1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trưng lương hình mẫu của tiểu loại nhân vật đế sư trong trước tác của tác giả nhà nho ( khảo sát nguồn tư liệu trung quốc và việt nam)

218 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở dĩ luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu là “tiểu loại nhân vật đế sư” bởi những lý do chính sau đây: Trước hết, kiểu hình tượng nhân vật đế sư là một kiểu hình tượng văn học đặc sắc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-  -

TRỊNH VĂN ĐỊNH

TRƯƠNG LƯƠNG HÌNH MẪU CỦA TIỂU LOẠI NHÂN VẬT ĐẾ SƯ TRONG TRƯỚC TÁC CÁC TÁC GIẢ NHÀ NHO

(Khảo sát nguồn tư liệu Trung Quốc và Việt Nam)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-  -

TRỊNH VĂN ĐỊNH

TRƯƠNG LƯƠNG HÌNH MẪU CỦA TIỂU LOẠI NHÂN VẬT ĐẾ SƯ TRONG TRƯỚC TÁC CÁC TÁC GIẢ NHÀ NHO

(Khảo sát nguồn tư liệu Trung Quốc và Việt Nam)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vương

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án này là trung thực và chưa

từng được công bố trong bất kì công trình nào trước đó Nếu vi phạm

tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận án

Trịnh Văn Định

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận án 7

6 Cấu trúc của luận án 8

7 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8

NỘI DUNG 24

Chương 1 Mấy vấn đề lý thuyết; những cơ sở về chính trị, tư tưởng, xã hội và cội nguồn, đặc điểm, cấu trúc tư tưởng nhân vật đế sư 25

1.1 Mấy vấn đề lý thuyết 25

1.2 Những cơ sở về chính trị, tư tưởng, xã hội xuất hiện nhân vật đế sư 32

1.3 Cội nguồn, đặc điểm, cấu trúc tư tưởng nhân vật đế sư 41

Chương 2 Trương Lương Từ nhân vật lịch sử đến hình tượng văn học 60

2.1 Sơ lược tiểu sử và sự nghiệp Trương Lương 60

2.2 Diễn hóa Trương Lương nhìn từ hình tượng văn học 61

2.3 Luận diễn hóa hình tượng Trương Lương 92

Chương 3 Nhìn sâu hơn cảm hứng hình tượng đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho và dấu ấn của hình tượng này trong hành xử chính trị của họ 97

3.1 Nhìn sâu hơn cảm hứng hình tượng đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho 97

3.2 Dấu ấn của hình tượng Trương Lương trong hành xử chính trị của các nhà nho 106

3.3 Cội nguồn ám ảnh của hình tượng đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho (khía cạnh phẩm chất đế sư của Trương Lương) 134

Trang 5

KẾT LUẬN 158 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trước khi làm rõ lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, cần xác định đây là loại

đề tài nghiên cứu về một kiểu hình tượng văn học nhưng thông qua nghiên cứu một

hình tượng nhân vật điển hình của kiểu hình tượng này

Sở dĩ luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu là “tiểu loại nhân vật đế sư” bởi những lý do chính sau đây:

Trước hết, kiểu hình tượng nhân vật đế sư là một kiểu hình tượng văn học đặc sắc trong lịch sử văn học Trung Quốc và Việt Nam, tồn tại với một mã nghệ thuật độc đáo, cấu trúc hình tượng thẩm mỹ riêng biệt, một xúc cảm thẩm mỹ đặc thù và một trầm tích văn hóa đặc sắc nhưng cho đến nay chỉ được gợi ra chứ chưa được nghiên cứu Vì vậy, nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc bổ sung một loại hình tượng mới trong nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc và đặc biệt là văn học Việt Nam

Mặt khác, đây là kiểu hình tượng nhân vật ám ảnh đặc biệt sâu sắc các tác giả nhà nho hai nước, nhất là nhà nho Việt Nam Hình tượng này chủ yếu ám ảnh một nhóm nhà nho tinh hoa, sâu nhất trong nhà nho Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX

Hơn nữa, hình tượng nhân vật đế sư trở thành mạch khát vọng xuyên suốt trong lịch sử văn học Việt Nam, ám ảnh hầu khắp các nhà nho lừng danh nhất Không dừng lại ở sự ám ảnh, thông qua hình tượng này trong trước tác nhà nho Việt Nam, còn ảnh xạ cả những lựa chọn chính trị của chính tác giả mà bình thường rất khó phát hiện ra

Ngoài ra, hình tượng nhân vật đế sư, như cách định danh của nó mà chúng tôi thích nghĩa dưới đây (thầy vua), là trầm tích và lắng đọng độc đáo về lý tưởng,

tư tưởng, kỳ vọng của nhiều thế hệ kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử về giới của mình: hình tượng không phải làm tôi, không phải làm vua mà làm thầy, bậc thầy vua chúa Hình tượng văn học đế sư là sự thăng hoa của những trầm tích này

Sở dĩ luận án chọn Trương Lương là hình tượng nhân vật hình mẫu của nhóm là bởi lẽ, nhà nho hai nước khẳng định Trương Lương chứ không phải Khổng

Trang 7

Minh hoặc nhân vật lừng danh khác là nhân vật hình mẫu của nhóm Nhận định này

có thể tìm thấy trong nhiều trước tác của những nhà nho lừng danh trong lịch sử văn học hai nước Nhưng đặc biệt, quan sát diễn hóa hình tượng Trương Lương trong văn học Việt Nam tương quan với diễn hóa hình tượng Khổng Minh, hình tượng Trương Lương kết thành một vệt liền mạch trong lịch sử văn học Việt Nam từ cuối thời Trần cho đến đầu thế kỷ XX Nhìn sâu hơn, hình tượng Trương Lương trở thành hình tượng văn học chủ đạo, ám ảnh, chi phối hành trạng và ứng xử chính trị của nhiều nhà nho lớn nhất Việt Nam Và có lẽ đặc biệt nhất, đã có một sự thăng hoa, kết tinh thành kiệt tác văn chương trong văn học Việt Nam qua hình tượng này

ở giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX và đầu thế kỷ XX, đóng góp độc đáo về hình tượng văn học cho lịch sử văn học dân tộc mà những nhân vật lừng danh khác như Khổng Minh không có được Từ đó có thể xem nó là một hiện tượng đặc thù, độc đáo Do vậy, cần có những nghiên cứu chuyên biệt và mang tính liên ngành cao

sự diễn hóa hình tượng này trong văn học viết Việt Nam

Đi sâu phân tích ám ảnh của hình tượng và lý giải cội nguồn sự ám ảnh hình tượng trong tâm thức những nhà nho lừng danh của dân tộc từ Nguyễn Trãi cho đến Phan Bội Châu

Ở chừng mực nhất định, chỉ ra sự giống và khác nhau của tiến trình diễn hóa hình tượng đế sư trong trước tác nhà nho Trung Quốc và nhà nho Việt Nam, đồng thời chỉ ra cội nguồn, đặc sắc của sự tương đồng và khác biệt này Việc làm này chủ yếu hướng đến luận giải sự đặc sắc của hình tượng này trong văn học Việt Nam

Chỉ ra đóng góp, đặc sắc của kiểu hình tượng đế sư đối với văn học viết Việt Nam thời trung đại

Trang 8

3 Phạm vi nghiên cứu

Với tư cách là một luận án chuyên ngành văn học, vì vậy luận án chủ yếu tập trung lý giải và những sự lý giải khác phục vụ cho hiểu sâu sắc hơn hoặc nêu bật hình tượng đế sư trong lịch sử văn học hai nước, đặc biệt là lịch sử văn học viết Việt Nam

Về tài liệu, luận án chỉ giới hạn tìm hiểu từ nguồn tài liệu thành văn trong trước tác của nhà nho Trung Quốc và Việt Nam Nguồn này, có ý nghĩa với luận

án nhất là sử liệu và trước tác văn chương Trong trước tác văn chương, tài liệu

phong phú và tập trung nhất là nguồn thi ca, phú, phần nào đó là từ Ở Trung Quốc, những tuyển tập thi ca, từ, phú có giá trị tham khảo lớn nhất là: Toàn Hán

phú, Toàn Đường thi, Toàn Tống thi, Toàn Tống từ và một số tuyển tập thi, từ,

khúc, tiểu thuyết các loại Ở Việt Nam, tổng tập văn học Việt Nam và những bộ toàn tập, tuyển tập của những tác giả lừng danh là nguồn tham khảo quan trọng

nhất Nguồn sử liệu ở Trung Quốc chủ yếu là những bộ sử lớn, chính thống: Sử ký,

Hán thư, Tư Trị thông giám và một số bộ sử khác Ở Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí và một số bộ sử khác là những nguồn tài liệu tham khảo

quan trọng Về cơ bản, những trước tác đề, vịnh, luận về Trương Lương ở cả Trung Quốc và Việt Nam, luận án ưu tiên tham khảo từ nguyên bản và có tham khảo các bản dịch tốt1 Những đánh giá, bình, vịnh, luận, phú, nhận định về Trương Lương ở cả Trung Quốc và Việt Nam, luận án sử dụng trực tiếp từ những tài liệu tham khảo nêu trên

Về mặt không gian, nhân vật anh hùng thời loạn, tiểu loại đế sư là loại hình nhân cách có tính khu vực Tuy nhiên, tuy chỉ là “trước tác về một nhân vật” nhưng bởi đó là một nhân vật “siêu hạng” nên tài liệu rất phong phú, chắc chắn rằng dù đã hết sức tích cực tìm kiếm, tác giả luận án cũng không thể sưu tầm được đầy đủ những tài liệu hữu quan

về cơ bản chưa được chuyển ngữ ở Việt Nam

Trang 9

Về khung thời gian khảo sát tư liệu, ở Trung Quốc chúng tôi khảo sát trước tác sĩ đại phu từ thời cổ đại nhưng chủ yếu là từ thời Hán đến hết thời đại nhà Thanh Ở Việt Nam, luận án khảo sát trước tác nhà nho chủ yếu từ thời Lý thế kỷ X đến những năm đầu thế kỷ XX

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án triệt để khai thác thế mạnh của phương pháp nghiên cứu truyền thống là phương pháp xã hội - lịch sử, phương pháp liên ngành, đa ngành (lịch sử, văn học, văn hoá, chính trị học…) phương pháp chủ yếu mang tính ưu tiên là loại hình học Ngoài ra luận án sử dụng các biện pháp khác như: so sánh, thống kê, phân tích, phương pháp liên văn bản1… Những biện pháp này được sử dụng như những thao tác khoa học châu tuần và phục vụ cho phương pháp cốt lõi: loại hình học Phương pháp loại hình học được sử dụng trong luận án trên bình diện vĩ mô nhìn từ hai trục vấn đề lớn: trục lịch sử và trục cấu trúc Trục lịch sử được định vị từ hai chiều Chiều đồng đại, phương pháp loại hình học được dùng để loại hình hoá những mẫu hình anh hùng xuất hiện trong thời loạn Sâu hơn nữa, loại biệt anh hùng

thời loạn thành hai tiểu loại: anh hùng sáng nghiệp và đế sư Từ chiều lịch đại,

phương pháp loại hình hoá cho phép nhìn ra được những loại hình nhân vật đồng dạng xuất hiện và phát triển trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, hoặc ở những quốc gia khác nhau nhưng có những điều kiện lịch sử, xã hội tương đồng Từ trục cấu trúc, loại hình hoá cho phép nhìn ra được cội nguồn của mẫu hình nhân vật đế

sư, sự biến sinh của nhà nho trong thời loạn, đặc điểm và cấu trúc tư tưởng của mẫu người này

Mặt khác, như tên của luận án, Trương Lương - hình mẫu của tiểu loại nhân

vật đế sư trong trước tác các tác giả nhà nho, đối tượng của luận án là nghiên cứu

tiểu loại hình tượng nhân vật đế sư nhưng thông qua nghiên cứu trường hợp điển hình của nó là hình tượng nhân vật đế sư Trương Lương Do vậy, phương thức triển khai của luận án, ưu tiên chứng minh có một loại hình nhân vật đế sư trong lịch sử,

thuyết khác dùng trong nghiên cứu văn học, đặc biệt lưu ý lý thuyết diễn ngôn khi nghiên cứu diễn hóa Trương Lương thông qua chủ thể phát ngôn là các nhà nho hai nước

Trang 10

ở đó Trương Lương là một nhân vật thuộc loại hình, đồng thời là nhân vật điển hình của loại hình (luận án sẽ chỉ ra và phân tích sâu trong so sánh Trương Lương với Phạm Lãi và Khổng Minh) Luận án lưu tâm chỉ ra những đánh giá, so sánh, bình luận của chính nhà nho qua các thời đại ở Trung Quốc và Việt Nam về Trương Lương; định vị, so sánh ông với các nhân vật khác cùng loại hình Ở đó, nhà nho hai nước đồng thanh khẳng định Trương Lương là hình tượng nhân vật hình mẫu của tiểu loại này Điều này cho phép không cần thiết chứng minh có một nhóm, tức thành một tiểu loại nhân vật, mà ở đó Trương Lương là hình mẫu

Điều này khả dĩ đồng thuận được, có một tiểu loại nhân vật đế sư trong lịch

sử và có một nhóm, tức tiểu loại hình tượng nhân vật đế sư, ở đó Trương Lương là hình tượng điển hình của tiểu loại này Như vậy, hình tượng Trương Lương trong trước tác nhà nho hai nước được hiểu là hình tượng nhân vật đế sư tiêu biểu của nhóm, và qua phân tích hình tượng đế sư Trương Lương có thể khái quát được cấu trúc nghệ thuật, mô thức nghệ thuật hình tượng đế sư, xúc cảm thẩm mỹ qua hình tượng này và trầm tích những khát vọng của nhà nho tinh hoa hai nước qua hình tượng này

5 Đóng góp của luận án

Chứng minh có một loại hình tượng nhân vật đế sư trong lịch sử văn học cổ Trung Quốc và Việt Nam

Ở mức độ nhất định, luận án lý thuyết hóa cấu trúc nghệ thuật hình tượng đế

sư, đặc sắc của hình tượng nhân vật đế sư

Chỉ ra mạch cảm hứng hình tượng nhân vật đế sư qua mẫu hình đế sư Trương Lương trong lịch sử văn học cổ Trung Quốc và Việt Nam

Chứng minh và khẳng định một loại hình nhân vật đặc biệt, một kiểu hình tượng ám ảnh lâu dài, sâu sắc, chi phối cả hành xử chính trị của những nhà nho tinh hoa nhất trong lịch sử Việt Nam

Qua diễn hóa mẫu hình đế sư Trương Lương, chỉ ra quy luật, đặc sắc của quá trình giao lưu, tiếp nhận và chia sẻ nhân vật lịch sử, những quy luật và những khác biệt của quá trình diễn hóa từ nhân vật lịch sử đến hình tượng văn học ở Trung Quốc và từ Trung Quốc đến Việt Nam

Trang 11

Chứng minh vị trí đặc biệt của Trương Lương trong loại hình và vị trí Trương Lương trong tâm thức nhà nho hai nước, đặc biệt là sự ám ảnh đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho tinh hoa Việt Nam

Đặc biệt, ở chiều sâu nhất, luận án chỉ ra qua Trương Lương, là trầm tích của

lý tưởng, tư tưởng, khát vọng của nhiều thế hệ kẻ sĩ tinh hoa về giới mình được hiện lên sinh động và những biến thái khác nhau qua những giai đoạn lịch sử

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu

trúc thành 3 chương:

Chương 1: Mấy vấn đề lý thuyết; những cơ sở về chính trị, tư tưởng, xã hội và cội nguồn, đặc điểm, cấu trúc tư tưởng nhân vật đế sư

Chương 2: Trương Lương: Từ nhân vật lịch sử đến hình tượng văn học

Chương 3: Nhìn sâu hơn cảm hứng hình tượng đế sư trong tâm thức nhà nho và dấu

ấn của hình tượng này trong hành xử chính trị của họ

7 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

7.1 Lịch sử nghiên cứu “nhân vật đế sư”

7.1.1 Về nguồn gốc từ và thuật ngữ “đế sư”

Theo khảo sát của chúng tôi, từ “đế sư” và những từ liên quan, gần nghĩa

hoặc đồng nghĩa với từ này (chẳng hạn: đế giả sư, vương giả sư, vương sư…) xuất

hiện khá sớm trong lịch sử Trung Quốc Người dùng từ “đế sư” sớm nhất là Ban

Cố, nhà sử học lớn đời Hán, ở Truyện Chu Vân trong Hán Thư, có ghi việc đời Hán

Thành đế, học giả đồng thời là Tể tướng Trương Vũ được “đặc tuyển” làm “đế sư”1

Nhưng có lẽ, cội nguồn sâu xa nhất của từ này phải tính từ Tư Mã Thiên2 với Sử ký

lừng danh, mặc dù ông chưa dùng từ “đế sư” nhưng những cụm từ “vương giả sư”

và “đế giả sư”, xét về nghĩa là tương đồng với từ “đế sư” như Ban Cố dùng sau này

Trong Sử ký, Lưu Hầu thế gia, Tư Mã Thiên hai lần dùng từ này Lần đầu khi thuật chuyện Trương Lương được vị tiên ông tặng Thái Công binh pháp và dặn rằng: Đọc

quyển sách này thì làm được thầy bậc vương giả3

[156, tr 281] Sau này, khi

Trang 12

Trương Lương hoàn thành đại nghiệp, ông nói với Hán Cao Tổ: Gia đình tôi đời đời

làm tướng quốc nước Hàn Đến khi Hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng vàng, đối phó với nước Tần mạnh, để báo thù cho nước Hàn, làm cho thiên hạ đều rung

động Nay tôi lấy ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương1, được phong vạn hộ, ở ngôi chư hầu, kẻ áo vải được thế là tột bậc2

[156, tr 299]

Sau Tư Mã Thiên, sĩ đại phu hai nước cứ “tự nhiên nhi nhiên” sử dụng danh

xưng này định loại Trương Lương Những từ, tổ từ đế sư, đế vương sư, vương giả

sư, vương sư, đế giả sư… xuất hiện liên tục và tăng dần trong trước tác thi ca của

hai thời đại Đường - Tống và các thời đại Nguyên, Minh, Thanh, kéo dài cho đến tận ngày nay Chẳng hạn:

Trong Giản đồng chí, Ôn Đình Quân thời Đường, viết:

Lưu Hầu công nghiệp hà dung dị,

Nhất quyển binh thư tác đế sư3

Thi nhân Từ Dần, trong bài Ấn cựu sơn viết:

Đào cảnh luyến thâm tùng hội ảnh,

Lưu Hầu phao khước đế vương sư4

Sang thời Tống ta cũng bắt gặp sự tiếp tục của danh vị ấy Đường Sĩ Sỉ

trong Tống lâm giang giao đãi Trương Từ Lý, viết:

3

Toàn Đường thi, Vương Toàn chủ biên, Trung Hoa thư cục xuất bản, 1960, tập 17, quyển 583, tr 6762

6

Toàn Tống thi, Hứa Dật Dân chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, 1998, tập 60, quyển 3152, tr 37827

Trang 13

Trương Lỗi trong Tằng Thiên Khải hữu đệ, viết:

Bất kiến Hán thời Trương Tử Phòng Thân tài lục xích tá thời vương

Trong bài Thứ vận Trương An Quốc nhị thủ, Châu Tất Đại viết:

Phương vi đế giả sư2, Cảm thỉnh bãi tịch cốc

Phạm Trọng Yêm trong bài Duyệt cổ đường thi viết:

Trong Lưu Hầu miếu hạ tác, Mai Thuấn Thần viết:

Tha nhật tắc vi vương giả sư4

Trong Thu nhật giang quán hỉ đàn cầm vũ nhân chí, Hạ Tủng viết:

Dĩ Kiều thư tại như tương thụ

Bất độc Lưu Hầu thị đế sư5

… Danh xưng đế sư xuất hiện ở Việt Nam6 khá muộn Theo khảo sát của chúng

chúng tôi, danh xưng này lần đầu tiên xuất hiện trong trước tác Trương Lưu hầu

phú của Nguyễn Hữu Chỉnh7, khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII

5

Toàn Tống thi, Hứa Dật Dân chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, 1998, tập 3, quyển 159, tr 1800

Việt Nam và toàn tập của từng tác giả lớn và một số nguồn khác

7

Về bài Trương Lưu hầu phú, gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng bài phú này không phải của Nguyễn

Hữu Chỉnh mà của Nguyễn Bá Lân Trong định hướng của luận án, chúng tôi không đi sâu biện luận và chứng minh tác quyền tác giả của bài phú Tuy nhiên theo chúng tôi, quan sát tính cách, khát vọng, hành trạng và toan tính của Nguyễn Hữu Chỉnh ở những chặng lớn trong cuộc đời (chúng tôi chứng minh ở

chương 3, mục Nhìn sâu trong luận án này), Nguyễn Hữu Chỉnh là tác giả bài phú phù hợp hơn Nguyễn Bá Lân GS Trần Ngọc Vương trong công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam và Phong Châu, Nguyễn Văn Phú - tác giả sách Phú Việt Nam cổ và kim cũng có cùng quan điểm như vậy Vì vậy, trước khi có những

bằng chứng thuyết phục hơn đặng có thể khẳng định Nguyễn Bá Lân là tác giả bài phú, chúng tôi vẫn xem Nguyễn Hữu Chỉnh là tác giả bài phú Hoặc giả, nếu sau này có thể khẳng định chắc chắn Nguyễn Bá Lân là tác giả bài phú thì mạch hình tượng Trương Lương trong văn học Việt Nam giai đoạn XVIII - XIX vẫn còn nguyên giá trị, không ảnh hưởng đến biện luận của luận án về mạch hình tượng này trong văn học Việt Nam

Vì Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Bá Lân sống cùng thời: Nguyễn Hữu Chỉnh (? - 1787), còn Nguyễn Bá Lân (1701 - 1785)

Trang 14

Ngôi đế sư này chốc phúc tâm,

Việt trù sách vận trong duy trướng

(Trương Lưu hầu phú - Nguyễn Hữu Chỉnh)

Ở một đoạn khác, Nguyễn Hữu Chỉnh dùng lại danh xưng này ngợi ca và định vị Trương Lương

Đế sư cao một bậc, trọng đức tôn danh,

Hầu tước hậu ba muôn, luận công hành thưởng

(Trương Lưu hầu phú)

Và:

Ngẫm từ trên như Trọng Liên, Phạm Lãi nào hơn

So về dưới dầu Lý Tĩnh, Khổng Minh chưa đáng

Ngôi đế sư mà danh cao sĩ; ngoại vật há còn trong bụng, nghìn

thu chữ thắm chửa phai vàng

(Trương Lưu hầu phú)

Trong bài phú Trương Lương, Nguyễn Công Trứ cũng dùng danh xưng “đế

sư” định vị Trương Lương1

:

Đẩy đưa tấc lưỡi, đứng bậc đế sư

Xốc vác năm năm, dựng nền vương bá

Nhìn từ trục lịch sử, từ đế sư, hay đế vương sư, đế giả sư, vương sư… xuất

hiện từ rất sớm trong trước tác sử học và văn chương qua các thời đại ở Trung

Quốc Từ đế sư xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn (giai đoạn thế kỷ XVIII XIX) Căn cứ vào sự xuất hiện của từ đế sư, đế vương sư, đế giả sư trong trước tác

-sĩ đại phu Trung Quốc và Việt Nam, có thể hiểu được hàm nghĩa của từ này Xét về

từ nguyên, đế sư, đế vương sư, đế giả sư, vương sư… được hiểu là thầy, bậc thầy

của vua chúa, bậc thầy của hoàng đế (Đọc quyển sách này thì làm được thầy bậc

vương giả, nay tôi lấy ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương, được phong vạn hộ)

Trong trường hợp khác, từ này xuất hiện với ý nghĩa định ngôi vị của đối tượng

Trong Trương Lưu hầu phú, Nguyễn Hữu Chỉnh viết: “Ngôi đế sư mà danh cao sĩ,

1

Bài phú Trương Lương của Nguyễn Công Trứ hiện vẫn là bài tồn nghi Bài này được chép và ghi tên tác giả Nguyễn Công Trứ trong Văn Đàn bảo giám của Trần Trung Viên Theo chúng tôi được biết, đây là tác phẩm duy nhất chép bài phú này Tác giả biên soạn cuốn Nguyễn Công Trứ theo dòng lịch sử dẫn lại bài này ở mục

những bài tồn nghi của Nguyễn Công Trứ

Trang 15

Ngôi đế sư này chốc phúc tâm/ Đẩy đưa tấc lưỡi đứng bậc đế sư, đế sư cao một bậc, trọng đức tôn danh ”… Không chỉ định ngôi đối tượng, sự xuất hiện của từ này

trong nhiều trường hợp còn cấp một nghĩa khác, là sự định loại, loại biệt của đối

tượng với đối tượng khác, đặc biệt là đối tượng cùng loại hình Cũng trong Trương

Lưu hầu phú, Nguyễn Hữu Chỉnh viết:

Ngẫm từ trên như Trọng Liên, Phạm Lãi nào hơn

So về dưới dầu Lý Tĩnh, Khổng Minh chưa đáng Ngôi đế sư mà danh cao sĩ

Đế sư cao một bậc, trọng đức tôn danh

Bước ngoặt đánh dấu lịch sử nghiên cứu thuật ngữ đế sư từ một từ định danh,

định vị, định loại đối tượng chuyển hóa thành thuật ngữ khoa học chỉ một kiểu loại nhân vật lịch sử Cho tới nay, ông Trần Ngọc Vương là người đầu tiên dùng thuật

ngữ đế sư như một thuật ngữ khoa học, chỉ một tiểu loại hình nhân vật anh hùng

thời loạn Ông viết: “Về phần mình, chúng tôi muốn nói thêm rằng người hào kiệt như ở Phan Bội Châu là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn trong bối cảnh lịch sử thay đổi Trước kia, đã từng tồn tại hai “tiểu loại” người anh hùng thời loạn; đó là người anh hùng tạo thời thế (anh hùng sáng nghiệp) và “đế sư” [211, tr 329] Kết quả được trình trên giấy trắng mực đen này xuất hiện trong hoàn cảnh mà theo như ông kể là cuộc trao đổi khoa học với giáo sư Trần Đình Hượu (người thầy học của mình), trong đó giáo sư Trần Đình Hượu nhận định rằng, xét về loại hình nhân cách, Phan Bội Châu là “người hào kiệt tự nhiệm” Theo ông Trần Ngọc Vương, nhận xét của giáo sư Trần Đình Hượu là xác đáng Tuy nhiên theo ông, và

đã được giáo sư Trần Đình Hượu thừa nhận, Phan Bội Châu xét từ loại hình nhân cách, là sự tiếp biến của mẫu hình người anh hùng thời loạn trong bối cảnh lịch sử

đã thay đổi

Do nhiều lý do khác nhau, ông Trần Ngọc Vương chưa có điều kiện đi sâu lý thuyết hoá và nghiên cứu chuyên biệt về tiểu loại nhân vật đế sư Tuy nhiên, ở những vấn đề có liên quan, ông đã từng bước chỉ ra những đặc điểm của loại hình nhân vật đặc biệt này Cụ thể hoá những nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục triển khai ở lịch sử nghiên cứu loại hình anh hùng thời loạn - đế sư

Trang 16

7.1.2 Lịch sử nghiên cứu nhân vật đế sư

Ở cả Trung Quốc và Việt Nam, trong thời đại chuyên chế không xuất hiện những nghiên cứu lý thuyết hoá về nhân vật đế sư

Ngay tại thời điểm này, ở Trung Quốc vì nhiều lý do khác nhau, không xuất hiện định hướng nghiên cứu loại hình hoá mẫu người này Một điểm hết sức đáng

lưu ý là, trong nghiên cứu ở Trung Quốc ngày nay, từ đế sư vẫn được các học giả

Trung Quốc dùng để đặt tít cho các công trình nghiên cứu Trương Lương nhưng đây hoàn toàn không phải là lối nghiên cứu theo hướng loại hình hoá nhân vật Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu tương đối mới, đồ sộ về “tam kiệt” nhà

Hán, có tên Trung Quốc tư tưởng gia bình truyện tùng thư, Trương Lương, Tiêu Hà,

Hàn Tín bình truyện, do Khuông Á Minh chủ biên, ở chương 4: Mưu lược cái thế đích đế vương sư Lưu Hầu Trương Lương [229, tr.107], hoặc trong cuốn sách 10 đại mưu lược gia Trung Quốc, Tang Du biên soạn, Nhà xuất bản Văn học Việt Nam

dịch đặt Trương Lương- đế vương sư [30, tr 107]

Đọc kỹ phần viết về Trương Lương của hai cuốn sách này, đặc biệt là cuốn sách khá công phu do Khuông Á Minh chủ biên, các tác giả chỉ đơn thuần dùng từ

đế sư đặt tít cho bài viết nhưng không triển khai theo phương pháp loại hình học mà

miêu tả tiểu sử và sự nghiệp của Trương Lương Cuốn 10 đại mưu lược gia Trung

Quốc cũng đơn thuần lược tiểu sử và công lao của thập đại mưu lược gia, trong đó

có Trương Lương đế sư

Về cơ bản, hướng nghiên cứu loại hình hoá và nghiên cứu Trương Lương với

tư cách là một loại hình nhân cách trong hệ thống nhân vật anh hùng thời loạn chưa xuất hiện trong những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc

Ở Việt Nam, do định hướng nghiên cứu loại hình học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn nên trong những công trình nghiên cứu của các học giả đã bước đầu lý thuyết hoá loại hình nhân cách đế sư Như đã chỉ ra, ông Trần Ngọc Vương

là người mở đầu dùng thuật ngữ đế sư với ý nghĩa là một thuật ngữ khoa học chỉ

một loại hình nhân cách trong lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hoá khu vực Vì là người

có ý thức quan tâm sớm nhất về vấn đề này, nên ông cũng là người tiên phong chỉ ra

ở những nét phác thảo nhất đặc điểm của mẫu hình nhân cách văn hóa này

Trang 17

Trước tiên, theo ông, người anh hùng đế sư là một “tiểu loại” trong típ lớn hơn là người anh hùng thời loạn Người anh hùng thời loạn gồm: anh hùng tạo thời

thế (anh hùng sáng nghiệp) và đế sư “Về phần mình, chúng tôi muốn nói thêm rằng

người hào kiệt như ở Phan Bội Châu là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn trong bối cảnh lịch sử thay đổi Trước kia, đã từng tồn tại hai “tiểu loại” người anh hùng thời loạn; đó là người anh hùng tạo thời thế (anh hùng sáng nghiệp) và

“đế sư” [211, tr 329]

Đồng thời ông cũng chỉ ra những điều kiện lịch sử xuất hiện người anh hùng thời loạn “Cả hai tiểu loại anh hùng thời loạn này đều thường xuất hiện và phát triển trong bối cảnh xã hội rối loạn, triều đại chính thống đã rệu rã, sụp đổ hay bị đánh đổ, mà triều đình chính thống mới lại chưa ra đời hoặc còn tồn tại lay lắt Chính vì thiếu vắng cái chính thống, mà trật tự kỷ cương trở nên không rõ ràng Vắng thiếu cái chính thống, người ta mới đua nhau tự khẳng định, tự trở thành Đích cuối cùng của người anh hùng thời loạn là xác lập nên cái chính thống mới và cùng với điều đó, họ trở thành những người tạo thời thế, lưu danh sử sách như là những người tác động biến đổi lịch sử.” [211, tr 329 - 330]

Đi sâu hơn vào tiểu loại anh hùng đế sư, ông tiếp tục chỉ ra những điều kiện xuất hiện những lựa chọn của mẫu người này trong thời loạn – “Đội ngũ trí thức – nhà nho trước một thực tế đất nước “ba bè bẩy bối” đến dường kia, trước ngã năm ngã bảy của cuộc đời, tự nhiên rơi vào tình huống buộc phải lựa chọn Tùy theo hoàn cảnh cụ thể riêng của mỗi người mà sự lựa chọn ấy dẫn đến những số phận khác nhau, định hướng cuộc đời khác nhau, và cuối cùng, là những kết quả khác nhau Tuy nhiên, có những nét chung làm nền cho sự lựa chọn ấy Số đông làm theo

sự an bài đang tiếp diễn của số phận, không mấy băn khoăn về sự khác biệt giữa vua và chúa, vẫn hăm hở học hành, quyết khoa, xuất chính, phụng sự cho thế lực chính trị nào đang thống trị trên lãnh thổ mình sống Trước, ai ở vùng đất Mạc thì tham gia kỳ thi của triều Mạc, ai ở vùng đất Lê thì tham dự kỳ thi do triều Lê tổ chức, mà sau, thì chúa Nguyễn, chúa Trịnh (dưới danh nghĩa nhà Lê) cùng đều đặn

tổ chức các kỳ thi tìm người bổ sung vào bộ máy quản lý của mình Cũng có người

“chuyển vùng” để ứng thí, như dạng Phùng Khắc Khoan, tuy số người này thực cũng không đông

Trang 18

Mặc dù cũng từng là môn sinh cửa Khổng sân Trình, một số người – và số này, tuy số lượng không nhiều, nhưng lại thường là những nhân vật xuất sắc – không lựa chọn quyết liệt con đường khoa cử để cầu công danh, phú quý Họ chủ động nhận định về thời cuộc, đi xa hơn ra khỏi khuôn sáo của lẽ phải thông thường, tính toán đến thực tế đang diễn ra trước mắt chứ không chỉ quy chiếu vào điều cần phải, chọn cho mình một lối ứng xử khác Thấm nhuần Bắc sử, họ cũng biết được rằng, trong lịch sử Trung Quốc đã bao phen diễn ra thực tế này Các mô hình ứng

xử của các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thường được đem ra luận bàn, lựa chọn cho một sự mô phỏng Cao hơn thế, họ tìm cho mình một cách thức riêng, tuy về khách quan vẫn chưa vượt ra ngoài các khả năng ứng xử đã biết, nhưng đã định hướng tới việc vượt qua khỏi những lằn ranh giới đang có Phản ánh đậm nét định hướng phát triển đó trong văn chương chính là hình ảnh người anh hùng thời loạn, một nhân vật đặc biệt hấp dẫn, mà rất tiếc từ trước tới nay vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị giới nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước bỏ quên Lần đầu tiên trong công trình của mình, chúng tôi muốn dành một sự chú ý đúng mức cho loại hình nhân vật này.” [210, tr 77 - 79]

Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về người anh hùng đế sư, nhưng những nghiên cứu về người hào kiệt tự nhiệm của giáo sư Trần Đình Hượu cũng đề cập đến nhiều thuộc tính tương đồng với người đế sư trong truyền thống Hay nói như ông Trần Ngọc Vương, người hào kiệt tự nhiệm là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn đã có từ trước

“Theo giáo sư Trần Đình Hượu giữa thế kỷ XIX khi cả dân tộc thất bại đau đớn trước những kẻ “mọi rợ phương Tây”, nhiều nhà nho đã bắt đầu hoài nghi đạo

lý thánh hiền Tư tưởng khá phổ biến trong các nhà nho là thấy cần con người anh hùng có tài hơn người thánh hiền chỉ có đức, cần người tự nhiệm hành động hơn là những người khiêm cẩn phục tùng… Trong tâm trí, Phan Bội Châu luôn luôn bị

ám ảnh bởi hình ảnh người hào kiệt Hào kiệt là người không tầm thường, hơn người, khác người xung quanh có thể vì đức, vì tài hay vì công nghiệp Hào kiệt bao gồm cả thánh hiền và anh hùng Tùy theo sự đòi hỏi của thời đại mà người

Trang 19

hào kiệt được hình dung theo hướng người thánh hiền có đức hay người anh hùng

có tài Người hào kiệt mà Phan Bội Châu ấp ủ hồi còn trẻ mang tư tưởng trung nghĩa nên chưa tìm sự phân biệt với người thánh hiền Tuy nhiên sắc thái đã khác trước! Thánh hiền xét về mặt phẩm chất đạo đức hay trung nghĩa, xét về mặt kết quả hành động là người, tuy cùng đem hết tâm trí tài năng ra làm việc đời, nhưng

họ hành động theo chức năng, theo cương vị, theo đạo lý, họ cũng cần tính toán, nhưng tài trí tính toán là để thực hiện mệnh vua, mệnh trời, giữ đúng đạo lý Họ vì nghĩa chứ không thị tài Họ có cá tính rõ rệt, rất tự hào về mình nhưng hành động không lấy bản thân mình làm xuất phát điểm, không lấy cá nhân làm trung tâm Trong xã hội phong kiến nó đối lập với cái đa tài, cái thị tài của người tài tử Nó

cá nhân hơn, có ý thức về mình, tự hào về tài trí, tuy rằng nó vẫn khác hẳn người tài tử trong quan niệm về cuộc đời

Đối với người hào kiệt như vậy, nước Ngô, nước Việt, vua Hán vua Hàn tuy vẫn có những quan hệ phải giải quyết theo nghĩa, nhưng đó cũng là những vật, những chỗ, những tình huống cho họ trổ tài thu xếp, sắp đặt Tài trí không chỉ là hiểu biết mà là cơ mưu Họ cũng còn hành động theo phận sự nhưng phận sự đó biến thành suy nghĩ, tình cảm riêng, thành những nỗi giận lớn, những mối thù lớn, tính toán lớn của riêng họ mà họ nuôi dưỡng, nung nấu trong hàng chục năm Người hào kiệt tự nhiệm tự tin đứng lên trên cao, hành động theo chí lớn của mình Nét đặc sắc ở họ không phải là những tim gan trung nghĩa vằng vặc như mặt trăng, mặt trời mà là những hoài bão lớn lao, mưu đồ sâu sắc, kín đáo ít người hiểu nổi Họ là những cá nhân - không phải cá nhân chủ nghĩa tư sản nhưng không còn chỉ là cha,

là con, là vua, là tôi nữa.” [211, tr 329]

Trên đây cơ hồ là tất cả những nghiên cứu về người anh hùng đế sư ở Việt Nam Những chỉ dẫn về điều kiện ra đời của nhân vật đế sư, đặc điểm của họ sẽ là những gợi ý quan trọng để luận án tiếp tục hoàn thiện những nghiên cứu về mẫu người này Trong khi triển khai, luận án sẽ tiếp thu những luận điểm này, đồng thời

đi sâu chỉ ra nhiều vấn đề khác liên quan đến mẫu hình này: như cội nguồn tư tưởng mẫu hình, đặc sắc mẫu hình, cấu trúc tư tưởng mẫu người này

Trang 20

7.2 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương

7.2.1 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương ở Trung Quốc

7.2.1.1 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế

Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế chủ yếu xuất hiện dưới dạng những lời bình của các sử gia và những bình, vịnh, luận trong trước tác thi, từ, luận, phú

Tư Mã Thiên trong Sử ký: “Các học giả phần nhiều nói rằng không có quỷ

thần Nhưng lại nói rằng có tinh quái, đến như cụ già cho sách mà Lưu Hầu gặp thì cũng thực là lạ Cao Tổ nhiều lần bị nguy khốn, thường nhờ ở công sức của Lưu Hầu, có thể nói là không có trời sao! Nhà vua nói: Bày mưu kế ở trong màn trướng, quyết định sự thắng lợi ở ngoài ngàn dặm, ta không bằng Tử Phòng

Tôi cho ông ta phải là người khôi ngô, lạ lùng lắm! Đến khi nhìn tranh, thấy ông ta mặt mũi như một người con gái đẹp! Khổng Tử nói: “Xét người bằng nét mặt thì sẽ lầm Tử Vũ” Lưu Hầu cũng thế” [156, tr 300]

Ban Cố cũng lặp lại Tư Mã Thiên trong Hán Thư: “Nghe Trương Lương là người dũng khí, cho rằng ông ta diện mạo kỳ khôi, ai ngờ tựa như phụ nữ Khổng Tử nói “Xét người mà bằng nét mặt sẽ lầm Tử Vũ” Các học giả hoài nghi là có quỷ thần, như Trương Lương nhận sách, kỳ lạ lắm sao Hán Cao Tổ thường nguy khốn, nhờ công sức Trương Lương, có thể nói không có trời sao” [Hán Thư, quyển 40, tr 676]

Tư Mã Quang trong Tư trị thông giám viết: “Trời sinh ra con người có sống

có chết, cũng như trời có đêm có ngày, đó là một điều rất tự nhiên, không thể chống

cự lại được Từ cổ chí kim, chưa ai thoát ra khỏi quy luật đó để tồn tại một mình trên đời cả Với tài ăn nói thấu tình đạt lý của Tử Phòng, tất nhiên biết chuyện thần tiên chỉ là chuyện mù mờ không có thực, nhưng ông lại bảo mình đi theo Xích Tùng

Tử để chu du khắp thiên hạ, cho thấy ông đúng là người thông minh, khôn khéo Phải xem công danh như thế nào, chính là một vấn đề khó xử nhất của người làm bề tôi Trong số tam kiệt được Hán Cao Tổ khen tặng, Hoài Âm Hầu Hàn Tín bị giết, Thừa tướng Tiêu Hà bị tống giam vào ngục, điều đó chẳng phải họ sau khi được công to mà không biết dừng bước đấy sao? Cho nên Tử Phòng lấy cớ đi theo thần tiên, rời bỏ nhân gian, sống cuộc đời siêu thoát bên ngoài thế tục, xem công danh

Trang 21

như là vật ngoài thân, chẳng màng chi tới vinh hoa phú quý, thì thực là người biết

„lấy minh triết để bảo vệ tấm thân‟.” [30, tr 380]

Những bộ chính sử và tục biên của Trung Quốc chép, bình về Trương Lương còn rất nhiều Tuy nhiên, những bình luận khác cũng không có nhiều khác biệt so với những gì mà chúng tôi vừa dẫn ở trên

Nghiên cứu Trương Lương qua trước tác thi ca thời Đường - Tống1

Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế chủ yếu là bình luận của các sử gia và những đánh giá của văn nhân qua những trước tác văn chương Chưa xuất hiện một lối hình dung khác về Trương Lương Nói cách khác, ở Trung Quốc chưa có nghiên cứu về Trương Lương mà chỉ thu hút sự quan tâm và bình luận đông đảo của nhiều thức giả các thời đại

1.2.1.2 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại ngày nay

Ở Trung Quốc, những nghiên cứu Trương Lương vẫn được học giới quan tâm Về cơ bản, những nghiên cứu tiếp tục đánh giá Trương Lương chủ yếu với tư cách là nhân vật lịch sử Cũng dần xuất hiện những nghiên cứu Trương Lương từ trục lịch sử văn học và lịch sử tư tưởng

Công trình bề thế nhất nghiên cứu về Trương Lương là Trung Quốc tư tưởng

gia bình truyện tùng thư, Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín bình truyện, do Uông Á

Minh chủ biên Công trình này nghiên cứu tổng thể cuộc đời Trương Lương trong

tương quan với nhị kiệt, từ đó định giá những đóng góp của Trương Lương Điểm

đặc biệt đáng chú ý là, trong lời nói đầu của công trình này, các tác giả vẫn tuân thủ nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa Mác: “chủ đạo quán triệt thực tiễn hoạt động và

lý luận chủ nghĩa Mác, rời xa nó cũng là rời xa chủ nghĩa Mác” [229, tr 5] Đây là tinh thần chủ đạo và phương pháp nghiên cứu của toàn bộ cuốn sách đồ sộ này

Còn trong cuốn 10 đại mưu lược gia Trung Quốc, tác giả Tang Du căn cứ chủ yếu vào Sử ký và một số bộ sử khác, viết lại cuộc đời và đóng góp của Trương Lương, với tiêu đề Trương Lương - đế vương sư Ở cuốn sách này cũng không xuất

hiện những hình dung mới về Trương Lương từ góc độ phương pháp tiếp cận

luận án này

Trang 22

Trong công trình Mưu lược gia tinh tuyển do Sài Vũ Cầu chủ biên, Dương Ái

Thu biên dịch, 7 tập, Nxb Công an Nhân dân, 2001, viết về những mưu lược gia lừng danh của Trung Quốc và một số mưu lược gia tiêu biểu của thế giới, trong đó

có Trương Lương Bộ sách phân chia thành Chính trị mưu lược gia (tập 1, 2), Ngoại

giao mưu lược gia (tập 3), Ngoại quốc mưu lược gia (tập 4), Quân sự mưu lược gia

(tập 5, 6), Gian nịnh mưu lược gia (tập 7) Trương Lương xếp vào tập Chính trị

mưu lược gia Cũng như cuốn sách trên, những trang viết về Trương Lương vẫn

theo cách hình dung là tiểu sử, những sự kiện và đóng góp của Trương Lương đối với nhà Hán

Từ góc độ văn học, cũng xuất hiện một vài bài nghiên cứu về hình tượng Trương Lương Tiêu biểu là bài viết: “Nội hàm bi kịch hình tượng – Phân tích hình

tượng Trương Lương trong Sử ký” [237, tr 99]

Cũng có một số bài báo khoa học nghiên cứu Trương Lương từ góc độ tư tưởng, tiêu biểu như: “Luận ảnh hưởng của Đạo gia đối với tư tưởng Trương Lương” [230, tr 87 - 89]

Trên đây là những nghiên cứu về Trương Lương ở Trung Quốc, nó phản ánh một thực trạng nghiên cứu còn khá khiêm tốn về Trương Lương, đặc biệt từ phương pháp tiếp cận ở Trung Quốc hiện nay

7.2.2 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương ở Việt Nam

7.2.2.1 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời kỳ chuyên chế

Những nghiên cứu về Trương Lương đầu tiên ở Việt Nam có thể tính từ những lời bình, đánh giá của sử gia và những bình, vịnh, phú về Trương Lương trong trước tác văn chương của sĩ đại phu

Cũng như những trước tác sử học và trước tác văn chương nhà nho Trung Quốc, những nghiên cứu Trương Lương trong trước tác nhà nho Việt Nam chủ yếu

là những bình phẩm, đề, vịnh, phú, luận của các sử gia, thi nhân Trong thời đại chuyên chế Việt Nam cũng chưa xuất hiện những lối hình dung khác, cách tiếp cận khác về nhân vật này

Trang 23

7.2.2.2 Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại ngày nay

Theo khảo sát của chúng tôi, ở Việt Nam không xuất hiện những nghiên cứu chuyên biệt về Trương Lương với tư cách là nhân vật lịch sử Có thể vì Trương Lương quá nổi tiếng, hoặc lại vì Trương Lương không phải là nhân vật lịch sử của nước Nam nên không nằm trong vùng quan tâm của các học giả Lần đầu tiên trong công trình của mình, chúng tôi từ các nguồn tư liệu khác nhau, dựng lại một tiểu sử, sự nghiệp chi tiết và hoàn thiện nhất có thể về Trương Lương, quan trọng hơn, từ góc độ nhân vật lịch sử, chỉ ra những đặc điểm, những thuộc tính, công lao vượt trội của ông trong so sánh với những nhân vật lịch sử đồng dạng, đặc biệt lần đầu tiên so sánh và giải thích hiện tượng thú vị trong lịch

sử rằng: tại sao Khổng Minh được mệnh danh là “vạn đại quân sư” nhưng trong thực tế Trương Lương vĩ đại hơn và từ đó chỉ ra những cách thế lưu danh trong

lịch sử của những nhân vật lịch sử lừng danh

a Nghiên cứu Trương Lương ở Việt Nam với tư cách là hình tượng văn học

Vì là người có mối quan tâm thường trực gần như là ám ảnh về mẫu người này nên ông Trần Ngọc Vương cũng là người dành sự chú ý cao độ cho hình tượng

văn học Trương Lương trong văn học Việt Nam Trong công trình Loại hình học tác

giả văn học, Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, khi triển khai mạch xuất hiện anh

hùng thời loạn trong văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX, ông đã dành

một sự quan tâm đáng kể bình luận về hình tượng Trương Lương trong bài Trương

Lưu hầu phú Vì đây là một chỉ dẫn quan trọng, tác giả luận án xin được trích trọn

vẹn cả đoạn

“Nếu Đào Duy Từ đã từng băn khoăn về việc chọn “minh chúa”, mượn lời

Khổng Minh thể hiện tâm sự mình trong Ngọa Long cương vãn và cuối cùng, quyết

định trốn vào Nam ra mắt chúa Nguyễn, nhanh chóng trở thành mưu thần, rồi thành quân sư, để lại một sự nghiệp cá nhân hấp dẫn nhiều nhà nho hậu thế, thì đi xa thêm một bước nữa trong tư tưởng, Nguyễn Hữu Chỉnh ký thác tâm sự mình vào hình ảnh

Trương Lương qua bài phú nổi tiếng Trương Lưu hầu Tất cả các nhà nho đều thuộc

lòng sự nghiệp Trương Lương “người dựng nên cơ đồ nhà Hán bốn trăm năm”, và những người chí lớn tài cao xưa nay vẫn từng được so sánh với ông Điểm đặc biệt

Trang 24

là ở chỗ, Nguyễn Hữu Chỉnh không chỉ say mê với một sự nghiệp lớn nói chung của Trương Lương, mà dành một sự chú ý cao độ đối với các tính toán cụ thể, với cách lựa chọn Trương Lương trong các tình huống phức tạp Quan trọng nhất, là Nguyễn Hữu Chỉnh phát hiện ra ở Trương Lương sự tự do trong việc lựa chọn hành động Trương Lương đã thử làm như các nhà nho trung nghĩa khác từng làm: tìm người báo thù cho nước Hàn bị tiêu diệt theo lối Kinh Kha, Dự Nhượng Ông cũng đã phân vân nhiều trong việc chọn chúa để thờ Dưới con mắt của Trương Lương, không phải Lưu Bang nhân nghĩa hơn, hay thao lược hơn người, mà điều quan trọng nhất, là Lưu Bang biết nghe, biết sử dụng những gì ông khuyên nhủ Hứng thú của Nguyễn Hữu Chỉnh dành cho việc Trương Lương chơi ván cờ vua chúa, càng khó khăn càng say mê Cách tính toán mọi điều vượt ra ngoài, vượt lên trên lẽ phải thông thường được Nguyễn Hữu Chỉnh theo dõi, bình luận một cách đầy cảm phục

Trương Lương không chỉ tác động mạnh đến Nguyễn Hữu Chỉnh ở các tính toán, mưu kế thần diệu, các nước “gỡ bí” trong rất nhiều những tình huống tưởng như vô phương cứu vãn, mà còn hấp dẫn Nguyễn Hữu Chỉnh (và không ít người đương thời) ở phương thức tự xử, ở việc lựa chọn cho chính mình các bước tiến thoái trong cuộc đời Việc tiêu diệt khai quốc công thần diễn ra, như đã nói ở chương trước, hầu như mang tính quy luật trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, được tổng kết hẳn hoi thành công thức “giảo thố tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàng” Nhưng đã mấy người trong số các khai quốc công thần đủ can đảm để chối từ những bổng cao lộc hậu, phú quý vinh hoa mà mình xứng đáng được hưởng, cũng có người thậm chí tin vào sự công bằng và ân nghĩa thực của ông vua sáng nghiệp, người bạn chiến đấu cũ của mình Trong lịch sử, Trương Lương nằm trong số ít những người có “công lao trùm thiên hạ” nhanh chóng rút lui ra khỏi sự ràng buộc của triều chính, trở thành một ẩn sĩ tự giác mà không hề luyến tiếc Châm ngôn “công thành thân thoái” đã giúp ông không chỉ nằm ngoài móng vuốt của Hán Cao Tổ, mà còn - do tiếng tăm mới gây dựng được trong giới ẩn dật - một phần nữa phò vua Hán trong việc mời Thương Sơn Tứ Hạo đến dự đại yến do Thái tử tổ chức, dập tắt được ý đồ phế lập ngôi Đông cung của Lã Hậu Tâm đắc với tất cả điều đó, Nguyễn Hữu Chỉnh viết:

Trang 25

Đế sư cao một bậc, trọng đức tôn danh

Hầu tước hậu ba muôn, luận công hành thưởng

Đường báo quốc nhờ lưng Xích đế, tiệc Nam cung đã vin tiếng bay rồng Chước bảo thân men gót Hoàng Công, miền Bắc thành lại tìm nơi ấp phượng Giá đã cao lên khủng khỉnh vương hầu

Mình được nhẹ, nên tiêu dao ngày tháng

Rờ rỡ thơ son khoán sắt, lời nãi ông dù trỏ núi thề sông

Thênh thênh non đá am thông, nguyền tiên tử đã quen mây, nhuộm ráng Đạo ấy, sá bàn chân với ngụy, đấng cao minh chi vướng sự hữu vô Lòng này, ai biết Hán hay Hàn, phải biện bạch kẻo thẹn cùng phủ ngưỡng

Mô hình “ngôi đế sư mà danh cao sĩ”, vượt thoát ra ngoài khỏi sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, ung dung tìm kiếm tự do tự tại cho chính mình, không cần phải băn khoăn gì hơn về nghĩa vụ, bổn phận hay danh lợi - tất cả đều đã được trang trải - thực sự cũng là khát vọng của rất nhiều danh nho khác Trong cuộc đời mình, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã cố thử đi con đường đó Chung cục không may mắn của ông không có nghĩa là sự lựa chọn ấy sai lầm, mà chỉ có nghĩa là tầm

cỡ tài năng của ông chưa đủ cho một sự lựa chọn như vậy.” [210, tr 117 - 119]

Ngoài những phân tích trên đây của ông Trần Ngọc Vương về hình tượng

văn học Trương Lương trong Trương Lưu hầu phú, chưa thấy ở giới nghiên cứu văn

học Việt Nam xuất hiện thêm những nghiên cứu hay ý kiến khác Trong định hướng triển khai của luận án, lần đầu tiên chúng tôi sẽ nghiên cứu toàn bộ tiến trình diễn hóa Trương Lương với tư cách là hình tượng văn học, không chỉ trong văn học Việt Nam mà cả văn học Trung Quốc, ở đó chúng tôi dành những nghiên cứu và giải thích đáng kể cho những thời đại kết tinh hình tượng trong văn học hai nước như Đường, Tống (Trung Quốc) và thế kỷ XVIII - XIX ở Việt Nam

b Nghiên cứu Trương Lương ở Việt Nam với tư cách là mẫu hình văn hoá

Nghiên cứu Trương Lương với tư cách là hình tượng văn học và nhân vật lịch sử ở Việt Nam vốn đã hiếm hoi, nghiên cứu Trương Lương với tư cách là mẫu hình văn hoá còn hiếm hoi hơn nữa Cũng với tư cách là người quan tâm đến Trương Lương nên ông Trần Ngọc Vương tiếp tục đặt vấn đề nhìn Trương Lương

Trang 26

với tư cách mẫu hình văn hoá Trong công trình Loại hình học tác giả văn học, Nhà

Nho tài tử và văn học Việt Nam, ông Trần Ngọc Vương viết: “Mô hình “ngôi đế sư

mà danh cao sĩ”, vượt thoát ra ngoài khỏi sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, ung dung tìm kiếm tự do tự tại cho chính mình, không cần phải băn khoăn

gì hơn về nghĩa vụ, bổn phận hay danh lợi – tất cả đều đã được trang trải – thực sự cũng là khát vọng của rất nhiều danh nho khác Trong cuộc đời mình, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã cố thử đi con đường đó Chung cục không may mắn của ông không

có nghĩa là sự lựa chọn ấy sai lầm, mà chỉ có nghĩa là tầm cỡ tài năng của ông chưa

đủ cho một sự lựa chọn như vậy.” [210, tr 117 - 119]

Trong bài viết về Phan Bội Châu, ông Trần Ngọc Vương viết: “Điều thú vị

là, trong trước tác của Phan Bội Châu xuất hiện hai nhân vật được xem là tuyệt đỉnh trí mưu suốt cổ kim là Phạm Lãi và Trương Lương Trong một quãng đời dài, suy nghĩ, hành động, động thái của ông lặp lại Trương Lương trên khá nhiều việc cụ thể” [211, tr 329]

Trên đây là những nghiên cứu ở Việt Nam về Trương Lương với tư cách là mẫu hình văn hoá Những gợi ý trên đây sẽ được chúng tôi tiếp thu và cấu trúc vào luận án Rộng hơn, luận án tiến hành khảo sát và triển khai nghiên cứu tổng thể Trương Lương với tư cách là mẫu hình văn hoá ở cả Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt khảo sát suy nghĩ, động thái và những ứng xử trong thực tiễn của nhiều đại nho

có dấu ấn ảnh hưởng của mẫu hình văn hoá Trương Lương Đi xa hơn, luận án tiến hành so sánh và giải thích sự đậm nhạt trong ảnh hưởng Trương Lương ở Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời giải thích tại sao Trương Lương trở thành một mẫu hình văn hoá ám ảnh nhiều đại nho, ám ảnh đặc biệt sâu sắc đến sĩ đại phu trong thời loạn ở Việt Nam đến như vậy

Trang 27

NỘI DUNG

Trang 28

Chương 1 Mấy vấn đề lý thuyết; những cơ sở về chính trị, tư tưởng, xã hội và

cội nguồn, đặc điểm, cấu trúc tư tưởng nhân vật đế sư

1.1 Mấy vấn đề lý thuyết

1.1.1 Một số thuật ngữ khoa học then chốt

Về thuật ngữ anh hùng thời loạn 1 Trước hết, đây là thuật ngữ khoa học do

GS TS Trần Ngọc Vương dùng để chỉ một loại người xuất hiện và phát triển trong

thời loạn Trong mẫu người anh hùng thời loạn, có thể chia thành hai típ nhỏ hơn,

hay có thể gọi là tiểu loại: anh hùng sáng nghiệp và anh hùng đế sư Từ tiểu loại

được hiểu theo nghĩa là một típ người nhỏ hơn trong mẫu người anh hùng thời loạn

Những khái niệm này chúng tôi tiếp thu từ sự gợi ý và định hướng của GS TS Trần

Ngọc Vương Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhau, GS.TS Trần Ngọc Vương chưa

đi sâu lý thuyết hóa về mẫu người này Lần đầu tiên trong công trình của mình,

chúng tôi đi sâu thảo luận, hướng đến lý thuyết hóa “tiểu loại nhân vật đế sư” thông

qua một nghiên cứu trường hợp

Tổng hợp từ sự quan sát diễn tiến và đặc điểm của nhân vật, từ nội hàm khái

niệm nhà nho trong lịch sử đã dùng để chỉ nhân vật đế sư2 chúng tôi minh định

nội hàm của thuật ngữ đế sư trên một số phương diện chính sau đây

Trước hết, thuật ngữ đế sư hay cách gọi khác: đế giả sư, đế vương sư, vương

giả sư… được hiểu theo nghĩa gốc là “thầy, bậc thầy” trong tương quan so sánh và

quy chiếu với hoàng đế khai triều

Mặt khác, thuật ngữ đế sư là khái niệm mang tính thời đại cao Tiểu loại anh

hùng đế sư thuộc mẫu người anh hùng thời loạn chỉ xuất hiện và phát triển trong

thời đại đặc thù: thời đại chuyển giao triều đại, hay thời đại loạn lạc Tức là ở giai

đoạn triều đại cũ chưa bị tiêu vong, nhưng triều đại mới chưa hình thành Loại

người này đóng vai trò quyết định giúp kiến tạo vương triều mới

tôi, trong thời loạn các nước trong khu vực Đông Á, xuất hiện hai kiểu loại anh súng lớn, tiêu biểu hơn cả là anh hùng trở

thành hoàng đế tương lai và anh hùng đế sư

ngữ đế sư trong luận án này

Trang 29

Hơn nữa, với tư cách là một kiến trúc sư của một triều đại mới, ở ý nghĩa cao nhất, đế sư gắn với ý nghĩa của một khái niệm hoàn hảo Không ít đế sư đã đi được quãng đường dài trên cung đường của một đế sư, như gây dựng triều đại mới, nhưng không đi xa hơn ở những phương diện khác như, hoặc bị bức hại, hoặc bị tiêu diệt, hoặc phải bỏ trốn….Vì vậy, nội hàm của khái niệm đế sư mẫu mực nhất đồng nghĩa với phương diện lý tưởng của một định hướng giá trị

Ngoài ra, một trong những tiêu chí cơ bản phân chia mẫu hình anh hùng thời loạn thành hai kiểu loại: anh hùng sáng nghiệp và anh hùng đế sư là dựa trên

cơ sở đặc trưng sức mạnh của từng tiểu loại Trong đó, đặc trưng nổi bật của người anh hùng sáng nghiệp là sức mạnh của một dũng tướng, thì đặc trưng nổi bật của đế sư là trí tuệ siêu việt, toàn tài Đây cũng là một nội hàm quan trọng của khái niệm đế sư

1.1.2 Khái niệm loại hình và loại hình học, những nghiên cứu theo phương pháp loại hình

Trước khi con người dùng lý trí lý thuyết hóa thành những kiểu, loại, típ, thì trước đó, từ trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, một cách vô thức con người đã

tư duy theo kiểu, loại, típ Ví dụ điển hình nhất là từ rất sớm con người đã loại biệt chính mình dựa trên cơ sở giới tính thành nam và nữ

Cùng với thời gian và sự phát triển nhận thức của con người, tư duy loại biệt ngày càng cần thiết trong nhận thức về thế giới xung quanh và trong nhận thức về chính bản thân mình

Từ góc độ tự nhiên, ảnh xạ rõ nét nhất của tư duy loại biệt này là phân giới

tự nhiên thành thực vật và động vật Đi sâu hơn, trong thực vật, giới sinh học còn phân chia thành các típ, kiểu, loại nhỏ hơn theo nhiều tiêu chí khác nhau như họ hàng Ví dụ, trong họ hàng nhà Trúc có nhiều kiểu loại nhỏ hơn như trúc thẳng, trúc đùi ếch Nhưng liên kết với nhau theo một cách lớn hơn, tre, trúc, dang, nứa… đều thuộc cùng một họ Giới động vật cũng vậy, tùy theo đặc trưng, con người phân thành gia súc và gia cầm, trong gia súc có nhiều loại: trâu, bò, lợn Trong gia cầm có ngan, gà, vịt…

Trang 30

Từ góc độ xã hội, nhận thức về con người và các hình thức xã hội khác nhau cũng dựa trên cơ sở loại biệt hóa Chẳng hạn, người ta có thể phân loại dựa trên cơ

sở màu da như: người da trắng, da đen, da đỏ hoặc da vàng Hoặc dựa theo tiêu chí địa lý: có người Châu Á, người Châu Âu, người Châu Phi, người Châu Mỹ Hoặc dựa theo tôn giáo, có thể phân chia thành người có đạo và người không có đạo….trong số người có đạo có thể phân chia thành những kiểu loại nhỏ hơn: người theo đạo Hồi, người theo đạo Ki tô, người theo đạo Phật,…dựa trên tiêu chí khu vực, người ta có thể phân chia xã hội thành xã hội theo kiểu phương Tây hoặc xã hội theo kiểu phương Đông Xã hội của những người cầm đũa và xã hội của những người cầm dĩa…

Tất cả những dẫn giải trên đây nhằm chứng minh rằng, tư duy loại hình hóa

là một kiểu tư duy nhận thức về thế giới mang tính nhân loại, phổ biến, quan trọng

và hữu dụng cho đến tận ngày nay

Phương pháp loại hình học định hình dưới dạng lý thuyết khoảng nửa sau thế

kỷ XX Loại hình học (typologie) hay còn gọi là phương pháp loại hình học, tiếng Pháp (typologie), tiếng Hy Lạp (typologos), nét nghĩa ban đầu của nó là “dấu tích,

hình mẫu” Ngành nhân chủng học áp dụng phương pháp này nhằm nhận thức sự khác biệt giữa các cộng đồng dân tộc trên thế giới Mục đích tối hậu của phương

pháp này nhằm phát hiện ra cấu trúc bên trong của đối tượng và tìm ra quy luật

phát triển của nó

Trên cơ sở của phương thức tư duy này, giới nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới, đặc biệt là giới nghiên cứu Liên Xô trước đây đã tiến hành áp dụng phương pháp nghiên cứu này trong nghiên cứu văn học và đạt được những thành tựu ở tầm mức cổ điển1

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, giới nghiên cứu trong nước từng bước áp dụng kiểu tư duy này như một phương pháp tư duy công cụ nhận thức văn

- M.B Khrapchenkô, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Chương 6: “Nghiên cứu văn học theo phương pháp loại hình” (trang 332 – 377), Lê Sơn và Nguyễn Minh dịch, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1979 Trong công trình này, Viện sĩ M.B Khrapchenkô đã tổng kết: “nó sẽ tìm đến loại hình (type) và

cấu trúc (structure) bên trong của đối tượng nghiên cứu”

- B.L Riptin, “Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đông theo phương pháp loại

hình, Lê Sơn dịch, tạp chí Văn học, số 2, 1974, tr 107 - 123

Trang 31

học, văn hóa dân tộc Ở nước nhà, người có ý thức hệ thống hóa hệ thống nhân vật nhà nho theo phương thức tư duy loại hình hóa là học giả Trần Đình Hượu1

Tuy nhiên, do nhiều lý do, học giả Trần Đình Hượu chưa có điều kiện đi sâu triển khai nghiên cứu từng mẫu người cụ thể của kiểu loại người quan trọng này trong lịch sử tư tưởng và lịch sử văn học dân tộc Dù vậy, những gợi ý mang tính định hướng của ông là cơ sở quan trọng cho một định hướng nghiên cứu lớn, dài hơi, tính trường phái rõ nét; và người đi sâu triển khai một công trình cơ bản, mang tính chất nghiên cứu trường hợp, chuyên nghiệp theo định hướng này, đạt được thành tựu quan trọng và được học giới đánh giá cao là học trò của ông, học giả Trần

Ngọc Vương với công trình nổi tiếng: Loại hình học tác giả văn học Nhà nho tài tử

và văn học Việt Nam 2

Ngoài công trình này, ông Trần Ngọc Vương tiếp tục nghiên cứu một loại hình nhân cách đặc biệt trong lịch sử khu vực Đông Á: mẫu hình nhân cách hoàng

đế Cũng trong công trình này, ông đã chỉ ra một loạt loại hình nhân cách đặc biệt hấp dẫn trong lịch sử khu vực và Việt Nam cần tiếp tục được nghiên cứu, trong đó

có mẫu hình người anh hùng thời loạn, tiểu loại nhân vật đế sư

Cùng thời gian, giới khoa học trong nước cũng bị hấp dẫn bởi định hướng này Nhiều nhà nghiên cứu triển khai áp dụng phương thức tư duy loại hình học nghiên cứu các phương diện khác của nền văn học, lịch sử tư tưởng và văn hóa dân tộc Tiêu biểu như: nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn sử dụng phương thức loại

hình hóa nhận thức về đặc trưng kiểu truyện thiền sư trong Thiền Uyển tập anh, với công trình tiêu biểu: Loại hình tác phẩm Thiền Uyển tập anh3 Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhìn lịch sử văn hóa Việt Nam là lịch sử của những mẫu người văn hóa4

với công trình Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa

Trong số những người theo đuổi định hướng nghiên cứu này, ông Trần Ngọc Vương là người không chỉ chứng minh và hiện thực hóa một định hướng nghiên

tài tử

Giáo dục, Hà Nội, 1995

219, 277

Trang 32

cứu còn mới mẻ ở Việt Nam mà qua những nghiên cứu của mình, ông còn khẳng định một định hướng nghiên cứu nhiều triển vọng và mở ra diện nghiên cứu của nhiều loại hình nhân cách văn hóa khác

Những dẫn giải trên đây nhằm làm rõ tình hình ứng dụng phương pháp loại hình học trong nghiên cứu văn học, văn hóa nước nhà, qua đó thấy được thực trạng, những vấn đề cần tiếp tục triển khai và triển vọng của định hướng nghiên cứu này

Loại hình học tuy được ứng dụng trong nghiên cứu văn học và văn hóa Việt Nam, tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, mức độ cổ điển của những công trình chưa nhiều, diện ứng dụng chưa toàn diện, đơn cử là những công trình mà chúng tôi chỉ ra ở trên mới chỉ dừng lại ở ba phương diện như: loại hình học tác giả văn học, loại hình học tác phẩm và loại hình học nhân vật mẫu người văn hóa Mặt khác, mức độ chuyên sâu của những tiêu mẫu nghiên cứu chưa thật nhiều

Ở Việt Nam, gần như đã hình thành một trường phái nghiên cứu, mà ở đó người định hướng và gợi mở ban đầu là học giả Trần Đình Hượu, người phát triển

và khẳng định triển vọng và mở rộng định hướng là học giả Trần Ngọc Vương

Để tiếp tục định hướng nghiên cứu này, nhận được sự gợi ý và định hướng, cũng như kế thừa và học hỏi kinh nghiệm của bậc tiền bối, trong nỗ lực tối đa khả năng của mình, chúng tôi sẽ lựa chọn nghiên cứu một trường hợp tiêu biểu của kiểu loại nhân vật đặc thù trong thời loạn: anh hùng thời loạn, tiểu loại người đế sư

Xin nhấn mạnh thêm rằng, loại hình hóa là một định hướng nghiên cứu cần tiếp tục triển khai, do vậy, mỗi công trình nghiên cứu làm dầy thêm tri thức lý thuyết cho định hướng nghiên cứu này

1.1.3 Văn học trung tâm và văn học ngoại biên

Dù đã có một thời kỳ trong giới nghiên cứu văn học, không ít nhà nghiên cứu cực đoan đến mức cho rằng nền văn học viết Việt Nam1 độc lập hoàn toàn với nền văn học Trung Hoa2

thì ngày nay, cơ bản giới nghiên cứu đồng thuận trong nhận

thức: nền văn học Trung Hoa là nền văn học gốc, nền văn học già trong tương quan với nền văn học trẻ, nền văn học bứng trồng là nền văn học Việt Nam

biểu là tác phẩm Văn học Việt Nam đối kháng Trung Hoa, tác giả Thanh Lãng, Nxb Phong trào văn hóa, 1971

Trang 33

Trong mối tương quan này, nền văn học Trung Hoa đóng vai trò là nền văn học gốc, nền văn học kiến tạo vùng Nền văn học này đóng vai trò kiến tạo những giá trị mĩ học văn chương, ngôn ngữ văn chương, kinh nghiệm văn chương, thể loại, hình tượng văn chương…cho những nền văn học ở ngoại biên Trong khu vực Đông

Á, nền văn học Trung Hoa là nền văn học phát triển sớm và rực rỡ nhất trong khu vực Những nền văn học Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam về cơ bản tiếp thu ở những mức độ khác nhau thành tựu của nền văn học này

So với nền văn học viết Nhật Bản, văn học viết Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Hoa có lẽ sâu sắc hơn Trong tương quan giữa nền văn học Trung Hoa và nền văn học Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nền văn học viết dân tộc được khởi đầu từ những năm bản lề thế kỷ thứ X, đặc điểm hàng đầu của sự hình thành nền văn học viết Việt Nam là không thành tạo trên cơ sở văn học dân gian [212, tr 30] Vì không hình thành trên cơ sở văn học dân gian nên văn học viết Việt Nam ở thời điểm hình thành về cơ bản vay mượn những kinh nghiệm nghệ thuật từ thành tựu văn học Trung Hoa Ngôn ngữ văn chương giai đoạn đầu là ngôn ngữ chữ Hán, và cho đến tận sau này, dù xuất hiện chữ Nôm, nhưng ngôn ngữ chữ Hán dùng trong sáng tác văn chương vẫn là một mảng lớn trong lịch sử văn học dân tộc Các thể loại văn chương như chiếu, biểu, cáo, thơ thất ngôn, ngũ ngôn, đường luật…đều tiếp thu từ nền văn học Trung Hoa

Tuy nhiên, song song với quá trình tiếp thu và chuyển hóa những kinh nghiệm và thành tựu nghệ thuật từ Trung Hoa, trên cơ sở những thành tựu này, cùng với khát vọng sáng tạo những giá trị tự thân của nền văn học, nền văn học Việt Nam từng bước tạo ra những giá trị nghệ thuật mang màu sắc của mình Song song với sự tồn tại của ngôn ngữ Hán, ngôn ngữ Nôm cũng từ rất sớm trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Cùng với những giá trị mỹ học có nguồn gốc từ Thiền Nam Trung Hoa và từ

mỹ học Nho Lão, những giá trị mỹ học của khu vực Đông Á, những yếu tố “tục”, những sắc màu và hình tượng của văn học - văn hóa đạo mẫu từng bước thâm nhập vào văn học Cùng với những thể loại truyền thống tiếp nhận từ Trung Hoa bằng ngôn ngữ Hán, cũng từng bước xuất hiện ngôn ngữ Nôm và những thể loại dân tộc mới như lục bát, hát nói

Trang 34

Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khoảng bốn thế kỷ đầu tiên của nền văn học dân tộc là thời kỳ lựa chọn và chuyển hóa những thành tựu và kinh nghiệm nghệ thuật từ nền văn học Trung Hoa Những thế kỷ tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX, nền văn học dân tộc đã kết tinh rực rỡ, khẳng định sự phát triển và sáng tạo tự thân của nền văn học dân tộc

Trong số những kinh nghiệm nghệ thuật mà văn học dân tộc tiếp thu từ nền văn học Trung Hoa, có một loại hình tượng nhân vật ít được giới nghiên cứu lưu tâm đúng mức: những mẫu hình văn hóa, những khuôn mẫu văn hóa Mẫu hình văn hóa này ở những mức độ khác nhau, kết tinh và trở thành biểu tượng, khuôn mẫu văn hóa ở những dạng thức và trạng thái khác nhau Trong nhóm mẫu hình văn hóa này, có thể chỉ ra những kiểu nhỏ hơn Trước hết, dễ nhận thấy nhất là nhóm nhân vật là những giáo chủ, chủ thuyết của giáo phái như: Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử Hai là, nhóm những thi nhân lừng danh: Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Tô Thức… Ba là, nhóm những nhà tư tưởng, sử gia: Tư

Mã Thiên, Ban Cố, Tư Mã Quang, Trình Di, Trình Hạo, Vương Dương Minh… Bốn là, nhóm những danh tướng: Hạng Vũ, Hàn Tín, Quan Vũ… Năm là, nhóm những danh thần lừng danh: Khương Tử Nha, Phạm Lãi, Trương Lương, Khổng Minh, Lưu Cơ…

Cũng như những nhân vật lừng danh khác xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa, họ trở thành đối tượng thẩm mỹ của nhiều thể loại khác nhau: dã sử, tiểu thuyết, kịch, thi ca, từ, phú… Với một dân tộc trọng quá khứ và truyền thống đạo đức như Trung Hoa, những nhân vật lịch sử lừng danh là một đối tượng hấp dẫn, mang giá trị biểu trưng đa nghĩa được các nhà nho tự giác hướng đến bày tỏ thái

độ, gửi gắm suy nghĩ cá nhân Vịnh sử là một đề tài lớn trong cả văn học Trung Hoa và văn học Việt Nam

Việc nghiên cứu một nhân vật lịch sử cụ thể trải qua những diễn hóa lịch sử, được lịch sử vinh danh tiêu biểu cho một định hướng giá trị tinh thần đặc biệt là một việc làm cần thiết Nó không chỉ trả lại cho lịch sử một vĩ nhân mà còn “giải án”

Trang 35

cho một loạt những định đề đã đóng đinh trong lịch sử1 Việc nghiên cứu trường hợp chia sẻ mẫu hình đế sư Trương Lương nhìn từ cả hai lát cắt lịch sử và so sánh trong văn học - văn hóa hai nước Việt Nam – Trung Quốc không chỉ góp phần khẳng định cho một danh nhân và một định hướng giá trị tinh thần có tính khu vực, tính quốc tế mà còn làm rõ được những tương tác cụ thể, những chia sẻ giá trị cụ thể, kể cả những tương đồng và đặc biệt là những dị biệt trong mối tương tác này Những quy luật và ngoài quy luật, tính tương tác, bổ khuyết của tiến trình này cũng được luận án lưu tâm chỉ rõ trong quá trình nghiên cứu trường hợp này

Đồng thời, việc nghiên cứu trường hợp này sẽ là tiền đề cho nghiên cứu những kiểu loại tiếp theo trong tương quan chia sẻ và so sánh mẫu hình văn hóa giữa Việt Nam – Trung Quốc

1.2 Những cơ sở về chính trị, tư tưởng, xã hội xuất hiện nhân vật đế sư

1.2.1 Chính trị học Trung Hoa cổ đại và sự hình thành những định hướng lựa chọn

Kinh Dịch được xem là “cấu hình tư tưởng Trung Quốc”2 Về cơ bản có thể

áp dụng Kinh Dịch đọc được trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Trung Hoa cổ

trung đại, từ lịch sử, văn hóa, tư tưởng, chính trị, y học… hay nói cách khác là các

lĩnh vực này chịu sự chi phối của tư duy Kinh Dịch…3

Cuốn sách không viết bằng chữ này4 là quan niệm về sự vận động của vũ trụ

Hạt nhân cơ bản và nền tảng xây dựng nên các quẻ trong Kinh Dịch là hai trạng thái

Âm và Dương Từ sự tương tác của hai trạng thái này có trong mỗi sự vật, hiện

tượng tạo ra sự “sinh” trong vũ trụ Người Trung Hoa khái quát: sinh sinh chi vị

Dịch hay thiên địa chi đại đức chi viết sinh

này, Khổng Minh Gia Cát là nhân vật mẫu mực nhất Trong luận án của mình, chúng tôi sẽ chứng minh ngược lại

học Xã hội, 2006

nghiên cứu ẩm thực với Kinh Dịch, nghệ thuật hội họa và Kinh Dịch, văn học và Kinh Dịch, lịch sử và Kinh Dịch, y học và Kinh Dịch…

2007, tr 5

Trang 36

Khác với các kinh nói về sự sáng tạo ra các vị thần, Kinh Dịch không bàn

về các vị thần, thánh trong vũ trụ Kinh Dịch chỉ giải thích về nguyên tắc vận

hành của vũ trụ Điểm quan trọng nhất là, bộ kinh được coi là tối cao của Trung Hoa1 không lý giải về các vị thần sáng thế như văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa chỉ lý giải về nguyên lý của sự vận hành vũ trụ nói chung Từ xuất phát điểm này dẫn đến những khác biệt cơ bản trong vấn đề tìm kiếm trọng tâm tư duy, phương thức tư duy và lý giải về sự vận động vũ trụ, quy luật thịnh suy xã hội giữa Trung Hoa và Ấn Độ Nếu như người Ấn Độ cổ đại đặt trọng tâm tư duy vào kiến giải sự hình thành và vận động của vũ trụ từ các vị thần linh, thì người Trung Quốc không cho rằng sự vận hành của vũ trụ là do các vị thần, mà do sự thành tạo và tương tác của vũ trụ được trừu tượng hóa thành hai cực, hai trạng thái của sự vận hành là Âm và Dương Từ đó, họ tư duy trên cơ sở khái niệm công cụ này, và sử dụng nó kiến giải quy luật vận động của vũ trụ, sự thịnh suy của xã hội nói chung, đồng thời tất cả các lĩnh vực của đời sống, sự thịnh suy của mỗi con người, sự vật, sự kiện đều được tư duy và kiến giải từ hai khái niệm công cụ mang tính tương tác cao này Phương thức tư duy và trọng tâm tư duy này dẫn đến sự khác biệt cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của Trung Hoa so với Ấn

Độ Nếu như trọng tâm tư duy và khát vọng tu luyện của Ấn Độ cổ đại hướng đến trạng thái siêu thoát tâm linh tuyệt đối thì trọng tâm tư duy và khát vọng tu luyện của Trung Hoa cổ đại men theo quy luật vận động tương tác theo kiểu Âm –Dương, thịnh suy của vũ trụ tự nhiên và xã hội hướng đến sự hài hòa tuyệt đối

Từ phương thức tư duy và trọng tâm kiến giải vấn đề như trên, tác động lớn đến các quá trình hình thành mẫu hình nhân cách của hai quốc gia phương Đông đặc biệt này Nét tu luyện siêu thoát hướng đến trạng thái tâm linh vĩnh cửu là đặc trưng hàng đầu của những loại hình nhân cách trong xã hội Ấn Độ cổ đại Nét tu dưỡng dựa vào sự tự nhiên vận động theo quy luật tương tác Âm – Dương, tìm kiếm sự hài hòa, cân đối là đặc điểm hàng đầu của những nhân cách văn hóa trong lịch sử Trung Hoa

1

“Dịch, quần kinh chi thủ” (Kinh Dịch đứng đầu trong các kinh)

Trang 37

Vận quy luật này vào sự vận động của xã hội, người Trung Hoa nhìn nhận

nó như là một quy luật tự nhiên trong xã hội, ngôn ngữ mà họ thường dùng là thịnh

suy đắp đổi Nói như ngôn ngữ Kinh Dịch, trong dương (thịnh) có âm (suy) và

ngược lại trong âm (suy) có dương (thịnh) Quy luật này từ trạng thái triết học

chuyển hóa sang thành điển cố văn hóa lừng danh tái ông thất mã Vì vậy, trong xã

hội thịnh đã tiềm ẩn mầm suy, trong xã hội suy đã tiềm tàng mầm thịnh

Vận lối tư duy này vào sự hình dung của một vương triều, một dòng họ thì đỉnh cao của một vương triều cũng là lúc báo hiệu dấu hiệu cáo chung của vương triều đó Sự suy vong của một vương triều, cũng báo hiệu sự xuất hiện của vương triều mới

Trong diễn tiến của chính trị luận Trung Hoa cổ đại, hệ tư tưởng Nho gia đến thời Hán, kết hợp với hệ tư tưởng Pháp gia trở thành nền tảng chính trị cơ bản, lâu bền của nền chuyên chế [215, tr 689 - 713] Trong đó, điểm lõi của vương triều

chính thống và cội nguồn của một sự bền vững của vương triều là sự có Đức của người đứng đầu vương triều Khi vương triều đó nhận được Đức từ trời và nuôi dưỡng được cái Đức của trời sẽ được trường tồn Nếu vương triều đó đánh mất Đức này, tức đánh mất mệnh trời, sẽ bị trời trừng phạt và bị thay thế bằng người có Đức

khác Trong cách hình dung này, đức mà trời trao cho là tiêu chí số một của sự chính thống và tính chính danh của vương triều Sự thịnh suy đắp đổi, sự hưng vong

của vương triều được nhà Nho nhìn nhận là sự được - mất Đức của vương triều

Đặc điểm thần học chính trị này của Trung Hoa chi phối rõ nét đến sự hình thành những mẫu hình nhân cách trong lịch sử Trước hết, cả thời bình và thời loạn, luôn hình thành một loại người có đức Trong thời đại thịnh trị, trước tiên ông vua đó được ngợi ca là người có đại đức Và trong thời loạn, người kiến lập ra triều đại mới cũng được hình dung là người có đức, được trời trao cho Đức thực thi mệnh trời Trong thời loạn, quay quanh trục người có đức này còn có những võ tướng trung thành và những mưu sĩ tài ba Đáng nói là, trong thời đại loạn lạc, để quy tụ lực lượng đông đảo, nhóm mưu sĩ cần tìm kiếm những huyền thoại, những giai thoại để bổ sung cái thiên đức của minh chủ Lưu Bang trong thời đại tranh giành thiên hạ, được sử gia sau này mô tả là con Xích Đế giết chết con Bạch Đế là Tần Thủy Hoàng

Trang 38

Do nhìn ra được sự thịnh suy đắp đổi của sự vận động xã hội, nên có một nhóm người cứ “tự nhiên nhi nhiên” mặc cho sự vận động thịnh suy của xã hội, mặc cho lực lượng chính trị phân tranh, họ tìm kiếm một nơi, phần lớn là ở núi rừng, ẩn tu Nhóm này sinh hoạt dựa vào núi rừng, an bần lạc đạo, tìm kiếm tự do trong tâm linh1

Có một nhóm đặc biệt hơn, nắm vững những nguyên lý triết học chính trị Trung Hoa cổ đại, nắm được quy luật đắp đổi thịnh suy của xã hội, nghiên cứu và tinh thông nhiều học phái khác nhau, nhưng không hành xử theo kiểu những người

ẩn sĩ thông thường Thường họ là những người “tạm ẩn” đợi thời, kiểu như Khương

Tử Nha, Khổng Minh Nắm được quy luật của sự vận động xã hội, nhìn thấu được

xu thế của lịch sử, quan sát được sự xuất hiện của những lực lượng chính trị khác nhau, họ thường ẩn ở một nơi, nghiền ngẫm binh thư sách vở, chủ động tìm kiếm hoặc chờ đợi minh chủ xuất hiện Khương Tử Nha chờ Chu Văn Vương, Phạm Lãi tìm Câu Tiễn, Trương Lương chọn Lưu Bang, Khổng Minh đợi Lưu Bị, Lưu Cơ đợi Chu Nguyên Chương, Nguyễn Trãi tìm Lê Lợi… Có một điểm chung là, về cơ bản, tất cả những minh chủ của họ đều triệt để và tuyệt đối nghe theo, vận dụng sách lược của họ Hay nói cách khác, trong cuộc tương tác này, minh chủ là người được

họ sử dụng Họ nhìn ra ở minh chủ tương lai trong tiềm năng có thể giúp họ thi triển tài năng và khát vọng của mình Nhóm này được lịch sử định danh bằng một cái tên đặc biệt đúng tầm vóc của họ: đế vương sư (thầy vua)

Khác với minh chủ của mình, họ không đặt cho bản thân khát vọng đến với ngôi vị thiên tử Khát vọng của họ là đưa minh chủ của mình đến với ngôi vị thiên

tử Khác với mưu sĩ thông thường, họ không tìm kiếm manh quần tấm áo, mũ cao

áo dài, phong đất phong hầu…Họ bỏ qua tất cả những khát vọng này Mục tiêu tối hậu của họ là bằng dấu ấn tài năng cá nhân, tạo lập trạng thái hòa bình bằng cách tạo lập một triều đại mới, bằng cách đưa minh chủ mình phò tá lên ngôi hoàng đế khai triều Ở vị trí cao nhất, họ lưu danh với tư cách là đế sư, bậc thầy của vua chúa, người kiến tạo đế chế, đưa xã hội từ trạng thái loạn thế trở về trạng thái hài hòa

1

Xem Ẩn sĩ Trung Hoa, Nxb Trẻ, 2001, tr 11 - 23

Trang 39

Loại hình nhân cách này được hình thành từ sự chi phối của những nguyên lý chính trị thần học như đã chỉ ra ở trên Họ không chỉ là người nhìn ra quy luật này

mà quan trọng hơn, bằng tài năng kiệt xuất của mình, họ tác động vào xã hội bằng cách kiến tạo đế chế

Theo chúng tôi, trong lịch sử khu vực Đông Á, trong đó khảo sát lịch sử Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản, loại người này xuất hiện liên tục trong những thời đại loạn lạc, thời đại biến động lớn và thay đổi triều đại, họ, tức những đế sư này theo hình dung của chúng tôi, trở thành một tiểu loại nhân vật đặc

biệt trong lịch sử, loại hình nhân vật anh hùng đế sư Sở dĩ chúng tôi gọi họ là tiểu

loại bởi, cả anh hùng sáng nghiệp và anh hùng đế sư đều nằm trong nhóm anh hùng thời loạn, thuộc một típ lớn hơn Tiểu loại anh hùng đế sư là một típ nhỏ trong típ lớn này

1.2.2 Hệ tư tưởng Trung Hoa cổ đại và sự hình thành những định hướng lựa chọn

Mỗi hệ tư tưởng lớn trong lịch sử Trung Hoa cổ đại đều hình thành một mẫu hình nhân cách đặc thù của hệ tư tưởng mình Hệ tư tưởng Nho gia, mẫu hình tiêu biểu là nho sĩ Hệ tư tưởng Lão Trang – Đạo gia, mẫu hình nhân vật điển hình là ẩn

sĩ Hệ tư tưởng Mặc gia, mẫu hình điển hình là hiệp sĩ.[218, tr 95-96]

Tuy nhiên, có một thực tế là, sự phân chia như trên dựa trên những đường nét lớn Trong thực tế, sự dung hội, đan xen và cấu trúc trong nhau của các mẫu người là một đặc điểm nổi bật Xét đến cùng, đặc thù này xuất phát từ đặc thù của

sự dung hợp của mỗi học thuyết, có nghĩa là bản thân học thuyết từ cội nguồn hình thành là sự dung hội Trong Pháp gia có yếu tố của Lão Trang – Đạo gia, trong Nho gia có yếu tố của Mặc gia, Âm Dương gia Sự không hoàn thiện của mỗi học thuyết

là nguyên nhân cơ bản của sự nguyên hợp này1

Càng về sau, có thể tính từ thời đại nhà Hán, hệ tư tưởng xuyên suốt, đóng vai trò nền tảng trong cả chính trị và văn hóa Trung Hoa là hệ tư tưởng Nho gia Nho gia hóa sĩ đại phu là một đặc điểm lớn nhất tính từ thời nhà Hán trở về sau Tức

1

Cả Nho và Pháp gia trong học thuyết của mình đều thiếu hình nhi Thượng và phải mượn từ các học thuyết khác

Trang 40

nền tảng mang tính điểm tựa của chuẩn mực chính trị, chuẩn mực ứng xử là Nho gia Nho gia chi phối tới mọi phương diện của đời sống chính trị, văn hóa xã hội Trung Hoa Sự hình thành nhân cách của sĩ đại phu trong xã hội Trung Hoa chịu sự chi phối sâu sắc và toàn diện của hệ tư tưởng Nho gia1

Tuy nhiên, như đã nói, cấu trúc hình thành nhân cách kẻ sĩ trong xã hội Trung Hoa cổ trung đại không chỉ đến từ Nho gia Từ thời Hán trở về sau này, ngoài Nho, Pháp, Lão thì Phật giáo cũng chi phối quan trọng tới sự hình thành nhân cách

kẻ sĩ

Ở trạng thái thịnh trị nhất của nền chuyên chế đánh dấu bằng sự cực quyền của ngôi vị hoàng đế, sự chi phối của Nho gia đối với sự hình thành loại hình nhân cách trong thời bình thịnh trị theo hai định hướng lớn chủ yếu sau: Một định hướng

là tiệm cận ngai vàng và một định hướng ly khai ngai vàng Định hướng vận động tiệm cận ngai vàng là định hướng cơ bản Để tiệm cận với ngai vàng, sĩ đại phu thường trải qua một khâu trung gian đặc biệt quan trọng là phải vượt qua được các

kỳ thi Có ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình Con đường này nếu thành công

sẽ giúp sĩ đại phu thành danh với một chức quan cụ thể Định hướng vận động ly khai ngai vàng, thường xuất hiện ở hai kiểu người Một là, kiểu người thi không đỗ,

về ở ẩn, hoặc dạy học, hoặc thầy thuốc Một dạng khác, bất mãn với triều chính, về

ở ẩn, tìm kiếm tự do trong tâm linh Ở trạng thái này, họ tìm đến với Lão Trang hoặc Phật giáo

Trên đây là sự chi phối của Nho gia và các định hướng giá trị khác trong thời đại thái bình thịnh trị Trong thời loạn, sự chi phối của Nho gia thể hiện trên một phương diện chính sau đây Thường ở thời loạn xuất hiện hai định hướng lớn: một

là ở ẩn, hai là tham gia thời loạn Ở định hướng thứ nhất, sự chi phối của tư tưởng Lão Trang – Đạo gia đậm đặc hơn Ở định hướng thứ hai, sự chi phối của Nho gia, Mặc gia chi phối rõ nét hơn Ở định hướng thứ hai, xuất hiện hai típ người Một típ người trong định hướng vận động trở thành hoàng đế Một định hướng quân sư phò

tá cho hoàng đế tương lai

Khổng giáo

Ngày đăng: 23/03/2020, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w