Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cộng đồng quốc tế cũng như nhiều nước đặc biệt quân tâm đó là cùng với những giải pháp truyền thống đa và đang được thực hiện, cần phải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- ∞ -
LÊ THỊ LỘC
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CHỨNG CHỈ RỪNG TRONG
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
(CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- ∞ -
LÊ THỊ LỘC
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CHỨNG CHỈ RỪNG TRONG QUẢN
LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Cán bộ Hướng dẫn : GS Nguyễn Ngọc Lung
TS Võ Văn Sơn
Hà Nội, 2008
Trang 3Mục lục
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục bảng biểu iv
Danh mục hình: iv
Danh mục phụ lục iv
Danh mục các từ viết tắt v
Lời mở đầu 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG VÀ CHỨNG CHỈ RỪNG 4
1.1 Sơ lược quan điểm về QLRBV & CCR 4
1.2 Chứng chỉ rừng (CCR) – Khái niệm và Cơ chế hoạt động 8
1.2.1 Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Vai trò 8
1.2.2 CCR - Cơ chế hoạt động 9
1.3 CCR và sự phát triển 12
1.3.1 Thế giới 12
1.3.2 Trong nước .16
1.4 Thảo luận vấn đề nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .27
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 27
2.1.1 Mục tiêu tổng quát .27
2.1.2 Mục tiêu cụ thể .27
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 27 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu .27
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu .28
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp luận .28
Trang 42.4.2 Phương pháp nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng tại Việt Nam 35
3.1.1 Ý nghĩa của QLRBV và CCR 35
3.1.2 Cơ sở của chứng chỉ rừng .43
3.1.3 Triển vọng và thách thức .47
3.1.3.1 Những triển vọng trong QLRBV và CCR 47
3.1.3.2 Khó khăn và thách thức trong quản lý rừng bền vững 52
3.1.3.3 Những khó khăn đối với các đơn vị thực hiện CCR 55
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến QLRBV và CCR tại Việt Nam .64
3.2.1 Xu hướng thế giới, khu vực .64
3.2.2 Tác động thị trường .70
3.2.2.1 Ảnh hưởng của người mua tới QLRBV, CCR và sản xuất lâm sản Việt Nam 70
3.2.2.2 Vai trò của ngành công nghiệp chế biến gỗ trong QLRBV ở Việt Nam 73
3.2.3 Hành lang pháp lý cho QLRBV & CCR của Việt Nam .76
3.3 Quan điểm của các bên liên quan .79
3.3.1 Quan điểm của các doanh nghiệp chế biến gỗ về Chứng chỉ gỗ ở Việt nam .79
3.3.2 Ngành chế biến gỗ trong việc quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam .80
3.3.3 Ý kiến của chuyên gia về xã hội và quyền của người bản địa .81
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT 84
4.1 Giải pháp về chính sách 84
4.2 Giải pháp về kỹ thuật .88
4.3 Giải pháp về tài chính .93
KẾT LUẬN 95
Tài liệu tham khảo .97
Tài liệu tiếng Việt 97
Tài liệu tiếng Anh 98
Trang 5Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 Danh sách các cuộc họp 30
Bảng 2.2 Điều tra thực địa 31
Bảng 2.3 Họp chuyên gia 32
Bảng 2.4 Chƣng cầu ý kiến trực tiếp 33
Bảng 3 1 Diện tích rừng đƣợc cấp chứng chỉ (1997, 2006) 48
Bảng 3 2 So sánh các chức – tính năng giữa các loại rừng 51
Bảng 3 3 Hệ số thể hiện đến quản lý rừng 61
Bảng 3 4 Các cơ sở sản xuất các lâm sản và công suất 74
Bảng 3 5 Dự đoán nhu cầu sử dụng sản phẩm gỗ (đơn vị 1000 m3) 75
Danh mục hình: Hình 3.1 Diện tích rừng đƣợc chứng chỉ theo vùng (1997 & 2007) 49
Hình 3.2 Sự phát triển Chứng chỉ rừng trên toàn cầu (ha) 64
Danh mục phụ lục Phụ lục 1: Các văn bản pháp luật liên quan tới quản lý bảo vệ rừng từ 1945 đến nay 107
Phụ lục 2: Danh sách các đơn vị chứng chỉ đƣợc FSC ủy nhiệm 115
Trang 6Lời mở đầu
Theo su hướng thực hiện Quản lý rừng bền vững (QLRBV) và Chứng chỉ rừng (CCR) của thế giới, Việt Nam đã có định hướng rõ ràng về quản lý rừng bền vững và mục tiêu về CCR nhưng chưa xây dựng được khuôn khổ chính sách cũng như kế hoạch hoạt động nhằm tạo điều kiện cho QLRBV và CCR chở thành hiện thực và phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và bổ sung để hoàn thiện khuôn khổ chính sách và các quy định về kĩ thuật liên quan đến QLRBV và CCR đang là yêu cầu cấp bách hiện nay
Đặt vấn đề
Rừng tự nhiên của Việt Nam và thế giới đang giảm nhanh trong Thực tế đã chứng tỏ rằng, nếu chỉ
có bằng các biện pháp như: luật pháp, chương trình, công ước…thì không thể bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cộng đồng quốc tế cũng như nhiều nước đặc biệt quân tâm đó là cùng với những giải pháp truyền thống đa và đang được thực hiện, cần phải có giải pháp thiết lập quản lý rừng bền vững (QLRBV) và chứng chỉ rừng (CCR).Mặc dù CCR vừa có thể tăng khả năng tiếp cận thị trường, vừa đem lại các lợi ích về mặt môi trường và xã hội cho nước sản xuất và xuất khẩu, CCR cũng đòi hỏi cần có những khung chính sách có tính hỗ trợ từ ở tất cả các cấp từ địa phương đến trung ương cũng như cộng đồng quốc tế để có thể thực tế hóa các tính năng của nó Quá trình đưa chứng chỉ rừng (CCR) vào quản lý rừng bền vững tại Việt Nam cần được xem xét đánh giá lại một cách toàn diện và đúc rút những kinh nghiệp áp dụng CCR để CCR thực sự là một công cụ quản lý rừng bền vững hiệu quả
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG VÀ CHỨNG CHỈ RỪNG 1.1 Sơ lược quan điểm về QLRBV & CCR
Từ những năm 70 đã bắt đầu có rất nhiều sự lo lắng sâu sắc về tốc độ xuống cấp và mất rừng nhiệt đới
do hậu quả của quá trình cơ khí hóa, hiện đại hóa giao thông cũng như sự bùng nổ dân số và phát triển kinh
tế Vào những năm 1990, mỗi năm trên thế giới mất khoảng 16.1 triệu ha rừng (FAO, 2001) [7]
Quan điểm về Quản lý rừng bền vững (QLRBV) được hình thành do tình trạng mất rừng ở khắp nơi trên thế giới diễn ra ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là rừng nhiệt đới tại các nước đang phát triển Quan điểm QLRBV xuất phát trên cơ sở lý luận về phát triển bền vững
Bắc Âu là nơi có lịch sử sử dụng rừng cho mục đích công nghiệp lâu đời nhất; đây cũng là nời đầu tiên áp dụng quản lý rừng tốt đến luân kỳ thứ 2 và thứ 3 Phần lớn rừng ở đây được quản lý theo nguyên tắc sản lượng bền vững và nó được áp dụng và tuân thủ sớm nhất
Thụy Điển là nươc mà ngành lâm nghiệp trải qua các giai đoạn từ khai thác gỗ (những năm 1850) đến khai thác đại trà (1900) sau đó chuyển sang khai thác có lựa chọn theo quan điểm QLRBV (giữa thế kỷ 20)
và tiến tới Quản lý rừng đa mục tiêu (từ năm 1990)
Đức là nước đầu tiên ở Châu Âu sử dụng thuật ngữ “bền vững” trong lâm nghiệp Năm 1713 nhà lâm nghiệp Carlowitz sử dụng thuật ngữ “bền vững” để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không được vượt quá lượng gỗ mà rừng có thể tăng trưởng trong cùng một khoảng thời gian tương ứng (Hans Carl Von Carlowitz, 1713.) [4] Năm 1804, một nhà lâm nghiệp người Đức khác là Hartig đã đề cập đến quan điểm sản lượng bền vững là sản lượng khai thác gỗ qua các thế hệ không nên vượt quá lượng tăng trưởng Ý tưởng này là xương sống cho nền lâm nghiệp hiện đại ở châu Âu và Bắc Mỹ Trong mối liên quan đến sản lượng gỗ bền vững còn có những giá trị khác của rừng, nó đóng vai trò quan trọng nếu xét trên quan điểm quản lý rừng bền vững, đó là giá trị sinh thái, xã hội, văn hóa và tinh thần (Paavilainen, E 1994) [5].Đến giữa thế kỷ 19, giáo
sư Kark Garye đã nhận thấy tác động tiêu cực của việc quản lý điều chế rừng theo phương thức “chặt trắng rừng đều tuổi” trên cả 2 khía cạnh kinh tế và môi trường Tiếp theo ý tưởng về “rừng ổn định”, năm 1923 Moller đã có những nhận định trước về mô hình quản lý rừng “hòa hợp với thiên nhiên” Mặc dù những nhận định và ý tưởng đó phải mất nhiều thời gian mới được thừa nhận, nhưng những quan điểm sử dụng rừng đó thực sự đóng vai trò như nguyên tắc cơ bản nhất trong QLRBV ngày nay Dựa trên quan điểm đó, chúng ta có những quan điểm khác nhau trong QLRBV, chẳng hạn như “gần gũi với thiên nhiên”, “hài hòa với thiên nhiên”, “tương hợp với thiên nhiên”, “sử dụng rừng trên quan điểm hệ sinh thái” (IGES, Sustainable Asia 2005 & Beyond) [6]
Tổ chức rừng nhiệt đới quốc tế (ITTO) đã đưa ra khái niệm về quản lý rừng bền vững (SFM) mà hiện nay được sự đồng tình và áp dụng của nhiều tổ chức, cá nhân (ITTO webpage) [8]
"Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc niều mục
tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm phẩm và dịch vụ
Trang 7rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường vật chất và xã hội”
Tại các hội nghị quốc tế về rừng: Năm 1993, tại Hội nghị các Bộ trưởng về bảo vệ rừng châu Âu
diễn ra tại Helsinki, người ta nhấn mạnh rằng quản lý rừng bền vững nghĩa là nuôi dưỡng và sử dụng
rừng sao cho rừng vẫn có khả năng tái sinh, phát triển được giá trị kinh tế, duy trì được các chức năng sinh thái, xã hội ở phạm vi toàn cầu, quốc gia và cấp địa phương mà không phá vỡ hệ sinh thái
Các nước châu Phi và Á tiếp cận với quan điểm QLRBV muộn hơn các nước ở châu Âu và Mỹ Đầu những năm 90, tiếp nhận quan điểm QLRBV của các nươc phát triển đi trước trong việc quản lý và
sử dung rừng tại các nước trong khu vực châu Á
1.2 Chứng chỉ rừng (CCR) – Khái niệm và Cơ chế hoạt động
1.2.1 Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Vai trò
Hội đồng quản trị rừng (FSC)
FSC là tổ chức NGO, độc lập, có uy tín nhất trên thế giới về chứng chỉ rừng, được đông đảo các tổ chức môi trường, kinh tế và xã hội công nhận, được cả người sản xuất và người tiêu dùng tín nhiệm, là tổ chức chỉ rừng quốc tế lớn nhất, được thành lập năm 1993 tại Đại hội các sáng lập viện ở Toronto, Canada
Tổ chức này khi thành lập gồm các chuyên gia về môi trường, kinh tế và xã hội FSC đã đề ra 10 nguyên tắc về quản lý rừng bền vững để làm căn cứ đánh giá thẩm định chứng chỉ rừng, mỗi nguyên tắc gồm nhiều tiêu chí chí tiết FSC không trực tiếp thực hiện chứng chỉ rừng mà ủy quyền cho những Đơn vị cấp chứng chỉ thực hiện
Vai trò của FSC
Vai trò của FSC là “thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường,
có ích về mặt xã hộ và có thể thực hiện được về mặt kinh tế”
1.2.2 CCR - Cơ chế hoạt động
Tiêu chuẩn & tiêu chí (C & I) - Cơ sở đánh giá chứng chỉ
Các nước đã thể hiện những nỗ lực thể hiện chính sách, luật pháp và hành động quan tâm đến QLRBV thông qua tiến trình xây dựng những tiêu chí và chỉ tiêu để cụ thể hóa hoạt động QLRBV và quản lý, giám sát những hoạt động này Mối quan hệ giữa chứng chỉ và các tiến trình liên chính phủ nhằm xây dựng các tiêu chí và chỉ thị (C&I) cho quản lý rừng bền vững có tính bổ sung, hỗ trợ
Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước, các nước xây dựng tiêu chuẩn quốc gia (national standard)
về quản lý rừng bền vững trên cơ sở thảo luận và nhất trí giữa các tổ chức môi trường, kinh tế và xã hội, phù hợp với những công ước quốc tế về môi trường và đa học sinh học như UNCED, CITES, CBD, TFAP, thỏa ước liên chính phủ Helsinki 1993, có thể dựa trên những nguyên tắc (principles) QLBV của FSC và ITTO Tiêu chuẩn phải bao gồm các tiêu chí (criteria) cụ thể về môi trường, kinh tế và xã hội phù hợp với đối tượng được chứng chỉ (rừng tự nhiên hay rừng trồng) và với điều kiện của từng vùng sinh thái hoặc trên phạm vi cả nước
Tài liệu “Những nguyên tắc và những tiêu chí quản lý rừng” của FSC gồm 10 nguyên tắc, áp dụng cho tất cả các loại rừng tự nhiên, kể cả rừng sản xuất gỗ cũng như sản xuất các sản phẩm khác Các nguyên tắc và tiêu chí phải bao gồm mọi khía cạnh của quản lý kinh doanh rừng như tuân thủ chính sách, pháp luât, quyền và trách nhiệm sử dụng đất, quyền của các cộng đồng địa phương, phân phối lợi nhuận, khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm, chống ô nhiễm môi trường, kiểm tra đánh giá, chăm sóc bảo vệ rừng v.v
Tóm lại, sự khác nhau về số lượng các tiêu chi của các bộ tiêu chuẩn QLRBV như 6, 7, 8, hay
10 nguyên tắc của FSC cũng vẫ chứa ba nội dung như nhau là kinh tế, môi trường, và xã hội
1.3 CCR và sự phát triển
1.3.1 Thế giới
Chứng chỉ rừng có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh Thường thì CCR được coi là một công
cụ của chính sách, đồng thời đó cũng là một quá trình giúp cho công tác quản lý rưng được tốt hơn Trong cả hai trường hợp chứng chỉ rừng có hai mục tiêu: cải thiện thực tiễn quản lý rừng và tạo ra những thuận lợi về mặt thị trường cho người sản xuất và các sản phẩm được chứng chỉ
Năm 1991, Tổ chức Gỗ nhiệt đới Thế giới (ITTO) có một báo cáo đánh giá về các khuyến khích kinh tế trong quản lý rừng bền vững, trong đó kết luận cần khích lệ việc áp dụng các biện pháp này Cũng trong năn đó, ngân hàng Thế giới đưa ra một tài liệu về chính sách ngành lâm nghiệp trong đó ủng hộ chứng chỉ rừng Vì nhiều lý do khác nhau, ITTO đã không tiếp tục nghiên cứu theo dõi những kiến nghị này, và dần dần các tổ chức phi chính phủ và các bên quan tâm khác đã nắm vai trò lãnh đạo trong chứng chỉ rừng với việc thành lập Hội đồng quản trị Rừng (FSC) vào năm 1993
Hầu hết các nước phát triển, các nước khu vực Châu Âu đã xây dựng và được chính phủ phê duyệt các điều luật và bộ qui chế nhằm QLRBV và rất nhiều nước đã xây dựng bộ tiêu chuẩn và chỉ tiêu phù hợp
Trang 8với bộ tiêu chí của FSC hoặc mang tính chất khu vực (PEFC) như Đức, Bắc Âu (Phần Lan, Thuy Điển), Thụy Điển (FSC), Bắc Mỹ - Canada…
Tại châu Á: Từ đầu những năm 1990, khi thảo luận các vấn đề về rừng, quản lý rừng bền vững luôn là đề
tài được thảo luận sôi nổi và cân nhắc thận trọng trong việc đưa ra các tiêu chuẩn và chỉ tiêu thực hiện Tuy nhiên, ở châu Á có rất nhièu kiểu rừng khác nhau, nên một bộ tiêu chuẩn và chỉ tiêu chung cho toàn vùng vẫn chưa được đưa ra và thống nhất
Đi sau các nước phát triển về vấn đề QLRBV và CCR song khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng đã đạt được những kết quả nhất định: tham gia vào các cuộc họp thượng định Trái đất 1992, làm thành viên của Tổ chức ITTO, xây dựng các bảng tiêu chuẩn quốc gia dựa trên những nguyên tắc và tiêu chí của FSC và đã có một số cánh rừng tự nhiên và rừng trồng được chứng nhận QLRBV
Tuy nhiên, thành tựu của các nước châu Á – Thái Bình Dương còn bị hạn chế rất nhiều do một số khó khăn gặp phải trong QLRBV & CCR: khả năng tự đứng vững sau khi hết những hỗ trợ bên ngoài; khó khăn trực tiếp liên quan đến đất đai; nạn khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp vẫn là vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự thành công trong QLRBV; vấn đề về chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng tự nhiên và rừng trồng; chi phí cho QLRBV và CCR v.v
1.3.2 Trong nước
Việt Nam hội nhập và nằm trong xu thế chung của thế giới và khu vực: có chung các động cơ nhưng có những đặc thù, nội lực và trở ngại riêng Để hiểu thêm sự tiếp cận của ngành lâm nghiệp Việt Nam với QLRBV và CCR cũng như hiệu ứng của CCR trong QLRBV, “việc nghiên cứu áp dụng chứng chỉ rừng như một công cụ để quản lý rừng bền vững” là thực sự cần thiết ở cả cấp độ nhà nước, vĩ mô và ở
cả cấp độ vi mô trong các đơn vị sản xuất lâm nghiệp trong bối cảnh kinh tế thị trường năng động và phát triển không ngừng với những tác động đa chiều của nền kinh tế trong nước và thế giới nhằm nâng cao hiệu quả của công cụ/ phương pháp này
Việt nam tham gia quá trình thực hiện QLRBV và CCR từ năm 1998 tới nay, tuy chưa cấp chứng chỉ được khu rừng tự nhiên nào và có duy nhất một khu rừng trồng tư nhân được cấp chứng chỉ; nhưng được sự hưởng ứng của các cấp quản lý chính quyền, sự hăng hái tự nguyện của chủ rừng, tiến trình QLRBV đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là tại các vùng khai thác gỗ, chế biến xuất khẩu
Song, nhiều trở ngại đặc thù của Việt Nam cũng xuất hiện, đó là quá trình chuyển đổi các chủ rừng quản lý theo cơ chế bao cấp nhà nước như một đơn vị sự nghiệp lâm nghiệp sang hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật
Ngược lại với các chủ rừng, các đơn vị kinh doanh rừng và lâm trường; các cơ sở chế biến tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và hầu hết để vươn đến thị trường có lợi nhuận cao mà yêu cầu của các thị trường này là sản phẩm gỗ được chế biến từ gỗ có nguồn gốc hợp pháp và được quản lý tốt hay quản lý một cách bền vững Các cơ sở chế biến cần phải quản lý hệ thống một cách chặt chẽ để có thể truy được nguồn gốc nguyên liệu gỗ mà họ sự dụng và cần nguồn nguyên liệu gỗ được QLBV và có chứng chỉ để phát triển kinh doanh Do vậy, nhu cầu tìm nguồn gỗ đáp ứng những yêu cầu trên với giá thành thấp và nguồn cung cấp ổn định là một nhu cầu bức thiết cho sự sống còn của ngành chế biến sản xuất gỗ vài năm gần đây Đây có thể xem như là một trong những động cơ cho các đơn vi sản xuất, kinh doanh rừng thực hiện QLRBV và CCR Cùng với sư đầu tư của khối tư nhân và nước ngoài trong lĩnh vực phát triển và quản lý rừng, sự hỗ trợ của các NGO và các tổ chức phi lợi nhuận cho các đơn vị quản lý rừng tự nhiên, lâm trường quốc doanh và các công ty trồng rừng cũng có thể xem là động lực cho các đơn vị này thực hiện CCR và QLRBV
1.4 Thảo luận vấn đề nghiên cứu
Từ sự cấp thiết của việc duy trì và phát triển tài nguyên rừng, áp lực thị trường quốc tế về nguồn gốc gỗ hợp pháp và bền vững, nhu cầu về nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến tại Việt Nam vô cùng cao dẫn đến việc nâng cao giá trị gỗ được quản lý tốt và có chứng chỉ lên cao Các đơn vị sản xuất kinh doanh rừng thực sự có nguồn động lực lơn để thực hiện CCR Tuy nhiên kỹ thuật, chi phí cho CCR và hành lang pháp lý cho CCR còn là những vấn đề vướng mắc của các đơn vị thực hiện CCR Cho thấy Chứng chỉ cho rừng được quản lý bền vững là một yêu cầu cầu và là một thị trường để ngỏ Việc nghiên cứu nhằm áp dụng Chứng chỉ rừng nhằm quản lý rừng bền vững và tăng các lợi ích cho tất cả các bên liên quan là thực sự cần thiết Nghiên cứu này vừa mang ý nghĩa lý luận cho việc quản lý tài nguyên rừng của Việt Nam; vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với các đơn vị quản lý rừng
Trang 9CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
- Mục tiêu lâu dài: Đóng góp vào quá trình quản lý và sử dụng Tài nguyên rừng và đất rừng bền vững ở Việt Nam thông qua những đề xuất về chính sách và giải pháp cho việc thúc đẩy QLRBV & CCR
- Mục tiêu trước mắt: Ý nghĩa thực tiễn và bài học kinh nghiệm cho các đơn vị đang và sẽ thực hiện chứng chỉ rừng tại Việt Nam Cung cấp những xu hướng và thông tin về CCR trong nước và trên thế giới trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và tác động thị trường của thế giới
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
i) Đánh giá thực trạng áp dụng chứng chỉ rừng ở Việt Nam;
ii) Phân tích và đánh giá những yếu tố tác động đến việc QLRBV & CCR tại Việt Nam
iii) Phân tích và đánh giá những khó khăn & thuận lợi trong việc phấn đấu để đạt chứng chỉ rừng tại một số doanh nghiệp lâm nghiệp
iv) Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy việc áp dụng chứng chỉ rừng vào quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản luật và dưới luật liên quan đến quản lý và phát triển rừng, đặc biệt văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến QLRBV và CCR và tác động của những văn bản này tới Tình hình QLRBV và CCR
- Các đơn vị thực hiện QLRBV và đặc biệt là các đơn vị lâm nghiệp hướng tới CCR tại Việt Nam trong
đó điển hình là các lâm trường quốc doanh tại tỉnh Gia Lai và Công ty rừng trồng tư nhân tại Quảng Nam
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hành lang chính sách cho việc áp dụng QLRBV và CCR của Việt Nam
Nghiên cứu thực tiễn từ các đơn vị đã và đang thực hiện QLRBV và CCR trong đó phân biệt ra :
- 2 loại hình tổ chức tư nhân và quốc doanh
- 2 loại rừng là rừng (RTN) và rừng trồng (RT)
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Giới thiệu khái quát về Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
- Yêu cầu và sự phù hợp giữa chính sách với thực tiễn QLRBV và CCR tại Việt Nam
- Ưu điểm của Chứng chỉ rừng trong việc quản lý rừng bền vững so với các công cụ quản lý rừng khác
- Những khó khăn trong việc thực hiện chứng chỉ rừng tại Việt Nam hay những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam
- Đề xuất và kiến nghị những giải pháp để áp dụng chứng chỉ rừng vào quản lý rừng bền vững ở Việt Nam :
Về quản lý nhà nước và chính sách
Cho các đơn vị Quốc doanh và tư nhân
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Đề tài Nghiên cứu hiện trạng việc áp dụng Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng taị Việt Nam do
đó tác giả chọn phương pháp tiếp cận với vấn đề nghiên cứu đã được thực hiện như thế nào trên thế giới, khu vực và thực trạng tại Việt Nam bằng cách tiếp cận và nghiên cứu lịch sử phát triển, những kết quả đạt được, khó khăn thách thức của vấn đề được nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam; bằng phương pháp tiếp cận này tác giả cũng nhằm tới việc tìm hiểu su hướng của thế giới và tại Việt Nam
về vấn đề nghiên cứu
Tác giả chọn phương pháp tiếp cận với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý rừng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để thấy được hành lang pháp lý và môi trường cho việc QLRBV và cho việc áp dụng CCR tại Việt Nam; đồng thời tìm hiểu, phân tích, so sánh cụ thể đối với kinh nghiệm và thành quả của các đơn vị đã và đang thực hiện QLRBV và CCR để thấy được những thuận lợi và khó khăn của việc QLRBV và CCR
Đề tài có đặc thù là không nghiên cứu giới hạn theo vùng do đó không có những trình bày về điều kiện
cơ bản (Tự nhiên – Kinh tế - Xã Hội) của một khu vực nghiên cứu mà tác giả trình bày các vấn đề theo chiều dọc: từ vĩ mô (chính sách và quản lý nhà nước) tới vi mô là vấn đề nghiên cứu tại chính các đơn
vị thực hiện QLRBV và CCR (các hoạt động thực tiễn, cơ hội và thách thức tại đơn vị được chọn
Trang 10Cũng do đặc thù của đối tượng nghiên cứu chia ra làm Rừng tự nhiên và Rừng trồng, đơn vị tư nhân và đơn vị quốc doanh nên các phân tích cũng được trình bảy theo đôi tượng nghiên cứu Mở rộng nghiên cứu tại các đối tượng có chung đặc điểm để thấy được thực tế và su hướng thực tế của vấn đề nghiên cứu Từ những kết quả phân tích ở cấp độ vĩ mô (chính sách và quản lý nhà nước) và vi mô (các đơn vị lâm nghiệp tư nhân và nhà nước, rừng trồng và rừng tự nhiên) tác giả sẽ đưa ra những kết luận ban đầu
về vấn đề nghiên cứu cũng như những giả pháp, khuyến nghị về việc áp dụng CCR trong QLRBV theo cấp độ và đối tượng nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
i) Phương pháp thu thập số liệu
1) Thu thập và tổng hợp tài liệu sẵn có: các văn bản quy phạm pháp luật về QLRBV và CCR của Việt Nam, các lý thuyết - lý luận về QLRBV và CCR trên thế giới từ thư viện, các trường Đại học và Viện nghiên cứu và trên các trang web
2) Phương pháp PRA: phỏng vấn, cho điểm, phân tích quan hệ và tác động và họp thảo luận để lấy ý kiến từ các cán bộ trực tiếp quản lý rừng, cộng đồng dân cư sống quanh đơn vị quản lý rừng và các cán bộ lâm nghiệp các cấp
Danh sách các cuộc họp được thực hiện
T
T
tham gia
1 Họp các bên liên quan:
- Ý nghĩa của ngành chế biến gỗ đối với QLRBV
và CCR
- Vai trò, quan điểm của người mua đối với QLRBV và CCR
- Vai trò của người dân bản địa
Nhóm các doanh nghiệp thu mua, sản xuất -chế biến gỗ và các đơn vị xuất nhập khẩu gỗ; các lâm trường
2 Cơ hội và thách thức của Ngành
gỗ Việt Nam:
- Trình bày và phân tích những
khó khăn, thách thức và cơ hội đối với nganh gỗ Việt Nam
- Phân tích điểm mạnh và yếu
của ngành gỗ Việt Nam
Nhóm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
ngiệp
3 Khó khăn và hướng giải quyết
trong việc thực hiện CCR cho các
đơn vị lâm nghiêp:
- Phân tích các khó khăn và nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp
Nhóm đại diện một số lâm trường ở Tây Nguyên
và Quang Nam
3) Điều tra, khảo sát, thu nhập dữ liệu thực địa, lấy ý kiến của chuyên gia và các cán bộ lâm nghiệp tại các cấp và tại địa bàn nghiên cứu đã lựa chọn để có các thông tin thực tế về thực hiện CCR tại cơ
sở, những khó khăn để đạt được các tiêu chí của FSC, sự khác biệt giữa điều kiện thực hiện và các tiêu chí Các điều tra được thực hiện như bảng dưới:
1 Phỏng vấn các cán bộ của
các đơn vị lâm nghiệp và
hộ sống xung quanh rừng về
:
- Hiểu biết về QLRBV
và CCR
- Suy nghĩ, quan điểm về
QLRBV và CCR
Bổ xung thêm thông tin về quan điểm của các bên
có liên quan bao gồm những cán bộ làm lâm nghiệp và cộng đồng phụ thuộc vào rừng