1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 2010)

138 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò nguồn lực con người, Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

= = =* *= = =

NGUYỄN THỊ HOÀN

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THỜI

KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

(1997 – 2010)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

= = =* *= = =

NGUYỄN THỊ HOÀN

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THỜI

KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Triệu Quang Tiến

Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và

có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC (1997 – 2005) 11

1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc….11 1.1.1 Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực 11

1.1.2 Tình kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc tác động tới xây dựng nguồn nhân lực ……… …….20

1.1.3 Tình hình nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc khi Tỉnh mới tái lập 23

1.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương của Đảng xây dựng nguồn nhân lực (1997 – 2005)……….……… 27

1.2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng nguồn nhân lực 27

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng nguồn nhân lực (1997 – 2005) 41

1.2.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc (1997 – 2005) ……….… 45

TIỂU KẾT 57

CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC (2005 – 2010) 59

2.1 Yêu cầu mới trong xây dựng NNL của tỉnh……….…….59

2.1.1 Bối cảnh 59

2.1.2 Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc 61

Trang 5

2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương của Đảng vào xây dựng

và phát triển nguồn nhân lực (2005 – 2010)……… … 63

2.2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 63

2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực (2005 – 2010) 66

2.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc (2005 – 2010)……….72

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC……… …….95

3.1 Một số kết quả trong xây dựng và phát triển nguồn nhân lực…… 95

3.1.1 Thành tựu 95

3.1.2 Hạn chế 106

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu……….111

KẾT LUẬN 122

PHỤ LỤC 124

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một đất nước muốn phát triển cần phải có các nguồn lực: Vốn, khoa học

- công nghệ, tài nguyên và con người Trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kinh tế tri thức, nguồn nhân lực, yếu tố con người giữ vị trí trung tâm

và quan trọng nhất Điều này cũng đã được C.Mác khẳng định rằng: Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Con

người chính là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Con người – nguồn nhân

lực luôn chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực

Ở nước ta, nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định vì nguồn lực tài chính còn hạn hẹp Nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại Nhận thức được vai trò nguồn lực con người, Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững …”, “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định

sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa …”.[15, tr.201]

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước

Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, đầu tư vào địa bàn ngày càng tăng

Trang 8

Trước đòi hỏi của một tỉnh trọng điểm kinh tế, trọng điểm công nghiệp, yêu cầu xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương là hết sức bức thiết Bởi vì, nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Trước những yêu cầu đó, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã tập trung xây dựng, phát triển nguồn nhân lực và đã thu được nhiều kết quả Song cũng còn một số hạn chế và nảy sinh những vấn đề mới Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực trong những năm đẩy mạnh CNH, HĐH là cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn Do đó

tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng và phát triển

nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2010)” làm luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Vấn đề nguồn nhân lực, nguồn nội lực của sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội trong thời kỳ đổi mới được nhiều nhà khoa học và quản lý trong, ngoài nước quan tâm, nghiên cứu, tổng kết Nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế đã bàn về vấn đề này, nhưng chỉ dừng lại ở từng mặt của vấn đề như:

iáo trình inh tế nguồn nhân lực (1998 của P S, TS Trần Xuân Cầu

và P S, TS Mai Quốc Chánh, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Các tác giả đề

cập chủ yếu tới việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và quản lý nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2002) của tác giả Nguyễn Thanh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Tác

giả đã phân tích rõ con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế Đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH cần phải phát triển mạnh

Trang 9

giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người với tư cách là yếu tố cơ bản, là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững

iáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (2002)

của tác giả Trần Khánh Đức, Nxb iáo dục Tác giả nhấn mạnh: Trong xu thế

mở cửa ngày nay, trình độ nhận thức của con người ngày càng cao, con người cần phải có kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình lao động, trình độ lao động Để có thể bắt kịp được các nước, chúng ta cần phải giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp cho người lao động và phát huy vai trò của con người

Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài (2002) của hai tác giả Nghiêm

Đình Vỳ - Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Các tác giả đã

đề cập tới vai trò của giáo dục, đào tạo và khẳng định: iáo dục, đào tạo chiếm vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực (2005) của tác giả Nguyễn Tiệp, Nxb Lao động xã hội,

với nội dung chủ yếu đề cập về các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực như: Khái niệm, vai trò, đào tạo nguồn nhân lực, dự báo và quản lý nguồn nhân lực…

Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế quốc tế và Việt Nam (2005) của tác giả Vũ Bá Thể, Nxb Lao động xã hội Tác

giả cũng đề cập tới việc phát huy nhân tố con người trong thời đại CNH, HĐH đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn lực tài năng, kinh nghiệm của thế giới (2005) của tác giả Trần Văn Tùng, Nxb Thế giới Tác giả nêu rõ: nhân tố

con người gắn liền với yêu cầu phát triển, đổi mới đất nước, con người có vai trò quyết định trong phát triển kinh tế xã hội Với trình độ tri thức của con người Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tài năng con người như thế nào cho có hiệu quả Ngoài ra cần phải biết vận dụng những kinh nghệm của thế giới để xây dựng nguồn nhân lực đạt hiệu quả cao

Trang 10

Còn có hàng loạt các cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung khác nhau của vấn đề nguồn nhân lực như: Tuyển tập các công trình nghiên cứu và báo cáo

khoa học của nhiều tác giả với tiêu đề Từ chiến lược phát triển giáo dục đến

chính sách phát triển nguồn nhân lực (2002 , Nxb iáo dục Cuốn Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay (2002) của Hồ

Anh Dũng, Nxb Khoa học xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người (2002) của TS Lê Quang Hoan, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Nghiên cứu chỉ số

phát triển con người (HDI) của Việt Nam (2008) do P S.TS Đặng Quốc Bảo

chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội

Ngoài ra còn có nhiều bài báo đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Con người nguồn nhân lực, sự nghiệp giáo dục đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (1996) của tác giả Nguyễn Trọng

Bảo đăng trên Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (số 3); “Phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm 2010” (1997 của Nguyễn Thị Hằng trên Tạp chí cộng sản (số 7); “Đi vào thế kỷ XXI phát triển nguồn nhân lực

phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (5-2003) của GS.VS Phạm

Minh Hạc trên Tạp chí Nghiên cứu (số 2); “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2006) của Mạc Văn Tiến trên Tạp chí Lao

động xã hội (số 264); “Quy hoạch nguồn lực quốc gia” (26-11-2011) của Phó

Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trên báo Tiền Phong… Các công trình này đã

đề cập đến đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực trên các phương diện là động lực quan trọng cho sự phát triển, khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên các công trình đó nghiên cứu trên một địa bàn lớn, đề xuất những vấn đề ở tầm vĩ mô, không mang tính đặc thù chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 11

Cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu về nguồn nhân lực như:

“Chiến lược con người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây

dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ năm 1975 đến nay” (1995), luận án tiến sĩ

của Hoàng Thị Hằng Tác giả đã đưa ra những phương hướng, chiến lược, quan điểm của Đảng về việc phát triển vai trò con người trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc

phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt nam hiện nay” (2001), luận án tiến sĩ của Lê Quang Hoan Tác giả đã đưa ra

những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phát huy nguồn lực con

người trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước “Phát triển nguồn nhân lực trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010”

(2002), luận án tiến sĩ kinh tế của Bùi Sĩ Lợi Tác giả đã nêu ra thực trạng và vai trò nguồn nhân lực tỉnh Thanh Hóa, từ đó có những giải pháp xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước “Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa ở Tây Nguyên” (2007), luận án tiến sĩ triết học của Lê Văn

Thanh Tác giả xuất phát từ thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Tây Nguyên

mà đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh…

Có thể thấy vấn đề xây dựng và phát triển nguồn nhân lực là một nội dung rất phong phú Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống chủ trương, sự chỉ đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, dưới góc độ Lịch sử Đảng Từ trước tới nay chưa có công trình nào trùng với luận văn cả về tên gọi và nội dung khoa học

Trang 12

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích luận văn

Phân tích rõ những chủ trương và sự chỉ đạo sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, từ năm 1997 đến năm 2010; từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nêu rõ tình hình nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc khi mới tái lập tỉnh + Phân tích đường lối của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong việc đề ra chủ trương và quá trình chỉ đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương

+ Phân tích thành tựu và hạn chế trong xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010

+ Tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng và

phát triển nguồn nhân lực

- Phạm vi

+ Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

+ Thời gian từ năm 1997 đến năm 2010

+ Chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

- Cơ sở lý luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về vấn

đề nguồn nhân lực với sự phát triển của xã hội

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết những nhiệm vụ trên, luận văn

sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh Đây là những phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn

- Nguồn tư liệu: Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, một số sách, công trình nghiên cứu, tài liệu tham khảo chuyên ngành liên quan tới vấn đề nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

6 Đóng góp của luận văn

- Trình bày, phân tích một cách hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng

về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH từ năm 1997 đến năm 2010

- óp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ địa phương; tổng kết một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng ở các trường Đại học, Cao đẳng …

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được chia làm 3 chương, 6 tiết:

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

về xây dựng nguồn nhân lực (1997 – 2005)

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực (2005 – 2010)

Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

Trang 14

Chương 1:

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC (1997 – 2005) 1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc

1.1.1 Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực

1.1.1.1 hái niệm

NNL có nhiều cách giải thích khác nhau:

Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Ngân hàng thế giới coi NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi

cá nhân

Còn dưới góc độ kinh tế chính trị học: Thuật ngữ NNL được Bộ Lao động -Thương binh xã hội xác định: NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội Theo cách giải thích này, NNL được xác định bằng

số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế

Theo iáo trình inh tế phát triển - Trường đại học Kinh tế quốc dân,

(2011) của GS TS Phạm Ngọc Linh, có giải thích: NNL là một bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của luật pháp và có khả năng tham gia lao động NNL được biểu hiện trên hai mặt Về số lượng đó là tổng

số người trong độ tuổi lao động và tham gia làm việc có thể huy động được Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước (kể cả cận trên và cận dưới) rất khác nhau tùy theo yêu cầu của độ phát triển của nền kinh tế xã hội

ở từng giai đoạn Ở Việt Nam trước đây, độ tuổi lao động quy định đủ từ

Trang 15

15-60(nam , và đủ từ 15-55(nữ , điều này được ghi trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về chất lượng NNL đó là trình độ chuyên môn và sức khỏe của người lao động

Thông thường, NNL được xem xét, đánh giá trên các phương diện số lượng, chất lượng, cơ cấu Số lượng NNL được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển NNL Chất lượng NNL là tổng thể những đặc trưng, phản ánh bản chất, đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động trực tiếp sản xuất và phát triển của con người Đó là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đạo đức, lối sống và tinh thần của NNL

Tuy nhiên, khi tính toán nguồn lao động xã hội thì Tổng cục thống kê cho rằng: Nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động có kỹ năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Như vậy, khác nhau cơ bản giữa những khái niệm này là việc tính hay không những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc ở các ngành kinh tế quốc dân trong nguồn lao động

Ở Việt Nam hiện nay đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn nhân lực bao gồm những người đủ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (bao gồm cả những người trên độ tuổi quy định của Bộ Lao động, nhưng thực tế vẫn đang tham gia quá trình lao động và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm do đang trong trạng thái thất nghiệp, đang đi học, đang đảm đương nội trợ trong gia đình và kể cả không có nhu cầu làm việc trong thời điểm hiện tại Như vậy nguồn nhân lực là một bộ phận dân cư có khả năng về thể chất và tinh thần có thể tham gia vào quá trình lao động theo luật định

Trang 16

Theo đó, khái niệm lực lượng lao động hẹp hơn khái niệm nguồn lao động (nguồn nhân lực) Theo ILO (international labour organization) – Tổ chức lao động quốc tế: lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không

có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm

Từ những nhận xét nêu trên, theo tôi NNL của một quốc gia hay một vùng, một lĩnh vực, một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một thời điểm xác định Tiềm năng đó bao hàm cả thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc) của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc NNL được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể NNL chính

là nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể

Như vậy, NNL được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc Số lượng NNL ở nước ta được biểu hiện bằng số người từ

đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và những người trên độ tuổi lao động đang tham gia vào hoạt động kinh tế Chất lượng NNL được thể hiện bằng các chỉ tiêu về thực trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn

1.1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực

Nhân lực chính là nguồn lực về con người Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc quan niệm về con người dưới góc độ sinh học, triết học, kinh tế học dựa vào khái niệm sức lao động của Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần trong một cơ thể con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một

Trang 17

giá trị sử dụng nào đó” [9, tr.24] Từ đó Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [7, tr.11] Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người về chính trị, đạo đức, pháp quyền, kinh tế, trong đó quan hệ sản xuất có ý nghĩa quyết định) Bằng quan điểm thực tiễn, chủ nghĩa Mác đã

lý giải một cách khoa học và hệ thống, chứng tỏ con người là một thể thống nhất trong mặt sinh vật và xã hội Con người với tư cách là những cá nhân độc lập nhưng luôn sống trong mối quan hệ của hình thức cộng đồng, cộng đồng giai cấp, cộng đồng dân tộc, cộng đồng nhân loại

Như vậy có thể nói, trong quan niệm các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, thực chất tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người,

vì sự phát triển của con người “Con người cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó làm chủ tự nhiên, làm chủ của cả bản thân, trở thành người tự do” [8, tr.333] Đó chính là quá trình mà nhân loại tự tạo những điều kiện, khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát triển cho mỗi con người trong cộng đồng nhân loại, là sự đúng đắn của triết học Mác về con người, cũng là hạt nhân cơ bản để chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành khoa học vì con người

Nói về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội, các nhà sáng lập

ra chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, bao gồm con người và những công cụ lao động do con người sáng tạo ra Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Mác đã khẳng định: Con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Đặc biệt ngày nay, vấn đề con người có vị trí cao nhất và bao trùm,

là chiến lược của mọi chiến lược, là yếu tố đặt ra động lực để tiến hành đổi

Trang 18

mới xã hội Phát huy nhân tố con người, phát triển con người, nguồn nhân lực chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy

đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất trong sự phồn vinh, thịnh vượng của mỗi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là

cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những nhận định độc đáo về con người Con người không phải là cá nhân biệt lập mà là những con người xã hội, là thành viên của một cộng đồng nhất định Cộng đồng đó chính là gia đình, họ tộc, làng xóm, đất nước và đến cả nhân loại “Con người là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và hoạt động, mang bản chất xã hội - lịch sử,

là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần trong xã hội” [33, tr.24-25]

Với quan điểm rất giản dị và sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa những tư tưởng của nhân loại, kế thừa sáng tạo lý luận Mác - Lênin về con người Từ đó Người đã có những căn dặn xây dựng con người gắn liền với xây dựng đất nước Khi nói đến con người với tư cách là “người chủ xã hội”,

là cái “vốn quý nhất”, là lực lượng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Người không chỉ nói đến trí tuệ, tài năng, sức khỏe của con người, mà nói đến các yếu tố khác trong con người, trong đó có những giá trị xã hội được kết tinh trong bản thân từng con người thông qua hoạt động thực tiễn Người chỉ

ra rằng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng XHCN thì phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa [31, tr.303] Người luôn luôn quan tâm, chú trọng xây dựng nhân tố con người Con người chính là chủ thể của xã hội, chủ thể của lịch sử Vì vậy việc phát

Trang 19

huy nhân tố con người cũng chính là phát huy NNL, nhân tố con người phải trở thành NNL, nguồn lực sinh ra các nguồn lực khác

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta có đưa ra định hướng phát triển trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” [15, tr.163] Về thực chất đó là sự phát triển vì con người, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho quần chúng nhân dân Mọi sự phát triển của xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều do con người quyết định và đều

vì sự phát triển của con người CNH, HĐH vì mục tiêu phát triển con người, Đảng ta cũng đã khẳng định: Chỉ có thể thắng lợi với việc phát huy cao độ nguồn nhân lực Để phát triển nguồn nhân lực ấy, làm nó trở thành yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững, trước hết chúng ta phải nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người

Phát huy nhân tố con người có thể hiểu đó là quá trình phát hiện, sử dụng những tiềm năng sáng tạo của con người vào quá trình biến đổi và phát triển

xã hội, tạo ra các động lực, môi trường thuận lợi nhằm kích thích tính độc lập,

tự chủ, sáng tạo của mỗi cá nhân để nhận được sự cống hiến tối đa nhất Đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát huy nhân tố con người phải biểu hiện ở chất lượng cao của NNL “Sức mạnh con người Việt Nam phải thể hiện thành sức mạnh đội ngũ nhân lực, trong đó các bộ phận nhân tài, trên nền sức mạnh dân trí với cốt lõi nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân

tộc” [20] Việc phát huy nhân tố con người là một quá trình gồm hai mặt tích

Trang 20

cực hóa nhân tố con người trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng nhân

tố con người Tích cực hóa nhân tố con người là quá trình phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người Còn nâng cao nhân tố con người là hướng vào gia tăng giá trị về phẩm chất xã hội Đây chính là nguồn lực để phát sinh ra các nguồn lực khác

Từ những quan niệm trên, NNL có rất nhiều đặc trưng cơ bản và được phân thành nhiều loại Như NNL sẵn có, NNL tham gia vào hoạt động kinh tế

và NNL dự trữ Việc phân loại nguồn nhân lực đã chỉ rõ cho thấy lực lượng nào tham gia lao động, lực lượng nào trong độ tuổi lao động nhưng không tham gia lao động Điều này cho thấy NNL có vai trò quan trọng trong việc góp phần vào dựng xây đất nước Đặc biệt trong thời đại ngày nay, thời đại CNH, HĐH đất nước phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với khoản đầu tư cho sự phát triển con người, cho sự phát triển về nhân cách, trí lực, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi thành viên và cộng đồng Chính việc đầu tư cho phát triển con người sẽ làm tăng tính tích cực, tự giác, năng lực làm chủ

và khả năng sáng tạo của mỗi người, khơi dậy và phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

NNL không phải chỉ trong thời đại CNH, HĐH mới có vai trò mà nó có

từ trong quá trình kháng chiến, dựng xây đất nước Con người chính là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Ở Việt Nam, con người là nhân tố sáng tạo ra đất nước Việt Nam, là chủ thể quan trọng có thể giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh thắng đế quốc Pháp, Mỹ Đặc biệt trong quá trình CNH, HĐH ngày nay ở nước ta, chúng ta phải nhận thực một cách sâu sắc giá trị to lớn và những ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, thấy rõ được vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế, con người ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò “Chủ thể trong mọi sáng tạo, mọi nguồn của vật chất và văn hóa, mọi

Trang 21

nền văn minh của các quốc gia” [12, tr.5] Con người là điểm khởi đầu cũng

là cái đích của sự phát triển

Con người Việt Nam với tư cách là động lực, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội được hiểu theo nghĩa con người không chỉ là kết quả của sự nghiệp CNH, HĐH mà còn là chủ thể tích cực của quá trình đó, bản thân con người là động lực, là nội lực của sự phát triển ấy Hoạt động của con người trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991), Đảng ta đã khẳng định: Việc phát triển toàn diện con người Việt Nam không chỉ là mục tiêu của công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng XHCN, mà con người là động lực mạnh mẽ nhất đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi Con người là chủ thể của xã hội, chủ thể của mọi hoạt động làm biến đổi xã hội Do vậy, con người đã được coi là động lực của mọi sự phát triển Trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”, Đảng ta xác định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển vì con người,

do con người Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm” [16, tr.337] Cần phải có những con người phát triển toàn diện làm nền tảng cho nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình phát triển đất nước Vai trò quyết định của nhân tố con người, nguồn nhân lực đến tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế được biểu hiện cụ thể, cơ bản trong quá trình phát kinh tế và sự biến đổi về chất lượng của đời sống tinh thần xã hội

Để đảm bảo vai trò NNL, chúng ta cần phải phát huy nhân tố con người, phát triển NNL Đây là quá trình biến đổi của NNL nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, là sự phát triển tiến bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực thể chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao hoàn thiện cả về đạo đức, tay nghề, cả

Trang 22

về tâm hồn và hành vi, từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, công cuộc này đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, nguồn “tài nguyên vô giá”, vô tận của đất nước, phải đổi mới cách nhìn, cách nghĩ về vai trò, động lực, mục tiêu của con người trong CNH, HĐH Thực hiện chiến lược phát triển con người, xây dựng phát triển NNL phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một công cuộc cách mạng - cách mạng về con người Chính cuộc cách mạng con người sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ CNH, HĐH, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước Kinh tế - xã hội ổn định và phát triển sẽ tạo ra những tiền

đề thắng lợi để nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, tạo ra những điều kiện để quyết định một cách vững chắc những nhu cầu và lợi ích của từng cá nhân trong cộng đồng Kinh tế càng phát triển, các giá trị nhân văn càng có cơ sở đề cao Với ý nghĩa đó, con người Việt Nam không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của quá trình CNH, HĐH đất nước Con người là yếu

tố của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, để con người thực hiện được những nhiệm vụ trên, đáp ứng ngày càng tốt hơn những đòi hỏi ngày càng mới của sự nghiệp CNH, HĐH, con người Việt Nam phải có những phẩm chất cần thiết Họ cần được giáo dục, đào tạo chu đáo cả về trình độ khoa học – kỹ thuật, cả về nhân cách và đạo lý làm người Đây là vấn đề không chỉ mang tính cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài

- chiến lược xây dựng phát triển NNL

Trang 23

1.1.2 Tình kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc tác động tới xây dựng nguồn nhân lực

Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập ngày 01-01-1997, nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Việt Nam Theo tổng điều tra dân số tháng 4-2009, Vĩnh Phúc có dân số 1.000,8 triệu người, diện tích hơn 1.231 km2 Có ví trí địa lý thuận lợi, phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang… Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi cho giao thương phát triển kinh tế - xã hội với tổng chiều dài đường bộ khoảng 1500km, cùng với con đường xuyên Á chạy qua; có đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi tỉnh Vân Nam (Trung Quốc ; đường thuỷ phát triển mạnh trên các tuyến Sông Hồng, Sông Lô và sông Phó Đáy

Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và bảy huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc và Sông Lô Trong đó thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 25km Là tỉnh đồng bằng, là miền chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Với vị trí như vậy, Vĩnh Phúc có ba loại hình chính: Địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng Điều này khá thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp và cây công nghiệp Với hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện cho phát triển nghề nuôi cá nước ngọt

và tạo ra môi trường cảnh quan thiên nhiên Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc của đất nước, Vĩnh Phúc đã thu hút được nhiều vốn đầu tư của nước ngoài nên rất nhiều khu công nghiệp mọc lên, như khu công nghiệp Khai Quang, khu công nghiệp Bình Xuyên, khu công nghiệp Bá Thiện…

Trang 24

Bên cạnh những tiềm năng về nông nghiệp và công nghiệp, Vĩnh Phúc

là vùng đất cổ với nhiều di tích lịch sử văn hóa, lại được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan kỳ thú, đó là những tiềm năng to lớn về phát triển ngành

du lịch và dịch vụ Tỉnh có 967 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng quốc gia, nhiều di tích có giá trị về lịch sử, mỹ thuật như tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn, cụm đình Hương Canh, đình Thổ Tang, di chỉ Đồng Đậu,… và nhiều lễ hội truyền thống như chọi trâu, cướp phết… Là tỉnh có đội ngũ lao động dồi dào chiếm 67% trong tổng số dân của tỉnh, chủ yếu là lao động trẻ có trình độ đáp ứng nhu cầu phát triển CNH, HĐH của tỉnh Do những điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua, kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc phát triển nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng DP trung bình năm trong thời kỳ 1998 - 2000 khá cao, đạt 18,12%

Vĩnh Phúc nổi tiếng là vùng quê văn hiến có truyền thống lịch sử vẻ vang, rất giàu tiềm năng và đang vươn lên mạnh mẽ, hòa nhịp cùng với sự thay đổi của cả nước, nơi đây được xem là vùng đất có nhiều anh hùng, những danh nhân tiêu biểu cho truyền thống văn hóa lịch sử dân tộc, đặc biệt là vùng

có truyền thống về đấu tranh chống giặc ngoại xâm với những tên tuổi như Hai Bà Trưng, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Thái Học Con người Vĩnh Phúc luôn luôn tự hào về những truyền thống của quê hương mình, truyền thống đó

đã được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời lãnh đạo cuộc chiến đấu chống đế quốc, phong kiến giành độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc tự hào là một Đảng bộ ra đời khá sớm Liền sau

đó, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành nhiều chiến công hiển hách trong việc giành và giữ chính quyền trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Thời kỳ đổi mới, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã nhận thức rõ đặc điểm kinh tế - xã hội, những thuận lợi, khó khăn của tỉnh trên cơ sở vận dụng năng

Trang 25

động, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương nhằm phát huy nguồn lực con người tạo nhân tố tích cực cho xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Sau hơn 10 năm tiến hành đổi mới đến ngày tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, kinh

tế - xã hội của tỉnh đã đi vào ổn định và từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng được đầu tư tốt hơn; đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao; văn hóa, giáo dục được quan tâm, chăm lo và đạt những tiến bộ đáng kể Vận dụng và quán triệt chủ trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ thực hiện CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc ngay từ khi được tái lập đã luôn quan tâm lãnh đạo sâu sát sự nghiệp chăm lo đời sống cho nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội

Vượt qua những khó khăn, thách thức ban đầu sau ngày tái lập, được sự quan tâm và lãnh đạo của Trung ương Đảng, sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, nền kinh tế xã hội của Tỉnh sau gần một năm tái lập thực sự có những chuyển biến rõ rệt và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Sự ổn định và từng bước

phát triển về kinh tế đã tác động không nhỏ về mặt xã hội Các lĩnh vực như

văn hóa, giáo dục cũng có những chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp giáo dục phát triển cả về chất lượng chuyên môn cũng như cơ sở vật chất, các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng được triển khai có hiệu quả, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ Đồng thời cũng đòi hỏi một lực lượng lao động không ngừng phát triển về chất lượng và hợp lý về số lượng để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của Tỉnh

Với những kết quả đã đạt được trong những năm qua, kết hợp với những quyết sách đúng đắn trong việc phát triển kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc, đây cũng là điều thuận lợi cho Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển

Trang 26

kinh tế xã hội, thu hút đầu tư và sử dụng một lực lượng lớn lao động Điều này tác động mạnh tới việc xây dựng NNL của tỉnh, đồng thời hoàn thành mục tiêu, định hướng phát triển đến năm 2020 và xây dựng nền kinh tế phát triển theo hướng phát triển bền vững

1.1.3 Tình hình nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc khi Tỉnh mới tái lập

Về quy mô và tốc độ tăng NNL: Số lượng nhân lực là một điều kiện

thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH ở nước ta nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có lực lượng lao động khá dồi dào,

thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước

Năm 1996, dân số của Tỉnh là 1.054.899 người, năm 1997 dân số tăng lên là 1.068.830 người với mật độ gần 786 người/km2 Vĩnh Phúc là tỉnh có mức độ tăng dân số tự nhiên ở mức trung bình 1,4% (1996 và 1,32% (1997 Với điều kiện đó, hàng năm Vĩnh Phúc có một số lượng lớn người đến độ tuổi lao động Nếu như năm 1996, Tỉnh có 599.190 lao động thì đến năm 1997, số lao động đã là 621.850 người, chiếm 58,1% dân số trong Tỉnh Số người có nhu cầu làm việc tăng khoảng 2% mỗi năm Tỷ lệ này tương đương với mức bình quân chung của cả nước Trung bình một năm Tỉnh được bổ sung trên 15 nghìn lao động Ngoài ra phải kể đến những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có làm việc cũng tăng lên Như vậy, số lượng lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào Đây là một trong những nhân tố thuận lợi nếu Tỉnh biết sử dụng một cách hợp lí, triệt để và có hiệu quả Ngược lại, nếu không giải quyết tốt số lượng lao động dồi dào này thì đây là một nhân tố kìm hãm quá trình phát triển của Tỉnh

Thực trạng chất lượng NNL: Là tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi, là

trung tâm kinh tế vùng đồng bằng phía Bắc, là nơi giao lưu thông thương giữa Thủ đô với các tỉnh miền núi phía Bắc Là một tỉnh đất rộng, người đông

Trang 27

nhưng chất lượng NNL không cao nên không tạo điều kiện thuận lợi phát

triển kinh tế - xã hội

Quy mô, cơ cấu, chất lượng NNL chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số: Cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hưởng quyết định đến quy

mô và cơ cấu NNL

Vĩnh Phúc là tỉnh có quy mô dân số vào loại trung bình Năm 1997 dân

số toàn tỉnh là 1.068.830 người, có đến 86,6% dân số ở khu vực nông thôn với phương thức lao động thủ công truyền thống, phân tán và thiếu công cụ, cấu trúc hạ tầng kém phát triển, cơ cấu kinh tế thuần nông là chủ yếu, đời sống vật chất tinh thần còn thấp Phần lớn lao đông nông thôn làm việc theo kinh nghiệm, lực lượng lao động nông thôn có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp với khoảng gần 3% lao động có trình độ từ sơ cấp học nghề trở lên

Thực trạng sức khỏe của lao động cũng nằm trong xu thế chung của cả nước do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, điều kiện sống chưa tốt cùng với sự thiếu hụt những kiến thức về chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế về thể lực cũng như tầm vóc người lao động so với nhiều nước trên thế giới Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế, năm 1995, chiều cao trung bình của học sinh nam 15 tuổi ở nước ta là 147cm, cân nặng là 34,4kg thấp hơn học sinh nam Thái Lan tương ứng là 2cm và 6kg; thấp hơn học sinh nam Nhật Bản là 9cm chiều cao và gần 9kg cân nặng Thực trạng sức khỏe của lao động tỉnh Vĩnh Phúc với lao động cả nước về chiều cao, cân nặng, dinh dưỡng ở mức độ trung bình, thấp hơn một số đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng nhưng lại cao hơn các tỉnh miền núi phía Bắc

và ngang bằng với một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ

Trình độ học vấn của lực lượng lao động Vĩnh Phúc là khá cao và có những chuyển biến tích cực Cơ cấu NNL phân theo bậc học cũng có những

Trang 28

điểm tích cực Tỷ lệ đã tốt nghiệp Tiểu học và THCS năm 1996 - 1997 là 97%, đã tốt nghiệp THPT là 78% Tuy vậy, trình độ học vấn của lực lượng lao động chưa thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay

Nguồn lao động của tỉnh là 599.190 người Số lao động từ 15 - 35 tuổi (năm 1996 là 385,86 nghìn người chiếm khoảng 64,3% số người trong độ tuổi lao động Là đội ngũ trẻ năng động, sáng tạo, tiếp cận nhận nhanh với tiến bộ khoa học kỹ thuật nên đây là bộ phận có kỹ năng cho hiệu quả cao nhưng số người tham gia lao động lại không nhiều, đặc biệt chất lượng nguồn lao động (NNL chưa cao, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (5,26%) Sự phân nguồn lao động cũng không đồng đều Tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản cao Còn số người tham gia lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn chiếm tỷ lệ quá thấp Chính sự phân bố dân cư không đồng đều và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng

và miền núi như: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên là những nơi có mật

độ dân số cao, trong khi đó các huyện miền núi như Lập Thạch, Sông Lô có mật độ dân số thấp đã trực tiếp ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh

Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế có sự chênh lệch quá lớn, chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình chuyển dịch cơ cấu Bảng 1.1: Cân đối lao động xã hội năm 1997 (Đơn vị: nghìn người)

Trang 29

Dưới độ tuổi lao động 14,58 15,90

II Phân phối nguồn lao động

1 Lao động đang làm việc trong các

2 Số người trong độ tuổi lao động có

3.Số người trong độ tuổi lao động có

4.Số người trong độ tuổi lao động có

khả năng lao động không có việc làm và có

nhu cầu làm việc đang không có việc làm

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 1997, Nxb Thống kê)

Lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ lệ khá cao và có

sự tăng lên qua các năm Trong khi đó, công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, tuy rằng có sự tăng lên qua các năm nhưng chưa cao Để trở thành khu một công nghiệp trọng điểm của cả nước, lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ chủ yếu Do vậy, Đảng bộ tỉnh cần phải có chính sách phát triển kinh tế hợp lý Lao động nông, lâm nghiệp – thủy sản giảm, lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng, kéo theo đó là cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế cũng có sự phát triển tương ứng

Trang 30

Do chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh chưa cao, số người qua học vấn, đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn ít, đặc biệt là đội ngũ có trình độ chuyên môn, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề còn thiếu Chất lượng lao động có sự chênh lệch giữa các ngành kinh tế Lao động có trình độ cao tập trung ở các ngành dịch vụ như: Quản lý nhà nước, giáo dục – đào tạo, tài chính - ngân hàng, lao động có trình

độ cao trực tiếp sản xuất còn ít….Việc phân bố nguồn lao động cũng không đồng đều giữa các vùng tạo nên sự chênh lệch giữa các vùng lực lượng lao động

Như vậy, dân số của tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu sống ở vùng nông thôn, lao động chủ yếu là lao động nông - lâm - thủy sản Vĩnh Phúc có nguồn lao động phong phú, dồi dào là một tiềm năng lớn cho phát triển các ngành kinh tế của Tỉnh đặc biệt là đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH Tuy nhiên, có thể thấy rằng năng suất lao động nhất là trong nông nghiệp còn thấp, trình độ tay nghề lao động còn kém, lao động chưa qua đào tạo không có trình độ chuyên môn kĩ thuật còn chiếm tỷ trọng cao Do đó, xây dựng và nâng cao chất lượng NNL đảm bảo cho sự phát triển trong những năm đầu tái lập tỉnh trở thành vấn đề gay gắt, nổi cộm được Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc quan tâm chỉ đạo

1.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương của Đảng xây dựng nguồn nhân lực (1997 – 2005)

1.2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng nguồn nhân lực

Ngay từ khi chúng ta tiến hành công việc đổi mới đất nước, NNL ở

nước ta đã có nhiều biến đổi cả về số lượng, chất lượng lẫn cơ cấu đáp ứng

cho quá trình CNH, HĐH đất nước

Về số lượng, có thể nói, NNL ở nước ta đã phát triển một cách đáng kể Điều đó trước hết là do sự gia tăng dân số kể từ khi chúng ta thống nhất đất nước, nhất là khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới Theo niên giám thống

Trang 31

kê năm 1995 và năm 1997 của Tổng cục thống kê, dân số nước ta từ 59.872.000 người (năm 1986 lên 76.709.000 người (năm 1997 ; trong đó lực lượng lao động từ 27.398.000 người (năm 1986 lên 36.994.000( năm 1997 [67]

Năm 2000, Báo Thanh niên số ra ngày 29-12-2000 có viết: dân số nước

ta là 77.658.500 người, tăng 1.080.000 người so với năm 1999 trong đó nam chiếm 49,2%, nữ chiếm 50,8%; dân số thành thị là 18.619.900 người, nông thôn 59.065.600 người (chiếm 76%) Số người trong độ tuổi lao động tăng khá nhanh Tốc độ tăng dân số và lực lượng lao động của nước ta vào loại khá cao, hơn nữa tăng liên tục Do vậy, nguồn bổ sung vào đội ngũ lao động cũng rất lớn Theo dự báo của Tổng cục thống kê: “Sau năm 2000 tốc độ gia tăng lao động của nước ta ở mức 3%/năm Dân số nước ta được xếp loại dân số trẻ Kết quả tổng điều tra dân số và việc làm cho thấy dân số chưa đến độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi) chiếm 40,4%, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (19-59 tuổi là 51,5% và ngoài độ tuổi lao động là 8,1% Số lao động đang làm việc

hiện nay là 38,5 triệu người, gần bằng 50% số dân” [46, tr.87] Như vậy, có

thể nói, trong suốt thời kỳ chúng ta tiến hành CNH, HĐH đất nước, nguồn lao động của nước ta luôn tăng Đây là một điều thuận lợi cho việc cung cấp số lượng lao động, song một khó khăn không nhỏ một khi nền sản xuất xã hội của ta không đáp ứng đủ việc làm cho mọi người lao động

CNH, HĐH với quy mô dân số đông, lực lượng lao động dồi dào đó là sức mạnh, là yếu tố cơ bản để để chúng ta đẩy nhanh tốc độ phát triển Song, với một nước chậm phát triển như nước ta, thêm đó là những hạn chế về nguồn vốn, trang thiết bị, nguyên và nhiên vật liệu, cơ sở hạ tầng,… thì một khi nguồn lao động đã dư thừa lại tăng với tốc độ lớn sẽ gây ra sức ép về việc làm rất lớn Thực trạng thừa lao động, thiếu việc làm đang là vấn đề mà Đảng

và Nhà nước ta quan tâm

Trang 32

Về cơ cấu, NNL ở nước ta theo số liệu thống kê năm 1997 của Tổng cục thống kê đã cho thấy trình độ phân công lao động thấp kém của một nền nông nghiệp lạc hậu Lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm tới 73%, trong khi lao động trong các trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chỉ có 27% Cơ cấu lao động được đào tạo giữa các ngành, các vùng và giữa các trình độ có sự chênh lệch Nông thôn chiếm gần 80% dân số lao động nhưng chỉ chiếm 47,38% lực lượng lao động được đào tạo trong cả nước Trong 73% số lao động làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, số người được đào tạo chiếm 7% [13, tr.87] Số lao động có trình độ kỹ thuật cao cũng được phân bố không hợp lý, chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Thành phố

Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác Có thể nói rằng, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu là lao động cơ bắp, lao động trí tuệ chiếm tỷ lệ nhỏ Năm 1997 lao động trí tuệ nước ta là 7,9%, lao động chân tay là 92,1%

Về trình độ của lực lượng lao động thì theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê đến năm 1997, tỷ lệ lao động được đào tạo mới chỉ chiếm 14,3% Cơ cấu giữa các ngành nghề đào tạo, cơ cấu đại học, cao đẳng; TCCN; công nhân kỹ thuật còn bất hợp lý, cơ cấu này hiện nay của tỉnh là 1 - 1,4 - 4,4 Chất lượng của người lao động là cái chủ yếu đem lại sức mạnh cho NNL Chất lượng đó được thể hiện ở thể lực, trí lực của người lao động Về thể lực, tầm vóc và thể lực người Việt Nam đang được cải thiện dần về cả chiều cao, cân nặng và tuổi thọ Về trí lực, nhìn chung người Việt Nam được đánh giá có tư chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh Song, năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp của người lao động nước ta vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH Năm 1997, số người lao động được đào tạo mới chỉ chiếm khoảng 7% dân số và 14,3% tổng

số lao động cả nước Trình độ lao động qua đào tạo ở các bậc trên đại học là

Trang 33

0,3%; Đại học và cao đẳng là 20,1%, trung học chuyên nghiệp 35,8%, công nhân kỹ thuật có bằng cấp là 24,4%, công nhân kỹ thuật không bằng cấp là 19,4% Năm 2002 nước ta có khoảng 900.000 lao động có trình độ trên đại học, đại học và cao đẳng (chiếm 2,43% lực lượng lao động xã hội Trong đó,

số người có trình độ trên đại học khoảng 10.000 người (Chiếm khoảng 0,027% lực lượng lao động xã hội) [25] Điều này cho thấy chất lượng NNL của ta còn hạn chế

Do những đòi hỏi mới trong quá trình CNH, HĐH, đội ngũ công nhân công nghiệp phải trở thành trụ cột Song, đội ngũ này ở nước ta hiện nay không những nhỏ bé về số lượng mà còn yếu về chất lượng Vì vậy, để có được NNL chất lượng, đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước cần phải có những chính sách về phát triển kinh tế - xã hội

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta một lần nữa khẳng định chủ trương “phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [11, tr.13]

Đặc biệt từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) với đường lối tiến hành CNH, HĐH đất nước thì vai trò của phát triển NNL lại càng được nhấn mạnh Đảng đã khẳng định CNH, HĐH là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cách mạng con người, vì con người và do con người bởi khi nói về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội chúng ta phải khẳng định “những ưu việt ấy không ai đưa đến cho chúng ta, cũng không thể tự nhiên mà có Đó là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta, với những con người phát triển cả về trí

Trang 34

lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về

đạo đức, tình cảm trong sáng” [12, tr.5-6]

Vì vậy, để đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa và đưa sự nghiệp cách mạng thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nước ta, chúng ta không thể không phát triển con người Đó là động lực mạnh mẽ nhất Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [14, tr.21]

Chăm lo, phát triển nguồn lực con người là một định hướng lớn trong chiến lược phát triển đất nước được đề cập đến trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội VIII (6-1996 , trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các phương hướng phát triển trí tuệ, thể chất của con người Việt Nam

Về phát triển trí tuệ của người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ phải được quan tâm đầu tư phát triển, chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại để góp phần đắc lực vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người

iáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Bằng nhiều hình thức đa dạng bảo đảm cho mọi người được học, nhất là người nghèo và con em các gia đình thuộc diện chính sách Động viên phong trào toàn dân thi đua xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập tiểu học trong cả nước và phổ cập trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện Cải tiến chất lượng dạy và

Trang 35

học, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện đại, phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước

Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể Song song với phát triển kinh tế, chăm lo cho việc ăn, ở của dân ngày càng tốt hơn, các ngành y tế, thể dục thể thao, dân số và kế hoạch hóa gia đình phải làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân Trong đó, phải rất quan tâm xây dựng và củng cố hệ thống y tế cơ sở, làm tốt công tác y tế dự phòng, phòng chống các bệnh dịch, chăm sóc sức khỏe bà mẹ

và trẻ em, phát động rộng rãi phong trào thể dục thể thao quần chúng Phải đổi mới cơ chế và thái độ phục vụ, động viên thỏa đáng và sử dụng có hiệu quả những nguồn tài chính dành cho hoạt động y tế Bảo đảm cho những người nghèo, những người trong diện chính sách được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh được giảm hoặc miễn phí

Từ năm 1996, Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết về phương hướng, mục tiêu, điều kiện và giải pháp thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, thể hiện rõ quan điểm của Đảng về vấn đề phát triển NNL, nhấn mạnh: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [14, tr.85] Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo

Trang 36

dục là nhằm xây dựng những con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu; iáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh; Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo; Giữ vai trò nòng cốt của nhà trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục - đào tạo, trên

cơ sở nhà nước thống nhất quản lý Phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ ; phát triển NNL phải là sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội bằng nhiều biện pháp trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt; mọi kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không thể tách rời với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng Việt Nam, cho xây dựng và phát triển NNL nhiều về số lượng, mạnh về chất lượng

Những quan điểm, chủ trương trên của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng NNL, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng đất nước

Trên cơ sở đó, Đảng đã xác định rõ những định hướng mang tầm chiến lược trong việc phát triển NNL

Thứ nhất: Gắn việc phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế - xã hội

Để có được những con người phát triển toàn diện, đủ sức đáp ứng những đáp ứng ngày càng của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì việc đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế - xã hội để ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh

Trang 37

thần cho người lao động cần phải được coi là nhiệm vụ cấp bách và mang tính quyết định Và để có NNL có chất lượng trước hết chúng ta cần phải giải quyết những vấn đề sau:

+ Một là: Kết hợp nâng cao đời sống vật chất với đời sống tinh thần của người lao động

“Đối với con người hưởng thụ không thể tách rời cống hiến, phần cống hiến phải nhiều hơn phần hưởng thụ, bên cạnh nhu cầu vật chất còn có nhu cầu tinh thần” [74, tr.21] Do vậy, nâng cao đời sống vật chất là điều tất yếu bằng cách Nhà nước có những chính sách phát triển kinh tế đất nước Bên cạnh đó cần phải nâng cao đời sống tinh thần, đẩy mạnh quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng là một trong những giải pháp góp phần hoàn thiện con người Việt Nam Xã hội ngày càng hiện đại, văn minh, nhu cầu tinh thần văn hóa đòi hỏi phải được đáp ứng Bởi nó là cái cấu thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần xây dựng con người Việt Nam với đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, thể lực cường tráng, trí lực phát triển, đủ sức đáp ứng nhu cầu của thời đại

Vấn đề tạo ra một môi trường thuận lợi về kinh tế, văn hóa và xã hội để phát triển con người Việt Nam hiện nay, nhằm phát triển một NNL có chất lượng cho giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, đòi hỏi chúng ta phải thể hiện tốt các chính sách văn hóa vì con người, vì cuộc sống đích thực của con người Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng đã chỉ rõ: “Chính sách xây dựng đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [11, tr.13]

+ Hai là: Kết hợp phát triển kinh tế với việc giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội

Trang 38

Hiện nay vấn đề công bằng là một vấn đề đang nổi lên cần tập trung giải quyết trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự phân hóa giàu nghèo Ở nước ta, thời gian qua quá trình phân hóa đó diễn ra khá mạnh mẽ, gây bất bình trong nhân dân, có nơi diễn ra mất ổn định về mặt chính trị Vấn

đề dẫn đến mất công bằng xã hội Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau như:

Cơ chế chính sách không hợp lý, pháp luật thiếu đồng bộ và không liêm minh, quản lý nhà nước có nhiều sơ hở… Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải giải quyết một cách đồng bộ hàng loạt các giải pháp có liên quan đến chính sách, đến pháp luật, đến cơ chế quản lý

+ Ba là: Đẩy mạnh xây dựng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN

Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là vấn đề có tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần góp phần tạo nên sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất, kinh doanh, nâng cao tính tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người Việc cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi tất cả mọi người không ngừng nâng cao trình độ của mình để có thể sáng tạo, tiếp thu kỹ thuật mới, công nghệ mới, phương pháp mới Có thể nói, cạnh tranh trên thị trường phải luôn sáng tạo ra những mặt hàng mới, đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh hàng hóa trên thị trường Đây cũng quá trình tạo ra những con người Việt Nam mới, tạo ra một đội ngũ những người lao động có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

+ Bốn là: Kết hợp phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

Trang 39

Đây là vấn đề có tính thời đại Việc kết hợp sự phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ với quá trình mở rộng mối quan hệ kinh tế quốc tế có vai trò to lớn trong việc xây dựng con người Việt Nam mới, phát triển NNL đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH Điều này một mặt giúp cho người lao động phát huy được tính tự tôn dân tộc, quyết tâm làm cho nền kinh tế đất nước phát triển, sánh vai với các nước khác trên thế giới Mặt khác, cũng tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ những người lao động Việt Nam tiếp thu công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

+ Năm là: Đẩy nhanh việc tạo thêm công ăn việc làm, giảm dần nạn thất nghiệp

Đây được coi là một nhiệm vụ cấp bách đang được Đảng và Nhà nước quan tâm NNL chúng ta có nhưng làm sao phải được sử dụng hết và khắc phục những lạc hậu, dấu ấn cơ chế cũ thì NNL mới trở thành sức mạnh của đất nước, mới đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Do vậy, “Phương hướng quan trọng nhất là nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi người dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động… iảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn” [13, tr.114-115]

+ Sáu là: Tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất cho người lao động và mọi người dân, đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình

Phát triển kinh tế là tạo ra cơ sở và điều kiện thuận lợi để giải quyết các vấn đề xã hội Đồng thời giải quyết giải quyết tốt các vấn đề xã hội sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, mở ra triển vọng phát triển con người toàn diện Chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vì mục tiêu

Trang 40

“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là vấn đề cơ bản và mang tính cấp bách Trên cơ sở đó Đảng đã xác định: “Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy, Đảng chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt” [12, tr.67]

Bên cạnh công tác chăm sóc và bảo về sức khỏe, góp phần nâng cao thể chất con người, chúng ta còn phải đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Phát triển mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận cơ sở để xây dựng một gia đình khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc

+ Bảy là: Đẩy lùi tệ nạn xã hội

Tệ nạn xã hội không chỉ là những căn bệnh của xã hội, là vật cản không nhỏ của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là tác động trực tiếp, hàng ngày, hàng giờ tới mục tiêu phát triển của con người Việt Nam, tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Bởi vậy cần thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính và pháp luật để phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội Đẩy mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân,

do dân và vì dân,… xây dựng một Việt Nam vững mạnh và con người Việt Nam toàn diện

Thứ hai: Gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại

Vai trò động lực của con người đối với sự nghiệp CNH, HĐH chỉ có thể trở thành hiện thực khi con người có những năng lực và phẩm chất cần thiết,

đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày một mới trong tiến trình phát triển CNH, HĐH Muốn phát triển NNL tốt và có chất lượng cũng cần phải tạo ra một môi trường chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, nhân văn ắn với đó và phát huy những giá trị mới Để có được môi trường văn hóa – dân chủ, nhân văn

Ngày đăng: 23/03/2020, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2008 , Các chương trình, đề án thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chương trình, đề án thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2007 , Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 1930 – 2005, Nxb chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 1930 – 2005
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc Gia
3. Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc (1999 , Vĩnh Phúc những chặng đường đấu tranh xây dựng và trưởng thành, lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Phúc những chặng đường đấu tranh xây dựng và trưởng thành
4. Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc (2007 , Tài liệu học tập nghị quyết lần thứ IV ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV, lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết lần thứ IV ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV
5. P S.TS Đặng Quốc Bảo (1996 , “Con người nguồn nhân lực, sự nghiệp giáo dục đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người nguồn nhân lực, sự nghiệp giáo dục đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, "Tạp chí Cộng sản
6. P S.TS Đặng Quốc Bảo (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
Tác giả: P S.TS Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
7. Các Mác – Ănghen, Toàn tập (1995), tập 03, Nxb chính trị quốc gia 8. Các Mác – Ănghen, Toàn tập (1995), tập 19, Nxb chính trị quốc gia 9. Các Mác – Ănghen, Toàn tập (1995), tập 23, Nxb chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập" (1995), tập 03, Nxb chính trị quốc gia 8. Các Mác – Ănghen, "Toàn tập" (1995), tập 19, Nxb chính trị quốc gia 9. Các Mác – Ănghen, "Toàn tập
Tác giả: Các Mác – Ănghen, Toàn tập (1995), tập 03, Nxb chính trị quốc gia 8. Các Mác – Ănghen, Toàn tập (1995), tập 19, Nxb chính trị quốc gia 9. Các Mác – Ănghen, Toàn tập
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia 8. Các Mác – Ănghen
Năm: 1995
10. P S, TS Trần Xuân Cầu và P S, TS Mai Quốc Chánh (1998 , iáo trình inh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình inh tế nguồn nhân lực
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc ia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc ia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc ia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc ia
Năm: 2005
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. ĐHQ Hà Nội (2004), Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn lực tài năng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thí điểm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn lực tài năng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
Tác giả: ĐHQ Hà Nội
Năm: 2004
20. Phạm Tất Dong (1996 , “Đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo phục vụ công tác CNH, HĐH đất nước”, Công tác tư tưởng (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo phục vụ công tác CNH, HĐH đất nước”, "Công tác tư tưởng
21. Đỗ Công Định (2005 , “Nguồn nhân lực Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí cộng sản, (số 10), tr.61 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, "Tạp chí cộng sản
22. Trần Khánh Đức (2002), iáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nxb iáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb iáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w