậy, Việt Nam vẫn đang được coi là một điểm sáng mới về tăng trưởng không những chỉ trong khu vực mà còn cả trên quy mô toàn cầu
Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước và thế giới
Nguồn: Ngân Hàng Thế Giới Xét đến thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn 2009 – 2018 thì con số của Việt Nam đã tăng lên gấp đôi, từ mức 1,217USD năm 2009 lên 2,564USD năm
2018 Tuy nhiên, nếu xét chung với một số quốc gia trong khu vực thì mức tăng của Việt Nam còn khá khiêm tốn, như minh hoạ trong hình 2.4 Thái Lan và Malaysia có mức tăng khá tốt, và Malaysia đang tiến sát đến ranh giới cho quốc gia có thu nhập cao (khoảng 12,375USD theo phân loại của WB) Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng ấn tượng nhất, với thu nhập bình quân năm 2018 gấp 2.5 lần mức của mười năm trước Indonesia cũng đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao (khoảng 4,000USD theo phân loại của WB) Tính đến năm 2018 thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ cao hơn Ấn Độ trong nhóm các nước được xem xét
Philippines Thái Lan Việt Nam Thế Giới
Trang 39Hình 2.4 Thu nhập bình quân đầu người một số nước và thế giới
Nguồn: Ngân Hàng Thế Giới Tuy vẫn còn ở mức trung bình thấp trong giai đoạn này, nhưng theo một dự báo của ngân hàng Standard Chartered (2019) công bố vào giữa năm, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt đến 10,400USD vào năm 2030 nếu có thể duy trí được tốc độ tăng trưởng trên 7% trong một thập kỷ tới Ngay cả chính phủ cũng đã đặt mục tiêu đạt mức thu nhập bình quân đầu người 10,000USD vào năm
2035, nhưng kèm theo đó sẽ là trở ngại về bẫy thu nhập trung bình mà nếu không có những chính sách, thể chế phù hợp thì khó có thể vượt qua được
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2009 –
2018 cũng có thể được chia thành hai giai đoạn Trong bốn năm đầu năm đầu, do dư
âm của cuộc khủng hoảng tài chính và sự trì trệ của kinh tế thế giới, vốn đăng ký đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã giảm từ hơn 23 tỷ USD năm 2009 xuống còn hơn 16 tỷ USD năm 2012, vốn thực hiện cũng chỉ quanh 10 tỷ USD Qua giai đoạn sau, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã hồi phục và tăng nhanh, thậm chí hai năm 2017
và 2018 còn đạt trên 35 tỷ USD Vốn thực hiện cũng được cải thiện và đạt mức cao nhất trong lịch sử là 19.1 tỷ USD vào năm 2018 Tuy vậy, có thể thấy tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn chỉ xoay quanh mốc 50% đến 60%, chưa có sự bứt phá nào đáng kể
Philippines Thái Lan Việt Nam Thế Giới
Trang 40Hình 2.5 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018
Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Hoạt động thương mại của Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới trong giai đoạn 2009 – 2018 cũng tăng trưởng nhanh từ mức 127.05 tỷ USD năm
2009 lên mức 480.57 tỷ USD năm 2018, gấp gần 4 lần sau mười năm Từ một nước chuyên nhập siêu thì ba năm gần nhất Việt Nam đã duy trì trạng thái xuất siêu, và năm 2018 là năm có mức thặng dư thương mại cao nhất trong vòng một thập kỷ với 6.83 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng thương mại của Việt Nam ngoại trừ năm 2009 bị
âm thì các năm còn lại hầu hết đều đạt mức trên hai con số Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2018 được minh hoạ trong hình 2.6
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam gồm điện thoại các loại và linh kiện, máy vi tính các loại và linh kiện, hàng dệt may và giày dép các loại, máy móc thiết bị và phụ tùng, gỗ và các sản phẩm gỗ, phương tiện vận tải và phụ tùng, và thuỷ sản Tính trong năm 2018, nhóm điện thoại và linh kiện đạt kim ngạch xuất khẩu gần
50 tỷ USD, nhóm máy vi tính và linh kiện đạt gần 30 tỷ USD, dệt may đạt trên 30 tỷ USD, giày dép và máy móc thiết bị cùng đạt trên 16 tỳ USD, gỗ và thuỷ sản cùng đạt gần 9 tỷ USD, phương tiện vận tải và phụ tùng đạt trên 8 tỷ USD Các nhóm kể trên
đã chiếm gần 70% tổng lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2018
0%10%20%30%40%50%60%70%80%