Với những lý do trên, việc tiếp tục triển khai đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, đổi mới nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị - hành chính ở Học viện
Trang 1đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
Hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin của học viện chính trị -
hành chính quốc gia hồ chí minh
(Nghiờn cứu trường hợp Học viện Chớnh trị - Hành chớnh quốc gia Hồ Chớ Minh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
Hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin của học viện chính trị -
hành chính quốc gia hồ chí minh
(Nghiờn cứu trường hợp Học viện Chớnh trị - Hành chớnh quốc gia Hồ Chớ Minh)
Chuyờn ngành: Xó hội học
Mó số: 62 31 30 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS VŨ HÀO QUANG
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MôC LôC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng
25
1.2.1 Một số nét về Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh
49
1.2.2 Một số nét về các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
52 1.2.3 Đặc điểm của các nhóm độc giả tạp chí, bản tin trong hệ
thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
58
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC THÔNG TIN CỦA ĐỘC GIẢ CÁC TẠP CHÍ, BẢN TIN TRONG HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ -
HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
2.1 Nhu cầu thông tin của độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ
thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
65
2.1.1 Nội dung thông tin độc giả có nhu cầu cho công việc của
mình
65 2.1.2 Đánh giá của độc giả về hình thức thông tin quan trọng
cho công việc của mình
69
2.2 Hành vi tìm kiếm thông tin từ các tạp chí của độc giả trong
hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
74
2.2.1 Mức độ thường xuyên khai thác thông tin của độc giả từ
các tạp chí trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc
Trang 4chính quốc gia Hồ Chí Minh
2.3 Hành vi tìm kiếm thông tin từ các bản tin của độc giả trong
hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
110
2.3.1 Mức độ thường xuyên khai thác thông tin từ các bản tin
của độc giả trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh
110
2.3.2 Nội dung thông tin được các độc giả thường xuyên khai
thác từ các bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh
115
CHƯƠNG 3 KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CÁC TẠP
CHÍ, BẢN TIN TRONG HỆ THỐNG HỌC VIỆN
3.1 Đánh giá mức độ các tạp chí, bản tin đáp ứng nhu cầu về các
nội dung thông tin của độc giả
128
3.1.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin lý luận về chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của
Đảng, Nhà nước Việt Nam
139
3.1.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin về tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận
140
3.1.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin về lý luận và thực
tiễn chính trị nước ngoài, thời sự trong nước và quốc tế, quan hệ
quốc tế, toàn cầu hóa, khu vực hóa
151
3.2 Đánh giá về cơ cấu, nội dung các chuyên mục tạp chí, bản tin
trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh
158
3.2.1 Đánh giá về cơ cấu tạp chí, bản tin trong hệ thống Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
158 3.2.2 Đánh giá về nội dung, kết cấu các chuyên mục của tạp chí,
bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
* Tên viết tắt của các tổ chức trong Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
4 Học viện Khu vực III Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh Khu vực III
5 Học viện Khu vực IV Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
18 Chính trị học Bản tin Thông tin Chính trị học
19 Văn hóa và Phát triển Bản tin Thông tin Văn hóa và Phát triển
20 Xã hội học và Tâm lý
lãnh đạo, quản lý Bản tin Thông tin Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo, quản lý
21 Nghiên cứu quốc tế Bản tin Thông tin Nghiên cứu quốc tế
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Đánh giá của độc giả (xét tương quan nghề nghiệp) về
hình thức thông tin quan trọng cho công việc của mình
70
Hình 2.2 Tỷ lệ độc giả (xét tương quan giới tính) đánh giá hình
thức thông tin quan trọng cho công việc của mình
72
Hình 2.3 Tỷ lệ độc giả (xét tương quan độ tuổi) đánh giá hình
thức thông tin quan trọng cho công việc của mình
73
Hình 2.4 Tỷ lệ độc giả (xét tương quan nghề nghiệp) thường
xuyên khai thác thông tin từ các tạp chí cho công việc của mình
75
Hình 2.5 Tỷ lệ độc giả (xét tương quan giới tính) thường xuyên
khai thác thông tin từ các tạp chí cho công việc của mình
84
Hình 2.6 Tỷ lệ độc giả (xét tương quan độ tuổi) thường xuyên
khai thác thông tin từ các tạp chí cho công việc của mình
86
Hình 3.2 Tỷ lệ độc giả khai thác thông tin về thực tiễn phát triển
của Việt Nam trong các tạp chí
146
Hình 3.3 Tỷ lệ độc giả khai thác thông tin Lý luận chính trị và
Thực tiễn phát triển của Việt Nam trên mọi lĩnh vực từ
các bản tin
148
Trang 7Më §ÇU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đảng lần thứ VI đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng và Nhà nước ta Với sự đổi mới sáng suốt
đó, Đảng đã lãnh đạo đất nước Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, vững bước đi lên Con đường đi đến đổi mới không hề đơn giản Đó
là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đổi mới tư duy, dựa trên những thông tin khoa học, thông tin lý luận về thời đại, về cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, về những nhận thức mới đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, những vấn đề lý luận về kinh tế thị trường; vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, với tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường; đúc rút bài học kinh nghiệm của các nước anh em, các nước phát triển và đang phát triển,… Trong suốt chặng đường
đổi mới đó, thông tin, tri thức luôn là nguồn lực vô giá
Báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu của đời sống xã hội, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời là diễn đàn rộng rãi của nhân dân Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong xu thế tăng cường hội nhập quốc tế và bùng nổ thông tin hiện nay, hoạt động báo chí là trận địa nóng bỏng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá Trong tình hình kinh tế
- xã hội của đất nước còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch thường xuyên và quyết liệt chống phá cách mạng nước ta, vị trí và vai trò của báo chí ngày càng vô cùng quan trọng đối với sự lãnh đạo, quản lý đất nước, ổn định chính trị, phát triển đi lên Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin báo chí nói chung, các tạp chí, bản tin lý luận chính trị nói riêng
Trang 8trong điều kiện hiện nay là yêu cầu bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (sau đây gọi
tắt là Học viện) “là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương
Đảng và Chính phủ, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu về khoa học chính trị.” [6, tr.3]
Đại hội Đảng lần thứ XI đã đánh giá những nguyên nhân chủ quan trực tiếp và quyết định nhất dẫn đến những hạn chế, yếu kém của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X; 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010; 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 là do
“công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất Công tác dự báo trong nhiều lĩnh vực còn yếu Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực và một số vấn đề lớn chưa tập trung, kiên quyết, dứt điểm; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu Năng lực phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn bất cập” [31, tr.179-180] Thực tiễn đó đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa trình độ lý luận, nhận thức, thực tiễn và kỹ năng xử lý tình huống cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước Điều đó đòi hỏi, nội dung chương trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong Học viện, cái nôi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của đất nước phải được cải tiến cho phù hợp, và phải được cải tiến mạnh mẽ
Trang 9Đại hội XI đã xác định mục tiêu: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [31, tr.9] với những định hướng chiến lược đến năm 2020 Trước yêu cầu đó, vấn đề bổ sung, lồng ghép những vấn đề mới của Đại hội, khắc phục những khó khăn, hạn chế vào các chương trình nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng của Học viện là cần thiết, cấp bách, trong đó, các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện có vai trò vô cùng quan trọng
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đứng trước thời cơ và thách thức to lớn “Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân
có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao…” [31, tr.9] “Trong những năm tới, tình hình quốc tế sẽ tiếp tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường với những tác động to lớn và sâu rộng, vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra những thách thức ngày càng gay gắt đối với tất cả các quốc gia, nhất là các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển, trong
đó có Việt Nam của chúng ta” [31, tr.9-10] Bối cảnh mới đòi hỏi Học viện phải nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng không ngừng nâng cao, trau dồi lý luận,
mở rộng tầm nhìn thế giới, bồi dưỡng tư duy chiến lược, tu dưỡng tính Đảng, tăng cường năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra Điều đó đòi hỏi các giáo trình, giáo khoa, bài giảng, các công trình nghiên cứu khoa học của Học viện phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập lý luận với sự phát triển của thực tiễn, khoa học và thời đại, kết hợp chặt chẽ với việc tăng cường nghiên cứu, phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước Điều
Trang 10đó cũng đòi hỏi hệ thống thông tin khoa học, đặc biệt là thông tin từ các tạp chí, bản tin lý luận chính trị trong hệ thống Học viện phải không ngừng đổi mới, cung cấp những chất liệu “bột” để các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý, các giảng viên, học viên “gột nên hồ” là những công trình khoa học có giá trị, phục vụ cho công tác lãnh đạo, quản lý của đất nước, phục
vụ cho việc đào tạo những nhà lãnh đạo, quản lý của đất nước, đưa đất nước ta ngày càng phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Với những lý do trên, việc tiếp tục triển khai đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, đổi mới nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ lý luận chính trị - hành chính ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ cần thiết, cấp bách mà Đảng và Chính phủ đã giao cho Học viện, coi đây là một trong những khâu đột phá nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên,… cho Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần khắc phục những thiếu sót, hạn chế của Việt Nam trong chặng đường vừa qua và góp phần “tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [31, tr.179] như Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định
Để làm được điều đó, công tác thông tin báo chí, đặc biệt là công tác thông tin của các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện cần được đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung lẫn hình thức để phục vụ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả việc thực hiện những yêu cầu về đổi mới, cải cách trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng của Học viện
Trang 11Yêu cầu cấp bách phải thực hiện những trọng trách quan trọng và nặng
nề mà Học viện phải gánh vác trong thời kỳ cách mạng mới đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu sắc về hệ thống thông tin báo chí, mà trước hết là hệ thống tạp chí, bản tin của Học viện để làm căn cứ cho các nhà lãnh đạo, quản
lý của Học viện có những quyết sách về bố trí, sắp xếp, tổ chức hợp lý, cải cách, đổi mới và có định hướng, chiến lược phát triển hệ thống tạp chí, bản tin nói riêng và hệ thống thông tin nói chung phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới Với những lý do cần thiết, cấp bách đó, tác giả luận án đã lựa chọn đề tài
“Hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (Nghiên cứu trường hợp Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) làm chủ đề nghiên
cứu
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhóm độc giả có nhu cầu thông tin gì phục vụ cho công việc của mình? Các tạp chí, bản tin của Học viện đã đáp ứng những nhu cầu thông tin đó như thế nào?
- Các đối tượng độc giả trong hệ thống Học viện tìm kiếm những nội dung thông tin gì và trong các tạp chí, bản tin nào của Học viện?
- Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin trong Học viện như thế nào? Cần làm gì để nâng cao chất lượng các tạp chí, bản
tin để đáp ứng tốt nhu cầu của độc giả?
2.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
- Luận án khái quát những quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí cách mạng với những trích dẫn chuẩn xác, có thể làm tài liệu tham khảo, tra cứu,
trích dẫn cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu báo chí
Trang 12- Luận án làm rõ những vấn đề lý luận về thông tin, truyền thông, báo chí,…; nội dung thông tin lý luận, chính trị - xã hội mà các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện cần chú trọng đăng tải phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách và đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đất nước
- Với việc lựa chọn những yếu tố hợp lý của các lý thuyết xã hội học vận dụng vào nghiên cứu trong đề tài này, luận án đóng góp vào việc vận dụng, phát triển những lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu báo chí
- Luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của xã hội học, thông tin học và truyền thông trong nghiên cứu nhu cầu thông tin, khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng dùng tin; góp phần xây dựng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu về thông tin báo chí
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập trong lĩnh vực báo chí và xã hội học
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Từ việc điều tra, khảo sát, đánh giá, phân tích hành vi tìm kiếm thông tin cho công việc của từng nhóm độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện, luận án hệ thống hóa thực trạng khai thác thông tin của các đối tượng độc giả và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của họ của các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện để từ đó các nhà lãnh đạo, quản lý, các ban biên tập tạp chí, bản tin có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng của các tạp chí, bản tin
Luận án cũng làm rõ cơ cấu tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện, khả năng bao phủ thông tin lý luận, chính trị - xã hội của các tạp chí, bản tin, khả năng vươn tới các nhóm độc giả trong hệ thống Học viện, và cả
Trang 13những hiện tượng “chồng lấn” về nội dung, tôn chỉ, mục đích của một số tạp chí, bản tin,… làm cơ sở cho các nhà lãnh đạo, quản lý của Học viện trong việc hoạch định chiến lược, xây dựng các biện pháp quản lý, đầu tư
và tổ chức hợp lý hơn hệ thống tạp chí, bản tin trong Học viện; phục vụ tốt việc truyền bá thông tin, tri thức lý luận và thực tiễn trên mọi lĩnh vực, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tư vấn cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định chính sách; đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp của Đảng, Nhà nước
2.3 Điểm mới của luận án
- Luận án vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội học, truyền thông đại chúng, thông tin học,… trong nghiên cứu báo chí nói chung, nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện nói riêng, có những đóng góp vào hệ thống tri thức lý luận áp dụng cho nghiên cứu báo chí
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về thực trạng khai thác thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin thuộc Học viện, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp có tính chiến lược về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống tạp chí, bản tin trong Học viện nhằm phát huy sức mạnh của thông tin trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện là nghiên cứu khoa học, tư vấn cho Đảng
và Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách; đào tạo đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý của đất nước có đầy đủ phẩm chất và năng lực trong lãnh đạo, điều hành, quản lý, đưa đất nước phát triển
Mặc dù chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về nội dung của đề tài luận án, nhưng có rất nhiều công trình
Trang 14khoa học đề cập đến từng khía cạnh cụ thể liên quan đến đề tài luận án Có thể khái quát một số bình diện nghiên cứu liên quan như sau:
3.1 Những nghiên cứu về thông tin, về báo chí
3.1.1 Có nhiều nghiên cứu khẳng định trong thời đại kinh tế tri thức
ngày nay, thông tin, tri thức có vai trò hết sức quan trọng, hơn cả vốn và lao động trong nền kinh tế truyền thống, tiêu biểu là những công trình khoa
học như: Alvin Foffler (2002), Thăng trầm quyền lực, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội; Helga Nowotny, Peter Scott, Michael Gibbons (2009), Tư duy lại khoa học Tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội; Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: từ lý luận đến thực tiễn, Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Kolin K (2002), “Nền văn minh thông tin: tương lai hay thực tại”, Thông tin khoa học xã hội, số 3; Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông – The power of News,
Chính trị quốc gia, Hà Nội,… Những nghiên cứu này đều khẳng định vai trò quan trọng của thông tin và tri thức Trong thời đại ngày nay, việc tìm kiếm, khai thác và sử dụng hiệu quả thông tin có ý nghĩa quyết định đối với
sự phát triển và thành công của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng và quốc gia, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào có năng lực tổ chức, khai thác với hiệu suất cao nhất các nguồn thông tin, tri thức hiện có của nhân loại
3.1.2 Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam đã có trên 85 năm, có
nhiều nghiên cứu về báo chí ở các khía cạnh khác nhau
Một là, về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí, có những công trình nghiên cứu khoa học như: Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) (2003), Tìm hiểu
tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Hà Minh Đức (2010), C Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin với báo chí, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ngô Kim Ngân, Lê Văn Toan,
Nguyễn Thị Phương Thảo (đồng chủ biên) (2010), Quan điểm của C Mác,
Trang 15Ph Ăngghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;… Các tác giả đều khẳng định
quan điểm của các nhà tư tưởng lỗi lạc C Mác, Ph Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí vô sản, báo chí cách mạng luôn là tư tưởng chỉ đạo, soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam
Hai là, báo chí là vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa, tư tưởng của
Đảng và Nhà nước ta Các công trình khoa học tiêu biểu như: Trương Tấn
Sang (2010), “Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí đối với sự
nghiệp đổi mới”, Lịch sử Đảng, số 6; Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông (Chủ biên) (2010), Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Quang (2002), Về diện mạo báo chí Việt Nam – tiểu luận và chân dung, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Chu Thái Thành (2000), Đội ngũ nhà báo Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án tiến sĩ – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Lê Thanh Bình (2005), Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa – xã hội, Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Đỗ Chí Nghĩa (2009), Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội, Luận án tiến sĩ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam – những bài học lịch sử và định hướng phát triển, Chính trị quốc gia, Hà Nội; Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông – The power
of News, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;… đã vẽ nên bức tranh
tổng thể về diện mạo mới của báo chí cách mạng Việt Nam với sự phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng Báo chí cách mạng Việt Nam
đã tiếp thu, kế thừa di sản báo chí cách mạng, dân chủ và tiến bộ trên thế giới, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền báo chí ấy, nhưng vẫn giữ được bản sắc, đậm đà tính dân tộc Báo chí có vai trò, vị trí quan trọng trong công tác
Trang 16tư tưởng, trong việc ổn định chính trị, định hướng dư luận xã hội,… trong triển khai, thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng…
Báo chí cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này
như: Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng cường sự lãnh đạo, quản
lý, tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới, Nhà xuất bản Lý luận chính trị; Nguyễn Viết Thảo (2007),
“Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí”, Tạp chí Lý luận Chính trị & Truyền thông, số 10; Nguyễn Sỹ Trung (2009), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay, Luận
án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh; Nguyễn Vũ Tiến (2005), Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí – xuất bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Quang Nhiếp (Chủ biên) (2002), Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Văn Phúc (2011), “Để có một cơ quan báo chí chuyên nghiệp và nhân văn”, Người làm báo, số 8; Đỗ Quý Doãn (2011), “Một số vấn đề về công tác chỉ đạo, quản lý báo chí hiện nay, Cộng sản, số 6; Nguyễn Thế Kỷ (2011), “Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với báo chí trước
yêu cầu mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12;… Những nghiên cứu
trên đều khẳng định báo chí cách mạng Việt Nam phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Đảng đề ra đường lối, chủ trương phát triển hệ thống báo chí, định hướng chính trị, tư tưởng trong nội dung thông tin, tuyên truyền của báo chí, lãnh
Trang 17đạo công tác tổ chức, cán bộ, lãnh đạo các tổ chức đoàn thể, nghề nghiệp trong cơ quan báo chí,… Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành luật pháp, kế hoạch, chính sách về báo chí
Ba là, có hàng loạt nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về lý
luận báo chí, truyền thông, về nghiệp vụ báo chí như: Tạ Ngọc Tấn (1999),
Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội;
Tạ Ngọc Tấn (2004), Truyền thông đại chúng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Jean – Luc, Martin – Lagardette (2003), Hướng dẫn cách viết báo, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội; E P Prôkhôrốp (2004), Cơ sở lý luận của báo chí, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội; Michael Schudson (2003), - A A Grabennhicốp (2003), “Báo chí trong kinh tế thị trường”, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội; Claudia Must (2003), Truyền thông đại chúng – những kiến thức cơ bản, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội; Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2006), Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản,
Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội;… Các nghiên cứu đã trình bày những cơ sở lý luận và lý thuyết về truyền thông; thực tiễn nghiệp vụ báo chí; những quy trình, chuẩn mực, nghiệp vụ biên tập; những yêu cầu đối với nhà báo, người biên tập, những nguyên tắc và thao tác cơ bản trong công việc biên tập, viết báo, yêu cầu phải nắm chắc kiến thức chuyên ngành mà mình viết, biên tập Đây là những căn cứ lý luận và lý thuyết quan trọng về truyền thông và báo chí mà tác giả luận án tham khảo khi nghiên cứu, khảo sát và đánh giá hệ thống tạp chí, bản tin của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
3.2 Những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm xã hội học có liên quan
3.2.1 Những nghiên cứu lý thuyết xã hội học liên quan
Có rất nhiều công trình nghiên cứu xã hội học, lý thuyết xã hội học
mà nghiên cứu sinh có thể khai thác các yếu tố hợp lý áp dụng trong triển
Trang 18khai đề tài luận án Tiêu biểu trong số đó, có thể kể đến các công trình sau:
Endruweit G (chủ biên) (1999), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội; Vũ Hào Quang (2004), Xã hội học quản lý, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn Đình Tấn, Lê Ngọc Hùng (2004), Xã hội học hành chính – Nghiên cứu giao tiếp và dư luận xã hội trong cải cách hành chính nhà nước, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội; Nguyễn Đình Tấn (2005), Xã hội học, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
Hà Nội;… Những công trình khoa học này đã khái quát những nét cơ bản nhất về lý thuyết xã hội học của những nhà xã hội học kinh điển được tác giả luận án lựa chọn những yếu tố hợp lý làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này Có thể kể đến một số lý thuyết trong các công trình này như: Lý thuyết cấu trúc chức năng phân tầng của K Davis và W Moore; Thuyết cấu trúc - chức năng với đại diện là Robert Merton; Lý thuyết hệ thống của Talcott Parsons; Thuyết xung đột mà với nền tảng kinh điển là các nhà xã hội học Marx, Weber, Simmel; Thuyết hành vi của Moreno và Hopmans;
Lý thuyết trao đổi của George Homans; Thuyết hành động xã hội của Max Weber; Thuyết tương tác biểu trưng của George Herbert Mead,… Đồng thời, các công trình nghiên cứu xã hội học trên cũng trình bày chi tiết về những phương pháp điều tra xã hội học, cách thức tổ chức điều tra xã hội học, phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu định tính trong xã hội học Có thể nói, đây là những cơ sở lý thuyết và phương pháp hết sức quan trọng mà nghiên cứu sinh dựa vào để lựa chọn những yếu tố khoa học hợp lý, phù hợp vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án
Đặc biệt, các công trình khoa học về lý thuyết xã hội học về truyền thông đại chúng, dư luận xã hội, về hành vi, hành động xã hội đã giúp ích
Trang 19rất nhiều cho nghiên cứu sinh trong việc lựa chọn những yếu tố hợp lý của
lý thuyết áp dụng triển khai nghiên cứu đề tài Đó là những tác phẩm: Trần
Hữu Quang (2006), Xã hội học báo chí, Nhà xuất bản Trẻ - Thời báo Kinh
tế Sài Gòn – Trung tâm Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, Thành phố Hồ
Chí Minh; Trần Hữu Quang, Xã hội học về truyền thông đại chúng, Đại học
mở Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Hào Quang
(1997), “Về lý thuyết hành động xã hội của Max Weber”, Tạp chí Xã hội học (1);…
3.2.2 Những nghiên cứu thực nghiệm xã hội học liên quan
Những công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả như: Mai
Quỳnh Nam (chủ biên) (2006), Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới, Chính trị quốc gia, Hà Nội; Mai Quỳnh Nam (2001), “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn, tập IV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Mai Quỳnh Nam (2001),
“Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng”, Tạp chí Xã hội học, (4), tr.21-23; Paula M Poindexter Maxwell E Mc Combs (2001), Research in Mass Communication: A practical guide, Bedfford/ St Martin, Boston; Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông – The power of News, Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phạm Phương Trà (2011), Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Minh Chiến (2011), Sự phát triển của xã hội học ở Việt Nam (qua nghiên cứu các bài viết trên Tạp chí Xã hội học từ năm 1982 đến năm 2008), Luận án tiến sĩ xã hội học, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Vũ Đình Hòe
(2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo, quản lý, Chính trị
quốc gia, Hà Nội;… đã khái quát những nét tiêu biểu nhất về sự phát triển của xã hội học Việt Nam nói chung trong công cuộc đổi mới, cũng như
Trang 20những vấn đề xã hội học trong nghiên cứu truyền thông, đại chúng và dư luận xã hội, đánh giá hiệu quả của truyền thông, đại chúng đối với các lĩnh vực trong hoạt động xã hội
3.3 Những nghiên cứu về hoạt động của Học viện
Có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến công tác nghiên cứu, đào tạo của Học viện như: Tô Huy Rứa (2004), “Tự hào với truyền thống vẻ vang,
phấn đấu xây dựng Học viện ngang tầm nhiệm vụ mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4; Hà Lan (2004), “Công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 5 năm 1999-2002: kết quả và
hướng đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10; Vũ Đình Hòe (2004),
“Một số vấn đề cấp bách trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, Lý luận chính trị, số 10; Trần Thị Anh Đào (2010), “Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;…
Những nghiên cứu trên đều khẳng định công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng của nước
ta, trong đó nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ khoa học lý luận bậc cao của Đảng và Nhà nước được giao cho Học viện là nhiệm vụ hết sức quan trọng Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng khẳng định công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của Học viện Những nghiên cứu này đều là cơ sở quan trọng
cho tác giả trong nghiên cứu hành vi tìm tin của các độc giả tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập sâu sắc, toàn diện về công tác tạp chí, bản tin đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quan trọng nêu trên của Học viện
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, chưa có đề tài nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về hành vi tìm tin của các nhóm độc giả các tạp chí,
Trang 21bản tin trong hệ thống Học viện; phân tích khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và từ đó có những giải pháp cụ thể về tổ chức hoạt động báo chí trong hệ thống Học viện Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu kể trên là những tài liệu tham khảo hữu ích mà nghiên cứu sinh có thể kế thừa, vận dụng, so sánh khi triển khai đề tài luận án
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án khảo sát hành vi tìm kiếm thông tin từ các tạp chí, bản tin của độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; từ đó đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học tập của các đối tượng độc giả của Học viện; tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những thành công và hạn chế của các tạp chí, bản tin để từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp cho những cải cách, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tạp chí, bản tin trong toàn hệ thống Học viện
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng; Cơ sở lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu; Các khái niệm công cụ được sử dụng trong triển khai luận án; Chức năng, nhiệm vụ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và của hệ thống tạp chí, bản tin của Học viện;
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hành vi tìm kiếm thông tin từ các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện của từng nhóm đối tượng độc giả;
- Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Từ đó rút ra những ưu điểm và những hạn chế
Trang 22cần khắc phục; đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của tạp chí, bản tin, đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả trong hệ thống Học viện, phục vụ tốt hơn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
5.3.2 Phạm vi không gian
Luận án giới hạn nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của các đối tượng độc giả trong hệ thống Học viện ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Cụ thể là các địa bàn sau: Trung tâm Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh (tại Hà Nội); Học viện Báo chí và Tuyên truyền (tại Hà Nội); Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I (tại Hà Nội); Học viện Chính trị
- Hành chính khu vực II (tại thành phố Hồ Chí Minh); Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III (tại Đà Nẵng); Học viện Chính trị - Hành chính khu vực IV (tại Cần Thơ)
5.3.3 Giới hạn nội dung
Trang 23Học viện có 2 chức năng: nghiên cứu khoa học, tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính sách và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho đất nước Đối tượng độc giả chủ yếu trong Học viện mà các tạp chí, bản tin hướng đến tập trung ở 3 nhóm: (1) Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Học viện; (2) Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện; (3) Học viên trong hệ thống Học viện Với mục tiêu nghiên cứu hành
vi tìm tin, đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của ba nhóm đối tượng trên để có những giải pháp xác đáng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của ba nhóm đối tượng này, luận án sẽ tập trung phân tích hành vi tìm kiếm thông tin xét tương quan nghề nghiệp của các độc giả (3 nhóm trên) Các phân tích, đánh giá dựa trên tương quan giới tính, tương quan độ tuổi có giá trị bổ sung cho những phân tích về tương quan nghề nghiệp
6.1 Phương pháp luận mác xít
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử như một cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu Các phân tích, đánh giá, nhận định đều được xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa nhu cầu thông tin với chức năng, nhiệm vụ của Học viện, nhiệm vụ của từng nhóm đối tượng độc giả, gắn với lịch sử phát triển của Học viện nói chung, của tạp chí, bản tin nói riêng trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển của Học viện và trong bối cảnh mới với những trọng trách nặng nề mà Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho Học viện trong thời kỳ cách mạng mới
6.2 Cơ sở lý thuyết
Luận án sử dụng các lý thuyết xã hội học: lý thuyết chức năng, lý thuyết hành vi, hành động xã hội kết hợp với lý thuyết truyền thông trong
Trang 24quá trình khảo sát hành vi tìm tin của độc giả và phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các độc giả tạp chí, bản tin trong Học viện
6.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.3.1 Phương pháp thu thập thông tin cá biệt
6.3.1.1 Khái quát chung về phương pháp
a Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi
Luận án sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi (Bảng Anket) với số lượng phiếu 840 người lấy ngẫu nhiên đơn giản theo các nhóm độc giả thuộc các Học viện ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của đất nước
Nghiên cứu sinh đã thống kê danh sách đối tượng độc giả trong hệ thống Học viện theo ba nhóm: (1) Cán bộ lãnh đạo, quản lý; (2) Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; (3) Học viên các hệ lớp Trên cơ sở danh sách đó, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản với
“bước nhảy” K=5 (K=N/n; trong đó K là bước nhảy; N là số người của đơn
vị tổng thể; n là số người của mẫu) để thống kê số lượng người được trưng cầu ý kiến là 859 người Trong quá trình “làm sạch bảng hỏi”, nghiên cứu sinh đã lọc bớt những phiếu hỏi chưa thực sự đáp ứng yêu cầu Kết quả còn lại là 840 phiếu hỏi được đưa vào xử lý
b Phương pháp phỏng vấn sâu
* Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với số lượng người được phỏng vấn là 100, lấy ngẫu nhiên thuận tiện theo các nhóm độc giả thuộc các Học viện trong hệ thống ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của đất nước Các phỏng vấn sâu được triển khai để bổ sung thông tin mà bằng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng Anket chưa thu thập đầy đủ, như các vấn đề liên quan đến sự đánh giá từng tạp chí, mức độ hài lòng của từng nhóm độc giả đối với các loại tạp chí Cụ thể:
- Các phỏng vấn sâu tại Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III (Đà Nẵng) được nghiên cứu sinh triển khai:
Trang 25+ Tháng 12 năm 2011, kết hợp trong chuyến đi khảo sát của Ban
Quản lý Dự án “Tổng kiểm kê và xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên thông tin, xây dựng nguồn lực nội dung cho Thư viện điện tử
+ Tháng 12 năm 2010, kết hợp trong chuyến đi khảo sát “Điều tra cơ bản về nhu cầu thông tin và việc phục vụ thông tin cho công tác lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong hệ thống các cơ sở đào tạo của Đảng
- Các phỏng vấn sâu tại Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực II (Thành phố Hồ Chí Minh) và Học viện Khu vực IV (Cần Thơ) được nghiên cứu sinh triển khai vào tháng 8 năm 2009, trong chuyến khảo sát của Ban Quản lý Dự án Thư viện điện tử của Học viện về thực trạng hoạt động thông tin của các Trung tâm Thông tin – Tư liệu – Thư viện các Học viện này
- Các phỏng vấn sâu tại Hà Nội ở trung tâm Học viện, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I, Học viện Báo chí và Tuyên truyền được nghiên cứu sinh triển khai trong các lần tiếp xúc với độc giả
Kết quả thu được từ các cuộc phỏng vấn này là 112, tuy nhiên, sau khi xử lý, nghiên cứu sinh chỉ lựa chọn tròn 100 phỏng vấn
* Bên cạnh phương pháp phỏng vấn sâu, nghiên cứu sinh sử dụng những ý kiến của cộng tác viên, của độc giả, của các biên tập viên trong các cuộc hội thảo, tọa đàm về vấn đề tạp chí, bản tin, hoặc hội nghị bạn đọc, hội nghị cộng tác viên để làm sáng tỏ thêm những vấn đề được trình bày trong luận án
c Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sinh sử dụng hai phương pháp phân tích tài liệu là: Phân tích truyền thống (phân tích định tính); Phân tích hình thức hóa (phân tích định lượng) kết hợp với phương pháp phân tích nội dung tài liệu đối với các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện để bổ sung cho phương pháp điều tra nêu trên nhằm thu thập các thông tin và đánh giá, nhận định chính
Trang 26xác hơn về hành vi tìm kiếm thông tin của độc giả và khả năng đáp ứng nhu
cầu thông tin của các tạp chí, bản tin
6.3.1.2 Phương pháp chọn mẫu và xây dựng bảng hỏi
* Đối với các đối tượng độc giả tạp chí, bản tin của Học viện
Với chức năng nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý cho đất nước, Học viện có đông đảo đối tượng độc giả là cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ nghiên cứu giảng dạy và học viên thuộc các hệ lớp Ngoài ra, Học viện còn có đội ngũ khá đông cán bộ thuộc khối hành chính, hậu cần, phục vụ: tài vụ, văn phòng, hành chính, quản trị, y tế, đội
xe, nhà ăn,… Các tạp chí, bản tin của Học viện nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính sách và đào tạo cán bộ lãnh đạo quản lý, vì thế độc giả chủ yếu của Học viện là (1) cán bộ lãnh đạo, quản lý; (2) cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và (3) học viên các hệ lớp Đây chính là 3 nhóm đối tượng độc giả được nghiên cứu sinh lựa chọn để khảo sát, phát phiếu điều tra cũng như phỏng vấn sâu Các đối tượng cán bộ thuộc khối hành chính, hậu cần, phục vụ và các đối tượng khác không được đưa vào mẫu điều tra, khảo sát
* Đối với các tạp chí, bản tin
Học viện có rất nhiều ấn phẩm thông tin Nghiên cứu sinh chỉ lựa chọn những tạp chí, bản tin được Bộ Văn hóa Thông tin cấp giấy phép xuất bản (tổng số tạp chí, bản tin này cho đến thời điểm khảo sát là 16) – đó là những tạp chí, bản tin chuyên sâu về lý luận chính trị, hoặc chuyên ngành được các nhà nghiên cứu, giảng dạy, lãnh đạo, quản lý sử dụng và yêu cầu học viên tham khảo trong quá trình học tập Luận án không khảo sát những
ấn phẩm thông tin mang tính chất quản lý hành chính (Thông tin hoạt động nội bộ, Thông tin công tác Đảng, Thông tin công tác các trường chính trị,…)
* Đối với các bài đăng trên tạp chí, bản tin
Trang 27Nghiên cứu sinh thống kê và phân loại một các tỉ mỉ các bài đăng trên tạp chí, bản tin của Học viện (được Bộ Văn hóa Thông tin cấp giấy phép xuất bản) trong khoảng thời gian từ năm 2005-2010 theo các chuyên mục (Phụ lục 3 là một phần trích của thống kê này) để từ đó làm căn cứ phân tích nội dung, so sánh, đối chiếu, bổ sung cho những điều tra khảo sát nêu trên
* Đối với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Học viện có rất nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác nhau Các chương trình đều nhằm trang bị những kiến thức về lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn Tuy nhiên, các chương trình lại rất khác nhau
về thời gian, về chiều sâu, chiều rộng của vấn đề cần đào tạo, bồi dưỡng Nghiên cứu sinh thống kê, phân loại các chương trình đào tạo, bồi dưỡng mới nhất (hiện đang được sử dụng trong hệ thống Học viện) và nội dung các chuyên đề của từng chương trình đó để làm căn cứ so sánh, đối chiếu, đánh giá nhu cầu thông tin, khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả (Phụ lục 2 là phần trích một trong những chương trình đào tạo của Học viện)
* Đối với các chương trình nghiên cứu khoa học
Các chương trình nghiên cứu khoa học của Học viện, các đề tài nghiên cứu khoa học cũng được thống kê (Phụ lục 4 là phần trích một trong những danh mục đề tài mà Học viện triển khai trong thời gian gần đây)
* Về các nội dung thông tin được đưa vào bảng hỏi để điều tra
Căn cứ vào tôn chỉ, mục đích của từng tạp chí, bản tin; căn cứ vào sự chỉ đạo, định hướng của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Lãnh đạo Học viện trong các Hội nghị triển khai nhiệm vụ đầu năm học giao cho các tạp chí, bản tin, trong các Hội nghị tạp chí, bản tin, nghiên cứu sinh đã thống kê những nội dung thông tin mà các tạp chí, bản tin cần đăng tải và khái quát lại thành 9 nội dung thông tin Khi điều tra, khảo sát nghiên cứu sinh dựa
Trang 28vào 9 nội dung thông tin này để đặt câu hỏi trong bảng hỏi định lượng, định tính
6.3.2 Phương pháp khác
6.3.2.1 Phương pháp thống kê
Thống kê các nội dung thông tin được đăng tải trên các tạp chí, bản tin theo các chuyên mục, các vấn đề, từ đó so sánh, đối chiếu với nhu cầu của độc giả
Thống kê những tạp chí, bản tin được đọc nhiều, những bài viết, nội dung được phô tô nhiều ở thư viện các Học viện trong hệ thống để bổ sung thêm cứ liệu cho các phân tích, nhận định về khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin
Thống kê chương trình các môn học, thống kê các đề tài nghiên cứu khoa học của Học viện những năm gần đây để làm căn cứ so sánh nội dung thông tin của các tạp chí, bản tin có bám sát chương trình học tập, nghiên cứu của Học viện hay không
6.3.2.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Nghiên cứu sinh vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm phát hiện những nét giống nhau, khác nhau, nét đặc trưng của từng ý kiến, của từng vấn đề trong quá trình khảo sát thực tiễn và điều tra xã hội học, qua đó có những luận giải thỏa đáng
- So sánh đối chiếu nội dung thông tin được đăng tải với nhu cầu thông tin, qua đó có những luận giải, phân tích thấu đáo hơn về khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin
- So sánh, đối chiếu nhu cầu thông tin với hành vi khai thác và sử dụng thông tin cho mục đích công việc từ đó thấy được chiều sâu về khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của tạp chí, bản tin
- So sánh, đối chiếu nội dung thông tin được đăng tải với nội dung chương trình học tập, nội dung nghiên cứu khoa học để có những luận giải
về khả năng đáp ứng nhu cầu tin của các tạp chí, bản tin
Trang 297 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU, KHUNG LÝ THUYẾT
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Các độc giả trong Học viện có nhu cầu cơ bản giống
nhau về nội dung thông tin, nhưng rất khác nhau về mức độ “rộng”, “hẹp”,
“nông”, “sâu” của thông tin, do đó hành vi tìm kiếm thông tin phục vụ công việc của mình từ các tạp chí, bản tin của họ cũng khác nhau
Giả thuyết 2: Chỉ một số ít tạp chí, bản tin đáp ứng tốt nhu cầu thông
tin của độc giả; các tạp chí, bản tin còn lại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của độc giả Nhìn chung, các tạp chí đáp ứng khá tốt nhu cầu thông tin của độc giả, trong khi đó, các bản tin chưa đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng độc giả trong Học viện
7.2 Khung lý thuyết
Trang 30* Quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen về báo chí cách mạng
Báo chí có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin coi hoạt động báo chí là một trong những lĩnh vực hoạt động có tác động trực tiếp đến quá trình đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng trong mọi giai đoạn cách mạng Chính các ông vừa là những người xây dựng cơ sở lý luận, vừa là những người sáng lập ra nền báo chí cách mạng [112, tr.42] Theo C Mác và Ph Ăngghen, tính đảng, tính cách mạng và tính tiền phong về chính trị là các yếu tố tiêu chuẩn hàng đầu của báo chí Báo chí phải phục vụ nhiệm vụ chính trị của giai cấp vô sản, luôn gắn với tổ chức đảng
Nhiệm vụ của báo đảng là gì? Trước tiên là tiến hành những cuộc thảo luận, chứng minh, phát triển và bảo vệ những đòi hỏi của đảng, bác bỏ và lật đổ những tham vọng và những luận điểm của phe thù địch [65 tr.384-385]
Báo chí đi vào những vấn đề thời sự, phản ánh đầy đủ những sự kiện hàng ngày, là hơi thở cuộc sống của nhân dân, còn tạp chí thì không thể phản ánh tình hình thời sự hàng ngày, nhưng nó có ưu điểm là đăng tải được những bài phân tích, bình luận sâu sắc, mang tính học thuật, khoa học, tính lý luận
Trang 31…tạp chí lại có ưu điểm là nó cho phép xem xét các sự kiện trên một bình diện bao quát hơn và chỉ đi sâu vào sự kiện quan trọng nhất Tạp chí cho phép nghiên cứu một cách tỉ mỉ và
khoa học những quan hệ kinh tế tạo nên cơ sở của toàn bộ
phong trào chính trị[66, tr.11-12]
Tạp chí còn cho phép có thể tạo nên những diễn đàn để tranh luận và trao đổi những vấn đề còn có những quan điểm khác nhau, là diễn đàn để những người tranh luận, phê phán, định hướng dư luận, xây dựng thế giới quan cách mạng Chính vì thế, theo C Mác,
Quả là sẽ rất tốt nếu xuất hiện một tạp chí khoa học xã hội chủ nghĩa thật sự Tạp chí ấy có thể tạo điều kiện để tiến hành một
sự phê phán và phản phê phán, hơn nữa chúng ta có thể giải thích các vấn đề lý luận, vạch trần sự dốt nát hết chỗ nói của các vị giáo sư và các phó giáo sư, và đồng thời tẩy não cho đông đảo công chúng – cho công nhân cũng như cho bọn tư sản [68, tr.6]
Với người làm báo, ngoài những kiến thức rộng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, am tường về mọi vấn đề xã hội thì sự nhạy bén chính trị, khả năng nắm bắt vấn đề, nhạy cảm nghề nghiệp là hết sức quan trọng Theo Ph Ăngghen, “Trong việc biên tập báo, trình độ thông thái chưa thật quan trọng bằng khả năng nắm bắt kịp thời mọi sự việc từ khía cạnh cần thiết,… nhưng trên báo, nơi cần quyết định nhanh chóng thì điều đó thường dẫn tới chỗ thấy cây mà không thấy rừng, còn trong cơ quan ngôn luận của
trong đưa tin mới chỉ đáp ứng nhu cầu nóng hổi của “tin tức thời sự” mà thôi Làm sao để có thể xâu chuỗi mọi vấn đề, cung cấp cho độc giả một cách hệ thống với những đánh giá, nhận định có luận cứ khoa học thì đòi hỏi người làm báo không chỉ nhanh nhạy mà phải là những nhà nghiên cứu
Trang 32khoa học thực thụ với những kiến thức tổng hợp về văn hoá, chính trị, xã hội, lý luận, kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao,… Có như thế mới làm cho độc giả không chỉ thấy “cây” (sự vật, hiện tượng đơn lẻ) mà còn thấy
“rừng” và từ “rừng” có thể hiểu, nắm bắt và thấy được “cây”
* Quan điểm của V I Lênin về báo chí cách mạng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, báo chí của các đảng cộng sản là tiếng nói của đảng cộng sản, là sợi dây liên hệ giữa đảng với quần chúng nhân dân, là người tuyên truyền, cổ động cho cách mạng, tập hợp, đoàn kết, cổ vũ các tầng lớp nhân dân làm cách mạng Chính vì thế, nhất thiết phải thành lập một tờ báo của đảng “Thành lập một đảng, mà không tổ chức ra một tờ báo nhất định làm cơ quan đại diện đúng đắn cho đảng đó, thì trong một chừng mực lớn việc thành lập đó sẽ chỉ là một lời nói suông mà thôi” [55, tr.240] Tiếng nói của báo chí làm thức tỉnh quần chúng, gắn bó, cố kết những chiến sĩ cách mạng trong một tổ chức chung vì mục tiêu cách mạng “Chỉ có thiết lập được một cơ quan ngôn luận chung của đảng mới có thể làm cho mỗi “cán bộ riêng biệt” của sự nghiệp cách mạng thấm nhuần ý thức là anh ta đang đi “trong hàng ngũ”, công tác của anh ta trực tiếp cần thiết cho đảng,…” [54, tr.248-249]
Báo chí là phương tiện tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, là vũ khí sắc bén của đảng trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc Tiếng nói của báo chí “giống như bộ phận của cái bễ khổng lồ thổi cho mỗi tia lửa của cuộc đấu tranh giai cấp và của sự phẫn nộ trong nhân dân bùng lên thành đám cháy chung” [57, tr.218] tập hợp mọi lực lượng tham gia phong trào cách mạng, tập hợp những cá nhân đơn lẻ làm nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng
Là vũ khí tư tưởng của đảng, báo chí cách mạng có tác động trực tiếp đến quá trình đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng trong mọi giai đoạn cách mạng, là vũ khí sắc bén trên mặt trận chính trị, tổ chức các lực lượng
Trang 33cách mạng Tiếng nói của báo chí góp phần thống nhất các chủ trương, phương pháp hành động khác nhau nhằm đạt được mục đích, khắc phục những thiếu sót trong hoạt động tư tưởng và thực tiễn của những người cộng sản, đúc rút những kinh nghiệm từ lý luận và thực tiễn cách mạng
…nếu không được cơ quan ngôn luận của toàn đảng thống
nhất lại, thì tất cả những hình thức đó của cuộc đấu tranh cách
mạng mất đi đến chín phần mười ý nghĩa, sẽ không đóng góp
gì được vào việc tạo kinh nghiệm chung của đảng, vào việc tạo nên những truyền thống và tính kế thừa trong đảng Cơ quan ngôn luận của đảng không những không cạnh tranh với
sự hoạt động đó, mà còn giúp một cách mạnh mẽ cho việc phổ biến, tăng cường và hệ thống hóa sự hoạt động đó [55, tr.241-242]
Cùng với tiến trình phát triển của cách mạng, vai trò của báo chí ngày càng tăng lên Báo chí thực hiện các chức năng tuyên truyền, cổ động
và tổ chức, là vũ khí tư tưởng mạnh mẽ nhất của đảng Báo chí “là người
lãnh đạo tư tưởng của đảng, phát triển các chân lý về lý luận, các nguyên lý
về sách lược, các tư tưởng tổ chức chung, những nhiệm vụ chung của toàn đảng trong một thời kỳ này hay một thời kỳ khác” [58, tr.8]
Không chỉ dừng lại trong cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá tư tưởng, báo chí còn có vai trò lớn trong đấu tranh kinh tế Theo Lênin, “cuộc đấu tranh kinh tế mà không được một cơ quan ngôn luận trung ương thống
nhất lại, thì không thể trở thành cuộc đấu tranh giai cấp của toàn bộ giai
cấp vô sản Nga” [55, tr.241]
Trong điều kiện có chính quyền, vai trò của báo chí không hề giảm
đi mà tiếp tục tăng lên theo tiến trình phát triển của cách mạng Báo chí là
cơ quan giáo dục chính trị và kinh tế cho quần chúng, là người tuyên truyền tất cả những cái mới, cái tiên tiến nảy sinh từ sự sáng tạo của quần chúng
Trang 34Lênnin viết: “… báo chí phải vạch ra những khuyết điểm trong đời sống kinh tế của mỗi công xã lao động, phê phán một cách thẳng tay những khuyết điểm đó, công khai vạch trần tất cả những ung nhọt trong đời sống kinh tế của chúng ta và do đó dựa vào dư luận xã hội của quần chúng lao động để chữa những ung nhọt đó” [62, tr.181-182]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, báo chí cách mạng phải mang tính đảng sâu sắc Báo chí cách mạng phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, trở thành tiếng nói bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động; đồng thời phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng, tuyên truyền và tổ chức thực hiện đường lối chính trị của đảng Theo Lênin,
“báo chí phải trở thành những cơ quan của các tổ chức của đảng” [60, tr.123] Điều đó có nghĩa là, sự nghiệp báo chí phải là một bộ phận trong sự nghiệp của giai cấp vô sản, do đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, đồng thời phải là một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch thống nhất của đảng, gắn bó mật thiết với các công tác khác, “phải thành một
bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái
bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc” trong một bộ máy dân chủ - xã hội vĩ đại, thống nhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển” [60, tr.122-123]
Tính đảng không phải là nói nhiều, viết nhiều về đảng, cũng không phải cứ ca ngợi, tán dương mới là đề cao tính đảng, càng không phải hễ phê phán, đấu tranh là thiếu tính đảng Tính đảng thể hiện ở sự lãnh đạo của đảng đối với báo chí Đảng lãnh đạo báo chí là điều kiện quan trọng để báo chí khơi dậy được nhiệt tình cách mạng, sức sáng tạo và tiềm năng trí tuệ to lớn của nhân dân Đảng lãnh đạo báo chí chính là để phát huy vai trò đắc lực của công cụ tư tưởng trong sự nghiệp cách mạng do đảng khởi xướng Tính đảng thể hiện ở chỗ thông qua việc phản ánh các mặt hoạt động của đời sống xã hội, thông tin về tình hình, sự kiện trong nước và quốc tế, tuyên truyền nhân tố mới, điển hình mới, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, các nhà báo đều xuất phát từ đường lối, quan điểm của đảng, phục vụ cho sự ổn định và phát triển đất nước Đội ngũ nhà báo cách mạng
Trang 35- chính là người tham gia vào việc tuyên truyền hình thành dòng tư tưởng chủ lưu tích cực và tiến bộ trong xã hội - cần coi việc nâng cao tính tư tưởng là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu Vì tính tư tưởng
có ảnh hưởng trực tiếp tới việc lãnh đạo tư tưởng, hướng dẫn dư luận quần chúng Hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng ngay cả tới việc tổ chức, chỉ đạo hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, góp phần đổi mới tư duy, định hướng tư tưởng, bồi dưỡng những nhận thức đúng đắn cho quần chúng, tạo ra sự nhất trí cao đối với đường lối, quan điểm của đảng Tính đảng đòi hỏi đội ngũ nhà báo phải có phẩm chất cách mạng, lòng nhiệt tình, trách nhiệm và tính sáng tạo cao, tạo nên uy tín và hấp dẫn của báo chí, đồng thời cần có sự am hiểu rộng về nhiều mặt, có năng lực làm việc nhanh nhạy, khoa học, chính xác
Tóm lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, báo chí cách
mạng là công cụ tuyên truyền, cổ động chính trị của đảng, phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng vô sản, đó cũng vì lợi ích của chính báo chí để thực hiện đúng đắn, đầy đủ vai trò, chức năng xã hội của mình Hoạt động của nhà báo là hoạt động sáng tạo mang tính đặc thù, nhà báo cách mạng phải là chiến sĩ cách mạng
1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng
Bác Hồ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam Ở Người, nhà cách mạng và nhà báo thống nhất và hoà quyện làm một Người làm báo là vì mục đích cách mạng, và vì cách mạng mà làm báo, bởi vậy, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn coi báo chí là một bộ phận, một nhiệm vụ trọng yếu của sự nghiệp cách mạng
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về báo chí vô sản, Hồ Chí Minh luôn coi báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và chủ nghĩa xã hội Theo Người, “nhiệm vụ của báo chí là phục vụ
Trang 36nhân dân, phục vụ cách mạng” [78, tr.613] Chính vì thế, theo Người, “mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?” [78, tr.616]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sử dụng báo chí như một công cụ, vũ khí, phương tiện trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình
Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết,
người in, người sửa bài, người phát hành,v.v ) phải có lập trường chính trị vững chắc Chính trị phải làm chủ Đường lối
chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được Cho nên báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng [77, tr.414]
Báo chí là phương tiện thông tin, tuyên truyền Người luôn nhắc nhở:
“Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính
phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu” [77,
tr.414]
Trong xã hội có giai cấp, báo chí là công cụ đấu tranh giai cấp Báo chí phải đi tiên phong trong đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược quy luật lịch sử, vạch trần tính chất phản động, giả dối, bịp bợm của
kẻ thù dân tộc “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới” [80, tr 441]
Trang 37Tính khuynh hướng trong lao động sáng tạo của nhà báo cách mạng
vĩ đại Hồ Chí Minh chính là tính kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt cuộc đời viết báo và hoạt động cách mạng của Người Lao động sáng tạo của đội ngũ nhà báo cách mạng không thể tách rời mà còn bao hàm nguyên tắc tính đảng Nguyên tắc tính đảng là một nguyên tắc hết sức quan trọng của báo chí cách mạng Việt Nam Đảng phải lãnh đạo báo chí Đảng phải làm cho tất cả những người làm báo có
lập trường chính trị vững chắc Chính trị phải làm chủ Đường
lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được Cho nên báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng [77, tr.414]
Đội ngũ nhà báo cách mạng luôn bảo vệ những lợi ích, quan điểm của Đảng và nhân dân Đây cũng là ý thức thường trực trong lao động sáng tạo của họ Người làm báo là người thực hiện và là nhân tố chính đảm bảo tính chiến đấu của báo chí, vì “nói đến báo chí trước hết phải nói đến
những người làm báo chí” [77, tr.412] Theo Người, “cán bộ báo chí cũng
là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” [78, tr.616] Người còn nêu rõ: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút
là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa
đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới” [80, tr.441]
Hồ Chí Minh đòi hỏi những người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hoá, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà”
Trang 38nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công [77, tr.415]
Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nhà báo là những chiến sĩ cách
mạng, thực hành chức năng xã hội, hướng dẫn tư tưởng và hành động cho người đọc, người nghe Họ cần được trang bị kiến thức rộng, lý luận khoa học, chính xác, tư tưởng rõ ràng, nghiệp vụ tinh thông Cây bút, trang giấy là
vũ khí sắc bén của họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
* Quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Đảng
ta luôn đặt báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, báo chí luôn là thứ vũ khí, phương tiện vô cùng lợi hại trong việc truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng, động viên, cổ vũ nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng Trong những thời kỳ cách mạng tiếp theo, Đảng ta luôn coi báo chí là phương tiện tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng,
vũ khí sắc bén trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc Sau khi thống nhất đất nước, cả nước cùng trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, Đảng ta càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của báo chí, xác định cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với công tác báo chí và xuất bản “Báo chí, xuất bản, dù là cơ quan của Đảng,
Trang 39của Nhà nước, của các đoàn thể quần chúng hay của tổ chức xã hội đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động theo pháp luật” [4, tr.2]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí mới có thể làm tròn trách nhiệm làm cho thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời, báo chí thực hiện được vai trò vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
trong Chỉ thị số 22-CT/TW về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Báo
chí xuất bản đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật [5, tr.2], đồng thời, cũng chỉ rõ, báo chí phải luôn đi đầu trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ đề trung tâm của hoạt động báo chí là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Hoạt động báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Do vậy, báo chí phải hoạt động theo định hướng của Đảng, tham gia tích cực nhất vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng và mục tiêu phấn đấu của Đảng, của nhân dân ta
là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn mới hiện nay, báo chí là ngọn cờ cách mạng tập hợp, đoàn kết, cổ vũ toàn thể các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, toàn thể người Việt Nam định cư ở trong và ngoài nước hăng hái tiến hành thắng lợi công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hoá là công cụ thông tin nhanh nhất, phổ cập nhất, giải đáp những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra, đấu tranh hàng ngày, hàng giờ chống những âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch, chống các khuynh hướng tư tưởng sai
Trang 40lầm, góp phần tổ chức, phát động phong trào hành động cách mạng của nhân dân
Hoạt động báo chí phải hướng vào mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, từng bước xây dựng con người mới, lối sống mới, làm cho những nguyên lý cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần
xã hội
Ngày nay, Đảng và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là cuộc cách mạng lớn lao trong lịch sử, song đầy khó khăn, gian nan và thử thách
Để đạt được mục tiêu, công tác tư tưởng phải đi trước một bước, trong đó, báo chí giữ vai trò chủ đạo, xung kích Báo chí cần góp phần đắc lực vào việc làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng giữ vị trí nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của cả xã hội; tích cực tham gia vào tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm cho đảng viên và quần chúng tin vào đường lối đổi mới, tin vào thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội
Ở nước ta, sự đóng góp của báo chí trong công tác xây dựng Đảng hết sức to lớn Báo chí đã góp phần nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cổ vũ những điển hình tốt, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận, chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch “…báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội” [32, tr.41-42]