Có thể nói, trong các công trình nghiên cứu của mình hầu như chưa có tác phẩm nào các ông trình bày riêng về vấn đề con người và giải phóng con người; nhưng với chủ nghĩa Mác, không có v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRỊNH THỊ NGHĨA
VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI -
TỪ TRIẾT HỌC MÁC ĐẾN TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRỊNH THỊ NGHĨA
VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI -
TỪ TRIẾT HỌC MÁC ĐẾN TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG CHÍ BẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của GS TS Hoàng Chí Bảo Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2012
Tác giả
Trịnh Thị Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC 10
1.1 Khái lược về triết học Mác 10
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời triết học Mác 10
1.1.2 C.Mác và Ph Ăngghen với vấn đề giải phóng con người 15
1.2 Nội dung vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác 19
1.2.1 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào tự nhiên 19
1.2.2 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào người khác 26
1.2.3 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào chính bản thân mình 38
1.3 Giá trị và ý nghĩa của vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác 42
1.3.1 Giá trị khoa học 42
1.3.2 Ý nghĩa cách mạng và phát triển 50
Chương 2 TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 54
2.1 Triết lý Hồ Chí Minh 54
2.1.1 Quan niệm về triết lý trong tương quan với triết học 54
2.1.2 Nội dung triết lý Hồ Chí Minh 58
2.2 Những vấn đề chủ yếu trong triết lý giải phóng con người của Hồ Chí Minh 65
2.2.1 Chữ "Người" trong tư tưởng triết lý Hồ Chí Minh 65
2.2.2 Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại 69
2.2.3 Giải phóng con người ra khỏi áp bức, bóc lột, nô dịch 75
2.2.4 Giải phóng con người để phát triển con người 82
2.3 Giá trị và ý nghĩa triết lý Hồ Chí Minh về giải phóng con người 91
2.3.1 Những phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh trong vận dụng triết học Mác về giải phóng con người ở Việt Nam 91
2.3.2 Tính khoa học - cách mạng và nhân văn trong triết lý giải phóng con người của Hồ Chí Minh 98
2.3.3 Sự vận dụng tư tưởng giải phóng con người của C.Mác và Hồ Chí Minh của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay 102
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
DANH MỤC C NG TR NH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN VĂN 117
Trang 5về vai trò, vị trí của con người trong đời sống xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Nghiên cứu về con người và giải phóng con người không phải là một đề tài mới, song đây vẫn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau; đúng như C.Mác đã dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất - đó là khoa học về con người
Triết học Mác khẳng định, con người là một thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Mỗi cá nhân luôn có mối quan hệ mật thiết với tự nhiên, với người khác và với chính bản thân mình Trong quá trình sinh tồn con người chịu sự quy định của các quy luật tự nhiên và các quy luật xã hội Con người phải nhận thức
và điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với các quy luật đó Khi con người
bị chi phối bởi các lực lượng siêu nhiên, thần thánh; khi con người bị đẩy vào tình trạng khốn cùng, đau khổ mà không hiểu được căn nguyên, thì đó cũng là lúc con người đang chịu sự nô lệ vào tự nhiên, vào người khác và bất lực với chính bản thân mình C.Mác - Ph.Ăngghen trong quá trình nghiên cứu đã từng bước giải đáp những vấn đề đó và khẳng định mỗi bước tiến lên của lịch sử nhân loại phải được biểu hiện
ở kết quả thực hiện mục tiêu giải phóng con người Có thể nói, trong các công trình nghiên cứu của mình hầu như chưa có tác phẩm nào các ông trình bày riêng về vấn
đề con người và giải phóng con người; nhưng với chủ nghĩa Mác, không có vấn đề nào của triết học lại tách rời mối quan hệ hữu cơ với con người; và cũng không có vấn đề nào về bản chất và hoạt động của con người lại nằm ngoài nghiên cứu của
Trang 6triết học, đặc biệt là triết học xã hội Triết học Mác luôn lấy con người làm điểm xuất phát và mục tiêu cao nhất của mình
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Thực chất đó chính là mong muốn đi tới giải phóng triệt để con người Việt Nam Giải phóng con người là một trong những nội dung quan trọng, là vấn đề cốt lõi chi phối tư duy và hành động của Hồ Chí Minh từ lúc Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi về nơi vĩnh hằng Giải phóng triệt để con người thực sự là ước mơ, khát vọng, đồng thời là sự nghiệp cao
cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nó chứa đựng những giá trị nhân văn
sâu sắc Với Hồ Chí Minh, giải phóng con người là điều kiện và tiền đề để thực hiện
phát triển con người; làm cho con người trở thành chủ nhân chân chính của sự sáng tạo lịch sử Hơn nữa giải phóng con người để phát triển con người trong quan niệm
và hành động của Hồ Chí Minh không dừng lại ở tính cá thể mà là cả cộng đồng dân tộc và xã hội
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm nhanh chóng đưa Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để sự nghiệp đó nhanh chóng đi đến thành công, điều có ý nghĩa quyết định là phải đảm bảo sự nhất quán từ nhận thức đến hành động, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi cuộc cách mạng; nói cách khác con người là mục tiêu và động lực của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội XI của Đảng còn nhấn mạnh, con người là chủ thể của phát triển Giải phóng triệt để con người là mục tiêu của sự phát triển, tạo ra động lực cho sự phát triển, thể hiện bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
Là một nhà mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo những
tư tưởng của Mác về giải phóng con người vào những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Hồ Chí Minh đã để lại những triết lý sâu sắc về con người, về giải phóng con người để phát triển con người và phát triển dân tộc Việt Nam Đó là triết lý
Trang 7nhân sinh và hành động, thể hiện không những ở tư duy biện chứng sâu sắc mà còn
là chủ nghĩa nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh Triết lý Hồ Chí Minh có quan hệ mật thiết với triết học, đặc biệt là triết học của Mác và chủ nghĩa Mác - Lênin, do vậy cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ những cống hiến của Người trên lĩnh vực này
Với những lý do đó, tác giả lựa chọn: “Vấn đề giải phóng con người - từ
triết học Mác đến triết lý Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng về con người và giải phóng con người là nội dung trọng tâm chi phối toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của C.Mác - Ph.Ăngghen và chủ tịch Hồ Chí Minh, vì vậy đã được đông đảo các nhà hoạt động chính trị, hoạt động văn hoá và hoạt động lý luận quan tâm nghiên cứu
- Đã có nhiều tác giả trực tiếp đề cập đến tư tưởng nhân đạo trong học thuyết
Mác như Triết lý phát triển Hồ Chí Minh, giá trị lý luận và thực tiễn của PGS.TS Phạm Ngọc Anh; Trần Hữu Tiến với bài “Tư tưởng vĩ đại về sự giải phóng con
người”; Nhị Lê với bài “Chủ nghĩa xã hội với chức năng lịch sử giải phóng nhân dân lao động”; “Tư tưởng triết học về con người” (Vũ Minh Tâm chủ biên),
“C.Mác với vấn đề con người và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa” (Lê Thi), “Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng ghen về những tiền đề của lịch sử trong
“Hệ tư tưởng Đức” và ý nghĩa của chúng” (Phạm Văn Đức, tạp chí triết học
12/2005); “Một số vấn đề triết học về con người trong “Hệ tư tưởng Đức”” (Lê Thị Thanh Hà, tạp chí triết học 1/2006); “Những điều cốt yếu trong di sản Hồ Chí Minh
về giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc tới chủ nghĩa xã hội” (Hoàng Chí Bảo,
tạp chí triết học 06/2010)…
- Các đề tài khoa học: Chương trình khoa học cấp nhà nước KX02
(1991-1995) gồm có hai đề tài có liên quan đến vấn đề này, đó là: KX02.05: Tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người, do PGS.TS Lê Sỹ
Thắng làm chủ nhiệm; KX02.12: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách
mạng giải phóng dân tộc, do PGS.TS Trịnh Nhu làm chủ nhiệm
Trang 8Các đề tài trên đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Qua việc nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định những đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực quan trọng như: Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; về sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân; về chính sách xã hội đối với con người, v.v
- Trong chương trình KHXH.04 (1996-2000) có một số đề tài đề cập đến chủ
đề này: KHXH.01: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người mới,
do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm
Liên quan đến nội dung này có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và vận dụng nó trong điều kiện nước ta hiện nay (2003), do TS Phạm Ngọc Anh làm chủ nhiệm
Các sản phẩm khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn
đề về quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản tư tưởng của Người về văn hoá, về con người, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới; về nhân tố con người và vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay
- Liên quan đến vấn đề giải phóng con người có một số bài viết đăng trên các tạp chí, đáng chú ý là các bài của Nguyễn Văn Tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và phát huy nhân tố con người”, Tạp chí Triết học, số 2 (2-2004); Lại Quốc Khánh: “Bản chất nhân đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người",
Tạp chí Cộng sản, số 14 (tháng 7/2005); Thành Duy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người và chính sách xã hội đối với con người”, Tạp chí Lịch sử Đảng (12) năm
2005 v.v
Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, các tác giả đã đứng trên các giác độ khác nhau để nghiên cứu về vấn đề con người trong triết học Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh Song những nghiên cứu có tính hệ thống về tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác trong sự kết nối với triết lý phát triển của Hồ Chí Minh thì chưa có nhiều công trình đi sâu, cần thiết phải được tiếp tục nghiên cứu; nhất là
Trang 9trong tình hình hiện nay khi nước ta hướng tới phát triển bền vững và chủ động hội nhập quốc tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những nội dung cơ bản về giải phóng con người trong triết học Mác và triết lý Hồ Chí Minh; qua đó thấy được giá trị khoa học, ý nghĩa cách mạng và phát triển của triết học Mác, sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhằm giải phóng và phát triển con người Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
+ Tìm hiểu những tư tưởng triết học của Mác-Ăngghen về giải phóng con người thông qua một số tác phẩm của hai ông; khẳng định được đây là vấn đề nền tảng, vấn đề xuyên suốt chủ nghĩa Mác
+ Nghiên cứu tính triết lý của Hồ Chí Minh về con người, về sự giải phóng người Việt Nam và làm rõ những cống hiến chủ yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
sự giải phóng con người Việt Nam trong thực tiễn
+ So sánh vấn đề giải phóng con người giữa triết hoc Mác và triết lý Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng triết học của C.Mác - Ph.Ăngghen về giải phóng con người và sự
kế thừa, vận dụng, phát triển của Hồ Chí Minh về giải phóng con người Việt Nam trên bình diện triết lý
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Một số tác phẩm tiêu biểu của C.Mác - Ph.Ăngghen và Hồ Chí Minh
- Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 10- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin Cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về con người và giải phóng con người; các công trình nghiên cứu và các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề này
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành phù hợp với đặc trưng triết học: lịch sử - lôgíc; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp, so sánh; khái quát hoá… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài
6 Đ ng g p của luận v n
6.1 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ mối liên hệ mối liên hệ mật thiết giữa triết học Mác với triết lý Hồ Chí Minh về tư tưởng giải phóng con người
- Khẳng định những cống hiến của Hồ Chí Minh trong sự vận dụng và phát triển sáng tạo triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung về giải phóng con người
6.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy một số chuyên đề triết học, chuyên đề tư tưởng
Hồ Chí Minh ở bậc đại học và cao đẳng
7 Kết cấu của luận v n
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác
Chương 2: Triết lý Hồ Chí Minh về giải phóng con người
Trang 11Chương 1 VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC 1.1 Khái lược về triết học Mác
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời triết học Mác
Triết học của Các Mác (1818 - 1883) và Phriđrich Ăngghen (1820 - 1895) là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển triết học nhân loại Đối với hai ông, nghiên cứu triết học không phải là mục đích tự thân mà nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
Triết học Mác ra đời trong bối cảnh kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX ở Tây Âu; là kết quả của sự kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng nhân loại và những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ đó Vào những năm 40 của thế kỷ XIX do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Nước Anh đã trở thành một cường quốc công nghiệp và nói như C.Mác thì đó cũng là tương lai của các nước tư bản đi sau Ở Pháp, cuộc cách mạng
tư sản đang đi vào giai đoạn hoàn thành Ở Đức, sự xuất hiện của các trung tâm công nghiệp cũng mang lại những thay đổi đáng kể cho “bộ mặt cũ kỹ” của nước này Sự phát triển của cách mạng công nghiệp đã chứng minh tính ưu việt của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến
C.Mác - Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có
những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội”
[43, tr.603]
Cuộc cách mạng công nghệp một mặt mang lại sự phồn thịnh cho các nước
tư bản, mặt khác làm cho tình trạng bần cùng hóa lao động ngày càng tăng lên Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc, biểu hiện về mặt xã hội là sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Giai cấp công nhân ra đời cùng với
sự xuất hiện của nền sản xuất công nghiệp và phát triển cùng với sự lớn mạnh của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự giàu có của giai cấp tư sản và sự nghèo
Trang 12khổ của lao động làm thuê cùng song hành tồn tại Giai cấp cấp tư sản bộc lộ ra không còn là giai cấp tiên phong cách mạng nữa Ở thời kỳ này, phong trào công nhân đã phát triển mạnh mẽ và giai cấp vô sản ngày càng chứng tỏ là một lực lượng
xã hội to lớn, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị xã hội Phong trào Hiến chương của công nhân Anh cuối những năm 30 đã trở thành phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi và mang hình thức chính trị Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở thành phố Liông (Pháp) năm 1831, của thợ dệt Xilêđi (Đức) năm 1844 đã báo hiệu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản
Giữa những năm 40 của thế kỷ XIX, trung tâm cách mạng chuyển sang Đức, trong khi nước này đang phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản với những điều kiện không giống các nước tư bản khác đã trải qua Giai cấp tư sản Đức vốn khiếp
sợ bạo lực cách mạng lại càng thêm sợ hãi trước sự phát triển của phong trào công nhân Đức cũng như sự thức tỉnh ý thức cách mạng của giai cấp này Nó thỏa hiệp với giai cấp phong kiến nhằm đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng lao động Giai cấp vô sản Đức tiến hành cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu chế độ phong kiến đồng thời nhằm chống lại chính giai cấp tư sản Tuy nhiên, nhìn chung giai cấp
vô sản ở các nước Tây Âu lúc đó chưa được giác ngộ về địa vị của mình trong tiến trình lịch sử, chưa thấy được con đường và cách thức thực hiện việc giải phóng bản thân họ và toàn xã hội Các học thuyết xã hội không tưởng của H.Xanhximông, S.Phuriê, R.Ôoen không đáp ứng được yêu cầu của phong trào công nhân lúc đó, bộc lộ những hạn chế trước sự biến đổi mạnh mẽ của thực tiễn Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng ra đời đã giải quyết được những vấn đề lịch sử nhân loại đặt ra Giai cấp vô sản đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khi tinh thần của mình cũng giống như triết học Mác tìm thấy ở giai cấp công nhân vũ khí vật chất của mình
Trong lịch sử triết học nhân loại, kể từ khi triết học xuất hiện cho đến thời đại ngày nay thì sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, nhất là quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác - Ph.Ăngghen thực sự đã làm nên một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Trước khi triết học Mác ra đời, đã từng tồn tại cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, từ chủ nghĩa duy vật thô sơ và
Trang 13phép biện chứng chất phác trong nền triết học cổ đại Hy Lạp đến chủ nghĩa duy tâm
và phép siêu hình ở mỗi thời kỳ phát triển của triết học trong lịch sử, cả phương Tây lẫn phương Đông, từ cổ đại đến cận đại C.Mác - Ph.Ăngghen đã kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng nhân loại, trong đó trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX với học thuyết của hai triết gia tiêu biểu là G.W.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc
Hêghen là nhà biện chứng duy tâm vĩ đại nhất trong lịch sử triết học trước Mác Mặc dù núp dưới vỏ duy tâm thần bí, song phương pháp biện chứng mà Hêghen xây dựng nên chứa đựng những hạt nhân hợp lý Ông là người đầu tiên trình bày một cách bao quát những hình thái vận động chung của phép biện chứng;
đã nhìn thấy và luận chứng sâu sắc về mâu thuẫn, về quá trình vận động biến đổi, sinh thành và phát triển của lịch sử thế giới, coi phát triển như một quá trình và mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của phát triển Biện chứng là giá trị đặc sắc, nổi bật nhất trong lý luận của Hêghen, nhưng đó lại là biện chứng của ý niệm, của tình thần trừu tượng mà ông coi là bản nguyên của thế giới, chứ không phải là biện chứng của thế giới vật chất và con người Do đó, nó không đem đến những kiến giải đúng đắn về bản chất của thế giới khách quan C.Mác gọi đó là phép biện chứng lộn ngược, đứng bằng đầu chứ không phải đứng bằng chân C.Mác đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen trên lập trường duy vật, cũng có nghĩa trả lời cho tính thứ nhất của thế giới là vật chất chứ không phải tinh thần, tư duy
Những quy luật cơ bản của phép biện chứng mà Hêghen trình bày là những quy luật của tư duy thuần túy tách rời khỏi mọi nội dung cảm tính Đó cũng không
phải là tư duy nhân loại mà là tư duy siêu tự nhiên mà Hêghen gọi là “tinh thần thế
giới” hay “ý niệm tuyệt đối” Chính bản nguyên tinh thần này theo Hêghen mới là
bản chất của thế giới Trong sự vận động biện chứng, "ý niệm tuyệt đối" đạt đến sự phát triển đầy đủ sẽ “tha hóa” - chuyển hóa thành giới tự nhiên và cuối cùng là con người và xã hội loài người Ở đây, Hêghen lấy "ý niệm tuyệt đối" làm điểm xuất
phát cũng là điểm kết thúc cho hệ thống triết học của mình, làm cho hệ thống triết học của ông là một vòng tuần hoàn khép kín, không có sự phát triển, tiến lên Tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống mang tính siêu hình với phương pháp biện chứng ở
Trang 14Hêghen hay tính bảo thủ của hệ thống với tính cách mạng của phương pháp đã đẩy triết học duy tâm của Hêghen vào chỗ bế tắc C.Mác - Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ thế giới quan duy tâm trong triết học Hêghen, vạch rõ mâu thuẫn giữa hệ thống với phương pháp trong triết học duy tâm tư biện ấy Các ông đã cải tạo triết học Hêghen
cả về phương pháp lẫn hệ thống, từ đó xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng
và phép biện chứng duy vật Hai ông đã vạch ra những quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; mang lại một thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Nói đến triết học cổ điển Đức không thể không kể đến Phoiơbắc - nhà triết học duy vật kiệt xuất; người có công trong việc khôi phục chủ nghĩa duy vật thời cổ đại và bác bỏ thế giới quan duy tâm của Hêghen Phoiơbắc coi bản chất của thế giới
là vật chất, con người và giới tự nhiên cũng thuộc về bản chất ấy; ông phủ nhận những quan điểm duy tâm, tôn giáo trong việc luận giải cho sự hình thành thế giới vật chất và con người Song Phoiơbắc không thấy được hạt nhân hợp lý trong toàn
bộ di sản triết học Hêghen là phép biện chứng mà phủ định nó một cách sạch trơn C.Mác ví hành động đó giống như việc người ta hất chậu nước bẩn trong đó có đứa trẻ thông minh, đĩnh ngộ Phoiơbắc có những kiến giải đúng đắn về nguồn gốc và bản chất của thế giới vật chất và con người, song ông chưa thấy được cơ sở cho sự phát triển lịch sử xã hội cũng như chưa thấy được đặc tính xã hội của con người trên nền tảng sinh học của nó Phoiơbắc cho rằng những thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau
là do sự thay đổi các hình thức tôn giáo và muốn thúc đẩy xã hội tiến lên, muốn con
người được tự do, hạnh phúc thì phải xây dựng một tôn giáo mới, đó là “tôn giáo
tình yêu” Nếu Phoiơbắc một mặt chống lại thế giới quan duy tâm thần bí ở Hêghen
thì mặt khác ông lại rơi vào chính thứ chủ nghĩa đó khi luận giải về lịch sử - xã hội,
về bản chất con người, tách con người ra khỏi các hoạt động vật chất của anh ta và
đẩy anh ta ra ngoài lề của lịch sử - xã hội Đúng như Ph.Ăngghen đã nói: “Phoi - ơ -
bắc đã đập tan hệ thống Hêghen và đơn giản đã gạt bỏ nó ra một bên Song chỉ tuyên bố một triết học nào đó là sai lầm thì chƣa có nghĩa là thắng đƣợc nó” [45,
tr.402] Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc đã tự giới hạn và giam hãm mình trong một thứ chủ nghĩa duy vật tự nhiên siêu hình khi cố gắng xây dựng một nguyên lý
tự nhiên thống nhất cho cả con người, ý thức và giới tự nhiên Ông đã biến con
Trang 15người thành một cá thể cô lập, không khác gì các sinh vật khác, là con người phi lịch sử, phi giai cấp Phoiơbắc duy vật trong tự nhiên thì lại duy tâm trong lịch sử C.Mác đã từng phê phán Phoiơbắc ở chỗ, ông không hiểu được bản chất của thực tiễn Mỗi bước ông muốn tiến gần tới xã hội và lịch sử lại là mỗi bước ông quá xa quan điểm duy vật và sa vào vũng lầy bế tắc của chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật trừu tượng, nhân bản
Công lao vĩ đại của C.Mác - Ph.Ăngghen là đã khắc phục được sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, thực hiện sự thống nhất chỉnh thể giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với phép biện chứng duy vật; giải quyết đúng đắn và triệt để mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể thông qua hoạt động thực tiễn của con người Trong đó, con người không chỉ nhận thức và giải thích thế giới mà còn cải biến thế giới với sức mạnh tự giác và tính năng động sáng tạo của mình
Một trong những cơ sở mang lại tính đúng đắn và cách mạng cho triết học Mác đó chính là những thành tựu của khoa học tự nhiên Cuối những năm 30 của thế kỷ XIX, bắt đầu xuất hiện cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên nhằm chống
lại quan niệm siêu hình về thế giới vật chất Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: “Tất cả cái
gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất
cả những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời;
và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng
và một tuần hoàn vĩnh cửu” [44, tr.471] Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh có căn cứ khoa học về sự không tách rời nhau, sự chuyển hóa
lẫn nhau và được bảo toàn các hình thức vận động của vật chất Thuyết tiến hoá đã
đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị
và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự
nhiên Học thuyết tế bào đã xác định sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và
cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển trong mối liên hệ của chúng
Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, Thuyết tiến hoá và Học thuyết
tế bào là những thành tựu khoa học nổi bật nhất, đã bác bỏ tư duy siêu hình và quan
điểm thần học về vai trò của đấng sáng tạo; khẳng định tính đúng đắn của quan
Trang 16điểm về tính thống nhất vật chất của thế giới, rằng thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyển hoá Đó là lập trường thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học biện chứng duy vật trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn của con người
Như vậy, sự ra đời của triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung
là hiện tượng hợp quy luật, nó vừa là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội đương thời, của tri thức nhân loại thể hiện trong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thần nhân văn của những người sáng lập ra nó
1.1.2 C.Mác và Ph Ăngghen với vấn đề giải phóng con người
Vấn đề con người với tư cách là một vấn đề triết học là vấn đề được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại và luôn là tâm điểm nghiên cứu của các nhà khoa học, nhất là của các nhà triết học, đồng thời cũng là vấn đề trung tâm của triết học Mác Trong các công trình nghiên cứu của mình, hầu như chưa có tác phẩm nào C.Mác - Ph.Ăngghen trình bày riêng về vấn đề con người và giải phóng con người; nhưng với C.Mác, không có vấn đề nào của triết học lại tách rời mối quan hệ hữu cơ với con người và cũng không có vấn đề nào về bản chất và hoạt động của con người lại nằm ngoài nghiên cứu của triết học Mác
C.Mác (1818 - 1883) sinh trưởng trong một gia đình trí thức ở thành phố Tơrevơ, tỉnh Ranh - một vùng chịu nhiều ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp và đạo Ki-tô là tôn giáo độc tôn Ngay từ khi còn trẻ, C.Mác đã sớm bộc lộ tài năng, tư tưởng của một triết gia, sự nhạy cảm sâu sắc trước những vấn đề về con người và cuộc sống, có tư duy phê phán và khát vọng lớn về tự do; biết gắn hạnh phúc của bản thân với hạnh phúc của nhân loại Trong bài luận văn tốt nghiệp trung học của mình, C.Mác khi đó mới 17 tuổi đã viết, con người hạnh phúc nhất là khi chọn được một nghề có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại; lịch sử ca ngợi những con người đó và gọi họ là những con người vĩ đại Cho đến luận án tiến sỹ của mình, C.Mác đã lấy hình ảnh vị thần Prômêtê - vị thần của tự do và là bạn của loài người làm biểu tượng cho lý tưởng của bản thân Theo tinh thần Prômêtê, C.Mác muốn đến với nhân dân để cùng họ xóa bỏ những ảnh hưởng của thế lực phản động và sự
áp bức, nô dịch, ngu tối Đó là những tư tưởng nhân đạo cao đẹp đã hình thành khi
Trang 17C.Mác còn rất trẻ và là động lực thôi thúc hoạt động lý luận và thực tiễn của ông cho đến hết cuộc đời mình Mùa thu năm 1842 và đầu năm 1843, trong những bài báo đăng trên tờ “Rainơ”, C.Mác đã đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế - xã hội như: Tình cảnh thảm thương của những người dân nghèo và những người làm thuê công nhật cũng như những người trồng nho ở vùng sông Môden Trong quá trình đó, C.Mác phát hiện ra, bọn quý tộc theo đuổi những lợi ích khác với những người tư sản, bọn địa chủ theo đuổi những mục đích khác với những người làm thuê Những điều đó giúp ông hiểu hơn ý nghĩa của các quan hệ kinh tế - xã hội; đồng thời nhận thức được tình cảnh của quần chúng nghèo khổ, họ không có chút quyền hành gì
trong xã hội tư bản Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền
Hêghen (1843) và Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác thực hiện ý định xây
dựng một hệ thống lý luận triết học có khả năng soi sáng con đường giải phóng nhân loại với phạm trù “lao động bị tha hóa” và con đường giải tha hóa
Ph.Ăngghen (1820 - 1895) vừa là người bạn thân vừa là người cộng tác với Mác, cùng Mác xây dựng nên nền móng lý luận của chủ nghĩa cộng sản khoa học Ph.Ăngghen sinh ra trong một gia đình rất sùng đạo, cha ông là chủ một xưởng dệt lớn nhưng Ăngghen là người sớm nhận thức và đấu tranh chống lại những quan
điểm tôn giáo Ông nghiên cứu triết học từ rất sớm và cũng tham gia phái Hêghen
trẻ Đầu năm 1842, Ph.Ăngghen sang làm việc tại Manchestơ (Anh) Ông đã đến
thăm những nơi ở của công nhân, chứng kiến cảnh sống chật chội, nghèo nàn và bi đát của những người lao động giữa một trung tâm công nghiệp lớn của thế giới lúc
đó Năm 1844, C.Mác và Ph.Ăngghen gặp nhau ở Pari và họ nhanh chóng trở thành những người bạn thân thiết Những tác phẩm đầu tiên hai ông viết cùng nhau, từ
Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưởng Đức (1846), đến Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) đã phản ánh sự đoạn tuyệt triệt để của C.Mác - Ph.Ăngghen với
chủ nghĩa duy tâm, đồng thời đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà hai ông là người sáng lập Dường như không có sự đối lập giữa C.Mác - Ph.Ăngghen thời trẻ và C.Mác - Ph.Ăngghen lúc trưởng thành Chủ nghĩa nhân đạo cách mạng thể hiện một cách nhất quán và xuyên suốt trong các tác phẩm lý luận và trong hoạt động thực tiễn của hai ông Quá trình nghiên cứu
và đấu tranh chính trị trong thực tiễn của phong trào công nhân thế kỷ XIX cũng
Trang 18chính là quá trình phát triển tư tưởng triết học của C.Mác - Ph.Ăngghen, mà thông qua đó tư tưởng về giải phóng con người ngày càng trở nên sâu sắc và mang tính cách mạng to lớn trong sự nghiệp của các ông
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như: Tâm lý học, sinh học, y học, xã hội học, sử học,… Mỗi ngành lại tiếp cận con người ở những giác độ nghiên cứu không giống nhau Trong lý luận của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen đi sâu vào vấn đề bản chất con người và luận giải con đường giải phóng nhân loại cần lao Trong triết học trước Mác cũng có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề con người Theo quan điểm duy tâm, đặc trưng bản chất con người ở lĩnh vực ý thức, tinh thần hoặc xem bản chất con người là cái gì đó được quy định sẵn từ những lực lượng siêu nhiên Nho giáo Khổng Mạnh ở phương Đông (Trung Quốc) quan niệm con người khi sinh ra tính gần nhau, do tập nhiễm mà trở
nên xa nhau “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn” Ở phương
Tây, triết gia duy tâm nổi tiếng thời cổ đại Hy Lạp Platôn quan niệm con người ra đời đã mang bản chất không giống nhau và họ được chia làm ba loại phù hợp với những chức năng xã hội khác nhau: chỉ huy, thừa hành và phục tùng Đạo Cơ đốc thì cho rằng, ngay từ lúc mới sinh, mỗi người đã mang trong mình điều ác là tội tổ tông, chỉ khi Chúa cứu vớt mới trở nên thiện Nhà triết học Phoiơbắc quy bản chất người vào tính tộc loại, tìm đặc trưng cho tính tộc loại đó ở tình cảm, đạo đức, tôn giáo, tình yêu Đặc trưng của bản chất con người được quy về bản chất tự nhiên, do
đó trở nên bất biến Các nhà duy vật Pháp, Anh coi những biểu hiện bản chất con người trong cuộc sống hiện thực (tính ích kỷ, hành vi chinh phục) như những bản tính tự nhiên của con người Trong lịch sử triết học trước Mác, phạm trù con người
thường được quy về “con người ý thức” của chủ nghĩa duy tâm, mà điển hình là triết học duy tâm của Hêghen, và “con người sinh vật” của chủ nghĩa duy vật siêu
hình, mang tính nhân bản trừu tượng - mà điển hình là chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc Chỉ đến triết học Mác, triết học duy vật biện chứng mới có được những kiến giải khoa học, triệt để về con người và bản chất xã hội của con người qua việc định hình phạm trù “con người hiện thực” gắn liền với phạm trù thực tiễn Sự nghiên cứu của triết học Mác lấy con người hiện thực làm điểm xuất phát, con người đó là sự thống
Trang 19nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong một chỉnh thể toàn vẹn Bản chất con người hình thành và biến đổi trong quá trình biển đổi của đời sống xã hội
Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác đã cắt nghĩa sự tha
hóa con người từ lao động bị tha hóa, nghĩa là ông tìm bản chất con người từ lao
động Sau đó trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc (1845), C.Mác đưa ra luận
đề “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã
hội”[42, tr.11] Ở đây, không phải C.Mác phủ nhận mặt tự nhiên của con người,
phủ nhận yếu tố sinh vật cấu thành bản chất con người; mà con người trong triết học Mác là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội Xét về góc độ nguồn gốc hình thành, thì một trong những nguồn gốc quan trọng nhất cho sự hình thành con người
đó là lao động Trong lao động và cùng với lao động mà những yếu tố sinh học trong con người dần được tiến hóa và hoàn thiện; cùng với đó là sự gắn kết giữa những cá nhân thành cộng đồng xã hội được hình thành Trên cơ sở trình độ sản xuất ở một thời đại nhất định mà hình thành nên những kiểu quan hệ xã hội mang những tính chất khác nhau Trong mỗi con người yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội không tồn tại cô lập mà chúng liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau Từ Aritxtôt cho đến các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVII, họ đều đã thấy con người là một sinh vật -
xã hội Trên thực tế, nói đến con người là chỉ những con người ở những thời đại khác nhau, thuộc về các giai cấp, các dân tộc, các nhóm xã hội khác nhau cho nên trong mỗi con người, yếu tố tự nhiên tồn tại trong sự tác động của yếu tố xã hội Mặt khác, con người thực hiện đời sống sinh vật theo cách của mình, tạo thành văn hóa của một cộng đồng người và toàn nhân loại Khi nói tới con người thì không
phải nói đến con người trong trạng thái tự nhiên thuần túy, mà là con người hoạt
động thực tiễn Thông qua hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã
hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình Luận đề của C.Mác cần được hiểu, các quan hệ xã hội (quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp,…) quy định bản chất con người được xem xét không tách rời, cô lập với quan hệ giữa
con người với tự nhiên Trong sự tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội đó đặc biệt cần
thấy sự thống nhất cái chung toàn nhân loại với cái đặc thù giai cấp, dân tộc trong
cái riêng của mỗi cá nhân con người Vì vậy giải phóng con người là hướng vào
Trang 20giải phóng những mối quan hệ mà trong đó con người nằm trong mối tương quan với những đối tượng khác
Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ăngghen đã viết: “Những tiền đề xuất
phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó
là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi
Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ” [40, tr.28] Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác -
Ph.Ăngghen đã xây dựng nên phạm trù con người hiện thực, con người thực tiễn Con người biểu hiện ra là một chủ thể sáng tạo, làm nên lịch sử của mình Bằng hoạt động thực tiễn của mình, qua những thế hệ người nối tiếp nhau con người không chỉ từng bước chinh phục và cải biến tự nhiên mà còn từng bước làm biến đổi chính bản thân mình Cuộc hành trình ấy như Ph.Ăngghen dự báo, con người đi
từ vương quốc của tất yếu tới vương quốc của tự do Giải phóng con người và phát
triển con người là mục đích tự thân của lịch sử Chủ nghĩa cộng sản mà C.Mác -
Ph.Ăngghen hướng đến xây dựng chính là một chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị, mà ở đó con người được sinh tồn và phát triển đúng với phẩm giá, nhân tính, nhân cách của
nó, như C.Mác nói, con người tự biểu hiện, tự phát triển và tự khẳng định sức mạnh bản chất người của chính mình
1.2 Nội dung vấn đề giải ph ng con người trong triết học Mác
1.2.1 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào tự nhiên
Lịch sử loài người đã cho thấy, ngay từ khi các khoa học cơ bản sơ khai được hình thành cũng như triết học xuất hiện thì con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu đặc biệt của nhiều ngành khoa học Con người với tất cả những lát cắt của nó, dưới góc độ của nhiều phân ngành khoa học dường như vẫn chứa đựng nhiều bí ẩn mà nhân loại khát khao khám phá, tìm hiểu Tựu trung lại, các khoa học đều gặp nhau ở một điểm, làm sao để con người có thể hiểu về bản thân mình ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn Triết học Mác ngay từ khi ra đời đã từng bước luận giải
và khẳng định mỗi bước tiến lên của lịch sử phải được biểu hiện ở mục tiêu giải phóng con người
Trang 21Trong nhiều tác phẩm của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen đã từng đề cập đến
con người với tư cách là một bộ phận của tự nhiên Đặc biệt, trong tác phẩm Bản
thảo kinh tế - triết học 1844 (C.Mác ), Biện chứng của tự nhiên (Ph.Ăngghen)
những tư tưởng về con người được C.Mác - Ph.Ăngghen kiến giải một cách sâu sắc, thấm đẫm tinh thần nhân đạo Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên thời
kỳ đó, đặc biệt là học thuyết tiến hóa của Đácuyn, C.Mác và Ph.Ăngghen đều luận chứng cho nguồn gốc tự nhiên của con người Theo đó, con người có nguồn gốc từ động vật, cụ thể là từ một loài vượn đã phát triển ở trình độ cao, trải qua hàng chục vạn năm cùng với quá trình lao động và ngôn ngữ đã chuyển hóa thành người Con
người không phải là sự “tha hóa” của “ý niệm tuyệt đối”, cũng không phải là sự
sáng tạo của thần linh hay thượng đế Con người trong triết học Mác là một bộ phận của giới tự nhiên, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên Nếu ví lịch
sử hình thành trái đất trong hai mươi tư giờ thì con người xuất hiện chỉ vào phút cuối cùng của một vòng quay trái đất ấy Dưới góc độ nghiên cứu của mình, C.Mác
- Ph.Ăngghen không trình bày những giai đoạn phát triển của con người từ nguyên thủy cho tới hiện đại, không tiếp cận những vết tích hóa thạch để tìm hiểu những bước tiến hóa và thăng trầm của nhân loại Hai ông dựa trên tất cả những thành tựu của khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội nhân loại đã đạt được để nghiên cứu bản chất con người Trước hết, các ông phân tích mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tiền
đề đầu tiên của lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống Vì vậy điều đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên” [40, tr.16] Theo đó, C.Mác nhấn mạnh giới tự nhiên là một bộ phận quan
trọng của đời sống con người, xuất phát từ hai điểm: “Thứ nhất, giới tự nhiên là tư
liệu sinh sống trực tiếp đối với con nguời, và thứ hai, giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người” [45, tr.135] Nói một
cách khác, con người sống dựa vào giới tự nhiên Giới tự nhiên cung cấp cho con người cả phương tiện lao động lẫn đối tượng tác động để đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người Như thế, giới tự nhiên không chỉ là cái nôi khởi thủy của nhân loại
mà còn là điểm tựa cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người
Trang 22Tư tưởng mang tính đột phá trong triết học Mác ở góc độ này, đó là C.Mác đã
khẳng định giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Ông viết: “Giới tự nhiên -
cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại” [46, tr.135] Có
thể thấy, C.Mác tuy không phải là người đầu tiên đặt vấn đề nguồn gốc tự nhiên của con người, nhưng ông đã đem lại sự phân tích triết học sâu sắc và thấu đáo những mối liên hệ biện chứng giữa tự nhiên, nguồn gốc của tự nhiên với xã hội và nguồn gốc xã hội trong sự hình thành bản chất con người Ông cũng là người khẳng định, con người như một thực thể song trùng: tự nhiên - xã hội và cái căn bản, quyết định bản chất con người là xã hội, quan hệ xã hội hiện thực Bản chất con người là một bản chất xã hội Ngay từ thời cổ đại con người đã được coi là một động vật chính trị trong triết học Arixtôt Trong triết học nhân bản của Phoi-ơ-bắc, con người là một động vật, một sinh vật trong tự nhiên Quan điểm duy vật nhìn nhận, con người là sản phẩm tiến hóa và là bộ phận cao nhất của giới tự nhiên Đến C.Mác - Ph.Ăngghen, lần đầu tiên các ông đề cập đến mối quan hệ máu thịt, khăng khít
trong một chỉnh thể thống nhất giữa con người và tự nhiên Ph.Ăngghen viết: “Bản
thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về tự nhiên”
[2, tr.285] C.Mác - Ph.Ăngghen đều cho rằng, giới tự nhiên không chỉ là môi sinh,
là kho tài nguyên của con người mà nó còn là cơ thể của chính con người Do đó, những tác động lên tự nhiên cũng gây ra những biến đổi trong chính đời sống con người xét cả về phương diện sinh học và xã hội
Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không chỉ thấy sự gắn kết và phụ thuộc của con người vào giới tự nhiên mà còn khẳng định vai trò chủ thể của con người trong quá trình lao động và sáng tạo thế giới Nếu triết học cổ đại phương Đông đề cao mối quan hệ hòa hợp
giữa con người với tự nhiên, “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân tương giao”; thì triết học Mác “thuộc về dòng văn hóa truyền thống châu Âu đề cao sự chinh phục
tự nhiên của con người” [65, tr.88] C.Mác cũng đã khẳng định trong “Luận cương
về Phoiơbắc”: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác
Trang 23nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” [42, tr.12] Trong Biện chứng của tự nhiên,
Ph.Ăngghen viết: “Động vật chỉ lợi dụng tự nhiên bên ngoài và chỉ gây ra những
thay đổi trong tự nhiên đơn thuần bằng sự có mặt của chúng; còn con người thì do
đã tạo ra những biến đổi trong tự nhiên, mà bắt tự nhiên phải phục vụ cho những mục đích của mình và thống trị tự nhiên” [2, tr.283] Khi luận giải cho mối quan hệ
biện chứng giữa con người với tự nhiên, C.Mác - Ph.Ăngghen đã lấy hoạt động lao động sản xuất của con người làm điểm xuất phát Đây là hoạt động đầu tiên mang bản chất loài của con người, là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ lao động tác động lên tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội Sự phát triển của xã hội suy đến cùng là do những thành tựu mà con người và loài người đạt được trong lĩnh vực kinh tế thông qua hành vi lao động sản xuất của chính mình Những giá trị văn minh mà con người và loài người đạt được bao chứa trong nó cả những kết quả chinh phục tự nhiên Ở đây, chinh phục tự nhiên không mang nghĩa tiêu cực khi nó là phương tiện để con người từng bước giải phóng bản thân mình ra khỏi sự phụ thuộc, lệ thuộc tuyệt đối vào những sức mạnh của thiên nhiên Chính trong lao động và thông qua lao động mà những tri thức của con người về thế giới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn, đồng thời những thành tựu của khoa học công nghệ làm cho giới tự nhiên ngày càng phong phú và đa dạng hơn Nhìn vào lịch sử hình thành nhân loại cho thấy, chính thông qua lao động mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, cấu trúc sinh học của cơ thể ngày càng phát triển Như vậy, lao động không chỉ sáng tạo ra giới tự nhiên mà con sáng tạo ra chính con
người và lịch sử xã hội Do đó, “toàn bộ cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua
chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao động của con người, sự sinh thành của tự nhiên con người” [46, tr.182]
Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác - Ph.Ăngghen đã viết, tự nhiên lúc đầu khi con người chưa nhận thức được là cái “đối lập với con người như một sức mạnh hoàn
toàn xa lạ, vạn năng và không thể đụng tới được; tức là cái mà với nó, con người quan hệ một cách hoàn toàn động vật, cái mà trước nó con người phải khuất phục giống như con vật; do đó là ý thức hoàn toàn động vật về tự nhiên” [40, tr.38] Do
vậy, để giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào tự nhiên thì phải giải phóng họ khỏi
sự ngu tối trong nhận thức về giới tự nhiên, nắm bắt được quy luật của giới tự nhiên;
Trang 24làm cho giới tự nhiên không còn là lực lượng siêu nhiên, thần bí thống trị thế giới tinh thần cũng như hoạt động thực tiễn của con người Tuy nhiên, đây không phải là công
việc đơn thuần của tư duy, lý luận mà là công việc của thực tiễn Bằng hoạt động thực
tiễn, con người từng bước đi vào thế giới như một chủ thể tích cực và sáng tạo
C.Mác khẳng định: “Giới tự nhiên cũng không phải là người chủ Nhờ lao động, con
người chinh phục giới tự nhiên càng triệt để hơn và nhờ những kỳ tích của công nghiệp mà những kỳ tích của thần thánh càng trở nên thừa” [2, tr.140]
Những thành tựu của khoa học tự nhiên vào những năm 40 của thế kỷ XIX một mặt bộc lộ tính chất hạn chế, chật hẹp và bất lực của phương pháp tư duy siêu hình; mặt khác cung cấp tri thức khoa học để phát triển tư duy biện chứng Những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp thời kỳ này đã thực tiễn hóa những tri thức khoa học vào cuộc sống, mang lại năng suất lao động cao hơn; đồng thời từng bước giải phóng con người khỏi lao động cơ bắp nặng nhọc, nguy hiểm, khỏi sức mạnh mù quáng của tự nhiên Như vậy mỗi bước tiến lên của nhân loại phải được biểu hiện ở tiêu chí giải phóng con người làm trung tâm
Nhận thức là một quá trình lâu dài và liên tục Bản thân một cá nhân, một thế
hệ người ở một giai đoạn lịch sử nhất định không thể nhận thức được đầy đủ, toàn diện và chính xác toàn bộ giới tự nhiên Đây là quá trình của các thế hệ người nối tiếp nhau trong lịch sử Mỗi thành tựu mà thế hệ trước đạt được là cơ sở để thế hệ sau tiếp tục tìm tòi, phát triển Đó cũng là quá trình khám phá ra con đường đưa nhân loại từng bước tiến tới tự do, thoát khỏi sự thống trị của cái tất yếu Tuy nhiên, trong những tác phẩm của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh tính chất hai chiều của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Chinh phục tự nhiên là một thước đo trong sự giải phóng con người, song điều đó không đồng nghĩa với việc
coi con người là chúa tể của vũ trụ, chinh phục tự nhiên không đồng nghĩa với việc
tàn phá tự nhiên Mỗi sự tác động của con người lên tự nhiên đều để lại những dấu
ấn riêng và tự nhiên sẽ có sự biến đổi theo những hình thù mà con người đã tác
động vào nó Về điều này, Ph.Ăngghen viết:“Chúng ta hoàn toàn không thống trị
được tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự nhiên mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu
Trang 25óc chúng ta, là thuộc về tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên biểu hiện ở chỗ là chúng ta có ưu thế hơn tất
cả các sinh vật khác, nghĩa là chúng ta hiểu biết được quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được các quy luật đó một cách chính xác” [2, tr.285] Nếu những biến
đổi trong tự nhiên mang tính tự phát, nếu những tác động của loài vật lên môi sinh hoàn toàn mang tính bản năng thì hoạt động của con người là hoạt động có ý thức,
có mục đích và mang tính sáng tạo Chúng ta không thể đối xử với tự nhiên theo
kiểu những kẻ xâm lược với nền “kinh tế cướp đoạt”, bởi như vậy tự nhiên sẽ “trả
thù” lại chúng ta và đó sẽ là một thảm họa không chỉ gây ra đối với một vài thế hệ
Theo Ph.Ăngghen: “Chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của
chúng ta đối với tự nhiên Vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần tự nhiên trả thù lại chúng ta” [2, tr.284] Khi con người càng khẳng định vai trò chủ
thể của mình trước tự nhiên bao nhiêu thì mức độ tự do của con người càng được nới rộng bấy nhiêu Nhưng nếu con người khai thác tự nhiên như một tên độc tài, thì cái tưởng như là tự do khi con người đạt được những thắng lợi trong quá trình chinh phục tự nhiên lại trở thành nguyên nhân đẩy con người rơi vào tình trạng bế tắc; đặc biệt trong việc tìm kiếm một sự phát triển bền vững cho nhân loại
Thời đại của C.Mác - Ph.Ăngghen sống, những vấn đề về môi trường chưa được đặt ra một cách cấp bách, bức xúc như hiện nay Các ông chưa biết đến hiệu
ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn, mưa axít, sa mạc hóa, nhưng các ông đã đưa ra
những nguyên tắc phương pháp luận chỉ dẫn cách ứng xử của con người trong mối
quan hệ với tự nhiên - đó là mối quan hệ hài hòa, bình đẳng, là mối quan hệ hữu cơ
xã hội - tự nhiên không thể tách rời Mỗi khi con người tàn phá tự nhiên cũng là khi con người tàn phá chính bản thân mình; mỗi khi con người phá hoại sự cân bằng sinh thái là lúc con người tự huỷ hoại sự sống của mình
Từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập cho đến nay đã hơn năm thế kỷ Những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản là
vô cùng to lớn Song quan điểm duy kinh tế, quan điểm coi con người là kẻ thống trị muôn loài của một thời kỳ lịch sử đã gây ra những hậu quả khôn lường đối với tự nhiên cũng đồng thời là hậu quả khôn lường đối với xã hội, với an ninh của con
Trang 26người và đời sống của nó Ngay từ thế kỷ XIX, Ph.Ăngghen đã nói: “Trong phương
thức sản xuất hiện nay, người ta chỉ chú trọng chủ yếu đến việc làm thế nào cho tự nhiên và xã hội đem lại cho người ta những kết quả gần gũi nhất, hiển hiện nhất”
[2, tr.289] - tức là lợi nhuận, mà không cần quan tâm đến hậu quả do những hành
động đó gây ra Ph.Ăngghen đã luận giải điều này trong tác phẩm “Biện chứng của
tự nhiên”, khi nói về việc đốt rừng của những người chủ đồn điền Tây Ban Nha ở
Cu Ba trên những triền núi và lấy số phân tro đủ để bón cho cả một loạt cây cà phê, đem lại một số thu hoạch lớn; thì họ không nghĩ đến việc, sau này những trận mưa rào ở vùng nhiệt đới sẽ cuốn sạch lớp đất trên mà không có gì che chở và hậu quả là
để lại những lớp đất đá trơ trụi, khô cằn Hay những người miền núi nước Ý, khi họ phá hoại các đám rừng thông trên sườn phía Nam dải Anpơ thì họ không biết rằng,
họ đã phá hoại việc chăn nuôi của người dân trên núi cao; và họ càng không thể biết như thế là làm cho các con suối trên núi bị khô cạn suốt một phần lớn thời gian trong năm Khi mùa mưa đến, nước lũ của các khe suối lại tràn xuống dữ dội, làm ngập cả đồng bằng… Ở đây Ăngghen muốn nói đến mối quan hệ biện chứng của các sự vật hiện tượng, các quá trình diễn ra trong tự nhiên Trong thế giới thực tại, không có gì là diễn ra một cách đơn độc mà chúng luôn có sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau Sự đa dạng sinh học là cái nôi bền vững cho sự phát triển của môi sinh Hoạt động của con người sẽ làm cho giới tự nhiên phong phú hơn, đa dạng hơn hoặc sẽ làm cho giới tự nhiên cạn kiệt và suy thoái Điều đó tuỳ thuộc vào mục tiêu phát triển của xã hội và mức độ nắm bắt các quy luật tự nhiên của con người Con người càng thu hẹp và tách mình ra khỏi tự nhiên thì con người lại càng đẩy mình vào sự nguy hiểm của một môi trường sống mất cân bằng
Trong bối cảnh hiện nay, khi nhân loại đang phải đối mặt với những nguy cơ môi trường bị huỷ hoại, đặc biệt là hiện tượng nóng lên của trái đất và những hậu quả mà nó gây ra đang là mối đe doạ không chỉ với cuộc sống của con người mà còn cả tương lai của ngôi nhà chung của nhân loại - trái đất, thì việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thiết nghĩ không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Sự tiến bộ của xã hội phải lấy phát triển con người làm mục tiêu; sự phát triển bền
Trang 27vững của loài người phải lấy sự phát triển đa dạng của tự nhiên làm nền tảng Chân
lý đó sẽ còn giá trị cho đến mãi về sau
1.2.2 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào người khác
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã luận giải nguồn
gốc tự nhiên của con người và khẳng định trình độ phát triển cao hơn rất nhiều của con người so với con vật Có thể so sánh hai đối tượng đó trên nhiều phương diện khác nhau; song theo Ph.Ăngghen đặc điểm đầu tiên, quyết định để phân biệt đàn
vượn với xã hội loài người đó chính là lao động
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác thì lao động bắt đầu với việc chế
tạo ra công cụ lao động; và về điều này thì “chưa hề có một bàn tay vượn nào có thể
chế tạo ra được dù bằng đá thô sơ nhất ” [2, tr.276] Đàn vượn chỉ biết ăn sạch số
thức ăn có trong khu vực mà chúng sinh sống, chứ không bao giờ có khả năng tạo ra được trong vùng chúng kiếm ăn, một số thức ăn nhiều hơn số thức ăn mà thiên nhiên đã cung cấp Trong con vật thì cái bản năng là cái chi phối, thống trị; còn trong con người thì tư duy, ý thức và tính có mục đích là cái chi phối hoạt động, có
ý thức để chế ngự bản năng Ph.Ăngghen viết: “Trái với người thợ săn, con chó sói
không bao giờ buông tha cho con hươu cái có thể cung cấp hươu con cho nó trong năm tới Ở Hy Lạp, loài dê ăn sạch những bụi cây còn non không để cho nó lớn lên, thành thử tất cả núi non trong nước đó đều trơ trụi” [2, tr.276] Có thể thấy, con
người càng cách xa loài vật bao nhiêu, thì tác động của con người lên tự nhiên càng mang tính chất là hoạt động có ý thức, có mục đích bấy nhiêu Chính trong lao động
mà bàn tay khối óc của con người dần được hoàn thiện Lao động đã thiết lập nên mối quan hệ giữa con người với nhau trong sản xuất và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó mà hình thành nên xã hội loài người
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, với những công cụ lao động hết sức thô
sơ cùng với trình độ nhận thức của con người còn hạn chế nên năng suất lao động rất thấp kém Trong xã hội chưa có sản phẩm dư thừa vì vậy mà chưa có tư hữu; mối quan hệ giữa con người với nhau là bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, trong chiến đấu chống lại thú dữ và sự xâm hại của bộ tộc khác Người tộc trưởng là do các thành viên trong bộ tộc bầu ra để quản lý, điều hành công việc
Trang 28chung của cộng đồng và sẽ bị bãi miễn khi không thực hiện đúng chức năng, nhiệm
vụ của mình Đó là một chế độ dân chủ sơ khai nhưng đã sớm chứa đựng yếu tố nhân văn
Khi những công cụ bằng kim loại ra đời thay thế cho công cụ bằng đá, một
sự biến đổi xã hội quan trọng đã diễn ra, đó là con người nhờ vào sự cải biến của công cụ mà làm cho năng suất lao động xã hội cao hơn Sự phân công lao động xã hội bắt đầu hình thành, khoa học và nghệ thuật ra đời, lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, trồng trọt tách khỏi chăn nuôi, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra một bước phát triển mới trong lịch sử nhân loại, ở việc con người chinh phục tự nhiên, biến đổi xã hội và không ngừng nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của chính mình Trong xã hội đã có sản phẩm dư thừa và chính những người đứng đầu thị tộc, bộ lạc nảy sinh lòng tham chiếm lấy làm của riêng Chế độ tư hữu xuất hiện đồng thời nảy sinh mâu thuẫn giữa thiểu số những người có của và đa số người lao động nghèo khổ Nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại được thiết lập
Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời giữa một bên là giai cấp chủ nô với tư cách là người chủ, người thống trị xã hội; còn một bên là những người nô lệ với tính chất là giai cấp lệ thuộc, phục tùng Tuy chế độ chiếm hữu nô lệ tiến bộ hơn nhiều so với chế độ cộng sản nguyên thủy ở việc đã tạo ra một lực lượng sản xuất phát triển, nhưng đồng thời nó đã đẻ ra chế độ tư hữu, đẻ ra tình trạng nô dịch, áp bức con người bởi con người đầu tiên trong lịch sử Những người nô lệ không được coi là con người mà chỉ là công cụ biết nói Họ chỉ có nhiệm vụ là làm việc và phục tùng
vô điều kiện giai cấp chủ nô Họ bị đánh đập một cách dã man, bị mang ra trao đổi, mua bán như bất kỳ một thứ hàng hóa nào khác
Theo học thuyết về các hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác thì sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử là một quá trình lịch sử - tự nhiên Trong đó, xã hội sau bao giờ cũng tiến bộ hơn xã hội trước và biểu hiện rõ nhất cho
mỗi bước phát triển đó là mức độ giải phóng con người Người nông nô trong xã
hội phong kiến được tự do hơn người nô lệ bởi anh ta đã được coi là một con người, được lập gia đình và sinh con đẻ cái; được canh tác trên mảnh đất nho nhỏ và nộp tô
Trang 29thuế cho chúa đất Tuy nhiên những luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến cũng như
sự thống trị của thiên chúa giáo hàng ngàn năm đã làm cho người nông nô bị lệ thuộc hoàn toàn sức mạnh của thế quyền và thần quyền Họ cam chịu số phận tôi đòi, đau khổ, không dám nói lên ước mơ, nguyện vọng càng không dám đấu tranh
để giải phóng mình Họ sống trong hiện tại và mơ ước về một hạnh phúc hư ảo sau khi chết, thì điều này lại là một bước thụt lùi so với lịch sử Bên cạnh một xã hội ngày càng tiến bộ hơn thì những yếu tố phản tiến bộ, phản văn minh vẫn tồn tại Những cái tất yếu vẫn hiển hiện song hành cùng tự do mà con người có được
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản với những công trường thủ công đầu tiên được hình thành; việc tìm ra châu Mỹ và con đường vòng qua châu Phi; việc mở rộng thị trường sang Trung Quốc và Ấn Độ,… tất cả đã làm lung lay đến tận gốc rễ chế độ phong kiến đang trong giai đoạn suy tàn Thắng lợi của các cuộc cách mạng
tư sản dẫn đến sự thống trị của giai cấp tư sản và giải phóng toàn thể nhân dân lao động khỏi sự nô dịch của chế độ phong kiến và giáo hội Khoa học tự nhiên mở đường cho sự phát triển; văn học nghệ thuật giàu tính nhân văn; triết học thời kỳ khai sáng có nhiều thành tựu quan trọng Con người được học tập, tham gia hoạt động tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Lịch sử bước sang trang mới Nhân loại như hồi sinh sau gần một nghìn năm trong đêm trường trung cổ Giai cấp
tư sản biểu hiện tính tiên phong, cách mạng của mình ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang lên Đó là thời đại Phục hưng ở thế kỷ XV - XVI và thế kỷ Ánh sáng (Khai sáng) ở thế kỷ XVII - XVIII mà nhân loại đã từng biết đến như những màn vạch đường cho sự sinh thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản
Tuy nhiên, cùng với sự ra đời và phát triển của đại công nghiệp thì giai cấp
vô sản cũng được hình thành và phát triển nhanh chóng và tồn tại với tư cách là giai cấp đối lập với giai cấp tư sản Đúng như Ph.Ăngghen đã viết, sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản đã chia xã hội văn minh ra làm hai: một bên là “những kẻ sở hữu tất cả
các tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng, còn bên kia là số rất đông công nhân làm thuê, không có gì hết ngoài sức lao động của mình” [44, tr.378]
Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII đầu thế
kỷ XIX, với những phát minh về sau mỗi ngày một hoàn thiện hơn đã mang lại
Trang 30năng suất lao động rất cao Về điều này trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”,
C.Mác - Ph.Ăngghen đã đánh giá rất cao vai trò của giai cấp tư sản trong lịch sử:
“Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra
những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại ” [39, tr.51]
Tuy nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng những máy móc đó có tác dụng hơn
bất cứ một công cụ nào khác, để “lật đổ trật tự xã hội trên toàn thế giới, nhất là ở
Châu Âu, bằng cách tập trung của cải vào trong tay thiểu số và đầy đọa tuyệt đại
đa số trong cảnh bần cùng” [2, tr.286] Như vậy, sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra
khối lượng của cải to lớn cho xã hội; nó đã tạo ra những vật phẩm diệu kỳ cho người giàu nhưng đồng thời cũng tạo ra sự bần cùng cho người lao động; tạo ra những lâu đài lộng lẫy nhưng đồng thời cũng tạo ra những ngôi nhà ổ chuột cho người công nhân Sự phồn vinh và nghèo khổ luôn song hành với nhau dưới xã hội
tư bản Bởi giai cấp tư sản chỉ có thể làm giàu trên lưng của những người lao động,
và người công nhân chẳng có gì ngoài sức lao động bán cho nhà tư bản C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định, cái mà anh ta nhận được dưới danh nghĩa là tiền công
chỉ đủ tồn tại “không phải như một con người mà như một công nhân và không phải
để người công nhân duy trì loài người mà duy trì giai cấp nô lệ” [46, tr.79]
Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác cho rằng trong xã
hội tư bản, người công nhân không tồn tại với tư cách là một con người mà bị hạ xuống là một hàng hóa, hơn nữa lại là thứ hàng hóa thảm hại nhất Họ phải chịu mọi
sự may rủi của cạnh tranh, sự lên xuống của thị trường Nhưng người công nhân không thể làm gì khác ngoài việc tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một Họ là
những người trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, nhưng có một nghịch lý là, “khối
lượng sản phẩm anh ta càng tăng thì anh ta càng nghèo Người công nhân càng tạo
ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa rẻ mạt” [46, tr.128]
Nếu như lao động từng là niềm tự hào của con người, thể hiện đời sống có tính loài tích cực của mình, trong đó con người không chỉ nhân đôi mình về mặt trí
tuệ, “mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực và con người
ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” [46, tr.137], thì ở đây
Trang 31C.Mác đã luận giải về tình trạng lao động bị tha hóa của người công nhân dưới chế
độ tư bản chủ nghĩa Theo đó, lao động trở thành một cái gì đó xa lạ, ở bên ngoài người công nhân, không thuộc về bản chất của anh ta nữa Trong lao động, anh ta không cảm thấy mình sung sướng, tự do mà cảm thấy mình khổ sở, bị trói buộc Lao động không phải là sự phát huy sức mạnh thể chất và sự thăng hoa của tinh thần, mà làm đến kiệt quệ thân thể của mình, phá hoại tinh thần của mình Do đó,
“lao động của anh ta không phải là tự nguyện mà là sự bắt buộc, đó là lao động
cưỡng bức” [46, tr.133] “Tính bị tha hóa của lao động biểu hiện rõ rệt ở chỗ là một khi không còn sự cưỡng bức lao động về thể xác hoặc về mặt khác thì người ta trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh dịch hạch vậy” [46, tr.132] Đó không phải là
sự thỏa mãn nhu cầu lao động mà chỉ là phương tiện để duy trì sự tồn tại của người công nhân chỉ với nghĩa về mặt sinh học Vì vậy mới xảy ra một tình trạng là, người công nhân chỉ cảm thấy tự do, được là chính mình khi anh ta thực hiện những chức năng động vật của mình, như khi ăn uống, sinh con đẻ cái hay lúc trang sức,… còn trong những chức năng của con người thì anh ta thấy mình chỉ là con vật C.Mác cũng cho rằng, tất nhiên là ăn uống, sinh con đẻ cái,… cũng là những chức năng thực sự có tính người, nhưng nếu tách chúng ra khỏi phạm vi hoạt động của con người và coi đó là mục đích cuối cùng và duy nhất thì những chức năng ấy chỉ mang tính súc vật mà thôi
Sự tha hóa trong lao động còn thể hiện ở chỗ, sản phẩm lao động của người công nhân không thuộc về anh ta mà lại trở thành một lực lượng đối lập với chính anh
ta Để có một công việc người công nhân cũng phải cạnh tranh với những người công nhân khác Anh ta phải nỗ lực hết sức căng thẳng để làm ra vật phẩm Lao động của người công nhân được vật hóa trong vật phẩm, sự vật hóa ấy biểu hiện ra là sự mất vật phẩm và bị vật phẩm nô dịch Việc chiếm hữu biểu hiện ra là một sự tha hóa đến mức người công nhân sản xuất ra càng nhiều vật phẩm thì anh ta lại càng bị sản phẩm
của anh ta - tức tư bản thống trị càng mạnh C.Mác kết luận: “Anh ta tạo ra càng
nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật do anh ta tạo dáng càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc anh ta làm càng phức tạp thì bản
Trang 32thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên” [46, tr.131];
lao động “sáng tạo ra cái đẹp, nhưng cũng làm què quặt công nhân Nó thay lao
động thủ công bằng máy móc, nhưng nó lại ném một bộ phận công nhân trở về với lao động dã man và biến một bộ phận công nhân khác thành những cái máy Nó sản xuất ra trí tuệ, nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc cho công nhân” [46,
tr.131] Đó là một nghịch lý, sự giàu có về của cải, tính hiện đại của nền sản xuất tỷ lệ nghịch với những giá trị của con người Trong xã hội tư bản những thành quả của văn minh trong lao động không thuộc về người công nhân Lao động ở đây không phải là thước đo, là tấm gương phản chiếu sức sáng tạo tự do của con người mà lại trở thành phương tiện nô dịch con người Thế giới vật phẩm không phải là niềm tự hào của người lao động mà lại trở thành sự đe dọa với chính bản thân anh ta Theo C.Mác thì đời sống sẽ là gì nếu không là hoạt động Song ở đây, hoạt động biểu hiện ra là sự đau khổ, sức mạnh biểu hiện ra là một sự bất lực, nghị lực thể chất và tinh thần của người công nhân biểu hiện ra là hoạt động chống lại bản thân anh ta Tất cả trở thành
“xa lạ” với chính người công nhân
Lao động vốn dĩ là hoạt động bản chất có tính loài của con người Con người
khác con vật ở chỗ, con người lao động theo “quy luật của cái đẹp” Nhưng khi lao
động bị tha hóa, nó đã tước đi đời sống có tính loài thực sự của con người và biến cái ưu thế hơn của con người so với con vật thành cái tiêu cực đối với con người, biến đời sống có tính loài của con người thành phương tiện duy trì sự tồn tại thể xác của con người, biến bản chất nhân loại của con người trở thành xa lạ với con người
Song, có lẽ nỗi bất hạnh lớn nhất của con người ở đây chính là con người bị tha hóa
bản chất người của chính mình Theo C.Mác: “Kết quả trực tiếp của việc con người
bị tha hóa với sản phẩm lao động của mình, với hoạt động sinh sống của mình, với bản chất có tính loài của mình, là sự tha hóa của con người với con người… Nói chung, luận điểm cho rằng bản chất có tính loài của con người bị tha hóa với con người có nghĩa là, một người này bị tha hóa với người khác và từng người trong số
họ bị tha hóa với bản chất người” [46, tr.138-139]
Như vậy, trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, người công nhân trở thành nô lệ của chính hành vi sản xuất của anh ta và vật phẩm của quá trình đó tạo ra Ở đây,
Trang 33C.Mác cũng luận giải rằng, lao động đó, vật phẩm đó không thuộc về người công nhân tức là thuộc về một người khác Sự đau khổ của người này lại là niềm hạnh
phúc của người kia “Không phải thần thánh và giới tự nhiên, mà chỉ chính ngay
không phải là thượng đế hay một lực lượng siêu nhiên nào cả; không phải giới tự nhiên mà là nhà tư bản Đó là kẻ nắm toàn bộ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; là lực lượng thống trị về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa tinh thần của toàn
xã hội Do vậy, giai cấp công nhân không phải nô lệ cho một vật phẩm, một quá trình mà là nô lệ vào giai cấp tư sản
Trong cuốn Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh (1845), Ph.Ăngghen đã
nói về giai cấp tư sản Anh, nhất là bọn chủ xưởng là những kẻ trực tiếp làm giàu trên sự bần cùng của người lao động, nhưng chúng lại không muốn biết gì về sự bần cùng đó Chúng tự cho mình là giai cấp mạnh nhất, là giai cấp đại diện cho dân tộc
Ph.Ăngghen viết: “Họ không muốn thú nhận rằng những người lao động rất cùng
cực, bởi vì chính họ, giai cấp có của, giai cấp các nhà công nghiệp, phải chịu trách nhiệm tinh thần về tình trạng nghèo khổ ấy” [41, tr.351] Những thành tựu của cơ
khí hóa trong thực tế sẽ góp phần giải phóng khỏi những thao tác lao động giản đơn, thủ công thì nhà tư bản lại tranh thủ lao động phụ nữ và trẻ em vì như thế dễ hơn và
rẻ hơn Bởi đối với giai cấp tư sản thì chẳng có gì quan trọng hơn là lợi nhuận kiếm
được Mối quan hệ giữa con người chẳng có gì khác “ngoài mối lợi lạnh lùng và lối
trả tiền ngay không tình nghĩa” [39, tr.47] Nó đã biến phẩm giá của con người
thành một giá trị trao đổi đơn thuần Do đó, C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định:
“Giai cấp tư sản đã đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự
bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị” [39, tr.47] Ở đây,
giai cấp tư sản bộc lộ sự hạn chế của chính giai cấp mình Chế độ mà giai cấp tư sản
thiết lập nên không phải mang lại “tự do - bình đẳng - bác ái” cho con người mà là
nô dịch con người Nó mang lại sự giàu lên của thiểu số những người có của và
nghèo hơn của đa số những người vô sản Do đó, giai cấp tư sản “không thể thống
trị được nữa, vì nó không thể bảo đảm cho người nô lệ của nó ngay cả một mức sinh hoạt nô lệ” [39, tr.65] C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra những biểu hiện về mặt
xã hội ấy bắt nguồn từ cơ sở kinh tế, đó là chế độ tư hữu tư sản
Trang 34Nói như C.Mác thì, sở hữu tư nhân vừa là sản phẩm, là hậu quả của lao động
bị tha hóa vừa là phương tiện làm cho lao động bị tha hóa, là sự thực hiện sự tha hóa ấy Nếu như con người quan hệ với hoạt động của bản thân mình như với một hoạt động không tự do, thì như thế con người quan hệ với hoạt động đó nhằm phục
vụ cho người khác, phục tùng sự áp bức và cưỡng bức của người khác Trong tác
phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác - Ph.Ăngghen cũng cho rằng lao động thống trị con
người khi tồn tại sở hữu tư nhân; đó cũng là nguyên nhân tình trạng người nô lệ vẫn còn tồn tại trong xã hội Do đó, để giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào người khác, thì theo C.Mác - Ph.Ăngghen phải xóa bỏ đi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội - mà cụ thể là chế độ tư hữu tư sản Bởi theo các
ông thì đó là “biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của phương thức sản xuất và
chiếm hữu dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này
là những biến thể và kết quả của quan hệ ấy” [46, tr.144] Do vậy, nếu không xóa
bỏ nó (chế độ tư hữu tư sản) thì tuyệt đại đa số nhân dân lao động sẽ không có sở hữu, và như thế thì tình trạng con người chịu sự nô lệ vào người khác còn tồn tại Nhân loại sẽ không thể tiến lên một xã hội văn minh; lịch sử sẽ bị thụt lùi về giá trị nhân bản
Trên thực tế, giai cấp nào nắm quyền lực về kinh tế, thì đồng thời cũng thống trị về chính trị và chi phối tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do vậy, người lao động dưới chế độ tư bản chủ nghĩa không chỉ lệ thuộc vào giai cấp tư sản về phương diện kinh tế mà còn bị nô dịch về văn hóa, tinh thần - mà về phương diện này nó cũng nhằm dạy cho người công nhân biến thành những cái máy, dạy cho họ
sự phục tùng vô điều kiện đối với giai cấp tư sản
Vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của triết học trong mọi thời kỳ lịch sử Giải phóng con người luôn là tính hướng đích mà triết học vươn tới Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử mà các nhà triết học trước Mác chưa tìm ra được con đường đúng đắn để thực hiện khát vọng cao đẹp đó Hêghen nhà triết học duy tâm nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức, cũng như những người tham gia phái
“Hêghen trẻ” hay “Hêghen già” sau này đều lấy ý thức, tinh thần làm cái xuất phát,
Trang 35làm phương tiện để giải phóng nhân loại, do vậy còn chứa đựng yếu tố duy tâm, ảo tưởng Về điều này, trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ăngghen đã phê phán, dù
“có đem triết học, thần học, thực thể và mọi thứ rác rưởi khác hòa tan vào trong cái
“tự ý thức”, có giải thoát con người khỏi sự thống trị của câu cú chưa từng nô dịch con người ấy thì cũng chẳng làm cho sự giải phóng con người tiến lên được một bước nào cả” [40, tr.65] Từ đó, C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định: “không thể thực hiện được một sự giải phóng thực sự nào khác nếu không thực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện thực và bằng những phương tiện hiện thực” [40, tr.65]
Chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến tình trạng con người bị nô dịch, bị
áp bức, bị tha hóa bản chất của mình Do vậy, xóa bỏ tình trạng đó phải là hoạt
động vật chất chứ không phải hoạt động của tinh thần Bởi “sự giải phóng” là một
sự kiện lịch sử, chứ không phải là một sự kiện tư tưởng, và nó nảy sinh ra từ những điều kiện lịch sử, từ tình trạng của công nghiệp, của thương nghiệp, của nông nghiệp” [40, tr.65] - tức từ tiền đề về kinh tế Với phép biện chứng duy vật và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác - Ph.Ăngghen đã cắt nghĩa cho tình trạng người lao động bị cưỡng bức dưới xã hội tư bản Các ông đã tìm ra căn nguyên, gốc rễ của mọi khổ đau; đã xuất phát từ cơ sở kinh tế, từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để lý giải cho các vấn đề xã hội Sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao một cách hợp quy luật là một quá trình lịch sử - tự nhiên Trong đó, yếu tố kinh tế mà trực tiếp là lực lượng sản xuất là nhân tố tiên phong làm nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất vật chất, để từ đó mở đường cho cuộc cách mạng
xã hội Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của thời đại; là giai cấp trực tiếp tạo ra khối lượng của cải vật chất to lớn cho xã hội, nhưng lại là giai cấp nghèo khổ nhất bất hạnh nhất Giai cấp
tư sản đại diện cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; là giai cấp tập trung toàn bộ tài sản xã hội trong tay mình, làm giàu bằng cách bóc lột lao động làm thuê Cuộc cách mạng công nghiệp cùng với những thành tựu khoa học liên tục được bổ sung
đã làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, mang tính xã hội hóa ngày càng cao Trong khi đó, quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu bộc lộ sự hạn chế, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội tư sản biểu hiện về mặt xã
Trang 36hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Do đó, cuộc đấu tranh của những người công nhân chống lại chủ tư bản diễn ra từ rất sớm, trải qua những nấc thang phát triển khác nhau Giai cấp công nhân dần lớn mạnh, trưởng thành cùng với sự phát triển của đại công nghiệp Những kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của
cả thời kỳ theo giai cấp tư sản chống lại chế độ chuyên chế phong kiến suy tàn, cũng như giai đoạn xây dựng chính quyền tư sản về sau đã giúp công nhân mau chóng trở thành một lực lượng chính trị độc lập, là giai cấp thực sự cách mạng C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp vô sản trong thời đại mới, có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản; xóa bỏ mọi chế độ áp bức, bóc lột, nô dịch con người giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và toàn thể nhân loại, tiến lên xã hội cộng sản văn minh
Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848), C.Mác - Ph.Ăngghen đã khẳng định kể từ khi xuất hiện giai cấp thì: “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến nay
chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” [39, tr.42], người tự do và người nô lệ, quý tộc và
bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả và thợ bạn Tóm lại là những kẻ đi áp bức và những người bị áp bức luôn đối kháng với nhau, tiến hành đấu tranh với nhau nhằm giải phóng cho mình (giai cấp bị trị) hay duy trì quyền lực, lợi ích của mình (giai cấp thống trị) Xã hội tư bản được sinh ra trong lòng xã hội phong kiến lạc hậu, đổ
nát Song chủ nghĩa tư bản “không xóa bỏ đƣợc những đối kháng giai cấp Nó chỉ
đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi” [39, tr.44] Do vậy, muốn xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng cách mạng nhất phải thực hiện một cuộc cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền từ tay giai cấp tư sản, thực hiện chuyên chính vô sản Lịch sử đã chứng minh rằng, giai cấp cầm quyền không bao giờ tự nguyện trao địa vị thống trị của mình cho một giai tầng nào khác,
mà nhất thiết phải có một cuộc cách mạng xã hội và bằng bạo lực cách mạng để đánh đổ sự thống trị đó
Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản gắn liền với việc mở rộng thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường ở các nước đang và chậm phát triển Giai cấp
Trang 37tư sản ở mỗi nước không chỉ bóc lột lao động làm thuê trong nước mà còn mở rộng quy mô trên phạm vi quốc tế Với những thủ đoạn quỷ quyệt, giai cấp tư sản chi phối kinh tế rồi từng bước chi phối về chính trị của nước đó Về điều này, C.Mác- Ph.Ăngghen cho rằng giai cấp tư sản đã lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất
vào trào lưu văn minh và hậu quả tất yếu của điều đó là: “Nó đã bắt nông thôn phải
phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước dã man hay nửa dã man phải phụ thuộc vào những nước văn minh; nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây” [42,
tr.50] Và “Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư bản,
nếu không sẽ bị tiêu diệt” [39, tr.50] Như thế cũng có nghĩa là, chủ nghĩa tư bản
không chỉ tạo ra tình trạng con người bị nô lệ trong phạm vi mỗi nước tư bản mà nó còn đang từng bước tìm cách thống trị và mở rộng tình trạng đó trên phạm vi toàn thế giới Điều đó đồng nghĩa với việc còn chủ nghĩa tư bản thì còn tình trạng con người bị áp bức, bóc lột Do vậy, giai cấp công nhân khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản thì điều đó không chỉ giải phóng bản thân giai
cấp vô sản mà còn giải phóng toàn nhân loại, và khi “xóa bỏ nạn người bóc lột
người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ” [39, tr.76]
Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản sẽ tiến hành cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa
xã hội Cơ sở kinh tế xã hội đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của
xã hội Mọi tài sản trong xã hội đều là của chung, thuộc về tất cả mọi người Khi chế độ tư hữu tư sản bị loại trừ thì mọi cơ sở cho sự tồn tại chế độ nô dịch con
người cũng mất theo C.Mác - Ph.Ăngghen đã viết: “Chủ nghĩa cộng sản không
tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu các sản phẩm xã hội cả Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” [39,
tr.71] Đây là vấn đề mang tính quy luật, bản chất của chủ nghĩa cộng sản cũng là nguyên lý của chủ nghĩa Mác Tha hóa lao động là nỗi đau, nỗi bất hạnh của con người trong suốt tiến trình lịch sử từ khi xã hội nô lệ ra đời cho đến ngày nay Song,
đó cũng là tất yếu trong một giai đoạn lịch sử của nhân loại, tha hóa gắn với sự phát triển, nó lại tạo ra tiền đề khắc phục tha hóa, phương thức dã man lại tạo ra tiền đề
Trang 38thoát khỏi dã man Dưới chủ nghĩa tư bản, tha hóa biểu hiện ra đầy đủ nhất nhưng
nó cũng tạo ra tiền đề để khắc phục tha hóa
Lao động làm thuê dưới chủ nghĩa tư bản là lao động bị cưỡng bức, còn trong xã hội tương lai mà C.Mác - Ph.Ăngghen hướng tới cho nhân loại, đó là một
xã hội văn minh Con người được tự do lao động, sáng tạo, có điều kiện phát huy
hết khả năng của mình Các ông cho rằng: “Trong xã hội cộng sản, trong đó không
ai có một lĩnh vực hoạt động độc chuyên mà mỗi người có thể tự hoàn thiện mình trong lĩnh vực mình thích” [40, tr.43]; “thành thử tôi có khả năng hôm nay làm việc này, ngày mai làm việc khác; buổi sáng đi săn, quá trưa đi đánh cá, buổi chiều chăn nuôi, sau bữa cơm thì làm việc phê phán, tùy theo sở thích của tôi mà chẳng bao giờ trở thành người đi săn, người đánh cá, người chăn nuôi hoặc nhà phê phán cả” [40, tr.43] Như thế, lao động không còn là phương tiện để duy trì sự tồn tại của
thể xác mà trở thành nhu cầu của mỗi cá nhân Con người được thỏa sức phát huy năng lực của mình; làm việc say mê, tự do sáng tạo, tức lao động phải là cái giải phóng con người, mang lại tự do và niềm vui, hạnh phúc cho nhân loại Và C.Mác
kết luận: “Chủ nghĩa cộng sản với tính cách là sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ
tư hữu - sự tự tha hóa ấy của con người - và do đó với tính cách là sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người; do đó với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại chính mình với tính cách là con người
xã hội, nghĩa là có tính chất người - sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức
và nó giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển trước đó Chủ nghĩa cộng sản như vậy, với tính cách là chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị, = chủ nghĩa nhân đạo, với tính cách là chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị, = chủ nghĩa tự nhiên; nó là sự giải quyết thực sự mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, giữa con người và con người, là sự giải quyết thực sự cuộc tranh chấp giữa tồn tại và bản chất, giữa sự đối tượng hóa
và sự tự khẳng định, giữa tự do và tất yếu, giữa cá thể và loài” [46, tr.167]
Tiến tới chủ nghĩa cộng sản là tiến tới một xã hội, một cộng đồng người lao động tự do, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển của mọi người, trong điều kiện như vậy con người thực sự được giải phóng, sức sáng tạo của con người được nâng lên gấp bội Để đạt được trình độ như vậy, cần phải có tiền đề
Trang 39về kinh tế, chính trị, xã hội - tức phải tạo ra những nhân tố toàn diện Về kinh tế, cần phát triển lực lượng sản xuất, đạt đến trình độ cao để có thể xóa bỏ sự phân công lao động, xóa bỏ chế độ tư hữu, khắc phục sự tha hóa lao động Về chính trị, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, thiết lập nên một chính quyền dân chủ nhân dân với một thể chế dân chủ hơn gấp triệu lần dân chủ tư sản Như vậy, có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác - Ph.Ăngghen đã luận giải, cắt nghĩa cho tình trạng nô dịch của con người, rõ nhất là trong xã hội tư bản Các ông cũng chỉ ra cách thức khắc phục và con đường đưa nhân loại đi đến do
1.2.3 Giải phóng con người khỏi sự nô lệ vào chính bản thân mình
Con người là một thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Trong đó
tự nhiên không thể tách rời với mặt xã hội Do vậy mà trong mỗi cá nhân luôn tồn
tại cả hai nhân tố là thú tính và nhân tính Về điều này, trong tác phẩm Chống
Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã viết: “Bản thân con người là từ giống động vật mà ra, cũng đã bao hàm cái sự thật là con người không bao giờ lại hoàn toàn thoát ly khỏi những thuộc tính vốn có của con vật, thành thử vấn đề bao giờ cũng chỉ là ở chỗ những thuộc tính đó có nhiều hay ít, trình độ khác nhau về thú tính và nhân tính có nhiều hay ít mà thôi” [4, tr.168] Do vậy mà trong quá trình sống, những thuộc tính
ấy đều có sự chi phối trực tiếp hay gián tiếp ở những mức độ khác nhau đối với hoạt động của mỗi cá nhân
Nhà triết học người Đức, Kant trong quá trình nghiên cứu đã rất đề cao vai trò của lý tính Theo Kant, khi con người rời bỏ trạng thái bảo trợ của tự nhiên chuyển sang trạng thái tự do là lúc mà trạng thái của nhân tính thay thế động vật hoang dã, cái bản năng được thay thế bằng lý tính
Con người là một chủ thể có nhân cách, bao chứa trong mình nhân tố đạo đức và các giá trị văn hóa Khi các cá nhân tham gia vào đời sống xã hội thì các nhân tố ấy bộc lộ ra; một mặt phản ánh được đời sống tinh thần, đạo đức của cá nhân đó; mặt khác cũng phản ánh được trình độ dân trí, đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội Con người gắn kết với nhau vì lợi ích, tham gia hoạt động thực tiễn cũng là để thỏa mãn những nhu cầu của bản thân, của xã hội Ph.Ăngghen viết:
“Con người phải có mối quan hệ với thế giới bên ngoài, những thủ đoạn để thỏa
Trang 40mãn nhu cầu của mình: thức ăn, một số người giống nam hay nữ khác mình, sách
vở, chuyện trò, tranh luận, hoạt động, vật dụng và đối tượng lao động” [3, tr.47] -
tức những nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần có thể mang lại cho con người hạnh phúc Tuy nhiên mỗi cá nhân khi thực hiện những hành vi nhằm thực hiện nguyện vọng hạnh phúc của mình thì đồng thời phải quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của người khác, phải là những hành vi mang tính đạo đức Trong nhiều tác phẩm của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa con người với con vật, trước hết là ở hoạt động của con người có mục đích, có ý thức Trong đó, ý thức đạo đức với ý nghĩa là sự tự ý thức của mỗi cá nhân trong sự điều chỉnh hành
vi của bản thân cho phù hợp với lợi ích của người khác, của xã hội sẽ đóng vai trò trực tiếp trong việc từng bước loại dần yếu tố bản năng, thú tính, phát huy nhân tính trong mỗi cá nhân, và đó cũng là lúc con người đạt đến tự do nhiều hơn Ngay từ những tác phẩm dầu tiên của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen đã tấn công vào mọi quan điểm duy tâm và siêu hình về đạo đức Theo C.Mác - Ph.Ăngghen, trong thời cổ - trung đại, đạo đức mà tôn giáo truyền bá không dựa trên ý thức về phẩm giá con người mà dựa vào ý thức về sự thấp hèn của con người Đạo đức ấy công nhiên bào chữa cho tính hợp lý của chế độ nô lệ cổ đại và sự nô dịch thời trung cổ; đặc biệt nó đòi hỏi và biến quần chúng nhân dân thành những lực lượng phục tùng tối đa cho lợi ích của chủ nô, chúa đất mà không có một điều kiện gì Do đó, chính hình thái ý thức đạo đức đó lại là một căn nguyên đẩy con người vào sự nô dịch vào chính tư
tưởng, ý thức của mình Từ đó, C.Mác - Ph.Ăngghen khẳng định: “Người là sinh
vật tối cao đối với con người, do đó dẫn đến cái mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi phải lật
đổ tất cả những quan hệ trong đó con người là một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bất lực, bị khinh rẻ” [59, tr.367] Và các hình thái ý thức đạo đức đã xuất hiện trong
lịch sử, xét đến cùng đều là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội và trong xã hội có giai cấp đạo đức luôn mang tính giai cấp Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XIX,
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh: “Nếu chúng ta thấy rằng ba
giai cấp trong xã hội hiện đại, giai cấp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có đạo đức riêng của mình, thì từ đó chúng ta có thể rút ra kết luận nói rằng con người dù tự giác hay không tự giác, thì rút cuộc đều rút
ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở