1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo đến mức sinh trong các cộng đồng thiên chúa giáo nghiên cứu trường hợp xã xuân ngọc, huyện xuân trường, tỉnh nam định

202 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 6,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những khác biệt trong tín ngưỡng tôn giáo, từ đó dẫn đến những khác biệt trong nhận thức, giao tiếp, hành vi ứng xử của con người, cùng với những khác biệt về mức sinh của cộng đồn

Trang 1

P HẠM VĂN QUYÊT

ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ TÔN GIÁO

ĐẾN MỨC SINH TRONG CỘNG ĐỔNG

THIÊN CHÚA GIÁO

(Nghiên cứu trường hợp xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định)

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lv do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề t à i , , 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ,„,,.,., „., ,, , ,,.,,,.5

4 Mục tiêu nghiên cứu ,, ,,,„„, ,, , , 5

5 Điểm mới của luận án „,„,„,., „.,.„ ,„ , 6

6 Giả thuyết nghiên cứu , ,„.,, ,., ,,, , , , 6

7 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể „ ,,,., ,,,.,,,.„.,.,„,„ ,,„ ,„ ,.,.7

Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài 10 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10

1.2 Cơ sở phương pháp ỉuận ,.,,.,,,,,.,,.,, , , 20

1.3 Những khái niệm cơ sở của đề tài., , „ ,.,,,.,„,., , ,,, , ,., ,,34

Chương 2. Thực trạng và nguvẽn nhân quá trình giảm mức sinh ở Xuân Ngọc , .4]

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu , , ,, ,,., ,„ ,.,.,.,.,.„, , ,41

2.2 Mức sinh và tốc độ suy giảm mức sinh ở Xuân N gọc ,,,.,.,., , , ,50

2.3 Nguyên nhân của mức sinh cao và tốc độ giảm sinh chậm ở Xuân N gọc 62

Chương 3. Ảnh hưởng của biến sô tôn giáo đến các vếu tô hành vi sinh sản của người giáo dân 80

3 ] Tinh hình sử dụng các biện pháp tránh thai và hiêu quả các biện pháp tránh thai ở Xuân Ngoe 81

3.2 Sự ảnh hưởng của giáo K\ gián luật tôn ẹiáo đến các vếu tố

Trang 3

3.4 Sự ảnh hưởníĩ của niềm tin tôn giáo đến các yếu tố hành vi

sinh sản của giáo dân 129

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 163

Trang 4

M Ở Đ Ẳ U

1/ Lý do chọn đề tài

Trong vài chục nãm lại đây, cùng với việc xem xét lại lý thuvết quá độ dân số, một số nhà dân số học xã hội đã hướng đến việc nghiên cứu về sư ảnh hưởng của khung cảnh vãn hoá tới quá độ dân số, nhất là tới quá trình suy eiảm mức sinh Từ các bằng chứng về sự suy giảm mức sinh ở các nước cháu

Âu trước đây và ở một số nước ở châu Á thời gian gần đây, có tác giả đã đi đến kết luận: “Khung cảnh văn hoá đã ảnh hưởng tới sự khởi đầu và lan truyền việc suy giảm mức sinh độc lập với các điều kiện kinh tế xã hội Các khu vực có các điều kiện kinh tế xã hội tương tự nhau nhưng khác biệt về vãn hoá đã bước vào quá độ dân số tại các thời điểm khác nhau” [51, tr,172], Susan c W atkin cũng cho rằng ở các nước có thu nhập thấp việc suy giảm mức sinh có nguyên nhân từ văn hoá Bà đã chứng minh qua thực nghiệm về

sự khác nhau trong lĩnh vực vãn hoá giữa hai cộng đồng có điều kiện kinh tế

xã hội như nhau, nhưng sự suy giảm mức sinh lại khác nhau [6]

Thực tế cho thấy ở từng vùng, ở từng nhóm xã hội trong môt quốc gia, những nét vãn hoá lối sống cùng những yếu tố tâm lý xã hội, tín ngưỡng khác nhau mà các quá trình dân số cũng diễn ra rất khác nhau, nhất là những khía cạnh liên quan đến mức sinh

Tôn giáo được coi thuộc lĩnh vưc của Yăn hoá, vì thế trong những điều kiện nào đó, tôn ciáo có thể có những ảnh hưởng nhất định đến đến mức sinh của cộng đồng, ở Ấn Độ người ta đã chỉ ra rằng mức sinh của những neười theo đạo Sikkim, đạo Tibals, đạo Hồi, đạo Phật, Thiên chúa giáo, Ân độ giáo

và Jainism có sự khác biệt đáng kể Mức sinh của phụ nữ có chồng, theo Hồi giáo, Thiên chúa giáo cao hơn khoảng 5-9% so với phụ nữ Ân độ ííiáo Nhữnỵ

Trang 5

khác biệt này lă do sự kiểm soát sinh đẻ cố ý hoặc do sử dụng các biện pháp tránh thai [57, tr.66] ở Indonesia trước những nãm 1970 những ncười lãnh đạo Hồi giáo đã phản đối kịch liệt việc đặt dụng cụ tử cung hay triệt sản và coi đó là tiền phá thai, “thêm vào đó họ khởnc thích cái ý tưởng về một người đàn ông thực hiện các dịch vụ thầm kín này’' Các giá trị đạo Hồi về vai trò của người đàn ông cũng đã dẫn đến mức sinh cao đã cản trở nhiều đến cống tác kế hoạch hoá gia đình [105, tr.12] Tương tự như vậy ở M alaysia chính sách và sức mạnh kiểm soát của đạo Hồi đã làm cho mức sinh của người Malay cao hơn người Trung Quốc, người Ấn Độ Việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của nsười Malay cũng khác các nhóm dân tộc khác [104 ư.15].

Philippine là nước có tới 80% theo Thiên chúa giáo, để phản ứng lại chương trình giảm sinh và kế hoạch hoá gia đình của chính phủ, các thủ ỉĩnh Công giáo đã gáy sức ép trong quốc hội, buộc chính phủ phải cắt eiảm ngân sách cho chương trình này [40], Mới đây, tại hội nghi dân số quốc tế ở Cairô,

Ai Cập (1994) trước sự trỗi dậy của các vấn đề tôn giáo, mà được đánh dấu bởi sự ảnh hưởng của các nhóm Hồi giáo (sau cách mang Iran), Cơ đốc íiiáct những người tham dự hội nghị đã tranh luận khá gay gắt về nhiều vấn đề như vấn đề phát triển và ổn định của dán số thố giới, vấn đề kế hoạch hoá gia đình, vấn đề quyền sinh sản, địa vị của phụ nữ, vấn đề nạo phá thai Hội nghị

đã cho rằng vấn đề dán số cần vượt ra khỏi vấn đề kế hoạch hoá gia đình Theo đánh giá của Fransi Gendreau nội dung các văn bản của hội nghị dươ.7 đưa ra đã hướng theo quan điểm của các nước Hồi giáo và Thiên chúa giáo.Như vậy, có thể nói vấn đế về mối quan hệ giữa tôn giao với chương trình giảm sinh, kế hoạch hoá gia đình đã là vấn đề của nhiều quốc gia và cũng đã

ưở thành vấn đề có tính quốc tế rất đáng quan tâm

Trang 6

Cộng đồng dân cư Thiên chúa giáo ở nước ta là m ột nhóm xã hội đặc thù

có lịch sử phát triển từ hàng trăm năm nay với những đặc trưng văn hoá lối sống có nhiều điểm khác biệt, điều đó làm cho các quá trình dán số diễn ra trong cộng đồng cũng mang nhiều nét riêng biệt Trong bài phát biểu tai một cuộc hội thảo ở tỉnh Đồng Nai bà Nguyễn Thị Thán, chủ nhiệm Uỷ ban Y tế

và Xã hội của Quốc hội khoá VIII đã nhấn mạnh: “Nước ta với gần 10% dân

số theo đạo Thiên chúa giáo và phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn, đó là những vùng mà theo thống kê có tỷ ]ệ gia tăng dân số cao hơn so với khu vực khác”; “Đó là vấn đề đật ra đối với các nghành trong việc nghiên cứu xây dựng các chính sách sao cho phù hợp với tâm lý xã hội, điều kiện ở các vùng đông giáo dân” [73, tr.7] Cũng trong hội thảo này, ông Phan Văn Trang, bí thư tỉnh uỷ tỉnh Đồng Nai cũng chỉ rõ: “Tỷ lệ tăng tự nhiên trong vùng có đông đồng bào Công giáo còn quá cao Nguyên nhân chính là giáo hội không chấp nhận các biện pháp tránh thai cho là trái tự nhiên” và “Tâm

tư, tình cảm của đồng bào Công giáo về kế hoạch hoá gia đình còn nhiều vướng mắc cần phải tìm hiểu thấu đáo Phải tìm ra những giải pháp thích hợp giúp người theo đạo an tâm thực hiện kế hoạch hoá ẹia đình” [80, tr 4,5], Thực tế nước ta thời gian qua cho thấy ở những nơi có đông đồnc bào Thiên chúa giáo sinh sống như ở Đồng Nai, Nam Định, Ninh bình.v.v, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch ỏ các địa phương này đôi khi diễn ra khá gay gắt, gáy sự hiểu lầm không đáng có giữa các cơ quan chính quyền địa phương với nhà Thờ và với bà con giáo dán Đôi khi, việc tuyên truyền vận động sinh

đẻ có k ế hơạch đã gây tâm lý cãng thẳng ỏ người giáo dán khi phải lựa chọn hoặc đi kế hoạch hoá gia đình, hoặc đến nhà Thờ , làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ sinh sản Vì thế, khi nchiên cứu về mức sinh nói ri é nu và nghiên cứu về các vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình nói chunj,, không

Trang 7

thể không quan tâm đến các đặc điểm vãn hoá tín ngưỡng của cộng đồng dân

cư theo tôn giáo này

Chính những khác biệt trong tín ngưỡng tôn giáo, từ đó dẫn đến những khác biệt trong nhận thức, giao tiếp, hành vi ứng xử của con người, cùng với những khác biệt về mức sinh của cộng đồng thiên chúa giáo đã gợi lên cho chúng tôi sự quan tám, để lựa chọn đề tài nghiên cứu này Một nghiên cứu thực tế nhằm để kiểm chứng đầy đủ về mối quan hệ giữa tôn giáo Thiên chúa giáo với mức sinh trong cộng đồng đó, rõ ràng là một sự cần thiết Nó không những chỉ đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn xã hội là hướng tới đạt mức sinh thay thế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nâng cao chất lượng dân số như đã được nêu trong dự thảo chiến lược dân số đến 2010 của chính phủ,

mà qua đó còn giúp cho khả năng để thấy được những xu hướng chủ yếu và

cơ chế của mối quan hệ tác động này

2- ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đế tài.

Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết xã hội học ở các mức độ nhận ĩhức khác nhau để xem xét một vấn đề xã hội cụ thể, từ đó giúp cho nhận thức một cách đầy đủ hơn về xu hướng và tính quy luật sự ảnh hưởns; của yếu tố tôn giáo đến hành vi sinh đẻ của người giáo dán và đến mức sinh đẻ của họ Nghiên cứu bổ xung thêm các thông tin thực ngiệm cho việc phân tích và khái quát vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh của một dán số, nhất là các yếu tố văn hoá với mức sinh mà đang rất được các nhà nghiên cứu quan tâm

Hy vọng, với những kết luận được rút ra từ thực tế, đề tài sẽ góp thêm một lời giải thích về quá độ mức sinh và phần nào, giúp làm rõ được vấn đề

mà các nhà dán số học xã hội đang đặt ra: “tại sao sự thay đổi mức sinh ở mộ!

số khu vực lại xảy ra sớm hơn ở một số khu vực khác?” trên cùng một mức độ phát triển [64, tr.22] Từ đây đề tài có thể có những đóng góp nhất định cho việc phát triển lý thuyết xã hội học dãn số, dân số học, dân số và phát triển

Trang 8

Với những số liệu thực tế và những phân tích về mối tương quan giữa biến tôn giáo và mức sinh trong một cộng đổng thiên chúa giáo ở Nam định, nshiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý có những cơ sở khoa hoc trong viêc

đề ra các chính sách dân số phù hợp, nhất là chính sách đối với những nhóm dân số đặc biệt Kết quả của nghiên cứu có thể có ích cho các nhà hoạt động

xã hội, các nhà quản lý trong công tác quản lý, giáo dục, truyền thông về dán

số và k ế hoạch hoá gia đình không những chỉ với các vùng công giáo ở Nam định mà còn với các vùng công giáo khác trong cả nước Hy vọng, nghiên cứu cũng giúp cho việc nâng cao hơn nữa nhận thức của các chức sắc và của đồng bào công giáo với chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của nhà nước ta

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tác động của các yếu tố tôn giáo đến mức sinh trong m ột cộng đồng thiên chúa giáo Để xem xét sự phụ thuộc của mức sinh vào biến số tôn giáo, cần phải chỉ ra được sự phu thuộc lẫn nhau giữa hai biến số này và kiểm soát được sự tác động của các biến số cạnh tranh khác như các biến số kinh tế, chính sách xã hội và các biến số văn hoá khác.Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi không gian của xã Xuản Ngọc, thuộc tỉnh Nam Định Đây là xã bao trùm lên toàn bộ giáo hạt Bùi Chu, nơi

mà Thiên chúa eiáo có lịch sử phát triển từ hàng trăm nãm nay, Bùi Chu cùng với Phát Diệm là những trung tám của Thiên chúa giáo không chỉ của miền Bắc, mà-còn của cả nước Việc chọn Xuân Ngọc làm địa bàn nghiên cứu có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo mức độ cao của tính tôn giáo cho biến độc lập.Đây là một nghiên cứu trường hợp, song hy vọng kết quả thu được có the giúp cho việc phân tích, khái quát trong phạm vi rộng hơn Những kết luận được rút ra từ nghiên cứu có thể có ý nghĩa không chỉ cho Bùi Chu

4- Mục tiêu nghiên cứu.

Trang 9

Để giải quyết được ván đề nêu ra Irong đề tài nghiên cứu, luận án hướng đến thực hiện những mục tiêu cơ bản sau:

- Chỉ ra và chứng minh được mối quan hệ phụ thuộc của mức sinh vào yếu

tố tôn giáo trong cộng đồng Thiên chúa giáo ở Xuân Ngọc

- Phân tích cơ chế tác động của các yếu tố tốn giáo đến mức sinh của người giáo dân Thiên chúa giáo

- Chỉ ra sự tác động của hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức thiên chúa giáo cũng như niềm tin tôn giáo của người giáo dân đến hành vi sinh đẻ, nhất

là việc lựa chọn, chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của người Công giáo, từ đó tác động đến mức sinh của họ

5- Điểm mói của luận án.

Nghiên cứu góp một phần nhỏ cùng với các nghiên cứu khác đi đến khẳng định quan điểm cho rằng: sự biến đổi trong dân số có nguyên nhân từ các chiều canh văn hoá Qua nghiên cứu sẽ thiết lập và chứng minh được bàng thực nghiệm về sự phụ thuộc của mức sinh vào yếu tố tôn giáo trong một cộng đồng thiên chúa giáo cụ thể Trên cơ sở đó chỉ ra xu hướng, cơ chế của

sự tác động này Có lẽ, đây là m ột trong những công trình lần đầu liên iàm rõ được cơ chế, mức độ tác động của biến tôn giáo đến mức sinh của môt dân sô.Luận án còn hướng đến chỉ ra và phân tích một cách có hệ thông về sư tác động của các yếu tố tôn giáo đến các chiều cạnh xã hội của hành vi sinh sản của người Công giáo và từ đó đến mức sinh của họ Trên cơ sở nhữns phán tích này sẽ giúp cho việc đưa ra các giải pháp phù hợp cho chính sách dân số nhất là chính sách với những nhóm xã hội có những đặc trưnc văn hoá riêng biệt

6- Giả thuyết nghiên cứu.

Luận án hướng đến làm rõ các giả thuyết sau:

Trang 10

- Trong thời gian gần đây, cùng với sự suy giảm mức sinh trong phạm vi

cả nước, mức sinh ở những vùng có đông đồng bào Công giáo sinh sống như

ở Xuân Ngọc cũng đã có sự suy giảm Tuy nhiên, mức sinh ở đâv vẫn luôn luôn cao hơn và tốc độ giảm sinh cũng diễn ra chậm hơn so với các cộng đồng dân cư khác, nơi không có hoặc ít đồng bào Công giáo hơn

- Mức sinh ở nhưng vùng có đông đồng bào Công giáo sinh sống còn cao, tốc độ giảm sinh còn chậm hơn những cộng đồng dân cư khác có nguyên nhân chủ yếu là tôn giáo

- Trong các yếu tố quyết định gần sát đến mức sinh, yếu tố quan trọng nhất

ở đây là việc chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai: người giáo dân ở có

xu hướng ít chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại hơn so với người dân ở các cộng đồng dân số khác

- Hệ thống giáo lý, giáo luật, các tổ chức của Thiên chúa giáo cùng với niềm tin tôn giáo đã ảnh hưởng đến hành vi sinh đẻ, đến việc chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai của giáo dân thiên chúa giáo ở Xuân Ngọc, từ

đó ảnh hưởng đến mức sinh của họ

- Nhiều phụ nữ công giáo sử dụng các biện pháp tránh thai “tư nhiên”, song họ rất ít hiểu biết về các biện pháp tránh thai này

7 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Nghiên cứu về vấn đề sinh đẻ và kế hoạch hoá gia đĩnh trong cộng đồng thiên chúa giáo toàn tòng, thực tế là khó khăn và rất phức tap, vì đáy là vấn đề

tế nhị và nhạy cảm Từ các chức sắc đến giáo dân khi phải nói về vấn đề này với những người ngoại đạo, họ thường né tránh hoặc nói theo đúng những gì

mà họ đã được tuyên truvền và vận động, hoặc tỏ thái độ bất cộns tác Vì vậy, trong luận án chúng tôi đã kết hợp sử dụng nhiều nguồn thông tin thông qua nhiều phươns; pháp thu thập và phân tích thông tin khác nhau

Trang 11

Các phương pháp định tính đã được chúng tôi sử dung nhiều trong việc thu thập thông tin về động cơ của các hành vi sinh sản, về quan điểm, thái độ của các đối tượng khác nhau, nhất là quan điểm, thái độ của các chức sắc Cống giáo về các vấn đề liên quan tới đối tượng nghiên cứu Tuv nhiên, nghiên cứu yêu cầu phải có các bằng chứng thực nghiệm xác thực để giúp khẳng định các giả thuyết, vì vậy các nghiên cứu định lượng cũng rất cần thiết Cụ thể, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài Tài liệu được thu thâp bao gồm các báo cáo hàng năm của Uỷ ban nhân dân và hội đồng nhân dân xã Xuân Ngọc và các địa phương có liên quan, cùng các số liệu thống kê của các địa phương này trong thời gian từ 1990 đến 1999 Tài liệu còn là kết quả cuộc nghiên cứu thực nghiệm do chúng tôi trực tiếp thực hiện vào tháng 8 năm 1996 tai xã Xuân Ngọc và huyện Xuân Thuỷ phục vụ cho đề tài: “Nhận thức và thái đô của các vị chức sắc Công giáo với công tác dân số, k ế hoạch hoá gia đình” của Ưỷ ban quốc gia dân số và kế hoạch hoá gia đình Kết quả điều tra gồm

có 21 phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo huyện, xã, các vị chức sắc Công giáo và một số giáo dân, cùng số liêu của hơn 400 phỏng vấn bảng hỏi với đai diện các gia đình giáo dân trong độ tuổi sinh đẻ, mà chủ yếu là phụ nữ Ngoài

ra, luận án còn sử dụng các dữ liệu thu được của đề tài “Chất lượng dân số và dịch vụ xã hội cơ bản ở nông thôn” của Uỷ ban quốc gia dán sô và kế hoạch hoá gia đình do GS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm Các tài liệu thu được từ các nghiên cứu do giáo viên và sinh viên khoa Xã hội học thực hiện vào các năm 1995, 1998 tại Nam Đinh cũng đươc chúng tôi sử dụng

Tài liệu còn là các phỏng vấn sâu do chúng tôi thực hiện vào năm 1996

1998 với đại diện của chính quyền huyện Xuân Thuỷ, huyện Xuân Trường xã Xuãn Ngọc, m ột số trùm đạo và giáo dân trong xã về một số vấn đề trọníi tám

Trang 12

của đề tài và các vấn đề được đặt ra từ kết quả xử lý thông tin của cuộc điều tra trước.

Phương pháp so sánh giữa các địa phương theo hàng loạt biến số có thể cỏ ảnh hưởng đến mức sinh sẽ được chúng tôi sử dụng trong phán tích thông tin Mục tiêu của so sánh là để loại bỏ các biến số cạnh tranh với biến tôn giáo

Trang 13

CHƯƠNG 1

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.

1.1.1 Nghiên cứu về các yếu tó tác động đến mức sinh tren thế giói.

Ngay từ thời cổ đại một số nhà lư tưởng nổi tiếng đã có sự chú ý đặc biệt đến đề Lài về dân số nhân loại Arislol Plalon đã cố gắng theo đuổi “giấc mo' không tưởng: một dân số tối ưu tronu một nhà nước lý tưởng” [107, tr,146| Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 17, 18 các nghiên cứu về dân số, về mức smh mới Ihể hiện được tính toàn diện của chúny Nổi bật trong thời kỳ nàv là cóng

trình: Tiểu ỉuận về các nguyên lý dân s ố của Thomas M althus Ông là người

đầu tiên đã gấn hành vi dân số với khung cảnh xã hội, kinh tế và đạo đức ơ đây “các quá trình dân số chịu tác động mạnh mẽ của các cơ cấu kinh tế và các hệ thống giá trị xã hội” [68, tr.10,11] Tuy nhiên, ông lại nhìn mức sinh dưới góc độ của mức sinh tự nhiên Các nguyên lý dân số của Malthus tuy còn nhiều vấn đề cần tranh cãi sons quan điểm của ông về hệ thống dãn số cần được ơhi nhặn như một sự đóng góp vể một cách tiếp cận VỚI vãn đề

Có thể nói các nehién cứu về mức sinh được phát iriển mạnh mẽ ở nưa sau cứa thế kỷ XX trên cơ sở nhữnc kinh nchiệm lịch sứ về sự suy giảm mức sinh

ở cháu Âu và Bấc Mỹ trước đáy, cũng như ở nhiều nước đano phát triển trongnhữnc năm gần đây Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách sơ lược về mội

số cóng trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh

Trong công trình Population: A Lively Introduction, A Joseph và Jr Mcíall đã lý giải sư eia tãọg dân sỗ và quá trình SUV giảm mức sinh trone k\

nguyên hiện đại qua lv thuyết quá độ dân số Theo các tác giả, mức sinh giảm trước hết do sự suy giảm của mức tử vong, dẫn đến sự gia tãne, của sức ép dân

Trang 14

số lên các gia đình và xã hội Còn sư suy giảm của mức tử vong là do két quả tất yếu của quá trình công nghiệp hoá và hiện đai hoá [103, tr.32-34],

Trong công trình Population Geography các tác giả cũng giành môt phần

để mô tả quá độ dân số ở Anh trong giai đoan công nghiệp hoá trước đây Theo các tác giả sự suy giảm mức sinh ở Anh vào cuối thế kỷ trước “không ở

sự thay đổi trong mô hình hôn nhân, mà ở việc quyết định lại quy mô gia đình

lý tưởng trong hôn nhân”, trong khi đó quy mô gia đình lý tưởng lại được xuất hiện trong điều kiện của công nghiệp hoá và hiện đại hoá [112, tr.84]

Mấy chục năm lại đây, các nhà dân số học đã hướng nghiên cứu đến các lĩnh vực khác rộng lớn hơn là kinh tế để hy vọng tìm được lời giải đáp phù hợp hơn cho sự ,biến đổi mức sinh ở nhiều quốc gia và trên thế giới

Công trình Những lý thuyết về giảm mức sinh: một sự nhìn nhận lại của R

Freedman đã mở ra hướng tư duy mới so với những gì mà lý thuyết quá độ dân số đưa ra Theo tác giả học vấn lớn hơn, sự phát triển của hệ thống giao thông và truyền thông, hệ thống hành chính,,.đã làm thay đổi hành VI sinh đẻ của người dân và đó cũng là những yếu tố thiết yếu đối với sự biến đổi của mức sinh Ngoài ra, theo tác giả rất có thể những yếu tố thúc đẩy, ngăn cản mức sinh lại nằm ngay trong lĩnh vực văn hoá, hệ thống xã hội [38, tr 125- 146J

Trong một công trình khác: Asia s recent fertility decline and prospects for future demographic change, Ronald Freedman đã đưa ra ba khả năng có

thể tác động một cách có hiệu quả đến tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển

trong giai đoạn hiện nay,- Thứ nhất, do sự suy giảm mức chết, đã làm tãng quy mô gia đình, dân số tăng nhanh buộc các nhà lãnh đạo phải quan tâm hơn đến chương trình kiểm soát sinh đẻ Thứ hai, do sự phát triển m ạnh mẽ của

kinh tế, xã hội, văn hoá và hệ thống truyền thông đã dẫn đến sự cải thiên đánc

kể về sức khoẻ, vị trí và vai trò của phụ nừ đã làm thay đổi phone cách son”

Trang 15

và hàn<! loạt các đặc trưng văn hoá khác Thứ ba, do quan tám hơn đốn vai trò

của chương trình kế hoạch hóa gia đình [ 104, tr.3-6]

Công trình Xã hội học về tỷ lệ sinh đẻ của I Anionova đã trình bày khá

đầy đủ những vấn đề phương pháp luận của việc nghiên cứu mức sinh, đã iriảỉ thích sự suy giảm mức sinh của các dân số trong kỷ níiuyên hiên đại tư góc

độ xã hội học Tác giả đã xem xét sinh đẻ như một hành vi xã hội từ đó tiến hành phan tích cấu trúc hành vi này, để tìm ra ncuyên nhân của sự giảm sinh

Trong xu hướng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của khung cảnh văn hoá tới

việc suy giảm mức sinh, John Caldwell cũng có công trình: Tiến tới một sự trình bày trỏ lại học thuyết quá độ dân sô Theo Caldwell, mức sinh phụ

thuộc vào sự dịch chuyển của dòng của cải xuyên thế hệ, Chừng nào dòng của cải còn chảy từ con cái đến cha mẹ, chừng đó còn hợp lý về mặt kinh tế để sinh nhiều con khi có thể Còn khi mà dòng của cải dịch chuyển theo hướns ngược lại thì sự hợp lý về mặt kinh tế là không có con, song thực tế đã không xảy ra như vậy 0 đây các yếu tố phi kinh tế đưa ra những ranh giới, trong đỏ

và “cái tài sản riêng mang tính tôn giáo của các xã hội nônc nghiệp nói chunt đều hoà hợp với các thiết chế tao ra mức sinh cao” Ị27 tr 205-214Ị

Trang 16

Trong Asias recent fertility decline and prospects for future demographic change, R Freedman đã đề cập đến vai trò của đạo Hồi với quá trình giảm sinh ở cộng đồng người Malay Đặc biệt với Philippine, sau khi so sánh một

sô chỉ báo về phát triển kinh té xã hội cũns: như về sự suy giảm mức sinh giữa Philippine với hai nước láng giềne là Thái lan và Indonesia, tác giả cho rãng quá độ dân số của Philippine đi sau và chậm hơn rất nhiều so với Thái lan và Indonesia Câu trả lời cho tình trạns đó theo Freedman là “chương trình kế hoạch hoá gia đình của người Philippine thực tế không có hiệu quả, có lẽ một phần là do nhà thờ Thiên chúa giáo chống lại một cách mạnh mẽ chương trình này”[104, tr.16, 17]

Trong Fertility estimaĩes fo r the Philippines, its regions, and provinces, 1970,1980 and 1990 (1994), Jame A.Palmore, Eliseo A=de Guzman và những

người khác cũng đi đến luận điểm rằng quá độ mức sinh của người Philippine diễn ra chậm hơn so với các nước Đông nam Á lớn khác, vì chương trình kế hoạch hoá gia đình vẫn còn gặp khó khăn đốí VỚI nhiều phương pháp tránh thai mà không được nhà thờ Thiên chúa giáo ủng hộ [111 tr 1 -2]

Trong bài Adaptation o f the Indonesian fam ily planning program to the scio-cultural context, tác giả Santoso s Hamijoyo cũng đã đề cập mối quan

hệ của chương trình kế hoạch hóa gia đình của Indonesia với các thủ lĩnh tôn giáo Theo tác giả, trước nhữns; năm 1970 ở Indonesia các phương pháp như đặt dụng cụ tử cung, triệt sản, nạo phá thai đối với các tôn giáo ià bị cấm Mặt khác, hàng loạt các giá trị của đạo hồi liên quan tới việc đề cao địa vị, vai trò của người đàn 0112 trong gia đình và trong xã hội cũng đều là nhữns; nguyên nhân của mức sính ca© [105, tr.12-13]

Liên quan đến tính quvết định mức sinh của các vếu tố tự nhiên, sinh học

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu cua các tác ciá nổi tiêne thế giới cỏ

thế kể ra ở đáy một số cỏne irình tiêu biểu của các tac d a dó Côniì trình: Co

Trang 17

cấu xã hội và mức sinh: một khung cảnh phân tích cúa Kingsley Davis và

Judith Plake đã hướng đến xem xét các biến số trung gian mà qua đó các yếu

tố xã hội tác động đến mức sinh Theo các tác giả có ba nhãn tố mà “chỉ thỏníí aua chúng những điều kiện vãn hoá mới có thể ảnh hưởng đến mức sinh” Đó là những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ tình dục; những nhân tố ảnh hưởng đến việc có thai; những nhãn tố ảnh hưởng đến việc m a n s thai và sinh đẻ hoàn chỉnh [28, tr.7-79]

Với công trình những tác động của mức sống sót trẻ em được cải thiện đến việc thực hành k ế hoạch hoá gia đình và mức sinh hai tác giả Cynthia B

LLoyđ và Serguey Ivanov đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ chế mà ở

đó một khía cạnh quan trọng của mức chết, đó là mức chết của trẻ em được cải thiện có thể có sự ảnh hưởng nhất định đến mức sinh Mức sống sót của trẻ em được cải thiện đã tác động đến khía cạnh tâm lý, tác động đến cung và cầu về con cái, từ đó tác động đến mức sinh [17, tr.102, 103]

1.1.2 Nghiên cứu về các yếu tỏ tác động đến mức sinh ở Việt Nam.

Khoảns hơn chục năm lại đây những nghiên cứu về dán số, đặc biêt những nghiên cứu về mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh ở Việt Nam cũng được gia tăng mạnh mẽ Có thể nói, háu hết các yếu tố tác động đến mức sinh đều đã đượe kiểm chứng qua các nghiên cứu thực nghiệm ở một hay một vài vùng, hoặc nhóm xã hội nào đó tại Việt Nam Chúng ta có thể điểm qua một số nghiên cứu tiêu biểu trong số đó, đặc trưng cho các nhỏm yếu tố chủ yếu tác động đến mức sinh

Công trình Chuyển đổi mức sinh và cúc yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giảm sinh của U v ban GUỐC gia dân số và k ế h o ạch hoá gia đinh, đã đưa ra

một cái nhìn khái quát về sự suy giảm mức sinh ở nước ta trong vài chục năm gần đây Cônc trình đã chỉ ra bốn yếu tố chủ yếu tác động đến quá trình £Ìàm sinh ở nước la như sau: 1) Các yếu tố nhân khẩu hoc: 2) Các yếu tố sinh hoc:

Trang 18

3) Các yếu tố kinh lế xã hội: 4) Các yếu tô' tập quán, lâm lý, xã hội Trong quá trình phán tích, các tác giả đã tập truni: đi sâu vào xem xét các yếu tố đăc trưri2 cho khu vưc nônp thôn, vì “troim khi TFR của thành thi đã đat mức sinh thay thế, thì mức độ sinh ở nổnc ihôn nơi chiếm gẩn 80% dán số của cả nước, vẫn còn cao” [92, tr.55].

Liên quan đến các yếu tố kinh tế xã hội của mức sinh, có thể ké đến cỏntỊ

trình Phún lích các yểu tố ảnh hưởng trong ỉrườìig liợp Sình con ìhứ ba ỉ rơ Ìéìi

ở các lảng x ã ngoại thành Hà Nội: Tìm giải pháp illicit hợp của Uỷ ban dán

số và kế hoạch hoá gia đình Hà Nội Cône trinh chỉ rõ, trong các nguyên nhán dẫn đến các trứờng hợp sinh con thứ ba ở ngoại thành Hà Nội, thì nguvên nhân kinh tế xã hội cũng đóng một vai trò quan trọng Cụ thể: tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giữa các nhóm hộ giàu, nghèo là rất khác nhau [94, tr.7]

Công trình Tác động của các yếu tố kinh tế-xã hội tới ĩhái độ vù hành vi tái sinh sản của người phụ nữ nông Ị hôn của Đoàn Kim Thắng cũng ì à một

trong những nghiên cứu khá tiêu biểu ở khía cạnh này ở đây, tác gia đă tập tninẹ; phân lích sự ảnh hưởng của các yốu lố kinh tế -xã hội tới sư ihav dổi thái độ hành vi sinh sản của phu nữ nông thôn đồng bằng sổng Hồng [741

Trong công trình Tác động của cơ c h ế kỉnh ì ế thị iruờng tới mức sinh trong các gia đình nữ công nhân và thợ thủ công ở Hù Nội, tác giả Phạm

Quyết đã tiến hành xem xét và phân lích mối quan hệ tươn<4 tác giữa các yếu

tố kinh tế, vãn hoá, xã hội nảy sinh do lác động của cơ chế kinh tế thị trường đối với nhận thức và hành vi sinh đẻ của nhóm nữ cóng nhân và thợ thú cốn<j,,

lừ đó tới mức sinh của họ [60]

Các công trình của Nguvỗn Hữu Minh: Biến đổi kinh le-xa ỉiội vu kỉ lả năng giảm chuẩn mực s ố con trong cúc gia đình nóng dán Bãc Bộ [58], cua

Lê Thi: Thực trạng gia đình Việt Nam vù vai trò cua ìỉ‘.’i(ời phụ nữ nong gia đình 175], cúa Tương Lai: Mộl sỏ vấn đê dán só lừ hướng liếp cận xã hói học

Trang 19

[54] - V V đều đề cập đến vai trò của yếu tố kinh tế-xã hội đối với sự thay đổi hành vi sinh đẻ của các cặp vợ chồng trong gia đình Sự tác động đó có thể là tích cực, khi nó tạo ra một quan niệm mới, một chuẩn mực mới về quy mô gia đình nhỏ, ít con Song nó cũng có thể là tiêu cực, khi “kinh tế hộ phát triển, dẫn đến việc mở rộng quy mô gia đình”.<Trong điều kiện hiện nay, sự tác động tích cực hay tiêu cực của nó còn lệ thuộc vào nhiều mối quan hệ khác”[54, tr.50].

Vai trò của chính sách dân số với quá trình giảm sinh ở nước ta đã được thể

hiện rất rõ qua công trình Quá độ dân s ố ở Việt Nam: Một cái nhìn toàn cục

của Magali Barbiery [8] ở đây, tác giả cho rằng “quá độ dân số ở Việt Nam

rõ ràng đã khỏi động trước hcfn nhiều những biến đổi kinh tế” và chính sách dân số của chính phủ được đưa ra từ đầu những năm 1960, có vai irò đặc biệt quan trọng trong việc hạ thấp tỷ suất sinh trong vài chục nãm lại đây nhất là

Còng trình Sụ tác đông của phong tục í úp quản đến mức sinìì vù ỵiài piiap nhầm góp phầỉv nâng cao hiệu quả công túc dân số -kế hoạch ÌIOÚ ;>ia đình ở

Hà N ội của Nguyễn Quốc Triệu lại xem xét ở một góc đô khác của các yếu tố

vãn hoá với mức sinh Trong luận án khoa học này, tác giả cho răng, ngà)' nay

Trang 20

các phong tục tập quán cũ hướng đến duy trì mức sinh cao vẫn còn tồn tại, bởi

vì đó là sức ỳ của ý thức xã hội Mức độ của sự tác động của phong tục tập quán cũ đến mức sinh phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trình độ học vấn của người dán [82, tr.64,65]

Trong bài Hai chức năng cơ bản của gia đỉnh thiên chúa giáo ỏ xã DỊ Nậu,

tác giả Mai Huy Bích đã có những phán tích về mối quan hệ giữa các đặc tiling tôn giáo với mức sinh trong các gia đình thuộc một cộng đồng thiên chúa giáo ở Thạch Thất, Hà Nội Khi phân tích về chức năng sinh đẻ (một trong hai chức năng chủ yếu của gia đình), bước đầu tác giả đã thiết lập được mối quan hệ tác động giữa giáo lý công giáo và luật do giáo hội quy định với

tỷ lệ sinh và tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai của người giáo dân [13]

Kỷ yếu hội thảo Vai trò của đồng bào công giáo với chương trình dân số

và phát triển, do Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, Uỷ ban Y tế-xã hội

Quốc hội khoá VIII tổ chức vào tháng 8 năm 1992 tại Đồng Nai, cũng là một công trình đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa Thiên chúa giáo với mức sinh Các báo cáo trong kỷ yếu đã đề cập nhiều vấn đề về vai trò của cộng đồng Công giáo, của các tổ chức Thiên chúa gáo đối với sự gia tăng dân số và mức sinh cao ở Đồng Nai Điều đáng chú ý ở đây là một số kết luận được rút ra trong m ột số báo cáo: “ Ảnh hưởng của tôn giáo trong công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là rất đáng quan tâm” [43, tr.18] “ Tỷ suất sinh ở vùng công giáo đã giảm nhưng mức độ giảm còn rất chậm” Nguyên nhân là do

“đồng bào Công giáo tiếp nhận chủ trương chính sách Nhà nước trong khuôn khổ giáo luật của hội thánh” và “ giáo hội chưa cho phép chấp nhận các biện pháp tránh thai được gọi là trái tự nhiên” [43, tr.24, 36-37] Đáng tiếc, các báo cáo còn mang tính kinh nghiệm, dàn trải, thiếu những phân tích sâu về một khía cạnh nào đó của yếu tố tôn giáo với mức sinh

Trang 21

Đề tài của Uỷ ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình Nhận thức và thái độ của các vị chức sắc Công giáo đối với công tác dân s ố vù k ế hoạch hoá gia đình do các tác giả Trần Thị Minh Đức, Phạm Quyết và Nguyễn Thị

Kim Hoa thực hiện cũng là một ưong những nghiên cứu khá tiêu biểu trong lĩnh vực này K ết quả nghiên cứu cho thấy ở đâu các chức sắc Công giáo tỏ thái độ không đồng tình với phong trào hạn chế sinh đẻ hiện nay, thì việc phổ biến, vận động sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trở nên khó khăn hơn và mức sinh ở nơi đó cũng cao hơn “Chính tư tưởng không đươc dùng các biện pháp tránh thai “không tự nhiên” đã dẫn đến mức sinh đẻ trong đồng bào Công giáo còn cao” [91, tr.121] Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề cập tới sự ảnh hưởng của m ột trong những yếu tố của tôn giáo đến mức sinh và sự ảnh hưởng đó cũng chỉ mới hướng đến đến hành vi sinh sản của người giáo dân

Cuốn sách Đồng bào Công giáo với chính sách dân s ố và k ế hoạch hoá gia đình, do Trần Cao Sơn chủ biên cũng là một đóng góp đáng kể theo hướng

nghiên cứu này, Công trình đã tập hợp được các bài viết của nhiều tác giả liên quan đến kết quả của cuộc , điều tra xã hội học với phụ nữ Thiên chúa giáo đang trong tuổi sinh đẻ, đã có chồng ở hai xã Cồn Thoi và Kim Chính, huyện Kim Sơn, Ninh Bình vào tháng 9 năm 1997 [83]

Các bài viết đều hướng đến khẳng định: Kim Sơn là huyện có tỷ lệ đồng bào Công giáo cao ở Ninh Bình, mức sinh của Kim Sơn hiện nay đã giảm so với trước đây và xu hướng suy giảm đang còn tiếp tục Tuy nhiên, “mức sinh

ở Kim Sơn vẫn cao, tỷ lệ gia tăng vẫn còn ở mức báo động” [69, tr 12-13]

Hoặc “Kim Sơn vẫn được coi là trọng điểm dân sô' của toàn tỉnh Ninh Bình”

[76, tr.74] Trong khi đó, mức sinh ở xã Cồn Thoi lại cao nhất huyện Kim Sơn Điều đáng chú ý là dân số theo Công giáo ở Cồn Thoi cũng cao nhất huyện [76, tr.73-75] v ề nguyên nhân tôn RÌáo cho mức sinh cao ở đây, lại được các tác giả nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Có ý kiên nhận định

Trang 22

nguyên nhân là “do sự chi phối của hệ tôn giáo, điều đó đúng, nhưng chưa đủ

và không phải bản chất” Nó “chỉ có giá trị như một nguyên nhân trực tiếp nhỏ bé, thậm chí có thể coi đó chỉ là một nguyên cớ” [69, tr.13] Hoặc

“nsuyên do là ở vùng này tỷ lệ nao hút thai rất thấp” [77, tr.49] Ý kiến khác thận trọng hơn:“Yếu tố Công giáo cũng cần được đánh giá thật khách quan, phù hợp với diễn biến thực tế”[76, tr.77] Còn theo Trương Thị Thuý Hằng thì

“một trong những nguyên nhân là những tác động của giáo lý đạo Thiên chúa với việc sử dụng các biện pháp tránh thai, hạn chế sinh đẻ” [39, tr.114- 129]

Qua công trình trên có thể thấy, để đánh giá được mức độ tác động của biến tôn giáo tới mức sinh ở một khu vực nào đó, bên cạnh việc đưa ra các chứng cứ hợp lý, cần thiết phải kiểm soát được các biến cạnh tranh như mức

độ phát triển kinh tế xã hội, mức độ đô thị hoá, điều kiện địa lý tự nhiên v.v của khu vực đó với mức sinh,

Những nghiên cứu về vấn đề trong phạm vi hẹp hơn, thuộc khu vực đồng

bằng Bấc bộ, có thể kể đến công trình: Dân s ố đồng bằng Bắc bộ: những nghiên cứu từ góc độ x ã hội học do Phạm Bích San chủ biên Đặc biệt, ở

chương 2 các tác giả đã tập trung phản ánh về tâm thế đối với sinh đẻ Nhiều vấn đề đã được đưa ra và được xem xét như số con lý tưởng, số con m ons muốn của người dân đồng bằng Bắc bộ, giá trị của con cái và sự biến đổi của

nó, quan niệm của người dân về sinh con trai, con gái, [66]

Luận án khoa học của Vũ Mạnh Lợi Fertility behivior in the Vietnam Red river delta: Birth timing and birth interval dynamics cũng là một nghiên cứu

tiêu biểu về hành vi sinh đẻ của ngươi nông dâĩi đồng bằng Bắc bộ Dựa trên nguồn số liệu của cuộc nghiên cứu Lịch đại V iệt Nam, 1995, tác giả đã tập trung phân tích sự tác động của các yếu tố kinh tế-xã hội, các yếu tố dân số

Trang 23

học đến khoảng cách giữa các lần sinh con, đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai của người dân ở tỉnh Hà Nam Ninh [109].

Như vậy, các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các tác giả trong nước cũng như quốc tế đã bao trùm lên hầu hết các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh của các dân số Nhiều yếu tố đã được khái quát thành lý thuyết và cũng đã được kiểm chứng, khẳng định qua thưc tế ở Việt Nam Tuy nhiên, yếu tố tôn giáo với mức sinh dường như mới chỉ được nêu ra, được xem xét ở một góc độ nào đó Việc khái quát lý thuyết về vấn đề này cũng còn hạn chế

1.2 Cơ sở phương pháp luận.

1.2.1 Cơ sở phương pháp luận chung của đề tài.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét tôn giáo như một thực thể xã hội và lịch sử Tôn giá'0 cùng với pháp luật, đạo đức, triết học, chính trị nghê thuật tạo nên hệ tư tưởng xã hội và được cấu thành trong kiến trúc thượng tầng của

xã hội Chúng tất yếu được quy định bởi sự sản xuất vật chất và các quan hệ

xã hội tương ứng M arx nhấn mạnh: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [3, tr.638]

Tuy bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng, nhưng kiến trúc thượng tầng cũng có tính độc lập tương đối của mình “Kiến trúc thượng tầns; luôn luôn là lực lượng tác động mạnh mẽ trên toàn bộ các mặt của đời sống xã hội và tác động tích cực trở lại cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra nó” Sự tác động này được thực hiện thông qua chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng [10, tr.53] Như vậy, tuỳ từng điều kiện xã hội cụ thể, tôn giáo cũng như các bộ phận khác cúa kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở kinh tế và các quan hệ, hành vi xã hội của con người ở những mức độ và theo những cách thức khác nhau

Trang 24

Xã hội học iôn giáo xem tôn giáo như một hiện tượng xã hội Tôn giáo được sinh ra và phát triển trên cơ sở nhữnc hoạt đ ộ n í sống và những quan hê của con người Đến lượt mình, tôn giáo tác động trở lại xã hội, tác động vào các hoạt động và các quan hệ xã hội của nó Mối quan hệ tác động giữa tôn giáo và xã hội luôn luôn là một trong những nội dung quan trọng trong đối tượng nghiên cứu của xã hội học tôn giáo Trong mối quan hệ này, tôn giáo được nghiên cứu với tư cách một thiết chế xã hội Tôn giáo sinh ra và tồn tại một cách khách quan nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội Tôn giáo cũng có đầy đủ các chức nãng của một thiết chế xã hội.

Khi xem xét về chức năng xã hội của tôn giáo, có ý kiến cho rằng tôn

giáo có ba chức năng cơ bản: thứ nhất, chức nãng cố kết một cách biểu trưng,

nghĩa là tôn giáo cung cấp những biểu tượng quan trọng tạo nên tình cảm khuất, phục ở con người Tôn giáo là bức màn biểu tượng tạo nên ở con người

tính ổn định, tính thiện mà họ còn thiếu Thứ hai, chức năng kiểm soát xã hội

Tôn giáo tham gia kiểm soát cả bên trong lẫn bên ngoài, nghĩa là với cá nhân, tôn giáo vừa tạo ra sự ép buộc từ bên ngoài, vừa là sự tự nguyện từ tình cảm,

nhận thức của cá nhân Thứ ba, chức năng tạo ra, ủng hộ , duy trì kết cấu xã

hội [100 tr 339- 342],

Để phân tích sãu hơn, giúp cho việc hình thành khung lý thuyết và lý giải một cách có kết quả vấn đề nghiên cứu của luận án, chúng tôi xuất phát từ những kinh nghiệm của các nhà xã hội học kinh điển về thiết chế tỏn giáo

Trong lời nói đầu của cuốn Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel, năm 1844, K Marx cho rằng “sự khổ ải tôn giáo vừa là biểu hiện của

sự khổ ải hiện thực, vừa là sự phản kháng lại sự khổ ải hiện thực đó Tôn giáo

là hạnh phúc hư ảo của nhân dân” [2, tr.14] Theo Marx tôn giáo khôn2; nhữnc chỉ là sự hợp pháp hoá trật tự xã hội hiện có, mà còn là sư phản ứng chốnc lại trật tự xã hội đó, góp phần tạo ra biến đổi xã hội Khi nói đến va' trò của dao

Trang 25

Tin lành trong hình thái kinh tế Tư bản chủ nghĩa, Marx đã cho rằng đạo Tin lành đã tạo điều kiện thuận lợi cho tích luỹ nguyên thuỷ tư bản [72, tr.19].Một khía cạch khác, trong sự quan tám của Marx liên quan đến vai trò xã hội của tôn giáo, là việc con người sáng tạo ra tôn giáo rồi lại bị tôn giáo chi phối Tôn giáo mơ hồ, khó hiểu đối với con người, lại là cơ sở để con người tin vào nó, nhờ nó cứu rỗi, an ủi, giải thoát, hướng đến nó với hy vọng có được cuộc sống, tốt hơn, dù là ở thế giới bên kia.

Tương tự như Marx, Engels cũng thấy được hai vai trò mang tính máu

thuẫn của hiện tượng tôn giáo Thứ nhất, vai trò của nó được thể hiện “trong

sự thiêng liêng hoá trật tự xã hội được thiết lập” Thứ hai, nó là “phong trào

của những quần chúng bị áp bức chủ trương đấu tranh thoát khỏi tình trạng

nô lệ” [72, tr.16] Cách lý giải về chức năng tương đối tiến bộ này của tôn

giáo đã được Engels đặc biệt quan tâm trong tập sách Chiến tranh nông dân ở Đức và trong một số công trình nghiên cứu khác, ở đây, tôn giáo “được coi

như một cái vỏ hệ tư tưởng che đậy các quan hệ sức manh hiện thực trong xã hội” [65, tr.75] Theo Engels tôn giáo là một hiện tượng xã hội Để tồn tại các tôn giáo đều phải thay đổi để thích nghi Tôn giáo sinh ra là đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đáp ứng đòi hỏi của tất cả những người có cùng cảm nhận nhu cầu tôn giáo Tôn giáo là cái đặc trưng cho mỗi một xã hội, mỗi một cộng đồng, mỗi một dân tộc

Quan điểm của Marx và Engels về mối quan hệ giữa tôn giáo và xã hội giúp cho chúng ta có một cái nhìn biện chứng về bản chất của tôn giáo, về sự ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống xã hội, cũng như sự phụ thuộc của tôn giáo vào cơ sở vật chất của xã hội và sự biến đổi của nó trong quá trình biến đổi của xã hội, nhất là trong sự biến đổi hiện nay của đất nước

Trong số những gương mặt sáng giá của các nhà xã hội học kinh điển nghiên cứu về tôn giáo cần phải kể đến Emile Durkheim với công trình nổi

Trang 26

tiếng Nhĩmg hình thức sơ khai của đời sốỉĩg tôn giáo (1912) Có thể nói, ông

là một trong những người đặt cơ sở cho lý thuyết chức năng tôn giáo Một trong những điểm nổi bật của công trình này là định nghĩa về khái niệm tốn giáo Theo ông:’

Một tôn giáo lấ một hệ thống liên đới những tín ngưỡng và những nghi lễ tôn giáo có liên quan đến các sự vật thiêng liêng, tức là tách rời nhau, độc lập với nhau, những tín ngưỡng và những nghi lễ tôn giáo thống nhất trong cùng một cộng đồng tinh thần gọi là giáo hội mà gồm tất cả những người gia nhập cộng đồng ấy [31]

Từ định nghĩa trên có thể thấy ngoài hai chiều cạnh là các tín ngưỡng và các nghi lễ, tôn giáo không thể tách khỏi ý niệm nhóm, cộng đồng Tôn giáo tạo ra cho nhóm đó một trật tự bằng cách soi dọi nó bằng những biểu tượng phỏng theo trật tự xã hội [81]

Về chức năng của tôn giáo, Durkheim cho rằng tôn giáo không làm cho chúng ta tư duy, làm giàu kiến thức của chúng ta, tăng thêm những biểu tượng

mà chúng ta có, mà là làm cho chúng ta hành động, giúp chúng ta sống Nếu một tín đồ chụi lễ ban thánh thể với chúa thì “anh ta cảm thấy mình có sức mạnh hơn, hoặc dễ chịu đựng hơn những khó khăn của cuộc sống, hoặc dễ chiến thắng chúng” [31]

Tôn giáo tạo ra sự cố kết xã hội thông qua việc tổ chức và thể chế hoá cái thiêng liêng, mà được coi như là một phương thức sản xuất ra các chuẩn mưc

xã hội Sự cố kết xã hội cũng được tạo ra thông qua việc các tín đồ cùng nhau thực hiện các nghi lễ Có thể thấy, cộng đổng những tín đổ của m ột tôn giáo

mà Durkheim nêu ra có vai trò như một tổ chức xã hội, m ột thể chế xã hội Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Durkheim: “hầu hết những thể chế lớn của xã hội được sinh ra từ tôn giáo” [31] Đến lượt mình, các tổ chức,

Trang 27

các thể chế xã hội đó tác động lên các thành viên của mình, điều chỉnh các quan hộ và hành vi của họ thông qua kiểm soát xã hội Như vậy, tôn giáo vừa

là một thực tế xã hội rõ ràng có tầm vóc uy tín cao hơn các cá nhán và đòi hỏi phải có sự trung thành, tôn trọng, thậm chí tôn thờ, sùng bái, vừa là một sự chỉ huy áp đật [72, tr.18]

Thực tế, định nghĩa tôn giáo của Durkheim giúp cho chúng ta nhận thức được bản chất của tôn giáo cũng như thấy được các chiều cạnh khác nhau của khái niệm tôn giáo Mặt khác, những phân tích của Durkheim về chức năng

xã hội của tôn giáo cũng là cơ sở lý thuyết cần thiết để xem xét mối liên hệ chức năng giữa biến tôn giáo với các hiện tượng xã hội khác, Bởi trong xã hội học của Durkheim, việc giải thích sự kiện xã hội này trên cơ sở sự kiện xã hội khác là những liên hệ xã hội trong tổng thể xã hội Những liên hệ xã hội đó là những liên hệ chức năng tất yếu giữa các sự kiện xã hội, đồng thời cũng là những liên hệ nhân quả Tôn giáo như một hiện tượng xã hội vừa có mối liên

hệ, vừa có thể coi như nguyên nhân của các hiện tượng xã hội khác, trone đó

có các hiện tượng dân số

Mặt khác, từ cách tiếp cận của Durkheim khi phân tích chức năng của tôn giáo thông qua viêc chỉ ra vai trò của hệ thống tôn giáo nói chung và vai trò của từng bộ phận trong hệ thống tôn giáo đối với việc tạo ra, duy trì, củng cố các chuẩn mực xã hội, trong việc kiểm soát xã hội, cũng là một cách giúp chúng ta xem xét và lý giải các vấn đề đặt ra đối với cộng đổng thiên chúa giáo trong đề tài ở đây, hành vi dân số của các tín đồ, nhất là những hành vi liên quan đến việc chấp nhận, sử dụng các biện pháp tránh thai không được giáo hội cho phép, thì không thể không bị kiểm soát bởi các chuẩn mực và các tổ chức tôn giáo

Max W eber cũng nghiên cứu về chức năng của tôn giáo, nhưng lại ở góc

độ khác Chính tôn giáo “đã tạo ra những tiền đề thực hiên một phươns thức

Trang 28

điều hành kinh tế hợp lý Kết quả là xuất hiện một xã hội mới ” [32, tr.50]

Qua tác phẩm Đạo đức tin ỉành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, “W eber đã

giải quyết một cách hệ thống vấn đề mối liên hệ giữa tôn giáo, kinh tế và xã hội mà trước đó chưa ai nghiên cứu triệt để” [45, tr.92] Trong tác phẩm này tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến chức năng của tôn giáo với sự biến đổi xã hội Sự quan tâm chúng tôi ở đây chủ yếu là sự ảnh hưởng của những nguyên tắc đạo đức niềm tin tôn giáo đối với hành động kinh tế và hành động xã hội của các tín đồ nói chung

Khi xem xét những nước thành công kinh tế nhất cho đến nay ở những vùnơ riêng biệt của châu Âu, nơi mà thuyết Canvin có ảnh hưởng mạnh mẽ một thời gian dù dài hay ngắn [52, tr 152], ông cho rằng ở đây đã có tính hợp

lý của một hành động đạo đức tôn giáo phục vụ cho kiểu hành động kinh tế [65, ừ- 67], Một cách khái quát, trong những điều kiện nhất định tôn giáo đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi kinh tế của xã hội tư bản phương Tây, Còn trong những điều kiện đạo đức tôn giáo khác như ở Ân Độ, Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản khó có thể phát triển, vì thiếu hệ thống những giá trị đạo đức tôn giáo thích hợp

Theo W eber thái độ kinh tế của con người trong ohững điều kiện nhất định có thể được hướng dẫn bởi hệ thống tôn giáo Như vậy, chỉ khi hiểu được

hệ thống tín ngưỡng và những bộ phận hợp thành, chúng ta mới có thể hiểu được thái độ và hành vi ứng xử của các cá nhân Để hiểu hành vi sinh sản của giáo dân chúng ta cần hiểu biết chính bản chất hệ thống tôn giáo đó

Từ quan điểm của M W eber có thể mở rộng ra rằng trong những điều kiện nào đó hệ thống tín ngưỡng có thể can thiệp đến thái độ, sự ứng xử của mọi người với nhiều khía cạnh xã hội khác nhau Cách phân tích của Durkheim và Weber về chức' năng của tôn giáo cho chúng ta thấy được sự tác động của biến số tôn giáo đến các biến số khác trong đó có biến dân số

Trang 29

Đối với nước ta, tôn giáo cũng rất đa dạng, nhưng không giống như cấu trúc tôn giáo ở châu Âu, “tôn giáo không có được vai trò quyết định đối với các hoạt động chính trị xã hội, nhưng cũng gây được những ảnh hưởng đáng

kể trong từng thời điểm đối với nhiều khu vực và nhiều tầng lớp dán cư Gần đây trong quá trình mở rộng dân chủ và tự do tín ngưỡng, nhiều tôn giáo đang

có xu hướng mở rộng ảnh hưởng và phạm vi hoạt động [49, tr.57]

Sinh thời Chủ tịch Hổ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng và nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo tín ngưỡng Tư tưỏng của Người về vấn

đề này đã thể hiện được sự gắn kết chặt chẽ giữa những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo tín ngưỡng với tình hình thực tế tôn giáo tín ngưỡng và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Viêt Nam Tư tưởng

đó được thể hiện qua nội dung: Luôn gắn vấn đề tôn giáo tín ngưỡng với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi trọng, khai thác các giá trị tích cưc về văn hoá, đạo đức của các tôn giáo để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của dân tộc Kiên quyết đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng chống dân tộc, chống con người [48, tr.31 ] Khi nhận định về tư tưỏng, tôn giáo nhân loại, Người viết:

Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức

cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao

cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp iàm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn m ĩ như những người bạn thân thiết [86, tr.22]

Trang 30

Thấm nhuần tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước ta cũng luôn coi vấn đề tôn giáo tín ngưỡng như một trong nhữnc nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu Nghị quyết 24 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI (1990) quy định về các hoạt động tôn giáo đã chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo, chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống lại việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [42].

Quan điểm đó càng được khẳng định trong chỉ thị của Bộ chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới Đó là: “Những hoạt động tôn giáo ích nước lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy” [9], Tôn giáo có mặt tích cực và mặt tiêu cực Bảo vệ và khuyến khích các yếu tố tích cực của tôn giáo là giúp các cộng đồng tôn giáo hoà nhập vào cộng đồng dân tộc, tạo ra tiếng nói chung giữa các tôn giáo với nhau, giữa tôn giáo với không tôn giáo, phục vụ lợi ích của dân tộc

Tôn giáo là một vấn đề nhậy cảm, vì vậy việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, để phân tích biến tôn giáo, để nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tô tôn giáo đến các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội trong cộng đồng tôn giáo, là một sự cần thiết khách quan Tư tưỏng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng sẽ là định hướng chủ yếu, là kim chỉ nam, để giúp cho nghiên cứu đạt kết quả tốt

1.2.2 Cơ sở phương pháp luận cụ thể của đề tài.

Để tạo nẽn khung lý thuyết của đề tài, chúng ta cần làm rõ hơn, hiểu đầy

đủ hơn bản chất và các chiều canh của biến sô tôn giáo Trong định nghĩa tôn giáo của mình, E Durkheim đã nói về ba thành tố cơ bản của tôn RÌáo là: các

Trang 31

tín ngưỡng, các nghi lễ và giáo hội Mặt khác, khi bàn về tôn giáo trong xã họi hiện đại, tác giả cũng có nói đến “tầm vóc lý luận” (nhận thức, trí tuệ) và

“tầm vóc thực tế” (thờ cúng, nghi lễ) của tôn giáo

Theo Joyce o Hertzler những đặc trưng cấu trúc quan trọng nhất của thiết chế tôn giáo là nhóm có tổ chức, những biểu tượng và các công cụ vật thể Ông cho rằng, mỗi thiết chế tôn giáo là tập hợp, tổ chức người, mà bao gồm những cá nhân có những quan tâm tôn giáo, có những giá trị và những khuôn mẫu ứng xử chung Hầu như tất cả các tôn giáo đều có những biểu tượng về trách nhiệm và sự trao đổi tình cảm như cây thánh giá, hình trăng lưỡi liềm Tất cả các tôn giáo cũng đều có những công cụ vật chất đặc biệt cho việc thực hiện những mối quan hệ công việc của họ Đó có thể là đền chùa, miếu mạo, nhà thờ hoặc cũng có thể là trống, kèn phách.v.v [108,

tr 209-212]

Trong cuốn Từ điển x ã hội học thực nghiệm các tác giả đã xác định cơ

cấu xã hội của tôn giáo và mối quan hệ giữa các yếu tố riêng biệt của tôn giáo như một hộ thống là đối tượng cơ bản của xã hội học tôn giáo Hệ thống tôn giáo đã được xác định bao gồm: các cộng đồng hay các tổ chức tôn giáo, ý thức tôn giáo mà trong đó có hệ thống các giá trị và chuẩn mực cho hành vi

và cuối cùng là sự sùng tín [116, tr.254]

Theo Enzo Pace tôn giáo là “một hệ thống phức hợp của sự tổ chức một số nhu cầu căn bản của con người” [65, tr.89] Để nghiên cứu thực nghiệm về tôn giáo, cần thiết phải xem xét về tính tôn giáo Tính tôn giáo thể hiện như những hình thức cụ thể, có thể quan sát được, qua đó con người thể hiện những chiều canh khác nhau của chính bản thân tôn giáo Tác giả cũng nói đến các chiều canh của tính tôn giáo như nhận thức tôn giáo, lòng tin tôn giáo, thực hành và kinh nghiệm tôn giáo

Trang 32

Theo Trần Tiến Đức, trong nhiều thành tố của một tôn giáo, thì đối với vấn đề dân số và k ế hoạch hoá gia đình có ba yếu tố có nhiều ý nghĩa nhất là giáo lý, các chức sắc tôn giáo và hệ thống các lễ nghi [22, tr.142].

Như vậy, có ba yếu tố được rất đông các tác giả quan tâm khi nói về cấu

trúc tôn giáo: thứ nhất, “đức tin hay niềm tin hay tín ngưỡng là hạt nhán của một tôn giáo, là yếu tố để gắn kết cộng đồng tôn giáo” [86, tr.20]; thứ hai, “tổ

chức tôn giáo đóng vai trò quan trọng là phương tiện để duy trì và phát triển

một cộng đồng tôn giáo” [86, tr.20]; thứ ba, đó là hệ thống giáo lý, giáo luật

Hệ thống này thể hiện quan điểm, nhận thức của một tôn giáo về thế giới khách quan, từ đó đưa ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực cho các mối quan hệ trong cộng đồng [85, tr.30] —^

Theo chúng tôi, ba chiều cạnh đó cũng là đủ và cần thiết để qua đó có thể quan sát được tính tôn giáo của cá nhân, của nhóm Thực tế, đây cũng là ba yếu tố rất có ý nghĩa và khá đầy đủ cho việc phân tích sự tác động của biến tôn giáo đến hành vi sinh sản của người giáo dân Ba yếu tố trên tham gia kiểm soát mọi hành vi của giáo dân cả từ “bên ngoài”, lẫn “bên trong”

Ngoài việc dựa vào lý thuyết xã hội học tôn giáo để phân tích biến tôn giáo, để xem xét nguyên lý của sự tác động của biẽn tôn giáo đến các biến phụ thuộc khác, đề tài còn dựa vào lý thuyết của xã hội học dân số để phán tích biến phụ thuộc mức sinh và xem xét cơ chế, cách thức tác đông của biến tôn giáo đến mức sinh trong một cộng đồng tôn giáo Các lv thuyết này sẽ làm tăng khả năng của chúng ta để gắn kết sự biến đổi mức sinh của dân số với biến tôn giáo, ở đây, chúng tôi trình bày một số mô hình lý thuyết mà có thể giúp để hình thành khung lý thuyết cho mối liên hệ giữa tôn giáo và mức sinh

Theo lý thuyết quá độ dân số, mức sinh biến đổi qua các giai đoạn sau: thứ nhất, mức sinh ổn định ở mức cao; thứ hai, mức sinh suy giảm; thứ ba, mức

Trang 33

sinh ổn định ở mức thấp Sự biến đổi của mức sinh được giải thích do chính tác động của quá trình công nghiệp hoá Hiện nay, để giải thích quá độ mức sinh nhiều tác giả quan tâm hơn đến các yếu tố văn hoá, chính sách kế hoạch hoá gia đình, hành vi lựa chọn của cá nhân, của gia đình.v.v.

Ansley J Coale dựa trên các khái niệm cung-cầu trong kinh tế học đưa ra

mô hình để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh như sau:

Nguồn: Đặng Nguyên Anh, 1998

Trong mô hình trên Coale giải thích: Cung là khả năng sinh con Cầu là nhu cầu về số con cần có Chi phí là cái giá phải trả cho việc kiểm soát sinh, bao gồm chi phí kinh tế, tâm lý, xã hội, sức khoẻ, việc tiếp cận các dịch vụ Trên cơ sở mô hình của Coale, nhóm các nhà nghiên cứu Philipin Socoĩto

P Veloso, Alefandro N H em n đã đề nghị một mô hình phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến mức sinh, trong đó đưa thêm yếu tố động cơ điều tiết sinh

đẻ trước yếu tố điều chỉnh mức sinh Theo quan điểm của nhóm tác giả này

hành vi sinh đẻ được xác định bởi ba nhóm yếu tố quyết định kề cận: nhu cảu

về con cái, sự cưng cấp về con cái và chi phí điều tiết sinh đẻ [114, ti'.l 39].

Jones (1977) và Freedman (1975) cũng đưa ra các mô hình cho việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh mà có thể khái quát trong sơ đồ sau:

Trang 34

Nguồn: WES 1977, xem Đặng Nguyên Anh, 1998,

Các nhân tố quyết định mức sinh bao gồm: 1) Tỷ lệ phụ nữ có chồng hoặc có sinh hoạt tình dục; 2) Kiểu sinh hoạt tình dục; 3) Thời gian cho con

bú bằng sữa mẹ và sự tắt kinh trong thời gian này; 4) Tránh thai; 5) Nạo thai; 6) Sảy thai; 7) Vô sinh tự nhiên; 8) Vô sinh do bệnh lý [6]

Kingsley Davis và Judith Plake cho rằng trong phân tích những ảnh hưởng vãn hoá đối với mức sinh, người ta có thể bắt đầu bằng những nhân tô trực tiếp liên quan tới ba bước: 1) quan hệ tình dục, 2) thụ thai, 3) thai nghén

và sinh đẻ Chỉ có thông qua các nhân tố này, những điều kiện văn hoá mới có thể ảnh hưởng đến mức sinh Do đó có thể gọi chúng là “các biến số trung

gian”[28, tr.78] Các tác giả cho rằng mối quan hệ nkân quả giữa các ĩhiếĩ

ch ế và mức sinh cần phải được phân tích thông qua các biến số trung gian

này Chính các biến sô trung gian đưa ra biện pháp tiếp cận để lựa chọn và phân tích những nhân tố văn hoá [28, tr.79, 80],

Trang 35

Quan điểm của Kingsley Davis và Judith Plake cho thấy dường như không có mối q.uan hệ trực tiếp giữa các thiẽt chế xã hội và mức sinh, mặc dù giữa chúng có mối quan hệ nhân quả Trong đề tài, thiết chế tôn giáo được coi

là nguyên nhân của mức sinh cao, song để xem xét điều dự đoán này có đúng không cần phải chỉ ra được trong các biến số trung gian trên, biến số nào là kết quả thật sự của biến số tôn giáo

John Bongaarts cũng có cái nhìn tương tự, khi ông gọi các biến số trung gian là các yếu tố quyết định gần sát (proximate) Theo ông: “Đặc trưng nổi bật của các biến trung gian gần sát là ảnh hưởng trực tiếp của nó lên mức sinh Nếu biến trung gian gần sát, như sử dụng biện pháp tránh thai, thay đổi thì sau đó mức sinh cũng nhất thiết thay đổi” Vì vậy, khi so sánh những khác biệt về mức sinh giữa các nhóm dân cư đều có thể tìm thấy qua sự biến động của một hoặc nhiều biến gần sát [12, tr.87] Ông cũng đưa ra lược đồ về các yếu tố quyết đinh mức sinh như sau:

Nguồn: xem John Bongaarts, 1994,Theo J Bongaarts các yếu tố quyết định gần sát là: 1) Hôn nhân; 2) Hết khả năng sinh sản; 3) Khoảng vô sinh sau đẻ; 4) Khả năng mắn đẻ; 5) Có sử dụng và hiệu quả của các biện pháp tránh thai; 6) Chết bào thai tự phát; 7) Nạo phá thai [12, tr.89] Riêng yếu tố thứ 5, ông cho rằng hiệu quả của tránh thai phu thuộc vào phương pháp, động cơkiến thức người sử dune.

Từ nghiên cứu về các mô hình sinh đẻ, Bongaarts đi đến kết luận mức sinh nhạy cảm nhất với các yếu tố (1) và (5), tính biến thiên cao nhất với các

Trang 36

yếu tố (1), (3), (5) và (7) Đánh giá chung cả hai tiêu chuẩn thì bốn yếu tố (1), (3) (5), (7) là những yếu tố quan trọng nhất cho việc phân tích sinh đẻ.

Các mô hình phân tích trên chỉ cho chúng ta thấy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để hướng tơí giải thích các biến số trung gian giữa các biến số kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường với mức sinh Chúng ta sẽ vận dụng cơ

sở lý thuyết của A Coale cho việc phân tích sâu về vai trò của yếu tố tôn giáo tron? việc tạo ra động cơ của hành vi sinh đẻ của các cặp vợ chồng trong cộng đồng thiên chúa giáo ở Bùi Chu Vận dụng mô hình của Jones và Freedman

và của Bongaarts để phân tích các yếu tố hành vi và sinh học, mà được xem xét chung trong nhóm các yếu tố hành vi sinh sản

1.2.3 Sơ đồ khung lý thuyết

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi đã xác định, lựa chọn các biến số

và đưa ra mô hình lý thuyết như sau:

Trong sơ đồ trên yếu tố tôn giáo được đật trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, cũng như trong môi trườnơ vãn hoá môi trường địa lý nhất định, Điều đó có nghĩa rằng tồn giáo được coi là biến số độc lập tác động vào mức sinh, nhưng sự tác động đó mạnh hay yếu còn phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường địa lý nhất định

Trang 37

Trong những điều kiện xã hội cụ thể, tôn giáo tác động vào mức sinh thônp qua các biến số trung gian, mà trực tiếp nhất là các yếu tố quyết định gần sát Khi một trong những yếu tố này thay đổi thì nhất định có sự thay đổi của mức sinh Chúng tôi xác định các yếu tố quyết định gần sát ở đây bao gồm: hôn nhân và sự phá vỡ hôn nhân, vô sinh sau đẻ, việc sử dụng các biện pháp tránh thai và hiệu quả của chúng và cuối cùng là nạo phá thai Các yếu

tố trung gian ở đây có thể được coi là nhóm các yếu tố hành vi sinh sản

1.3 Những khái niệm cơ sở của đề tài.

ỉ.3.1 Tôn 2 Íáo Thuật ngữ religion được dịch là tôn giáo, chỉ trở thành thuật ngữ chung cho các tôn giáo khác nhau vào thế kỷ XVI, khi đạo Tin lành tách khỏi Công giáo và cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài châu Âu [86, tr.15,16] Theo giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong tiếng Latinh thuật ngữ religio bắt nguồn từ động từ relegere là thâu lượm Sau khi Kitô giáo xuất hiện và trở thành tôn giáo thế giới, thuật ngữ này nghiêng

về nội dung religare là ràng buộc (ràng buộc các tín đồ với Chúa),

Vào khoảng thế kỷ XII thuật ngữ religion “nhằm chỉ toàn thể những hành

vi có tính nghi thức, liên quan đến một quan niệm thiêng đối lập với tục và quyết định mối ràng buộc, mối quan hệ của linh hồn con người với Chúa” [86, tr,16] Như vậy, đến giai đoạn này religion chỉ gắn riêng với đạo Kitô.Đến nay, thuật ngữ này đã được phổ biến rộng rãi để chỉ chung các hình thức tôn giáo khác nhau Tôn giáo là một yếu tố văn hoá xã hội maníi tính cộng đồng Tôn giáo sinh ra để đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng Tôn giáo gắn kết các thành viên trong cộng đồng, thể hiện đức tin và sư thực hành của cộng đồng đó đến với một thế giới siêu nhiên

Định nghĩa có tính kinh điển về tôn giáo của Engels chỉ ra rằng: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con ncười những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ncày của ho Chỉ là sư phản ánh

Trang 38

mà trong đó những lực lượng trần gian đã mang hình thức của lực lượng phi trần d a n ” [2 tr.14] Định nghĩa này cho thấy tôn giáo là sư phản ánh đời sống xã hội của con người, phản ánh các mối quan hệ của họ cũng như sự bất lực của họ trước sức mạnh của tự nhiên, trước sự phát triển của các quan hê xã hội Những lực lượng xã hội hiện thực này được thần bí hoá mang dáng vẻ của lực lượng siêu tự nhiên F Engels cho rằng: “Tôn giáo sinh ra từ thời đại hết sức nguyên thuỷ những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy thường là chung cho một tập đoàn dân cư, cùng dòng m áu ” [4, tr.443].

Theo giáo sư Đặng Nghiêm Vạn: “Đối tượng chung nhất của tôn giáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo giữa Con Người và thế giới đó nhằm lý giải những vấn

đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau” [85, tr.29] Trên thế giới tồn tại rất nhiều loại hình tôn giáo, song có ba loại hình tôn giáo lớn nhất là Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo

Bên cạch việc chỉ ra bản chất của tôn giáo, các nhà xã hội học khi đưa ra định nghĩa về tôn giáo thường hướng đến xác định các chiều cạnh của khái niệm tôn giáo nhằm để nghiên cứu, đo lường khái niệm này

1.3.2 Thiên chúa siáo Thiên chúa giáo ra đời từ đầu công nsuyên như sự đáp ứng nhu cầu của nhấn dán lao động về một vương quốc của sự công bằng sau những chán chường, tuyệt vọng từ sự thất bại của hàng loạt cuộc nổi dậy của người nô lệ mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Spảctaquýt Vãn hoá Rôma, thần học phương Đông, đặc biệt thần học Do Thái và triết học duy

lý Hy Lạp đặc biệt là chủ nghĩa khắc kỷ là cơ sở lý thuyết cho sự ra đời của Thiên chúa giáo [46, tr.8] Người sáng lập ra Thiên chúa giáo là chúa Kitô, một nhân vật có thật trong lịch sử tên là Giêsu Cơrít thuộc chủns tộc Isarael,

Trang 39

sinh ở Palextin Như mọi tốn giáo khác, những ghi chép về Giêsu cũng dược huyền thoại hoá và Giêsu cũng được thần thánh hoá [46, tr.10].

Sau khi Giêsu mất các môn đệ của Giêsu đã nhanh chóng truyền giáo sáu vào lục địa ba châu Á, Âu, Phi Tới thế kỷ thứ V thì Thiên chúa giáo đã bao trùm lên toàn bộ khu vực Địa Truníĩ Hải và Đế quốc La Mã “Hội thánh đã thiết lập được ở 3 khu vực văn hoá lớn: Latinh phương Táy, khu vực đống phương Hy Lạp và khu vực Xyri thuộc văn hoá Antiôkia Ađessé Thiên chúa giáo tiếp thu cái thực dụng La Mã, cái duy lý của Hy Lạp và cái khổ hạnh của đạo Xyri” [46, tr ll] Từ ba trung tâm này Thiên chúa giáo tiếp tục lan sang khu vục Tây Á, Ấn Độ, sang Bắc Phi và châu Âu

Hệ thống giáo lý, giáo luật Thiên chúa giáo phần lớn được ghi nhận trong

Kinh Thánh Kinh Thánh là hệ thống lý thuyết về Đức tin và chân lý của Đức tin (mạc khải) Kinh thánh gồm hai phần Cựu ước và Tân ước Đối với người Kitô giáo, Kinh thánh vừa có giá trị nhân bản, vừa có giá trị siêu nhiên, vì tác giả của nó là thiên chúa Bộ Cựu ước được viết ra trước khi chúa Giêsu ra đời, chủ yếu nói về nguồn gốc vũ trụ và loài người, về lịch sử dân Do Thái được Chúa chọn để đón nhận ngày chúa Kitô ra đời Bộ Tân ước kể lại cuộc đời chúa Giêsu Kitô, của các Tỏng đồ, cũng như ghi lại đạo lý của chúa Kitô và các Tông đồ [46, tr.14-15]

Khi lý giải về nguồn gốc vũ trụ và sự sống, sách Sáng thế kể về việc Thiên chúa hoàn tất mọi việc tạo dựng trong bảy nsày Đối với việc tạo dựng con người như một sinh vật, Kinh thánh cũng cố cắng lý giải về sự thống nhất, sự kết hợp giữa hai yếu tố tinh thẩn và vật chất tronc sự sánc tạo của Chúa Sách bốn là sách- dạy vắn tắt những diều mà các Ún đỏ Ki Lò hữu phải tin, phải làm trong đời sống thường nhật

Theo Kinh thánh giáo hội là “một cộng đồns hữu hình và cỏ tổ chức mà

chúa Kitô đã sáng lập để lưu lổn sư hiện diện của mình trên ưẩn gian và tiếp

Trang 40

tục thực hiện hai sứ mạng của mình là giảng dạy chân lý và ban sự sống”[46, tr.17] Giáo hội Rôma (Hội Thánh) được tổ chức theo thang bậc, mà đứng đầu

là Giáo Hoàng và các vị Hồng Y do Giáo Hoàng bổ nhiệm cùng các chức sắc làm việc trong giáo triều Rôma, tức là các thánh bộ, Thánh vụ, các toà án và các văn phòng Từ khi giáo hội Thiên chúa d á o ra đời đến năm 1986 đã có

265 Giáo Hoàng kế vị nhau cai quản toà Thánh Rôma Vị Giáo Hoàng đầu tiên được giáo hội công nhận là thánh Phê rô

Kitô hữii là “những người theo đức Kitô trong mọi sự”, là người “giống

hệt mọi người chỉ trừ không phạm tội” Đó là người sống với đức tin “giao kết trọn cuộc sống mình vào niềm tin Thiên chúa”, biết hy sinh cho chúa, nói nhiều tới tình thương và phải biết ứng xử theo mười giới răn [46, tr.19]

Ngay từ khi ra đời, Thiên chúa giáo đã coi trọng sự “thống nhất trong những dị biệt”, nhưng vẫn không tránh khỏi những cuộc ly khai Giáo hội Thiên chúa La Mã (Catholicism) được coi là chính thống, manh nhất, có lãnh địa riêng là toà thánh Vatican đóng tại Rôma Cuộc ly khai lần đầu tiên giữa giáo hội phương Đông với Rôma vào những năm 974-984, để cho ra đời Chính thống giáo (Orthodox) Cuộc ly khai thứ hai cho ra đời đạo của những người giàu, đạo Tin lành ( Protestantism) vào những năm 1520, trên cơ sở những tư tưởng cải cách của Luthe và Calvin Cuộc ly khai thứ ba trong giáo hội Kitô là Anh giáo (Anglicamidme) vào năm 1531, thể hiện sự lớn mạnh của giáo lý Can vin trên nước Anh

Tuy nhiên, dù có sự phân hoá, sự xung đột giữa các tôn giáo ly khai với Công giáo La Mã, song đó là sự xung đột thống nhất, đặc biệt từ sau Công đồng Vatican II (1963-1965) đến nay [46, tr.13] Sự xuất hiện của Công đồne Vatican II với xu hướng Canh tân và Nhập thế chứng tỏ rằng Thiên chúa giáo cũng như các tôn giáo khác luôn luôn cần có sự biến đổi để thích nghi

Ngày đăng: 23/03/2020, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w