1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô tả các hình thái lâm sàng và các phương pháp điều trị Liệt dây thanh

46 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải phẫu thanh quảnThanh quản là đoạn đầu của đường hô hấp dưới, nằm trong vùng cổ giữadưới móng, trước các đốt sống cổ C3, C4, C5, phía trên thông với họng miệng,phía dưới thông với kh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LIỆT DÂY THANH

Hà Nội – 2016

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ

………1

I SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ 3

1 Giải phẫu thanh quản 3

2 Thần kinh chi phối thanh quản 10

Trang 2

3 Chức năng thanh quản 15

II ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG – CẬN LÂM SÀNG CỦA LIỆT DÂY THANH 16

1 Tiền sử 16

2 Toàn thân 16

3 Triệu chứng của liệt dây thanh một bên 17

4 Triệu chứng của liệt dây thanh hai bên 19

5 Các thể lâm sàng khác 22

6 Cận lâm sàng 24

III NGUYÊN NHÂN 26

1 Nguyên nhân trung ương 26

2 Nguyên nhân ngoại biên 27

IV CHẨN ĐOÁN 29

1 Chẩn đoán xác định 29

2 Chẩn đoán nguyên nhân 29

3 Chẩn đoán phân biệt: 29

V HƯỚNG ĐIỀU TRỊ 30

1 Điều trị nội khoa: 30

3 Phẫu thuật 30

Đối với liệt dây thanh nên theo dõi trong vòng 6 tháng để chờ đợi sự hồi phục tự nhiên, nếu không có sự hồi phục thì mới chỉ định các phương pháp điều trị sau: 30

3 Đánh giá kết quả điều trị 39

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Liệt dây thanh là một triệu chứng của rất nhiều bệnh khác nhau, từ cácbệnh lý ở não, đến cổ, ngực do tổn thương thần kinh chi phối cơ quan phát âmgây liệt các cơ của thanh quản Liệt dây thanh có thể gây nguy hiểm đến tínhmạng (khó thở đột ngột) khiến bệnh nhân phải đến viện ngay lập tức Liệt dâythanh có thể nhẹ không gây khó chịu nhiều làm bệnh nhân chủ quan không đikhám sớm, song đa số là có khàn tiếng kéo dài ảnh hưởng nhiều đến chất lượngcuộc sống Trước kia rất ít khi phát hiện ra liệt dây thanh song ngày nay nhờ sựtiến bộ của khoa học kỹ thuật, trong đó có nội soi tai mũi họng nên bệnh đượcchẩn đoán dễ dàng hơn Bệnh không chỉ gặp ở chuyên khoa TMH mà cácchuyên khoa khác như Nội, Ngoại, Ung Thư, Nội Tiết, Thần Kinh cũng haygặp và gây nhiều khó khăn trong việc thăm khám, phát hiện bệnh, đặc biệt làtìm nguyên nhân gây ra bệnh

Có rất nhiều nguyên nhân gây liệt dây thanh trong đó có thể do phẫu thuậtgây tổn thương thần kinh hoặc có thể do ung thư, nhiều khi nguyên nhân có thể

do virus hoặc do rối loạn thần kinh

Triệu chứng hay gặp của liệt dây thanh là khàn tiếng, giọng nói thay đổi,mất âm sắc, hai giọng hoặc mất tiếng Có thể liệt một bên hoặc hai bên, nếu

BN bị liệt cả hai bên có thể khó thở đột ngột và nguy cơ tử vong nếu khôngđược mở khí quản kịp thời

Bệnh có thể chỉ cần điều trị nội khoa kết hợp luyện giọng, cũng có nhiềutrường hợp phải thực hiện phẫu thuật Cho đến này cùng với sự phát triển củakhoa học kỹ thuật đã có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau để điều trịbệnh này Baker (1915) đã cắt bỏ sụn phễu một bên qua đường mở sụn giáp;Jackson (1922) đã cắt bỏ dây thanh một bên; Moore (1923) đã tiến hành treo dâythanh Đến năm 1936 King là người đầu tiên mô tả phương pháp treo sụn phễutiếp cận đi bên ngoài sụn giáp Sau này Woodman (1946) đã thay đổi và phát

Trang 4

triển thành kỹ thuật cắt bỏ sụn phễu với đường bên ngoài sụn giáp Tucker(1976) đã phát triển thành công phẫu thuật tái tạo sự chi phối thần kinh cho các

cơ mở thanh quản Gần đây nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sự pháttriển của Laser, người ta đã tiến hành cắt dây thanh và sụn phễu bằng laser quađương soi treo thanh quản Tuy vậy trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, cácphương pháp điều trị kinh điển vẫn đang còn được sử dụng

Vì vậy để tìm hiều sâu hơn về liệt dây thanh, luận văn này với 2 mục tiêu:

1 Mô tả hình thái lâm sàng của liệt dây thanh

2 Trình bày các phương pháp điều trị liệt dây thanh

I SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ

Trang 5

1 Giải phẫu thanh quản

Thanh quản là đoạn đầu của đường hô hấp dưới, nằm trong vùng cổ giữadưới móng, trước các đốt sống cổ C3, C4, C5, phía trên thông với họng miệng,phía dưới thông với khí quản Thanh quản được cấu tạo bởi một khung gồm cácsụn liên kết với nhau bằng các khớp, các cơ, các màng, các dây chằng, bên trongđược lót bởi niêm mạc liên tiếp với niêm mạc của hạ họng và khí quản

Thanh quản giống như một cái ống rỗng bị thắt eo ở đoạn giữa (thanh môn)

và phình ra ở đoạn dưới Lòng thanh quản là một ống hẹp bề ngang và rộng theochiều trước sau, ở phần dưới của ống này có một chỗ hẹp tạo ra bởi dây thanh ở

2 bên Dây thanh là một cái nẹp gồm niêm mạc, cân cơ, đi từ cực trước (góc củasụn giáp) ra cực sau thanh quản (sụn phễu) Nó là một bộ phận di động có thểkhép hay mở hoặc rung động Khoảng cách hình tam giác giữa 2 dây thanh gọi

là thanh môn Phía trước thanh môn là mép trước, phía sau gọi là mép sau Ởtầng trên thanh môn có 2 cái nẹp nhỏ hơn dây thanh và nằm song song với dâythanh gọi là băng thanh thất Khoảng rỗng giữa dây thanh là băng thanh thấtđược gọi là buồng Morgagni

Thanh môn là chỗ hẹp nhất của thanh quản, từ thanh môn trở xuống lòng

Trang 6

thanh quản dần mở rộng ra Người ta gọi là đoạn hạ thanh môn, nó tiếp tục vớikhí quản.

Các thành phần chủ yếu của thanh quản là sụn, cơ, thần kinh, mạch máu

- Các sụn:

 Sụn nắp: như hình một các vợt mà cán đính vào góc sụn giáp

 Sụn giáp: như hình quyển sách để mở, gáy ra trước

 Sụn nhẫn: hình chiếc nhẫn mà vòng nhẫn ở phía trước, bản nhẫn ở phíasau

 Hai sụn phễu: hình tam giác đặt phía mặt trên sụn nhẫn

 Hai sụn sừng: hình nón cao khoảng 5mm, ngồi trên đỉnh sụn phễu

Trang 7

- Các cơ ngoại lai của thanh quản: bám vào thanh quản từ đáy sọ, xươnghàm dưới và đai vai

1.1.1 Cơ nội tại thanh quản

Trang 8

Các cơ thanh quản

Gồm 9 cơ (4 cơ đôi và 1 cơ đơn), được chia thành 3 nhóm:

- Các cơ khép dây thanh: cơ nhẫn phễu bên và cơ liên phễu (gồm cơ phễungang và cơ phễu chéo)

- Các cơ mở dây thanh: cơ nhẫn phễu sau

- Các cơ căng dây thanh: cơ nhẫn giáp và cơ giáp phễu

 Cơ căng dây thanh:

- Cơ nhẫn giáp đi từ vòng nhẫn tới bờ dưới sụn giáp, và tới sừng giáp dưới.Khi co, cơ kéo sụn giáp về phía trước và dưới làm dây thanh kéo căng ra trước.Mỗi bên thanh quản có một cơ nhẫn giáp Vận động cho cơ là dây thần kinh giápngoài (một nhánh của TKTQ trên) Khi dây này bị tổn thương, tiếng bị ồ

- Cơ giáp phễu dưới hay cơ thanh âm: đi từ góc sụn giáp ở 1/3 dưới đếnmấu thanh của sụn phễu, nằm phía trong của dây chằn thanh âm Cơ co làmcăng dây thanh

 Cơ mở thanh môn:

Trang 9

Cơ nhẫn phễu sau

Cơ nhẫn - phễu sau đi từ đường giữa và mặt sau của bản nhẫn, tới mỏm cơcủa sụn phễu Khi co, cơ kéo mỏm cơ ra sau và xuống dưới, do đó mỏm thanh

âm được đưa ra trước và lên trên nên thanh môn được mở rộng Mỗi bên thanhquản có một cơ nhẫn phễu sau Cơ mở thanh môn ít tác dụng đến tiếng nói,nhưng khi bị liệt hai bên có thể gây tắc thở và có thể gây tử vong

 Cơ khép thanh môn

có ba cơ:

- Cơ nhẫn phễu bên: đi từ vòng nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu Khi co, cơ kéomỏm cơ ra trước và ra ngoài, do đó mỏm thanh âm được đưa ra sau và vàotrong, nên thanh môn được khép lại

Cơ nhẫn phễu bên

- Cơ giáp phễu: Là một cơ đôi, là cơ quan trọng nhất trong các cơ phát âm

Trang 10

của thanh quản và là thành phần cấu tạo chính của dây thanh Cơ này đi từ sụnphễu tới mặt trong của sụn giáp, hướng từ sau ra trước Cơ này gồm hai lớp:

● Lớp trên: Bó giáp phễu trên và ngoài chủ yếu cấu tạo nên băng thanhthất

● Lớp dưới: Bó giáp phễu dưới và trong là thành phần cấu tạo nên dâythanh

Tác dụng của cơ giáp phễu

- Cơ liên phễu: Gồm có hai bó chéo đi từ mỏm cơ bên này tới sụn phễu bênkia, nhiều khi lên tới tận nắp thanh quản tạo nên cơ phễu nắp thanh quản và một

bó ngang Khi co, cơ kéo hai sụn phễu lại gần nhau nên làm khép thanh môn

Cơ liên phễu ngang

Trong động tác phát âm, các nhóm cơ phối hợp hoạt động làm đóng, khép

Trang 11

tạo ra rung thanh

Tỷ lệ giữa cơ mở và cơ khép thanh môn là 1/3 Vậy lực khép sẽ mạnh gấp

3 lần lực mở Đặc điểm này giải thích phản xạ đóng khép rất mạnh của thanhmôn trong cơ chế bảo vệ đường thở của thanh quản

Tất cả các cơ trên đều bám vào sụn phễu trừ cơ nhẫn giáp Điều nàychứng tỏ vai trò chính của sụn phễu trong sinh lý thanh quản Tất cả các cơ nàyđược chi phối bởi thần kinh hồi qui (thần kinh thanh quản dưới hay thần kinh thanhquản quặt ngược- nhánh của dây thần kinh X) trừ cơ nhẫn - giáp do thần kinh thanhquản trên chi phối

1.1.2 Cơ ngoại lai của thanh quản

Gồm hai nhóm cơ nâng và hạ thanh quản

Các cơ ngoại lai của thanh quản

+ Cơ nâng thanh quản: Tất cả đều bắt nguồn từ xương móng hoặc nối với nóbởi các dây chằng Đó là các cơ: Cơ trâm móng, cơ nhị thân, cơ hàm móng, cơ cằmmóng, cơ giáp móng, cơ xiết họng giữa và dưới

+ Cơ hạ thanh quản: Gồm các cơ ức móng, cơ ức giáp, cơ vai móng Chúngnối thanh quản với xương ức, xương đòn và xương vai Vai trò của các cơ này là

Trang 12

có tác dụng hạ thấp thanh quản

1.2 Niêm mạc thanh quản

Được bao bọc bởi biểu mô trụ có lông chuyển, riêng bờ tự do của dâythanh được che phủ bởi biểu mô lát tầng

Dây thần kinh X

Hệ thống TK thanh quản được chi phối bởi 2 dây TK thanh quản trên vàdưới, đều tách ra từ dây X

Trang 13

Thần kinh X

 Nguyên ủy

- Sợi vận động bắt nguồn ở hành não, ở nhân hoài nghi (phần ba giữa)

- Sợi cảm giác bắt nguồn ở hai hạch: hạch trên hay hạch TM cảnh ởngay dưới lỗ rách sau và hạch dưới to hơn, hình thoi và kích thước 1 –2cm, được coi như một hạch gai, gồm có các tế bào mà nhánh cànhchạy từ chu vi lại và nhánh trục tận hết ở não, trong bó đơn độc (phầndưới)

- Sợi thực vật vận động các tạng bắt nguồn ở phần trên của nhân lưnghay nhân gai phế vị Sợi thực vật cảm giác các tạng tận hết ở một hạch,

ở gần phía ngoài nhân gai phế vị, gọi là nhân lưng ngoài Các nhân này

ở hành não

 Đường đi

Dây X thoát ra từ rãnh bên sau của hành não ở giữa dây IX ở trên và dây

XI ở dưới Dây X sau khi từ hành não qua lỗ rách sau (lỗ tĩnh mạch cảnh) rangoài sọ, rồi chạy thẳng xuống, dọc theo động mạch cảnh trong và độngmạch cảnh chung ở cổ, rồi vào ngực dọc theo hai bên thực quản, sau đó cùngvới thực quản chui qua cơ hoành vào bụng

 Liên quan

- Dây X, từ lỗ rách sau, chạy qua các vùng ở cổ tới đỉnh ngực (vùng sautrâm, vùng cảnh, vùng trên đòn) Ở vùng sau trâm, dây X có 2 hạch làhạch TM cảnh và hạch rối Hạch cảnh ở ngay dưới lỗ rách sau Hạch rối ởdưới hạch cảnh Có đỉnh trong của dây XI chạy vào đỉnh hạch rối nên khidây X thoát ra ở hạch rối, gồm có cả các sợi của dây gai, nên gọi là dâyphế vị gai Ở vùng sau trâm cũng như ở vùng cổ, dây X nằm trong gócđược tạo nên ở phía trước bởi ĐM cảnh trong và TM cảnh trong Dây X,

ĐM và TM cảnh trong đều được bọc trong một bao riêng, rồi lại được bọctrong một bao chung (gọi là bao mạch) Dây IX ở trước ĐM cảnh trong

Trang 14

Dây XII lách giữa TM cảnh trong và dây X, rồi đi ra phía trước Dây XI ởphía ngoài, dây giao cảm với hạch cổ ở phía sau.

- Ở bên phải, vùng trên đòn, dây X bắt chéo ĐM dưới đòn, ở sau TM dướiđòn và tách ra dây TK hồi qui phải Ở bên trái, dây X chạy giữa ĐM cảnhgốc (ở trong) và ĐM dưới đòn (ở ngoài), để chạy vào ngực và bắt chéoquai ĐM chủ và tách ra dây TK hồi qui trái

Thần kinh thanh quản trên và thanh quản quặt ngược

Dây TK thanh quản trên:

TKTQ trên (nhánh trong)

Quai Galen Các nhánh cảm giác TQ

Cơ phễu thanh thiệt

Cơ liên phễu

Cơ giáp thanh thiệt

Cơ giáp phễu (lớp trên)

Cơ dây thanh (lớp dưới)

Cơ nhẫn phễu sau

Cơ nhẫn phễu bên

Nhánh trước và sau của TK hồi qui

TK hồi qui

Trang 15

Tách từ thân chính của TK X ngay phía ngoài hố TM cảnh Nó chạy thẳngxuống dưới, ra sau, phía trong của ĐM cảnh trong, sau đó ở phía trong ĐM cảnhngoài Khi đến màng giáp móng nó đi cùng ĐM và TM giáp trên, chia 2 nhánhtận:

+ Nhánh ngoài chạy dọc theo đường chếch của cánh sụn giáp trên bề mặtcủa cơ khít hầu dưới, sâu tới cơ ức giáp Nó cho các nhánh vừa vào đám rốihọng và cơ khít hầu dưới, cuối cùng đi vào chi phối cho cơ nhẫn giáp, sau đó điqua nón đàn hồi để chi phối cảm giác cho buồng thanh quản tới hạ thanh môn.+ Nhánh trong: phần chính của nhánh trong tiếp tục đi ở trên bề mặt mànggiáp móng cùng ĐM và TM thanh quản trên vào thanh quản qua một lỗ ở màngnày Ngay lập tức chúng được chia làm 3 ngành: ngành lên, ngành ngang vàngành xuống làm nhiệm vụ cảm giác lần lượt cho niêm mạc nắp thanh thiệt vàthung lũng nắp thanh thiệt, niêm mạc xoang lê, tiền đình thanh quản

Ở thành bên của hố lê, ngành xuống của nhánh trong còn cho nhánh nhỏ tới

cơ phễu ngang và đám rối sau đó tiếp tục phía sau sụn nhẫn để nối với TK thanhquản dưới hay còn gọi là quai Galeni

Các sợi phó giao cảm cũng tới thanh quản cùng TK thanh quản trên vàdưới từ nguyên uỷ của nó ở hố TM cảnh Các sợi giao cảm đi tới thanh quảncùng với mạch máu, chúng được tách ra từ hạch giao cảm cổ trên gần chỗ chiađôi của ĐM cảnh gốc

Như vậy TK thanh quản trên cảm giác cho toàn bộ niêm mạc thanh quản vàvận động cho cơ nhẫn giáp

Dây TK thanh quản dưới còn gọi là TK quặt ngược hay TK hồi qui, 2 bên

khác nhau:

Trang 16

 Bên phải:

Tách ra từ TK X ở phía trước ĐM dưới đòn, sau đó quặt ngược dưới ĐM này

ra sau, từ đó đi chếch lên trên vào trong tới góc nhị diện thực quản- khí quản tớisau tuyến giáp để tới thanh quản Như vậy TK thanh quản dưới bên phải chỉ nằm

ở đoạn cổ Nó chi phối cho khí quản, thực quản

 Bên trái:

Tách ra từ TK X ở phía trước quai ĐMC, sau đó quặt ngược dưới ĐM này rasau, từ đó đi chếch lên trên vào trong tới góc nhị diện giữa thực quản-khí quảntới sau tuyến giáp để vào thanh quản.Ở cực dưới tuyến giáp nó chạy giữa cácnhánh của ĐM giáp dưới Cũng như bên phải, TK thanh quản dưới bên trái đivào thanh quản bằng cách chạy dưới bờ của cơ khít hầu dưới và cũng phânnhánh chi phối cho cơ này TK hồi qui nối với TK thanh quản trên tạo nên quaiGaleni ngay trước khi TK hồi qui tới bờ dưới của cơ khít hầu dưới Thân chínhcủa TK hồi qui tiến gần thanh quản ở khớp nhẫn giáp Trong phần lớn cáctrường hợp, dây TK đi phía sau khớp này, nhưng 10-15% ở người lớn nó có thể

đi phía trước hoặc tách ra một nhánh phía sau và một nhánh phía trước

Như vậy TK thanh quản dưới bên trái nằm ở cả vùng ngực và cổ

Trang 17

 TK thanh quản quặt ngược cảm giác cho vùng niêm mạc nằm phía dưới 2dây thanh và vận động cho tất cả các cơ nội tại của thanh quản trừ cơ nhẫngiáp.

 Do đường đi của dây quặt ngược qua nhiều bộ phận quan trọng ở ngực, trungthất, cổ nên dây quặt ngược rất dễ bị ảnh hưởng bệnh lý của các bộ phận kểtrên, biểu hiện thường xảy ra trên lâm sàng là rối loạn phát âm do tổn thươngdây quặt ngược liên quan đến các bệnh lý của ĐMC, của phế quản gốc, khíquản, các hạch trung thất, tuyến giáp

3 Chức năng thanh quản

Thanh quản có ba chức năng chính: Phát âm, dẫn không khí, bảo vệ đường

vị thần kinh – cơ để tạo nên cường độ và tần số cho giọng nói bằng cách thayđổi vị trí, độ dài, độ căng của nó Các biến đổi giọng nói cuối cùng diễn ra ởhọng miệng và họng mũi

Do vật bất kỳ thay đổi nào của dây thanh hoặc các cấu trúc điều khiển hoạtđộng của dây thanh đều gây rối loạn phát âm Có thể do sự rung khiếm khuyếtcủa dây thanh, có thể do rối loạn giọng mà cấu trúc giải phẫu học vẫn bìnhthường (rối loạn giọng chức năng)

3.2 Chức năng dẫn không khí

Thanh quản dẫn không khí từ họng xuống khí quản hoặc từ khí quản lênhọng Trong động tác hít vào thanh môn mở ra tối đa, trái lại khi thở ra thanh

Trang 18

môn chỉ mở vừa thôi Do đó mỗi khi liệt cơ mở (trong liệt TK hồi qui hai bên)hoặc co thắt cơ khép hoặc phù nề niêm mạc hoặc u thì lòng của thanh quản sẽhẹp lại và BN bị khó thở.

3.3 Chức năng bảo vệ đường hô hấp

- Chức năng này được thực hiện bởi phản xạ đóng thanh môn và ho tống dịvật ra khi dị vật hay hơi cay nóng vào đến thanh quản Phản xạ này thường rấtnhạy: hơi cay nóng chỉ cần chạm vào niêm mạc của đường hô hấp trên cũng đủgây ra nghẹn thở và ho sặc sụa Thanh quản có xu hướng đóng lại khi nuốt, ợhoặc buồn nôn

- Thanh quản còn bảo vệ không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp khi chúng

ta ăn uống Sự bảo vệ này nhờ các cơ xiết họng kéo sụn nhẫn về phía sau và trênlàm cho làm cho thanh quản nhô lên và nghiêng về phía trước, húc vào thanhthiệt Thanh thiệt, một mặt thì bị sụn giáp đẩy lên, mặt khác lại bị xương mónggiữ lại, sẽ bẻ gập ở đoạn giữa và cúi mình xuống che đậy lỗ thanh quản

- Phản xạ bảo vệ này bắt nguồn ở sự cảm giác của niêm mạc họng Nếuniêm mạc mất cảm giác, phản xạ cũng giảm hoặc mất Như trong trường hợpliệt thần kinh hồi qui kèm theo liệt thần kinh thanh quản trên làm cho BN cótriệu chứng ăn nghẹn, uống sặc

II ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG – CẬN LÂM SÀNG CỦA LIỆT DÂY THANH

1 Tiền sử

- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật tuyến giáp, đặt nội khí quản, chấnthương thanh quản - thực quản, chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, suytim, tiền sử bệnh đái tháo đường, hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản Đốivới trẻ em có tiền sử não úng thủy, tai biến lúc sinh…

2 Toàn thân

Toàn thân ít thay đổi, có thể có gầy sút cân, hạch ngoại vi (vùng cổ, dướihàm, thượng đòn), u tuyến giáp, chú ý thăm khám tất cả các dây thần kinh sọ,

Trang 19

3 Triệu chứng của liệt dây thanh một bên

3.1 Dây thanh liệt ở tư thế khép (dây thanh ở vị trí đường giữa)

Giọng nói của bệnh nhân hầu như là bình thường, tuy nhiên một số bệnhnhân có thể chú ý đến sự thay đổi của giọng hát

3.2 Dây thanh liệt ở tư thế trung gian (dây thanh ở vị trí cạnh đường giữa)

Các triệu chứng có thể thay đổi

- Một số BN có sự bù trừ khá tốt của dây thanh bên lành, nên chỉ thay đổigiọng nói rất ít Tuy nhiên, những người này khó thay đổi được cao độ của giọng

và thường là họ không thể hát được

- Nhiều BN không có sự bù trừ của dây thanh bên lành, giọng nói khàn vớicác mức độ khác nhau Một số BN có thể cải thiện chất lượng giọng nói bằng

Trang 20

việc tập luyện với bác sỹ – chuyên gia về giọng nói

3.3 DT liệt ở tư thế mở ( dây thanh ở vị trí xa đường giữa)

Ở thể này biểu hiện lâm sàng khá nặng nề BN nói rất nhỏ, thều thào hay cóthể mất tiếng BN có cơn ho phản xạ, không thể cười to và khó chịu thườngxuyên khi hít vào

Triệu chứng của liệt dây thanh một bên

Cơ năng

Khởi phát thường tương đối bất ngờ, BN đột ngột mất tiếng Sau vài ngày BNnói trở lại được nhưng giọng nói yếu, thì thào, cường độ trầm, hay khàn tiếng.Mức độ khàn tiếng từ khàn nhẹ đến mất tiếng hoàn toàn tùy thuộc vào mức độliệt của dây thanh từ liệt nhẹ đến liệt hoàn toàn Đó là lí do chính khiến cho BN

đi khám bệnh Dần dần tiếng nói trở lại gần như bình thường Sự phục hồi củatiếng nói là do dây thanh bên đối diện làm việc bù

Triệu chứng thực thể

- Soi thanh quản thấy nửa bên thanh quản hoàn toàn không di động và cũngkhông phù nề, không có bệnh tích gì khác ở niêm mạc Dây thanh bên bệnh mấttrương lực, phất phơ theo luồng hơi thở nên dễ nhầm là dây thanh vẫn di động,

do đó phải quan sát sự di động của sụn phễu

Trang 21

Liệt dây thanh phải

- Sụn phễu bên bệnh hoàn toàn cố định

- Vị trí của dây thanh bên liệt có thể thay đổi: thường trong giai đoạn đầudây thanh ở bên cạnh đường giữa (do liệt cơ mở), dần dần về sau dây thanh liệtnằm dịch ra ngoài một chút trong tư thế trung gian, nửa khép, nửa mở (do liệt cả

cơ khép)

- Dây thanh bên liệt bị teo, chùng và thấp hơn dây thanh bên lành, sụnphễu ngả về phía trước Trong khi phát âm, dây thanh bên lành vượt qua đườnggiữa và đến sát dây thanh liệt vì vậy chúng ta thấy sụn phễu bên lành chờm lênsụn phễu bên liệt

- Cảm giác của thanh quản vẫn còn nguyên vẹn

4 Triệu chứng của liệt dây thanh hai bên

4.1 Hai DT liệt ở tư thế khép

- Ở thể này, BN có thể tử vong do khó thở nặng, những trường hợp này cầnphải mở khí quản cấp cứu Tuy nhiên, sau khi bị tổn thương (do chấn thương,

Trang 22

PT…) liệt hai dây thanh có thể qua nhiều ngày, nhiều tuần, tháng, thậm chínhiều năm mới chuyển thành liệt hoàn toàn hai dây thanh ở tư thế khép.

- BN thường có giọng rất khỏe nhưng lại khó thở, giọng nói đều đều, cóthay đổi rõ ở giọng hát

4.2 Hai DT ở tư thế trung gian (nửa khép, nửa mở)

BN khàn tiếng với các mức độ khác nhau do không khí thoát ra khi phát âm BN

có thể mất phản xạ ho và khả năng cười to

4.3 Hai DT liệt ở tư thế mở

Đây là bệnh cảnh rất nặng nề BN không nói được, ho không ra tiếng, khôngcười ra tiếng, ăn uống bị sặc

Triệu chứng liệt dây thanh hai bên

Triệu chứng cơ năng

Trang 23

- Tiếng nói khàn trong giai đoạn đầu, về sau khi hai DT nằm sát nhau,tiếng nói vẫn rõ ràng, chất lượng giọng nói ít thay đổi Có một nghịch lý là khitiếng nói tốt hơn thì khó thở lại tăng lên.

- Khó thở ngày càng tăng dần, biểu hiện thanh môn ngày càng bị hẹp lại

Có khi BN nhập viện trong bệnh cảnh khó thở TQ điển hình cần thiết phải mởkhí quản ngay

- Triêu chứng thường đi kèm là ngáy, có khi BN chưa khó thở nhiều nhưngthan phiền là ngáy quá to ảnh hưởng đến giấc ngủ của người khác

- Có thể có triệu chứng kèm theo là khó nuốt và ăn uống bị sặc

Triệu chứng thực thể

Liệt dây thanh hai bên

Giai đoạn đầu dần ổn định qua các giai đoạn của liệt hai bên: mức độ giảmvận động của dây thanh đa dạng trước khi dẫn tới liệt hẳn, hoặc lúc đầu bị ở mộtbên dây thanh sau đó là bên kia với mức độ khác nhau ở mỗi bên Nhưng khởiđầu cũng có thể đột ngột tạo nên tình trạng khó thở thường xuyên trong giaiđoạn ổn định, cần mở khí quản cấp cứu Thường gặp nhất là liệt sau chấnthương, đặc biệt là sau cắt toàn bộ tuyến giáp

5 Các thể lâm sàng khác

Ngày đăng: 23/03/2020, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w