1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các phái bộ anh đến việt nam trong bối cảnh xâm nhập của anh vào đông á ( thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX)

205 31 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 6,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, nghiên cứu làm rõ người Anh đã đến Việt Nam như thế nào, từ đó luận án muốn hướng đến một nhận thức khách quan, toàn diện về cách thức và đặc điểm của quá trình xâm nhập của Anh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH

CÁC PHÁI BỘ ANH ĐẾN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

XÂM NHẬP CỦA ANH VÀO ĐÔNG Á (THẾ KỶ XVII – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH

CÁC PHÁI BỘ ANH ĐẾN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

XÂM NHẬP CỦA ANH VÀO ĐÔNG Á (THẾ KỶ XVII – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX)

Chuyên ngành: LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN KIM

Xác nhận NCS đã chỉnh sửa theo Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

PGS.TS Nguyễn Văn Kim GS.NGND Vũ Dương Ninh

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

L I CẢ Ơ

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Thày, PGS.TS Nguyễn Văn Kim Là người hướng dẫn khoa học, Thày đã tận tâm giúp đỡ, gợi ý các hướng tiếp cận đề tài, chỉ dẫn cho tôi nhiều nguồn tài liệu, đặc biệt là sự động viên của Thày với tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu sinh

Tôi cũng xin giành sự biết ơn sâu sắc đến Thày, PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thừa Hỷ, người đã hướng dẫn và gợi mở cho tôi những ý tưởng khoa học đầu tiên

về đề tài của luận văn Thạc sĩ để rồi sau đó, tôi có điều kiện tiếp tục trong một nghiên cứu sâu hơn khi học nghiên cứu sinh

Trong quá trình làm luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và ủng hộ to lớn của GS.NGND Vũ Dương Ninh và các Thày, Cô giáo thuộc Bộ môn Lịch sử Thế giới, Bộ môn Lịch sử Việt Nam - Khoa Lịch sử, Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Các cán bộ Thư viện Quốc gia, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng tư liệu Khoa Lịch sử đã giúp tôi tra cứu và tiếp cận tài liệu thuận lợi Tôi xin bày tỏ lời tri ân đến tất cả

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã luôn hỗ trợ, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 13

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

1.1.1 Nguồn tư liệu từ chính sử 13

1.1.2 Thành tựu nghiên cứu trong nước 14

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 17

1.2.1 Các du hành ký, hồi ký và tài liệu quốc tế 17

1.2.2 Các công trình nghiên cứu 18

1.3 Nhận xét 23

Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY ANH ĐẾN VIỆT NAM

2.1 Những biến chuyển của tình hình châu Âu 25

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản 25

2.1.2 Sự hình thành các quốc gia tư bản vùng Đại Tây Dương 26

2.1.3 Những chuyển biến xã hội – văn hóa 27

2.2 Nước Anh và những cơ sở cho mục tiêu “hướng Đông” 29

2.2.1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Anh 29

2.2.2 Sự ra đời của Công ty Đông Ấn Anh năm 1600 31

2.3 Khu vực Đông Á trước sự xâm nhập của Anh và các nước tư bản

phương Tây 36

2.3.1 Thế mạnh tự nhiên của các quốc gia Đông Á 36

2.3.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Đông Á 36

2.3.3 Quá trình xâm nhập Đông Á của EIC 38

2.4 Vị trí và tình hình kinh tế, chính trị Việt Nam 43

2.4.1 Địa thế thuận lợi của Việt Nam 43

2.4.2 Những thay đổi về chính trị 44

2.4.3 Sự phát triển của kinh tế hàng hóa 45

Tiểu kết chương 2 47

Chương 3: CÁC PHÁI BỘ ANH ĐẾN VIỆT NAM THẾ KỶ XVII –

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XVIII 49

3.1 Những nỗ lực bất thành đầu thế kỷ XVII 49

3.2 Sự ra đời và hoạt động của thương điếm Anh ở Đàng Ngoài (1672 -1697) 51

3.2.1 Kế hoạch Đông Á và hoạt động của thương điếm Anh ở Đàng Ngoài 51

3.2.2 Thất bại của kế hoạch Đông Á và sự đóng cửa thương điếm Đàng Ngoài 55

Trang 6

3.3 Phái bộ của Bowyear đến Đàng Trong (1695) 63

3.3.1 Mục đích của phái bộ 63

3.3.2 Diễn biến và kết quả 64

3.4 Sự kiện Côn Đảo (Poulo Condore) (1702 -1705) 67

Tiểu kết chương 3 69

Chương 4: CÁC PHÁI BỘ ANH ĐẾN VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ

XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 71

4.1 Phái bộ Chapman (1778) 71

4.1.1 Mục đích của phái bộ 71

4.1.2 Diễn biến và kết quả 74

4.2 Phái bộ Macartney (1792 - 1793) 78

4.2.1 Mục đích của phái bộ 78

4.2.2 Diễn biến và kết quả 82

4.3 Phái bộ Roberts (1804) 84

4.3.1 Mục đích của phái bộ 84

4.3.2 Diễn biến và kết quả 86

4.4 Phái bộ John Crawfurd (1822) 92

4.4.1 Mục đích của phái bộ 92

4.4.2 Diễn biến và kết quả 93

4.5 Phái bộ của Davis (1847) 97

4.5.1 Mục đích của phái bộ 97

4.5.2 Diễn biến và kết quả 98

4.6 Phái bộ của Wade (1855) 100

4.6.1 Mục đích của phái bộ 100

4.6.2 Diễn biến và kết quả 101

Tiểu kết chương 4 105

Chương 5: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ SỰ XÂM NHẬP CỦA ANH Ở

VIỆT NAM 107

5.1 Về cách thức xâm nhập của Anh ở Việt Nam 107

5.1.1 Con đường thông thương trực tiếp 107

5.1.2 Nỗ lực khai thông con đường bang giao chính thức 108

5.2 Nội dung và kết quả của tiếp xúc thương mại Anh – Việt Nam 110

5.2.1 Hàng hóa xuất nhập cảng 110

5.2.2 Phương thức buôn bán 114

Trang 7

5.3 Đặc điểm của quá trình các phái bộ Anh đến Việt Nam 116

5.4 Những tác động của tiếp xúc Anh - Việt Nam 137

Tiểu kết chương 5 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CIO La Compagnie Francaise des Indes Orientales – Công ty

Đông Ấn Pháp

MEP La Société des Missions Étrangères de Paris - Hội truyền

giáo nước ngoài Paris

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lịch sử xâm nhập của các nước phương Tây đến xã hội phương Đông khởi đầu bằng các cuộc thăm dò, tìm kiếm thị trường, nguồn tài nguyên của các đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI Sau các

phát kiến địa lý, sự cạnh tranh giữa các cường quốc phương Tây ở châu Á dần được

mở rộng với sự tham gia của các quốc gia ven bờ Địa Trung Hải và Đại Tây Dương như: Hà Lan, Anh, Pháp, Nga Trong suốt nhiều thế kỷ, châu Á trong đó có các nước Đông Á, được coi như khu vực trung tâm mà các cường quốc phương Tây luôn muốn tìm đến để vơ vét tài nguyên và buôn bán Từ thế kỷ XVI, hệ thống giao thương Đông - Tây được thiết lập và đã lôi cuốn hầu hết các quốc gia châu Á vào vòng xoáy chung mang tính thời đại

Năm 1600, Công ty Đông Ấn Anh (EIC) ra đời được coi như lời tuyên bố tham gia công khai vào thị trường Đông Ấn với các đối thủ phương Tây Bằng tiềm lực quân sự và tài chính, tuy chưa có năng lực vượt trội so với Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), nhưng EIC dần khẳng định vị trí chủ đạo trong nhiều hoạt động kinh tế, thương mại ở khu vực Ấn Độ Dương và Đông Nam Á Bên cạnh đó, EIC cũng rất chú trọng triển khai các hoạt động giao thương ở khu vực Đông Bắc Á và cho xây dựng tại đây nhiều cơ sở thương mại Do vị trí nằm trên các con đường giao thương quốc tế từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam, Việt Nam là điểm đến đồng thời là một trong những mục tiêu xâm nhập của các thuyền buôn, chiến hạm Anh quốc Trong bối cảnh đó, vào thế kỷ XVI-XVIII đời sống chính trị, xã hội Đại Việt diễn ra nhiều biến đổi quan trọng Những biến đổi đó có ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai chính trị sau đó Sự tiếp xúc của Đại Việt với các cường quốc tư bản phương Tây thời gian này là hệ quả của những vận động lịch sử, của sự thôi thúc bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài, những nhân tố nội sinh và ngoại sinh

Cùng với những người Bồ Đào Nha và Hà Lan, các thương nhân Anh tới Đàng Trong buôn bán từ thế kỷ XVII và chính họ đã góp phần tạo nên những sắc thái mới cho bức tranh ngoại thương của Việt Nam Tuy nhiên, sau một thời gian buôn bán cùng những nỗ lực thiết lập, củng cố quan hệ ngoại giao, người Anh hầu như không đạt được nhiều kết quả như mong đợi Họ đã từng bước rút lui,

“nhường” lại khu vực thị trường cho Pháp Sau nhiều biến động lịch sử, năm 1883, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp1

1 Năm 1883, Hiệp ước Hác-măng (Harmand) được ký giữa triều đình Huế và Pháp đã chính thức xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp đối với Việt Nam

Trang 10

Sự thực lịch sử Việt Nam thời cận đại trở thành thuộc địa của Pháp là một trong những nguyên nhân khiến các tác giả trong và ngoài nước ít quan tâm tới tìm hiểu về mối quan hệ Anh - Việt từ khởi nguồn Trên thực tế, vẫn còn tồn tại một

“khoảng trống” trong nghiên cứu lịch sử quan hệ Anh - Việt Nam thế kỷ XVII-XIX cần quan tâm khảo cứu

Trong bức tranh tổng quát của bước đường xâm nhập khu vực Đông Á của các cường quốc phương Tây nói chung, Anh nói riêng, con đường quen thuộc thường thấy là, thông qua hệ thống các Công ty Đông Ấn Độ, tức là bắt đầu từ việc buôn bán (thế kỷ XVI đến cuối XVIII), thiết lập hệ thống thương điếm, cơ sở thương mại v.v từng bước các nước phương Tây tiến tới việc xâm chiếm thuộc địa (cuối thế

kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) Với VOC, khởi đầu từ việc chi phối hoạt động thương mại biển ở một số quốc gia Đông Nam Á, công ty này đã dần mở rộng ảnh hưởng đến vùng Đông Bắc Á Trong khi đó, EIC từ việc chi phối thị trường thương mại ở một số các quốc gia Mã Lai (Penang, Perak, Kedah…), Miến Điện, Ấn Độ… đã từng bước biến các nước này thành thuộc địa Đó là những ví dụ điển hình của một quá trình xâm nhập của các nước phương Tây đến phương Đông

Trên nền cảnh chung đó, Công ty Đông Ấn Anh từng cử đến Đại Việt nhiều phái bộ trong cả hai làn sóng xâm nhập2 Và trong mỗi thời kỳ, EIC đã theo đuổi những mục tiêu chính trị, kinh tế khác nhau Tuy vậy, trong cả hai thời kỳ EIC đều muốn khẳng định vai trò, phạm vi ảnh hưởng và vị thế đích thực mà EIC có thể đạt tới Hiển nhiên, vị thế đó có phần lệ thuộc vào đối sách của các quốc gia châu Á cũng như sự tương quan quyền lực với các cường quốc phương Tây Bằng nhiều con đường và phương cách, người Anh đã thâm nhập vào Đại Việt và các quốc gia châu Á Trong quá trình đó, họ đã nếm trải nhiều thành công và thất bại Những mục tiêu mà EIC hay VOC đạt được ở châu Á không thể hiểu đơn giản như một

“quy luật tất yếu” mà luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì thế, việc nghiên cứu sự xâm nhập của các phái bộ Anh đến Việt Nam và đặt quá trình xâm nhập đó trong bối cảnh Đông Á có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Cụ thể, luận án sẽ tập trung hướng đến việc luận giải và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề sau:

Trước hết, nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân tại sao Anh lại tìm đến Việt Nam,

mức độ của những nỗ lực mà EIC đạt tới nhằm khai thông con đường buôn bán với Việt Nam cũng như nhiều quốc gia Đông Á trong “Thời đại thương mại châu Á”

2

Theo các nhà nghiên cứu, có 2 làn sóng xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây ở châu Á kể

từ sau những phát kiến địa lý thế kỷ XV - XVI Làn sóng thứ nhất (thời kỳ chủ nghĩa tự do tư bản cạnh tranh) kéo dài khoảng 3 thế kỷ đến năm 1799, làn sóng thứ hai (thời kỳ sung mãn của chủ nghĩa thực dân phương Tây) từ 1799 đến thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XX Xem [60, tr.26-31]

Trang 11

Thứ hai, nghiên cứu làm rõ người Anh đã đến Việt Nam như thế nào, từ đó

luận án muốn hướng đến một nhận thức khách quan, toàn diện về cách thức và đặc điểm của quá trình xâm nhập của Anh vào Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử trong tương quan so sánh với các cường quốc phương Tây khác khi xâm nhập vào Đông Á

Thứ ba, việc nghiên cứu càng trở nên cần thiết khi nó chỉ ra kết quả của các

phái bộ Anh tới Việt Nam Qua đó, nghiên cứu góp phần giải đáp câu hỏi vì sao và trong bối cảnh nào mà Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp mà không phải của Anh trong khi Anh là nước đến trước lại là cường quốc thương mại, thực dân hàng đầu, có tiềm năng và thực lực hơn Pháp

Thứ tư, trên phương diện kinh tế, luận án cũng muốn hướng đến việc nhìn

nhận, đánh giá khách quan về vai trò của nhân tố thương mại phương Tây đã tác động đến sự chuyển biến của kinh tế, xã hội Việt Nam Là một cường quốc thương mại thế giới, việc tìm hiểu quá trình tiếp xúc, giao lưu kinh tế giữa Anh và Việt Nam là một trong những mục tiêu và nội dung chính của luận án

Thứ năm, nhu cầu phát triển quan hệ với bên ngoài của tất cả các quốc gia, dân

tộc là nhu cầu tất yếu bởi đây chính là cơ sở để mỗi quốc gia hình thành, vận động

và phát triển Xuất phát từ nhận thức đó, trong công cuộc Đổi mới hiện nay, Đảng

và Nhà nước ta luôn chủ trương phát triển các quan hệ ngoại giao, kinh tế song phương và đa phương Là một đối tác truyền thống, có nhiều mối quan hệ lịch sử, văn hóa, Liên hiệp vương quốc Anh đang ngày càng đóng vai trò tích cực trong việc củng cố, nâng cao quan hệ với Việt Nam Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam

- Anh đã và đang thu được nhiều thành tựu quan trọng Nghiên cứu về các phái bộ Anh tới Việt Nam trong toàn cảnh sự xâm nhập của Anh vào Đông Á thế kỷ XVII-XIX vì thế còn có thể đem lại một số bài học kinh nghiệm từ quá khứ, nhằm góp phần tạo dựng cơ sở lý luận, khoa học cho việc xây dựng các chủ trương, chính sách của các hoạt động kinh tế đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Các phái bộ Anh đến Việt Nam trong bối cảnh xâm nhập của Anh vào Đông Á (thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX)” làm chủ đề cho luận án Tiến sỹ

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các phái bộ Anh đến Việt Nam trong thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, qua đó làm rõ mục tiêu, nội dung, sự chuyển biến và

hệ quả nhiều mặt của mối quan hệ này

Trang 12

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào phân tích các diễn biến chính, quá trình liên hệ, tiếp xúc và kết quả xâm nhập của các phái bộ Anh đến Đàng Ngoài, Đàng Trong (thế kỷ XVII-XVIII) và Việt Nam (thế kỷ XIX) Về thời gian, thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX được xác định là khoảng thời gian nghiên cứu trọng tâm của đề tài, phù hợp với thực tế lịch sử về các chuyến đi của các phái bộ Anh đến Việt Nam Về không gian, trên cơ sở nội dung nghiên cứu chính là các phái bộ Anh đến Việt Nam, luận án cố gắng đánh giá vấn đề trong một không gian rộng mở, đồng thời đặt trọng tâm khảo cứu trong bối cảnh sự xâm nhập Anh ở Đông Á

Có bốn điểm chúng tôi xin được lưu ý trong luận án Thứ nhất, khái niệm

“Anh” (Kingdom of England) chỉ Anh quốc với thủ đô là London, không phải Đại Anh (Great Britain) (ra đời từ 1707) và cũng không phải Vương quốc liên hiệp Anh

và Bắc Ireland (The United Kingdom) (thành lập năm 1801); Thứ hai, trong luận án

có sử dụng các tên gọi khác nhau để chỉ Việt Nam như Đại Việt (cho đến trước khi quốc hiệu nước ta được đổi thành Việt Nam từ năm 1804, hay Đại Nam) Tuy vậy, khi sử dụng tên Việt Nam, tác giả thường có chú thêm niên đại (năm, thế kỷ, thập kỷ)

để xác định Việt Nam trong các thế kỷ nghiên cứu Chúng tôi cũng dùng các thuật ngữ Đông Kinh, Đàng Ngoài để chỉ vùng đất phía bắc sông Gianh Còn các thuật ngữ như: Cochinchina, Đàng Trong, “An Nam” và xứ Nam Hà trong hàm ý của chúng

tôi là để chỉ phần đất phía nam sông Gianh tương ứng với thời gian nghiên cứu; Thứ

ba, luận án thống nhất sử dụng thuật ngữ “Biển Đông” để chỉ khu vực biển Đông

Nam Á gắn với cách nhìn về chủ quyền biển đảo và không gian kinh tế truyền thống

của Việt Nam; Thứ tư, khái niệm “Đông Á” được hiểu bao gồm các nước Đông Bắc

Á và Đông Nam Á Cách xác định khu vực này hiện được sử dụng phổ biến với mức

độ thừa nhận chung cao nhất giữa các nhà nghiên cứu3 Theo đó, các quốc gia, khu vực lãnh thổ nằm trong không gian nghiên cứu của chúng tôi là: Indonesia, Mã Lai, Xiêm (Xiêm La, Thái Lan), Miến Điện (Myanmar), Cao Miên (Campuchia), Singapore, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án cố gắng làm rõ mục tiêu, quá trình xâm nhập, nội dung, sự chuyển biến và hệ quả nhiều mặt của mối quan hệ Anh - Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX Mặt khác, luận án cũng tập trung phân tích những điểm tương đồng

3

Hai cách hiểu khác là: Khu vực Đông Á chính là Đông Bắc Á và khu vực Đông Á bao gồm cả

Đông Nam Á Cách hiểu Đông Á gồm cả Đông Nam Á và Đông Bắc Á được đưa ra trong A Three

Bloc World? The New East Asia Regionalism của John Ravenhill Tham khảo từ Hoàng Khắc Nam

[55, tr.28-43]

Trang 13

và dị biệt quá trình xâm nhập của Anh đối với Việt Nam trong tương quan, so sánh với một số quốc gia khác ở Đông Á cũng như thế ứng đối của Việt Nam trước sự xâm nhập của Anh và các cường quốc phương Tây khác

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án tập trung vào việc tập hợp, xử lý và hệ thống hóa tư liệu nhằm tái hiện lại toàn bộ mục đích, diễn biến và kết quả của các phái bộ Anh đến Việt Nam trong thế kỷ XVII-XIX trên khung cảnh sự xâm nhập của Anh vào Đông Á

- Bên cạnh đó, luận án cũng sẽ tìm hiểu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá mức độ tác động và khả năng chi phối của những nhân tố đó đến ý đồ và mức độ quan hệ của Anh với Việt Nam cũng như ứng đối của Việt Nam với Anh trong lịch sử

- Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống, luận án cố gắng trình bày những đánh giá khách quan về cách thức, con đường và nguyên nhân thất bại của các phái bộ Anh ở Việt Nam trong tương quan so sánh với Pháp, kẻ giành chiếm thị trường Việt Nam và Đông Dương sau đó Mặt khác, nội dung nghiên cứu cũng sẽ làm rõ nguyên nhân dẫn tới sự điều chỉnh trong chính sách của EIC nói riêng, nước Anh nói chung đối với từng thị trường khu vực và mối liên hệ giữa thị trường Việt Nam với những vùng đất mà Anh giành đoạt, có nhiều ảnh hưởng ở châu Á

4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nguồn tư liệu

- Các nguồn tư liệu gốc: Luận án được nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tư liệu gốc, đó là các bộ chính sử do Quốc sử quán và Nội các triều Lê, Nguyễn biên soạn

như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục chính biên và Khâm định Đại Nam

hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật của các

chính thể quân chủ cũng được chú ý khai thác Trong số đó tiêu biểu là tập sách Một

số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (tập 1) do

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Nghiên cứu Hán Nôm công bố Ngoài ra, các cuốn hồi ký, du ký, ghi chép của các thương nhân, giáo sỹ, nhà thám hiểm như: S.Baron, W Dampier cũng như các công trình đương thời của người Pháp như Alexandre de Rhode, D.Tavernier… cũng đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho luận án

- Các công trình nghiên cứu, tham khảo: Đề tài nghiên cứu dựa trên những nguồn tài liệu, đặc biệt là những công trình mang tính chuyên khảo của các tác giả nhiều thế hệ ở trong và ngoài nước như: Ch.B Maybon, A Lamb, A.Farrington, Li Tana, Thành Thế Vỹ, Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Hoàng Anh Tuấn và nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, quốc tế khác

- Nguồn tư liệu được sử dụng là tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Là một đề tài lịch sử nên các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử được sử dụng chủ yếu trong luận án Theo đó, chúng tôi đã ứng dụng các phương pháp như: Phương pháp lịch đại, Phương pháp đồng đại, Phương pháp so sánh lịch sử Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp thống kê, Phương pháp logic, Phương pháp cấu trúc hệ thống

Trên cơ sở tinh thần thực chứng, tham khảo các sự kiện đã được xác nhận qua

tư liệu gốc, chúng tôi cố gắng tái hiện việc các phái bộ Anh đến Việt Nam, sau đó phân tích các sự kiện đó và những tác động nhiều mặt của chúng Cách tiếp cận trên nhằm cố gắng giải thích lịch sử như nó vốn có nhằm làm rõ: Các phái bộ Anh đến Việt Nam như thế nào, ý đồ của họ là gì và họ đã làm được/chưa làm được việc gì ở Việt Nam

Đặc biệt, việc tìm hiểu các phái bộ Anh đến Việt Nam trong bối cảnh sự xâm nhập của Anh ở Đông Á cần đặt vấn đề trong cách nhìn tổng thể Cách thức tiếp cận này được coi như một hệ thống phức hợp và động, trong đó các thành tố luôn

có những mối liên hệ, tương tác theo các chiều thuận - nghịch Phương pháp cấu

trúc hệ thống vì thế được sử dụng Những hoạt động của Anh ở Việt Nam được

xem xét trong phân tích toàn diện và hệ thống ý đồ của Anh đối với khu vực Đông

Á mà cụ thể là tham vọng của đế chế Anh ở phương Đông Nhân tố này bị chi phối sâu sắc bởi hoàn cảnh bên ngoài cùng những tác nhân bên trong, đồng thời tác động trực tiếp đến các mối quan hệ quốc tế Với quan điểm và cách tiếp cận

đó, quan hệ của Anh với Việt Nam cũng như quan hệ và sự cạnh tranh giữa Anh với Hà Lan thế kỷ XVII hay Anh - Pháp thế kỷ XVIII-XIX luôn được nhìn nhận, phân tích đa diện, đa chiều

Xuất phát từ quan điểm khảo cứu theo những lát cắt lịch sử, tìm hiểu vấn đề trong toàn cảnh khu vực và thế giới theo cái nhìn đồng đại để đối chiếu, nhận xét, vì

thế Phương pháp so sánh được vận dụng Phương pháp này rất có ý nghĩa khi đưa

ra nhận định về những điểm tương đồng và dị biệt của lịch sử Việt Nam Vào thế kỷ XVII-XVIII nền ngoại thương Việt Nam có phần mở rộng, giao lưu quốc tế được tăng cường Việt Nam có mối quan hệ đồng thời với nhiều quốc gia châu Á và châu

Âu Đó là thời kỳ mang tính bước ngoặt, thể nghiệm và thử thách của xã hội Đại Việt trước sự xâm nhập kinh tế, văn hóa của chủ nghĩa tư bản phương Tây Với ý nghĩa đó, việc đặt Việt Nam trong so sánh với các quốc gia khác ở Đông Á theo cách tiếp cận đồng đại và lịch đại là cần thiết để qua đó thấy được đặc trưng của Việt Nam trong bối cảnh Đông Á thế kỷ XVII-XIX

Trang 15

Phương pháp thống kê, phân tích văn bản được sử dụng nhằm phác họa lại

toàn cảnh quá trình giao thương Anh - Việt, chủ yếu trong thế kỷ XVII Với việc định rõ tính chất và quá trình xâm nhập của các phái bộ Anh vào Việt Nam trong từng thời kỳ (thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII và từ nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX), để có thể đưa ra những nhận định tổng quát và khoa học cần phải

dựa trên những căn cứ logic khoa học, vì thế Phương pháp logic được sử dụng như

một phương pháp cơ bản để phân tích mối tương quan giữa các sự kiện và diễn tiến lịch sử

Sự phân định các phương pháp như trên chỉ có ý nghĩa tương đối vì khả năng kết hợp, vận dụng lẫn nhau giữa chúng Qua đó, chúng ta có thể xem xét mối quan

hệ, tiếp xúc với các nước phương Tây của Việt Nam trong thế kỷ XVII-XIX nói chung, quan hệ Anh - Việt nói riêng như một cấu trúc hoàn chỉnh gồm nhiều yếu tố tác động qua lại, vận động trong môi trường tương tác luôn có sự biến động cao Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thức được nguồn gốc, bản chất của các sự kiện trong quá trình tiếp xúc giữa hai nước Tất cả các phương pháp nêu trên góp phần quan trọng trong việc giúp tác giả trình bày vấn đề nghiên cứu đồng thời đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về một vấn đề lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XIX, đó là quá trình xâm nhập và những hệ quả nhiều mặt của mối quan hệ Anh - Việt Nam trong bối cảnh Đông Á

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống ở Việt Nam về vấn đề tiếp xúc giữa Anh - Việt Nam trong các thế kỷ XVII-XIX Trên cơ sở khai thác các nguồn tư liệu trong nước, quốc tế và cách tiếp cận đa chiều, luận án đặt ra, giải quyết những luận đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn; nêu rõ mục tiêu, động lực cơ bản thôi thúc Anh và các nước phương Tây xâm nhập vào Việt Nam - Đông Á cùng sự chuyển biến của các mối quan hệ từ tính chất thương mại, kinh tế sang tính chất ngoại giao, chính trị Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ ra những toan tính của EIC khi tìm đến cũng như những thay đổi trong cách thức xâm nhập và xác lập vị trí ở Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể Đồng thời, để làm rõ những toan tính của EIC và chính quyền Anh, luận án cũng sẽ đặt thị trường Việt Nam trong so sánh lợi thế với các thị trường tiềm năng và giàu có khác của Đông Á

Cùng với những nội dung nêu trên, chúng tôi cũng sẽ cố gắng trình bày và nghiên cứu một cách hệ thống chính sách và thế ứng đối của các chính thể quân chủ Việt Nam để luận giải những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Anh trong sự

Trang 16

điều chỉnh là lựa chọn ưu tiên của Anh với các thị trường Đông Á khác Mong rằng, luận án sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, nghiên cứu của những người học sử, làm sử và quan tâm đến các vấn đề quan hệ quốc tế đặc biệt là việc nghiên cứu mối quan hệ của Việt Nam với một số quốc gia Đông Á và các cường quốc phương Tây Với những kết quả đạt được, luận án sẽ góp thêm những nguồn

tư liệu mới; cách nhìn, hướng tiếp cận và một số luận giải mới trong nghiên cứu lịch

sử quan hệ hai nước Anh - Việt Nam thế kỷ XVII-XIX

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chương 2: Những nhân tố thúc đẩy Anh đến Việt Nam

Chương 3: Các phái bộ Anh đến Việt Nam thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII Chương 4: Các phái bộ Anh đến Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế

kỷ XIX

Chương 5: Một số nhận xét về sự xâm nhập của Anh ở Việt Nam

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Các nguồn tư liệu từ chính sử

Những ghi chép về mối quan hệ giữa Anh và Việt Nam được thể hiện trong một số bộ chính sử của nhà nước quân chủ Việt Nam Khởi đầu từ một số thông tin

trong “Đại Việt sử ký toàn thư” (1993), các bộ sử của vương triều Nguyễn 1945) như: “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” (1993) hay

(1802-“Minh Mệnh chính yếu” (2011) đã viết nhiều thông tin về mối quan hệ Anh - Việt

Nam cũng như với các nước phương Tây thế kỷ XVIII-XIX

Đại Nam thực lục (phần Tiền biên và Chính biên) ghi chép lại lịch sử thời các

chúa Nguyễn và sau đó là các vua triều Nguyễn theo biên niên sử Tuy được viết theo nhãn quan của các sử gia phong kiến, song đây là bộ sử đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của triều đại quân chủ viết về lịch sử Việt Nam Vì thế, nguồn tài liệu này đã giúp ích rất nhiều cho việc hoàn thành nội dung cơ bản của luận án Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã khảo cứu việc các phái bộ Anh đến Việt Nam có được đề cập đến trong bộ chính sử hay không và nếu được thì ở mức độ thế nào để trên cơ

sở đó có thể so sánh với những nguồn tài liệu phương Tây

Qua việc tiếp xúc với nguồn tài liệu này, có thể nhận thấy, các chuyến đi của Anh đến Việt Nam thế kỷ XVII rất hiếm khi được ghi chép cụ thể trong chính sử nhưng lại được phản ánh khá sinh động trong các văn bản điển chế của các triều đại Tuy nhiên, cũng có một thực tế là, vào thế kỷ XVIII một số sự kiện liên quan hoặc thậm chí có phái bộ Anh không được đề cập trong các nguồn sử liệu Việt Nam Ví như phái bộ Anh năm 1778 hay năm 1792 Có thể giải thích nguyên nhân của vấn

đề này gắn với bối cảnh lịch sử, chính trị có nhiều phức tạp và tình trạng khó khăn trong quá trình khôi phục vương quyền của Nguyễn Phúc Ánh

Một trong những thành tựu mà Nội Các, cơ quan được triều Nguyễn thành lập vào 1829, đạt được là biên soạn một số công trình sử học có giá trị trong nền sử học

nước nhà Tiêu biểu nhất phải kể tới công trình“Khâm định Đại Nam hội điển sự

lệ” Tác phẩm này rất quan trọng khi tìm hiểu về chính sách ngoại thương nói chung

của triều Nguyễn Bên cạnh đó, “Minh Mệnh chính yếu” là bộ sách lớn do Quốc sử

quán triều Nguyễn biên soạn Cuốn sách trích đăng những văn kiện, việc làm thiết yếu dưới triều vua Minh Mệnh (1820-1840), trong đó có hoạt động ngoại giao với

các nước phương Tây Cùng với “Đại Nam thực lục”, bộ Khâm định đã cung cấp

khá nhiều thông tin về tình hình quan hệ với phương Tây nói chung, với nước Anh nói riêng dưới nhãn quan của giới sử gia và cầm quyền triều Nguyễn

Trang 18

Ngoài các bộ sử nói trên, trong các nguồn tư liệu có hàm lượng thông tin phong

phú phải kể đến bộ sách quý: “Phủ biên tạp lục” Tác phẩm do Lê Quý Đôn

(1726-1784) viết năm 1776 Đây là tập đại thành ghi chép về lịch sử, địa dư, chính trị, phong tục của miền Thuận Quảng, trong đó mục 4 khảo về việc cai trị đất thượng du, thuế đò, thuế chợ, kim khóang, vận tải Tác phẩm đã cung cấp nhiều kiến thức về thể lệ, mức thuế đánh vào các thuyền buôn Tây dương thời các chúa Nguyễn

1.1.2 Thành tựu nghiên cứu trong nước

Nguồn tư liệu mà chúng tôi quan tâm khảo cứu là hệ thống các công trình nghiên cứu chuyên sâu và thông sử về lịch sử Việt Nam cũng như các nước Đông

Á Trong số đó có thể kể đến: “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” (tập 3) (Nhiều tác giả, 1960), “Tiến trình lịch sử Việt Nam” (Nguyễn Quang Ngọc, Cb., 2003),

“Lịch sử vương quốc Thái Lan (Vũ Dương Ninh, 1994), “Lịch sử Đông Nam Á” (Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh, 2005), “Việt Nam trong thế giới

Đông Á - Một cách tiếp cận Liên ngành và Khu vực học” (Nguyễn Văn Kim, 2011),

“Lịch sử Đông Nam Á” (tập IV) (Trần Khánh, Cb., 2012), … Các công trình đó đã

cung cấp cho chúng tôi những kiến thức cơ bản về lịch sử Việt Nam, thế ứng đối của Việt Nam và sự xuất hiện, hoạt động của EIC tại các quốc gia Đông Á Trong

phần I của “Lịch sử Đông Nam Á” (Trần Khánh, Cb., 2012) viết về quá trình thực

dân hóa và biến đổi kinh tế, xã hội Đông Nam Á còn đề cập rõ ràng tới cạnh tranh thương mại và thuộc địa của các nước phương Tây nói chung, EIC nói riêng tại khu vực từ thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XX Các tác giả đều cho rằng, chính EIC là công cụ xâm nhập vào các nước Đông Nam Á của người Anh, việc xây dựng thuộc địa Anh

ở khu vực Đông Nam Á có vai trò đầu tiên thuộc về EIC Ảnh hưởng của EIC tới nền chính trị và hoạt động thương mại của Xiêm hay Miến Điện là tương đối rõ nét

Sự xâm nhập của Anh vào Việt Nam trong bối cảnh rộng lớn và được bắt đầu

từ Thời đại thương mại châu Á Nhiều tác phẩm được chúng tôi tham khảo như:

“Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX” (Thành Thế Vỹ, 1961),

“Phố Cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII, XVIII” (Đỗ Bang, 1996), “Việt Nam

trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII” (Trường ĐH KHXH&NV,

2007), luận án “Hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII” (Đỗ

Thị Thùy Lan, 2012) … Những công trình trên có giá trị tham khảo và mang tính khái quát cao Trong các công trình đó, quan hệ Anh - Việt tuy không phải là chủ đề khảo cứu chuyên sâu nhưng đã cung cấp nhiều thông tin, cách phân tích hữu ích cho tác giả luận án Thông qua những thông tin, tri thức thu hoạch được, luận án có cái nhìn hệ thống về những tiếp xúc, hợp tác và xung đột về kinh tế, chính trị, văn hóa giữa Đại Việt với Anh cũng như các nước phương Tây Riêng luận án của Đỗ Thị Thùy Lan, theo cách tiếp cận vấn đề dưới góc độ địa-lịch sử/văn hóa, tác giả đã đi

Trang 19

tìm hiểu sự hình thành, hưng thịnh và suy tàn của hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài gồm Thăng Long - Phố Hiến - Domea, qua đó chứng minh thuyết phục sông Đàng Ngoài là tuyến huyết mạch quan trọng liên kết các cảng thị, không gian kinh

tế - văn hóa khác nhau của Bắc Bộ và là đường dẫn chính đưa Đàng Ngoài hội nhập với hệ thống giao thương quốc tế, với trào lưu chung của Kỷ nguyên thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVIII Những phân tích về bối cảnh lịch sử cho sự thành tạo và quá trình hưng - vong của những cảng thị trên phức hợp sông Hồng - sông Luộc và các chi hạ lưu sông Thái Bình cũng cho chúng tôi hiểu thêm những thuận lợi và khó khăn đối với sự xâm nhập thương mại của phương Tây, trong đó có Anh ở Việt Nam thời kỳ đó

Gần đây, trong xu hướng phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học về khu vực, lịch sử sự xâm nhập của Anh vào các quốc gia Đông Á nói chung, Việt Nam nói riêng đã được đề cập trong một số công trình, đề tài cấp cơ sở, luận án tiến sĩ hoặc các bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học trong nước Khai thác kho lưu

trữ Đông Ấn thuộc thư viện Anh, tác giả Hoàng Anh Tuấn đã công bố: “Tư liệu các

Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII” (2010) Đây

là tập tài liệu tham khảo có giá trị về EIC ở Việt Nam thế kỷ XVII Tác phẩm đã phân tích một cách chi tiết hoạt động EIC ở Đàng Ngoài thông qua thương điếm ở Hiến Nam và Kẻ Chợ Người viết đã đặt hoạt động của EIC tại Việt Nam (Đàng Ngoài) nằm trong một tổng thể kế hoạch của Công ty ở khu vực Đông Á Lần đầu tiên kể từ khi ra đời, EIC cải tổ mô hình hoạt động, mở rộng thị trường buôn bán ở Viễn Đông Đàng Ngoài là một mắt xích của chiến lược Đông Á cuối thập niên

1660 Những phân tích sắc sảo của tác giả cho thấy những khó khăn trong hoạt động của thương điếm đưa tới từ nhiều yếu tố: Sự cạnh tranh của Hà Lan, từ bản thân thị trường Đàng Ngoài và trên hết là từ sự thất bại của kế hoạch thương mại với Nhật Bản, mắt xích quan trọng nhất trong mạng lưới thương mại Đông Á Sau

25 năm tồn tại, thương điếm Anh đã phải đóng cửa

Công trình của tác giả Hoàng Anh Tuấn cũng đã dành toàn bộ phần thứ 3 cung cấp khối tư liệu cơ bản, tư liệu gốc của EIC về Kẻ Chợ nửa cuối thế kỷ XVII Đó là một hệ thống tư liệu gồm 1005 trang tồn tại dưới dạng viết tay Thực tế, đây là những trang nhật ký ghi chép rất tỉ mỉ, chi tiết của những người phụ trách và nhân viên EIC trong quá trình tạo dựng, tiến hành thương vụ với những hàng hóa cụ thể của thương điếm cùng những quan sát về hoạt động của các đối thủ (Hà Lan), hay của các nước

có quan hệ giao thương với Việt Nam hay những chỉ đạo từ Bombay và thành St.Geogre (Ấn Độ)… Những tài liệu đó giúp cho chúng tôi hiểu rõ rằng, trong quá trình xâm nhập của Anh vào Đông Á và Việt Nam, các biện pháp mà EIC tiến hành trong mỗi giai đoạn thường chịu sự chi phối của những quyết định từ chính quyền

Trang 20

Anh nhưng đôi khi là những đề xuất từ các đại diện EIC ở các nước sở tại Chúng tôi thu nhận được nhiều kiến thức bổ ích về mục đích của các phái bộ đến Việt Nam từ trong chính quan điểm của EIC cũng như những diễn biến, kết quả của chúng Những bức thư hướng dẫn từ các trị sở của EIC trong mỗi giai đoạn thể hiện trực tiếp các toan tính, ý đồ của người Anh Tuy bị thất lạc các tài liệu giai đoạn từ 26-8-1683 đến 13-5-1693 nhưng những tài liệu hiện còn thật sự có giá trị cho việc hình dung một cách rõ ràng về cuộc sống của thương điếm Đàng Ngoài nói riêng, mở rộng ra chính

là cuộc sống của EIC ở Viễn Đông Những trang tài liệu còn mang ý nghĩa lớn hơn khi những ghi chép về sự hiện diện và hoạt động của người Anh ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII được đề cập rất hiếm hoi trong nguồn chính sử của Việt Nam

Năm 2009, luận án Tiến sĩ: “Quá trình xâm nhập Đông Nam Á của Công ty

Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX” của Lê Thanh Thủy được bảo

vệ Năm 2012, tác giả Hoàng Anh Tuấn viết “Công ty Đông Ấn Anh: Quá trình hình

thành và xâm nhập Đông Nam Á thế kỷ XVII” Đây là hai công trình đầu tiên ở Việt

Nam nghiên cứu mang tính chuyên sâu và có hệ thống về Công ty Đông Ấn Anh ở Đông Nam Á Đề tài của Hoàng Anh Tuấn trên cơ sở thế mạnh khai thác nguồn tư liệu gốc kết hợp với các nguồn tài liệu thứ sinh để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của EIC thông qua quá trình thâm nhập buôn bán và gây dựng địa bàn ở các khu vực cụ thể thuộc Đông Nam Á hải đảo (Bantam) và Đông Nam Á lục địa (Xiêm, Miến Điện, Đại Việt) thế kỷ XVII Trong khi đó, Lê Thanh Thủy mở rộng thời gian nghiên cứu tới thế kỷ XIX, đồng thời chú ý đến việc đánh giá những tác động cả tiêu cực và tích cực của EIC đối với những biến đổi của Đông Nam Á thời

kỳ chủ nghĩa thực dân phương Tây thống trị Hai tác phẩm đã cho chúng tôi một cái nhìn toàn cảnh về bối cảnh cũng như diễn trình xâm nhập và hoạt động của EIC ở Đông Nam Á Lịch sử thế giới, lịch sử khu vực liên hệ mật thiết với lịch sử dân tộc Bởi vậy, trên phông nền đậm nét của khu vực sẽ càng làm nổi bật và ý nghĩa hơn việc EIC vào Việt Nam

Từ đầu thế kỷ XXI bắt đầu xuất hiện một số bài viết trên các tạp chí chuyên

ngành liên quan trực tiếp tới luận án như: “Tiếp xúc thương mại Việt Nam - Anh thế

kỷ XVII” của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2005), “Từ vụ áp phe thương mại của thương điếm Anh đến chính sách cấm người Đàng Ngoài xuất dương của triều đình Lê - Trịnh năm 1693” của Hoàng Anh Tuấn (2010) Cả hai bài viết đều tập trung khai

thác về hoạt động của EIC ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII cũng như những kết quả, hệ quả thu được của nó tại thị trường này

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã công bố nhiều bài viết có chất lượng đề cập tới những khía cạnh nhất định liên quan tới luận án Tác giả

Nguyễn Văn Kim có nhiều bài viết như: “Bối cảnh Đông Nam Á trước sự xâm nhập

Trang 21

và thôn tính thuộc địa của phương Tây” (2007), “Ứng đối của chính quyền Đàng Trong với các thế lực phương Tây” (2010), “Ngoại thương Đại Việt thời Lê - Trịnh qua một số nguồn sử liệu phương Tây” (2010),… Nhà nghiên cứu Nhật Bản

Momoki Shiro với: “Nhật Bản và Việt Nam trong hệ thống buôn bán châu Á vào thế

kỷ XVII - XVIII” (1992), Nguyen Thi Ha Thanh với: “European Trade on the Far

Các bài viết trên cùng với các công trình khảo cứu giúp chúng tôi có được cái nhìn

toàn cảnh và khá hệ thống về chủ đề nghiên cứu

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1 Các du hành ký, hồi ký và tài liệu quốc tế

Những tập du ký, hồi ký của các thương nhân, giáo sĩ phương Tây đương thời chính là những tư liệu đầu tiên về tình hình các phái bộ Anh đến Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là các cuốn của S.Baron (1683), W.Dampier (1688), J.Barrow (1792-1793)… Công trình của các ông thật sự có giá trị, tương đối phong phú, một

số dựa trên khảo sát thực địa, bởi thế không thể bỏ qua chúng khi tìm hiểu về lịch

sử mối quan hệ Anh - Việt nói riêng, phương Tây - Việt Nam nói chung

“Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688” (W.Dampier, 2006) và

“Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) (J.Barrow, 2008) là những du ký

có giá trị tham khảo đặc biệt liên quan trực tiếp tới những ý đồ của người Anh với thị trường Việt Nam Đối với W.Dampier, chuyến đi của ông gắn cùng ước vọng tìm kiếm một vị trí cá nhân quan trọng trong EIC để ổn định sự nghiệp Để thực hiện mục đích tìm kiếm hậu thuẫn của viên Giám đốc thương điếm Anh tại Kẻ Chợ trong việc triển khai kế hoạch thăm dò khả năng buôn bán của EIC với Đàng Trong, Champa hoặc Cao Miên, ông đã đến Đàng Ngoài, cụ thể là Kẻ Chợ, không những một mà hai lần Tuy nhiên, tham vọng của ông đã không thành hiện thực

“Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) vốn là tác phẩm được khởi

thảo trong hành trình tới Trung Quốc có ghé lưu lại Đã Nẵng của J.Barrow với tư cách là quản gia của đại sứ Anh đầu tiên tại Trung Quốc, ông Macartney Trong cuốn sách vừa mang tính du ký, vừa mang tính du khảo của mình, ông dành trọn chương cuối cùng nói về xứ Nam Hà, khẳng định những lợi ích nhiều mặt nếu nước Anh có được một chỗ đứng chân tại Đà Nẵng Ông sốt sắng thúc giục chính phủ Anh (thông qua EIC) tới khôi phục và phát triển quan hệ buôn bán với vùng đất này

Trong số tài liệu đương thời có một số nhật ký của các thành viên phái bộ Anh đến Việt Nam qua các thời kỳ như của Bowyear (1698), Chapman (1778), Macartney (1792-1793), Crawfurd (1821-1822)… Đó thực chất là những báo cáo ghi chép tỉ mỉ và kỹ lưỡng về nhiều vấn đề trong số những nhiệm vụ được giao của cấp trên, hoặc đơn giản là những cảm nhận của họ khi đặt chân đến vùng đất mới

Tiêu biểu của nguồn tài liệu này là “Chapman’s Report” (1778), “Macartney’s

Trang 22

Journal” (1792-1793), “Journal of an Embassy from Governor - General of India to the Course of Siam and Cochin China” (tập 1) của John Crawfurd Trong hồi ký

này, Crawfurd đã dành từ chương 8 đến chương 11 để mô tả chi tiết về chuyến đi đến xứ “An Nam” Đặc biệt, về phái bộ tới nước ta năm 1821-1822 còn có thêm một cuốn ghi chép của George Finlayson, là một bác sĩ đồng thời là nhà tự nhiên

học, một thành viên của phái bộ Cuốn sách mang tựa đề “The Mission to Siam, and

Hue the Capital of Cochin China in the years 1821-1822” (1826)

Bên cạnh nguồn tài liệu cung cấp từ các tác giả đương thời, những năm gần đây, việc tiếp xúc các nguồn tài liệu gốc được lưu trữ trong thư viện Anh, chủ sở hữu các di sản tài liệu về EIC đã có cơ sở thuận lợi Hệ thống tư liệu tồn tại dưới dạng viết tay liên quan đến EIC ở Việt Nam đã được khai thác một phần (thế kỷ XVII)4 Rất tiếc là chúng tôi chưa có điều kiện khai thác trực tiếp toàn bộ những tài liệu trong thế kỷ XVIII-XIX Hy vọng rằng, trong thời gian không xa, khối tài liệu này sẽ được quan tâm khảo cứu, đáp ứng nhu cầu của giới khoa học trong nước

1.2.2 Các công trình nghiên cứu

Liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc tìm hiểu các phái bộ Anh đến Việt Nam thời tiền cận đại, một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã được công bố Những công trình này được chúng tôi phân chia thành hai hệ thống

Nguồn thứ nhất là các công trình liên quan bao gồm những tác phẩm nghiên cứu về

các vấn đề lịch sử chung như lịch sử nước Anh, lịch sử EIC, lịch sử Việt Nam và các nước Đông Á, lịch sử khu vực hoặc các vấn đề cụ thể nhưng có đề cập tới những hoạt động của EIC trong từng giai đoạn liên quan tới nội dung nghiên cứu

Nguồn thứ hai là tài liệu chuyên khảo bao gồm các công trình nghiên cứu chuyên

sâu về quá trình xâm nhập của EIC vào Việt Nam, vào các nước Đông Á

Với các công trình liên quan: Từ rất sớm, cùng với bước chân của những

thương nhân, giáo sĩ phương Tây, lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử của các hoạt động thương mại, truyền giáo nói riêng đã được tái hiện lại bằng chính cảm quan của những người châu Âu từng đến Việt Nam thế kỷ XVII-XIX Đó là Ch.Borri,

giáo sĩ Dòng Tên (Xứ Đàng Trong năm 1621) (1998); là Alexandre de Rhodes, vị

giáo sĩ vốn nhiều lần đến Việt Nam (cả Đàng Ngoài và Đàng Trong) trong nhiều

năm (1627-1646) (Hành trình và truyền giáo) (1994); hay Jean Baptiste Tavernier (Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài) (2005) Tác phẩm của các

ông là nguồn bổ sung cần thiết cho những kiến thức về một giai đoạn quan trọng của dân tộc - giai đoạn mở đầu của giao lưu tiếp xúc Đông - Tây Điều quan trọng

là, các cuốn sách đó đã cung cấp một cách nhìn của những người nước ngoài vốn có nhiều điểm khác với những cảm nhận và cách nghĩ suy truyền thống

4

Chính là hệ thống tài liệu do tác giả Hoàng Anh Tuấn sưu tầm mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên

Trang 23

Cũng giống như mô hình xâm nhập phương Đông của nhiều nước châu Âu khác trong thời đại thương mại thế kỷ XVI-XVII, người Anh thông qua Công ty Đông Ấn, tiền thân của hệ thống chính quyền thuộc địa Anh để tới khu vực này Bởi vậy, trong bình diện nghiên cứu chung không thể không tìm hiểu về quá trình hình thành và hoạt động của EIC Đây được coi như khối kiến thức nền tảng rất quan trọng để từ đó đi vào nhận thức những vấn đề cụ thể, trong đó có quá trình xâm nhập của Anh vào khu vực Đông Á, vào Việt Nam Các tài liệu về EIC chủ yếu là của các tác giả nước ngoài, tiêu biểu là các bài viết của C.Mác và tác phẩm của John

Keay “The Honourable Company: A History of English East India Company” (1991), Philip Lawson “The East India Company: A history” (1993)…

Điều đáng chú ý là, C Mác - người sáng lập Chủ nghĩa xã hội khoa học, đã có nhiều bài viết về EIC và là một trong những học giả đầu tiên nghiên cứu về EIC

Trong bài viết nhan đề: “Công ty Đông Ấn, lịch sử và kết quả hoạt động của nó”,

tác giả đã khái quát sự tồn tại và vai trò của EIC đối với nước Anh Ông đã chỉ ra rằng, EIC ra đời là sự thắng lợi của nền thương mại tự do, đồng thời là sự chiến thắng của giai cấp tư sản trước giai cấp phong kiến Anh đương thời Tác giả cũng đưa ra nhiều dẫn chứng về vai trò to lớn của EIC đối với nền kinh tế Anh cũng như

sự ra đời của đế chế Anh ở phương Đông Kể từ sau “Chiến tranh bảy năm” 1763), EIC không chỉ là một thiết chế thương mại mà nó đã trở thành một bộ máy cai trị thuộc địa toàn năng Từ những quan điểm của C.Mác trong nghiên cứu về EIC, chúng tôi coi đó là một trong những cơ sở về phương pháp luận để tìm hiểu sự xâm nhập của EIC vào Việt Nam và các nước Đông Á

“The East India Company: A history” (Philip Lawson, 1993) là tác phẩm

nghiên cứu mang tính hệ thống toàn bộ những hoạt động của EIC Sự khởi đầu khó khăn để giành được một chỗ đứng trong mạng lưới thương mại phương Đông của người Anh bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI và đạt được một số kết quả trong đầu thế kỷ XVII Sự khảo sát kỹ lưỡng hoạt động trong từng giai đoạn cho chúng ta thấy lịch sử thăng trầm với những thành công và thất bại đan xen của EIC Từ một Công ty thương mại, EIC dần trở thành một “quyền lực” có ảnh hưởng và sức mạnh chính trị (1748-1763) Về sau, chính EIC đã gặp khủng hoảng, suy thóai bởi chính cái “sức mạnh chính trị” đó Đó là những luận giải sâu sắc của tác giả thể hiện trong tác phẩm

Ngoài ra, EIC cũng được đề cập tới với mức độ nhất định trong nhiều công trình nghiên cứu với tư cách là công cụ quan trọng nhất trong mở rộng, xâm chiếm

thị trường, đặc biệt là Ấn Độ Nổi bật là các tác phẩm như “A History of the British

India” (William Wilson Hunter, 1899), “The History of the British Empire in India”

(Edward Thornton, 1988), “History of British India under the Company and the

Crown” (E Roberts, 2004)

Trang 24

Trong cuốn đầu tiên, Hunter dành nhiều công sức để dựng lại một cách chi tiết

về bối cảnh của “Chính sách hướng Đông” của người Anh trong thế kỷ XVI (sự khép lại của những con đường thương mại truyền thống, cuộc đấu tranh giữa những người Cơ Đốc và Hồi giáo trên vùng biển Ấn Độ, chính sách của người Bồ Đào Nha ở vùng biển phía Đông) cũng như những hoạt động trong nỗ lực của họ kể từ khi EIC ra đời cho tới sau năm 1623 (Những chuyến đi riêng lẻ từ 1601-1612, cuộc chiến cạnh tranh với người Bồ Đào Nha (1612- 1622), người Hà Lan ở khu vực quần đảo hương liệu (1601-1623…) Hai tác phẩm sau đi sâu tìm hiểu về sự thống trị của thực dân Anh ở Ấn Độ theo diễn biến thời gian Thông qua nguồn số liệu phong phú, các sự kiện chi tiết, có thể biết được các chính sách cai trị cụ thể trong từng thời kỳ của Anh

Trong bộ sưu tập phong phú của thư viện Anh, chủ sở hữu của các di sản tài

liệu về EIC, “Trading Places: The East India Company and Asia 1600-1834”

(A.Farington, 2002) là cuốn sách đề cập sâu về quá trình kinh doanh của EIC với châu Á Trong lịch sử, công ty này đã phát triển từ một hiệp hội lỏng lẻo của các thương gia từ thời Nữ hoàng Elizabeth I thành một xã hội của các thương nhân Với

tư cách là một công ty thương mại, EIC đã kiểm soát một nửa thương mại thế giới

và với tư cách là một thực thể chính trị, EIC quản lý một đế chế phôi thai Từ Ấn

Độ, hoạt động của Công ty dần mở rộng và hướng tới Trung Quốc Cuốn sách cũng trình bày tầm quan trọng của châu Á trong việc hoạch định các kế hoạch của châu

Âu và tiếp tục xem xét các ảnh hưởng của nền văn hóa châu Á đối với cuộc sống của người Anh hiện tại

Nhìn chung, các tài liệu trên cho chúng tôi một cách nhìn toàn diện và hệ thống về EIC và hoạt động của nó, dù chủ yếu liên quan tới Ấn Độ Thông qua đó, mối quan hệ giữa EIC với chính quyền Anh được nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn EIC được coi là đã từng đóng một vai trò to lớn trong việc xác lập nền móng về các mặt lãnh thổ, hành chính, quân đội, kinh tế… đối với sự hình thành của đế chế Anh sau này

Trong hệ thống các công trình liên quan còn có những tài liệu viết về sự xâm

nhập của EIC ở các quốc gia Đông Á khác Các tác phẩm “Asia and Western

Dominance” (K.M Panikka, 1994), “English Intercourse with Siam in the Seventeenth Century” (John Anderson, 1890)… đã đem lại khối kiến thức quan

trọng liên quan tới các mối quan hệ của EIC với Đông Á, giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn cảnh về cách thức xâm nhập của Anh ở Việt Nam trong gần ba thế kỷ

Về ảnh hưởng của phương Tây đối với xã hội châu Á, tác giả công trình: “Asia

and Western Dominance” đã đề cập tới EIC như một nhân tố tạo nên nền tảng thiết

yếu cho người Anh ở Ấn Độ Từ đó, Anh tiếp tục mở rộng ảnh hưởng sang Đông Á

Trang 25

và Trung Quốc Khu vực Đông Nam Á được coi là vị trí trung chuyển giữa Ấn Độ - Trung Quốc Bởi thế, nó nằm trong mục tiêu chiếm hữu của người Anh Tác giả nhấn mạnh rằng, Đông Nam Á vốn không nằm trong kế hoạch chiến lược của EIC, nhưng chính thị trường Trung Quốc đã làm thay đổi kế hoạch này Trong cuốn

“English Intercourse with Siam in the Seventeenth Century”, John Anderson chỉ ra

một cách hệ thống về quan hệ Anh - Xiêm trong thế kỷ XVII, những nhân tố thuận lợi và khó khăn của EIC tại thị trường này, đặc biệt là cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa EIC và VOC trong những năm 1612-1623, sự thất bại của EIC ở Xiêm năm

1623 và sau đó là sự trở lại vào 1661 Tác giả cũng chỉ ra triển vọng của thương điếm tại Ayutthaya từ giữa 1661-1684 EIC dần chiếm lĩnh thị trường Xiêm, thâu tóm thương mại, tác động tới tình hình chính trị đất nước Tài liệu cũng đề cập tới thương điếm Công ty ở Cao Miên vào 1654-59 Tuy có những luận điểm cần xem xét lại (chẳng hạn việc tác giả nhận thức rằng sự định cư ở Louvec bắt đầu từ 1651 nhưng là trái phép và bị giải thể vào 1656) nhưng đây là cuốn sách có giá trị được chúng tôi tham khảo trong quá trình làm luận án

Với các công trình chuyên khảo: Ch.B.Maybon là một trong những tác giả

phương Tây đầu tiên nghiên cứu về quan hệ Anh - Việt Nam giai đoạn tiền thực dân Ông đã có nhiều tiểu luận và công trình nghiên cứu nổi tiếng mà tác giả luận án tiếp thu

được rất nhiều, điển hình là: “Những người châu Âu ở nước An Nam” (2006) Trên cơ

sở sưu tầm, khai thác, xử lý một khối lượng thông tin lấy từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, bao gồm những bản thảo gốc, thư từ, hồ sơ của các kho lưu trữ, các du ký đương thời, nhiều sách báo tham khảo và cả các bộ chính sử của nhà Nguyễn, các công trình

của Ch.B.Maybon là những tư liệu trực tiếp khi nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - phương Tây, Việt Nam - Anh Thông qua “Những người châu Âu ở nước An Nam”, tác

giả đã phác dựng lại các hoạt động tôn giáo và thương mại của giáo sĩ, thương nhân

phương Tây thế kỷ XVII-XVIII tại Việt Nam Trong “Thương điếm Anh ở Đàng Ngoài

thế kỷ XVII” (được dịch và xuất bản chung trong “Những người châu Âu ở nước An Nam”), lần đầu tiên những tư liệu lưu trữ viết về EIC và thương điếm Anh ở Hiến

Nam, sau chuyển lên Kẻ Chợ được khai thác một các có hệ thống Điều đặc biệt là ngoài việc cung cấp các hồ sơ (trong đó chia thành ba loại, hồ sơ hàng hải, hồ sơ thương điếm, hồ sơ chung), Ch.B Maybon đã bổ sung, mở rộng bằng một hệ thống

chú thích kỹ lưỡng, có giá trị như một kênh thông tin thứ hai cho người đọc

Năm 1970, tác phẩm “The Mandarin Road to Old Hue” của Alastair Lamb

được xuất bản Đây là công trình mang tính chuyên sâu đầu tiên về lịch sử quan hệ Anh - Việt Cho đến nay, công trình vẫn được coi là một tham khảo có giá trị cho giới nghiên cứu trong và ngoài nước Trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn tư liệu, tác giả đã trình bày tương đối hệ thống về các phái bộ Anh đến Việt Nam trong gần ba

Trang 26

thế kỷ Thông qua những trang viết, lịch sử Việt Nam thời kỳ này cũng được tái hiện một cách sống động Ngoài ra, vì không có điều kiện tham khảo trực tiếp nguồn tài liệu gốc là những ghi chép, nhật ký của trưởng các phái bộ Anh tới Việt

Nam nhưng thông qua công trình: “The Mandarin Road to Old Hue”, chúng tôi

cũng được tiếp xúc một phần hệ thống tài liệu này Sau mỗi phần giới thiệu về các chuyến đi đến Việt Nam của phái bộ Anh theo thứ tự thời gian từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, A.Lamb cũng đã cung cấp một số ghi chép cơ bản của những người đứng đầu phái bộ

Cùng với những công trình nêu trên, tác phẩm nghiên cứu mang tính hệ

thống “Lịch sử Đông Nam Á” (1997) của D.G.E.Hall đã được dịch ra tiếng Việt

Đây là một công trình hữu ích, đề cập đến sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây và các công ty Đông Ấn vào Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng Con đường giao thương cũng như các hình thức buôn bán của EIC ở từng nước Đông Nam Á được tác giả tái hiện khá rõ ràng Bên cạnh đó, tác giả cũng viết về những cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa VOC và EIC ở thị trường Đông Nam

Á và Việt Nam

Anthony Farrington là một chuyên gia về EIC Những công trình của ông về

EIC đề cập đến một không gian rộng lớn: “Trading Places: The East India

Company and Asia 1600-1834” (2002), nhưng cũng có thể khuôn vấn đề vào từng

nước: “The Japan Base: English East India Company Attempts at inter-Asia Trade

from Japan, 1613-1623” (2000) Với Việt Nam, những tài liệu về EIC liên quan tới

Đàng Ngoài lưu trữ trong kho tư liệu của Thư viện Anh được ông công bố trong:

“Những tài liệu của Công ty Đông Ấn Anh liên quan đến Phố Hiến và Đàng Ngoài”

(1994) Tài liệu cung cấp một cái nhìn cụ thể về các hoạt động của thương điếm Anh tại Hiến Nam, từ “Đến và đi”, những điều kiện buôn bán tới ngoại thương ở

Phố Hiến và “sinh hoạt ở Việt Nam” thông qua Sổ ghi chép hàng ngày (Journal

Registers) dưới hình thức nhật ký của các giám đốc thương điếm Sổ ghi chép hàng

ngày cùng với bản sao một số bức thư nhận được từ Bantam hay Madras (nơi chịu trách nhiệm quản lý thương điếm sau năm 1682) kết hợp những tin tức về bối cảnh của chúng trên thực tế đã cung cấp một bức tranh tỉ mỉ về Đàng Ngoài nửa sau thế

kỷ XVII Hệ thống các ghi chép này không những có giá trị cung cấp những thông tin cần thiết cho những quyết định đầu tư của Công ty đương thời mà còn đặc biệt

có ích cho việc tham khảo, nghiên cứu hiện nay về một giai đoạn hoạt động trong toàn bộ quá trình tồn tại của EIC, nhất là những liên quan tới thị trường Việt Nam Liên quan tới sự xâm nhập và hoạt động của EIC tại Đàng Ngoài không thể

không nhắc tới công trình: “Britain and the China Trade 1635-1842” Đây là tác

Trang 27

phẩm đồ sộ gồm 10 cuốn của tập thể nhiều tác giả, là công trình tập hợp tài liệu đề cập đến lịch sử hoạt động thương mại Anh ở Trung Quốc từ thế kỷ XVII - giữa thế

kỷ XIX Đáng tiếc là chúng tôi không có điều kiện tiếp xúc với toàn tác phẩm này

mà chỉ có thể tham khảo cuốn thứ nhất (trong tổng số 5 cuốn) của “The Chronicles

of the East India Company Trading to China 1635-1834” (H.B.Morse, 1926) Trên

cơ sở phân tích các hồ sơ của Công ty Đông Ấn, ông đã phân tích tình hình thương mại của EIC với Trung Quốc từ 1635-1753 Trong tổng thể kế hoạch của người Anh nửa sau thế kỷ XVII có sự hiện diện của Việt Nam, dù là muộn mằn Thương điếm Đàng Ngoài được đề cập với dung lượng không nhiều (từ trang 36-40) nhưng cho thấy là một phần kết quả của các nỗ lực người Anh đạt được trong chiến lược mở rộng thị trường Đông Á

1.3 Nhận xét

Nhìn tổng thể vào hệ thống tài liệu mà chúng tôi có điều kiện tiếp xúc và khai thác có thể rút ra những nhận xét sau:

- Về nguồn tài liệu gốc: Những tài liệu gốc từ chính sử của Việt Nam phản ánh

về tình hình các phái bộ Anh đến và hoạt động ở Việt Nam có những điểm hạn chế

về quan điểm biên soạn cũng như thiếu các thông tin cụ thể Dẫu vậy, những thông tin trong chính sử và các nguồn tài liệu của Việt Nam đã được khai thác tương đối triệt để Để bổ sung, những tài liệu gốc trong kho tư liệu EIC thuộc Thư viện Anh

đã được tập trung khai thác nhưng độ trù mật của nguồn tài liệu này chủ yếu nằm trong khoảng hai thập kỷ ứng với giai đoạn thương điếm Anh tiến hành buôn bán với Đàng Ngoài thế kỷ XVII Trong thế kỷ XVIII-XIX, lượng tài liệu gốc khai thác còn đặc biệt ít ỏi, chỉ một phần nhỏ tập hợp trong công trình của tác giả Lamb Các

du hành ký hay nhật ký của một số thành viên phái bộ là không nhiều và chỉ phản ánh một thời đoạn nhất định trong tiếp xúc Anh - Việt Nam Đôi khi, những tài liệu này cũng bị hạn chế bởi những nhận định mang tính chủ quan của người viết

- Các công trình nghiên cứu trực tiếp ở trong và ngoài nước về sự xâm nhập của Anh vào Việt Nam thật sự ít ỏi Trong thế kỷ XX chỉ có ba nghiên cứu của các tác giả Ch.B.Maybon, A.Lamb và A.Farrington Đầu thế kỷ XXI có một số công trình của tác giả Hoàng Anh Tuấn và một số nhà nghiên cứu khác Các cuốn sách

đó chủ yếu tập trung tìm hiểu về hoạt động của thương điếm Anh ở Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII

- Nhìn chung, những nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập tới những vấn đề cơ bản của đề tài nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và liên kết sâu sắc Đặc biệt, việc tìm hiểu vấn đề trong một toàn cảnh xâm nhập Đông Á của EIC cũng chưa được các tác giả thực sự quan tâm Cùng với

Trang 28

VOC, và sau này là Công ty Đông Ấn Pháp (CIO), hoạt động của EIC có vị trí quan trọng trong lịch sử Việt Nam cuối thời trung đại Để có một cái nhìn hệ thống, lý giải sự xâm nhập của Anh vào Việt Nam, phân tích những nguyên nhân của sự xâm nhập cũng như thất bại của nó và từ đó nêu ra những hệ quả của quá trình ấy rõ ràng còn là mảng đề tài khá trống vắng, đặc biệt là công trình bằng tiếng Việt, đòi hỏi những đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, hoàn chỉnh trong thời gian tới Theo định hướng trên, luận án muốn đi sâu tìm hiểu, góp phần làm sáng tỏ những khoảng trống về nhận thức lịch sử đồng thời hy vọng góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn

về nghiên cứu lịch sử quan hệ Anh - Việt Nam cũng như giữa Việt Nam với các nước phương Tây thế kỷ XVII-XIX

Trang 29

Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY ANH ĐẾN VIỆT NAM

2.1 Những biến chuyển của tình hình châu Âu

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản

Thế kỷ XVI-XVII đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử châu Âu gắn với

sự ra đời của CNTB Từ thế kỷ XIV-XV, nhiều quốc gia ở Nam và Tây Âu đã bước vào thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản Sự xuất hiện những cách thức tổ chức, quản lý sản xuất mới trong cách ngành công - thương nghiệp đã làm thay đổi diện mạo kinh tế và xã hội châu Âu Những chuyển biến đó không chỉ có ý nghĩa đối với các hoạt động kinh tế mà còn dẫn đến nhiều chuyển biến trong đời sống tư tưởng và văn hóa CNTB trong giai đoạn đầu hình thành được gọi là “Chủ nghĩa tư bản trọng thương” hay “Chủ nghĩa tư bản thương nghiệp”, tích cực thực hiện quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản Để thực hiện công việc này, giai cấp tư sản cố gắng tập trung bằng mọi giá vào tay họ nguồn vốn và tư liệu sản xuất… Theo đó, “Những tiền vốn, những hàng hóa dồi dào, những tàu bè và vũ khí: đó là các phương tiện để phát triển thương mại, để khám phá và chinh phục” [6, tr.42] Hơn thế, “… việc bắt đầu đi chinh phục và cướp bóc miền Đông Ấn, việc biến châu Phi thành khu cấm để săn bắt buôn bán người da đen… Đó là những yếu tố chủ yếu của sự tích lũy tư bản ban đầu” [6, tr.43] Nhiều cuộc thám hiểm đến những vùng đất mới được mở ra, là cơ sở cho sự ra đời của những phát kiến địa lý Người Bồ Đào Nha là lực lượng tiên phong trong việc khám phá thế giới mới Những phát kiến địa lý trong thế kỷ XV-XVI đã mở ra “Thời kỳ Columbus” hay

“Thời đại Vasco da Gama”, dẫn dắt tầng lớp tư sản châu Âu đi khắp thế giới, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển của CNTB để rồi đến thế kỷ XVII, nền kinh tế TBCN đã hình thành rõ rệt ở châu Âu

Như vậy, từ nhu cầu phát triển tự thân của các nền kinh tế, với những tham vọng về chính trị và tôn giáo, nhiều nước châu Âu đã tìm đến châu Phi, châu Á và châu Mỹ Đến lượt mình, như hệ quả tất yếu từ sau các phát kiến địa lý, nguồn của cải từ các nước phương Đông đã tạo nên cho các nước châu Âu một sự phát triển kinh tế năng động Không thỏa mãn với những kết quả đạt được, các cường quốc phương Tây tiếp tục có những đòi hỏi, yêu cầu mới về thị trường Tình hình trên là nhân tố quan trọng thúc đẩy các nước tư bản phương Tây, trong đó có nước Anh tìm đến với các quốc gia ở Đông bán cầu để phát triển thương mại, khám phá và chinh phục, hiện thực hóa mức độ gia tăng giá trị thặng dư, mở rộng tối đa lợi nhuận, củng

cố quyền lực của các chính thể tư sản

Trang 30

2.1.2 Sự hình thành các quốc gia tư bản vùng Đại Tây Dương

Những phát kiến địa lý vĩ đại trong thế kỷ XV-XVI đã dẫn đến sự phát triển các yếu tố kinh tế TBCN trong lòng chế độ phong kiến và cũng đồng thời là một trong những nhân tố tác động tới sự ra đời các quốc gia tư bản vùng Đại Tây Dương Từ khu vực địa - chiến lược này các nước Hà Lan, Anh, Pháp… đã dần thay thế cho các nước khu vực Địa Trung Hải trước đó nắm giữ vai trò chủ đạo kinh tế châu lục

Trong lịch sử, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã xây dựng nên những đế quốc thực dân đầu tiên Các quốc gia này, dựa trên một chính quyền quân chủ tập trung mạnh, chủ trương phát triển kinh tế TBCN bằng việc theo đuổi “Chủ nghĩa trọng thương” Các quốc gia Nam Âu đã ra sức khuyến khích hoạt động mậu dịch quốc tế, thám hiểm, tranh giành các vùng đất mới ở châu Mỹ, châu Phi, châu Á và châu Đại Dương Theo tinh thần của hiệp định Tordesillas (1494), Bồ Đào Nha chiếm giữ ưu thế ở phương Đông còn Tây Ban Nha được phân chia lợi ích ở phương Tây Trên bước đường hình thành đế quốc thực dân, năm 1511 Bồ Đào Nha đã cho quân chiếm eo biển Malacca, đảo Java những địa điểm án ngữ con đường buôn bán Ấn

Độ - Trung Quốc Tiếp tục tiến sâu lên phía bắc, họ tới Macao (Trung Quốc) Từ

đó, thông qua con đường hàng hải Malacca - Macao, các thuyền buôn Bồ Đào Nha bắt đầu tiếp xúc với các điểm buôn bán của Việt Nam

Sự ra đời của nước Cộng hoà Hà Lan năm 1581 đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các hoạt động kinh tế TBCN tại Xứ đất thấp này Nhờ có các hoạt động giao thương quốc tế, Hà Lan đã mau chóng trở thành cường quốc hàng hải đứng đầu thế giới Từ châu Phi và Tây Á, thương nhân Hà Lan đã tìm đường sang Đông Ấn thu mua gia vị, hương liệu và thu được ở thị trường này những món lợi khổng lồ Từ năm 1602, với sự thành lập của VOC, chính quyền Hà Lan có đại diện chính thức ở phương Đông Trước khi VOC ra đời, năm 1601, người Hà Lan cũng

đã tới Đàng Trong Năm 1637, họ đến Đàng Ngoài, đặt thương điếm và tiến hành buôn bán với cả hai miền trong thế kỷ XVII

Nối gót Bồ Đào Nha và Hà Lan, người Anh và Pháp cùng phát triển thế lực của mình sang phương Đông Từ năm 1664, CIO được thành lập và bắt đầu xây dựng nhiều cứ điểm thương mại ở Ấn Độ như Surate, Chandernagor, Pondichéry Con đường thâm nhập đến Việt Nam của người Pháp được mở ra bắt đầu từ những hoạt động truyền giáo Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XVII, các thương nhân Pháp phối hợp chặt chẽ với các giáo sĩ để xác lập ảnh hưởng và buôn bán ở Việt Nam Tuy là những người đến sau, song Pháp đã đạt được kết quả đáng kể ở Đại Việt

Trang 31

Như vậy, những thành tựu hàng hải quan trọng cùng với những kiến thức địa lý phong phú đã cho phép người châu Âu đi đến Ấn Độ bằng con đường đưa thuyền vòng qua mũi Hảo Vọng (Good hope) của châu Phi Sự ra đời của các Công ty Đông

Ấn của các nước châu Âu vào thế kỷ XVII phản ánh một xu thế muốn mở rộng và xác lập thị trường buôn bán với khu vực châu Á Ngay sau sự ra đời của EIC (1600)

là VOC (1602), Công ty Đông Ấn Đan Mạch (1616), Công ty Đông Ấn Genoese của Italia (1647), CIO (1664) Mục đích của các Công ty này là tiến hành buôn bán ở vùng thị trường rộng lớn thuộc đông Ấn Độ, kiểm soát thương mại ở vùng biển Ấn

Độ Dương Đại diện cho các nhà nước, những công ty độc quyền là đòn bẩy mạnh

mẽ để tích tụ tư bản, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa bùng

nổ ở châu Âu từ cuối thời trung đại Cùng với Ấn Độ, khu vực Đông Á đã trở thành mục tiêu chinh phục của các quốc gia phương Tây đang bước dần vào quỹ đạo phát triển tư bản chủ nghĩa Trong các quốc gia phương Tây nổi lên vai trò của những người Hà Lan, Anh và Pháp Họ chính là các thế lực tư bản theo đuổi bền bỉ công cuộc chinh phục Đông Á trong đó có Việt Nam để tìm kiếm nguyên liệu, thị trường,

mở mang thuộc địa, nuôi tham vọng trong cuộc đua bành trướng thế giới

2.1.3 Những chuyển biến xã hội - văn hóa

Những chuyển biến kinh tế mạnh mẽ của châu Âu trong các thế kỷ XVIII là cơ sở quan trọng để đưa tới những chuyển biến xã hội - văn hóa Hai giai cấp cơ bản là tư sản và vô sản của xã hội cận đại châu Âu đã ra đời

XVII-Kể từ thế kỷ XIV, ở nhiều nước châu Âu phát triển đã xảy ra những cuộc khủng hoảng lớn điển hình như sự giải phóng tư tưởng, biến đổi kinh tế theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa Chịu ảnh hưởng của văn hóa Phục hưng, phong trào Cải cách Tôn giáo đã được phát động sâu rộng, thúc đẩy ý thức hệ tư bản chủ nghĩa, trong đó có tinh thần khoan dung và chủ nghĩa trọng thương Đạo Tin Lành ra đời là kết quả của phong trào Cải cách Điều nhấn mạnh là tôn giáo này được coi là một nhân tố chủ yếu dẫn tới sự ra đời của CNTB công nghiệp5 Ngay từ giữa thế kỷ XVI, Tin Lành được truyền bá rộng rãi ở nhiều nước Tây và Bắc Âu, chiếm được lòng tin của các tầng lớp tư sản trở thành một ý thức hệ tư sản Cũng từ đây, phong trào Phản Cải cách của Giáo hội đã xuất hiện nhằm lấy lại uy tín của nhà thờ Cơ Đốc La Mã, chống lại Tin Lành Cuộc vận động Cải cách và Phản Cải cách tôn giáo

ở nhiều nước châu Âu chứng tỏ rằng, những biến đổi của nền kinh tế đã làm biến đổi những tương quan giá trị xã hội và do đó trong tôn giáo chia ra nhiều phái tương phản nhau

5

Đạo Tin Lành đề xướng và cổ vũ đức tính tiết kiệm (dùng những của cải tiết kiệm được không phải cho hưởng lạc cá nhân mà cho tích lũy để đầu tư sản xuất) cũng như coi lao động (với nội dung làm ra của cải nhiều hơn, trước hết bằng kinh doanh) là sứ mệnh của con người

Trang 32

Các khái niệm về tự do của lương tâm và quyền tự do cá nhân nảy sinh từ thời

kỳ đầu tiên của phong trào Cải cách đã phát triển qua một thời gian dài liên tục, gieo mầm cho sự phát triển của tiến trình dân chủ hóa và cho Thời kỳ Khai sáng

(Enlightenment) diễn ra trong thế kỷ XVIII Thời kỳ Khai sáng thường được liên hệ

chặt chẽ với cuộc Cách mạng Khoa học, cùng góp phần tạo ra cơ sở tri thức cho nhiều cuộc Cách mạng của nhân loại (Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp…) và là nguyên nhân đưa tới sự nổi lên của các vấn đề như chủ nghĩa tự do, dân chủ…6 Từ đây, các nguyên tắc của tự do thương mại được đề ra bởi các nhà kinh tế học vào cuối thế kỷ XVIII, tiêu biểu là Adam Smith [44, tr.86] Thuyết kinh tế tự do đã ảnh hưởng quan trọng tới việc đẩy nhanh quá trình bành trướng thuộc địa của giai cấp tư sản châu Âu thế kỷ XIX

Những thay đổi về chất trong tình hình xã hội - văn hóa châu Âu đã đánh dấu bước phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các nước, qua đó là động lực quan trọng để đưa giai cấp tư sản tự tin trên con đường mở rộng, chinh phục thị trường thế giới, khẳng định vị thế

Tóm lại, lịch sử thế giới với trung tâm là châu Âu được biến đổi qua ba sự kiện

quan trọng Đầu tiên là các cuộc phát kiến địa lý Việc phát hiện ra những vùng đất

mới hình thành nên mối liên thông xuyên đại dương giữa Địa Trung Hải và Đại Tây Dương Kể từ đây, kinh tế trở thành vấn đề có tính chất thời sự và nhu cầu tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới thay thế trở nên bức thiết với những nước ở khu vực Tây

Âu Sức hấp dẫn của những mặt hàng là thế mạnh của châu Á như gia vị, vàng, sừng

tê giác… đã thôi thúc người châu Âu hướng mạnh về phương Đông Hoạt động trao đổi và cạnh tranh thương mại phát triển mạnh mẽ trên phạm vi thế giới trở thành nhân

tố quan trọng cho việc xuất hiện nền thương mại toàn cầu Thời đại thương mại và kỷ nguyên đại hàng hải dẫn dắt tư sản châu Âu đi khắp nơi trên thế giới dựa trên hai cơ

sở, đó là nhu cầu tự thân và sự tiến bộ kỹ thuật Thứ hai là trào lưu văn hóa Phục

hưng, cuộc cách mạng tư tưởng mở đường cho những biến đổi xã hội căn bản sau đó

Và thứ ba là phong trào Cải cách tôn giáo, cùng với chiến tranh nông dân ở Đức đã

trở thành trào lưu tôn giáo - xã hội nổi bật, làm rung chuyển tận gốc chế độ phong kiến, mở đường cho một trật tự xã hội - tư tưởng mới Hệ quả từ những biển chuyển trên là ba cuộc cách mạng diễn ra ở Tây Âu Đó là Cách mạng công nghiệp từ giữa thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng diễn ra trong lĩnh vực trí tuệ, tinh thần và cuộc cách mạng trên địa hạt chính trị - xã hội Những cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ

6

Cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ đã dựng nên một nhà nước đầu tiên có một hiến pháp dựa trên khái niệm về một nhà nước tự do, cụ thể là ý niệm nhà nước cai trị dựa trên sự đồng thuận của những người bị trị Các phần tử tư bản ôn hòa trong Cách mạng Pháp đã cố thiết lập một nhà nước dựa trên các nguyên tắc tự do

Trang 33

làm thay đổi mô hình phát triển của lịch sử nhân loại Hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa đã thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến Sự ra đời của hình thái kinh tế

tư bản chủ nghĩa là hiện tượng không chỉ tác động đến xã hội Tây Âu mà còn ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc đến các khu vực khác trên thế giới Nó cũng đồng thời mở

ra một thời kỳ mới cho sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa các khu vực trong toàn cầu Trong xu thế chung đó, các thương gia Anh có điều kiện đến buôn bán ở nhiều địa điểm của phương Đông, ở Đông Á và Việt Nam

2.2 Nước Anh và những cơ sở cho mục tiêu “hướng Đông”

2.2.1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Anh

Bắt nhịp với xu thế phát triển của thời đại, chủ nghĩa tư bản Anh đã hình thành với những đặc trưng riêng Cuộc cách mạng diễn ra trong lĩnh vực nông nghiệp ở Anh vào khoảng 30 năm cuối thế kỷ XV và kéo dài trong suốt thế kỷ XVI dẫn tới

sự ra đời của giai cấp tư bản nông nghiệp Cách mạng trong nông nghiệp tạo ra tiền

đề cho sự hình thành của nền đại công nghiệp Anh sau đó Nhưng trước khi ở Anh xuất hiện tư bản công nghiệp thì ở đất nước này thời trung cổ đã tồn tại hai lực lượng được coi là tư bản Đó là tư bản cho vay nặng lãi và tư bản thương nhân [52, tr.329], tầng lớp tư bản đầu tiên theo chủ nghĩa tư bản trọng thương, thực hiện quá trình tích lũy nguyên thủy của CNTB Anh

Từ thế kỷ XVI, một thời kỳ phát triển sôi động, nhiều biến cố và có ý nghĩa thời đại của nền kinh tế Anh bắt đầu Trong vòng ba thế kỷ tiếp theo, Anh nhanh chóng trở thành cường quốc ở châu Âu với một hệ thống thuộc địa rộng lớn nhất thế giới Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của nền kinh tế Anh là hoạt động ngoại thương Các hoạt động ngoại thương nói riêng, thương nghiệp nói chung của Anh lại được nhà nước Tudor (1485-1603) có chính sách hậu thuẫn nên càng có cơ

sở phát triển Hoạt động ngoại thương phát triển nhanh đã khiến thương nhân Anh không ngừng lớn mạnh và ngày càng có vai trò trong xã hội Anh Do yêu cầu đảm bảo quyền lợi và sức cạnh tranh có hiệu quả với tư thương và các tổ chức buôn bán nước ngoài, thương nhân Anh đã thành lập các tổ chức của họ, qua đó vừa cạnh tranh hiệu quả với các thương nhân châu Âu khác, vừa có nhiều hoạt động rộng rãi, phiêu lưu mạo hiểm trên nhiều hải cảng của châu Âu7 Được nhà nước có những chính sách khuyến khích và tạo điều kiện, đặc biệt dưới thời Elizabeth I (1558-1603), bộ phận này ngày càng tăng về số lượng và vững mạnh hơn về tài chính, góp phần quan trọng trong cung cấp vốn đầu tư cho các chuyến đi của các thương thuyền Anh trong mạng lưới thương mại châu Âu khi đó

7

Tiêu biểu là các hoạt động của thương hội Canterbury Xem [91, tr.39-40]

Trang 34

Sự hưng thịnh của nền ngoại thương Anh cùng với nền nội thương không chỉ đem lại nguồn lực kinh tế để Anh cạnh tranh với các đối thủ châu Âu khác mà còn làm tăng sức mạnh chính trị của đất nước, “ngoại thương là sự giàu có của vương quốc, là danh dự của quốc vương, là sứ mệnh cao quý của thương nhân…, là sự cải thiện đất đai chúng ta,…, là động lực chiến tranh của chúng ta, là sự khủng khiếp của kẻ thù chúng ta.” [6; tr.62] Đây là điều giai cấp tư sản Anh đã nhận thức rất rõ ngay từ thế kỷ XVII Nhận thức này càng đưa tới quyết tâm chinh phục nền thương mại thế giới của thương nhân và chính quyền Anh

Phát triển thương mại của tư bản trọng thương đã đưa tới những nhu cầu về thị trường và thuộc địa Hệ quả là, chủ nghĩa thực dân Anh đã xuất hiện Quá trình mở rộng thị trường và bành trướng thuộc địa của tư bản Anh trước tiên nhờ vào sự phát triển nhanh chóng của lực lượng hàng hải Năm 1588, lực lượng hải quân Anh đã đánh tan “Hạm đội vô địch” (Armada) của lực lượng hải quân Hoàng gia Tây Ban Nha Sự kiện này chứng tỏ sự lớn mạnh của hải quân Anh, Anh đã chính thức thóat khỏi sự “rụt rè” trước đó trong việc vươn ra thế giới Hải quân Anh nhanh chóng trở thành lực lượng quan trọng, đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của thương mại hàng hải Con đường dẫn tới các vùng biển quốc tế rộng lớn và các vùng đất xa xôi, giàu có đã mở ra trước mắt người Anh Các quốc gia ở phương Đông trở thành một trong những mục tiêu chính trong công cuộc chinh phục Sự ra đời của Công ty Đông Ấn Anh (1600) là một khởi đầu đầy ý nghĩa khẳng định con đường hướng tới

Ấn Độ Dương của người Anh Từ nửa sau thế kỷ XVII, lực lượng hải quân Anh vươn lên ngày càng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho Anh mở rộng thị trường, thuộc địa

và nâng cao vị thế của Anh trên bản đồ thương mại thế giới

Kể từ sau cuộc Cách mạng tư sản giữa thế kỷ XVII, nước Anh đã có những chuyển biến căn bản về mặt chính trị và kinh tế Tiếp theo đó, “Cách mạng quang vinh” (cuối thế kỷ XVII) đã xây dựng chế độ quân chủ lập hiến, thay đổi chính thể nước Anh [17, tr.155] Nói cách khác, chính hình thức tổ chức nhà nước theo chế độ quân chủ lập hiến có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, dọn đường cho giai cấp tư sản Anh tiến tới chủ nghĩa tư bản Cùng với nhu cầu tự thân do sự phát triển nền ngoại thương Anh là những tiến bộ của kỹ thuật, nhất là hàng hải và quân sự Đây là những điều kiện căn bản giúp cho đế chế Anh

mở rộng thị trường cả trong và ngoài nước Những chuyển biến căn bản trong chế

độ ruộng đất và bành trướng thuộc địa là hai đặc điểm nổi bật trong tình hình nước Anh thế kỷ XVII, XVIII Từ giữa thế kỷ XVIII, nước Anh bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ, cuộc Cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên trong lịch

sử Kể từ đây, sự sản xuất kỹ nghệ ngày càng tăng, thương mại càng phát triển, thị

Trang 35

trường càng phải mở rộng, sức bành trướng đế quốc thực dân càng mãnh liệt Theo dòng phát triển của chủ nghĩa thực dân Anh, sự xâm nhập của Anh vào Đông Á và Việt Nam dựa trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Anh hay những điều kiện chủ quan mà họ đã cố gắng tạo dựng qua thời gian

2.2.2 Sự ra đời của Công ty Đông Ấn Anh năm 1600

Xét về mặt thời gian, Anh chính thức tham gia vào mạng lưới buôn bán ở phương Đông muộn hơn so với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và vì thế gặp bất lợi hơn những nước này trong quan hệ kinh tế với phương Đông Để tháo gỡ vấn

đề trên, một số kế hoạch được thực hiện Các triều vua Anh (từ thời Henry VII (1485-1509) đã nhận thấy triển vọng trong việc thâm nhập vào mạng lưới buôn bán

với Đông Ấn thông qua đường biển của các thuyền buôn châu Âu khác nhưng

không thể thực hiện vì sự yếu thế của Anh trong cơ cấu chính trị châu Âu thế kỷ XVI8 Để phá vỡ thế độc quyền của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chính quyền Anh (từ năm 1485 cho đến thập niên 1560) ủng hộ ý kiến tìm một con đường biển tới phương Đông đi từ phía đông bắc hoặc tây bắc của châu Âu9 Người Anh dường như bị ám ảnh trong việc cố gắng tìm ra con đường an toàn tới phương Đông mà không đụng phải thế lực Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Tuy nhiên, hy vọng cũng như tiền của đầu tư vào việc mở ra con đường tới phương Đông qua vùng biển phía bắc giá lạnh trở nên vô ích

Dưới thời Nữ hoàng Mary I (cq: 1553-1558), chiến lược phương Đông của người Anh có thay đổi quan trọng, đó là từ bỏ con đường biển phía đông bắc và tập trung phát triển con đường đông nam Nhưng vì vẫn chủ trương tránh xung đột với các thế lực Iberia nên Hoàng gia Anh khuyến khích thương nhân đi sang phương

Đông bằng đường bộ qua khu vực đông Địa Trung Hải để tiến về Ấn Độ và Đông

Nam Á Năm 1555, Mary I đã ban dụ lệnh cho Công ty Muscovy buôn bán với phương Đông thông qua các vùng đất thuộc Nga hoặc dưới sự ảnh hưởng của Nga [124, tr.12-13] Người kế nhiệm, Nữ hoàng Elizabeth I (cq: 1558-1603) tiếp tục ủng

hộ ý tưởng này Năm 1581, ý định tiếp cận thị trường phía Đông bằng đường bộ qua buôn bán với các nước Trung Đông của người Anh được tiếp nối với việc cho ra đời công ty Levant Tuy nhiên, giải pháp trên sớm thất bại do sự lớn mạnh không ngừng của người Hà Lan trong nắm giữ sự kiểm soát hàng hóa phương Đông trên thị trường châu Âu

8

Hiệp ước Zaragossa năm 1529 đã đưa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nắm thế chủ động trong những cuộc hành trình buôn bán ở bán cầu đông và tách Anh ra khỏi việc thông thương với phương Đông

9

Chuyến đi của John Cabot năm 1496 được cấp giấy chứng nhận đặc quyền của vua khi ông này lên thuyền từ tây bắc Bristol để tìm đường tới thị trường hương liệu và tơ tằm lớn ở châu Á Hay chuyến đi năm 1553 của Hugh Willoughby và Richard Chancellor năm 1553 theo phía đông bắc tới Trung Quốc đi qua Na-uy và Nga Xem [124, tr.8]

Trang 36

Sau những nỗ lực không thành của Công ty Levant, người Anh nhận ra rằng

để không bị loại trừ khỏi mạng lưới thông thương, họ phải tập trung phát triển tuyến

đường biển đến châu Á cho dù phải đương đầu trực tiếp với thế lực Bồ Đào Nha

Nhận thức này lập tức gây ấn tượng mạnh với các thương gia Anh, thế lực đang không ngừng lớn mạnh Bên cạnh đó, một nhận thức cũng không kém phần quan trọng, đó là để ý đồ thành công, cách duy nhất là phải có sự kết hợp những nỗ lực của cả chính quyền và những thương gia Hoạt động của Công ty Levant dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tính chất lẻ tẻ, phân tán của tư thương Anh đã làm cho tính cạnh tranh của họ yếu hơn so với các đối thủ khác

Lịch sử chủ nghĩa bành trướng Anh ghi nhận những thất bại của người Anh trong việc can thiệp vào độc quyền của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trên thị trường phương Đông đã kết thúc dưới thời trị vì của Nữ hoàng Elizabeth I Người Anh dường như đã tìm thấy sức mạnh để đương đầu với đe dọa của nhiều thế lực cản trở, điển hình là chiến thắng trước Hạm đội Armada năm 1588 Sự phát triển của hải thương Anh từ nửa cuối thế kỷ XVI không chỉ có nguyên nhân từ cá nhân người đứng đầu Hoàng gia [88, tr.14] mà còn cả từ những chuyển biến mang tính tích cực của xã hội Anh Trước tiên, đó là sự lớn mạnh của các thương nhân London góp phần quan trọng trong việc cung cấp vốn đầu tư cho các chuyến đi được vũ trang tốt nhằm đương đầu với Bồ Đào Nha Thứ hai là làn sóng tuyên truyền về kiến thức và hàng hải phương Đông đã lan rộng mạnh mẽ trong toàn nước Anh thông qua những

ấn phẩm văn thơ với những tên tuổi tiêu biểu như Richard Hakluyt Làn sóng trên

đã kêu gọi ủng hộ cho những tham vọng bành trướng của Anh, phá vỡ thế độc quyền của Bồ Đào Nha Và cuối cùng, một yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ Anh, đó là sự xuống dốc của Bồ Đào Nha ở phương Đông cuối thế kỷ XVI Tuy nhiên, lợi nhuận từ việc mở rộng thương mại thời kỳ này chủ yếu thu được từ những chuyến đi mang tính ngẫu nhiên hơn là từ những kế hoạch được tính toán trước Hơn nữa, các thương nhân Anh vẫn chưa nhận được sự ủng hộ hoàn toàn từ phía chính quyền Những phản ứng từ giới thương nhân đã khiến chính quyền Anh phải thay đổi chính sách đối với miền Đông Ấn trong thập niên 1590 Năm 1593, Hoàng gia đã chấp nhận hợp thức hóa yêu cầu của các thương nhân và nhà hàng hải Anh trong việc đối đầu với các thế lực Iberia trong quá trình tiến sang miền Đông

Ấn bằng việc cho phép Công ty Levant tìm kiếm sản vật phương Đông bằng cả đường bộ và đường biển [88, tr.15]

Có một thực tế là, ngay trước và sau khi sắc lệnh trên ban hành, một số thương nhân Anh trong những chuyến đi biển xuống phương nam để vòng sang phương Đông tiếp tục chịu thất bại nặng nề Đó là hai chuyến đi của Lancaster (1591) tới Đông Ấn và của Robert Dudley (1596) Kết quả đó khiến giới thương nhân và cả

Trang 37

Hoàng gia Anh lo ngại Kết hợp với những nhận thức rút ra được từ sự không thành công trước đó của Công ty Levant, các thương nhân Anh thấy rằng cần thiết phải hình thành cho được một tổ chức với đầy đủ tiềm lực kinh tế và sự hỗ trợ đắc lực của chính phủ Chỉ khi đó, họ mới có cơ hội trong cuộc chạy đua giành nguồn lợi thương mại ở vùng Đông Ấn cũng như cạnh tranh trực tiếp với những đối thủ châu

Âu khác Họ đã tiến hành một cuộc vận động Hoàng gia đồng ý với ý đồ của họ, trong đó nhấn mạnh vào hai lý do Thứ nhất là lợi nhuận thu được từ việc trao đổi buôn bán với phương Đông sẽ không chỉ có ý nghĩa với các thương nhân mà còn với cả vương quốc và Hoàng gia Anh Thứ hai, để không bị những người Hà Lan lấn lướt, càng cần thiết phải cho ra đời một Công ty chuyên buôn bán bằng đường biển với vùng Đông Ấn qua mũi Hảo Vọng Công ty này sẽ hoạt động song song với Levant – chuyên buôn bán với phương Đông qua Địa Trung Hải và điều này sẽ giúp cho nước Anh giải quyết được những khó khăn kinh tế

Trong tình hình thương mại cụ thể, Elizabeth I và các bộ trưởng đã đi đến quyết định chấp nhận về mặt nguyên tắc cho sự ra đời của EIC vào tháng 9-1600 Chính phủ sẽ bảo đảm cho đặc quyền thương mại của Công ty ở phương Đông

Tháng 12-1600, Hoàng gia Anh ban hành hiến chương thành lập “Chính phủ và

Công ty của những thương gia London buôn bán tại Đông Ấn” (The Governor and

Company of Merchants of London, Trading into the East-Indies) (sau này thường gọi là Cựu Công ty (Old Company) Sự ra đời của EIC được xem như lời tuyên bố tham gia công khai vào thị trường phương Đông với các đối thủ châu Âu, kết thúc hơn một thế kỷ nỗ lực tìm đến mạng lưới thông thương với phương Đông của người

Anh Nó cũng đồng thời mở ra quá trình chinh phục nền thương mại ở khu vực

đông bán cầu từ thế kỷ XVII

Ngoài những điều khoản liên quan đến cấu trúc và quyền sở hữu tương tự với các hiến chương về liên doanh khác, EIC là một ngoại lệ vì nhận được đặc ân mà các công ty như Muscovy hay Levant Companies không nhận được [88, tr.17] Thứ nhất, các điều khoản ban hành trong Hiến chương bảo đảm rằng Công ty chỉ liên quan đến việc thông thương, tập trung vào thương mại và lợi nhuận, không phải chịu trách nhiệm chinh phạt và thuộc địa Thứ hai, tổ chức về tài chính trong hệ thống Công

ty sẽ dựa vào mô hình cổ phần khác với phương thức huy động vốn mang tính cá nhân phổ biến trước đó Đây chính là một bước đột phá trong tiến hành kinh doanh, quyết định đưa Công ty tới sự thành công giai đoạn sau này Thứ ba, Công ty có quyền mang vàng và bạc nén ra khỏi nước Anh để trao đổi hàng hóa của phương Đông, trái ngược hẳn với tất cả những văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến việc di chuyển tài sản quốc gia Thứ tư, tổ chức của Công ty phải được quy định rõ ràng trong Hiến chương

Và thứ năm, Công ty được công nhận là doanh nghiệp độc quyền trong buôn bán với phương Đông

Trang 38

Với tính chất là một tổ chức thương mại phi chính phủ nhưng được ban đặc quyền của Hoàng gia, EIC đã tập hợp các hiệp hội, thương đoàn, hãng buôn và những thương gia nổi tiếng ở London Sức hấp dẫn của tổ chức này đã khiến Công

ty thu hút được số vốn đầu tư 68.373 bảng Anh10, tuy chỉ ít bằng 1/10 so với số vốn của VOC nhưng lại là một con số không nhỏ đối với thị trường tài chính chưa thực

sự phát triển như London hồi đầu thế kỷ XVII EIC trở thành đại diện của Hoàng gia Anh, có vai trò như chính quyền Anh ở phương Đông, được toàn quyền định đoạt các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chính…

Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ đánh dấu những chuyển biến mang tính căn bản về nền kinh tế Anh, thời kỳ hình thành đầu tiên cơ sở tài chính và nền hành chính hiện đại, đưa nước Anh trở thành một nước công nghiệp và là một cường quốc trên thế giới11 EIC chính là lực lượng tiên phong cho việc chấm dứt các hoạt động kinh doanh lỗi thời trong xã hội và nền kinh tế Anh tồn tại trong nhiều năm nửa đầu thế kỷ XVII Bên cạnh đó, Công ty cũng thể hiện được tính năng động trong hoạt động kinh doanh, hướng tới việc mở rộng hoạt động và nâng tầm ảnh hưởng của mình đối với các đối thủ cạnh tranh Lịch sử ghi nhận những nỗ lực không ngừng của EIC thời gian này để rồi sau đó, vị thế của Anh trở nên ngày càng quan trọng và dần chiếm lĩnh ngôi vị số một về sức mạnh tại các thị trường Đông Á hai thế kỷ XVIII-XIX

Năm 1698, những nguồn lợi hấp dẫn từ thị trường phương Đông đưa tới sự hình thành Công ty Anh buôn bán ở Đông Ấn (The English Company Trading to the East India) (cũng được gọi là Tân Công ty hay Tổng công ty) Hai Công ty cũ và mới sáp nhập với nhau các năm 1702, 1708 và 1709 dưới cái tên “Công ty hợp nhất của các thương gia Anh buôn bán tại Đông Ấn”, tên chính thức là Công ty Đông Ấn

Độ đáng kính”

Nhìn chung, sự ra đời của EIC hoàn toàn vì mục tiêu kinh tế, nhằm tích tụ tư bản Đó cũng chính là mục đích điển hình của các Công ty độc quyền thuộc phái trọng thương kiếm lời bằng cách đảm bảo cho mình độc quyền buôn bán hàng hóa

và sản phẩm của một nước hải ngoại Tất cả đều được “quyết định hoàn toàn bởi những thương gia trọng thương và khao khát kiếm lời từ nguồn vốn bỏ ra của họ” [97, tr.36] Trong suốt quá trình hoạt động kể từ khi ra đời, ngoài việc phải chống

10

Có sự chưa thống nhất về số vốn ban đầu của EIC Farington trong [117, tr.19] đưa ra số liệu 68.373 bảng Lê Thanh Thủy trong [91, tr.82] đưa ra là 72.000 bảng Còn Philip Lawson đưa ra số liệu 70,000 bảng trong [124, tr.22]

11

Đây là hệ quả quan trọng từ cuộc Cách mạng quang vinh Cuộc Cách mạng này đã sáng tạo điều kiện chính trị cho sự phát triển tự do kinh tế [17, tr.158]

Trang 39

chọi với các đối thủ cạnh tranh, EIC cũng gặp phải nhiều khó khăn khác Một trong những khó khăn đó là việc Công ty phải đối mặt với một số sự phản đối từ trong nước về tính độc quyền buôn bán tại phương Đông mà nó được trao khi thành lập

Từ khi Công ty giành được quyền điều khiển Bengal vào năm 1757 cho đến năm

1773 thì các chính sách về Ấn Độ vẫn chịu sự chi phối của những cổ đông Điều đó dẫn tới sự can thiệp của chính phủ Anh Luật Điều lệ (Regulating Act) (1773) và Luật Ấn Độ của Pitt (Pitt’s India Act) (1784) ra đời, trong đó quy định chính phủ sẽ điều khiển các chính sách chính trị thông qua một ủy ban điều hành chịu trách nhiệm với Quốc hội Sau đó, Công ty dần mất quyền điều khiển cả về chính trị và thương mại Sự độc quyền thương mại ở Đông Ấn của Công ty cũng bị mất vào năm 1813 và từ 1834 nó chỉ đơn thuần là một cơ quan điều hành cho chính phủ Anh

ở Ấn Độ Vào năm 1857, khi cuộc binh biến Ấn Độ (khởi nghĩa Xipay) xảy ra, Công ty đã bị tước đoạt cả quyền lợi cuối cùng và chính thức không tồn tại như một

cơ quan hợp pháp vào 1858

Sự hình thành của EIC trong lịch sử Anh trước đây được tin rằng nó được bén

rễ từ thời kỳ trị vì hưng thịnh của nữ hoàng Elizabeth I Những nghiên cứu lịch sử cận đại thế kỷ XVI-XVII đã cho chúng ta thấy cái gọi là thời kỳ vinh quang của nữ

hoàng Elizabeth I chỉ đóng một vai trò nhỏ và sau cuối trong quá trình tìm kiếm và

hình thành mối quan hệ với phương Đông Trong bối cảnh mở rộng siêu quốc gia

thế kỷ XVI, việc thành lập EIC chính là nỗ lực của người Anh nhằm giành lấy thị

trường phương Đông, nơi đã bị chi phối bởi Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan

trước đó EIC ra đời không phải là điều gì mới mẻ mà chẳng qua chỉ ghi nhận nỗ

lực đỉnh cao của Anh trong hơn 100 năm cố gắng thâm nhập trực tiếp vào thị trường đông bán cầu Tuy nhiên, kể từ sau khi hình thành, lịch sử hoạt động với

những thăng trầm trong hơn 250 năm (1600-1858) của Công ty này đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thành công một đế chế Anh tại phương Đông

Nước Anh kể từ sau Cách mạng tư sản và Cách mạng quang vinh đã xây dựng những nền tảng chính trị, kinh tế, hàng hải thích hợp có thể đáp ứng cho ý đồ mở rộng thị trường và bành trướng thuộc địa Trong hoàn cảnh đó, sự thay đổi lớn của

hệ thống thương mại Tây - Đông thế kỷ XVII đặc biệt thu hút sự chú ý của người Anh Chính những bế tắc trong việc khai mở con đường buôn bán với phương Đông càng là động lực mạnh mẽ để người Anh tìm cách tham gia Kể từ khi EIC ra đời, những cơ sở cho mục tiêu mở rộng thị trường, phát triển thế lực của Anh đã hoàn thành Khu vực Đông Á trong đó có Việt Nam nằm trong đích chung ngắm tới của

tư bản Anh

Trang 40

2.3 Khu vực Đông Á trước sự xâm nhập của Anh và các nước tư bản phương Tây

2.3.1 Thế mạnh tự nhiên của các quốc gia Đông Á

Đông Á có một vị trí địa lý thuận lợi trên bản đồ thế giới Nằm trên trục đường giao thông quan trọng nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nối châu Á với châu

Âu, Đông Á trở thành khu vực quan trọng trên tuyến đường giao thương hàng hải quốc tế Tây - Đông Bởi thế, trong mỗi thời kỳ lịch sử, khu vực này đều có những hải cảng quốc tế lớn như Óc Eo thời cổ đại, Malacca thời trung đại, Singapore thời cận đại… Thông qua Biển Đông, Đông Á nắm giữ vai trò then chốt trên trục đường hải thương trực tiếp nối giữa Trung Quốc và thế giới phía tây (Ấn Độ, Ả Rập, châu Âu) Thuyền bè từ phía Tây tới Trung Quốc hay từ Trung Quốc tới miền tây bán cầu đều cần qua khu vực này Vị trí thuận lợi trên đã trở thành yếu tố hấp dẫn với các thương nhân phương Tây trong kỷ nguyên đại hàng hải của nhân loại

Có một vị trí tự nhiên thuận lợi, nhưng có lẽ, Đông Á với tư cách là một thị trường rộng lớn có khả năng cung cấp nhiều hàng hóa có giá trị và mang tính cạnh tranh cao đã tạo sức hút hấp dẫn người phương Tây đến với khu vực này nhiều hơn Các sản phẩm được thương nhân châu Âu ưa chuộng là các loại gia vị và hương liệu, gỗ quý, ngà voi, san hô, đồ gốm, sứ, tơ lụa cùng những sản vật hấp dẫn của vùng nhiệt đới Đặc biệt, việc mở rộng thương mại thực sự của Đông Á là ở khả năng cung cấp một khối lượng hàng hóa khổng lồ, nổi bật là gia vị và hương liệu Những thông tin được cung cấp từ nhiều thương nhân phương Tây ngay cuối thế kỷ

XV, đầu thế kỷ XVI đã cho biết về vấn đề này12 Những kiến thức về con người, cảnh vật và đặc biệt là những sản vật, hàng hóa, tiềm năng của các đất nước Đông Á chứa đựng trong các tác phẩm hoặc du ký của những người phương Tây thế kỷ XV-XVI đã lập tức thu hút sự chú ý của những thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Hà Lan, Anh Họ háo hức thực hiện các chuyến đi tới Đông Á Nhu cầu

về của cải và các sản phẩm tự nhiên của người Âu được đáp ứng ở đây Đó cũng chính là sức hút tự nhiên của Đông Á đối với tư bản phương Tây

2.3.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Đông Á

Bức tranh chính trị Đông Nam Á kể từ thế kỷ XVI nhìn chung đa dạng, đa màu

sắc Ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa (Cao Miên, Miến Điện…),

sau thời kỳ thịnh trị (thế kỷ XIII-XV), chế độ phong kiến đi vào thời kỳ suy yếu Mỗi

12

Hieronomo de Santo Stefano, một người Italia trong chuyến đến Sumatra viết lại rằng đây là “nơi trồng hồ tiêu với khối lượng lớn, có tơ tằm, ớt, cánh kiến, gỗ đàn hương trắng, và nhiều mặt hàng khác” Hay Ludovico di Varthema (người Bologna) trong chuyến tới Sumatra, khi đến hải cảng Pedir gần Acheh, ông nói mỗi năm có từ 18 đến 20 con tàu chất đầy hạt tiêu chở đi Trung Quốc Vùng này cũng sản xuất một khối lượng lớn tơ tằm và cánh kiến trắng [22, tr 372- 373]

Ngày đăng: 23/03/2020, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w