Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục đào tạo trong CAND là hoạt động dạy giỏi, Hội giảng giảng viên các cấp trong các trường CAND.. Một trong những hoạt động nhằm nân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Mỹ Hà
Mã số: 60140120
Hà Nội - Năm 2015
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Mỹ Hà – Cục Khảo thí
và đảm bảo chất lượng, Bộ Giáo dục&Đào tạo; người đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến quý Thầy (Cô) của Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục và các giảng viên tham gia giảng dạy khóa học đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức về chuyên ngành Đo lường - Đánh giá trong giáo dục cũng như cung cấp cách thức tiến hành một nghiên cứu khoa học cho các học viên
Xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến TS Ngô Văn Hùng, Hiệu trưởng
- Trường Cao đẳng CSND I, TS Phạm Tuấn Hiệp, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Trường Cao đẳng CSND I, những người đã hết sức động viên, tạo điều kiện giúp đ ỡ và có những gợi ý quý báu cho đ ề tài nghiên cứu của tôi Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn đến toàn thể Ban Giám hiệu, lãnh đạo, cán bộ các phòng, ban, các khoa, bộ môn, các giảng viên của Trường Cao đẳng CSND I, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp Phòng Quản lý đào tạo và gia đình của tác giả đã động viên, tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này có thể còn những hạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn để tác giả hoàn thiện nội dung và bổ sung các thông tin nhằm phát triển các hướng nghiên cứu tiếp theo
Xin trân trọng cảm ơn /
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Trần Ngọc Khiêm
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính
bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Khiêm
Trang 66
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê giới tính, độ tuổi của GV tham gia Hội giảng
Bảng 2.2: Thống kê trình độ của GV tham gia Hội giảng
Bảng 2.3: Thống kê chức danh giảng dạy của GV tham gia Hội giảng
Bảng 2.4: Thống kê kết quả tham gia Hội giảng của GV
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ quan trọng của hoạt động Hội giảng GV
Bảng 2.6 Đánh giá tiêu chí đang sử dụng
Bảng 2.7 Những khó khăn khi đánh giá giảng viên trong kỳ thi Hội giảng giảng
viên tại Trường Cao đẳng CSND I Bảng 3.1: Trung bình và độ lệch chuẩn của cả bảng hỏi
Bảng 3.2: Trung bình và độ lệch chuẩn của từng câu hỏi trong bảng hỏi
Bảng 3.3: Kiểm định T-test của từng câu hỏi trong bảng hỏi
Trang 7xã hội sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” Trong các kỳ đại hội vừa qua,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu và
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội
Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh - quốc phòng Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI của Đảng nhấn
mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan.”[3]
Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.” [3]
Tại Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
tiếp tục khẳng định: Để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thì giải pháp
Trang 88
có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo [3] Đặc biệt, qua
gần 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển toàn diện của đời sống kinh tế - xã hội, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục,
trong đó nhấn mạnh “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống lương tâm, tay nghề của nhà giáo” [1] Triển khai thực
hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 11/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”, đây là văn bản đầu tiên đã cụ thể hóa
và nêu cao vai trò của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, trong đó xác định mục tiêu là: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước những năm qua có sự đóng góp to lớn của lực lượng CAND Lực lượng CAND được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực an ninh trật tự Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng bảo vệ
Tổ quốc, lực lượng CAND đã được xây dựng và không ngừng lớn mạnh như ngày nay là nhờ công tác giáo dục đào tạo trong lực lượng CAND không
Trang 9“Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân”, trong đó đã xác định quan điểm
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường CAND là yếu tố quyết định để thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong CAND; xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng theo tiêu chuẩn chức danh quy định cho từng bậc học, có cơ cấu đồng
bộ về trình độ và ngành nghề, độ tuổi
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục đào tạo trong CAND là hoạt động dạy giỏi, Hội giảng giảng viên các cấp trong các trường CAND Tổ chức hoạt động dạy giỏi, Hội giảng giảng viên nhằm đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy; khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên Công an nhân dân không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh giảng dạy; phát triển và nâng cao chất lượng phong trào thi đua dạy giỏi trong các trường CAND Việc xét công nhận danh hiệu dạy giỏi nhằm ghi nhận, biểu dương, tôn vinh những nhà giáo
có thành tích trong phong trào thi đua dạy giỏi; đảm bảo điều kiện để giảng viên, giáo viên, huấn luyện viên trong CAND đạt được các tiêu chuẩn chức danh cao hơn trong giảng dạy, huấn luyện; là cơ sở để xét danh hiệu thi đua theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an đối với đội ngũ nhà giáo
Trang 1010
Hoạt động dạy giỏi là hoạt động chuyên môn được tổ chức theo năm học Trên cơ sở kết quả hoạt động dạy giỏi, nhà trường tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm để cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo và là cơ sở để xem xét công nhân danh hiệu dạy giỏi cho cá nhân đã có thành tích tham gia
Một trong những hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho GV của Nhà trường đó là hoạt động Hội giảng GV, hoạt động Hội giảng GV là một trong những hoạt động dạy giỏi, đều được tổ chức định kỳ nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt trong nhà trường; động viên GV đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp dạy học; tạo điều kiện cho giáo viên học hỏi, trao đổi, nhân rộng những sáng kiến, kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy tích cực, hiệu quả nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giảng viên; biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân đạt thành tích cao trong Hội giảng, kết quả Hội giảng là cơ sở để xét công nhận danh hiệu Giảng
viên dạy giỏi cấp trường và các danh hiệu thi đua khác của GV
NLSP của GV tham gia kỳ thi được thể hiện qua ba phần thi: Kiểm tra hiểu biết, Thực hành bài giảng, Hồ sơ bài giảng Kỳ thi là nơi để các GV chứng tỏ năng lực của mình cũng như là nơi tôi luyện bản thân để hoàn thiện các kỹ năng sư phạm cho riêng mình qua đó thúc đẩy phong trào dạy giỏi trong nhà trường Tuy nhiên việc đánh giá NLSP của GV tham gia kỳ thi còn
có những mặt hạn chế cụ thể như:
- Về kiểm tra hiểu biết (thi trắc nghiệm, tự luận hoặc kết hợp cả hai): nội dung, hình thức thi và tiêu chí để chấm điểm chưa được thực hiện tốt; tiêu chí đưa ra chưa thật sự chính xác, chưa được quy định rõ ràng còn mang tính chủ quan của người chấm
- Về thực hành bài giảng: các tiêu chí đưa ra để đánh giá chưa được thống nhất trong ban giám khảo, còn chung chung, chưa thật chi tiết và chưa đảm bảo đánh giá đúng NLSP của GV
Trang 1111
- Về hồ sơ bài giảng: tiêu chí đưa ra cho một hồ sơ bài giảng tham gia Hội giảng cần đạt được còn mang tính hình thức, chung chung; các tiêu chí đánh giá đang áp dụng còn thiếu tính mở, không tạo cho giảng viên sự sáng tạo, áp dụng máy móc các mẫu mà Bộ Giáo dục&Đào tạo, Bộ Công an đề ra
Từ những bất cập đó, tôi nhận thấy cần phải xây dựng một bộ tiêu chí đảm bảo chất lượng, thống nhất để đánh giá NLSP của GV trong kỳ thi Hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng CSND I, qua đó chọn ra được những
GV giỏi, nêu gương để GV trong trường học tập, góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo trong nhà trường Do đó, tôi chọn đề tài : “Xây dựng bộ tiêu
chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I” để làm luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong các kỳ thi Hội giảng giảng viên nhằm đánh giá khách quan, chính xác nhất năng lực sư phạm của giảng viên, đồng thời nâng cao chất lượng của kỳ thi Hội giảng giảng viên qua đó nâng cao chất lượng giảng viên Trường Cao đẳng CSND I
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chúng tôi chỉ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên tham gia kỳ thi Hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
4 Câu hỏi nghiên cứu
Bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm giảng viên của nhà trường trong hoạt động Hội giảng giảng viên hàng năm được xây dựng trên cơ sở nào?
Trang 1212
Kết quả nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm giảng viên của nhà trường trong hoạt động Hội giảng giảng viên hàng năm như thế nào?
5 Nhiệm vụ và sản phẩm kỳ vọng của nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, tài liệu về hoạt động dạy giỏi, hội giảng của Bộ Giáo dục&Đào tạo, Bộ Công an và các tài liệu nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước;
- Nghiên cứu thực trạng các tiêu chí đánh giá NLSP của GV tại các kỳ Hội giảng giảng viên hằng năm tại Trường Cao đẳng CSND I
- Đề xuất một bộ tiêu chí đánh giá NLSP của GV khắc phục các hạn chế còn tồn tại, nâng cao chất lượng đánh giá tại các kỳ Hội giảng GV hàng năm của Trường Cao đẳng CSND I
5.2 Sản phẩm kì vọng của nghiên cứu
Xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá NLSP của GV để tìm ra các GV giỏi có năng lực trong kỳ thi Hội giảng GV, nhằm đáp ứng được các yêu cầu giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường
6 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Các tiêu chí đánh giá giảng viên trong các kỳ thi Hội giảng giảng viên hàng năm của Trường Cao đẳng CSND I
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập thông tin, phân loại, hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Điều tra, khảo sát nhằm xác định thực trạng tổ chức các kỳ thi Hội giảng giảng viên hàng năm, các tiêu chí đánh giá NLSP của GV trong các kỳ Hội giảng GV tại Trường Cao đẳng CSND I Để có thông tin làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng, sẽ khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý kỳ thi, các cán bộ biên soạn đề thi và một số giảng viên đã tham dự các kỳ thi
Tổ chức lấy ý kiến các cán bộ quản lý, GV bằng phiếu hỏi để thẩm định
hệ thống tiêu chí đánh giá mới mà luận văn đề xuất
+ Phương pháp điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp:
Dự kiến sẽ phỏng vấn trực tiếp một số nhà khoa học, cán bộ quản lý các kỳ thi và GV đã tham gia các kỳ thi
Trang 1414
Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia để lấy ý kiến tư vấn, góp ý trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu, đề xuất bộ tiêu chí đánh giá GV
- Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu thập được thông qua khảo sát, thông qua thẩm định bộ tiêu chí đánh giá để từ đó rút ra các kết luận phù hợp
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Luận văn có 3 chương: Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
Trang 1515
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói chung và chất lượng giáo dục các trường đại học, cao đẳng nói riêng chính là đội ngũ giảng viên Sự phát triển của giáo dục và đào tạo ngày nay đòi hỏi người GV cần có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực, đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật.”[18]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh Giáo viên phải có đủ đức, tài.”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa XI của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình
độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có
Trang 16kỳ CNH – HĐH đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
1229/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong CAND”, trên cơ sở đó Bộ
Công an đã ban hành Kế hoạch số 128/KH-BCA-X11 quy định về tuyển chọn, bồi dưỡng, chuẩn hóa về trình độ theo chức danh đội ngũ giáo viên các trường CAND giai đoạn 2012-2015 và Quyết định số 5620/2012/QĐ-BCA
phê duyệt Đề án thành phần số 5 “Đề án phát triển và nâng cao năng lực chất lượng đội ngũ giáo viên các trường Công an nhân dân” Đây là các văn bản
nhằm tập trung các nguồn lực và chính sách thực hiện quy hoạch, tuyển chọn, xây dựng đội ngũ giáo viên các trường CAND đảm bảo đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, đồng bộ theo quy mô, nhiệm vụ đào tạo của từng trường và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của toàn lực lượng CAND đến năm
2015 và 2020
Để có được những GV giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay, đặc biệt đối với các trường thuộc lực lượng vũ trang thì hoạt động Hội giảng GV hàng năm tại các trường CAND đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết trong công tác giáo dục đào tạo của ngành Công an
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Một số hướng tiếp cận năng lực, năng lực nghề nghiệp
Trong tâm lý học, NL là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi “Sự phát triển năng lực của mọi thành viên xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có
Trang 1717
kết quả hơn,… và cảm thấy hạnh phúc khi lao động” [17] Trong nền Tâm lý học Liên Xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề NL, nổi bật như: NL toán học của V.A Crutetxki, V.N.Miaxisop; NL văn học của Covaliop, V.P.Iaguncov những công trình nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt lý luận và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên Xô trong những nghiên cứu về NL
Đề cập đến NL nghề nghiệp, trong đó có NLSP nhà nghiên cứu Michel Develay trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề đào tạo GV” cho rằng:
“Những năng lực nghề nghiệp không phải là cái có sẵn mà được hình thành thông qua hoạt động thực hành, rèn luyện nghiệp vụ trong suốt quá trình đào tạo cũng như hoạt động nghề nghiệp” [17]
NL nghề nghiệp trong giáo dục được thực hiện thông qua nhiều hoạt động Trong công trình nghiên cứu “Kiểm tra và đánh giá lớp học – Nguyên tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả”, nhà nghiên cứu McMillan đã đưa ra một số biện pháp, cách thức và mức độ đánh giá trong giáo dục Đây là một căn cứ để xây dựng các tiêu chí đánh giá NLSP của GV [37]
1.1.1.2 Hướng tiếp cận đánh giá năng lực và năng lực dạy học
Khối cộng đồng chung Anh (2003) cho răng đánh giá NL là: “Đo lường năng lực không chỉ là việc đo lường khả năng thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập Nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo lường việc sử dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm
vụ học tập đó tới một chuẩn nào đó” [23]
Năm 2008, nhóm nghiên cứu gồm Laura Goe, Courtney Bell, Olivia Little đã hoàn thành công trình nghiên cứu có tên “Approaches to Evaluating Teacher Effectiveness: A Research Synthesis” (Tiếp cận phương pháp đánh giá giáo viên hiệu quả: Một nghiên cứu tổng hợp) đã trình bày những luận
Trang 18Trong công trình nghiên cứu “Mapping the teacher’s role: The value of defining core competencies for teaching”, Khoa Phát triển văn phòng và Trung tâm Giáo dục Y tế, Đại học McGill, Canada đã lập Bản đồ vai trò của
GV – Giá trị của xác định NL cơ bản cho việc giảng dạy Theo đó, những nội dung cơ bản để xác định NLSP của GV bao gồm: đảm bảo chất lượng của chương trình giáo dục; đánh giá GV; đánh giá hiệu suất và hoạt động phát triển nghề nghiệp của GV…
* Ở Mỹ:
Giáo dục từ phổ thông đến đại học của Mỹ đều chú trọng đánh giá NL Khi đánh giá NL, những yêu cầu cho GV cũng cao hơn GV cần phải có các thành phần NL đánh giá sau:
+ NL miêu tả những kỳ vọng của họ về thành quả học tập và NL học tập của học sinh
+ Hiểu biết về các mục đích đánh giá khác nhau
+ Xác định hoặc thiết kế phương pháp đánh giá phù hợp
+ Hiểu về các đặc điểm thống kê của kết quả đánh giá và giải thích kết quả đó
+ Lưu và phản hồi thông tin về đánh giá cho các đối tượng có liên quan + Biết và ứng dụng các chuẩn về đánh giá trên lớp
Trang 19+ Việc đưa ra chuẩn đầu ra là NL không chỉ dừng lại ở việc đưa ra chuẩn đầu ra, mà phải có kèm cả hướng dẫn để làm thế nào có được chuẩn đầu ra đó nữa cho cả GV và học sinh
Từ những trở ngại đó, một số giải pháp được nêu ra cho đánh giá NL như: + Thiết kế hệ thống các NL cụ thể, các phương pháp đánh giá – không tách rời từng thành phần
+ Tập trung chú ý vào cả hệ thống đánh giá, từ việc xác định mục đích, xây dựng NL, đầu ra, phương pháp, phản hồi…
+ Phân biệt các khái niệm, ví dụ như thực hành và NL
+ Xác định biện pháp đảm bảo các nguyên tắc chính của đánh giá: độ khả thi, độ hữu dụng, tính giá trị, tính tin cậy, độ thực tế, ảnh hưởng tới giáo dục
+ Xây dựng công cụ đánh giá mới
+ Đào tạo GV và người tham gia đánh giá
+ Xây dựng thang đo, chuẩn NL, tiêu chí đánh giá
* Ở New Zealand và Úc:
Tại New Zealand, đánh giá theo chuẩn đầu ra đã bắt đầu được tiến hành
từ những năm 1970 Ngân hàng câu hỏi và các hệ thống thi cử trên diện rộng
Trang 2020
được xây dựng, các biện pháp đảm bảo chất lượng khác cũng được áp dụng
GV được quyền tự quyết các phương pháp đánh giá nhưng nhà nước có hỗ trợ thông qua các hướng dẫn bằng văn bản về cách thực hiện đánh giá Rất nhiều hoạt động hỗ trợ đã được cung cấp cho GV và những người thực hiện đánh giá Vấn đề quan trọng là việc thu thập thông tin dữ liệu về học sinh và dạy cho GV cách xử lý lượng thông tin lớn đó để phục vụ giảng dạy Tuy vậy, dù thay đổi chương trình và đánh giá vẫn phải thay đổi cùng với các chính sách phân vùng giáo dục và ngân sách giáo dục (Philips, 2002)
Tại Úc, đánh giá dựa trên chuẩn đã được áp dụng phổ biến và nền giáo dục nhiều bang đang chuyển dần sang theo hướng đánh giá theo chuẩn đầu ra Trong hệ thống đánh giá như vậy, GV trở thành người đánh giá chính và NL đánh giá trở thành một NL được yêu cầu ở GV
- 9 nguyên tắc “vàng” trong giảng dạy đại học được Society for Teaching and Learning in Higher Education (STLHE) xây dựng
Một trong số 9 nguyên tắc này thì nguyên tắc NLSP của GV là nguyên tắc hết sức quan trọng “Bên cạnh việc hiểu biết về chủ đề môn học, GV còn phải có kiến thức và kĩ năng sư phạm phù hợp, bao gồm khả năng truyền đạt mục tiêu, lựa chọn phương pháp giảng dạy hiệu quả, tạo cơ hội cho sinh viên thực hành và đưa ra ý kiến phản hồi, quan tâm đến sự đa dạng trong thành phần sinh viên Nếu việc nắm vững một kĩ năng nhất định (ví dụ, phân tích phê phán, thiết kế các thí nghiệm) là một trong số các mục tiêu của khoá học
và sẽ được xem xét trong đánh giá và cho điểm sinh viên, thì GV tạo đầy đủ
cơ hội cho sinh viên thực hành và nhận ý kiến phản hồi về kĩ năng này trong quá trình học Nếu các sinh viên hay nhóm sinh viên có những kiểu học khác nhau thì GV phải nắm rõ được những điểm khác nhau này và nếu có thể thì thay đổi kiểu dạy của mình cho phù hợp Để duy trì NLSP, GV phải tích cực cập nhật các phương pháp giảng dạy nhằm giúp sinh viên học các kiến thức
Trang 2121
và kĩ năng phù hợp và tạo ra các cơ hội giáo dục bình đẳng cho các nhóm sinh viên khác nhau Điều này đòi hỏi GV phải đọc nhiều tài liệu giáo dục tổng quan hay chuyên ngành, tham dự hội thảo, hội nghị và thử nghiệm các phương pháp giảng dạy khác nhau trong một khoá học nhất định hay với một nhóm sinh viên nhất định”
Như vậy, chúng ta thấy trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về đánh giá năng lực người giảng viên, tuy nhiên mỗi nơi lại có xu hướng nghiên cứu đánh giá phù hợp với nền giáo dục của mình và đánh giá năng lực người giảng viên ở những điểm khác nhau
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục …quan tâm nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng cho đội ngũ GV, GV ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ, vị trí, nhiệm vụ của người GV và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Đặc biệt trong thời gian gần đây, khái niệm năng lực, đánh giá
NL được bàn luận nhiều và được các nhà khoa học giáo dục tập trung nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Tác giả Lê Thùy Linh (Trường Đại học sư phạm-ĐH Thái Nguyên, 2013) với đề tài “Đánh giá năng lực sư phạm của sinh viên Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên theo chuẩn đầu ra”, đã căn cứ theo chuẩn đầu ra để xây dựng 7 tiêu chí đánh giá NLSP
- Đề tài: “Thực trạng NVSP giáo viên trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
và những đề xuất xây dựng chuẩn NVSP giáo viên TCCN” năm 2009 do Phan Văn Kha là chủ nhiệm Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu đánh giá thực trạng trình độ nghiệp vụ sư phạm (NVSP) GV TCCN, công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng NVSP cho GV TCCN, thực trạng về đánh giá NVSP GV
Trang 22Ngoài ra, còn khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học các cấp, các luận văn, bài báo đề cập đến NLSP của GV Các công trình nghiên cứu đã đưa ra được các giải pháp bồi dưỡng, phát triển NLSP của GV cho nhà trường hay các cấp học Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc xây dựng tiêu chí đánh giá NLSP của GV trường cao đẳng, đặc biệt là việc nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá NLSP của GV trong kỳ thi hội giảng GV ở trường cao đẳng thuộc lực lượng CAND Đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở Trường Cao đẳng CSND I
1.2 Một số khái niệm liên quan
1.2.1 Khái niệm “giảng viên”
GV là khái niệm dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở trong các cơ sở giáo dục đại học Hiện nay, GV được quy định tại Luật Giáo dục năm 2005, Luật giáo dục Đại học 2012 và Điều lệ Trường Cao đẳng ban hành kèm theo Thông tư số 14/TT-BGDĐT ngày 28/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, cụ thể:
- Điều 70 - Luật Giáo dục 2005 quy định về nhà giáo như sau:
“1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác
Trang 2323
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng
3 Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi
là giảng viên”
- Điểm e, khoản 1, Điều 77 – Luật Giáo dục năm 2005 về trình độ
chuẩn được đào tạo của nhà giáo được quy định như sau: “Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ”
- Điều 54 - Luật Giáo dục Đại học 2012 quy định về GV:
“1 Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục
2 Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư
3 Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học
là thạc sĩ trở lên Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do
Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định
Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ưu tiên tuyển dụng người có trình
độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên
Trang 24“1 Giảng viên trường cao đẳng phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng
2 Giảng viên các trường cao đẳng phải có trình độ từ đại học trở lên phù hợp với các môn học của ngành đào tạo Ưu tiên tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi và người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên Những người tốt nghiệp các ngành ngoài sư phạm phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm”
Từ những quy định trên, có thể thấy: GV là những nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân GV phải có các tiêu chuẩn theo quy định, có thể tóm tắt các tiêu chuẩn đó là phẩm chất (đức)
và năng lực (tài) Đây là hai bộ phận cấu trúc nên nhân cách của mỗi GV
Từ những phân tích trên đây có thể nêu khái niệm GV như sau:
GV là những nhà giáo giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe, đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu nghề nghiệp; có tiêu chuẩn, chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Nhà nước nói chung và những quy định đặc thù của từng ngành, từng trường đại học, cao đẳng nói riêng
1.2.2 Khái niệm “tiêu chí”
Thuật ngữ “tiêu chí” tương đương với thuật ngữ tiếng Anh “Criterion” Trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê “tiêu chí là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm” [27]
Trang 25Theo quan niệm của tác giả, chỉ số là một giá trị có thể thể hiện bằng
số, hoặc thể hiện bằng cách biểu đạt ngôn ngữ, mỗi chỉ số là một dấu hiệu trong nhiều dấu hiệu về một tiêu chí hay tin tức dùng để mô tả bản chất của sự việc, công việc, hoạt động, con người… Các chỉ số/chỉ báo là căn cứ để chủ thể đánh giá thu thập các minh chứng chứng tỏ đối tượng được đánh giá đạt ở mức độ nào Các chỉ số định lượng hay định tính này được thể hiện ra bên ngoài thông qua các minh chứng
1.2.3 Khái niệm “đánh giá” (Evaluation)
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực Đánh giá
có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (quanlitative) dựa vào các ý kiến và giá trị
Theo quan niệm của triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên nhân mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái
độ Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động
Khái niệm “đánh giá” được sử dụng rất phổ biến trong giáo dục đại học Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007) đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo [32]
Trang 2626
Trong hội thảo – tập huấn về kiểm định chất lượng giáo dục đại học tổ chức tại Quảng Ninh (2012), G.S Anthony de Sam Lazaro cũng đưa ra định nghĩa: đánh giá là một hay nhiều quá trình xác định, thu thập và chuẩn bị số liệu để đánh giá mức độ đạt được của các chuẩn đầu ra và các mục tiêu giáo dục của giáo dục đào tạo Cả hai khái niệm này cho thấy, đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thực hiện
Quan điểm này cũng trùng hợp với R.Tiler (1984): “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục”
Theo GS Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [15]
Theo Phạm Xuân Thanh (2007) đánh giá là một quá trình bao gồm:
- Chuẩn bị một kế hoạch;
- Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả;
- Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá [33]
Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), NXB Đà Nẵng, “đánh giá” được hiểu
là nhận định giá trị [27]
Bên cạnh đó còn có thể kể đến quan điểm của một số nhà nghiên cứu như L.A Braskam và J.C.Orey đánh giá được coi là mô hình 3 yếu tố: hình thành kết quả mong đợi (hay còn gọi là xây dựng chuẩn cho công tác đánh giá); Thu thập bằng chứng; Sử dụng bằng chứng
Trang 2727
Theo Owen và Rogers (1999), đánh giá là việc thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được theo quy trình 4 bước:
- Xây dựng tiêu chí đánh giá;
- Xây dựng các chuẩn mực;
- Đo lường các thuộc tính sự vật theo tiêu chí và đối chiếu với chuẩn mực;
- Tổng hợp và tích hợp các bằng chứng thu được để dưa ra những nhận định chuẩn xác
Ta rút ra được khái niệm “đánh giá” được vận dụng trong việc đánh giá NLSP của giảng viên trong kỳ thi Hội giảng giảng viên: Là hoạt động có mối liên hệ đặc biệt chặt chẽ với quá trình tham gia Hội giảng Đó là một chuỗi liên tục các hoạt động kế tiếp nhau giữa hồ sơ tham gia Hội giảng – thực hành bài giảng – thi hiểu biết của giảng viên tham gia
1.2.4 Khái niệm “năng lực sư phạm của giảng viên”
Trong thực tế bất kỳ ai cũng có thể tiếp thu một số kiến thức, có được những kỹ năng, kỹ xảo tối thiểu là cái làm cho con người ta có thể dùng khi hoạt động Ai cũng có thể học để biết đọc, biết viết Song trong những điều kiện như nhau thì những người khác nhau lại tiếp thu được những kiến thức,
có được những kỹ năng, kỹ xảo ở nhịp độ khác nhau Một người có thể tiếp thu một vấn đề nào đó một cách nhanh chóng, nhưng người khác lại mất nhiều thì giờ và sức lực Một người có thể đạt trình độ điêu luyện, còn người khác mặc dù hết sức cố gắng chỉ đạt trình độ trung bình nhất định Sự khác biệt đó là do mỗi người khác nhau thì có năng lực làm việc khác nhau
Trong phần này, chúng tôi trình bày một cách khái quát các vấn đề về nghiệp vụ sư phạm, năng lực, NLSP và các NLSP cần thiết của người GV trường CAND
1.2.4.1 Nghiệp vụ sư phạm
Trang 2828
Theo tác giả Lục Thị Nga, thuật ngữ “nghiệp vụ sư phạm” là từ ghép của “nghiệp vụ” và “sư phạm” [25] Nói đến nghiệp vụ tức là nói đến công việc chuyên môn của một nghề Thuật ngữ sư phạm có thể hiểu là tên gọi chuyên ngành đào tạo giáo viên các trường, khoa đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp
Như vậy, nghiệp vụ sư phạm có thể hiểu là chuyên môn của nghề dạy học, không chỉ là hệ thống kỹ năng mà bao gồm cả hệ thống tri thức và các phẩm chất nghề nghiệp mà một người giáo viên cần có
Theo Đinh Thị Kim Thoa [34]: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả”
Theo Xavier Roegiers [36]: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước
để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”
Tác giả Phạm Minh Hạc [12] cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”
Theo Bùi Văn Huệ [16]: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”
Trang 2929
Theo Trần Việt Cường [10]: “Năng lực là hệ thống những thuộc tính của cá nhân con người, phù hợp với yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho
hoạt động đó đạt kết quả cao.”
Năng lực có thể chia thành hai loại cơ bản sau:
- Năng lực chung: Là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, trí lực (quan sát, trí nhớ, tư duy…), là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả Năng lực chung là cơ sở của bất kỳ năng lực chuyên biệt nào
- Năng lực chuyên biệt: Là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực hoạt động chuyên biệt có kết quả cao
Năng lực của con người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng chủ yếu được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới tác động của rèn luyện, giáo dục trong một môi trường hoạt động nhất định Năng lực có mối quan hệ qua lại, biện chứng với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy năng lực phát triển Ngược lại, năng lực lại làm cho con người nhanh chóng nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực chuyên môn của họ
Từ những quan điểm trên, tác giả thấy các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng:
- Năng lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động Nói đến năng lực
là nói đến khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của cá nhân
- Năng lực biểu hiện và quan sát được trong hoạt động, nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ
- Năng lực chỉ có thể rèn luyện mới phát triển được
- Có nhiều năng lực khác nhau, mỗi cá nhân khác nhau có năng lực khác nhau
Trang 30Theo các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Lê Khánh, Trần Trọng Thủy [13] thì các NLSP bao gồm: (1) Năng lực nắm vững kiến thức khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, (2) Năng lực hiểu học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, (3) Năng lực nắm vững phương pháp giảng dạy
và vận dụng các phương pháp ấy có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục, (4) Năng lực giáo tiếp với học sinh và phụ huynh học sinh, (5) Năng lực phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, (6) Năng lực tổ chức các dạng hoạt động của học sinh
Các tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng [14] và Bùi Văn Huệ [16] lại dựa vào chức năng đặc trưng của người GV để xác định cấu trúc của NLSP Để thực hiện các chức năng đặc trưng đó phải có hệ thống các năng lực tương ứng do đó tạo thành các nhóm năng lực như: (1) Nhóm
Trang 3131
năng lực dạy học bao gồm: Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, tri thức và tầm hiểu biết của người thầy, năng lực chế biến tài liệu học tập, năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học, năng lực ngôn ngữ; (2) Nhóm năng lực giáo dục bao gồm: Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách của học sinh, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hóa học sinh, năng lực khéo léo đối xử sư phạm; (3) Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm
Theo tác giả Trần Bá Hoành [15] thì “NLSP là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục – dạy học với chất lượng cao” Với quan điểm đó, tác giả
đã xác định các năng lực theo quá trình hoạt động của người GV, với 5 nhóm NLSP cơ bản: (1) Năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục – dạy học, (2) Năng lực thiết kế kế hoạch giáo dục – dạy học, (3) Năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục – dạy học, (4) Năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục – dạy học, (5) Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục – dạy học
Tác giả Trần Công Dương [11] trong luận án của mình đã chia NLSP thành các nhóm năng lực cơ bản sau: (1) Hiểu biết về môn học và khoa học giáo dục, (2) Chẩn đoán được nhu cầu và đặc điểm đối tượng, (3) Biết xây dựng các kế hoạch, (4) Biết tổ chức thực hiện kế hoạch, (5) Giám sát, đánh giá kết quả hoạt động, (6) Năng lực giao tiếp, (7) Năng lực thích ứng với các thay đổi trong hoạt động giáo dục – dạy học, (8) Năng lực tự bồi dưỡng phát triển nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tại Hoa kỳ, để đánh giá năng lực của người GV, năm 1987, Tổ chức liên bang về đánh giá và trợ giúp GV (INTASC) đã đề xuất một hệ thống gồm
8 tiêu chí sau: (1) Có hiểu biết về môn học và có khả năng tạo ra môi trường
sư phạm để truyền đạt những hiểu biết của GV cho học sinh, (2) Có hiểu biết
về khả năng nhận thức của học sinh để xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp, (3) Có kiến thức về sự đa dạng của học sinh để xây dựng phương pháp
Trang 3232
dạy học đối với từng đối tượng học sinh, (4) Có khả năng giao tiếp và tổ chức nhằm tọa ra môi trường học tập lành mạnh, (5) Phải xây dựng chương trình đào tạo đi đôi với thực hành, (6) Biết cách nhận xét đánh giá chính thống và không chính thống, (7) Phải có trách nhiệm trong việc luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp, (8) Có khả năng tạo mối quan hệ tốt với đồng nghiệp, phụ huynh, xã hội nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Ở Úc “Hiến chương Giáo dục 1990” đã đề ra tiêu chuẩn của người GV bao gồm 4 lĩnh vực: (1) Giá trị và thái độ, (2) Tiếp cận nội dung, (3) Phương pháp giảng dạy, (4) Phổ biến kinh nghiệm dạy học Năm 1993, Hội đồng GV của Úc đã đưa ra tiêu chuẩn quốc gia về đánh giá người GV bao gồm 5 lĩnh vực cơ bản: (1) Sử dụng và phát triển sự hiểu biết và giá trị nghề nghiệp, (2)
Kỹ năng giao tiếp và làm việc với học sinh và đồng nghiệp, (3) Lập kế hoạch
và quản lý quá trình dạy và học, (4) Theo dõi và đánh giá việc học tập của học sinh và kết quả học tập, (5) Phản ánh, đánh giá và lập kế hoạch cho việc phát triển nghề nghiệp
Trong chương trình đào tạo và rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên Trường Đại học sư phạm Hà Nội thì NLSP có cấu trúc thành 5 nhóm: (1) Năng lực dạy học, (2) Năng lực giáo dục, (3) Năng lực định hướng sự phát triển của học sinh, (4) Năng lực phát triển cộng đồng, (5) Năng lực phát triển
cá nhân, và đưa ra mô hình đồng thời đã phân tích, trình bày các tiêu chuẩn cốt lõi của các nhóm năng lực sư phạm [31]:
Trang 3333
Có thể thấy rằng, do tiếp cận ở những góc độ khác nhau nên cách xác định và sắp xếp cấu trúc NLSP của các tác giả cũng khác nhau Có tác giả dựa vào chức năng đặc trưng của người GV là dạy học và giáo dục để xác định cấu trúc NLSP, có tác giả lại dựa vào quá trình hoạt động dạy học – giáo dục của GV để đưa ra và sắp xếp các NLSP Các cách sắp xếp như trên đều có những điểm hợp lý và chưa hợp lý
Tuy nhiên, tựu chung lại các tác giả trên đều có những điểm chung như:
- Xét các NLSP trong hoạt động đặc trưng của người GV là dạy học và giáo dục
Trang 3434
- Xét các NLSP dưới góc độ hiệu quả của các hoạt động giáo dục – dạy học, với các yêu cầu về khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục có chất lượng cao
- NLSP tồn tại và phát triển thông qua hoạt động dạy học – giáo dục, nói đến mỗi NLSP là nói đến khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó trong quá trình dạy học – giáo dục của GV
- NLSP chỉ nảy sinh và quan sát được trong các hoạt động dạy học – giáo dục, giải quyết các tình huống sư phạm và do đó gắn liền với tính sáng tạo
Theo tác giả thì “NLSP là hệ thống những thuộc tính của cá nhân con người, phù hợp với yêu cầu của lĩnh vực hoạt động sư phạm và làm cho lĩnh vực hoạt động sư phạm đó đạt hiệu quả cao”
Qua phân tích, tìm hiểu hai khái niệm “năng lực sư phạm” và “nghiệp
vụ sư phạm” ta có thể thấy “nghiệp vụ sư phạm” bao hàm “năng lực sư phạm”, nó bao gồm hệ thống kĩ năng, tri thức và phẩm chất nghề nghiệp mà một người giáo viên cần có; còn “năng lực sư phạm” là hệ thống kĩ năng, tri thức phù hợp với lĩnh vực hoạt động sư phạm của giáo viên
Xuất phát từ những phân tích ở trên, dựa vào các văn bản quy định của Nhà nước, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công an và của Nhà trường, theo tác giả các NLSP của GV Trường Cao đẳng CSND I như sau:
Trang 3535
- Năng lực nắm vững tri thức chuyên môn giảng dạy: Năng lực này
thể hiện ở việc GV nắm vững nội dung, chương trình đào tạo của Nhà trường
và các giáo trình, tài liệu giảng dạy, có vốn văn hóa chung và văn hóa sư phạm, có khả năng tự bồi dưỡng để hoàn thiện tri thức và cập nhật được các tri thức hiện đại Năng lực nắm vững tri thức được thể hiện ở những điểm sau:
NĂNG LỰC
SƢ PHẠM
NĂNG LỰC NẮM VỮNG TRI THỨC CHUYÊN
MÔN GIẢNG DẠY
NĂNG LỰC CHẨN ĐOÁN
NĂNG LỰC THIẾT LẬP KẾ HOẠCH, BIÊN
SOẠN HỒ SƠ VÀ GIÁO DỤC
NĂNG LỰC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Trang 3636
+ Nắm vững và hiểu biết sâu rộng về học phần mình giảng dạy, năng lực này thể hiện ở khả năng GV nắm vững nội dung, chương trình học phần
GV đảm nhiệm, có khả năng phân tích, nhìn nhận kiến thức
+ Hiểu biết về lý luận và phương pháp dạy học và sự vận dụng các kiến thức đó vào việc tổ chức các hoạt động trong dạy học
+ Tích hợp được các kiến thức học phần với các học phần khác và kiến thức thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm vào giảng dạy
Để có được năng lực này đòi hỏi người GV phải có các kỹ năng như: Kỹ năng tìm kiếm, lựa chọn và xử lý thông tin; kỹ năng tự học và tự nghiên cứu…
- Năng lực chẩn đoán Năng lực này sẽ giúp cho GV nắm được những
đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu…của học viên Trong mỗi giờ dạy, GV biết được học viên đã lĩnh hội được những kiến thức gì? những kiến thức nào học viên còn chưa hiểu? Qua đó, GV biết được những học viên nào tiếp thu tốt, học viên nào tiếp thu kiến thức còn chậm Từ đó, GV sớm phát hiện và có được những biện pháp thích hợp trong công tác dạy học và giáo dục Chỉ khi nắm vững đối tượng thì người GV mới có thể điều khiển quá trình tổ chức các hoạt động dạy học có hiệu quả
- Năng lực thiết lập kế hoạch dạy học và giáo dục Một đặc điểm cơ
bản của giáo dục là các hoạt động được tiến hành có mục đích, có kế hoạch, dưới sự chỉ đạo của người GV GV phải dự kiến được những tình huống sư phạm xảy ra và có được những phương án xử lý phù hợp cho những tình huống đó
Để thực hiện tốt việc thiết lập kế hoạch dạy học và giáo dục, người GV cần có những khả năng sau:
+ Khả năng nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình môn học để lập kế hoạch phù hợp, có tính khả thi và có thể kiểm soát được
Trang 37+ Kỹ năng xác định các đồ dùng, phương tiện kỹ thuật dạy học trong việc tổ chức dạy học
+ Kỹ năng lựa chọn các ví dụ phù hợp với nội dung, chương trình và trình độ của học viên…
- Năng lực triển khai kế hoạch giáo dục và dạy học Đây là việc GV
biến những mục tiêu, những kế hoạch, những dự kiến thành hiện thực bằng các hoạt động cụ thể, thích hợp, đảm bảo chất lượng và hiệu quả Để truyền tải các kiến thức của môn học cần thiết cho học viên một cách khoa học, lôi cuốn được sự chú ý của học viên vào bài giảng, GV phải biết vận dụng các kiến thức chuyên môn, biết sử dụng các thiết bị kỹ thuật dạy học phù hợp, biết lựa chọn được những hình thức, những phương pháp dạy học thích hợp
- Năng lực kiểm tra, đánh giá Cùng với các năng lực khác, GV cần
phải có năng lực kiểm tra, đánh giá Năng lực này rất quan trọng, nhờ đó mà
GV nắm được trình độ, khả năng tiếp thu kiến thức của học viên, để kịp thời cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp Kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và chính xác Làm được điều đó thì uy tín của người GV sẽ được tăng lên, tạo được niềm tin của học viên Để đánh giá chính xác học viên, GV cần phải đối chiếu việc thực hiện của học viên với mục đích, yêu cầu đã được xác định Ngoài ra, GV cần phải biết tự đánh giá những thành công, những hạn chế của từng tiết dạy của bản thân để từ đó có những biện
Trang 38- Năng lực sáng tạo Được thể hiện ở khả năng tư duy sáng tạo trong
các hoạt động liên quan đến dạy học – giáo dục Để có năng lực sáng tạo, GV cần có các khả năng như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, suy luận logic, tư duy linh hoạt…
- Năng lực giao tiếp Năng lực này bao gồm những hoạt động liên
quan đến việc xác lập có tính chất sư phạm những mối liên quan giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục Nó được thể hiện trong việc đánh giá và phát triển nhu cầu của đối tượng để phối hợp hoạt động dạy và học Năng lực giao tiếp của GV còn được thể hiện ở sự lịch thiệp trong cách ứng xử sư phạm của mỗi GV Đặc biệt là trong lực lượng CAND, người GV còn phải có tư thế, tác phong, ngôn ngữ đúng chuẩn mực, điều lệnh CAND
- Năng lực tổ chức Là năng lực được thể hiện ở hai mặt: Tổ chức tập
thể học viên và tổ chức công việc của chính bản thân GV Năng lực này thể hiện ở tính cẩn thận, chính xác, ở khả năng lập kế hoạch hoạt động, khả năng kiểm tra hoạt động và khả năng vận dụng các hình thức dạy học khác nhau trong việc tổ chức dạy học
- Năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học
Thành công trong dạy học của GV phụ thuộc vào việc phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học của họ Nhờ
có năng lực nghiên cứu, có thói quen và khả năng giải quyết các vấn đề gặp
Trang 3939
phải trong hoạt động nghề nghiệp bằng nghiên cứu khoa học mà người GV có thể xử lý được những tình huống, những vấn đề xảy ra
- Năng lực hiểu biết các vấn đề liên quan giáo dục đào tạo bậc cao
đẳng, TCCN Năng lực này được thể hiện qua phần thi kiểm tra hiểu biết về
các vấn đề liên quan công tác giáo dục đào tạo bậc cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công an, Tổng cục Chính trị CAND và các quy định của Nhà trường
1.2.5 Hội giảng giảng viên hàng năm tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
Hội thi giảng viên, huấn luyện viên dạy giỏi (hay còn gọi là Hội giảng GV) trong các trường CAND nói chung và Trường Cao đẳng CSND I nói riêng là một trong những hoạt động dạy giỏi, đây là hoạt động cao nhất trong các hoạt động dạy giỏi trong các trường CAND, hoạt động Hội giảng được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Bộ Công an, Tổng cục Chính trị CAND, của lãnh đạo nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi nhất để GV, cán bộ tham gia đạt kết quả cao nhất trong Hội thi
Hoạt động Hội giảng GV hàng năm là nhằm mục đích khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để GV thể hiện năng lực, trình độ, trao đổi kinh nghiệm về tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, khai thác, sử dụng sáng tạo, hiệu quả phương tiện, đồ dùng dạy học; biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân đạt thành tích cao trong Hội giảng, nhân rộng các điển hình tiên tiến tạo động lực thi đua, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của trường; kết quả Hội giảng là một trong những căn cứ để đánh giá đúng thực trạng đội ngũ GV, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ GV, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo của trường
Trang 4040
1.3 Khung lý thuyết đánh giá năng lực sƣ phạm của giảng viên
Trên cơ sở phân tích các khái niệm liên quan đến NLSP của GV và các nội dung về NLSP của GV, hoạt động Hội giảng GV Đánh giá NLSP của GV trong kỳ thi Hội giảng GV tại Trường Cao đẳng CSND I là đánh giá những mặt, năng lực sau:
- Năng lực nắm vững tri thức chuyên môn giảng dạy;
- Năng lực thiết lập kế hoạch dạy học và giáo dục, lập hồ sơ bài giảng;
- Năng lực triển khai kế hoạch giáo dục và dạy học;
Cấu trúc đánh giá NLSP
Tiêu chuẩn, tiêu chí chức danh GV của Bộ GD&ĐT, Bộ Công an