1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trường nữ sinh đồng khánh trưng vương trong hệ thống giáo dục công lập thời pháp ở hà nội

187 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài: Lịch sử giáo dục, khoa cử Việt Nam là một đề tài luôn hấp dẫn, mới mẻ vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu, rộng và có hệ thống về giáo dục Việt Nam thời Pháp

Trang 1

Lời cảm ơn

Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cận hiện đại, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia

Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Xanh

Chúng tôi nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều chuyên gia chuyên ngành lịch sử Việt Nam khoa Lịch sử, Phòng tư liệu khoa Lịch sử, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, Thư viện Quân đội, Thư viện Quốc gia, Trường THCS Trưng Vương, Héi cựu n÷ sinh §ång Kh¸nh - Tr-ng V-¬ng ë Hà Nội, Héi cựu n÷ sinh §ång Kh¸nh - Tr-ng V-¬ng

ë California - Hoa Kú đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được tiếp cận

và khai thác các nguồn tư liệu

Chúng tôi cũng nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn trường THPT Cổ Loa đã tạo điều kiện về thời gian và kinh phí cho việc học tập nghiên cứu

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quí báu đó, đặc biệt đến sự chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Xanh trong suốt quá trình hình thành bản luận văn

Và lời cảm ơn cuối cùng xin được dành cho những người thân yêu nhất trong đại gia đình của tôi

Trang 2

T«i xin cam ®oan nh÷ng sè liÖu, dÉn chøng vµ th«ng tin trong luËn v¨n

nµy lµ trung thùc vµ chÝnh x¸c theo hiÓu biÕt cña t«i

Học viên

Lê Thanh Tùng

Trang 3

1 Hệ thống giáo dục Pháp – Việt d-ới thời Pháp ở Hà Nội 8

1.1 Bối cảnh giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX 8

2 Các tr-ờng nữ sinh trong hệ thống giáo dục Pháp – Việt 29

Ch-ơng II: Sự ra đời và tr-ởng thành của tr-ờng nữ sinh Đồng

2 Sự ra đời và tr-ởng thành của tr-ờng nữ sinh trung học Đồng

Ch-ơng III: Những hoạt động của thày và trò trường Đồng

Trang 4

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Lịch sử giáo dục, khoa cử Việt Nam là một đề tài luôn hấp dẫn, mới mẻ vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu, rộng và có hệ thống về giáo dục Việt Nam thời Pháp ở Hà Nội Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay ch-a có nhiều công trình đề cập tới giáo dục nhà tr-ờng (có chăng thì chỉ là những nội san của từng trường hoặc hồi ký của những cựu học sinh của trường đó…) đặc biệt là các tr-ờng dành cho nữ sinh (một nét mới d-ới thời Pháp ở Hà Nội)

Phụ nữ đi học đã ít, tr-ờng dành cho phụ nữ càng hạn chế hơn mặc dù trong lịch sử, phụ nữ có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự phát triển của nhân loại Họ không chỉ là một lực l-ợng xã hội quan trọng mà còn giữ vai trò

to lớn trong việc sản sinh, nuôi d-ỡng và giáo dục trẻ em - những thế hệ t-ơng lai Với bản tính vị tha, dịu dàng, phụ nữ còn là sự động viên, là động lực sáng tạo trong lao động của nam giới Họ luôn là đề tài hấp dẫn và mới mẻ của thi

ca hội hoạ, là biểu t-ợng của cái đẹp trong cuộc sống Có thi sỹ đã từng thốt lên:

Trời không ánh sáng hoa nào nở Dạ vắng yêu đ-ơng dạ nhuốm sầu

Đời không mẹ hiền không phụ nữ

Anh hùng thi sỹ hỏi rày đâu

Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, phụ nữ không chỉ bị áp bức bóc lột mà còn bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, bị tác động bởi nhịp sống đô thị và các quan hệ sản xuất mới Một thời kỳ dài họ ch-a đ-ợc đánh giá đúng cũng nh- ch-a

đ-ợc h-ởng quyền lợi ngang với những đóng góp của mình Địa vị và quyền lợi của ng-ời phụ nữ không chỉ bị phủ nhận ngoài xã hội mà ngay cả trong gia đình

Là người vợ, luôn bị coi là cái bóng sau người chồng, là người con thì “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” có nghĩa là nếu chỉ có con gái coi nh- không có con! T- t-ởng trọng nam, khinh nữ đè nặng lên tâm lý xã hội

Trang 5

Những thập niên đầu thế kỷ XX, nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Việt Nam biến động không ngừng Trong xã hội đó ng-ời phụ nữ là ng-ời chịu nhiều khổ đau, thiệt thòi nhất Nh-ng d-ới tác động của những t- t-ởng tiến bộ ph-ơng Tây, đặc biệt về giải phóng con ng-ời, về tự do bình đẳng đã tạo ra một b-ớc ngoặt quan trọng trong đời sống của ng-ời phụ nữ Việt Nam Một trong những thay đổi đó là lần đầu tiên trong lịch sử ng-ời phụ nữ chính thức đ-ợc đi học Phải chăng ng-ời phụ nữ đã đ-ợc giải phóng? Hồ Chủ tịch rất quan tâm tới vấn đề giải phóng dân tộc gắn liền với vấn đề giải phóng phụ nữ Ng-ời đã từng khẳng định:

“Nói phụ nữ là nói một nửa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng loài ng-ời, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [8]

Phụ nữ không chỉ đ-ợc đi học mà họ còn có tr-ờng dành riêng cho bản thân mình Trong khi tìm hiểu về nền giáo dục Việt Nam d-ới thời Pháp ở Hà Nội, chúng tôi thấy có một ngôi tr-ờng dành riêng cho học sinh gái nằm trong

hệ thống tr-ờng công lập Pháp - Việt đó là tr-ờng Đồng Khánh (sau này có tên là Tr-ng V-ơng Vì vậy trong luận văn này ng-ời viết sẽ sử dụng cụm từ ghép Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng) Qua tìm hiểu về nhà tr-ờng, về hoạt động của giáo s- và nữ sinh nhà tr-ờng, trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến

động, ng-ời viết nhận thấy chị em phụ nữ Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng có những đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực thời bấy giờ và cả sau này Quá khứ dần lùi xa, ng-ời x-a dần th-a vắng mà còn nhiều vấn đề ch-a đ-ợc đề cập tới Thiết nghĩ tìm hiểu về giáo dục Thủ đô, không lẽ không tìm hiểu về một trong những ngôi tr-ờng có bề dầy gần trăm năm tuổi đã từng một thời dành riêng cho nữ giới? Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi lựa

chọn vấn đề: “Tr-ờng Nữ sinh Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng trong hệ thống

giáo dục công lập thời Pháp ở Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Nh- đã đề cập ở phần lý do chọn đề tài, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các học giả trong và ngoài n-ớc về vấn đề giáo dục Việt Nam thời cận hiện đại d-ới nhiều góc độ khác nhau

Trang 6

Điểm qua ta có thể thấy từ năm 1925, ở Sài gòn, luật s- Phan Văn Tr-ờng đã

cho in “Việc giáo dục, học vấn trong dân tộc An Nam” tại nhà in Xưa Nay Vào đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, cụ Trần Văn Giáp đã công bố “L-ợc

khảo về khoa cử Việt Nam từ khởi thuỷ đến khoa Mậu Ngọ (1918)” Năm

1945, cụ Vũ Đình Hoè cho in “ Những ph-ơng pháp giáo dục ở các n-ớc và

vấn đề cải cách giáo dục” Năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám, tác giả

Đặng Thai Mai cho in trên Giáo dục Tân san bài “Nguyên tắc cơ bản của nền

giáo dục Việt Nam ngày nay”

Tr-ớc năm 1975, ở Sài gòn cuốn “ L-ợc khảo về khoa cử Việt Nam” của tác giả Huyền Quang; “Xây dựng và phát triển văn hoá giáo dục” của tác

giả Nguyễn Khắc Hoạch đ-ợc công bố rộng rãi

Thập niên 80 của thế kỷ XX, học giả V-ơng Kim Toàn viết “Hội truyền

bá Quốc ngữ”, Vũ Ngọc Khánh viết “ Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam tr-ớc năm 1945”

Gần đây có “Lịch sử giáo dục Việt Nam tr-ớc Cách mạng tháng Tám”

do Nguyễn Đăng Tiến chủ biên “Giáo dục Việt Nam thời cận đại” của Phan Trọng Báu, “L-ợc khảo và tra cứu về học chế và quan chế ở Việt Nam từ năm

1945 trở về tr-ớc” của Lê Trọng Ngoạn, Ngô Văn Ban, Nguyễn Công Lý,

“Khoa cử và giáo dục Việt Nam” của Nguyễn Q.Thắng; “ Giáo dục và thi cử

Việt Nam” của nhà giáo Phan Ngọc Liên và nhiều công trình khác Những

quyển sách, bài viết đ-ợc khảo cứu và biên soạn công phu, nghiêm túc, đề cập

đến nhiều khía cạnh, cung cấp nhiều kiến thức cần thiết về giáo dục của n-ớc nhà Nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể, từng giai

đoạn cụ thể Nh-ng chúng tôi nhận thấy hình nh- các công trình này ch-a đề cập nhiều đến mảng giáo dục dành cho nữ giới

Viết về vấn đề giáo dục dành cho nữ giới có lẽ chỉ có một số tác phẩm

như “Vấn đề phụ nữ” của Phan Bội Châu năm 1925, “Nữ l-u văn học sử” của

Lê D- năm 1929, “Việt Nam văn hoá sử c-ơng” của Đào Duy Anh năm 1939 Gần đây có “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tr-ớc và sau chiến tranh thế giới thứ

Trang 7

nhất” của Đặng Thị Vân Chi Ngoài ra trong “Truyền thống Việt Nam qua thử thách 1920 - 1945” David Marr cũng dành một chương “Những vấn đề

của phụ nữ” để nghiên cứu vấn đề đi học của phụ nữ Việt Nam những năm

đầu thế kỷ XX

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phụ nữ, còn có các công trình nghiên cứu về văn học, văn hoá, về tác phẩm, tác giả của những thập niên đầu thế kỷ XX Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về phụ nữ; vấn đề nghiên cứu

và cách tiếp cận các nội dung chủ yếu cũng khác với cách tiếp cận luận văn nh-ng rõ ràng các công trình nêu trên không chỉ cung cấp cho luận văn nguồn thông tin và t- liệu phong phú, mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận văn trong công việc của mình

3 Ph-ơng pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên ph-ơng pháp duy vật biện chứng và ph-ơng pháp lịch sử – logic Đồng thời, trong chừng mực nhất định, chúng tôi còn sử dụng ph-ơng pháp nghiên cứu liên ngành nh- thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm làm sáng tỏ các nội dung cần trình bày

- So sánh với một số tr-ờng cùng thời bấy giờ trên cơ sở đó phân tích, đánh giá để có một cái nhìn khách quan hơn về những hoạt động và những đóng góp của nhà tr-ờng và nữ sinh nhà tr-ờng cho hệ thống giáo dục và xã hội

đ-ơng thời cũng nh- sau này

4 Các nguồn tài liệu :

Để thực hiện đề tài này chúng tội dựa vào các nguồn tài liệu sau:

- Các t- liệu gốc về hệ thống giáo dục của Sở Học Chính Bắc Kỳ (sau năm

1945 đổi thành Sở Học Chính Bắc Phần Việt Nam gọi tắt là Bắc Việt)

- Các sách chuyên khảo về giáo dục thi cử Việt Nam Các tạp chí: tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí X-a và Nay,

- Phỏng vấn, trao đổi, thảo luận với những cựu nữ sinh Đồng Khánh – Tr-ng V-ơng Hà Nội (tham khảo thêm t- liệu ở một số nơi nh- t- liệu về tr-ờng Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng Sài Gòn; những hồi ký, hồi ức của những giáo s-, nữ sinh sinh sống định c- ở Pháp, tham khảo thêm những thông tin,

Trang 8

hoạt động của Hội cựu nữ sinh Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng ở Hà Nội và California - Hoa Kỳ )

- Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học trong và ngoài n-ớc Một số luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ trong n-ớc

5 Phạm vi đề tài:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Tr-ờng Nữ sinh Đồng Khánh -

Tr-ng V-ơng trong hệ thống giáo dục công lập thời Pháp ở Hà Nội”, chúng

tôi tập trung làm rõ những vấn đề liên quan kể từ năm thành lập nhà tr-ờng

(năm 1917) cho đến khi những đoàn quân chiến thắng tiến về tiếp quản Thủ

đô (năm 1954) Trong giai đoạn này xin đ-ợc chia làm hai thời kỳ: nhà tr-ờng trong thời Pháp thuộc (từ năm 1917 đến năm 1945) và thời kỳ Hà Nội bị tạm chiếm (từ năm 1946 đến năm 1954) Tuy nhiên, do điều kiện thời gian, do chiến tranh, và nhiều lý do khác nữa nên các nguồn t- liệu thời kỳ từ năm

1917 đến năm 1945 bị thất lạc nhiều không có điều kiện khôi phục, do vậy chúng tôi cố gắng phục dựng lại hình ảnh của nhà tr-ờng thông qua các hồi

ký, hồi ức của những cựu nữ sinh và các giáo s- đã từng học tập và công tác tại tr-ờng

6 Nội dung nghiên cứu và những đóng góp của đề tài:

6.1 Nội dung nghiên cứu:

Với đề tài này chúng tôi đi sâu tìm hiểu các vấn đề:

Nghiên cứu một cách hệ thống về hệ thống các tr-ờng nữ sinh trong

tổ chức giáo dục Việt Nam thời Pháp ở Hà Nội…

Qúa trình xây dựng và tr-ởng thành của tr-ờng Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng trong hệ thống giáo dục công lập thời Pháp ở Hà Nội

Những hoạt động của nữ sinh nhà tr-ờng trong những chặng đ-ờng lịch sử của Thủ đô và dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp

6.2 Những đóng góp của đề tài:

Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình xây dựng và tr-ởng thành của tr-ờng Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng, qua đó góp phần làm

Trang 9

sáng rõ tổ chức hệ thống giáo dục công lập ở Hà Nội thời Pháp Xem xét,

đánh giá nội dung ch-ơng trình, các ph-ơng pháp giảng dạy, cách thức tổ chức hoạt động văn hoá xã hội…Từ đó, b-ớc đầu có những kiến nghị về những b-ớc đi, biện pháp thích hợp trong lộ trình xây dựng và nâng cao chất l-ợng giáo dục hiện nay Đồng thời góp phần làm rõ những đóng góp của nữ sinh nhà tr-ờng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo dùng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu giáo dục Thăng Long – Hà Nội nói chung và giáo dục nhà tr-ờng nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 ch-ơng:

Ch-ơng I: Hệ thống các tr-ờng nữ sinh trong hệ thống giáo dục Pháp – Việt

Ch-ơng II: Sự ra đời và tr-ởng thành của tr-ờng nữ sinh Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng

Ch-ơng III: Những hoạt động của thày và trò trường Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng.

Trang 10

Ch-ơng I

Hệ thống các tr-ờng nữ sinh trong hệ thống giáo

dục Pháp – Việt

1 Hệ thống giáo dục Pháp – Việt d-ới thời Pháp ở Hà Nội:

1.1.Bối cảnh giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX :

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cơ bản bình định về quân sự, thiết lập chế độ thống trị trên toàn cõi Đông D-ơng Chúng ra sức cải

tổ, củng cố giáo dục thực dân Nền giáo dục này tiến tới giữ vị trí độc tôn ở Việt Nam Tuy nhiên, ở buổi giao thời này, chính quyền thực dân Đông D-ơng vẫn phải chấp nhận sự tồn tại phần nào giáo dục phong kiến tr-ớc khi xoá bỏ hoàn toàn Bởi họ biết rõ nền giáo dục Nho học không thể phục vụ cho mục tiêu đào tạo của mình mà chỉ có thể lợi dụng nó để đào tạo những ng-ời phục vụ cho chính quyền Toàn quyền Paul Doumer trong báo cáo đọc tr-ớc Hội đồng tối cao Đông Dương đã nêu rõ: “ Những nguyên tắc đã làm cho xã hội ng-ời bản xứ, gia đình đ-ợc vững mạnh, cha mẹ đ-ợc kính trọng, chính quyền đ-ợc tuân thủ đều đ-ợc rút ra từ các sách Hán học dạy ở các tr-ờng Làng Ngay từ khi học những chữ đầu tiên, họ đã đ-ợc học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lý Nho giáo; họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ h-ớng dẫn họ trong cả cuộc đời Chính các tr-ờng làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó” [15, tr30]. Với nhận định nh- vậy thực dân Pháp vẫn cho phép mở các tr-ờng Hán học tồn tại song song với hệ thống tr-ờng Pháp – Việt

Tuy nhiên không thể không nói tới phong trào Duy Tân (1902-1908) cũng có những tác động nhất định đối với việc cải cách giáo dục đ-ơng thời Chúng ta đều biết năm 1906, cụ Phan Châu Trinh ở Nhật Bản về, cụ đã ra Hà Nội cùng các đồng chí nh- Trần Qúi Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên, Trương Bá Huy… lập tr-ờng Đông Kinh Nghĩa Thục Phạm vi hoạt

động của phong trào Duy Tân rất rộng Ngoài mở các lớp học Quốc ngữ, chữ

Trang 11

Pháp với ph-ơng pháp giảng dạy phong phú đ-ợc chia làm nhiều ban với nhiều chủ đề (Hán văn, Việt văn) và học cả các môn khoa học th-ờng thức; còn tổ chức các hội th-ơng, hội nông, các cuộc diễn thuyết công cộng; nhất là những bài ca, bài vè đ-ợc sử dụng phổ biến rộng rãi trong nhân dân thiếu học Những cơ sở văn hoá giáo dục đ-ợc tổ chức rải rác ở các miền quê nh-ng có qui củ Ch-ơng trình giáo dục nhằm đào tạo một mẫu ng-ời toàn vẹn, với một

bộ óc sáng suốt trong một thân thể tráng kiện” [25]

Phong trào Duy Tân chủ tr-ơng chấn h-ng cổ học, nhất là đề cao chức năng chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ trở thành hồn thiêng đất n-ớc, là ph-ơng tiện

có thể biểu hiện đ-ợc tâm t-, tình cảm, t- t-ởng của ng-ời Việt, dân tộc Việt :

“Chữ Quốc ngữ là hồn trong n-ớc, Phải đem ra tĩnh tr-ớc dân ta Sách Âu Mĩ, sách Chi na, Chữ kia chữ nọ dịch ra tỏ t-ờng

Nông, công, cổ trăm đ-ờng cũng thế, Họp bày nhau thì dễ toan lo

á Âu chung lại một lò,

Đúc lên t- cách mới cho rằng ng-ời”

(Trần Quý Cáp, Chiêu hồn n-ớc) [25, tr 155]

Quan niệm về việc học cũng rất mới mẻ, họ chủ tr-ơng phát huy cái học thực nghiệm – một quan niệm mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị của nó:

“Học là học có nghề có nghiệp, Tr-ớc giữ mình sau giúp ng-ời ta, Trâu cày ruông, chó giữ nhà ; Ng-ời không nghề nghiệp ắt là h- sanh ! Cuộc hoàn hải cạnh tranh lắm lúc, Chỉ đua nhau sự học thể nào?

Anh em kìa hỡi đồng bào!

Không lo tiến tới sống sao đặng giờ.”

(Huỳnh Thúc Kháng, Khuyên con đi học) [25, tr 156]

Trang 12

Mọi ng-ời, mọi giới phải học, học mọi nền văn minh của các dân tộc khác…Có đ-ợc nh- vậy, theo những nhà Duy Tân: xã hội sẽ tiến bộ và có quyền sống ngang nhau Các Hội nh-: Hội nông, Hội th-ơng, Hội mặc đồ Tây, Hội khuyên học chữ Quốc ngữ …được dựng lên khắp các tỉnh Trung Kỳ

và sau đó lan rộng ra cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ Chúng tôi nhận thấy đ-ờng lối giáo dục, mục tiêu đào tạo rất rõ ràng và đặc biệt đã đề cập đến giáo dục dành cho nữ giới, đã bắt đầu đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, trong xã hội:

Theo mới

- Vừa học văn hoá vừa học môn thực dụng

- Học bằng thực tế, nhằm phục vụ dân sinh…

- Tiếng Việt là ngôn ngữ chính…

Theo một lý t-ởng

- Đặt nặng vấn đề Quốc gia, Dân tộc

- Tin ở chủ nghĩa dân quyền, dân chủ

- Coi nhẹ việc gia đình

Luyện tinh khí - Có ý chí kiên c-ờng

Tin khoa học - Bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục

- Tổ chức công việc theo khoa học

Cái học thực dụng - Tổ chức các hội nông, hội thương…

- Chú ý về công nông th-ơng nghiệp

Phụ nữ với xã hội

- Con gái vẫn theo học nh- con trai

- Nam nữ bình quyền, bình đẳng

- Có nữ giáo viên dạy những lớp nữ sinh…

Trang 13

Một trong những học giả hăng hỏi cổ động cho việc giỏo dục phụ nữ là Nguyễn Văn Vĩnh Trờn tờ Đăng Cổ Tựng Bỏo số ra thỏng 4 năm 1907 ụng phờ phỏn những bậc cha mẹ khụng muốn cho con gỏi đi học vỡ sợ biết chữ sẽ viết thư cho giai, hoặc những ụng chồng khụng muốn vợ đi học vỡ sợ vợ lăng nhăng Theo Nguyễn Văn Vĩnh việc đi học khụng phải là nguyờn nhõn của những hiện tượng đú ễng cho rằng đàn ụng chinh phục được, giữ được người vợ hiểu biết, cú học thỡ đỏng tự hào hơn là dựng quyền gia trưởng để ràng buộc ỏp chế người vợ khụng hiểu biết Cũn học giả Phạm Cụng thỡ lại đề nghị nờn cú hỡnh thức khen thưởng động viờn phụ nữ đi học trước tỡnh trạng nhiều chị em đi học để biết đọc thụng chữ quốc ngữ rồi bỏ

Phong trào Duy Tân đó có một tiếng vang lớn, khiến xã hội Việt Nam mang một khuôn mặt mới, một dòng suy t- mới Đâu đâu cũng nghe nói đến

tân thơ, tân học, hội nông, hội th-ơng, diễn thuyết, cắt tóc, Âu trang… Hoạt

động của Duy Tân sôi nổi đến độ trong báo Tiếng Dân số ra ngày 17 tháng 2

năm 1932, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã viết: “ở trong một cái làng rừng che, núi cách, giao thông trở ngại thuở nay tịch mịch quê mùa, bỗng thành nơi khai thông vui vẻ không những dân làng lân cận tín phục, mà ng-ời xa, nhất là những ng-ời đã nếm mùi Âu hoá đi ngang qua tỉnh Quảng Nam cũng gắng lên làng Phú Lâm đặng xem công việc ” (làng Phú Lâm là làng mà ông Lê Cơ - con nhà cô cậu với cụ Phan Châu Trinh, đã lập tr-ờng học, mời thầy dạy chữ Quốc ngữ cho trẻ con trong làng học, sau lại mở thêm cả tr-ờng nữ học Trong tr-ờng mở v-ờn trồng quế,

mở cuộc buôn, dựng lò rèn, lập cuộc bảo hiểm, phòng kẻ trộm c-ớp .)

Đông Kinh Nghĩa thục đ-ợc thành lập (theo mô hình của Tr-ờng Khánh ứng Nghĩa thục ở Nhật Bản) và nhanh chóng trở thành trung tâm của phong trào Duy Tân ở các tỉnh phía Bắc Tại Tr-ờng Đông Kinh Nghĩa thục

Hà Nội, học sinh không phải đóng học phí, đ-ợc ở nội trú miễn phí và còn

đ-ợc chu cấp sách vở để học tập Ngoài ch-ơng trình học chính khoá, các tr-ờng còn có nhiều hoạt động ngoại khoá nh- tổ chức diễn thuyết, bình văn, xuất bản sách báo…, tạo nên một b-ớc ngoặt quan trọng trong lịch sử giáo

Trang 14

dục Việt Nam nói riêng và sinh hoạt văn hoá nói chung Đây là giai đoạn tiếng Việt b-ớc lên văn đàn thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, giai đoạn ng-ời phụ nữ bắt đầu đ-ợc nhìn nhận bình đẳng, đ-ợc tôn trọng nh- nam giới cho dù điều đó mới chỉ ở trong một phạm vi rất hẹp Những hoạt động nói

trên, nhất là sự xuất hiện và hoạt động của tờ Đăng cổ tùng báo - cơ quan

ngôn luận của Tr-ờng Đông Kinh Nghĩa thục Hà Nội đã góp phần khích lệ lòng yêu n-ớc, truyền thụ những quan điểm t- t-ởng và lối sống mới, đồng thời cổ suý cho phong trào chấn h-ng kinh tế, phát triển công th-ơng nghiệp dân tộc Rõ ràng, hoạt động Duy Tân đã mang tính cách mạng và gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc [13] Đó chính là lý do giải thích vì sao đến cuối năm 1907, tức là chỉ sau 9 tháng tồn tại, Đông Kinh nghĩa thục đã bị chính quyền Đông D-ơng khủng bố bằng quyết định đóng cửa và l-u đày những ng-ời sáng lập và tổ chức Có thể nói phong trào này đã trở thành đối t-ợng cho các nhà giáo dục đ-ơng thời và sau này tiếp thu phát triển

Bên cạnh hoạt động của phong trào Duy Tân là hoạt động của phong trào Đông Du - đ-a thanh niên ra n-ớc ngoài du học của cụ Phan Bội Châu cũng phát triển mạnh mẽ Ra đời trong bối cảnh lịch sử dân tộc có nhiều biến

động và biến chuyển mạnh mẽ: Thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong các phong trào yêu n-ớc của các sĩ phu yêu n-ớc và bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa; Tân văn, Tân th- từ Trung Hoa đ-ợc truyền tải vào Việt Nam; thắng lợi và thành công của Nhật Bản trên con đ-ờng duy tân đã có những tác

động to lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam Trong khi đó các giai cấp mới (t- sản, tiểu t- sản và công nhân) đang trong quá trình hình thành nên tầng lớp văn thân, sĩ phu yêu n-ớc hậu Cần V-ơng vẫn giữ vai trò

là lực l-ợng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam những năm

đầu thế kỷ XX Các hoạt động chống Pháp của họ ngoài việc kế thừa những

điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu của các phong trào yêu n-ớc tr-ớc đó, còn mang nhiều nét mới, mà phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu khởi x-ớng là một trong những minh chứng tiêu biểu Cụ Phan cùng các đồng chí tích cực kết nối quan hệ với các sở công th-ơng nghiệp xa gần, các nhà hảo

Trang 15

tâm để vận động tiền bạc cho phong trào, và vận động thanh niên du học Trong hai năm 1905 - 1906, nhờ những hoạt động tuyên truyền tích cực của nhà yêu n-ớc họ Phan và các đồng chí mà phong trào Đông Du phát triển mạnh dần lên, nhất là vào giai đoạn cuối, tr-ớc khi phong trào bị đàn áp Sự phát triển đều khắp và theo chiều h-ớng tăng tiến này phản ánh công tác tổ chức tuyên truyền và vận động khá chu đáo, hiệu quả, nhịp nhàng và ăn ý giữa trong và ngoài n-ớc Một số trung tâm khuyến du học, tuyển chọn du học, những địa bàn trọng điểm đ-ợc hình thành nh- Nam Định, Hà Nội, Nghệ Tĩnh, Quảng Nam, Sài Gòn

Số du học sinh trong giai đoạn đầu (1905 - 1906) chủ yếu là ng-ời Bắc

và Trung Kỳ, học sinh Nam Kỳ tham gia còn ít Khi C-ờng Để sang Nhật Bản

du học, cụ Phan viết bài văn Kính cáo toàn quốc, Kỳ Ngoại hầu ai cáo Nam

Kỳ, Kính cáo toàn quốc phụ lão nhằm thu phục nhân tâm ở Nam Kỳ Các

bản văn trên đ-ợc in ấn và gửi về n-ớc phát tán Năm 1906, cụ Phan Bội Châu

từ Nhật Bản về H-ơng Cảng hội kiến với các danh nhân, thân sĩ Nam Kỳ Tại cuộc gặp gỡ này, họ đã nhận lời giúp đỡ phong trào Đông Du của cụ: "Đến nơi thì ông Hội đồng Mỹ Tho, ông Chánh tổng ở Cần Thơ, ông H-ơng chức ở Long Hồ, đều đã chờ tôi hơn một tuần Tôi đến nhà trú trao cho các ông những bản sách tôi làm, khuyên các ngài truyền bá và ân cần chúc thác hai việc: 1) Vận động du học; 2) Quyên trợ du học phí Các ngài đều vui lòng hết sức, tức khắc từ biệt tôi về Nam” [12]

Với lời văn ngập tràn tâm huyết của Phan Bội Châu và công tác tuyên truyền hiệu quả nên kết quả đạt đ-ợc thật mĩ mãn, đúng nh- toan tính của cụ

Đến năm 1907- 1908, số học sinh Nam Kỳ đi du học bằng cả số học sinh Bắc

và Trung Kỳ cộng lại Nhiều danh sĩ Nam Kỳ lần l-ợt trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phong trào nh- Nguyễn An Kh-ơng, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn Quang Diêu, Sáu Mỹ, Hai Kỷ, Nguyễn Hữu Kiên, Võ Chí, Lê Văn Đáng, Nguyễn Công Tồn Riêng ở miền Tây Nam Kỳ, chỉ tính

từ tháng 3 tới tháng 6- 1907, đã có hơn 30 thanh niên du học, ví dụ nh- Đỗ Văn Y (quê Hoà An), L-u Quang Bật (quê Mỹ Trà), Lê Văn Sao (Hoà An),

Trang 16

Nguyễn Truyện (Vĩnh Long), Lý Liễu (Vĩnh Long), Hoàng H-ng (Vĩnh Long), Trần Văn Tiết (Kiên Giang), Lâm Cần, Lâm Tỷ (Vĩnh Long) Nguồn nhân lực là vậy, nguồn tài chính cũng rất dồi dào, Nguyễn Thần Hiến qua tổ

chức Khuyến du học hội của mình đã vận động đ-ợc giới đại địa chủ và tiểu

t- sản Nam Kỳ đóng góp đ-ợc trên 40.000 đồng, t-ơng đ-ơng với 200 l-ợng vàng, Lâm Cần đã bỏ ra 2.000 đồng ký quỹ để hỗ trợ phong trào Nhiều nhà Mạnh Th-ờng Quân của đất Nam Kỳ sẵn sàng chi tiền để ủng hộ phong trào nh- Trần Chánh Chiếu, anh em Nguyễn An Kh-ơng Trần Chánh Chiếu

thành lập Minh Tân công nghệ xã để kiếm tiền ủng hộ Còn anh em Nguyễn

An Kh-ơng mở khách sạn Chiêu Nam Lầu ở Sài Gòn để làm nơi ăn ở, đi lại,

cấp tiền cho những ng-ời Đông Du

Phong trào Đông Du có sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân Thế hệ khai lập phong trào đều là những trí thức Hán học, có ng-ời từng chiến đấu d-ới ngọn cờ Cần V-ơng yêu n-ớc nh- Nguyễn Hàm, Tăng Bạt Hổ,

có ng-ời làm quan cho triều Nguyễn nh- Nguyễn Th-ợng Hiền, Định Trạch,

Đặng Nguyên Cẩn, là trí thức cao cấp nh- Phan Bội Châu Những con ng-ời này từng đ-ợc tiếp cận với các Tân Văn, Tân Th-, nh-ng trong lòng vẫn đậm

tố chất phong kiến Tố chất ấy thể hiện rõ ở t- t-ởng trung quân ái quốc Cả Nguyễn Hàm, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Th-ợng Hiền, Phan Bội Châu đều là những ng-ời có tài, đều có sức v-ơn lên giữ vai trò lãnh đạo cao nhất của một phong trào cách mạng yêu n-ớc, nh-ng bị gò bó trong ý thức hệ phong kiến nên đều có quan điểm đi tìm một minh chủ Chính vì lẽ đó, C-ờng Để đã

đ-ợc họ lựa chọn và tôn phong làm Hội chủ Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân ch-a hình thành, giai cấp nông dân làm chỗ dựa cho các cuộc khởi nghĩa ở địa ph-ơng nh-ng vẫn thiếu sự lãnh đạo thống nhất Giai cấp t- sản ch-a ra đời, tầng lớp trí thức mới đang hình thành Những ng-ời có thể gi-ơng cao ngọn cờ giải phóng dân tộc chỉ có thể trông cậy vào tầng lớp văn thân, sĩ phu yêu n-ớc mà thôi Tuy nhiên, đội ngũ sáng lập và lãnh đạo trong Hội Duy Tân đã từng chứng kiến những thất bại liên tiếp của ng-ời Việt Nam trong những cuộc đấu súng trực tiếp với quân Pháp, nên

Trang 17

họ d-ờng nh- không còn tự tin tự lực mình có thể giải phóng cho dân tộc,

đành trông mong vào một sức mạnh ngoại viện làm giải pháp cứu cánh.Chỗ dựa vững chắc và cũng là nơi những ng-ời khai lập đặt niềm kỳ vọng là thế hệ trẻ, sinh ra vào khoảng thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XIX Khi thế hệ này ra đời thì ng-ời Pháp đã cơ bản bình định xong Việt Nam Các hàng -ớc mà triều Nguyễn ký với ng-ời Pháp đã có hiệu lực, Bắc và Trung Kỳ là xứ bảo hộ, còn Nam Kỳ là xứ thuộc địa Tuy không đ-ợc tận mắt chứng kiến những thất bại của lớp cha anh tr-ớc đó nh-ng vẫn thấy rõ khí thế chống Pháp bừng cháy rừng rực trong hàng ngũ các sĩ phu yêu n-ớc, cảm nhận đ-ợc nỗi đau và sự mất mát trong gia đình bởi chiến tranh nh- tr-ờng hợp của Hồ Học Lãm có

ông nội là án sát Hồ Bá Ôn đã tử th-ơng khi chiến đấu giữ thành Nam Định năm 1883, cha cũng tử trận năm 1885, và hơn cả là nỗi nhục nhã của ng-ời dân mất n-ớc

Đa phần những ng-ời trẻ tuổi đều xuất thân từ những gia đình nhà Nho yêu n-ớc: Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng, L-ơng Ngọc Quyến và L-ơng Nghị Khanh là con của L-ơng Văn Can, Đặng Hữu Bằng là con của Tiến sĩ Đặng Hữu D-ơng, Đặng Tử Mẫn là con của Tú tài Đặng Huy Duệ,

Đặng Quốc Kiều là con của Tú kép Đặng Vũ Đồng, Nguyễn Xuân Thức là con của án sát Thanh Hoá Nguyễn Xuân Tiêu hay xuất thân từ những gia

đình giàu có nh- Trần Văn Tiết là con của Trần Chánh Chiếu, một điền chủ ở Rạch Giá (Kiên Giang), đồng thời cũng là một nhà công th-ơng nổi tiếng; anh

em Lâm Cần, Lâm Tỷ là con của ông Lâm Bình, một nhân sĩ giàu có ở Vĩnh Long Bản thân họ, những thanh niên trẻ tuổi nh- Hoàng Trọng Mậu, Trần Hữu Lực, Nguyễn Quỳnh Lâm, Trần Hữu Lực, Lê Cầu Tinh, Đặng Tử Kính, Nguyễn Nh- Bích, Trần Văn Thơ, Trần Văn An, Bùi Chi Nhuận, Nguyễn Mạnh Chi, Cao Trúc Hải, Huỳnh Đình Tuân, Đàm Kỳ Sinh đều là những trí thức Hán học uyên thâm

Chính vì chịu ảnh h-ởng sâu đậm của ý thức hệ phong kiến nên họ dễ dàng chấp thuận ý t-ởng trung quân ái quốc của các bậc tiền bối; chính vì thấy đ-ợc nỗi đau thất thế của dân tộc nên họ dễ chấp thuận ý t-ởng đi cầu

Trang 18

viện ở bên ngoài; chính vì đ-ợc tiếp cận b-ớc đầu với các Tân văn, Tân th- nên họ cũng muốn tới Nhật Bản, một đất n-ớc đang trên đà Âu hoá, lại đồng chủng, đồng văn để cầu học Thế hệ này đ-ợc coi là dấu gạch nối giữa thế hệ

sĩ phu cấp tiến với thế hệ trí thức Tây học sau đó

Giới th-ơng nhân, địa chủ, chức sắc và tôn giáo cũng tham gia rất nhiệt tình Những nhà Nho cấp tiến d-ới tác động của công cuộc t- bản hoá thuộc

địa, tr-ớc sự trỗi dậy của ý thức dân tộc mạnh mẽ, đã rủ nhau đi buôn Một số

ng-ời đã thành lập các th-ơng quán nh- Triêu D-ơng th-ơng quán, Liên

Thành th-ơng quán, Đồng Lợi Tế, Quảng Nam hiệp th-ơng, Nam Đồng h-ơng để kiếm tiền phụng sự cho sự nghiệp Đông Du và Duy Tân Trần

Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu), một địa chủ lớn, đã thành lập một hãng sản xuất

xà phòng tại Chợ Lớn, mở Nam Trung khách sạn tại Sài Gòn và Minh Tân

khách sạn tại Mỹ Tho; cô Năm Lầu (em Nguyễn An Kh-ơng) mở Chiêu Nam Lầu ở Sài Gòn vừa là để khuyếch tr-ơng thanh thế cho phong trào Duy Tân,

vừa để quyên góp tài chính cho những ng-ời tham gia Đông Du

Đông đảo địa chủ và chức sắc Nam Kỳ cũng hăng hái tham gia nh-

Đặng Thúc Liêng và Hội đồng Hiến (Nguyễn Thần Hiến) ở Sa Đéc, Hội đồng Tồn (Võ Công Tồn) ở Chợ Lớn, Nguyễn An Kh-ơng ở Hóc Môn, Ngô Trung Tín ở Trà Vinh, Cả Trận ở Mỹ Tho Những nhà buôn, địa chủ, chức sắc này tuy không sang Nhật Bản du học, nh-ng tham gia phong trào qua nhiều hình thức khác nhau Họ có thể gửi con em mình sang Nhật Bản du học, quảng bá hình ảnh phong trào Đông Du ở trong n-ớc, thiết thực và có hiệu quả hơn cả

là những món tiền không nhỏ mà họ đóng góp đã làm giảm bớt đ-ợc phần nào những khó khăn về tài chính ở nơi đất khách quê ng-ời đầy đắt đỏ

Mặc dù tham gia không đ-ợc đông đảo nh- nam giới, nh-ng cũng có một số phụ nữ h-ởng ứng phong trào, tiêu biểu là cô Lê Thị Đàn (ấu Triệu)

Lê Thị Đàn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất kinh thành Huế, xuất thân trong một gia đình khá giả và yêu n-ớc Bà kết giao với Phan Bội Châu trong thời

kỳ cụ Phan hoạt động tại Huế và trở thành liên lạc viên của Hội Duy Tân Khi

Trang 19

phong trào Đông Du hình thành và phát triển, bà th-ờng xuyên liên hệ với Nguyễn Hàm và Đặng Thái Thân, điều hành việc vận chuyển th- từ, tài liệu, tiền bạc từ Nam Ngãi, qua Huế, tới Hải Phòng để chuyển ra n-ớc ngoài cho anh em Đông Du Uất ức khi Hội Duy Tân và phong trào Đông Du tan rã, bà

đã căm phẫn chửi rủa bọn c-ớp n-ớc và bè lũ bán n-ớc Bà bị địch bắt vì những hành động chống đối đó Để giữ trọn khí tiết của ng-ời làm cách mạng

bà đã quyên sinh trong nhà tù Khi làm cách mạng, cụ Phan luôn đánh giá

đúng mực vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cứu n-ớc và Lê Thị

Đàn chính là minh chứng tiêu biểu cho chiến l-ợc vận động phụ nữ cùng nam giới gánh vác trọng trách cứu n-ớc

Mâu thuẫn, xung đột l-ơng- giáo ở Việt Nam từ khi Pháp xâm l-ợc đến cuối thế kỷ XIX diễn ra rất quyết liệt Có thể nói ở đâu có đông văn thân, sĩ phu nhất thì ở đó xung đột l-ơng- giáo diễn ra mạnh mẽ nhất V-ợt trên rào cản của ý thức hệ, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Phan Bội Châu nhận thấy cần phải điều hoà, đoàn kết l-ơng giáo vì mục tiêu giải phóng dân tộc T- t-ởng hoà hợp l-ơng- giáo đó của Phan Bội Châu, một trí thức Hán học, đã đ-ợc một số trí thức Thiên Chúa giáo ủng hộ nhiệt tình, tiêu biểu nh- Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tr-ờng, Mai Lão Bạng Mai Lão Bạng, quê ở Vinh (Nghệ An), là một tín đồ Thiên Chúa giáo, lên tới chức Già (Già Châu) Ông đ-ợc

Giáo hội uỷ thác làm đại biểu Duy Tân Giáo hội đồ giới thiệu những ng-ời

Công giáo xuất d-ơng Cùng với Mai Lão Bạng, năm 1908, đã có hơn 10 thanh niên Công giáo xuất d-ơng nh- Lê Kim Thanh, Lê Hồng Chung, Nguyễn Mẫu Đơn (Nguyễn Văn Phú), L-u Yến Đan (L-u Văn Quế), Lê Khanh, Lý Trọng Mậu, Vai trò của Mai Lão Bạng trong phong trào Đông

Du đ-ợc Phan Bội Châu đánh giá rất cao và cũng là một thành công trong chiến l-ợc vận động ng-ời Công giáo tham gia hoạt động cứu n-ớc của cụ Phan Với những đóng góp lớn lao của cụ Phan đối với phong trào Đông Du nói riêng, phong trào yêu n-ớc đầu thế kỷ XX nói chung, Hồ Chủ tịch đã

đánh giá cụ là "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập đ-ợc 20 triệu con ng-ời trong vòng nô lệ tôn sùng"[12]

Trang 20

Nhìn chung, với các hoạt động tuyên truyền sâu rộng cả ở ngoài và trong n-ớc đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Đông

Du trong những năm từ 1905 đến 1909 Phong trào Đông Du phát triển trải khắp ba miền đất n-ớc, từ Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định (Bắc Kỳ) , qua Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam (Trung Kỳ) , tới Sài Gòn, Vĩnh Long, Hà Tiên (Nam Kỳ) Bên cạnh quy mô rộng khắp là sự đa dạng của các thành phần xã hội tham gia, nh- văn thân d-ới thời Cần V-ơng, là những thanh niên

có học trẻ tuổi, là các địa chủ, th-ơng nhân, chức sắc và những ng-ời theo

đạo Rõ ràng đã có một sự hoà hợp giai cấp, dân tộc và tôn giáo vì một mục

đích chung, qua đó cũng phản ánh rõ tính chất quốc gia và sự thức tỉnh ý thức dân tộc, đoàn kết dân tộc mạnh mẽ của ng-ời Việt Nam trong phong trào

Đông Du Thực ra không phải mật thám không biết chuyện có những thanh niên Nam Kỳ bí mật xuất d-ơng Chúng đã lần tìm đến những gia đình có con

em đi học để dò xét, nh-ng số thanh niên Nam Kỳ xuất d-ơng đều thuộc những gia đình khá giả, chức sắc, địa chủ nên mật thám Pháp cũng không tra hỏi kỹ Đến khi bắt đ-ợc hai thanh niên Nam Kỳ là Hoàng Quang Thanh và

Đặng Bỉnh Thành, sau đó bắt giữ thêm Trần Chánh Chiếu và hơn 20 ng-ời bị tình nghi ở Sài Gòn, Cần Thơ và Mỹ Tho để tra vấn, chính quyền thực dân mới biết t-ờng tận về phong trào Đông Du, nhất là mối liên hệ mật thiết giữa nhân sĩ Nam Kỳ với phong trào Đông Du Mối đe doạ từ hoạt động của những ng-ời tham gia phong trào Đông Du gây áp lực hơn nữa khi các tài liệu của

họ đ-ợc phân phát rộng rãi ở cả Bắc, Trung và Nam Kỳ, sự có mặt của mật thám Nhật Bản ở Đông D-ơng ngày một nhiều, thêm nữa C-ờng Để tuyên bố:

"Hễ có các cuộc bạo loạn nổi lên, Chính phủ Nhật Bản sẽ cho binh lính và hạm đội đến Ng-ời Nhật là quân đội tinh nhuệ vô địch, cho nên có sự viện trợ của ng-ời Nhật nhất định sẽ giành đ-ợc Trung Kỳ- Nam Kỳ" [12] giới báo chí ở Pháp và Việt Nam thổi phồng thêm mối hiểm hoạ của phong trào Đông

Du và Nhật Bản đối với an ninh Đông D-ơng Thông qua con đ-ờng ngoại giao, chính quyền Pháp đã yêu cầu chính quyền Nhật Bản cần phải có những hành động cụ thể để giải quyết vấn đề du học sinh Việt Nam

Trang 21

Phong trào Duy Tân và phong trào Đông Du là hai trong những nguyên nhân và cũng là những yếu tố đích thực thúc bách chính phủ Bảo hộ Pháp và Nam triều chuẩn bị cho việc hình thành “Học qui” năm 1906 cùng bộ “Học chính tổng quy” ban hành ngày 21.12.1917 áp dụng một nền giáo dục mới trên toàn cõi Bắc Kỳ và Trung Kỳ

Không chỉ dừng lại ở đó, ng-ời Pháp đã cố sức tiến hành cải cách giáo dục, dần dần hoà nhập giáo dục phong kiến cũ và giáo dục t- sản thực dân để

đào tạo có hiệu quả hơn những ng-ời phục vụ bộ máy thống trị ở Đông D-ơng (Ví dụ: Cải cách giáo dục của toàn quyền Paul Beau năm 1906 )

Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, n-ớc Pháp tham chiến và bị tổn thất nặng nề buộc thực dân Pháp phải tăng c-ờng khai thác bóc lột nhân dân Đông D-ơng và các thuộc địa khác để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra Việc đẩy mạnh giáo dục ở Việt Nam cũng nhằm phục vụ cho âm m-u củng cố chế độ thống trị, đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân và tăng c-ờng bóc lột Trong bối cảnh ấy, thực dân Pháp thấy không thể cho tồn tại nền giáo dục nửa cũ, nửa mới, họ đã quyết định bãi bỏ nền giáo dục bản xứ với những thể chế của nó

Ngay từ cuối năm 1917, khi vừa đến Đông D-ơng đảm nhận chức vụ toàn quyền, Albert Sarraut đã ra nghị định ban hành “Học chính tổng quy” để thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 (1917-1929) Đến tháng 3.1918 Sarraut lại gửi thông tri cho các tỉnh giải thích rõ thêm một số nội dung cần thiết Mục đích của cải cách giáo dục lần này theo nh- bài diễn thuyết của

ông ta là: “Việc mở mang giáo dục ngoài cái lợi ích to cho đường yên ổn lại còn một cái lợi to nữa mà nhờ đó mà luyện tập đ-ợc những ng-ời giúp việc giỏi, có tài, có học, có giá trị hơn để gia công giúp sức trong việc chính trị, hành chính cũng nh- các hoạt động khác!” [12 , tr 83] Với cuộc cải cách giáo dục lần này, Sarraut chủ tr-ơng nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học của triều Nguyễn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời tiếp tục mở rộng

hệ thống giáo dục Pháp - Việt Sau khoa thi cuối cùng ở Bắc Kỳ năm 1915, ở Trung Kỳ năm 1918 cùng với khoa thi Hội và thi Đình đầu năm 1919, ngày

Trang 22

14/6/1919 vua Khải Định ký Đạo dụ bãi bỏ tất cả các tr-ờng học chữ Hán cùng với hệ thống quản lý từ triều đình đến cơ sở Từ nay nền giáo dục Việt Nam sẽ do nhà cầm quyền Đông D-ơng hoàn toàn chỉ đạo và quản lý Nền giáo dục phong kiến đã suy tàn từ thế kỷ XIX, sống lay lắt từ khi có sự xâm nhập của nền giáo dục thực dân Pháp đến đây bị xoá bỏ hoàn toàn

Với cải cách giáo dục của Albert Sarraut và Đạo dụ của Khải Định thì chỉ còn lại hai hệ thống giáo dục đ-ợc tiến hành: giáo dục cho con em thực dân Pháp theo ch-ơng trình chính quốc và giáo dục ở các tr-ờng Pháp - Việt dạy cho học sinh Việt Nam theo ch-ơng trình bản xứ [12 , tr 83] ở Hà Nội lúc bấy giờ ngoài hai hệ thống giáo dục nêu trên thì cũng bắt đầu hình thành một

hệ thống các tr-ờng t- thục nh-: tr-ờng Thanh Quan ở phố Hàng Cót, tr-ờng Thăng Long, Louis Pasteur, Hoài Đức, Văn Lang

1.2 Tổ chức giáo dục:

Bộ “Học chính tổng quy” của Albert Sarraut gồm 7 ch-ơng có 558

điều, mỗi ch-ơng lại chia thành từng mục lớn, nhỏ với hàng loạt các quy định

về các loại tr-ờng (tr-ờng t-, tr-ờng Pháp - Việt, tr-ờng Pháp, tr-ờng dạy nghề; quy định về các môn học mới; quy định về ngân sách và quy chế tuyển giáo viên ) Hệ thống giáo dục dần dần đ-ợc qui chuẩn hoá Theo đó hệ thống tr-ờng học trong giai đoạn này có ba loại: Giáo dục Pháp - Việt, giáo dục Pháp và giáo dục t- thục Toàn bộ nền giáo dục chia làm 3 cấp:

+ Bậc 1: là tiểu học, theo đó mỗi xã đều có một tr-ờng tiểu học, nếu xã nhỏ thì 2 đến 3 xã gần nhau có thể tổ chức chung 1 tr-ờng Các tr-ờng tiểu học có 2 loại: tr-ờng tiểu học bị thể gồm 5 lớp:

Trang 23

ở mỗi tỉnh lị và huyện có 1 tr-ờng tiểu học bị thể để dạy học trò đi thi lấy bằng tốt nghiệp tiểu học

Tr-ờng sơ đẳng tiểu học: là những tr-ờng có 2 - 3 lớp chủ yếu mở ở các làng xã, học trò chỉ học cho biết đọc biết viết rồi về làm ruộng Một số học trò của loại tr-ờng này nếu có thể theo đuổi đ-ợc thì lên tr-ờng bị thể nào gần đó

để học cho đến khi tốt nghiệp Ngoài ra còn một số qui định về ch-ơng trình tiểu học và thời gian học các môn gồm: tiếng Pháp, Toán, tập đọc, luân lý, vệ sinh, thủ công

+ Bậc 2 là trung học gồm: Cao đẳng tiểu học và trung học Theo ch-ơng trình cũ thì bậc trung học chỉ có Cao đẳng tiểu học và sau đó là 1 năm chuyên ngành Nh-ng lần này có thêm hệ Cao đẳng hoặc Đại học nên phải thêm một bậc trung học nữa để đi thi lấy bằng tú tài

- Cao đẳng tiểu học Pháp (tr-ờng nam và tr-ờng nữ): có 4 năm: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đệ tứ niên Cuối năm học thứ t-, học sinh

đ-ợc đi thi để lấy bằng Cao đẳng tiểu học (còn gọi là bằng Thành chung)

- Giáo dục trung học: có 2 năm kết thúc bằng kỳ thi lấy bằng tú tài (tú tài “bản xứ” không có giá trị như bằng “tú tài Tây”)

Toàn bộ các tr-ờng tiểu học và trung học đều nằm trong hệ thống tr-ờng Pháp - Việt

+ Bậc 3 t-ơng đ-ơng cao đẳng hay đại học: Theo qui định thì chỉ có những ng-ời đậu tú tài mới đ-ợc thi vào Cao đẳng Song những năm đầu do ch-a tổ chức đ-ợc tr-ờng trung học nên các học sinh tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học vẫn đ-ợc thi vào các tr-ờng cao đẳng (trừ các tr-ờng Nông nghiệp, Điện tuy gọi là Cao đẳng nh-ng vì tính chất học nghề nên vẫn lấy học trò có bằng tiểu học)

Bên cạnh đó còn có hệ thống giáo dục dạy nghề (hệ thực nghiệm): ở bậc tiểu học bao gồm các tr-ờng dạy nghề mộc, rèn, nề, dạy nấu ăn, tr-ờng canh nông, tr-ờng mỹ thuật và trang trí dân gian Bậc trung học có các tr-ờng thực nghiệm bị thể dạy toàn khoá ở hệ thực nghiệm tuỳ tính chất của từng

Trang 24

loại tr-ờng và số năm học sẽ t-ơng ứng với tiểu học và trung học, sau khi tốt nghiệp ra tr-ờng sẽ làm ở các cơ sở sản xuất [12 , tr 85]

Trừ các tr-ờng Cao đẳng và trung học khác ở Hà Nội là trực thuộc Phủ toàn quyền, còn các tr-ờng phổ thông và thực nghiệm ở xứ nào thì thuộc ban

đầu xứ quản lý có bộ phận chuyên môn giúp việc Hệ cao đẳng theo nguyên tắc các tr-ờng cao đẳng Đông D-ơng họp thành Viện Đại học Đông D-ơng Nh-ng vì các tr-ờng Cao đẳng ch-a mở hết nên trong Học quy này Albert Sarraut chỉ mới nói những nét khái quát Vì các tr-ờng chia làm hai nên các khoa thi sẽ chia làm hai loại: loại thi theo chương trình “bản xứ” và loại thi theo ch-ơng trình Pháp

- Ch-ơng trình bản xứ gồm: thi tốt nghiệp tiểu học; thi tốt nghiệp trung học gồm cao đẳng tiểu học và trung học (tú tài bản xứ)

- Ch-ơng trình Pháp gồm: Bằng sơ học, bằng Cao đẳng, bằng tú tài Tây Còn thi tốt nghiệp các tr-ờng Cao đẳng sẽ có qui chế riêng

1.3 Nội dung giáo dục:

Do mục đích phát triển giáo dục và đào tạo con ng-ời phục vụ cho công cuộc khai thác, nền giáo dục Pháp chỉ cho phép học sinh đ-ợc học dăm ba chữ gọi là có học vừa đủ để làm những công chức nhỏ, những thầy giáo, thông ngôn, th- ký cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh của các kỹ nghệ, nhà buôn và chủ đồn điền Pháp Nội dung, ch-ơng trình học tập của học sinh không những bị rút ngắn, bỏ bớt đi mà còn bị xuyên tạc, nhất là những nội

dung về lịch sử Việt Nam, thay vào đó là ca ngợi nước Pháp, công ơn “khai

hoá văn minh” của nước đại Pháp Có thể dẫn ra ví dụ về nội dung ch-ơng

trình một số môn học mà học sinh đ-ợc học trong nhà tr-ờng d-ới thời Pháp thuộc nh- sau:

+ Môn Lý luận lớp dự bị (t-ơng đ-ơng lớp 2 hiện nay) có nhiệm vụ dạy

cho học sinh “yêu , kính trọng, vâng lời, biết ơn các nhà cầm quyền đã chăm

lo đến nền an ninh của đất n-ớc” Đến năm thứ 2 hệ Cao đẳng tiểu học, nội

dung này lại được củng cố sâu hơn về “ bổn phận đối với n-ớc Pháp, sự cần

thiết và những công ơn của sự bảo hộ của Pháp”, ở năm thứ t- học sinh phải

Trang 25

biết “bổn phận của mình đối với n-ớc Pháp Tình yêu đối với Tổ quốc nhỏ và

Tổ quốc lớn ” [10, tr 22)

+ Đối với môn Lịch sử, sự xuyên tạc nội dung càng thể hiện rõ ràng hơn ở ch-ơng trình lịch sử cấp sơ đẳng (t-ơng đ-ơng lớp 2-3 hiện nay) học

sinh chỉ đ-ợc biết đến những “khái niệm sơ l-ợc về sử Việt Nam”, trong khi

đó các em phải dành phần lớn thì giờ để học những “ công trình của n-ớc

Pháp ở An-nam”, “những điều người Pháp đã làm: bình định và an ninh, tổ chức cai trị, đấu tranh chống bệnh tật và các tệ nạn xã hội ” Đến lớp đệ nhị

(t-ơng đ-ơng lớp 3 và lớp 4 hiện nay), học sinh chỉ học lịch sử Pháp và bị reo

rắc tư tưởng “ những ng-ời bản xứ ở các thuộc địa phải có lòng trung thành

đối với ng-ời Pháp, đặc biệt là ở Đông D-ơng” Tất cả những điều này làm

ảnh h-ởng không nhỏ đến học sinh nh-: t- t-ởng coi th-ờng dân tộc mình, biết ơn “Mẫu quốc”, reo rắc tâm lý sợ Pháp và phục Pháp

Lên bậc trung học, ch-ơng trình lịch sử Việt Nam lại bị bãi bỏ, học sinh chỉ học lịch sử thế giới từ cổ đại cho đến 1939, trong đó lịch sử n-ớc Pháp là trọng tâm Các sách giáo khoa đều viết bằng chữ Pháp, phần lớn do ng-ời Pháp biên soạn và in ở Pháp rồi đ-a sang Có thể thấy rằng nội dung lịch sử mà học sinh đ-ợc học bấy giờ là lịch sử n-ớc Pháp và Tây Âu, lịch sử dân tộc có nh-ng rất ít và bị xuyên tạc nhiều Tr-ớc tình hình ấy, nhiều ng-ời

tỏ ra lo ngại: “Trong các tr-ờng trung học, ng-ời ta không dạy cho học trò

Nam sử và Việt văn, ng-ời ta dạy lịch sử Pháp và văn ch-ơng n-ớc Pháp Bởi thế cho nên những học sinh ta khi tốt nghiệp hay đã thôi học không biết tí gì

về n-ớc mình, ng-ời ta đã làm cho họ hoá ra ng-ời ngoại quốc” [19, tr 63]

+Vấn đề dạy chữ, điều 134 Học quy Albert Sarraut viết: “ Về nguyên tắc tất cả các môn học ở bậc tiểu học phải dùng chữ Pháp làm ph-ơng tiện giảng dạy” Nhưng thực tế nó gặp nhiều khó khăn và đã từng thất bại từ thời Paul Beau Trong thông tri đề ngày 20 tháng 3 năm 1918, Sarraut lại nói tiếng Pháp bắt đầu dạy từ lớp 3, nghĩa là sau khi học sinh đã đọc thông viết thạo tiếng mẹ đẻ, vả lại việc này cũng phù hợp với những tr-ờng Sơ đẳng tiểu học

Trang 26

của các làng xã chỉ dạy vài năm rồi học trò lại trở về đi cày chứ không dạy 5 năm nh- những tr-ờng tiểu học bị thể

Đối với chữ Quốc ngữ: theo qui chế mới thì chỉ những tr-ờng sơ đẳng mới dạy hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ, còn các tr-ờng tiểu học kiêm bị thì hai lớp d-ới học bằng chữ Quốc ngữ, từ lớp ba trở lên dùng hoàn toàn bằng tiếng Pháp Và việc dạy chữ Quốc ngữ phải h-ớng vào những nội dung phục vụ cho lợi ích của ng-ời Pháp

Còn việc dạy chữ Hán trong các tr-ờng Pháp - Việt đ-ợc qui định: đối với các tr-ờng Sơ đẳng tiểu học thì chữ Hán không phải là môn bắt buộc Những tr-ờng nào muốn dạy thì phải có sự thoả thuận giữa cha mẹ học sinh, hội đồng kỳ mục xã và Hiệu tr-ởng Hiệu tr-ởng phải chịu trách nhiệm về nội dung và ph-ơng pháp dạy chữ Hán của thày giáo Còn ở các tr-ờng tiểu học kiêm bị nếu phụ huynh học sinh và chính quyền địa ph-ơng yêu cầu học thì Thống sứ hoặc Khâm sứ sau khi tham khảo Hội đồng hàng tỉnh rồi mới ra quyết định đ-a chữ Hán thành môn học bắt buộc, tuy vậy cũng chỉ đối với hai lớp cuối cấp mà thôi

Nh- vậy với việc ban hành những qui chế mới, Albert Sarraut đã xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục phong kiến, xác lập một nền giáo dục mới phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa

Đến năm 1924, toàn quyền Merlin thêm vào một số điểm về chủ tr-ơng cho chính sách giáo dục do Sarraut đề ra, là đã phát triển giáo dục theo bình diện Theo đó, tiểu học gồm hai bậc: Sơ học học 3 năm, dạy bằng tiếng Việt Cuối lớp ba phải thi bằng Sơ học yếu l-ợc Tiểu học học 3 năm, dạy bằng tiếng Pháp nh- cũ Học sinh có bằng tiểu học vào tr-ờng Cao đẳng tiểu học học 4 năm Trên đó là bậc trung học bản xứ dạy theo ch-ơng trình trung học Pháp, bỏ học ngoại ngữ và cổ điển học Hy - La mà thêm vào Việt Ngữ và Triết học Trung Quốc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn có mỗi nơi một tr-ờng kỹ nghệ thực hành đào tạo thợ chuyên môn ra giúp việc ở các x-ởng công nghệ, cơ khí công hoặc t- Những đô thị lớn sẽ có những tr-ờng trung học Pháp (Lycée) dạy

Trang 27

Với Albert Sarraut và Merlin chính sách giáo dục của thực dân Pháp cho Hà Nội nói riêng và Đông D-ơng nói chung đã rõ ràng Nó kìm hãm đa

số nhân dân trong vòng thất học và chỉ nhằm đào tạo một số ng-ời cần thiết giúp đỡ cho chúng Hà Nội là trung tâm văn hoá của chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông D-ơng nên những tổ chức trung học, tiểu học cũng tiêu biểu Mặc dù thực dân Pháp áp dụng chính sách giáo dục mới nh-ng những năm 1918-1924 các tr-ờng trung học và tiểu học ở Hà Nội do chúng mở ra vẫn rất thiếu thốn, nhất là sau khi dân số Hà Nội tăng cao Ngay cả sự xuất hiện rất nhiều tr-ờng trung học và tiểu học t- thục d-ới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền thực dân vẫn không đáp ứng nổi nhu cầu học tập của nhân dân Hà Nội và học sinh các tỉnh đổ về Hà Nội học Tr-ờng Albert Sarraut là tr-ờng trung học duy nhất ở Hà Nội giảng dạy theo ch-ơng trình giáo dục Pháp dành riêng cho học sinh ng-ời Pháp, một số học sinh Hoa kiều và Việt Nam thuộc các gia đình có thần thế

Trong những năm 1925 - 1930 phong trào cách mạng sôi nổi trong toàn quốc ở Hà Nội, rất nhiều học sinh, sinh viên tham gia các phong trào yêu n-ớc nh- cuộc biểu tình của sinh viên cao đẳng năm 1925 đòi thả cụ Phan Bội Châu, phong trào bãi khoá của học sinh năm 1926 để truy điệu và để tang cụ Phan Chu Trinh và gia nhập các đảng phái chính trị nh- Việt Nam Nghĩa

Đoàn, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Thực dân Pháp ra sức theo dõi

và đàn áp học sinh, sinh viên Thái độ hằn học của bọn t- bản Pháp ở Việt Nam đối với phong trào học sinh, sinh viên chống lại chúng đ-ợc thể hiện rõ trong các bài báo “Chúng ta hãy xây dựng nhiều nhà tù” năm 1932, trong đó chúng coi là “thêm một tr-ờng học thêm một nhà tù” và tỏ ý muốn hạn chế giáo dục cho ng-ời Việt

Những năm có phong trào Mặt trận dân chủ, học sinh, sinh viên đã sôi nổi tham gia các tổ chức và phong trào đấu tranh Nhiều tr-ờng học trở thành cơ sở của tổ chức “ Thanh niên dân chủ” dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Đông D-ơng Thực dân Pháp đã lập ra ngạch học quan để tăng c-ờng sự kiểm

Trang 28

soát của chúng trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời rút bớt một số tr-ờng khiến cho học sinh ở Hà Nội đã thiếu tr-ờng lại càng thiếu hơn

Tới những năm 1938-1939 trở về sau, một mặt do nhu cầu cần những viên chức giúp cho chính quyền thực dân trong tình hình mới của Đại chiến thế giới thứ hai kết hợp với ý định của chúng không muốn cho sinh viên Việt Nam sang Pháp, một mặt để gây ảnh h-ởng chính trị cho chúng chống lại ảnh h-ởng của phát xít Nhật, số l-ợng học sinh, sinh viên dần dần có tăng hơn tr-ớc Năm 1940, khi địa vị của thực dân Pháp lung lay cực độ, Décou đã ra sức dùng giáo dục để truyền bá ảnh h-ởng của Pháp nhằm vớt vát phần nào

uy tín của chúng ở thuộc địa Ông ta rất quan tâm đến giáo dục mà đặc biệt là

sử học với mục đích để bảo vệ và tô điểm cho lịch sử của n-ớc Pháp trên thế giới và Viễn Đông

Nh- vậy, từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 (1917) đến năm 1945 chính quyền thực dân đã làm đ-ợc hai việc lớn là xoá bỏ nền giáo dục phong kiến, củng cố, mở rộng nền giáo dục Việt Nam Hệ thống giáo dục mới đ-ợc củng cố, giảng dạy đi vào ổn định, tr-ờng học đ-ợc kiến cố hoá dần Đó là một việc làm cần thiết và phù hợp với sự phát triển của xã hội Những cuộc cải cách giáo dục đã làm thay đổi một cách căn bản lối sống và t- duy của ng-ời Việt Nam Nền giáo dục này đ-ợc sử dụng nh- một trong những công

cụ chính yếu phục vụ cho công cuộc chinh phục trái tim và tinh thần của ng-ời Pháp ở Đông D-ơng Ch-ơng trình giảng dạy tuy có mô phỏng theo ch-ơng trình của Pháp song ít nhiều cũng đáp ứng đ-ợc phong tục và truyền thống ở Đông D-ơng Các bậc học từ sơ l-ợc, tiểu học lên trung học và đại học đã tạo nên một tổng thể đồng nhất và tiếp nối thông qua sự lựa chọn và tuyển lọc kỹ càng qua các kỳ thi của mỗi cấp Hệ thống giáo dục này mang hai đặc tính: tính thống nhất và tính chọn lọc Từ đó, nó đem lại hai mục đích: một mặt giảng dạy cho số đông học sinh những kiến thức sơ đẳng nh-: đọc, viết, làm tính, vệ sinh, trồng trọt mặt khác đào tạo và lựa chọn những thành phần -u tú bản địa tham gia vào công cuộc khai thác thuộc địa Tuy nhiên nói nh- vậy không có nghĩa nền giáo dục mà thực dân Pháp áp dụng trên đất n-ớc

Trang 29

ta là hoàn toàn tiến bộ; nền giáo dục mà chúng ra sức gây dựng đó nhằm phục

vụ đắc lực cho công cuộc khai thác, bóc lột và cả thống trị về mặt tinh thần Chính vì vậy mà ng-ời Việt Nam bên cạnh việc tiếp thu nền giáo dục mới mà thực dân đ-a vào, đồng thời không ngừng đấu tranh trong lĩnh vực giáo dục Khi nền giáo dục phong kiến không còn nữa thì bên cạnh nền giáo dục thực dân, nền giáo dục yêu n-ớc đ-ợc hình thành Nó có mầm mống từ cuối thế kỷ XIX, nh-ng sang đầu thế kỷ XX mới thể hiện rõ nét Với các tr-ờng học trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, các nghĩa thục ở Quảng Nam và các tỉnh Bắc Kỳ mà đỉnh cao là Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, mục đích, nội dung của dòng nền yêu n-ớc đã hình thành Và đ-ơng nhiên, chính quyền thực dân không để yên cho nền giáo dục này phát triển một cách công khai

đối lập với nền giáo dục Pháp - Việt lúc đó, nên đã thẳng tay đàn áp Những tr-ờng học yêu n-ớc bị đóng cửa, nh-ng nền giáo dục yêu n-ớc không vì thế

mà bị dâp tắt, nó sẽ đ-ợc các nhà yêu n-ớc lớp sau tiếp thu và phát triển lên một b-ớc mới tạo ra nền giáo dục cách mạng

Tiêu biểu là nhà cách mạng Nguyễn ái Quốc, ng-ời mở đầu cho nền giáo dục cách mạng Ng-ời đã tìm tòi, suy nghĩ, học tập, thể nghiệm để tìm ra một con đ-ờng cứu n-ớc phù hợp Là ng-ời am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin cộng với kinh nghiệm thực tiễn, Nguyễn ái Quốc đã tổ chức và giảng dạy, đào tạo đ-ợc lớp lớp cán bộ vừa có lý luận vừa biết cách vận động quần chúng làm cách mạng, rồi biến nhà tù đế quốc thành tr-ờng học cách mạng

Ngay trong Chánh c-ơng, Sách l-ợc vắn tắt do Ng-ời soạn thảo năm 1930 đã ghi “phổ thông giáo dục theo công nông hoá” Trong quá trình đấu tranh,

Đảng cộng sản đã nêu nhiều khẩu hiệu nh- “thực hành giáo dục toàn dân”,

lãnh đạo nhân dân đấu tranh vạch trần bản chất giáo dục của thực dân Pháp, chống lại chính sách hạn chế việc học Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông

D-ơng, Đảng đã kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi “truyền bá giáo dục, c-ỡng

bức tiếng mẹ đẻ trong các lớp dự bị Thâu nạp vào tr-ờng, chuyển lớp và thi

cử phải được dễ dàng” [3, tr 44] Và để chủ tr-ơng, đ-ờng lối của Đảng đến

Trang 30

với quần chúng nhân dân lao động - những ng-ời nghèo ch-a biết đọc, biết viết, Hội truyền bá quốc ngữ đã ra đời tại Hà Nội và phát huy vai trò của mình, từng b-ớc đ-a cái chữ đến với những ng-ời nghèo thất học, không có khả năng đến tr-ờng mà không phải trả học phí, đ-ợc cung cấp giấy bút, sách

vở Trong quá trình đấu tranh, những ng-ời lãnh đạo phong trào chẳng những

đã dùng chữ Quốc ngữ và cả chữ Pháp để vạch rõ âm m-u thâm độc của giai cấp thống trị, mà còn truyền bá tinh thần dân tộc, truyền thống yêu n-ớc vào học viên và nhân dân đã thu đ-ợc những kết quả to lớn Còn những trí thức yêu n-ớc, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà tr-ờng đã biết chọn lọc những t- t-ởng tiến bộ trang bị cho mình và trở thành những trí thức cách mạng Năm

1943, trong Đề c-ơng văn hoá Việt Nam đã nêu rõ đ-ờng lối cách mạng văn hoá của Đảng về giáo dục: “ Đấu tranh về tiếng nói, chữ viết, thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói, cải cách chữ Quốc ngữ và lợi dụng tất cả khả năng công khai và bán công khai để chống nạn mù chữ” Những năm tiền khởi nghĩa, vấn đề giáo dục cũng rất đ-ợc quan tâm Trong M-ời chính sách của Mặt trận Việt Minh đ-ợc Hồ Chí Minh diễn ca nội dung “Chương trình Việt Minh” có đoạn:

“Thanh niên có trường học nhiều, Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho

Đàn bà cũng đ-ợc tự do, Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền

Ng-ời tàn tật, kẻ lão niên,

Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,

Dạy nuôi Chính phủ giúp cho đủ đầy”

[4, tr206]

Qua những hoạt động, những kinh nghiệm và ph-ơng pháp tổ chức thích hợp, có tinh thần cách mạng kiên c-ờng, biết kết hợp giữa bí mật và công khai, dòng giáo dục cách mạng không bị dập tắt mà đã phát triển một

Trang 31

cách bền bỉ, liên tục và cuối cùng đã thắng lợi cùng với thành công của cách mạng tháng Tám năm 1945

2 Các tr-ờng nữ sinh trong hệ thống giáo dục Pháp – Việt:

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khuynh h-ớng dân chủ t- sản từ Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc đã có ảnh h-ởng đến mọi mặt đời sống văn hoá tinh thần của ng-ời dân Việt Nam Trong đó vấn đề bình đẳng nam nữ, nữ quyền, giải phóng phụ nữ, thời trang phụ nữ là những vấn đề hết sức mới mẻ với xã hội Nho giáo ph-ơng Đông

Trong khi tìm hiểu về tình hình giáo dục ở Đông D-ơng chúng tôi nhận thấy ở ngành Cao đẳng tiểu học số học sinh có những biến động:

Theo một báo cáo về tr-ờng học năm 1922-1923 nh- sau:

Trang 32

Tr-ờng

Đội ngũ giáo viên Học sinh

Ng-ời Âu Ng-ời

bản xứ

Bậc sơ

học

Bậc trung học

Cao đẳng tiểu học con trai

Cao đẳng tiểu học con gái

Trung học (con trai+ con gái)

đòi hỏi thí sinh phải có bằng tú tài Lên tới bậc này thì số l-ợng nữ sinh là rất

ít Một số ng-ời muốn những ng-ời đ-ợc đào tạo này sánh ngang với sinh viên đ-ợc đào tạo tại Pháp nh-ng thực chất họ chỉ đ-ợc coi nh- những nhân viên kỹ thuật cốt để giúp việc cho những kỹ s- tốt nghiệp ở chính quốc mà thôi! Điều này thể hiện rõ trong báo cáo năm 1927 của Henri Gourdon (một nhà quản lý giáo dục Đông D-ơng): “…mục đích là đào tạo ra những phụ tá cho chính quyền” [26, tr133]

Tìm hiểu thêm ở ngành tiểu học t- thục: trong một xã hội mà giáo dục

Trang 33

tr-ờng thì giáo dục t- thục giữ một vai trò quan trọng, nhất là trong một đất n-ớc mà việc học luôn luôn thuộc thẩm quyền t- nhân và trong các làng xã nh- ở Việt Nam Ng-ời ta có thể thấy có 3 loại hình giảng dạy tiểu học t- thục cùng tồn tại:

Thứ nhất là loại hình tr-ờng học có tính tôn giáo: theo thống kê năm học 1931-1932:

Ngành học tôn giáo Trung

kỳ

Cao Miên

Ta có thể thấy loại hình này tập trung chủ yếu ở Bắc Kỳ ( có tới 21 lớp

và 822 học sinh) và Nam Kỳ (có 20 lớp với 630 học sinh) ở các xứ khác của

Đông D-ơng loại hình tr-ờng học này không phổ biến lắm Ví dụ ở Trung kỳ, loại hình này chỉ có tầm quan trọng trong cộng đồng giáo dân theo đạo Thiên chúa (nhất là ở Huế)

Thứ hai là tr-ờng t- thục không tôn giáo kiểu châu Âu: loại hình này phát triển mạnh ở Nam Kỳ, cũng theo điều tra, thống kê trong năm học 1922-

1923 thì ở Nam Kỳ đã có 3 tr-ờng tiểu học kiểu Châu Âu và thu hút đ-ợc hơn

600 học sinh tham gia theo học Tuy nhiên loại hình tr-ờng học này cũng có rất nhiều biến động, đến những năm 1931-1932 (năm đỉnh điểm của khủng hoảng kinh tế) thì số học sinh đã giảm đi rõ rệt

Trang 34

Bªn c¹nh 3 lo¹i h×nh tr-êng häc t- thôc trªn th× cßn cã lo¹i h×nh tr-êng riªng biÖt dµnh cho häc sinh lµ con em ng-êi Hoa sinh sèng ë §«ng D-¬ng:

Trang 35

So sánh với tổng số học sinh cùng độ tuổi đến tr-ờng thí số học sinh trong các tr-ờng học của ng-ời Hoa chiếm một vị trí đáng kể:

Mặc dù chính quyền thực dân ngày càng quản lý khắt khe hơn trong việc mở tr-ờng t- thục nh-ng đi ng-ợc với ý muốn chủ quan của các nhà thực dân, loại hình này không ngừng phát triển cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng bao phủ dần toàn bộ những mảng của ngành cao đẳng, tiểu học, kỹ thuật và học nghề,

cung cấp cho trí thức Việt Nam một thị tr-ờng việc làm không thể coi nhẹ

Qua các số liệu trên cho thấy không chỉ loại hình tr-ờng học công lập

mà ngay cả loại hình truờng học t- thục số l-ợng nữ học sinh cũng chiếm một

tỷ lệ rất ít so với nam học sinh Tham khảo thêm tỷ lệ học sinh đến tr-ờng (so với tổng số dân c-).Tổng số học sinh đ-ợc đến tr-ờng sau một thập kỷ r-ỡi

đạt 18% với một bản đồ học đ-ờng không đồng đều giữa 35% ở Nam Kỳ và 11% ở Trung Kỳ (nơi vốn đ-ợc mệnh danh là đất khoa bảng)

Trung

kỳ

Cao Miên

Trang 36

Sau khoảng 2 thập kỷ “Học chính tổng qui” của toàn quyền Albert Sarraut ra đời thì số l-ợng nữ học sinh vẫn thấp hơn nhiều so với nam học sinh:

Ngành cao đẳng tiểu học và trung học công lập cho nam

Trung

kỳ

Cao Miên

Ngành trung học và cao đẳng tiểu học cho nữ năm 1941-1942

Trung

kỳ

Cao Miên

Trang 37

thực dân không muốn cho sinh viên Việt Nam sang Pháp, mặt khác để gây

ảnh h-ởng chính trị cho chúng chống lại ảnh h-ởng của phát xít Nhật cho nên việc nữ sinh đ-ợc b-ớc vào tr-ờng Đại học Đông D-ơng nh- một thực tế

ngành công nghiệp luyện kim, cơ khí thiếu; ngành công nghiệp khai thác than, xi măng dệt…cơ bản là công nhân không chuyên Theo nh- nhà nghiên

cứu Trịnh Văn Thảo “cho tới năm 1941 hoàn toàn ch-a có ngành dạy

nghề”có chăng thì năm 1939, theo một ch-ơng trình phục vụ cho công nghiệp

chiến tranh đ-ợc soạn thảo tại Đông D-ơng thì ng-ời ta mới lập ra ở Hà Nội một tr-ờng đào tạo thợ tiện, thợ lắp máy, thợ điện, tiếp nhận khoảng 400 học sinh Và tới năm 1943 một kiểu tr-ờng nh- vậy mới đ-ợc thành lập ở PhnômPênh; cũng tới năm 1944 một tr-ờng nữa đ-ợc thành lập ở Huế với 250 học sinh tham gia Một số x-ởng thợ – tr-ờng học (một loại hình tr-ờng vừa học vừa làm hay tr-ờng bổ túc công nông sau này) cũng đ-ợc mở ra ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Kôngpông Cham, Viêng Chăn nh-ng theo đánh giá thì chỉ dành để tuyển chọn công nhân hơn là để đào tạo! Việc phụ nữ ngày càng đến tr-ờng nhiều hơn cũng đã tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và văn hoá Việt Nam Số ng-ời biết chữ nhiều hơn và việc giáo dục

Trang 38

không còn là dành riêng cho nam giới nữa Và có thể nói tr-ờng trung học con gái Hà Nội (tr-ờng nữ sinh Đồng Khánh - Tr-ng V-ơng) là một trong các tr-ờng (Tr-ờng bảo hộ Hà Nội, tr-ờng Quốc học Huế, Tr-ờng nữ học Đồng Khánh (Huế), Tr-ờng Chasseloup Laubat Sài Gòn, Tr-ờng nữ học Sài Gòn, Tr-ờng Mỹ Tho) nằm trong hệ thống giáo dục Bậc cao đẳng tiểu học đã đ-ợc

ra đời, xây dựng, tr-ởng thành trong bối cảnh đó

Trang 39

Ch-ơng II

Sự ra đời và tr-ởng thành của tr-ờng nữ sinh Đồng

Khánh - Tr-ng V-ơng.

1.Giáo dục phụ nữ trong thời phong kiến:

Trong chế độ phong kiến, giáo dục Việt Nam đã có những thành tựu to lớn trong việc đào tạo con ng-ời có những hiểu biết và hết lòng phục vụ nhà vua, phục vụ đất n-ớc Tuy nhiên khi hệ t- t-ởng Nho giáo ngày càng có ảnh h-ởng sâu sắc, thì giáo dục, đặc biệt là giáo dục dành cho phụ nữ d-ờng nh- không

đ-ợc coi trọng Nho giáo chủ tr-ơng tam tòng, tứ đức, đàn bà thấp hơn và phải phụ thuộc vào đàn ông.Việc họ, việc làng, việc n-ớc là việc của đàn ông; đàn bà không đ-ợc tham dự Việc hôn nhân do cha mẹ định đoạt Con gái về nhà chồng thành của chồng, của họ nhà chồng Trong việc nhà, chủ là đàn ông Dầu trong thực tế, phụ nữ là nội t-ớng thì về nguyên tắc, mọi việc cũng phải hỏi ý kiến, nghe theo quyền quyết định của chồng hay của con trai Nguyên tắc đó đi vào tổ chức, vào thể chế xã hội, thành gia pháp, thành lề thói làm đúng đ-ợc mọi ng-ời xung quang kính nể, làm sai bị d- luận chê trách Trong những gia đình giữ gia pháp nghiêm đàn bà không đ-ợc đứng ngồi ở nhà thờ, nhà khách Phụ nữ không đứng chủ việc tế lễ, việc tiếp khách, có tiễn khách thì cũng chỉ ra đến cửa Khi cần phải tiến hành các công việc trọng thể đó mà nhà thiếu đàn ông thì phải nhờ chú bác, anh em làm thay Phụ nữ tránh việc giao tiếp với nam giới Phạm vi tiếp xúc rút hẹp lại chỉ trong gia đình, bà con, láng giềng và bạn gái Ng-ời phụ nữ ít có quan hệ xã hội và không có quan hệ độc lập về mặt nhà n-ớc Với những quy tắc nh- vậy, ng-ời đàn bà cũng tự xử theo địa vị thấp kém và về tâm lý có mặc cảm thấp kém so với đàn ông

Quan hệ phụ thuộc nh- vậy theo tinh thần Nho giáo là quan hệ chủ tùng, là quan hệ âm d-ơng: có chính, có phụ nh-ng không thể thiếu nhau, không thể tách rời nhau Một bên mở đầu, một bên nối tiếp; một bên sinh, một bên d-ỡng; một bên khởi x-ớng, một bên hoàn thành; âm đi theo d-ơng

Trang 40

nh-ng hoàn thành công việc của d-ơng Đó là cách hình dung quan hệ giữa cha và mẹ, giữa chồng và vợ, giữa vua và tôi, giữa Trời và Đất Chủ là chính nh-ng không phải là tất cả [11, tr 370, 371].

Nho giáo rất coi trọng giòng giống, coi trọng đạo hiếu, từ đó coi trọng việc nuôi nấng cha mẹ, việc tang ma, cúng tế tổ tiên Và cũng từ đó coi trọng việc sinh con và nuôi dạy con cái Ng-ời mẹ và vợ cả (trong xã hội phong kiến ng-ời đàn ông có thể có nhiều thê thiếp) đ-ợc kính nể vì những chức trách đó Trong việc nuôi dạy con cái, ng-ời cha vẫn là chủ, nhất là đối với con trai, nh-ng việc nuôi và và dạy con nên ng-ời, ng-ời mẹ vẫn đ-ợc coi là có vai trò quyết định Đặc biệt ng-ời mẹ rất quan tâm tới việc giáo dục con gái Đến những tuổi nhất định, ng-ời mẹ bắt con thức khuya dậy sớm, làm dần những công việc nội trợ, chợ búa, tập làm ăn, tập giao tiếp, dạy cho cách ăn nói, ứng xử, biết giữ ý tứ, sự đúng mức có thể ng-ời mẹ chuẩn bị rất chu đáo cho con gái

để làm vợ, làm mẹ, làm chủ gia đình Nội dung chuẩn bị đó là:

+ Đạo đức hiền từ, hiếu thảo, cách đối xử với chồng và nhà chồng + Giỏi một nghề và biết sắp xếp việc làm ăn, biết quản lý việc gia đình Chi tiêu đúng mức không hoang phí, không bủn xỉn

+ Biết cách nói năng, ăn ở, ứng xử, giải quyết đúng quan hệ với mọi ng-ời, đúng tình, đúng lý, giữ đ-ợc thể thống, làm ng-ời khác kính nể Công việc của một một gia đình th-ờng là rất nhiều, rất phức tạp (khách khứa, giỗ chạp, việc họ, việc làng ) ng-ời đàn bà chủ gia đình không những phải nhanh nhẹn, tháo vát, thông minh mà còn rất cần sức chịu đựng dẻo dai và năng lực làm việc Đã thế họ cũng phải giữ dung nghi cho có thể thống, không thể luộm thuộm cẩu thả Ng-ời mẹ rất hãnh diện nếu con gái về làm dâu nhà ng-ời đ-ợc khen là dâu hiền, dâu đảm, nhất là khi con làm dâu tr-ởng và rất phiền lòng khi con mang tiếng là dâu h-, dâu đoảng H- là nói về tính nết,

đạo đức mà tr-ớc hết là cách đối xử với bố mẹ chồng, với chồng con Còn

đoảng thì là không biết làm ăn, không tháo vát, không biết ứng xử, làm kinh

tế gia đình suy sút, danh giá nhà chồng bị suy giảm Thành dâu đoảng th-ờng

là do l-ời, chậm và vụng Những nội dung nh- vậy đ-ợc bà mẹ dạy bảo tỉ mỉ

Ngày đăng: 23/03/2020, 22:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w