Thành công về phát triển của Singapore và Hàn Quốc là do nhiều nguyên nhân: ý chí tự cường quốc gia - dân tộc; tầm nhìn và sự sáng suốt trong quá trình hoạch định đường lối phát triển củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu trích dẫn
có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc; kết quả trình bày trong luận án được thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Mai Ngọc Chừ - chủ nhiệm Bộ môn Đông Nam Á - Khoa Đông Phương học, PGS.TS Lê Đình Chỉnh - nguyên chủ nhiệm Khoa Đông Phương học, TS Lưu Tuấn Anh - chủ nhiệm Khoa Đông Phương học đã tận tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong và ngoài nước đã chia sẻ các thông tin khoa học và góp ý cho luận án của tôi như GS Park Tae-Gyun (Đại học Quốc gia Seoul), GS Jung Byung-Joon (Đại học nữ Ewha), GS Andrew Kim Eungi (Đại học Hàn Quốc), ông Jee Chang-sun (Korea Foundation), PGS.TS Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore), GS.TS Lê Quang Thiêm (Trường Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân văn), GS.TS Hoa Hữu Lân (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội), PGS.TS Trần Khánh (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), PGS.TS Hoàng Thị Thanh Nhàn (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), PGS.TS Đỗ Thu Hà (Khoa Đông Phương học), PGS.TS Nguyễn Tương Lai (Khoa Đông Phương học), PGS.TS Phạm Quang Minh, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, PGS.TS Bùi Thành Nam (Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn), TS Nguyễn Huy Hoàng (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), TS Nguyễn Thanh Hải (Australia), Cho Jin-seok (Nhà sách Y Eum Seoul Hàn Quốc) cùng nhiều thầy cô khác
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn các đồng nghiệp trong và ngoài khoa Đông Phương học đã không tiếc thời gian chia sẻ các kiến thức khoa học, góp ý bản thảo luận án cho tôi Các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã động viên và chia sẻ với tôi các công việc khác của khoa để tôi có thêm thời gian tập trung cho luận án
Tôi cũng biết ơn Quỹ Korea Foundation và Quỹ học bổng Sakakawa đã cấp học bổng cho tôi đi tìm kiếm tài liệu tại Hàn Quốc và Singapore trong những năm vừa qua
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn tới những người thân trong gia đình đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài 9
1.1.1 Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 9
1.1.2 Nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 13
1.2 Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan và nội dung nghiên cứu của luận án 21
1.2.1 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án 21
1.2.2 Những nội dung được tiếp tục nghiên cứu trong luận án 21
Tiểu kết 23
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠCH ĐỊNH PHÁT TRIỂN CỦA SINGPORE VÀ HÀN QUỐC ĐẦU THẬP NIÊN 1960 24
2.1 Tổng quan về nguồn lực phát triển 24
2.1.1 Một số lý thuyết phát triển và khái niệm liên quan 24
2.1.2 Vai trò của nguồn lực phát triển đối với tăng trưởng kinh tế 30
2.2 Cơ sở hoạch định phát triển của hai quốc gia đầu thập niên 1960 31
2.2.1 Bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội 31
2.2.2 Những tiền đề phát triển của hai quốc gia 33
Tiểu kết 49
Chương 3 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE VÀ HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1961-1979 TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH 51
3.1 Thực trạng nguồn nhân lực của Singapore và Hàn Quốc thời kỳ đầu công nghiệp hóa 51
3.2 Định hướng chính sách và tình hình thực hiện 53
3.2.1 Các định hướng phát triển nguồn nhân lực 53
3.2.2 Tình hình thực hiện phát triển nguồn nhân lực 60
3.3 Phương thức quản lý và sử dụng nguồn nhân lực 79
3.3.1 Chính sách việc làm 79
3.3.2 Chính sách thu hút và trọng dụng người tài 82
3.3.3 Nâng cao chất lượng cuộc sống 86
Tiểu kết 89
Trang 6Chương 4 NGUỒN VỐN TÀI CHÍNH CỦA SINGAPORE VÀ HÀN QUỐC GIAI
ĐOẠN 1961-1979: TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH 91
4.1 Nhu cầu cấp thiết về nguồn vốn tài chính đối với phát triển kinh tế của Singapore và Hàn Quốc 91
4.2 Chính sách huy động nguồn lực tài chính phục vụ phát triển của hai quốc gia 93
4.2.1 Huy động nguồn lực tài chính trong nước 93
4.2.2 Huy động nguồn lực tài chính bên ngoài 99
4.3 Quản lý và phân bổ nguồn lực tài chính phục vụ phát triển của hai quốc gia 108
4.3.1 Mở rộng các kênh quản lý và cung cấp vốn 108
4.3.2 Phân bổ vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp trọng điểm 111
4.3.3 Tăng vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất, máy móc, kĩ thuật 116
Tiểu kết 119
Chương 5 NHẬN XÉT CHUNG VỀ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE - HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC THAM KHẢO CHO VIỆT NAM 121
5.1 Nhận xét chung về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 121
5.1.1 Đóng góp của nguồn lực đối với sự tăng trưởng của hai quốc gia giai đoạn 1961-1979 121
5.1.2 Thành tựu phát triển nguồn lực con người và tài chính của hai quốc gia sau gần hai thập niên phát triển 128
5.2 Bài học tham khảo cho Việt Nam về phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực 135
5.2.1 Bài học chung 135
5.2.2 Bài học liên quan tới phát triển và sử dụng nguồn lực con người 137
5.2.3 Bài học liên quan tới huy động và sử dụng nguồn vốn tài chính 144
Tiểu kết 151
KẾT LUẬN 152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VÀ VIẾT TẮT
NICs Newly Industrialized Countries Các nước công nghiệp hóa mới
NIES New Industrialization Economies Các nền công nghiệp mới
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IMF International Moneytary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
BCH TW
TFP Total Factor Productivity Năng suất các yếu tố tổng hợp
R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
TNCs Transnational Corporations Các công ty xuyên quốc gia
MNCs Multinational Corporatives Các công ty đa quốc gia
ICOR Incremental Capital-Output
PAP Party of Action Population Đảng Hành động Nhân dân
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế CPF Central Provident Fund Quỹ Dự phòng Trung ương
ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức/ Viện trợ
phát triển NWC National Wages Council Hội đồng Lương bổng Quốc gia
GNP Gross National Product Tổng sản lượng quốc gia hay Tổng
sản phẩm quốc gia GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu
nhập quốc dân
Trang 8UNESCO United Nations Educational Scientific
and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
EDB Economic Development Board Uỷ Ban Phát Triển Kinh Tế
SWOT Strengths - Weaknesses -
Opportunities -Threats
Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội –Thách thoức
ASEAN Association of South East Asian
DBUs Domestic Banking Units Ngân hàng quốc nội
ACUs Asian Currency Units Ngân hàng tiền tệ châu Á
JTC Jurong Town Corporation Công ty Town Jurong
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
KEDI Korea Educational Development
NUS National University of Singapore Trường Đại học Quốc gia Singapore
CPIB Corrupt Practices Investigation
PIPS Professionals‟ Information and
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình viện trợ thiết bị và nguyên vật liệu của Mỹ cho Hàn Quốc
cho tới những năm 1950 41
Bảng 3.1 Thực trạng tuyển dụng lao động tại các ngành công nghiệp Hàn Quốc 1955 - 1961 53
Bảng 3.2 Mục tiêu kế hoạch 5 năm phát triển kỹ thuật 55
Bảng 3.3 Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục của Singapore giai đoạn 1961-1979 59
Bảng 3.4 Ngân sách nhà nước và ngân sách Bộ giáo dục của Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 60
Bảng 3.5 Số học sinh nhập học tiểu học và trung học ở Singapore 62
Bảng 3.6 Tỷ lệ tăng của học sinh phân cấp theo trường 1952 - 1975 ở Hàn Quốc 63
Bảng 3.7 Thống kê đào tạo nhân lực giai đoạn 1962-1966 66
Bảng 3.8 Thống kê tình hình đào tạo nghề nghiệp của Hàn Quốc 1967-1971 69
Bảng 3.9 Gia tăng dân số Singapore, 1931-1980 78
Bảng 3.10 Tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động ở Singapore 81
Bảng 3.11 Tình trạng chảy máu chất xám của Hàn Quốc 85
Bảng 3.12 Tình hình nhà ở của Singapore 87
Bảng 4.1 Tổng tiết kiệm trong nước của một số quốc gia Châu Á giai đoạn 1960-1981 96
Bảng 4.2 Cơ cấu thuế của Singapore 98
Bảng 4.3 Tổng tiết kiệm quốc gia của Singapore 1974 - 1979 98
Bảng 4.4 Chi tiêu của Hàn Quốc dành cho quân sự 1960-1980 99
Bảng 4.5 Tình hình viện trợ cho Hàn Quốc của Mỹ 100
Bảng 4.6 Nợ nước ngoài của Hàn Quốc giai đoạn 1973-1979 102
Bảng 4.7 Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tích lũy vốn ở Singapore giai đoạn 1967 - 1979 105
Bảng 4.8 Dòng vốn nước ngoài vào Hàn Quốc 1962-1978 106
Bảng 4.9 Đầu tư nước ngoài vào các nước Châu Á thập niên 70 107
Bảng 4.10 Tình hình xuất khẩu lao động Hàn Quốc sang Tây Đức 107
Bảng 4.11 Sự phát triển của 5 chaebol lớn Hàn Quốc 1971-1983 116
Bảng 5.1 Tỉ lệ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc theo các kế hoạch 5 năm137 122
Bảng 5.2 Chỉ số phát triển của Singapore 1960 - 1980 124
Bảng 5.3 Các chỉ số xã hội Hàn Quốc, 1970 - 1980 125
Bảng 5.4 Đóng góp tới tăng trưởng GDP thực tế của Singapore và Hàn Quốc 127
giai đoạn 1975-1980 127
Bảng 5.5 Cán cân thanh toán, tiết kiệm, dự trữ, đầu tư và nợ nước ngoài của Singapore và Hàn Quốc 1961-1980 132
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Vị trí địa lý của Singapore 39
Hình 2.2 Vị trí địa lý của Hàn Quốc 40
Hình 2.3 Bức thư pháp “Trí Nhân Dũng” (지인용 - 智仁勇) của Tổng thống Lee Seung-man 42
Hình 2.4 Bức thư pháp “Cần lao Ái quốc” (근로애국 - 勤勞愛国) của Tổng thống Park Chung-hee viết ngày 9/9/1975 43
Hình 2.5 Tháp dân số Singapore năm 1960 44
Hình 2.6 Tháp dân số Hàn Quốc năm 1960 46
Hình 3.1 Khái quát về chiến lược công nghiệp hóa của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 54
Hình 3.2 Tỷ lệ % chi tiêu giáo dục trong tổng chi tiêu của hai quốc gia 60
Hình 3.3: Mức sinh ở Singapore giai đoạn 1957 - 1979 76
Hình 3.4: Mức sinh ở Hàn Quốc trong so sánh với các nước OECD giai đoạn 1960 - 2008 79
Hình 4.1 GDP Singapore tính theo lĩnh vực công nghiệp 112
Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc 1953-1980 114
Hình 4.3 Hình ảnh Lễ thỗng xe đường cao tốc 1968-1969 tại Hàn Quốc 118
Hình 4.4 Hình ảnh Phong trào Làng mới (Saemaul Undong) 118
Hình 5.1 Tăng trưởng GDP giai đoạn 61 - 79 122
Hình 5.2 GDP bình quân đầu người 1961 - 1979 123
Hình 5.3 Trình độ giáo dục của lao động Singapore (6/1980) 128
Hình 5.4 Trình độ giáo dục của lao động Hàn Quốc năm 1980 129
Hình 5.5 Sự biến chuyển trong cơ cấu lao động theo ngành nghề tại Singapore 130
Hình 5.6 Sự biến chuyển trong cơ cấu lao động theo ngành nghề tại Hàn Quốc 130
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Việc huy động hiệu quả nhất các nguồn lực cũng như duy trì lâu dài các nguồn lực đó để phát triển là những vấn đề then chốt trong chính sách phát triển của mọi quốc gia trong mọi thời đại Lịch sử chứng minh rằng, quốc gia nào nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của các nguồn lực cũng như có chính sách phát huy các nguồn lực đó một cách hợp lý, quốc gia đó sẽ phát triển thành công
Với xuất phát điểm không mấy thuận lợi như nhiều quốc gia ở Đông Á vào đầu những năm 1960, sau hơn hai thập kỷ nỗ lực phấn đấu, tới cuối thập niên 1970, Singapore và Hàn Quốc đã vươn lên thành những nước công nghiệp hóa mới (Newly Industrialized Countries - NICs) ở Đông Á
Dưới sự lãnh đạo của Lee Kuan Yew, Singapore tận dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển, từng bước biến chuyển nền kinh tế quốc gia, đưa GDP bình quân đầu người từ 449 USD năm 1961 lên 4.078 USD vào năm 19791
Cùng thời gian trên, ở bán đảo Triều Tiên, Tổng thống Park Chung-hee và chính phủ Hàn Quốc cũng tập trung chú ý các nguồn lực vào phát triển kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh tàn phá bởi cuộc nội chiến 1950-1953 Kết quả là, thu nhập bình quân trên đầu người của Hàn Quốc đã tăng gấp hơn 20 lần từ 84 USD năm
1961 lên 1.713 USD vào năm 1979, chỉ trong vòng 18 năm2!
Hiện nay, cả hai nước trên vẫn đang nỗ lực không ngừng để có thể sớm tham gia vào câu lạc bộ các nước phát triển nhất thế giới Thành công về phát triển của hai quốc gia này đã thu hút sự chú ý mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Trải qua nhiều thập kỷ phải tập trung mọi nguồn lực của đất nước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đến năm 1986, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia kém phát triển nhất ở Đông Nam Á Tình trạng đó không chỉ tác động xấu tới đời sống của mọi tầng lớp nhân dân trong nước, mà ở khía cạnh nào đó, còn làm giảm
ý nghĩa của những thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nhận thức được điều đó, từ năm 1986 tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam - với tư cách là Đảng cầm quyền - đã phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm nhanh chóng biến Việt Nam thành một nước Xã hội Chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế cao, xã hội
1 Tham khảo số liệu từ Cổng thông tin điện tử của Phòng Thống kê Singapore
http://www.singstat.gov.sg/docs/default-source/default-document-library/statistics/browse_by_theme/economy/time_series/gdp.xls [truy cập ngày 9/12/2015]
2 Tham khảo số liệu từ Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê Hàn Quốc
http://kosis.kr/statHtml/statHtml.do?orgId=301&tblId=DT_102Y002&conn_path=I2 [truy cập ngày 17/12/2015]
Trang 12công bằng, dân chủ, văn minh Hơn hai thập kỷ phấn đấu, Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức và vươn lên trở thành nước có mức thu nhập trung bình Tiếp tục đường lối đổi mới, trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2016-2020 là “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới ; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.” [BCH TW Đảng khóa XI, 2015]
Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm tới việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước, đặc biệt là từ những nước tương đồng về văn hóa, lịch sử và có xuất phát điểm kinh tế giống với Việt Nam như Singapore và Hàn Quốc
Kinh nghiệm phát triển của Singapore và Hàn Quốc được Việt Nam đặc biệt chú ý bởi sự phát triển liên tục, khá bền vững trong suốt nhiều thập kỷ Sự phát triển
đó là cơ sở để hai nước nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng trở lại sau Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á (1997-1998)
Sức hấp dẫn từ kinh nghiệm phát triển của Singapore và Hàn Quốc đối với Việt Nam còn ở chỗ cả hai nước đó đều được dẫn dắt bởi một đảng cầm quyền duy nhất, bất kể thực tế là đã và đang có rất nhiều đảng chính trị khác nhau tồn tại ở hai nước này Thực tế phát triển của Singapore và Hàn Quốc cho thấy một quốc gia kém phát triển có thể trở thành một quốc gia phát triển hay không còn tùy thuộc vào năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền Năng lực đó thể hiện rõ rệt nhất qua sự hoạch định, điều chỉnh chiến lược phát triển để nó luôn luôn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước
và khuynh hướng phát triển chung của thời đại; qua sự can thiệp thỏa đáng vào nền kinh tế thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô
Thành công về phát triển của Singapore và Hàn Quốc là do nhiều nguyên nhân:
ý chí tự cường quốc gia - dân tộc; tầm nhìn và sự sáng suốt trong quá trình hoạch định đường lối phát triển của các nhà lãnh đạo; khả năng khai thác tài nguyên địa - chính trị, địa - kinh tế và các nguồn lực khác ở trong và ngoài nước…
Những kinh nghiệm phát triển trên đều rất đáng để Việt Nam nghiên cứu, học hỏi Thực tế, ở giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhằm duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh môi trường kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp, những kinh nghiệm của hai quốc gia trên trong khai thác
và sử dụng các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, nhất là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính, rất đáng được các nhà hoạch định chiến lược phát triển của Việt Nam chú ý Bởi vì, chính những chính sách đúng đắn trong việc khai thác nguồn lực
Trang 13quyết quan trọng nhất, đằng sau các kỳ tích phát triển của hai nước trên trong hai thập
kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX
Cũng như Singapore và Hàn Quốc, Việt Nam đã rất coi trọng việc khai thác và phát huy nguồn lực con người cũng như các nguồn tài chính nội sinh và ngoại sinh để thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong đào tạo, sử dụng nguồn lực trong nướccũng như khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nguồn FDI và ODA từ bên ngoài Những
cố gắng đó đã góp phần tạo nên thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, những kết quả trên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu về các nguồn lực phát triển, kinh nghiệm khai thác, sử dụng các nguồn lực đó, đặc biệt là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc sẽ góp phần cung cấp thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển nói chung, chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực của Việt Nam nói riêng trong những năm sắp tới
Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu so sánh các nguồn lực phát triển,
quá trình sử dụng và phát huy các nguồn lực đó giữa Singapore và Hàn Quốc, sẽ làm
rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong chiến lược phát triển của hai nước trên Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những đặc điểm cơ bản của mô hình phát triển Đông Á và nguyên nhân dẫn tới những phiên bản khác nhau của mô hình đó
Với những nhận thức và lý do trên, nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn
“Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961
- 1979” làm đề tài luận án Tiến sỹ của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu so sánh sự tương đồng và khác biệt
trong những chính sách khai thác, phát huy và sử dụng các nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa (1961-1979), luận án rút ra một số kinh nghiệm từ việc thực hiện các chính sách trên và đưa ra một vài gợi ý liên quan tới sự vận dụng những kinh nghiệm đó vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
* Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án được xác định là:
Trang 14- Từ góc độ so sánh, làm rõ chính sách khai thác và sử dụng nguồn lực con người và nguồn lực tài chính mà chính phủ Singapore và Hàn Quốc đã thực hiện trong thập niên 60 và 70 thế kỷ XX
- So sánh vai trò và tác động của những chính sách đó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của Singapore và Hàn Quốc trong hai thập niên đầu thực hiện công nghiệp hóa
- Rút ra một số kinh nghiệm khả dụng cho Việt Nam trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực và tài lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn 1961 - 1979
- Làm rõ nhận thức của các nhà lãnh đạo Singapore và Hàn Quốc về tầm quan trọng của nguồn lực con người và nguồn lực tài chính trong quá trình công nghiệp hóa của dất nước họ
- Từ góc độ so sánh, phân tích thực trạng nguồn lực con người và nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc vào lúc bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa
- Phân tích những tương đồng và khác biệt trong chính sách và biện pháp khai thác, sử dụng và phát huy hai nguồn lực trên trong giai đoạn 1961-1979
- Làm rõ những đặc điểm chung và riêng trong chính sách phát triển, sử dụng nguồn lực con người, nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn được nghiên cứu
- Đánh giá vai trò, tác động và hạn chế trong các chính sách trên đối với quá trình phát triển của Singapore và Hàn Quốc từ 1961 tới 1979
- Rút ra một số kinh nghiệm của hai nước trên về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực và tài lực mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người, nguồn lực tài chính; các giải pháp khai thác, sử dụng các nguồn lực đó của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn 1961-1979, xét từ góc độ so sánh
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu vào giai đoạn 1961 - 1979 Đây là giai đoạn xây dựng nền tảng vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình „cất cánh‟ rồi „hóa rồng‟ của Singapore và Hàn Quốc
+ Đối với Singapore: năm 1961 là thời điểm quốc gia này bắt đầu tiến hành Kế hoạch phát triển quốc dân 4 năm (1961 - 1964) và năm 1979 là mốc nước này đạt tới quy chế một NIC Đông Á
+ Đối với Hàn Quốc: 1961 - 1979 là giai đoạn Tổng thống Park Chung-hee lên cầm quyền Năm 1979 cũng là mốc thời gian Hàn Quốc được công nhận là một nước công nghiệp hóa mới ở Đông Á
3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu so sánh về nguồn lực con người, nguồn lực tài chính và các giải pháp khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực đó trong hai thập niên đầu của thời kỳ công nghiệp hóa của Singapore và Hàn Quốc
Về nguồn lực tài chính, luận án đề cập chủ yếu tới thực trang nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc trước khi bắt đầu công nghiệp hóa, chính sách khai thác, sử dụng và phát huy nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) trong giai đoạn 1961-1979
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án vận dụng học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, quan điểm và đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước như phương pháp luận để nghiên cứu đề tài luận án
4.2 Phương pháp tiếp cận
Vấn đề nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính thường được tiếp cận dưới góc độ kinh tế học Tuy nhiên, do đề tài luận án thuộc chuyên ngành Đông Phương học, nên nghiên cứu sinh chọn cách tiếp cận liên ngành, kết hợp một cách hợp lý và thỏa đáng các cách tiếp cận của một số ngành khoa học có liên quan như Khu vực học, Sử học, Kinh tế học và Xã hội học…
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Với phương pháp tiếp cận trên, luận án đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 16- Đề tài luận án là một đề tài nghiên cứu so sánh, nên phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu chính và được sử dụng xuyên suốt trong quá trình đề cập tới các nội dung khác nhau của luận án
- Phương pháp phân tích lịch sử được tiến hành dựa trên các dữ kiện liên quan đến đề tài Cụ thể hơn, luận án tiến hành đánh giá, phân tích cách tiếp cận, huy động
và sử dụng các nguồn lực của Singapore và Hàn Quốc qua từng thời kỳ lịch sử trong giai đoạn 1961-1979
- Phương pháp thống kê và phân tích định lượng cũng được sử dụng trong việc tìm kiếm, phân tích các số liệu cần thiết phục vụ đề tài
- Các thao tác Phân tích SWOT được sử dụng để giúp tìm ra những ưu điểm, hạn chế, cơ hội cũng như thách thức trong việc phát triển và sử dụng các nguồn lực trên
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia và một vài phương pháp nghiên cứu cụ thể cần thiết khác
5 Nguồn tƣ liệu sử dụng viết luận án
Nguồn tư liệu sử dụng để viết luận án gồm hai nguồn chính: 1) tài liệu gốc, 2) tài liệu tham khảo Phần lớn các tư liệu này được thu thập tại Thư viện trường Đại học Quốc gia Singapore, Thư viện Quốc hội Hàn Quốc, Thư viện Đại học Sogang Hàn Quốc, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á và Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam…
-Tài liệu gốc bao gồm:
+ Các văn kiện về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Singapore và Hàn Quốc, từ khi giành độc lập tới cuối những năm 80 thế kỷ XX, tiêu biểu như Kế hoạch phát triển 1961-1979 (Development Plan 1961-1979) của Chính phủ Singapore, Các
Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế (경제개발 5개년 계획 - 經濟開發五個年計劃) của Chính phủ Hàn Quốc
+ Các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo hai nước trên liên quan tới phát triển
và chiến lược phát triển của đất nước Đặc biệt, luận án tập trung khai thác các tập hồi
ký của cố Thủ tướng Lee Kuan Yew và Tổng thống Park Chung-hee
+ Các số liệu thống kê do các cơ quan có thẩm quyền của Singapore và Hàn Quốc công bố về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là của Cục thống kê Singapore và Hàn Quốc
- Tài liệu tham khảo bao gồm:
Trang 17+ Các công trình khoa học của các học giả trong và ngoài nước về chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc được công bố bằng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nga và tiếng Trung
+ Thông tin thu thập sau những cuộc trao đổi trực tiếp hoặc qua email với một
số nhà nghiên cứu đầu ngành về Singapore và Hàn Quốc như GS Park Tae-gyun (Đại học Quốc gia Seoul), GS Jung Byung-joon (Đại học nữ Ewha), GS Andrew Kim Eungi (Đại học Hàn Quốc), PGS.TS Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore), GS.TS Lê Quang Thiêm (Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn), PGS.TS Hoa Hữu Lân (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội), PGS.TSKH Trần Khánh (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), PGS.TS Hoàng Thị Thanh Nhàn (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), TS Nguyễn Huy Hoàng (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á) Những quan điểm, ý kiến của các học giả và các nhà nghiên cứu nêu trên là nguồn tham khảo hữu ích giúp tác giả định hướng và thực hiện luận án này
6 Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống, dưới góc độ so sánh, về nguồn lực, vai trò và chính sách khai thác sử dụng nguồn lực, đặc biệt là nhân lực và tài lực của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa (1961-1979)
Những đóng góp mới về khoa học của luận án là:
Thứ nhất, luận án đã làm rõ được những tương đồng và khác biệt về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc trước khi thực hiện công nghiệp hóa
Thứ hai, luận án đã tiến hành phân tích và so sánh một cách có hệ thống và chi tiết việc triển khai các chính sách đào tạo, sử dụng nguồn lực con người cũng như cách thức thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư nội sinh và ngoại sinh của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu so sánh và phân tích những thành công và hạn chế trong chính sách về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979, luận án rút ra một số kinh nghiệm khả dụng đối với Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách phát triển, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa
Thứ tư, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn những đặc điểm trong mô hình tăng trưởng Đông Á, nhất là về vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước trong phát triển kinh tế- xã hội Các kết quả đó cũng góp phần giải thích căn nguyên dẫn tới phiên bản Singapore và phiên bản Hàn Quốc của mô hình tăng trưởng Đông Á, cung cấp thêm tư liệu cho việc tiếp tục nghiên cứu về mô hình này trong tương lai
Trang 18Cuối cùng, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm cơ sở thực tế cho lý thuyết về mối quan hệ giữa nguồn lực phát triển và tăng trưởng kinh tế Dựa vào hàm sản xuất tân cổ điển có mở rộng biến, mô hình nghiên cứu của luận án được xây dựng gồm các biến là tăng trưởng kinh tế, nguồn lực con người, nguồn vốn tài chính, có bổ sung thêm biến kiểm soát là độ mở thương mại Thông qua việc kiểm chứng lý thuyết ngoại sinh qua hai trường hợp cụ thể là Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979, luận án khẳng định vai trò và ý nghĩa của nguồn vốn con người và nguồn vốn tài chính trong phát triển kinh tế của quốc gia
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu & Kết luận, luận án gồm 5 chương chính, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này đề cập và đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài, từ đó xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạch định phát triển của Singapore và Hàn Quốc đầu thập niên 1960
Ở chương này, luận án phân tích cơ sở lý thuyết, các tiền đề phát triển của Singapore và Hàn Quốc ở đầu thập niên 1960 Qua đó, làm rõ tầm quan trọng của nguồn lực con người và nguồn vốn đầu tư tới sự phát triển của hai nước trên
Chương 3: Nguồn lực con người của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 1979: Nhìn từ góc độ so sánh
-Dưới góc độ so sánh, chương này khảo sát một cách có hệ thống về (1) vai trò của nguồn lực con người đối với phát triển, (2) các chính sách phát triển nguồn lực, (3) phương thức quản lý - phát huy nguồn lực con người của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn 1961-1979
Chương 4: Nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979: Nhìn từ góc độ so sánh
Nội dung của chương này bao gồm những phân tích có tính hệ thống về (1) nhu cầu nguồn vốn đầu tư đối với việc triển khai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2) cách thức huy động và (3) cách thức quản lý, phân bổ nguồn vốn đầu tư của Singapore
và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979
Chương 5: Nhận xét chung về nguồn lực phát triển của Singapore - Hàn Quốc
và bài học tham khảo cho Việt Nam
Ở chương cuối cùng này, tác giả sẽ đưa ra những nhận định, đánh giá của mình
Trang 19Singapore và Hàn Quốc, (2) liên hệ và đưa ra một số gợi ý về định hướng phát triển nguồn lực con người và nguồn lực tài chính để đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam trong thời gian tới
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Với những thành tựu phát triển thần kỳ của các con rồng Châu Á, từ rất lâu, đề tài nghiên cứu về chiến lược phát triển của các quốc gia này đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Họ xem xét chiến lược phát triển của các quốc gia này như là một nguyên nhân trọng yếu đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước Mục đích chính của chương này là trên cơ sở (1) xác định chủ đề chủ yếu trong các tài liệu khoa học nghiên cứu so sánh về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 mà tác giả sẽ đề cập tới (2) những vấn đề nghiên cứu chính của luận án này
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài
1.1.1 Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc
Mặc dù đã có không ít đề tài so sánh về chính sách phát triển của các nước NICs nhưng thường các tác giả chỉ dẫn dụ về một số khía cạnh nhất định như phát triển kinh tế, giáo dục, nhân lực Thực tế khảo sát cho thấy, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu nguồn lực phát triển dựa trên sự so sánh những điều kiện giữa hai quốc gia Singapore và Hàn Quốc Hi vọng rằng, việc điểm lại một cách khái quát những công trình nghiên cứu hiện có đề cập tới chủ điểm phát triển của hai quốc gia sẽ giúp tác giả lý giải cơ sở lý thuyết sẽ được trình bày ở chương tiếp theo Và để minh chứng cho tầm quan trọng của luận án này, chúng tôi cũng sẽ đề cập tới một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Những đề tài tập trung nghiên cứu so sánh dường như chỉ có các đề tài thiên về chiến lược phát triển kinh tế, giáo dục và thường lấy Singapore hoặc Hàn Quốc làm đối tượng so sánh với một quốc gia khác hoặc chỉ là những luận văn ở trình độ thạc sỹ
Trong số đó, đáng chú ý là đề tài Nghiên cứu so sánh chiến lược phát triển kinh
tế của Hàn Quốc và Nhật Bản (Development strategies of Japan and the republic of
Korea: A comparative study) của hai nhà nghiên cứu Tuvia Blumenthal và Chung
Trang 20H.Lee năm 1985 Các tác giả đã tìm hiểu về điểm tương đồng trong kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc và Nhật Bản như đường lối phát triển, hệ thống giáo dục, cơ cấu công nghiệp, vai trò của Chính phủ… và điểm khác biệt chính là về mức độ cũng như điều kiện khác nhau khi bắt đầu thời kỳ tăng trưởng cao Tuy nhiên với dung lượng
13 trang, nghiên cứu mới chỉ đề cập một cách khái quát, sơ lược
Năm 1990, "cha đẻ" chiến lược cạnh tranh Michael E.Porter dựa trên nghiên
cứu thực địa tại nhiều quốc gia đã xuất bản cuốn sách The competitive Advantage of
Nations (Lợi thế cạnh tranh quốc gia) Tác giả đã cố gắng lý giải nguồn gốc của sự
thịnh vượng bền vững trong nền kinh tế toàn cầu Theo ông, lợi thế so sánh "dựa vào nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn tài chính bản thân những yếu tố đầu vào đó ngày càng trở nên ít giá trị trong một nền kinh tế toàn cầu hóa" [Michael, 1990, tr.12] Bằng việc so sánh một số vấn đề của các quốc gia trong nhóm NICs, Michael E.Porter tỏ ra nghi ngờ về khả năng duy trì và mở rộng lợi thế cạnh tranh quốc gia của Hàn Quốc
Trong báo cáo The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy
(Sự thần kỳ Đông Á: tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng), năm 2003 Ngân hàng Thế giới đã khẳng định:
Sự tăng trưởng đầy ấn tượng của Đông Á nói chung và Hàn Quốc nói riêng phần nhiều do có sự tích lũy siêu việt nguồn vốn vật chất và con người Nhưng những nền kinh tế này còn có một khả năng cao hơn các nền kinh tế khác là sự phân phối các nguồn lực vào các khu vực đầu tư
có hiệu quả Họ đã làm được như vậy với sự kết hợp của chính sách bao gồm nền tảng định hướng thị trường và sự khéo léo của chính phủ
Đó là nhận định chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu dữ liệu của thập niên 1980 Thập niên 1960 và 1970 dường như chỉ được điểm qua trong báo cáo này
Cũng trong năm 2003, hai nhà nghiên cứu kinh tế Lawrence J Lau (Đại học Stanford) và Jungsoo Park (Đại học bang New York) trong báo cáo The Sources of
East Asian Economic Growth Revisited (Khảo sát lại nguồn lực của sự tăng trưởng
kinh tế các nước Đông Á) đã nhận định rằng nguồn vốn nhân lực, vốn vật chất chính là nguồn tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Á những năm 60, 70 Tuy nhiên, các tác giả tập trung nghiên cứu tới vai trò của nguồn vốn phi vật chất từ giai
Trang 21đoạn nửa cuối thập niên 1980 Các tác giả nhấn mạnh rằng, vốn phi vật chất (vốn đầu tư R&D) đóng góp mạnh mẽ cho sự tăng trưởng ở các quốc gia NIEs Đông Á
Năm 2003, giáo sư Richard H K Vietor - Trường kinh doanh Harvard đã xuất
bản cuốn sách How countries compete: strategy, structure, and government in the
global economy (Các quốc gia cạnh tranh như thế nào?” - Chiến lược, Cấu trúc và
Chính phủ trong kinh tế toàn cầu) Từ nghiên cứu thực tiễn 10 quốc gia (Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Mê-hi-cô, Nam Phi, Ấn Độ, Italia, Nga và Ả-rập Xê-út), tác giả cho rằng bốn nhân tố cho phát triển kinh tế thành công là: (1) chiến lược quốc gia, (2) cơ cấu kinh tế, (3) phát triển nguồn lực, và (4) sử dụng hiệu quả các nguồn lực Trong đó, Richard H K Vietor nhấn mạnh rằng: Chiến lược, dù công khai hoặc không công khai, cũng đều chứa các yếu tố kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô Cơ cấu tổ chức là tập hợp các định chế (cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) mà một chính sách quốc gia được tạo ra để thực thi chiến lược của quốc gia đó Cả chiến luợc và cơ cấu phải phát triển được các nguồn lực (nguồn lực tự nhiên, con người, công nghệ và vốn) và chọn phương thức đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực này Giáo sư đánh giá cao vai trò lãnh đạo và phân bố nguồn lực của chính phủ Singapore Ông cũng khẳng định rằng, chính phủ Singapore đã biến quốc gia nhỏ bé này sánh ngang bằng với các nước OECD
Ngân hàng thế giới nhiều năm nay cũng đã chủ trì nhiều công trình nghiên cứu
đề cập tới sự phát triển thần kỳ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Singapore
và Hàn Quốc Những công trình đó đều thường nhấn mạnh tới vai trò của giáo dục tới
tăng trưởng kinh tế, ví dự như Education Quality and Economic Growth (Chất lượng
giáo dục và tăng trưởng kinh tế) năm 2007
Với bài nghiên cứu công bố năm 2008 Singapore’s Economic Growth Model:
Too Much or Little? (Mô hình phát triển kinh tế của Singapore: quá nhiều hay quá ít?),
giáo sư Linda Lim (Đại học Michigan, Mỹ) đã phân tích mô hình phát triển kinh tế của Singapore trong vòng 40 năm từ 1965 tới 2005 Tác giả cũng đã cố gắng làm rõ một số đặc điểm của mô hình phát triển kinh tế Singapore trong sự so sánh một số điểm với một số quốc gia trong khu vực Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc Qua đó, tác giả nhấn mạnh tới tính mở của nền kinh tế Singapore, lợi thế cạnh tranh, quá trình hội nhập vào kinh tế thế giới và đề cao sự phát triển bền vững của quốc gia này
Trang 22Năm 2011, học giả Ryu Jee-seong (Viện Nghiên cứu kinh tế Samsung) đã báo cáo kết quả nghiên cứu “한중 인재경쟁력 비교 연구 - 과학기술인재를 중심으로” (Nghiên cứu so sánh năng lực cạnh tranh nhân tài Hàn - Trung: Tập trung vào nhân tài tài khoa học công nghệ) Tuy nhiên, đề tài chủ yếu phân tích đánh giá dựa trên tư liệu thu thập từ năm
2009 trở đi, chỉ điểm qua tình hình phát triển nhân lực của Hàn Quốc đầu thập niên 1960
Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Singapore về trọng tâm nghiên cứu
so sánh, có thể đề cập tới đề tài nghiên cứu HongKong and Singapore as International Financial Centré: A Comparative Functional Perspective (Hồng Kông và Singapore -
trung tâm tài chính quốc tế: một quan điểm so sánh) của giáo sư Ng Beoy Kui - Trường Đại học công nghệ Nanyang, Singapore năm 1998 Tác giả đã phác họa một cách khái quát về quá trình hình thành và phát triển của trung tâm tài chính quốc tế ở Hồng Kông và Singapore Thông qua việc phân tích 6 chức năng của một trung tâm tài chính quốc tế, giáo sư đã so sánh về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức phát triển (mô hình SWOT) của hai quốc gia này như một đối trọng về dịch vụ tài
chính Ngoài ra, chuyên khảo Kinh nghiệm phát triển của Singapore (Development
Experience of Singapore) được các nhà nghiên cứu Tan Teck Meng, Low Aik Meng
và Chew Soon Beng (Trường NTU Singapore) biên tập và xuất bản năm 1995 cũng là công trình có giá trị Cuốn sách đề cập tổng quan về kinh nghiệm phát triển của Singapore, từ phương pháp quản lý, đào tạo hệ kế toán viên, khai thác tối đa nguồn lực kinh tế, nắm bắt phân tích và sự thay đổi nền kinh tế Singapre; cho đến vai trò của đào tạo đại học, sau đại học ở Sigapore hay các chính sách tỷ giá hối đoái, tiết kiệm, tiền lương, thuế singapore của Singapore Một số chương của cuốn sách cũng được các tác giả đối chiếu so sánh liên hệ giữa Singapore với một số nước châu Á, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu khai thác
dữ liệu ở giai đoạn sau năm 1980
Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc về trọng tâm nghiên cứu
so sánh, quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan được khái quát qua
đề tài Khủng hoảng và tái cơ cấu của các quốc gia phát triển Đông Á: nghiên cứu so
sánh Hàn Quốc và Đài Loan (동아시아 발전국가의 위기와 재편 : 한국과 대만 비교연구) của tác giả Yun Sang-u, năm 2002 Tác giả cho người đọc cái nhìn tổng quan trong sự so sánh
từ chính sách phát triển công nghiệp, chính sách tài chính cho tới chính sách lao động
Trang 231.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nội dung chương 2 “Con đường phát triển của các NIEs Châu Á: những bài học
kinh nghiệm” của cuốn Con đường phát triển của một số nước Châu Á - Thái Bình
Dương do PGS.TS Dương Phú Hiệp chủ biên xuất bản năm 1996, các tác giả đã phân
tích những tiền đề của sự phát triển, kinh nghiệm chung về các vấn đề kinh tế; một số kinh nghiệm phát triển kinh tế đặc thù; kinh nghiệm giải quyết các vấn đề chính trị, pháp luật; kinh nghiệm giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội và giáo dục và những mặt trái của NIEs Châu Á Mặc dù không đặt trọng tâm so sánh song một số nội dung
so sánh cũng được đề cập trong nội dung phân tích
Năm 2001, nhóm tác giả do PGS.TS Phạm Đức Thành chủ biên đã giới thiệu
công trình nghiên cứu Đặc điểm Con đường phát triển kinh tế - xã hội của các quốc
gia Châu Á (NXB Khoa học Xã hội) Với 35 trang của chương 4 (phần 2), các tác giả
đã khái quát về đặc điểm Chủ nghĩa tư bản Singapore sau khi đề cập tới đặc điểm về đất nước, con người và lịch sử và những chiến lược phát triển cơ bản Các tác giả cũng đã dành một phần để bình luận, đánh giá đặc điểm Chủ nghĩa tư bản của các nước ASEAN và đề cập một vài điểm tương đồng giữa Singapore với các nước trong khu vực
1.1.2 Nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc
Khi tìm hiểu về các chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc, các học giả nước ngoài từ trước tới nay hầu hết đều tập trung nghiên cứu chính sách cải cách kinh tế, chính sách cải cách giáo dục, phát triển nguồn nhân lực… của hai quốc gia này như là thành tố để phát triển đất nước và biến chuyển xã hội, đặc biệt trong giai đoạn cận hiện đại
1.1.2.1 Trọng tâm nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore
Sự cất cánh của Singapore thập niên 1970 đã tạo nên sức hút nghiên cứu từ giới học thuật trên toàn thế giới Tất cả đều quan tâm tìm kiếm nguyên nhân tạo nên thành công, biến đảo quốc nhỏ bé với những đầm sình lầy buổi ban đầu thành một trung tâm tài chính của thế giới
Tổng kết lại công trình nghiên cứu Trade, Employment and Industrialisation in
Singapore (Thương mại, việc làm và công nghiệp hóa ở Singapore) năm 1982, hai nhà
nghiên cứu Linda Limn và Pang Eng Fong nhấn mạnh tới yếu tố Khổng giáo, chính
Trang 24sách việc làm cũng như vai trò của chính phủ Singapore trong việc thực thi chiến lược phát triển
Trong số những nhà nghiên cứu về Singapore, không thể không nhắc tới nhà nghiên cứu WG Huff Từ kinh nghiệm quan sát thực tế ở Singapore, ông đã viết hàng
loạt cuốn sách đề cập tới sự tăng trưởng kinh tế Singapore Trong số đó, cuốn sách The
economic growth of Singapore: Trade and development in the twentieth century (Tăng
trưởng kinh tế của Singapore: Thương mại và phát triển trong thế kỷ XX) được phát hành bởi NXB Trường Đại học Cambridge năm 1994 Với dung lượng 472 trang, W.G.Huff cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan toàn diện về sự phát triển kinh
tế của Singapore - trung tâm thương mại và tài chính hàng đầu ở Đông Nam Á trong suốt thế kỷ XX Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập tới sự phát triển kinh tế Singapore dựa trên một vị trí chiến lược tại ngã tư của châu Á, một nền kinh tế tự do thương mại, và một truyền thống kinh doanh năng động Huff đánh giá cao sự tương tác các chính sách của chính phủ và các lực lượng thị trường, và đặt sự chuyển đổi của nền kinh tế Singapore trong bối cảnh cả lý thuyết và kinh nghiệm của những nơi khác
ở Đông Á phát triển
Năm 1996, hai tác giả Geoffrey Murray và Andrey Pereta đã phác họa sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia - thành phố trong vòng 30 năm (1965 - 1995) qua
chuyên khảo The Global City - State (Quốc gia thành phố toàn cầu) của NXB Palgrave
Macmillan Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của yếu tố ngoại lực và quá trình hội nhập quốc tế của Singapore với tư cách là một mắt xích quan trọng trong nền kinh
tế toàn cầu
Một tác phẩm chuyên khảo khác được nhiều độc giả tìm đọc đó là cuốn
Singapore’s Success (Bài học thành công của Singapore) của tác giả Henri Ghesquiere
Cùng với 2 năm kinh nghiệm làm việc ở vị trí Giám đốc Trung tâm Huấn luyện khu vực của Quỹ tiền tệ Quốc tế tại Singapore, Henri Ghesquiere dường như đã thấu hiểu
và cảm nhận rõ về “sự phát triển thần kỳ” của đảo quốc này Qua 6 phần với những tiêu đề rất rõ ràng, cụ thể, tác phẩm của ông đi sâu vào phân tích, đánh giá một cách khách quan những nguyên nhân tạo nên thành tựu thần kỳ đáng kinh ngạc của đảo quốc Sư tử mà chủ yếu nằm ở các chính sách kinh tế và cơ cấu quản lý điều hành chặt chẽ, khoa học Tác giả cũng đã chỉ ra cả những cái giá phải trả, những điểm bất cập tồn tại trong sự phát triển mạnh mẽ của đảo quốc này Tổng kết những điều đã viết,
Trang 25Henri Ghesquiere đã rất cẩn trọng khi không cho đó như một kiểu mẫu có thể sao chép cứng nhắc, mà nhấn mạnh những nguyên tắc chung mà các quốc gia có thể áp dụng tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình
Trong số nhiều bài báo nghiên cứu về chính sách giáo dục, chính phát triển
nguồn nhân lực của Singapore đáng chú ý là: Human Capital Development in
Singapore: An Analysis of National Policy Perspectives (Phát triển nguồn vốn con
người ở Singapore: một phân tích từ góc nhìn chính sách quốc gia) của tác giả AAhad
M Osman-Gani, Trường Đại học Công nghệ Nanyang Singapore hay Education and
human capital management in a world city: the case of Singapore (Giáo dục và quản
lý vốn nhân lực trong thành phố thế giới: trường hợp Singapore) năm 2011 của các nhà nghiên cứu K C Ho và Yun Ge (Trường Quốc gia Singapore.) Các bài viết trên
đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị, nhất là giai đoạn sau 1980
Với nhấn định Singapore sẽ tiếp tục triển khai chính phát phát triển nguồn nhân
lực ở thế kỷ XXI, Peng Boo Tan (1997) trong báo cáo Human Resource development
for continued economic growth: The Singapore Experience (Phát triển nguồn lực con
người cho sự tăng trưởng kinh tế tiếp tục: Kinh nghiệm Singapore) cho thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với phát triển bền vững của Singapore Bàn về nguồn nhân lực thập niên 1970 của tác giả chủ yếu liên quan tới vấn đề đào tạo phổ thông và đào tạo hướng nghiệp
Bất cứ ai khi tìm hiểu về Singapore đều không thể bỏ qua cuốn hồi ký dài hai tập
của nguyên Thủ tướng Lee Kuan-yew (1998) Cuốn The Singapore Story (Câu chuyện
Singapore) được cấu trúc thứ tự thời gian, từ đó đưa ra một câu chuyện rất mạch lạc tái hiện từ thời thơ ấu của Lee Kuan-yew cho đến năm 1965, khi Singapore tách ra khỏi
liên bang Malaysia Cuốn From Third World to First: The Singapore Story: 1965-2000
(Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore: 1965-2000) trình bày
sự chuyển đổi của Singapore để trở thành quốc gia thuộc thế giới thứ nhất Những khó khăn cũng như bối cảnh ở thời kỳ đầu phát triển, những quan điểm và quyết sách phát triển được cố thủ tướng nhắc đến một cách sống động và chi tiết Cố Thủ tướng Lee Kuan-yew nhấn mạnh rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ Ông cũng đề cập tới giá trị Châu Á với đặc trưng nổi bật là đề cao các giá trị cần cù, hiếu học, tôn trọng các giá trị gia đình và cộng đồng, từ đó có vai trò tích cực đối với sự phát triển thần kỳ của Singapore cũng như nhiều nước Châu Á từ
Trang 26những thập niên 70
Trong giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm tới sự phát triển của Singapore, PGS.TSKH Trần Khánh được xem là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên với việc
đóng góp nhiều công trình nghiên cứu về quốc gia này Trong số đó có cuốn Thành
công của Singapore trong phát triển kinh tế (NXB Chính trị Quốc gia, năm 1993) Cuốn
sách đã đề cập một và khía cạnh của sự thành công trong lĩnh vực kinh tế song chưa đi sâu phân tích các nguồn lực của sự phát triển của Singapore Bên cạnh đó, với bài
nghiên cứu Kinh nghiệm phát triển sức mạnh quốc gia của Cộng hòa Singapore (đăng
số 10/2008, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á), nhà nghiên cứu Trần Khánh đã khái quát một số kinh nghiệm của Singapore trong phát triển đất nước như khai thác thế mạnh vị trí địa lí, môi trường quốc tế thuận lợi, đề cao ổn định chính trị và chính sách vĩ mô… Qua phân tích đó, tác giả đã chỉ ra rằng Singapore là một trong những trường hợp điển hình về phát triển sức mạnh quốc gia
Với bài báo Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công trong phát triển đất
nước của Singapore đăng trên số 4/2004 Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tác giả Lê
Thanh Hương đã đề cập tới những nguyên nhân tạo nên thành công của Singapore theo cách tiếp cận lịch sử và tâm lý học văn hóa Giống như phần lớn các nhà nghiên cứu khác, tác giả nhận định: thành công của Singapore là do chính phủ biết nhìn nhận, đánh giá đúng tình trạng đất nước mình và biết học tập sáng tạo những kinh nghiệm của các quốc gia có chung điểm tương đồng để tìm ra con đường phát triển riêng trên
cơ sở xác định con người là nguồn quý giá và duy nhất để xây dựng và phát triển quốc gia một đa dân tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa
Cuốn sách Singapore - Đặc thù và giải pháp của PGS.TS Dương Văn Quảng3
(2005) đưa đến cho độc giả những thông tin cơ bản về đất nước và con người đang sinh sống, học tập và lao động ở đảo quốc Sư tử Tác giả cũng bày tỏ suy nghĩ và đánh giá cá nhân về những đặc thù và giải pháp mà Singapore đã tiến hành để khắc phục những “khiếm khuyết” của mình Theo ông, Singapore là một quốc gia đặc thù theo nghĩa đầy đủ của từ này: đặc thù về vị trí địa lý, về diện tích, về lịch sử, dân cư và thể chế Tác giả đặc biệt đi sâu phân tích về chiến lược phát triển độc đáo của Singapore với vai trò của ngoại giao và đề cao yếu tố con người
Trang 27Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, tư tưởng chỉ đạo của các nhà lãnh đạo Singapore là đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược xây dựng và phát triển đất nước Con người quyết định mọi thành bại Vấn đề là đặt con người vào đúng vị trí của họ, rồi giải phóng và định hướng họ để họ có thể lao động và sáng tạo theo đúng khả năng và sở trường
Trong số những công trình nghiên cứu vể Singapore của giới nghiên cứu tại
Việt Nam có thể kể tới công trình Chiến lược phát triển của các nước Đông Nam Á do
PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ làm chủ biên Tập thể tác giả PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ, PGS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Hoa Hữu Lân, PGS.TSKH.Trần Khánh đã dành một trong năm chương của phần đầu tiên viết về chiến lược phát triển của Cộng hòa Singapore Các tác giả đã cho cung cấp cái nhìn tổng quan về tiền đề phát triển, chiến lược phát triển và thành tựu phát triển của Singapore sau 40 năm kể từ năm 1960 song chủ yếu đề cập tới lĩnh vực phát triển kinh tế
1.1.2.2 Trọng tâm nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Hàn Quốc
Năm 2003, trong cuốn Korea’s Economic Miracle: Fading or Reviving? (Kì
tích kinh tế của Hàn Quốc: biến mất hay tái sinh?), Charles Harvie và Lee Hyun-hoon
đã ghi chép và phân tích các yếu tố quan trọng đằng sau phép lạ kinh tế của Hàn Quốc
từ 1962-1989 và những nguyên nhân góp phần vào sự suy thoái kinh tế và khủng hoảng tiếp theo 1997-1998
Cuốn Korea at the Center: dynamics of Regionalism in Northeast Asia (Hàn
Quốc tại vị trí trung tâm: sự năng động của Chủ nghĩa khu vực ở Đông Bắc Á) của tập thể 4 tác giả gồm Charles K.Amstrong, Gilbert Rozman, Stephen Kotkin, Samuel S Kim đặt Hàn Quốc trong tương quan lịch sử với các nước lớn trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc… Các tác giả cho rằng vị trí của Hàn Quốc ở trung tâm của Đông Bắc Á mang lại cho quốc gia này một vai trò quan trọng trong hội nhập kinh tế của khu vực và sự phát triển năng động của các nước láng giềng hùng mạnh hơn
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã chú tâm nghiên cứu về sự phát
triển của đất nước mình trên nhiều lĩnh vực, có thể kể đến công trình The Role of
Foreign Capital in the Korean Economy: A Driving Force of Economic Development
or Financial Crisis? (Vai trò của vốn nước ngoài trong nền kinh tế Hàn Quốc: động
lực của phát triển kinh tế hay khủng hoảng tài chính) năm 1999 Tác giả Bang Nam Jeon (Trường Đại học Drexel) đã phân tích về vai trò của vốn nước ngoài tới kinh tế
Trang 28Hàn Quốc với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Nhà nghiên cứu đã nhận định rằng Hàn Quốc đã dựa quá nhiều trên các dòng vốn ngắn hạn để bù đắp cho thâm hụt tài khoản vãng lai hoặc để tài trợ đầu tư và phát triển kinh tế Với dung lượng 23 trang, tác giả mới chỉ đề cập sơ bộ về tình hình huy động vốn FDI của Hàn Quốc từ những năm 60 cho tới cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
Năm 2002, Kim Yun-tae trong dự án nghiên cứu của Viện phát triển năng lực nghề nghiệp Hàn Quốc là 한국 인적자원개발정책의 분석 및 평가: 1962-2002 (Phân tích
và đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc: 1962-2002) đã đề cập tới
lí do Hàn Quốc phải trọng dụng giáo dục nguồn lực là thiếu nguồn lực cơ bản để phát triển quốc gia Tác giả đã dành 66 trang trong tổng số 206 trang đề cập tới chính sách phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc trong thập niên 60 và 70 và nhấn mạnh tới sự ảnh hưởng của bối cảnh chính trị tới việc quyết định chính sách phát triển
Kim Hyung-a là học giả tiêu biểu nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc với một loạt những ấn phẩm liên quan Trong số đó, với dung lượng 221 trang (chưa kể phần chú thích và phụ lục), tác giả đã khai thác rất nhiều nguồn tư liệu
mới qua cuốn sách Korea’s Development under Park Chung Hee (Sự phát triển của
Hàn Quốc dưới thời Park Chung Hee) 4 xuất bản lần đầu năm 2004 Công trình dẫn dắt người đọc tìm hiểu về tiểu sử của Park Chung-hee và sự phát triển thần tốc của Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 và ông cho rằng bất kỳ sự phán xét nào về Tổng thống Park Chung-hee không thể tách rời công lao của cố Tổng thống trong bối cảnh chính trị kinh tế xã hội, văn hóa bấy giờ
Hai nhà nghiên cứu Kim So-young - Yang Doo Yong đã tiến hành phân tích
dòng chảy vốn và các chính sách quản lý của Hàn Quốc trong Managing Capital
Flows: The Case of the Republic of Korea (Quản lý dòng chảy vốn: trường hợp Hàn
Quốc), tuy nhiên số liệu nghiên cứu chỉ tập trung ở giai đoạn 1980 - 2006
Với báo cáo nghiên cứu dài 30 trang 박정희 시대의 자본축적의 모순: 발전국가론
비판(Mâu thuẫn trong tích lũy vốn thời kỳ Park Chung-hee: phê phán lý luận về quốc gia phát triển), giáo sư Kim Chang-geun (Đại học Yonsei) đã tóm lược quá trình chuyển đổi chiến lược phát triển kinh tế ở Hàn Quốc từ đầu thập niên 1960 cho tới nửa
Trang 29đầu thập niên 1980 cũng như quá trình tích lũy vốn, biến Hàn Quốc thành quốc gia vay nợ ở giai đoạn sau đó Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến vị trí địa chính trị của Hàn Quốc thời kỳ chiến tranh lạnh và cho đó là nguyên nhân khiến Hàn Quốc nhận được nhiều sự chi viện của Mỹ và không bị rơi vào khủng hoảng tài chính như một số nước Nam Mỹ những năm 19805
Giáo sư Lee Young-hoon của Đại học Quốc gia Seoul đã có báo cáo nghiên cứu
박정희정부 개발정책의 경제사적 배경(Bối cảnh lịch sử kinh tế của chính sách phát triển thời kỳ Park Chung-hee) năm 2011 Báo cáo khẳng định nguyên nhân tạo nên “kỳ tích sông Hàn” (한강의 기적) chính là những “tiềm năng tăng trưởng” (성장의 잠재력) được tích lũy từ nội tại xã hội và kinh tế của Hàn Quốc Ông nhấn mạnh tới ý chí phát triển (개발의지 - will-to develop) của các chính trị gia xuất thân từ quân đội của Hàn Quốc
và nguồn vốn xã hội (사회적 자본) cũng như vốn nhân lực (인적 자본) liên tục được tích lũy trong xã hội Hàn Quốc hơn là năng lực doanh nghiệp (기업가능력)
Năm 2011, sự ra đời của cuốn sách Park Chung Hee ERA: The Transformation
of South Korea (Kỷ nguyên Park Chung-hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn
Quốc) đã tạo nên một tiếng vang lớn, góp phần “giải mã” câu chuyện phát triển thần
kỳ của Hàn Quốc của hai học giả Kim Byung-Kook6 và Ezra F Vogel Nội dung Kinh
tế và Xã hội (Economy and Society) ở phần 3 phân tích sự phát triển về kinh tế, xã hội
nông thôn và Quan hệ quốc tế ở phần 4 (International Relations) thảo luận về quan hệ
Mỹ-Hàn trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh Việt Nam Công trình đã làm sáng tỏ cách thức để Hàn Quốc trở thành một cường quốc kinh tế mạnh mẽ với một nền dân chủ sôi động trong 18 năm cầm quyền của tổng thống Park Chung Hee
5 Khủng hoảng nợ của Châu Mỹ La-tinh thập niên 80 được biết đến với cái tên “Thập kỷ mất mát” và đã manh nha từ những năm 1970 Cơn bão khủng hoảng bắt đầu từ Mexico vào năm 1982 khi quốc gia này tuyên bố vỡ
nợ, kéo theo hầu hết các quốc gia khác trong khu vực cũng vỡ nợ theo như Brazil, Venezuela, Argentina…Thời
kỳ đó, các nước Mỹ La-tinh như Brazil, Argentina và Mexico đã có những bước phát triển khá ấn tượng, chủ yếu
do vay nợ nước ngoài quy mô lớn với mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở
hạ tầng Tuy nhiên đến đầu thập niên 1980, các nước này bắt đầu gặp khó khăn trong việc trả nợ Từ giữa
1975-1982, các khoản nợ công của các nước Mỹ La-tinh đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đã tăng lên đến 20% Cùng với đó là việc Mỹ và châu Âu theo đuổi chính sách thắt chặt, dẫn đến lãi suất tăng cao khiến các khoản nợ của các nước Mỹ La-tinh gia tăng chi phí trả lãi vay Các nước này phải huy động các nguồn lực
để trả nợ vay, hệ quả là sản lượng trong nước và tiêu dùng suy giảm [Kaminsky Graciela L & Carmen M Reinhert (1998), Financial crises in Asia and Latin America: Then and now, Washington DC, pp.]
6 Giáo sư Kim Byung-Kook từng làm việc trong Ban Biên tập Hankukilbo (1994-1995), Ủy ban của Tổng thống
về hoạch định chính sách (1994-1998) và là Thư ký Cấp cao Ngoại giao và An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak vào năm 2008
Trang 30Ngoài ra, những tác phẩm của các nhà lãnh đạo Hàn Quốc cũng có giá trị tham khảo tốt Có thể điểm tên những cuốn sách của cố Tổng thống Park Chung-hee - nhà lãnh đạo có công lớn trong việc dẫn dắt Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua một loạt tác phẩm xuất hiện vào những năm 70, thế kỷ XX
như The Country, the Revolution and I, Our Nation’s Path (1970) (Đất nước, cuộc cách mạng và tôi, con đường của dân tộc chúng ta); To build a Nation (Hướng tới xây dựng một quốc gia) (1971); Korea Reborn: A Model for Development (Sự hồi sinh của
Hàn Quốc: một mẫu hình cho sự phát triển) (1979), độc giả được cung cấp cái nhìn xuyên suốt cả quá trình phát triển của Hàn Quốc, từ những khó khăn, thiếu thốn nguồn lực phát triển cho tới những quyết sách mạnh mẽ trong thời kỳ cất cánh lần thứ nhất
Tại Việt Nam, theo trào lưu nghiên cứu về sự thành công của kinh tế Hàn Quốc
trên thế giới, năm 1996, TS Vũ Đăng Hinh đã xuất bản cuốn Hàn Quốc: nền công
nghiệp trẻ trỗi dậy (NXB Khoa học xã hội) Tác giả đồng tình với ý kiến của giới
nghiên cứu bấy giờ về tầm quan trọng của những yếu tố khách quan - những yếu tố đã tạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển của Hàn Quốc, song nhấn mạnh rằng nỗ lực chủ quan của chính phủ nước này mới đóng vai trò quyết định
Trong tình trạng khan hiếm tư liệu tham khảo về kinh tế Hàn Quốc, cuốn sách
Hàn Quốc: câu truyện kinh tế về một con rồng (Korea: The Economic Story of A
Dragon) xuất bản năm 2005 của PGS.TS Hoa Hữu Lân đã được đông đảo độc giả đón nhận Tác giả đã cố gắng khái quát con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hàn Quốc từ năm 1950 đến những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó tập trung phân tích
về cơ cấu kinh tế - xã hội thông qua các giai đoạn phát triển, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu lên triển vọng kinh tế Hàn Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XXI
Phát triển từ luận án tiến sĩ ngành Lịch sử học, tác giả Hoàng Văn Hiển đã xuất
bản cuốn sách Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc (1961-1993) và kinh
nghiệm đối với Việt Nam gồm 363 trang chia làm 3 chương Chương 1 và chương 2
trình bày có hệ thống toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc trong những năm 1961-1993 với hai mô hình chiến lược hướng nội và hướng ngoại qua hai giai đoạn cất cánh kinh tế lần thứ nhất và thứ hai Qua mỗi giai đoạn, tác giả cũng đã nêu lên những thành tựu tiêu biểu về kinh tế - xã hội và những hạn chế cơ bản của Hàn Quốc trong hơn ba thập niên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ở chương thứ ba,
Trang 31tác giả tập trung phân tích những nguyên nhân và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc Qua đó, tác giả đã đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Hàn Quốc
1.2 Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan và nội dung nghiên cứu của luận án
1.2.1 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án
Thứ nhất, qua những công trình mà tác giả tiếp cận được, cho tới thời điểm
hiện nay, chưa có một nghiên cứu so sánh nào lấy đối tượng trực tiếp là Singapore
và Hàn Quốc
Thứ hai, những công trình của các nhà nghiên cứu Singapore và Hàn Quốc
được đầu tư nghiên cứu một cách công phu trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh ở những giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, do là các học giả bản xứ nghiên cứu các chiến lược, chính sách phát triển của quốc gia mình, nên nhiều khi, cách giải thích, nhìn nhận của họ chưa thực sự khách quan
Thứ ba, đã có một số công trình đề cập tới cơ sở hoạch định chiến lược phát
triển của Singapore và của Hàn Quốc ở thời kỳ sau độc lập Song, những nội dung nghiên cứu này nhưng chưa đề cập một cách đầy đủ tới các tiền đề phát triển chủ quan
và khách quan Nhiều công trình trong số đó chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở cấp độ thạc sỹ
Cuối cùng, đa số công trình đề cập tới thành tựu và hạn chế trong chiến lược
phát triển của Singapore và Hàn Quốc được nghiên cứu và công bố sau năm 1997, tức
là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á Do vậy, những hạn chế được các nhà nghiên cứu đề cập tới thường tập trung nhiều vào vấn đề quản lý tài chính, tiền tệ
1.2.2 Những nội dung được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các công trình trước, luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
Một là, phân tích những nhân tố tác động tới quá trình định hình nội dung và thực thi chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979, lý giải nguyên nhân hai nước trên coi trọng nhân tố nguồn lực con người và nguồn lực tài chính trong phát triển
Hai là, nghiên cứu một cách cụ thể chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực con người cũng như thu hút - hoạt dụng nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 Trên cơ sở đó, làm rõ những tương đồng và khác biệt
Trang 32trong chính sách huy động và sử dụng nguồn nhân lực, tài lực cho phát triển của hai quốc gia trong cùng một khung thời gian và không gian chính trị, kinh tế, văn hóa Đông Á
Ba là, đánh giá vai trò của nguồn lực con người và nguồn lực tài chính đối với
sự phát triển của Singapore và Hàn Quốc cuối thập niên 1970
Cuối cùng, rút ra một kinh nghiệm phát triển chung và riêng của Singapore và Hàn Quốc mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng
Trang 33Tiểu kết
Điểm qua nhiều nguồn tài liệu phong phú trong và ngoài nước liên quan đến luận
án, tác giả nhận thấy đã xuất hiện nhiều những tác phẩm, tác giả nghiên cứu hoặc trình bày về chính sách phát triển kinh tế, giáo dục của hai quốc gia Tuy nhiên, trong số đó chưa có một công trình nào được viết dưới hình thức trình bày tổng thể từ lý luận đến thực tiễn một cách đầy đủ và có hệ thống, xâu chuỗi về các nội dung trong các chiến lược phát triển mà mới chỉ dừng ở một vài khía cạnh, rải rác, sơ lược ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác trong sự kết hợp với vấn đề này hoặc vấn đề khác Hơn nữa, vẫn chưa có tác phẩm, tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong sự đối chiếu so sánh những đặc điểm nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm tiêu biểu, đưa ra những kết luận khoa học, đóng góp cả về nhận thức
và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nói chung, cho Việt Nam nói riêng
Trong luận án này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên, đi sâu phân tích xem xét với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc luận giải
có hệ thống về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc, trọng tâm là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính trong sự tương quan so sánh hai quốc gia Từ đó, luận án hướng tới tìm ra những bài học tham khảo hữu ích cho Việt Nam trên chặng đường xây dựng một quốc gia hiện đại
Trang 34Nội dung chương 2 của luận án đề cập tới những cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan tới chủ đề và giai đoạn nghiên cứu Cụ thể, sẽ trình bày nội hàm của một số khái niệm cơ bản và lý thuyết phát triển được giới khoa học xã hội quốc tế chấp nhận; phân tích bối cảnh kinh tế, xã hội và cơ sở nội tại cũng như ngoại sinh tác động tới quan điểm, chiến lược phát triển của Singaproe và Hàn Quốc đầu thập kỷ 60
2.1 Tổng quan về nguồn lực phát triển
2.1.1 Một số lý thuyết phát triển và khái niệm liên quan
2.1.1.1 Lý thuyết phát triển
Trong các lý thuyết phát triển kinh tế trước đây, khi đề cập tới các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế, các nhà nghiên cứu thường nhắc tới 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu là vốn, lao động, tài nguyên đất đai và công nghệ nghèo sẽ phát triển nhanh khiến cho dòng vốn chảy ra khỏi nước giàu Vì lý do đó mà sẽ có sự hội tụ quốc tế về tốc độ tăng trưởng và thu nhập, nghĩa là khoảng cách giữa nước giàu và nghèo ngày càng thu hẹp dần Tuy nhiên, do thiếu bằng chứng thuyết phục cũng như thực tế cho thấy khoảng cách giữa các quốc gia giàu và nghèo ngày càng tăng nên mô hình Solow sau đó bị từ bỏ
* Lý thuyết tăng trưởng Nội sinh (Endogenous Growth Theory) được Mankiw,
Romer và Weil phát triển từ lý thuyết phát triển ngoại sinh và công bố năm 1992 Đây
là mô hình được coi trọng hiện nay, ngoài biến số lao động thông thường và công nghệ, các nhà nghiên cứu đã thêm vào biến số về vốn nhân lực Mô hình giải thích sự chênh lệch thu nhập giữa nước nghèo và nước giàu và cho rằng quá trình hội tụ về thu nhập
Trang 35(steady state) của hai quốc gia dù có cùng tỉ lệ tiết kiệm, tỉ lệ tăng dân số nhưng thu nhập của hai quốc gia vẫn có thể khác nhau nếu có tích lũy vốn nhân lực khác nhau
Qua đây chúng ta có thể nhận thấy, trong các lý thuyết về phát triển các nhà nghiên cứu thường sử dụng biến số con người (lao động) và nguồn vốn tài chính Đầu thập niên 60, Singapore và Hàn Quốc có điểm chung là nghèo tài nguyên thiên nhiên, đất canh tác hẹp và kĩ thuật công nghệ chưa cao Khi hoạch định chiến lược phát triển, chắc chắn chính phủ hai quốc gia đều phải tính toán tới khả năng vận dụng hai yếu tố còn lại Do đó, luận án sẽ sử dụng Lý thuyết nghiên cứu Tân cổ điển trên cơ sở mở rộng các biến ngoa ̣i sinh Mô hình nghiên cứu gồm các biến như tăng trưởng kinh tế ; nguồn vốn đầu tư phát triển; nguồn lực con ngư ời và độ mở thương ma ̣i Trong mô hình này, các biến n ội sinh được coi là yếu tố đầu vào bao gồm vốn tài chính, nguồn lực lao động; còn biến ngoa ̣i sinh là độ mở thương ma ̣i Ở đây, luận án sẽ sử dụng biến
độ mở thương ma ̣i vì từ th ập niên 1960 là thời kỳ nền kinh tế Singapore và Hàn Qu ốc tiến hành hội nhập kinh tế, chuyển đổi cơ c ấu và độ mở thương mại trở thành yếu tố trung tâm của chính sách kinh tế (World Bank, 2000)
2.1.1.2 Các khái niệm liên quan
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài, ở mục này chúng tôi đề cập tới một
số khái niệm chính yếu
Mặc dù thuật ngữ “nguồn lực phát triển” được rất nhiều nghiên cứu đề cập tới, tuy nhiên, những quan điểm ban đầu về nguồn lực phát triển thường không được trình bày rõ ràng, có sự khác biệt hoặc thiếu sự gắn kết với quá trình phát triển kinh tế Điều này phụ thuộc vào quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi nhà nghiên cứu Thêm vào đó, nhóm xã hội với đặc trưng về cộng đồng văn hóa và tôn giáo có thể đặt ra những giá trị khác nhau đối với nguồn lực, dẫn tới sự khác biệt trong quan niệm về nguồn lực Để cắt nghĩa cho cụm
từ này, cần thiết phải tiến hành khảo sát ý nghĩa của các thuật ngữ liên quan
Trang 36ii Phát triển (development):
Trong từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm “Phát triển” được định nghĩa như sau: “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới… Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái
bất biến, mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong” [Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 2003, tr.424] )
Về điều này, V.I Lê-nin cũng từng nhận định “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập” [Cowen, 2003, tr.78] trong khi UNESCO nhấn mạnh rằng, khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa, quy định sự nảy nở của phẩm giá con người trong xã hội Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân lại vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục đích của phát triển… [Don Adams & Janet Adam, 1968, tr.243)
Qua đây có thể nhận thấy, định nghĩa của UNESCO không chỉ bao hàm nội dung kinh tế, xã hội mà còn chú trọng tới nội dung đạo đức và văn hóa, nhấn mạnh tới chủ thể con người
Gerard Crellet trong cuốn sách “Cơ cấu và chiến lược phát triển kinh tế” (1989) đã định nghĩa: “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản” (tr.7) Với định nghĩa này Gerard Crellet cho rằng phát triển là một quá trình và xã hội chỉ được coi là phát triển khi nó biết sử dụng nguồn của cải để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản Qua đó, ta có thể nhận thấy định nghĩa này không chỉ bao hàm nội dung kinh tế mà còn hàm ý cả nội dung xã hội Đây là định nghĩa phù hợp và sẽ được chúng tôi sử dụng phân tích về sự phát triển của Singapore và Hàn Quốc
iii Nguồn lực phát triển (development resources):
Từ khái niệm “nguồn lực” và “phát triển” ở trên, khi nói đến “nguồn lực phát triển” thì người ta thường nghĩ ngay tới nguồn lực phát triển kinh tế, tức là những yếu
tố được sử dụng trong sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ Nói cách khác, người
ta đồng tình với quan điểm của các học giả phương Tây Họ cho rằng nguồn lực phát triển là những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra của cải hay giúp cung cấp dịch
vụ nhằm đạt tới mục tiêu phát triển Việc khai thác các nguồn lực này từ góc độ lợi thế
so sánh tuyệt đối đã là “nguồn gốc của cải của các dân tộc” (Adam Smith) hay góc độ
Trang 37Bàn về giá trị sức lao động, về địa tô, vốn tư bản và khoa học kĩ thuật, C Mác cũng đã
đề cập tới trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa
Nguồn lực kinh tế có thể được chia thành các nguồn lực con người như lao động, quản lý và các nguồn lực không phải con người như đất đai, tư liệu sản xuất, vốn và công nghệ Nhiều nhà nghiên cứu phân chia nguồn lực gồm hai loại là nội lực
và ngoại lực, trong đó nội lực quyết định đối với sự phát triển, trong khi ngoại lực có vai trò quan trọng, bổ sung cho nội lực Nội lực được phát huy mới thu hút và sử dụng hiệu quả được ngoại lưc Nội lực được tăng cường mới đảm bảo cho sự độc lập tự chủ
về kinh tế và thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc tế Hoặc có những ý kiến cho rằng, trong số các nguồn lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên được xếp vào dạng nguồn lực bất biến, trong khi nguồn lao động, nguồn vốn đầu tư, khoa học - công nghệ được coi là nguồn lực khả biến
Trong tác phẩm Tìm hiểu bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc xuất
bản năm 1776, Adam Smith đã nhận định nguồn lực chủ yếu gồm ba loại là: yếu tố sản xuất, bao gồm vốn, sức lao động và đất đai Nhiều trường phái và học thuyết kinh tế - chính trị sau này đều đồng thuận với quan điểm của Smith và bổ sung thêm các nguồn lực mới cũng như đánh giá mức độ của từng nguồn lực đối với quá trình phát triển
kinh tế C Mác với tác phẩm Tư bản đã phân tích kinh tế với chính trị, triết học và đưa
ra những kết luận về phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến giá trị thặng dư (gắn với lao động), năng suất lao động (gắn với tiến bộ kỹ thuật), những lợi thế so sánh (địa tô)… Theo đó, các nguồn lực có thể là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động hoặc là các tài sản vật chất khác Ngoài ra, thực
tế cũng tồn tại ý kiến phân chia nguồn lực phát triển thành 4 yếu tố chủ yếu là vốn, lao động, tài nguyên đất đai và công nghệ kĩ thuật Tác giả luận án sẽ đề cập đến những ý kiến này khi phân tích các lý thuyết phát triển ở trên
iv Nguồn lực con người và nguồn vốn đầu tư
Đầu thập niên 1960, trong bối cảnh cả Singapore và Hàn Quốc hoạch định phát triển trong điều kiện khó khăn về tài nguyên thiên nhiên với sự yếu kém về công nghệ
kỹ thuật Ở luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu nguồn lực con người (vốn nhân lực) và nguồn vốn đầu tư
- Nguồn lực con người hay Vốn nhân lực (Human Capital):
Liên Hợp Quốc nhận định, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của
Trang 38mỗi cá nhân và của đất nước Trong khi đó, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi
cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Quan điểm của chúng tôi là không nên coi toàn bộ lao động là vốn bởi sức lao động chỉ trở thành vốn khi nó được sử dụng để sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho quá trình tái sản xuất
Khái niệm vốn nhân lực (Human Capital) được đề cập đầu tiên bởi chuyên gia kinh tế học cổ điển Adam Smith (1723-1790) trong tác phẩm “An Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of Nations”: “Sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí Đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con người Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta và của xã hội” [Adam Smith, 2007, tr.217]
Johann Henrich Von Thunen (1783-1850) từng nhận định “Một dân tộc có nhiều người học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hơn là một dân tộc không được học tập Một dân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản lớn hơn, lao động đó đem lại nhiều sản phẩm hơn” [theo Gara Latchanna & Jeilu Oumer Hussein, 2007, tr.7 ]
Qua đây ta có thế thấy vốn con người được định nghĩa như tập hợp những năng lực sản xuất mà một cá nhân thu được nhờ tích luỹ những hiểu biết tổng quát hay đặc thù, những kỹ năng và sự thành thạo Khái niệm “vốn” diễn tả ý niệm một dự trữ phi vật thể quy cho một người, có thể tích luỹ và hao mòn
- Nguồn vốn (Capital)
Thuật ngữ “vốn” được giải thích trong Từ điển kinh tế hiện đại như sau:
Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế [Từ điển kinh tế học hiện đại, 1999, tr 129]
Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Các phạm trù vốn, tài sản và đầu tư tồn tại đan xen nhau Có vốn mới thực hiện được đầu tư và kết quả của đầu tư lại tạo ra tài sản và vốn Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư thường
Trang 39thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Hoạt động đầu tư cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới Nói cách khác, đó là quá trình thực hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất
Nếu xét trên phương diện vĩ mô nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm 2 loại chính: Nguồn từ trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài Nguồn nước ngoài đưa vào dưới dạng đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ, viện trợ, kiều hối…
Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về nguồn vốn đầu
tư dựa trên phương diện vĩ mô như đã đề cập ở trên
v Tăng trưởng kinh tế (economic growth)
Đây là một trong những khái niệm cơ bản nhất trong kinh tế học về phát triển Trong ngôn ngữ thông thường, khái niệm “tăng trưởng” thường được sử dụng tương đồng với khái niệm “phát triển”, bởi tăng trưởng đóng vai trò thiết yếu định hình mức
độ phát triển Tuy vậy, trên phương diện lý thuyết, các nhà kinh tế cho rằng cần thiết phân định giới hạn giữa hai khái niệm diễn tả một ý nghĩa gần tương đồng Cho tới nay có nhiều cách hiểu về khái niệm này
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra định nghĩa rằng: “Tăng trưởng kinh tế là
sự gia tăng sản lượng thực tế theo thời gian của một nền kinh tế, góp phần quan trọng đối với sự phồn vinh chung của xã hội…”
Nhà kinh tế học Simon Kuznet (1901-1985) đưa ra định nghĩa về tăng trưởng kinh tế, được giới kinh tế học tiếp nhận Theo ông, “Tăng trưởng kinh tế của một đất nước có thể được định nghĩa như là sự tăng lên trong thời kỳ dài năng lực cung cấp cho dân cư những sản phẩm kinh tế ngày càng phong phú, năng lực tăng trưởng không ngừng đó được xây dựng trên cơ sở kĩ thuật tiên tiến và sự điều chỉnh tương ứng của chế độ và ý thức tư tưởng cần có” [Simon Kuznet, 1963, tr.1]
Như vậy, qua hai định nghĩa tiêu biểu trên có thể nhận định, tăng trưởng kinh tế chính là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là "cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế
Trang 40Tăng trưởng kinh tế được coi là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Do
đó, tăng trưởng kinh tế khiến cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá phát triển
Trong số các khái niệm đó, chúng tôi thấy định nghĩa của S.Kuznets là thích hợp và sẽ sử dụng khái niệm đó để đánh giá về tăng trưởng kinh tế của Singapore và Hàn Quốc sau những nỗ lực tận dụng và phát huy nguồn lực phát triển trong giai đoạn được nghiên cứu
Tóm lại, việc nghiên cứu nguồn lực phát triển cuả Singapore và Hàn Quốc, trọng tâm là nguồn nhân lực và nguồn vốn được chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết và các khái niệm với nội hàm như trên
2.1.2 Vai trò của nguồn lực phát triển đối với tăng trưởng kinh tế
Theo giới thuyết trên, quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế chính là quá trình huy động và sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực phát triển Nói cách khác, một trong những yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành bại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là phát huy hiệu quả nhất sức mạnh tổng hợp của tất cả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao sự đóng góp cũng như hiệu quả sử dụng mỗi một nguồn lực
Vấn đề là, mỗi nguồn lực sẽ chỉ thật sự phát huy hiệu quả nếu có sự kết hợp hài hoà, hỗ trợ tương tác với các nguồn lực khác trong xã hội Nguồn lực con người sẽ không thể phát huy tốt, thậm chí khó trở thành nguồn lực chính, khi không tồn tại trong môi trường thuận lợi Nguồn nhân lực là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội bởi đó là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Tuy nhiên, nguồn lao động nằm trong chuỗi yếu tố sản xuất sẽ không thể thực hiện được quá trình tái sản xuất giản đơn, chưa kể đến việc tạo ra được giá trị thặng dư khi đứng riêng rẽ với các nguồn lực khác
Cũng như vậy, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên chính là nguồn tư liệu sản xuất quan trọng, đóng góp lớn cho tăng trưởng Tuy nhiên, nó sẽ vẫn chỉ là điều kiện, tiềm năng nếu như không có nguồn lực tài chính và nguồn lực con người tương ứng để hấp