1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh thái bình hiện nay

101 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 842,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn quá trình CNH, HĐH nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng và cả nước nói chung đang đứng trước thực trạng nguồn nhân lực: “dồi dào nhưng khan hiếm”, thiếu đội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



ĐÀO THỊ TÂN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



ĐÀO THỊ TÂN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGÔ NGỌC THẮNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Ngô Ngọc Thắng

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Đào Thị Tân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 7

1.1 Một số khái niệm liên quan 7

1.1.1 Khái niệm Nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực 7

1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 13

1.2 Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta và tính tất yếu khách quan về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 17

1.2.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 17

1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY 30

2.1 Những yếu tố tác động trực tiếp tới nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh 30

2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh 36

2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay 36

2.2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực 48

2.2.3 Đánh giá chung 60

2.2.4 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực của tỉnh 61

Trang 5

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH THÁI

BÌNH HIỆN NAY 63

3.1 Mục tiêu, phương hướng và quan điểm 63

3.2 Các giải pháp chủ yếu 66

3.2.1 Về nâng cao nhận thức của Hệ thống chính trị và của người dân về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ mới 66

3.2.2 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tăng cường thu hút vốn đầu tư 67

3.2.3 Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương 71

3.2.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 74

3.2.5 Gia tăng tốc độ giải quyết việc làm 77

3.2.6 Phát triển y tế, văn hóa nâng cao chất lượng dân số, sức khỏe cải thiện đời sống và tinh thần cho người lao động 80

3.2.7 Phát triển, thu hút và sử dụng hiệu quả nhân tài 80

3.2.8 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 82

3.3 Một số kiến nghị 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Bình qua các năm 31

Bảng 2.2: Lực lượng lao động tỉnh Thái Bình (2006 - 2010) 37

Bảng 2.3: Phân bố lao động theo địa giới hành chính của tỉnh Thái Bình 38

Bảng 2.4: Cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động Thái Bình 39

Bảng 2.5: Trình độ học vấn của lực lượng lao động Thái Bình 42

Bảng 2.6: Số người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ văn hóa 43

Bảng 2.7: Lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: người có việc làm +>=15 tuổi 44

Bảng 2.8: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Thái Bình 46

Bảng 2.9: Lao động có việc làm phân theo loại hình công việc 55

Bảng 2.10: Cơ cấu lao động có việc làm theo lĩnh vực đào tạo 57

Bảng 2.11: Lao động có việc làm phân theo vị thế công việc 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa CMKT : Chuyên môn kỹ thuật HĐH : Hiện đại hóa

NNL : Nguồn nhân lực

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do và tính cấp thiết của đề tài

Trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng Cộng

sản Việt Nam luôn khẳng định vị trí then chốt của CNH, HĐH nhằm sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, chuyển từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Trục xuyên suốt quan trọng nhất của tiến trình xây dựng và phát triển đất nước không thể không là quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Định hướng trên xuất phát từ nhận thức điều kiện thực tiễn Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, nông dân chiếm 80% dân số cả nước, 70% lao động sống ở nông thôn Bên cạnh đó, tình trạng đất chật người đông, dân số và lực lượng lao động không ngừng gia tăng, đất sản xuất lại có xu hướng ngày càng thu hẹp… cơ sở hạ tầng yếu kém, ngành nghề chủ yếu thuần nông, dịch vụ kém phát triển

Để đảm bảo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thắng lợi, cần phát huy tối đa vai trò của các nguồn lực: Vốn, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học kĩ thuật và công nghệ trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định Nguồn nhân lực là thế mạnh cơ bản của nội lực đất nước, là nhân tố nòng cốt trong tiến trình CNH, HĐH Vì vậy, Đảng ta đã xác định: “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [13, tr.85]

Thực tiễn quá trình CNH, HĐH nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng và cả nước nói chung đang đứng trước thực trạng nguồn nhân lực:

“dồi dào nhưng khan hiếm”, thiếu đội ngũ lao động có trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự phân bố nhân lực chưa hợp lý… đã cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

Làm thế nào để có thể sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn nhân lực đầy tiềm năng để không những tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội địa

Trang 9

phương mà còn giải quyết được những vấn đề xã hội trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay, đây là nỗi trăn trở của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình Vì những lí do đó, chúng tôi

chọn vấn đề: “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay” làm nội

dung nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một đề tài nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học với nhiều góc độ khác nhau

Một số nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu vấn đề con người nói chung gắn với động lực, chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH

- Trong công trình khoa học "Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH,

HĐH" tác giả Phạm Minh Hạc đã khẳng định tính tất yếu khách quan của việc

đào tạo, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; đề cao giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng

và đào tạo lại chất lượng đội ngũ nhân lực

- Tác giả Đoàn Văn Khái, trong cuốn "Nguồn lực con người trong quá

trình CNH, HĐH ở Việt Nam" đã làm rõ khái niệm CNH, HĐH và mô hình

CNH, HĐH để từ đó đưa ra quan niệm rằng đất nước ta đang trong thời kỳ CNH, HĐH theo mô hình tổng hợp (kết hợp giữa phát huy nội lực và lợi thế

so sánh), đi liền với hiện đại hóa Đồng thời, công trình trên đặc biệt nhấn mạnh đến vị trí, vai trò then chốt của nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Một số tác giả đề cập đến nhân tố con người, đến nguồn nhân lực trẻ

- Trong công trình khoa học năm 2007 “Phát huy nhân tố con người

trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” tác giả Phạm Công

Trang 10

Nhất đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của nhân tố con người, những giải pháp của việc phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện nay

- Tác phẩm “Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để CNH, HĐH

nông thôn nước ta” của Nguyễn Văn Trung, tập trung nghiên cứu về lực

lượng lao động ở nông thôn, chủ yếu là thanh niên và các giải pháp nhằm tạo công ăn việc làm tại chỗ nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào thực trạng phát triển nguồn nhân lực nói chung ở nông thôn

Hiện nay vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta gắn với quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế được một số nhà nghiên cứu quan tâm sâu sắc

- Ở bài viết "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập

kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng" đăng trên Tạp chí Kinh tế đối

ngoại số 38 năm 2009, khi đề cập đến các yếu tố cần thiết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả Hoàng Văn Châu đã nhấn mạnh tới vai trò và cách thức của giáo dục và đào tạo trong việc bồi dưỡng nhân tài

- Tác giả Trần Mai Ước trong bài "Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao phục vụ CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"

năm 2010 đã cho rằng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về thực chất

là phát triển và hoàn thiện chất lượng con người theo yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH

Đặc biệt nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận, nghiên cứu sâu về vị trí, vai trò nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng

- Trong “Đề án về lao động và phát triển nguồn nhân lực trong nông

nghiệp, nông thôn thời kỳ CNH, HĐH” Bộ Nông nghiệp và phát triển nông

thôn năm 2000, đã khái lược tiềm năng lao động nước ta nói chung và trong khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng

Trang 11

- Bài viết "CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam: cách thức,

bước đi, nguồn lực và chính sách" đăng trong hội thảo lý luận lần thứ tư giữa

Đảng cộng Việt Nam với Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2008, tác giả Bùi

Bá Bổng đã nêu ra tính tất yếu khách quan của mối quan hệ phát triển nguồn nhân lực gắn chặt với đào tạo; chỉ có thể đa dạng hóa nội dung đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục mới có thể đẩy mạnh hiệu quả sử dụng nhân lực

Các công trình nghiên cứu trên đều ít nhiều đề cập đến việc phát triển nguồn nhân lực và đã chỉ ra vấn đề có tính bức thiết hiện nay là thực trạng nguồn nhân lực nước ta thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước không thể không nâng cao chất lượng NNL Tuy vậy chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về việc phát triển NNL phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn các địa phương, đặc biệt là tỉnh có đặc thù là một tỉnh thuần nông như Thái Bình.Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp có tính ứng dụng trực tiếp trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của tỉnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn: Góp phần tìm giải pháp phát triển nguồn

nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay

* Để có thể đạt được mục đích trên đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ Hệ thống hóa những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về CNH, HĐH đất nước nói chung và trong lĩnh vực nghiên cứu nông thôn, nông nghiệp nói riêng

+ Tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Thái Bình trước yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và những vấn đề đặt ra

Trang 12

+ Bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Thái Bình phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nói chung và đối với nông nghiệp, nông thôn Thái Bình nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nguồn nhân lực vừa là chủ thể sản xuất vừa là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố năng động sáng tạo quyết định sự phát triển của xã hội Phát triển nguồn nhân lực là nội dung trọng tâm để thực hiện những chủ trương, chiến lược kinh tế đối với các quốc gia

Đề tài luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm

2000 trở lại đây nhằm phát huy được vị trí, vai trò nguồn lực con người để xây dựng địa phương giàu mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị và toàn diện

về xây dựng nông thôn mới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về con người, vai trò của nguồn nhân lực trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

và xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về con người

và nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay

* Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp luận duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu văn bản

6 Đóng góp của luận văn

- Dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước và phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh

Trang 13

- Dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy một số chuyên đề của CNXH trong các nhà trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển nguồn nhân

lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Thái Bình hiện nay

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm Nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực

* Khái niệm Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là một vấn đề nổi lên hàng đầu trong thế kỷ XXI, được thế giới quan tâm sâu sắc Cho đến nay, nguồn nhân lực là một khái niệm đa dạng được đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau Nhưng nói tới nguồn nhân lực là chúng ta đề cập đến một yếu tố quan trọng nhất, năng động nhất của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nó khác so với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ, vốn…) ở chỗ nguồn nhân lực cùng với hoạt động có tính sáng tạo, đã biết tác động vào giới tự nhiên, làm biến đổi giới tự nhiên, trên cơ sở đó mà hình thành nên các quy luật lao động và quan hệ xã hội

- Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn (vốn người, tư bản người) là một trong những thành tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh

Ngân hàng thế giới đã cho rằng: Nguồn lực con người được hiểu là toàn

bộ vốn người (trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó

Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: "Nguồn lực con người

là vốn quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp", đó là "người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng

Trang 15

và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại" [15, tr.69]

- Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi thành tố hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội

Với góc độ tiếp cận nguồn nhân lực là lực lượng lao động, theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người đang trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo các nghĩa sau:

+ Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động để phát triển kinh tế xã hội, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực; ở trong độ tuổi lao động, tham gia hoạt động kinh tế và

dữ trữ [39, tr.7]

+ Với tư cách là khả năng đảm đương chính của lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định) Trên cơ

sở cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với khái niệm nguồn lao động; tuy nhiên nguồn lao động hiện hữu là toàn bộ những người đang làm việc và tích cực tìm việc làm, còn nguồn nhân lực còn bao hàm cả một bộ phận tiềm tàng chưa tham gia vào quá trình lao động [39, tr.8]

+ Trong giai đoạn hiện nay, một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng con người, trong đó thể hiện cả trên phương diện thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, trình độ và phong cách làm việc

Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX - 07 thì: "Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,

Trang 16

năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…" [23, tr.323]

Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực có nội dung rất rộng song về cơ bản nguồn nhân lực không chỉ được được cấu thành từ dân số, hay nguồn lao động của một quốc gia dân tộc mà nó bao hàm cả tiềm năng lao động của con người Vậy, có thể hiểu rằng:

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người, là tổng thể số lượng dân, cơ cấu số dân, đặc biệt là chất lượng người với sức mạnh và kỹ năng của nó có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế và xã hội

Nguồn nhân lực được cấu thành bởi các thành tố: số lượng, cơ cấu, chất lượng và mối quan hệ giữa chúng hợp thành một chỉnh thể thống nhất tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội

Về số lượng

Đây là thành tố đóng vị trí quan trọng đầu tiên của nguồn nhân lực, một quốc gia nếu không có số lượng cần thiết thì không thể phát huy được sức mạnh của nguồn nhân lực, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Số lượng nguồn nhân lực của bất kỳ quốc gia nào cũng đều được hình thành dựa trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số… Trong đó số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một cách rõ nhất về số lượng nguồn nhân lực

Về cơ cấu

Cơ cấu nguồn nhân lực là cơ cấu về số dân, về độ tuổi, giới tính; cơ cấu

về thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo; cơ cấu về trình độ học vấn; trình độ chuyên môn nghề nghiệp, cơ cấu vùng miền… Toàn bộ cơ cấu đó phản ánh tính hợp lý hay không hợp lý, sự phù hợp hay không phù hợp của nguồn nhân

Trang 17

lực trong một quốc gia, trong một ngành, một lĩnh vực nhất định, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định

Về chất lượng

Chất lượng nguồn nhân lực là sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố

và giá trị cùng tham gia tạo nên Trong đó, gồm ba yếu tố cơ bản: thể lực, trí lực và tâm lực

Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát triển bình thường, có khả năng lao động Thể lực được phản ánh bởi những chỉ tiêu

về thể trạng (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con người, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập và lao động lâu dài

Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người Trí lực được phản ánh bởi những chỉ tiêu về yếu tố trí tuệ, tinh thần, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kĩ thuật của người lao động Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động

Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất đạo đức tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân Tâm lực được kết tinh bởi hàng loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc; khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hòa nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc Tâm lực tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội

Trang 18

* Khái niệm phát triển Nguồn nhân lực

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn tài nguyên người (Human Resources Development - HRD) được hình thành và phát triển dựa trên lý thuyết phát triển của Liên hợp quốc về vị trí của con người, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Đến năm 1990, khái niệm "phát triển con người" (Human Development) mới xuất hiện trên thế giới gắn với báo cáo về phát triển con người trong chương trình phát triển của Liên hợp quốc công bố Theo đó, của cải đích thực của mỗi quốc gia là con người của quốc gia ấy và mục đích phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe Quan điểm của Liên hợp quốc về "phát triển con người" nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển

Các nhà khoa học Việt Nam hiện nay đã đưa ra khá nhiều quan điểm về

"phát triển nguồn lực con người" hay "phát triển nguồn nhân lực" trong các công trình nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau Nhưng tựu trung lại, đều nhấn mạnh đến quá trình gia tăng về giá trị cho con người Việt Nam gắn với các mặt: thể lực, trí lực, đạo đức…, tạo ra môi trường ngày càng thuận lợi cho sự phát triển con người, đáp ứng ngày càng tốt hơn với những đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới đất nước

Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc: "Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng các giá trị đạo đức cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước" [23, tr.285]

Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Nguyễn Minh Đường phát triển quan điểm trên gắn với thành tố môi trường xã hội: "Phát triển nguồn nhân lực được hiểu

Trang 19

là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn… để cho họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như truyền thống dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do đó, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển"… [20, tr.8]

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển toàn diện con người cả

về thể lực, trí lực, nhân cách, cả khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển tiềm năng, năng lực của mỗi người của cả cộng đồng người nhằm đóng góp nhiều nhất vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, nhà nghiên cứu Phạm Khánh Đức nhấn mạnh hơn nữa đến cách thức phát triển nguồn nhân lực:

"Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến

số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng miền, địa phương…) đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực, tạo được công

ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, địa vị kinh tế, xã hội của các tầng lớp dân cư và cuối cùng là đóng góp chung cho sự phát triển của xã hội" [21, tr.489]

Tóm lại, có thể hiểu: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự

biến đổi phù hợp về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng miền

Vậy, quá trình phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng chính là việc hình thành quy mô dân số hợp lý, cơ cấu về giới với tốc độ tăng dân số phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, vùng miền, địa phương

Trang 20

Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng được cải biến trên các phương diện: Phát triển thể lực gắn với quá trình gia tăng chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, sức mạnh, cơ bắp… Phát triển trí lực với sự gia tăng năng lực trí tuệ thể hiện trong quá trình tích lũy và khả năng vận dụng, định hướng, sáng tạo

từ trình độ văn hóa, trình độ học vấn ra hành vi con người nhằm đạt được mục tiêu Phát triển tâm lực chính là sự gia tăng những giá trị chuẩn mực đạo đức, sự hoàn thiện nhân cách cá nhân

Bên cạnh quá trình cải biến các thành tố cấu thành nguồn nhân lực cần song hành quan tâm tới hiệu quả sử dụng chúng như thế nào? Hiệu quả chính

là kết quả đích thực như hiệu quả kinh tế, lao động có hiệu quả cao Nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ căn cứ vào sự gia tăng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực mà quan trọng hơn đó là những lợi ích, những tiến bộ, những giá trị mà nó đem lại tạo thành cơ sở, động lực cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn nhân lực toàn diện vì sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

* Khái niệm CNH, HĐH

CNH, HĐH là xu hướng phát triển của các quốc gia trên thế giới Để trở thành một đất nước phát triển, giàu có mỗi dân tộc đều phải trải qua quá trình trên Chỉ với CNH, HĐH các nước mới gắn liền với tiến trình xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và tự động hóa; từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất

Lịch sử công nghiệp hóa thế giới đã trải qua chiều dài 300 năm, diễn ra

ở các nước khác nhau, những thời điểm lịch sử và những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, vì vậy nội dung khái niệm có sự khác nhau Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm: Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng

Trang 21

các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành với kỹ thuật hiện đại Quan niệm trên đã đưa công nghiệp hóa là một quá trình bao trùm bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt nhiều mục tiêu (cả kinh tế và xã hội), chứ không chỉ là mục tiêu kinh tế - kỹ thuật; nó chỉ phù hợp với các nước phát triển

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam xác định: "Công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cách mạng khoa học kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng" [27, tr.32] Đảng ta đã nhấn mạnh đến mục tiêu, nội dung, tính lịch sử của quá trình công nghiệp hóa; vai trò của Đảng Cộng sản, của Nhà nước và của nhân dân lao động trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ mới tuy nhiên, quan điểm trên dường như đã đồng nhất công nghiệp hóa với cách mạng kỹ thuật

Tác giả Đỗ Quốc Sam đã đưa ra quan điểm công nghiệp hóa theo hai khía cạnh nghĩa hẹp và nghĩa rộng, trong bài "Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam" đăng trên Tạp chí Cộng sản số 11, tháng 6 - 2006 Theo nghĩa hẹp, "Công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh

tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo"; còn theo nghĩa rộng "Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang văn minh công nghiệp" Theo tác giả, công nghiệp hóa ở đây đã bao hàm cả một phần nội dung của hiện đại hóa, không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế mà còn cả mặt xã hội và văn hóa

Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả trong và ngoài nước dù có những điểm khác nhau vẫn thống nhất ở những điểm chung Vậy, công

nghiệp hóa được khái quát như sau: Công nghiệp hóa là quá trình tạo sự

chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với cơ cấu kinh tế lạc hậu, dựa trên

Trang 22

lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại, dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao

Vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và kinh tế tri thức đã làm thay đổi tiến trình công nghiệp hóa Đó là, các nước công nghiệp hóa muộn đã không thể tiến hành công nghiệp hóa tuần tự từ cơ khí hóa đến tự động hóa như những nước đi trước, mà phải lồng ghép hai quá trình đó để tiến kịp thời đại Vì vậy, tại Việt Nam đã xuất hiện khái niệm mới: CNH, HĐH, thực chất là quá trình công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại

Về ý nghĩa kinh tế, hiện đại hóa được quan niểm là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại gắn với việc sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại phù hợp với công nghệ của thế giới để chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về CNH, HĐH vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa VII của Đảng ta chỉ rõ:

"CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao" [12, tr.42]

Có thể khẳng định rằng CNH, HĐH là một cuộc cách mạng toàn diện

và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới ở nước ta là quá trình kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH, không chỉ dừng lại đơn thuần ở phát triển công nghiệp mà còn phải

Trang 23

thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kĩ thuật và công nghệ hiện đại

Sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải có những nguồn lực cần thiết, tất yếu Trong đó, yêu cầu cấp bách nhất hiện nay chính là nguồn nhân lực phải đủ, phải mạnh hay chính là động lực phát triển

* Khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu để chuyển một nền nông nghiệp lạc hậu thành một nền nông nghiệp hiện đại Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân Là con đường nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, làm cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh công nông, đẩy nhanh CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Không thể đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong khi chưa thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn:

"CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn biến lao động thủ công thành lao động cơ giới đưa sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn hàng hóa, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp nhằm khai thác mọi tiềm năng tạo ra với lao động hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trong nông nghiệp, nông thôn từ đó biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn tiến gần đến thành thị" [16, tr.704]

Trang 24

Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn hiện đại gắn nông nghiệp với công nghiệp dịch

vụ cho phép phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp đất nước

Muốn có quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đưa phương pháp sản xuất công nghiệp máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ và tạo

ra cơ sở hạ tầng thích ứng trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn Nó không chỉ dừng lại ở quá trình nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật vào công nghệ sản xuất vật chất, tạo ra một nền sản xuất có trình độ ngày càng cao; mà còn không ngừng nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo, y tế và các dịch

vụ khác của nông thôn, tổ chức đời sống ở nông thôn ngày càng văn minh, tiến bộ Như V.I.Lênin đã chỉ ra tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật dẫn đến sự thay đổi của người nông dân Nga: "Đối với những người tiểu nông thì chỉ có cơ sở vật chất, kỹ thuật, những máy kéo và những máy móc quy mô lớn trong nông nghiệp, điện khí hóa trên quy mô lớn… mới có thể làm cho toàn bộ tâm lý có thể trở thành lớn mạnh được" [30, tr.72]

1.2 Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta và tính tất yếu khách quan về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay đang là nhiệm vụ trung tâm của

cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Chỉ có CNH, HĐH mới đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; như Các Mác khẳng định, những thời đại kinh tế khác nhau không phải chúng sản xuất cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư

Trang 25

liệu lao động nào Vì vậy, trong thời đại ngày nay, CNH phải gắn với HĐH, là vấn đề có tính quy luật nhằm xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội

Ngay từ những năm 1960 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, lần đầu tiên đường lối về công nghiệp hóa được Đảng đề ra Đảng Lao động Việt Nam khẳng định muốn cải biến tình trạng lạc hậu của nền kinh tế nước ta không còn con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa; trong đó vấn đề quan trọng có tính chất quyết định là thực hiện trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiện cơ giới hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động

Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta đã nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước Những quan điểm CNH, HĐH được hội nghị lần thứ 7, BCH TW khóa VII nêu ra và được phát triển bổ sung qua các Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng

Thứ nhất, CNH gắn với HĐH; công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức

Với yêu cầu của thời đại, công nghiệp hóa không chỉ gắn với các mục tiêu và giải pháp mang tính truyền thống như trước, mà phải đạt tới mục tiêu hiện đại và dựa vào các công cụ hiện đại Trong bối cảnh nước ta tiến hành công nghiệp hóa thì điều kiện khoa học - kỹ thuật của thế giới phát triển nhanh chóng; nhiều nước đã đi vào nền kinh tế tri thức, chu kỳ công nghệ, kỹ thuật và sản phẩm ngày càng rút ngắn, đòi hỏi sự thường xuyên thay thế, nâng cấp, hiện đại hóa những công nghệ thiết bị đã được đầu tư Vì vậy, nếu không kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa thì nền kinh tế Việt Nam không những không đuổi kịp các nước xung quanh mà ngày càng tụt hậu xa hơn Thực chất đó là sự kết hợp giữa những bước phát triển tuần tự (công nghiệp hóa) với những bước phát triển nhảy vọt (hiện đại hóa), hay đó chính là bước

"đi tắt, đón đầu" để đẩy nhanh thời gian xây dựng và hoàn bị sự nghiệp công

Trang 26

nghiệp hóa Sự nhận thức về con đường công nghiệp hóa đã đánh dấu sự trưởng thành của Đảng, từ đó đã đưa công nghiệp hóa hướng mạnh vào việc phát huy những lợi thế vốn có của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng thời kỳ của nền kinh tế và được chứng minh bằng những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được

Con đường đẩy mạnh sự phát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH như Đảng ta xác định là một sự tất yếu khách quan nhưng không phải là sự dập khuôn máy móc theo một mô hình cụ thể nào mà mang tính lịch sử cụ thể Trong Đại hội X, đã làm rõ bước đi, tiến trình quá trình CNH, HĐH ở nước ta:

"Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức" [17, tr.28]

Quá trình gắn CNH, HĐH với kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay trở thành động lực động lực thúc đẩy công cuộc: "Đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân nhân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại" [13, tr.638]

Thực chất, phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là thực hiện chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn dựa trên tri thức, đẩy mạnh những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là những ngành mũi nhọn, có lợi thế phát triển, làm tăng tỷ lệ giá trị gia tăng ở từng sản phẩm; giảm chi phí lao động và nguyên liệu, vật liệu; tăng chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và cơ cấu lao động xã hội theo hướng hiện đại

Thứ hai, CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trước đổi mới, con đường công nghiệp hóa xuất phát từ ý muốn chủ quan của Nhà nước, đã dẫn đến những kết quả không mong muốn cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong quá trình đổi mới, việc nhận thức đúng quy luật

Trang 27

khách quan trong hoạt động kinh tế sẽ là điều kiện thuận lợi, là tiền đề khách quan đem lại sự thành công cho sự nghiệp công nghiệp hóa CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế thị trường không những khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế mà còn sử dụng chúng có hiệu quả; bởi khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy mô thế nào, công nghệ gì đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, sai mục đích, kém hiệu quả và lãng phí thất thoát

CNH, HĐH ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ quan hệ kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Ngoài ra, còn nhằm khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có lợi thế, có sức cạnh tranh cao Nói cách khác, đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và CNH, HĐH nói riêng nhanh hơn, hiệu quả hơn

Thứ ba, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Con người vừa là mục đích, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định để tạo ra công nghệ hiện đại và sử dụng chúng; là yếu tố quyết định để thực hiện chuyển giao công nghệ trong quá trình CNH, HĐH đất nước Nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trước hết là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên gia kinh tế, những nhà quản lý kinh tế - xã hội, đội ngũ công nhân lành nghề Có thể coi nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực khác

Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi phải có những chính sách kinh tế - xã hội, coi đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư chiều sâu, là then chốt cho sự phát triển

Trang 28

Nguồn nhân lực cho CNH, HĐH đòi hỏi phải đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới

Thứ tư, coi phát triển khoa học công nghệ là nền tảng, là động lực của CNH, HĐH

Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đưa thế giới chuyển sang một nền kinh tế mới, một nền văn minh mới - kinh tế tri thức Sự phát triển vượt bậc đó được thể hiện bởi tiềm lực khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia; đó cũng chính là tiềm lực trí tuệ và sự sáng tạo của mỗi dân tộc Ở nước ta, với con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chậm phát triển, tiềm lực khoa học và công nghệ ở trình độ thấp Hiện tại, vị trí thứ hạng năng lực khoa học - công nghệ đang đứng gần cuối bảng trong khu vực Châu Á (Việt Nam thấp hơn Thái Lan 49 bậc, Malaixia 65 bậc, Xingapo 81 bậc); sự hạn chế này đã cản trở khả năng nắm bắt các cơ hội, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để thực hiện con đường công nghiệp hóa rút ngắn

Để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH phải coi khoa học công nghệ là động lực, coi năng lực nội sinh về khoa học công nghệ là nền tảng Xây dựng năng lực nội sinh về khoa học - công nghệ để đủ sức lựa chọn, làm chủ, thích nghi với công nghệ nhập, cải tiến, biến công nghệ nhập thành công nghệ của mình, tiến tới tự tạo ra công nghệ Đại hội X của Đảng nêu lên mục tiêu tổng quát của phát triển khoa học, công nghệ là: "Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ của nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng" [17, tr.54]

Thứ năm, phát triển nhanh, hiểu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với việc tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn

đa dạng sinh học

Trang 29

Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển hiệu quả và bền vững Chỉ như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng… Mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người, mọi người đều được hưởng thành quả của sự phát triển Tăng trưởng, phát triển

và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Mỗi bước tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội cao hơn, tiến bộ và công bằng xã hội lại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn nữa Vì vậy, cần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước

và từng chính sách phát triển, cần phải kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa

vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội

Sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững có mối quan hệ chặt chẽ với việc bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học Môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học là môi trường sống và hoạt động kinh tế của con người Bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học chính là bảo vệ điều kiện sống của con người và cũng là nội dung của sự phát triển bền vững

Như vậy, những quan điểm về CNH, HĐH đã nhấn mạnh đến là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu trở thành lao động sử dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại nhằm phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý để đạt tới năng suất lao động cao; CNH gắn liền với HĐH dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học công nghệ Không thể không gắn kết chặt chẽ giữa CNH, HĐH với

xu hướng kinh tế tri thức và kinh tế thị trường mà vấn đề cơ bản, cốt lõi cần

Trang 30

phải có sự đóng góp tích cực của con người và nguồn lực con người Do đó, phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ thể lực cho đến trí lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức

Đối với nước ta, một nước nông nghiệp là chủ yếu nên CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những quan điểm và chương trình phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Một là, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có vai trò quan

trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị - xã hội bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái đất nước

Hai là, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết

đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch

là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại nông nghiệp là then chốt

Ba là, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nâng cao đời

sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội,

Trang 31

ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Thứ tư, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm

vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm

đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân [18]

Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển, gắn liền với xây dựng nông thôn mới, hiện đại hóa nông thôn Đây là lực lượng xã hội đông đảo có vai trò hết sức quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, là lực lượng chủ thể nhằm thực hiện thành công sự nghiệp "CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước" Sự nghiệp ấy là nhiệm vụ trực tiếp của giai cấp nông dân liên minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Để hoàn thành sự nghiệp đó phải phát huy yếu tố con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

Trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu cuối cùng, cao nhất là sự nghiệp giải phóng con người Nhưng muốn giải phóng con người một cách triệt để nhất thì chính con người phải vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của quá trình ấy

Nhận thức được vị trí và vai trò của con người xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã nhấn mạnh đến một trong những phương hướng lớn của chính sách xã hội là sự kết hợp giữa phát huy nhân tố con người với tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội Phát huy nhân tố con người Việt Nam là phát huy vai trò chủ thể của con người có khả năng lao động

Trang 32

sáng tạo, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân Đồng thời nhân tố con người có vị trí then chốt, cội nguồn sức mạnh trong phát triển lực lượng sản xuất hiện nay gắn với quá trình phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội

"Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng

về nghĩa vụ và quyền lợi công dân kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài giữa các cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội" [16, tr.321]

Với những tác động sâu rộng của nền kinh tế tri thức trên thế giới vào cuối thế kỷ XX, đặt ra yêu cầu tất yếu cho mỗi dân tộc quy luật phát triển khác nhau Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, với nhận định chiến lược đặc biệt nhấn mạnh đến vị trí của nguồn lực con người, Đảng ta cho rằng:

"Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tích lũy cho đầu tư phát triển Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường" [13, tr.85]

Với quan điểm trên, Đảng ta đã trực tiếp khẳng định nguồn lực con người là nhân tố quan trọng nhất, nhân tố cơ bản nhất trong quá trình xây dựng

và phát triển đất nước Về cơ bản, trọng tâm của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế gắn với tiến bộ công bằng xã hội có thể thành công hay không chính là quá trình nâng cao về nguồn lao động có trình độ ngày càng cao

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đã đưa ra quan điểm toàn diện về vai trò của nguồn nhân lực trong thời kỳ mới "Con người

và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH" [15, tr.201] Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở xem xét các

Trang 33

nguồn lực và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đã rút ra kết luận:

"Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp" [15, tr.69]

Nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất không chỉ đối với nước ta nói riêng mà đối với các nước trên thế giới nói chung dù có phong phú như thế nào đi chăng nữa vẫn có những giới hạn nhất định Nước ta, với xuất phát điểm nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém vì vậy huy động cả về tài chính, vật chất cũng là một thử thách lớn Theo đó, chỉ khi xác định nguồn nhân lực trở thành chủ thể, là nguồn lực không những không hao mòn mà còn luôn tái sinh, mới có thể gắn kết và phát huy được sức mạnh của tổng thể các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu CNH, HĐH Để nguồn nhân lực đáp ứng được những nhiệm vụ trước mắt và quá trình tái sinh cần phải:

"Phát triển mạnh nguồn nhân lực với yêu cầu ngày càng cao" [15, tr.165]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, một lần nữa nhấn mạnh đến nhiệm vụ cơ bản phát triển nguồn nhân lực; đồng thời đưa ra quan điểm phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao:

"Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao" [17, tr.95] Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phải "Nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền" [17, tr.96]

Cương lĩnh bổ sung xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 2011đã đề ra mục tiêu: "Con người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện" phấn đấu 2020: "mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển"

Trang 34

Như vậy, trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng, vị trí chiến lược và vai trò của NNL qua các kỳ Đại hội của Đảng đã hoàn thiện những quan điểm không chỉ về NNL mà còn xác định tiềm năng to lớn của con người Việt Nam Con người là chủ thể và là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển xã hội và sự nghiệp cách mạng Việt Nam; mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới mục tiêu nhân văn cao cả là vì con người

1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng gắn với 20 năm đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực của con người Việt Nam đã từng bước được nâng lên Tổng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn khoảng 35 triệu người, hiện chiếm 74,5% lao động cả nước Sự biến đổi tích cực từ tăng tỷ lệ lao động làm việc trong các lĩnh vực như công nghiệp, thương mại, dịch vụ đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch mạnh mẽ từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ

Cả nước hiện nay có 13 trường đại học, cao đẳng có đào tạo về nông, lâm nghiệp; 60% trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề chuyên đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý đào tạo lao động nông nghiệp, nông thôn

Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn hàng năm được bổ sung nhiều, tuy nhiên do cơ cấu kinh tế gắn với kinh tế nông nghiệp, nhiều vùng trong trạng thái thuần nông nên nguồn lao động dư thừa ngày càng nhiều Sức ép về mật độ lao động trên đồng ruộng lớn, gia tăng áp lực về thiếu việc làm trong lĩnh vực này ngày càng trầm trọng

Trang 35

Nông nghiệp và các hoạt động kinh tế nông nghiệp, dịch vụ ở nông thôn nước ta chủ yếu là quy mô nông hộ nhỏ và tiểu thủ công mang nặng tính manh mún, phân tán, thiếu thông tin, lạc hậu về công nghệ

Người lao động của một nền sản xuất nông nghiệp trên có trình độ rất thấp; năng lực ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn gặp nhiều hạn chế,

tư duy cạnh tranh kém đồng thời tính tự do và manh mún cao Theo số liệu thống kê, lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp qua đào tạo nghề chỉ chiếm 7 - 8%, nước ta có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu người trong

độ tuổi người lao động mới có 17% được đào tạo chủ yếu là các lớp khuyến nông sơ sài

Trong những năm qua, sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tương đối mạnh, tuy nhiên sự chuyển dịch này diễn ra chưa đáp ứng như mong đợi Nguồn lao động này chưa qua đào tạo, hoặc đã được đào tạo lại chiếm tỷ lệ thấp so với khu vực đô thị Vì vậy, quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra đã gia tăng áp lực cho sự lựa chọn việc làm Với tính chất công việc bấp bênh, không ổn định, thu nhập thấp buộc họ phải quay lại khu vực nông thôn, chấp nhận làm nông nghiệp

Bên cạnh đó, một trong những ảnh hưởng của quá trình phát triển nguồn nhân lực khu vực này là đội ngũ cán bộ cơ sở Hiện nay, đội ngũ cán

bộ khu vực nông thôn về trình độ chuyên môn chỉ có 9% tốt nghiệp đại học, cao đẳng; 39% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa qua đào tạo Đặc biệt về trình độ quản lý nhà nước có tới 55% cán bộ chưa qua các lớp đào tạo, cộng với chính sách sử dụng và thu hút cán bộ, người lao động có trình độ cao cũng bộc lộ sự bảo thủ, hạn chế

Từ thực trạng trên chất lượng NNL hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội Nguyên nhân chủ yếu, xuất phát từ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến sản xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở trình độ thấp Nguồn lao động đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông

Trang 36

nghiệp mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của người nông dân thấp, đời sống đa số khó khăn

Yêu cầu tất yếu khách quan về phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, bài toán "đất chật, người đông", "người đông nhưng không mạnh" đặt ra những yêu cầu cần thiết đối với phát triển NNL

Phải xác định rõ vị trí của NNL là tài nguyên quý giá nhất của nước ta trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Vấn đề then chốt nhất hiện nay đối với NNL nông nghiệp, nông thôn là nâng cao trình độ học vấn đi đôi với nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề; đặc biệt khả năng ứng dụng cao những sản phẩm khoa học công nghệ

Cần chú trọng giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách: khai thác, đào tạo, sử dụng NNL

Xây dựng chiến lược phát triển NNL gắn với chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Có chính sách minh bạch, đúng đắn thu hút NNL có trình độ cao về khu vực nông thôn, có cơ chế đãi ngộ trọng dụng nhân tài

Đảm bảo sự công bằng xã hội, tạo cơ hội cho tất cả mọi người được tiếp cận hệ thống đào tạo NNL; rút ngắn khoảng cách chất lượng NNL khu vực nông thôn và thành thị

NNL phải được phát triển theo yêu cầu của thị trường lao động, theo kịp với xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức trên thế giới

Phát triển toàn diện con người về một thể lực cường tráng, sức lao động bền bỉ dẻo dai, làm việc có năng suất, chất lượng, tác phong công nghiệp, tư duy nhạy bén với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, nhân cách cao đẹp và đời sống văn hóa tinh thần phong phú Muốn đạt được mục tiêu trên cần xác định lộ trình cho quá trình "đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao" [17, tr.34]

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

2.1 Những yếu tố tác động trực tiếp tới nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh

* Yếu tố vị trí địa lý

Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, một tỉnh đồng bằng ven biển Ba mặt bao bọc bởi sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa, một mặt giáp biển Đông

Thái Bình có diện tích tự nhiên là 1.546.54 km2, dân số hơn 1.786.000 người Tỉnh có 8 huyện, thành phố: Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Tiền Hải, Thái Thụy, Thành phố Thái Bình và 286 xã phường thị trấn

Thái Bình có điều kiện tự nhiên rất ưu đãi cho nông nghiệp: địa bàn bằng phẳng không có đồi núi, thay vào đó có 53 km đường biển, 5 cửa sông lớn, nhiều bãi biển thoai thoải thuận tiện trong việc quai đê lấn biển và phát triển kinh tế Tổng diện tích đất tự nhiên là 154,601 ha, trong đó: đất nông nghiệp chiếm 62,7%; đất công nghiệp chiếm 3,6%; đất chuyên dùng và đất ở chưa sử dụng chiếm 6,26% Trong đó, đất nông nghiệp của Tỉnh chủ yếu là nền đất bằng, phù sa màu mỡ, chủ động nước tưới và chất lượng nước tưới phù sa tốt nhất trong cả nước

Thái Bình nằm trong vùng tam giác kinh tế tăng trưởng cao ở phía Bắc,

là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Các tuyến đường quốc lộ 10, 39 nối Thái Bình với Hà Nội (100 km), Hải Phòng (70 km) và cảng biển quốc gia Diêm Điền tạo điều kiện thuận lợi cho Tỉnh nhà giao lưu kinh tế với các Tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng, các tỉnh phía Bắc và quốc tế

Trang 38

Với vị trí địa lý và nguồn tài nguyên đất giàu có như vậy, đã đem lại cho Thái Bình những lợi thế rất lớn Đó là: thương hiệu vùng thâm canh lúa nước, năng suất lúa vượt 12 tấn/ha/2 vụ, cao nhất cả nước; sự luân chuyển, trao đổi hàng hóa, vật tư thuận lợi; có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp rất rộng lớn, đa dạng; có thể trao đổi, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất cũng như vấn đề đào tạo nguồn nhân lực

* Yếu tố kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, nền kinh tế Thái Bình đã có những chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng (GDP) liên tục tăng qua các năm, đã phản ánh những cố gắng bước đầu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh trên con đường đưa Thái Bình bước vào thời kỳ phát triển kinh nhanh, bền vững; tạo nền tảng

để đến năm 2020 trở thành tỉnh nông thôn mới, có nền nông nghiệp và công nghiệp theo hướng hiện đại, hòa nhịp với bước tiến chung của các tỉnh trong

khu vực và cả nước

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Bình qua các năm

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Bình

Nền kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch tích cực; trên các lĩnh vực cụ thể đã cho thấy lợi thế phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Thái Bình Lợi thế đó, vừa là cơ hội, vừa là thử thách cho nguồn nhân lực của tỉnh trong quá trình phát huy sức mạnh xây dựng đời sống kinh tế - xã hội địa phương nói chung và thành tựu kinh tế hộ gia đình nói riêng

Trên lĩnh vực nông nghiệp ngày càng phát triển toàn diện, có bước chuyển biến tích cực sang sản xuất hàng hóa Toàn tỉnh đã tập trung xây dựng

mô hình nông thôn mới theo hướng sản xuất nông nghiệp tập trung, quy

Trang 39

hoạch cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi, cơ sở sản xuất, chế biến nông sản gắn với việc làm ổn định trên địa bàn Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích trồng lúa ngắn ngày chất lượng cao, ổn định năng suất trên 130/tạ/ha/năm đồng thời mở rộng diện tích trên 40 ngàn ha rau màu, cây vụ đông, chuyển đổi 1.330 ha cây lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng cây, con có hiệu quả kinh tế cao, gắn với giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân Bên cạnh đó, quá trình mở rộng các loại hình chăn nuôi trang trại, gia trại theo phương thức tập trung, quy mô lớn, khuyến khích nông dân nuôi trồng thủy hải sản có giá trị kinh tế cao Đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được 1.553 trang trại, 13.500 gia trại, tạo công ăn việc làm của hơn 50.000 người

Trên lĩnh vực công nghiệp, giá trị sản xuất tăng bình quân 24%/năm Thái Bình đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển công nghiệp theo hướng sản xuất tập trung và phát triển làng nghề, xã nghề Hiện nay, toàn tỉnh đã hoàn thành quy hoạch 7 khu công nghiệp, 15 cụm công nghiệp và đang tiếp tục mở rộng thêm diện tích khu công nghiệp Phúc Khánh và khu công nghiệp Tiền Hải Chính sách thu hút đầu tư của tỉnh có những thành công lớn với 209 dự án đăng ký đầu tư với số vốn trên 50 nghìn tỷ đồng, nâng tổng số dự án đầu tư vào tỉnh lên 283 dự án, tạo việc làm cho trên 86 nghìn lao động Các dự án thu hút nhiều lao động chủ yếu là công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí và điện tử, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm Sự đầu

tư cho phát triển nghề và làng nghề được thể hiện với 219 làng nghề đạt tiêu chuẩn và tạo việc làm thường xuyên cho 175 nghìn người, chủ yếu là lao động địa phương Nhiều nghề mới được du nhập thu hút đông đảo lao động

nữ như móc sợi, tăm hương, thêu đính hạt cườm, lưỡi câu xuất khẩu…đã duy trì việc làm trong lúc nông nhàn với mức thu nhập 700.000 đồng/tháng trở lên, nâng tỷ lệ cơ cấu lao động khu vực này từ 20,08% năm 2005 lên 22,5% năm 2011

Trang 40

Trên lĩnh vực thương mại và dịch vụ của tỉnh đang có sự phát triển cả

về chất lượng và số lượng Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5%/năm, kinh ngạch xuất khẩu tăng 34,6% Một số trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối khu vực thị trấn, thị tứ được đầu tư xây dựng và nâng cấp, việc quảng bá du lịch gắn với giá trị văn hóa truyền thống được chú trọng, các dịch vụ vận tải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm phát triển mạnh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã góp phần nâng tỷ lệ lao động khu vực này từ 13,31% năm 2005 lên 16% năm 2011

* Yếu tố chính trị

Có thể khẳng định trong những năm qua trên địa bàn tỉnh, chính quyền các cấp không ngừng được củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được nâng lên; sức mạnh đại đoàn kết được phát huy

Hội đồng nhân dân các cấp tích cực đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động; ủy ban nhân dân có nhiều tiến bộ trong quản lý và điều hành Đặc biệt, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Nhà nước Chủ động xây dựng, thực hiện chương trình, kế hoạch, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội Đẩy mạnh xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; từng bước nân cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Về Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã tổ chức và vận động quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, quy chế dân chủ cơ sở, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước Đồng thời tăng cường dạy nghề, giới thiệu việc làm, bồi dưỡng kiến thức khoa học - kỹ thuật, khai thác nguồn vốn và tín chấp cho đoàn viên, hội viên vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh; xây dựng, nhân rộng được nhiều mô hình tiên tiến

* Yếu tố văn hóa - xã hội

Ngày đăng: 23/03/2020, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương (1997), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nghị "quyết Trung ương 2 khóa VIII
Tác giả: Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
2. Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình (2010), Thông tin nội bộ, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin nội bộ
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình
Năm: 2010
4. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình (2011), Thông tin nội bộ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin nội bộ
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình
Năm: 2011
5. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình (2011), Thông báo nội bộ, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo nội bộ
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình
Năm: 2011
6. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình (2011), Thông báo nội bộ, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo nội bộ
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình
Năm: 2011
7. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình (2012), Thông báo nội bộ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo nội bộ
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình
Năm: 2012
8. Cục thống kê Thái Bình (2010), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2009, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Thái Bình năm 2009
Tác giả: Cục thống kê Thái Bình
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2010
9. Cục thống kê Thái Bình (2010), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010
Tác giả: Cục thống kê Thái Bình
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2010
10. Hoàng Văn Châu (2009), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng", Tạp chí Kinh tếđối ngoại, (38) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Dân (2011), Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ "đổi mới và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w