1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thiết lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

126 195 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 6,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONGQUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠICÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACTHIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONGQUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠICÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACTHIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONGQUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠICÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACTHIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONGQUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠICÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACTHIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONGQUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠICÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN AC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KẾ TOÁN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: KIỂM TOÁN

Đề tài:

THIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C

GV hướng dẫn: ThS Nguyễn Đình Hoàng U

SV thực hiện: Nguyễn Thị B T MSSV: 3115xxx

Lớp: KI002 Khóa: xx Hệ: Đại học chính quy

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2019

Ký tên”

Trang 3

Để“có thể hoàn thiện được chuyên đề thực tập này một cách thuận lợi, đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Quý thầy

cô khoa Kế toán – Kiểm toán, những người đã trực tiếp giảng dạy và truyền đạt kinh nghiệm,

đó chính là nền tảng, là kiến thức vô cùng bổ ích giúp em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Và đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến Cô Nguyễn Đình Hoàng U đã tận tình chỉ dẫn và đóng góp những ý kiến bổ ích để em có thể hiểu hơn về công việc kiểm toán và

hoàn thành chuyên đề: “Thiết lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C”

Em cũng chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các anh chị Kiểm toán viên và Trợ lý kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như góp ý và trao đổi kinh nghiệm để giúp em có thể tiếp xúc với môi trường làm việc thực tế và hoàn thành bài khóa luận của mình

Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những sai sót trong bài viết, em rất mong nhận được những lời nhận xét từ Quý thầy cô và các anh chị Kiểm toán viên để em có thể hoàn thiện hơn về kiến thức chuyên ngành cũng như hoàn chỉnh hơn khóa luận tốt nghiệp này

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe Quý thầy cô trong trường cũng như toàn thể các anh chị tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

Em xin chân thành cảm ơn.”

Tp Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2019

Sinh viên thực tập

Nguyễn Thị B T

Trang 4

Committee

Committee

Standards

Accountants

Trang 5

“ DANH SÁCH BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1: Minh họa các cơ sở thực tế trong xây dựng mức trọng yếu1 10

Bảng 1.2: Ưu điểm và nhược điểm của bốn phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính 13

Bảng 3.1: Hướng dẫn một số trường hợp lựa chọn tiêu chí làm cơ sở xác lập mức trọng yếu 31

Bảng 3.2: Tỷ lệ áp dụng cho các tiêu chí để xác lập mức trọng yếu 32

Bảng 3.3: Tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty A trong hai năm 2016 – 2017 37

Bảng 3.4: Trích biểu 5.05 – Mức trọng yếu 39

Bảng 3.5: Trích biểu 5.10 – “Đánh giá rủi ro và các phương pháp đối với rủi ro được đánh giá” 45

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát nhóm khách hàng trong lĩnh vực sản xuất – chế biến 51

Bảng 3.7: Kết quả khảo sát nhóm khách hàng trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ” 54

Bảng 3.8: Thống kê các tiêu chí được lựa chọn để tính mức trọng yếu ứng với từng nhóm khách hàng 55

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các mức trọng yếu 6

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức 21

Sơ đồ 2.2: Các cấp bậc của kiểm toán viên trong một khối kiểm toán 22

Biểu đồ 3.1: Thống kê kết quả khảo sát vấn đề đơn vị có đồng ý điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên 56

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC ii

LỜI MỞ ĐẦU v

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1

1.1 Lịch sử hình thành khái niệm trọng yếu trong kế toán và kiểm toán 1

1.1.1 Sự ra đời của khái niệm trọng yếu” 1

1.1.2 Các giai đoạn phát triển 1

1.2 Khái niệm trọng yếu 2

1.2.1 Khái niệm trọng yếu trong kế toán 2

1.2.2 Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 3

1.2.3 Phân biệt trọng yếu trong kiểm toán và kế toán 4

1.3 Trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 4

1.3.1 Khía cạnh định tính 4

1.3.2 Khía cạnh định lượng 4

1.3.3 Mức trọng yếu 4

1.3.4 Phân loại các mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 5

1.3.5 Vai trò của mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 6

1.3.6 Thiết lập mức trọng yếu 7

1.4 Vận dụng trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 13

1.4.1 Khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu (VSA 315) 13

1.4.2 Khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo cần thực hiện (VSA 330) 14

1.4.3 Khi đánh giá ảnh hưởng của các sai sót (VSA 450) và hình thành ý kiến kiểm toán (VSA 700) 15

1.5 Mối quan hệ giữa mức trọng yếu, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán 16

Trang 7

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C 18

2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C 18

2.1.1 Lịch sử hình thành 18

2.1.2 Quá trình phát triển của công ty 19

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý 21

2.1.4 Cơ cấu tổ chức 21

2.1.5 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động 23

2.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C 24 2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 24

2.2.2 Giai đoạn lập kế hoạch 25

2.2.3 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 26

2.2.4 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán 27

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC THIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C 29

3.1 Những vấn đề chung cần cân nhắc khi thiết lập các mức trọng yếu 29

3.2 Phương pháp xác lập mức trọng yếu 30

3.2.1 Mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính 30

3.2.2 Mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính 32

3.2.3 Ngưỡng sai sót có thể bỏ qua 32

3.2.4 Các ảnh hưởng và vấn đề cần xem xét bao gồm cả gian lận khi thiết lập mức trọng yếu 33

3.3 Vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C 34

3.3.1 Giai đoạn lập kế hoạch 34

3.3.2 Giai đoạn thực hiện cuộc kiểm toán 34

3.3.3 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán 35

Trang 8

3.4 Minh họa việc thiết lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo

cáo tài chính của khách hàng A 36

3.4.1 Giới thiệu sơ lược về công ty A 36

3.4.2 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 37

3.4.3 Giai đoạn thực hiện cuộc kiểm toán 39

3.4.4 Giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán 45

3.5 Khảo sát về việc thiết lập và áp dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính thực tế tại Công ty A&C 45

3.5.1 Mục tiêu khảo sát 45

3.5.2 Giới hạn phạm vi cuộc khảo sát 45

3.5.3 Phương pháp khảo sát 46

3.5.4 Tiến hành khảo sát và trình bày kết quả khảo sát 46

3.5.5 Thống kê kết quả khảo sát 55

CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 58

4.1 Nhận xét chung về quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C 58

4.1.1 Ưu điểm 58

4.1.2 Hạn chế 58

4.2 Nhận xét về việc áp dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán A&C 58

4.2.1 So sánh giữa quy định của công ty với yêu cầu của chuẩn mực 58

4.2.2 So sánh giữa việc tuân thủ trong thực tế của kiểm toán viên với quy định của công ty 60 4.3 Kiến nghị 60

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại hội nhập kinh tế và“sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, nhu cầu kiểm toán ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết vì đó là yêu cầu của các nhà đầu tư, chủ nợ hiện hữu và tiềm tàng, Nhà nước để tin tưởng vào thông tin trên báo cáo tài chính được trình bày trung thực hợp lý, công khai và minh bạch

Nắm bắt được nhu cầu trên, các công ty kiểm toán hình thành ngày càng nhiều, vấn đề đặt

ra hiện nay là mỗi công ty kiểm toán làm sao cung cấp dịch vụ kiểm toán vừa đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán, vừa tiết kiệm chi phí kiểm toán Vì vậy, trọng yếu đóng vai trò không thể thiếu trong việc định hướng cho cuộc kiểm toán, xác lập kế hoạch thích hợp, giúp kiểm toán viên đi đúng hướng và tiết kiệm thời gian cho những vùng rủi ro nhiều hơn

Vì những lý do trên, người viết thực hiện đề tài “Thiết lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C” để làm

rõ cơ sở lý thuyết về xác lập và vận dụng mức trọng yếu, từ đó đưa ra so sánh với thực tế áp dụng mức trọng yếu tại một công ty cụ thể và rút ra nhận xét về vấn đề

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa kiến thức về trọng yếu và bản chất của trọng yếu,“những lý luận cơ bản về việc vận dụng và xác lập mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Tìm hiểu phương pháp xác lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

Nhận xét về cách thức vận dụng trọng yếu tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C và

từ đó đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán

3 Phương pháp nghiên cứu

Tham khảo, đọc tài liệu của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Chuẩn mực kiểm toán quốc tế, đặc biệt là những chuẩn mực liên quan đến tính trọng yếu

Nghiên cứu các bài viết có liên quan

Thu thập tài liệu, thông tin, số liệu của các khách hàng thực tế tại Công ty TNHH Kiểm toán

và Tư vấn A&C về việc vận dụng khái niệm trọng yếu

Trực tiếp tham gia vào quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán

và Tư vấn A&C với tư cách là thực tập sinh Đồng thời tiến hành phỏng vấn các anh chị kiểm toán viên trong công ty để hiểu rõ và nắm bắt hơn về cách thức vận dụng trọng yếu trong thực tế kiểm toán báo cáo tài chính

4 Phạm vi nghiên cứu ”

Tìm hiểu về việc vận dụng tính trọng yếu và xác lập mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch và việc vận dụng mức trọng yếu một cách cơ bản nhất trong giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn hoàn thành kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công

ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

Trang 10

Do trong thời gian thực tập, người viết chỉ được phân công tham gia thực hiện một số phần hành đơn giản, đồng thời do bị giới hạn về thời gian viết, hạn chế thông tin thu thập được do yêu cầu bảo mật thông tin của khách hàng nên người viết chỉ trình bày theo những hiểu biết

mà người viết có được thông qua thực tế thực hiện cũng như thu thập hồ sơ và phỏng vấn các kiểm toán viên trực tiếp tham gia vào quy trình kiểm toán

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Chương 2: Giới thiệu về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

Chương 3: Thực trạng việc thiết lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

Chương 4: Nhận xét và kiến nghị”

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM

TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Lịch sử hình thành khái niệm trọng yếu trong kế toán và kiểm toán

1.1.1 Sự ra đời của khái niệm trọng yếu ”

Những năm đầu của thế kỷ 20, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới kéo theo sự

ra đời của hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán Thời gian này, kiểm toán độc lập chuyển mục đích từ phục vụ cho chủ sở hữu tìm ra sai phạm của nhà quản lý sang phục vụ cho bên thứ

ba để đưa ra các quyết định đầu tư, bằng cách đưa ra ý kiến kiểm toán về mức độ trung thực

và hợp lý của báo cáo tài chính Tuy nhiên, mỗi cuộc kiểm toán đều có những hạn chế tiềm tàng như sự thông đồng của nhà quản lý trong doanh nghiệp khách hàng, các ước tính kế toán trong thông tin tài chính cũng như mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không còn sai sót trọng yếu, xét trên các khía cạnh trọng yếu

Lúc này “tính trọng yếu” đã được nhận thức đến, nhưng chưa có một văn bản đưa ra khái niệm rõ ràng Năm 1867, lần đầu tiên thuật ngữ “Trọng yếu” được sử dụng là do một chánh

án của tòa án ở Anh đã đề cập đến như sau: “… trong bản cáo bạch tài chính của công ty không được có sự sai lệch hoặc sự che giấu nào của bất kỳ yếu tố mang tính trọng yếu có thể được cho phép…”

Sau khi “Luật chứng khoán liên bang Hoa Kỳ” và “Uỷ ban chứng khoán Hoa Kỳ” thành lập năm 1933, một năm sau đó “Luật giao dịch chứng khoán” được ra đời và yêu cầu các công

ty niêm yết cần phải được kiểm toán báo cáo tài chính nhằm xác định tính trung thực, hợp

lý của báo cáo tài chính đó Khái niệm “tính trọng yếu” cũng chính thức bắt đầu hình thành

từ yêu cầu đó và được áp dụng phổ biến trong giai đoạn này Thuật ngữ “tính trọng yếu” xuất hiện trong cuốn “Montgomery’s Auditting” năm 1949 như sau: “Khi thực hiện cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn ghi nhớ các yếu tố của tính trọng yếu và rủi ro liên quan Việc thực hiện tính thận trọng bao hàm việc tập trung hơn vào các vấn đề quan trọng hơn trên báo cáo tài chính” và “Nếu ảnh hưởng của công việc của khách hàng là không trọng yếu tới số liệu thể hiện trên báo cáo tài chính thì thường không cần thiết để đưa ra ý kiến ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán”

1.1.2 Các giai đoạn phát triển

Năm 1957, vấn đề trọng yếu được Hiệp hội kế toán Mỹ đưa ra quan điểm như sau: “Khoản mục được xem xét là trọng yếu nếu có lý do tin rằng sự hiểu biết về khoản mục ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư sử dụng thông tin”

Gần 10 năm sau đó, năm 1965 Học viện Canada đã định nghĩa: “Sai lệch kế toán là trọng yếu nếu sự bóp méo có thể ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính” Học viện Anh cũng đưa ra giải thích vào năm 1968: “Một vấn đề là trọng yếu nếu có sự không trình bày hoặc trình bày sai lệch hoặc bỏ sót các vấn đề này có thể bóp méo thông tin của người đọc”

Khái niệm “tính trọng yếu” phát triển trong kế toán đã dẫn theo sự phát triển của “tính trọng

Trang 12

Bước qua thời kỳ nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng khi hàng loại các công ty hàng đầu đổ vỡ như Enron, WorldCom, Tyco International, Peregrine Systems …, mà các công ty kiểm toán cũng không tránh khỏi trách nhiệm Từ sau sự sụp đổ của Enron và sai phạm nghiêm trọng của công ty kiểm toán Arthur Anderson – từng là anh cả trong “top” 5 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới khi bỏ qua sai lệch $51 triệu (trên tổng lợi nhuận là 105 triệu USD) vì cho là không trọng yếu, các nhà ban hành chuẩn mực đã phải ngồi lại và hiệu đính lại chuẩn mực, và quan trọng là chuẩn mực liên quan tính trọng yếu theo hướng đưa ra nhiều hơn các hướng dẫn để vận dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Ngày nay, các kiểm toán viên được yêu cầu phải tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán cũng như môi trường của đơn vị, trong đó có hệ thống kiểm soát nội bộ để tăng chất lượng cuộc kiểm toán Yêu cầu này đã được cập nhật và đưa vào “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315”

1.2 Khái niệm trọng yếu

1.2.1 Khái niệm trọng yếu trong kế toán

Năm 1980, “Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB)” ra tuyên bố về các đặc điểm định tính của thông tin kế toán – “Tuyên bố số 2”, đã đề cập về tính trọng yếu như sau:

“Các khoản quá nhỏ để được cho là trọng yếu nếu chúng là kết quả của các nghiệp vụ thông thường có thể được coi là trọng yếu nếu chúng hình thành từ các tình huống không bình thường” (đoạn 123) và khái niệm trọng yếu được trình bày trong đoạn 132: “Sự bỏ sót hay trình bày sai một vấn đề trên báo cáo tài chính là trọng yếu nếu, khi có cân nhắc tới các tình huống phụ cận, tầm quan trọng của vấn đề có thể làm cho xét đoán có hợp lý của người sử dụng báo cáo có thể bị thay đổi hoặc bị ảnh hưởng bởi sự bỏ sót hoặc sai phạm đó”

Năm 1989, Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành khung khái niệm về chuẩn

bị và trình bày báo cáo tài chính, sau đó khung khái niệm này được cập nhật vào tháng 3/2010 và sửa đổi vào tháng 3/2018, trong đó có xác định: “Thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót thông tin hoặc sai phạm có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người

sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô của vấn đề hoặc bản chất của sai phạm được xét đoán trong từng tình huống riêng biệt của sự bỏ sót hoặc sai phạm đó”

Bên cạnh chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) cũng đề cập đến “tính trọng yếu” trong bảy nguyên tắc kế toán căn bản như sau: “Thông tin được coi

là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người

sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.”

Như vậy, khi đưa ra nhận định về tính trọng yếu, chuẩn mực kế toán Việt Nam tiếp cận khá gần với chuẩn mực kế toán quốc tế, đó là đều đứng về phía của người sử dụng báo cáo tài chính, xem xét những ảnh hưởng trọng yếu có thể có tác động đến quyết định kinh tế của

Trang 13

bản thân, và “tính trọng yếu” được xem xét trên cả phương diện định tính và định lượng của thông tin

Khi thực hành kế toán, tính trọng yếu thể hiện rõ nhất khi trình bày thông tin trên báo cáo tài chính, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 có đề cập như sau: “Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.” Ví dụ cụ thể về thông tin không trọng yếu được trình bày tập hợp là khoản mục tiền trên bảng cân đối kế toán, trong khoản mục tiền sẽ có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng cũng như tiền đang chuyển, tuy nhiên do không trọng yếu và có cùng tính chất, chức năng nên có thể tập hợp lại trình bày thành một khoản mục trên bảng cân đối là “Tiền” – mã số

111 Đối với “chi phí lãi vay” trong khoản mục “chi phí tài chính” trên bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, được xem là thông tin trọng yếu đối với việc ra quyết định của người

sử dụng báo cáo tài chính nên được trình bày thành một mục riêng trên báo cáo

Mặt khác, đối với người sử dụng báo cáo tài chính khi xem xét, đánh giá báo cáo tài chính, nên quan tâm đến bản chất, nội dung của sự việc, chú trọng đến những vấn đề trọng yếu, những vấn đề ảnh hưởng không đáng kể đến báo cáo tài chính thì không cần thiết phải quan tâm

1.2.2 Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) đề cập đến mục tiêu tổng thể của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính như sau: “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không…” Như vậy, kiểm toán viên không có trách nhiệm phải phát hiện mọi sai sót cũng như đảm bảo tuyệt đối rằng báo cáo tài chính là chính xác, không chứa đựng sai sót mà chỉ có trách nhiệm đưa ra ý kiến về sự đảm bảo hợp lý liệu báo cáo tài chính còn chứa sai sót trọng yếu không Vì vậy, trên báo cáo tài chính sau khi kiểm toán có thể tồn tại sai sót, nhưng sai sót đó có thể chấp nhận được, không ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính

Năm 1977, vào tháng 10 “Ủy ban Thực hành Kiểm toán Quốc tế (IAPC)” ban hành “Các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IAG”, trong đó có đưa ra khái niệm trọng yếu ở nguyên tắc số 01 và nguyên tắc số 25 như sau: “Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ, bản chất của sai phạm (kể cả việc bỏ sót) thông tin tài chính một cách đơn lẻ hoặc từng nhóm, mà trong bối cảnh cụ thể, nếu dựa vào thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm” (IAG 25) và “Để hình thành các nhận xét của mình về báo cáo tài chính, kiểm toán viên tiến hành các phương pháp đã được định trước để đạt đến sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo tài chính này đã được xem xét một cách chính xác về mọi phương diện trọng yếu” (IAG 01)

Khái niệm trọng yếu trong ISA 320 (7/1994) và trong Framework (1989) do IASB ban hành được sử dụng như nhau và đã trình bày ở trên Trên tinh thần đó, VSA 320 (12/2012) về

“Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán” đã giải thích thuật ngữ “trọng

Trang 14

yếu” như sau: “Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính” Như vậy có thể thấy dù là chuẩn mực quốc tế hay Việt Nam đều có quan điểm về “trọng yếu” như nhau Chuẩn mực cũng yêu cầu khi xem xét “tính trọng yếu”, kiểm toán viên phải xét trên cả hai mặt là định lượng và định tính, cụ thể nội dung này sẽ được trình bày trong phần 1.3

1.2.3 Phân biệt trọng yếu trong kiểm toán và kế toán

Như đã trình bày ở trên, trọng yếu trong kế toán hay kiểm toán đều giống nhau ở điểm là nói đến sự quan trọng của thông tin mà nếu thiếu thông tin hay thông tin không chính xác thì có thể gây ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Về mặt định lượng, trọng yếu thể hiện trong kế toán và kiểm toán đều như nhau là đề cập đến số tiền sai sót tối đa có thể chấp nhận được Tuy nhiên, cần phân biệt mặt định tính của trọng yếu trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán

Trong kiểm toán báo cáo tài chính, khi kiểm toán viên phát hiện được sai sót (nếu có) là do đơn vị gian lận, kiểm toán viên sẽ đánh giá đó là sai sót trọng yếu, mặc dù giá trị sai sót nhỏ

và không được xem là trọng yếu trong kế toán Lúc này kiểm toán viên cần phải tăng các thủ tục kiểm toán để đảm bảo mục tiêu của cuộc kiểm toán

Tuy nhiên đối với kế toán, mục đích của kế toán không phải xem xét sai sót có phải do gian lận hay nhầm lẫn gây ra, mà là sai sót đó ảnh hưởng gì tới việc đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin trình bày trên báo cáo tài chính

1.3 Trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Một ví dụ khác về sai sót trọng yếu khi công bố và thuyết minh báo cáo tài chính là khi đơn

vị không thuyết minh hoặc thuyết minh không đúng về phương pháp tính khấu hao tài sản

cố định, điều này ảnh hưởng đến các khoản mục chi phí, lợi nhuận, tài sản,… trên báo cáo tài chính và khiến người đọc báo cáo hiểu sai bản chất của vấn đề

Trang 15

1.3.3.1 Khái niệm mức trọng yếu

“Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 320” giải thích “mức trọng yếu” như sau: “Mức trọng yếu: Là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”

“Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 320” cũng làm nổi bật một số điểm chính liên quan đến mức trọng yếu trong một cuộc kiểm toán, bao gồm:

 Sai sót (kể cả bỏ sót) có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, được coi là trọng yếu

 Xét đoán (nghĩa là không có một câu trả lời đúng tuyệt đối) dựa trên những tình huống

cụ thể bao gồm những sai sót về số lượng cũng như bản chất của sai sót, hoặc cả hai

 Những quyết định được đưa ra dựa trên nhu cầu chung của một nhóm người sử dụng báo cáo tài chính chứ không phải của một cá thể đặc biệt, nhóm người đó có thể là cổ đông, chủ nợ, nhà đầu tư hiện hữu hay tiềm tàng, “Và những ảnh hưởng tiềm tàng có thể có đối với một số ít người sử dụng báo cáo tài chính mà nhu cầu của họ có nhiều khác biệt so với phần lớn những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính sẽ không được xét đến.” Như vậy, hai chuẩn mực này đều đề cập đến mức trọng yếu như là khía cạnh định lượng của tính trọng yếu Ngoài ra có thể thấy, chuẩn mực kiểm toán quốc tế đưa ra cái nhìn đầy đủ,

cụ thể hơn để người sử dụng thông tin hiểu rõ về việc vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán viên

1.3.4 Phân loại các mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

“Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ISA 320” trình bày ở đoạn 10 và 11 như sau: “Khi lập chiến lược kiểm toán tổng thể, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính” và “Kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu thực hiện cho mục đích đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu và xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo” Ngoài ra, theo “Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 450” - “Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán” có đề cập đến ngưỡng sai sót không đáng

kể Như vậy có các loại mức trọng yếu cần được xác định trong một cuộc kiểm toánlà:

“Mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính: là mức giá trị mà kiểm toán viên

xác định ở cấp độ toàn bộ báo cáo tài chính, có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức trọng yếu này là cơ sở để kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính có trình bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Nó thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm dựa trên một số tiêu chí nhất định như lợi nhuận trước thuế, doanh thu thuần, tài sản thuần, tổng tài sản, … Việc chọn tiêu chí nào tùy thuộc vào nhiều vấn đề như sự quan tâm của người

sử dụng báo cáo tài chính, đặc điểm của đơn vị được kiểm toán và tính chất ổn định của yếu tố/ khoản mục được chọn.”

“Mức trọng yếu thực hiện: là một số tiền được xác định thấp hơn mức trọng yếu

tổng thể báo cáo tài chính, được sử dụng trong việc lập kế hoạch hay đánh giá kết

Trang 16

nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện khi tổng hợp lại có thể làm cho tổng thể bị sai sót trọng yếu.”

“Ngưỡng sai sót không đáng kể Đây không phải là mức trọng yếu nhưng việc xác

định ngưỡng này giúp kiểm toán viên loại bỏ những sai sót quá nhỏ mà ngay cả khi tổng hợp lại cũng không đủ gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Các sai sót dưới ngưỡng sai sót không đáng kể sẽ không cần tổng hợp lại khi trao đổi với đơn

vị và quyết định ý kiến kiểm toán Ngưỡng sai sót không đáng kể chủ yếu được sử dụng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, tuy nhiên nó cũng được xác định cùng lúc với xác định mức trọng yếu Thường ngưỡng này bằng một tỷ lệ phần trăm khá nhỏ của mức trọng yếu thực hiện, thí dụ 5%.” (Giáo trình Kiểm toán, 2017, trang 112) Ngoài ra, VSA 320, phần II, đoạn 10 còn quy định, “Trong những trường hợp cụ thể của đơn

vị được kiểm toán, nếu có một hoặc một số nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh (nếu xét riêng lẻ) có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhưng có thể có ảnh hưởng (nếu xét tổng thể) đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu áp dụng cho từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh” Hình sau mô tả mối quan

hệ giữa các mức trọng yếu:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các mức trọng yếu

1.3.5 Vai trò của mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

1.3.5.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Trong“quá trình kiểm toán, do giới hạn nguồn lực và cân bằng mối quan hệ lợi ích và chi phí nên kiểm toán viên không thể kiểm tra hết tất cả các số dư, giao dịch và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính Vì vậy, việc vận dụng thích hợp mức trọng yếu đã được xác định trong giai đoạn này giúp kiểm toán viên tập trung vào các phần hành quan trọng, được đánh giá là có rủi ro sai sót trọng yếu để thiết kế nội dung, phạm vi và lịch trình cho các thủ tục kiểm toán tiếp theo Đối với những vấn đề được xem là khá nhỏ so với mức trọng yếu, kiểm toán viên có thể không tập trung hoặc chỉ thực hiện một số thủ tục kiểm toán cơ bản đối với các phần hành đó và dành thời gian tập trung vào các phần hành trọng yếu hơn Việc xác định mức trọng yếu trong giai đoạn này giúp kiểm toán viên xác định trọng tâm của cuộc kiểm toán và đi đúng hướng khi kiểm toán

Mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính

Mức trọng yếu thiết lập cho khoản

mục đặc biệt (nếu có)

Ngưỡng sai sót không đáng kể (nếu

có)

Mức trọng yếu thực hiện thiết lập

cho khoản mục đặc biệt (nếu có)

Ngưỡng sai sót không đáng kể

Mức trọng yếu thực hiện dùng cho việc đánh giá rủi ro và thiết kế các thủ tục

kiểm toán

Trang 17

Sau khi thiết lập mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, được gọi là mức trọng yếu thực hiện để làm cơ sở xác định nội dung, lịch trình cũng như phạm vi cho các thủ tục kiểm toán tiếp theo để kiểm tra các khoản mục đó.”

1.3.5.2 Trong giai đoạn thực hiện cuộc kiểm toán

Do“có mối quan hệ với nhau nên mức trọng yếu đã được xác định của cuộc kiểm toán sẽ quyết định đến số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, đồng thời còn được sử dụng để đánh giá các sai sót phát hiện được trong quá trình kiểm toán So sánh các sai sót phát hiện được trong quá trình kiểm toán (đã tổng hợp lại) với mức trọng yếu đã xác lập để xem xét việc có cần điều chỉnh chiến lược kiểm toán tổng thể và kế hoạch kiểm toán hay không, có cần thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung để xác định liệu có còn sai sót khác hay không Trong các trường hợp khác, kiểm toán viên cần trao đổi với Ban Giám đốc của đơn vị để đề nghị các chỉnh sửa cần thiết nhằm loại trừ ảnh hưởng của các sai sót đến báo cáo tài chính.”

1.3.5.3 Giai đoạn hình thành ý kiến kiểm toán

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần tổng hợp tất cả sai sót không được điều chỉnh, ngoại trừ các sai sót dưới ngưỡng sai sót không đáng kể, để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến các khoản mục cũng như tổng thể báo cáo tài chính Mức trọng yếu đã xác lập sẽ được sử dụng

là cơ sở cho việc đánh giá này và kết quả đánh giá sẽ là cơ sở cho kiểm toán viên hình thành

ý kiến kiểm toán

1.3.6 Thiết lập mức trọng yếu

Chuẩn“mực kiểm toán Việt Nam số 320 có yêu cầu kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính khi lập chiến lược kiểm toán tổng thể và phải xác định mức trọng yếu thực hiện cho mục đích đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu và thiết kế các thủ tục kiểm toán tiếp theo Chuẩn mực này có đưa ra hướng dẫn để xác định cơ sở của việc thiết lập mức trọng yếu, tuy nhiên trên thực tế, các hướng dẫn khá chung chung và rất khó khăn

để áp dụng cho các trường hợp khác nhau Do đó, để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn, phần sau bài viết sẽ trình bày phương pháp được áp dụng theo hướng dẫn của chuẩn mực, đồng thời trình bày các nghiên cứu đã thực hiện trong thực tế về phương pháp xác lập mức trọng yếu.”

1.3.6.1 Yếu cầu của chuẩn mực kiểm toán số 320

Đoạn A2 đến A12 của VSA 320“hướng dẫn việc thiết lập mức trọng yếu, trong đó chuẩn mực có yêu cầu việc xác lập mức trọng yếu đòi hỏi xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên Thông thường, mức trọng yếu sẽ được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên một tiêu chí của báo cáo tài chính được lựa chọn Các tiêu chí này được gọi là cơ sở để xác lập mức trọng yếu, chuẩn mực có hướng dẫn cách lựa chọn và sẽ được trình bày trong phần sau.”

1.3.6.1.1 Các tiêu chí sử dụng để xác định mức trọng yếu

Các“tiêu chí trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: lợi nhuận trước thuế, tổng doanh thu, lợi nhuận gộp, tổng chi phí Đối với những đơn vị hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, tiêu chí thường được sử dụng là lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh Lựa chọn lợi

Trang 18

lỗ từ hoạt động khác Tuy nhiên, khi lợi nhuận của doanh nghiệp biến động bất thường, kiểm toán viên sẽ cân nhắc việc sử dụng một tiêu chí khác như doanh thu

Các tiêu chí trên Báo cáo tình hình tài chính: tổng tài sản hoặc tài sản thuần, tổng vốn chủ

sở hữu, vốn vay, … Khi người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm đế khả năng thanh toán của đơn vị khi đưa ra quyết định đầu tư, hoặc đơn vị hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay thì các chỉ tiêu này sẽ được cân nhắc lựa chọn

Tuy nhiên, để lựa chọn tiêu chí nào là phù hợp, kiểm toán viên cần sử dụng xét đoán chuyên môn và xem xét đến các yếu tố như là các yếu tố của báo cáo tài chính; các khoản mục mà người sử dụng báo cáo tài chính thường quan tâm; đặc điểm hoạt động kinh doanh, ngành nghề và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán; cơ cấu sở hữu vốn và cách thức huy động vốn và khả năng thay đổi tương đối của các tiêu chí đã được xác định.”

1.3.6.1.2 Dữ liệu tài chính phù hợp để xác định mức trọng yếu

Sau khi đã lựa chọn tiêu chí, kiểm toán viên cần xem xét dữ liệu tài chính phù hợp với tiêu chí đã lựa chọn để xác định mức trọng yếu Các dữ liệu tài chính phù hợp bao gồm:

 Các số liệu về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của kỳ trước

 Các số liệu về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính lũy kế đến kỳ này

 Kế hoạch hay dự toán cho kỳ hiện tại, được điều chỉnh khi có biến động lớn theo từng trường hợp cụ thể của đơn vị được kiểm toán và những thay đổi liên quan trong ngành nghề hay môi trường kinh doanh mà đơn vị đang hoạt động

 Để xác lập mức trọng yếu phù hợp và sát với thực tế nhất, nên sử dụng số liệu trong quá khứ và có điều chỉnh số liệu kế hoạch của kỳ hiện tại, vì như vậy sẽ loại bỏ được những yếu tố không dự kiến được và những yếu tố đã xảy ra trong kỳ trước sẽ không xảy ra lại trong kỳ hiện tại và tương lai, đảm bảo mức trọng yếu không biến động đáng kể giữa các năm kiểm toán

1.3.6.1.3 Tỷ lệ phần trăm áp dụng cho tiêu chí được lựa chọn

Việc“xác định lấy tỷ lệ bao nhiêu phần trăm áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên trong từng trường hợp cụ thể Tỷ lệ phần trăm và tiêu chí được lựa chọn thường có mối liên hệ với nhau, nếu tiêu chí được lựa chọn là lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh thì tỷ lệ phần trăm sẽ cao hơn so với tiêu chí là doanh thu, điều này tùy thuộc vào quy mô của khoản mục được lựa chọn Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm cao hay thấp còn phụ thuộc vào quy mô của từng trường hợp cụ thể và xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên

Như vậy, theo như các hướng dẫn trên của chuẩn mực VSA 320, chưa đủ để có được hướng

đi rõ ràng để xác lập mức trọng yếu Trong thực tế đã có nhiều nghiên cứu hướng dẫn cụ thể cũng như rõ ràng hơn về phương pháp xác lập mức trọng yếu”trong các trường hợp điển hình và được nhiều người thực hiện

Trang 19

1.3.6.2 Phương pháp thiết lập mức trọng yếu theo các nghiên cứu đã thực hiện

1.3.6.2.1 Quy trình xác định mức trọng yếu

ISA“hay VSA đều không đưa ra hướng dẫn cụ thể trong việc thiết lập và vận dụng mức trọng yếu, chủ yếu là yêu cầu kiểm toán viên dựa vào xét đoán chuyên môn Vì vậy phần dưới đây người viết sẽ trình bày“công trình nghiên cứu của Alvin A.Aren và các cộng sự (2012) Công trình này đã giải quyết vấn đề của Chuẩn mực, đưa ra năm bước khi thiết lập và vận dụng mức trọng yếu như sau:

Bước 1: Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho tổng thể báo cáo tài chính

Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu của tổng thể báo cáo tài chính cho từng khoản mục

Bước 3: Ước tính sai sót của tổng thể báo cáo tài chính

Bước 4: Ước tính sai sót cho từng khoản mục

Bước 5: So sánh sai sót tổng hợp đã được ước tính được ở bước 3, 4 với mức trọng yếu đã ước lượng ở bước 1, 2 hoặc mức trọng yếu đã điều chỉnh

Bước 1 và bước 2 là công việc được thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, đó là xác định mức trọng yếu tổng thể trình bày ở bước 1, và xác định mức trọng yếu thực hiện cho từng khoản mục trình bày ở bước 2 Dưới đây là minh họa các cơ sở thiết lập mức trọng yếu được xây dựng phù hợp với nhiều tình huống có thể xảy ra trong thực”tế

“Các cơ sở để xây dựng mức trọng yếu

Lãi gộp

Tỷ lệ phần trăm biến thiên theo lãi gộp

Tỷ lệ này được xác định trong từng trường hợp cụ thể theo bảng sau: Đvt: USD

Trang 20

Vốn chủ

sở hữu

1% vốn chủ sở hữu

Cơ sở này cũng tương tự như 5% - 10% lợi nhuận, tuy nhiên tính ổn định của cơ

sở này cao hơn

Doanh

thu

0,5% Doanh thu

Hỗn hợp Được xây dựng trên cơ sở trung bình cộng của năm cơ sở trên

Tỷ lệ phần trăm khác nhau dựa trên doanh thu

Cơ sở này cũng tương tự như cơ sở doanh thu Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm được

sử dụng sẽ biến thiên tùy thuộc vào doanh thu của doanh nghiệp Bảng tính tỷ lệ phần trăm như sau:

Bảng 1.1: Minh họa các cơ sở thực tế trong xây dựng mức trọng ” yếu 1

Trang 21

Trong đó: X là doanh thu

1Nguyễn Trí Tri (2012), “Cở sở lý luận về tính trọng yếu, chuẩn mực kế toán quốc tế về tính trọng yếu và sự vận dụng tại các công ty kiểm toán quốc tế khi kiểm toán báo cáo tài chính”,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trang 19 – 29

1.3.6.2.2 Các phương pháp xác định mức trọng yếu

Một số phương pháp để xác lập mức trọng yếu đã được Thomas E.McKee và Aasmund Eilifsen (7/2010) trình bày trong cuốn “Current Materiality Guidance for Auditors” được đăng trên “The CPA Journal” như sau:

a Phương pháp một giá trị

Kiểm toán viên cần lựa chọn chỉ tiêu tài chính phù hợp tùy thuộc vào thực trạng hoạt động tài chính của khách hàng và mục đích của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính Đối với từng cơ sở là chỉ tiêu tài chính, cần có một tỷ lệ tương ứng thích hợp

Phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể: Kiểm toán viên lấy một tỷ lệ nhất định nhân với một chỉ số tài chính đã được lựa chọn để tính mức trọng yếu cho tổng thể báo cáo tài chính Tỷ lệ này bao nhiêu thường được quyết định dựa trên thông lệ quốc tế, chương trình

và chính sách của chính công ty kiểm toán đối với trọng yếu và rủi ro kiểm toán Hiện tại theo hướng dẫn của “chương trình kiểm toán mẫu” của “Hội kiểm toán viên hành nghề (VACPA)” thì đối với chỉ tiêu được lựa chọn là “Lợi nhuận trước thuế” thì tỷ lệ từ 5%-10%;

“Tổng tài sản” từ 1%-2%; “Vốn chủ sở hữu” từ 1%-5%; “Tổng doanh thu” từ 0,5%-3% Tuy nhiên đây chỉ là hướng dẫn chung và thực tế khi đi vào thiết lập mức trọng yếu, kiểm toán viên có thể căn cứ vào các hướng dẫn chi tiết hơn để xác định chính xác tỷ lệ cần chọn

b Phương pháp chuỗi giá trị

Tương tự như phương pháp một giá trị, kiểm toán viên cần chọn một chỉ tiêu tài chính thích hợp, ứng với chỉ tiêu được chọn là một tỷ lệ phù hợp

Phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể: Về bản chất phương pháp này gần giống với phương pháp một giá trị đã được trình bày ở trên, và cũng được tính theo công thức tương

tự Tuy nhiên điểm khác biệt là đối với chỉ tiêu tài chính, kiểm toán viên sẽ chọn một khoảng giá trị nhất định trong đó để tính mức trọng yếu

Trang 22

d Phương pháp sử dụng công thức

Mỗi“công ty kiểm toán khác nhau sẽ xây dựng công thức tính mức trọng yếu khác nhau trên

cơ sở dữ liệu thống kê khách hàng và nghiên cứu của các chuyên gia thống kê

Phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể: căn cứ vào công thức đã quy định sẵn trong chính sách của công ty kiểm toán và số liệu thực tế của khách hàng để làm cơ sở xác định mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính

Một trong những công ty kiểm toán lớn nhất thế giới những năm 1980, Peat Marwick International là công ty đầu tiên xây dựng công thức để xác định mức trọng yếu tổng thể áp dụng cho các cuộc kiểm toán tại công ty mình Công thức này được xây dựng dựa trên một nghiên cứu thống kê từ các khách hàng mà công ty đã kiểm toán và đúc kết như sau:

M = 𝜷𝒙[𝑴𝒂𝒙 (∑𝑵𝒊=𝟏𝑻à𝒊 𝒔ả𝒏𝒊, ∑𝑵𝒊=𝟏𝑫𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖𝒊)]∝Trong đó: M là ước lượng ban đầu của mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính

β là hằng số dương với β>1

α là hằng số dương với α<1

i=1,2,…,N là chỉ số tài sản hoặc doanh thu”

1.3.6.2.3 Đánh giá các phương pháp xác định mức trọng yếu

Phương pháp một giá trị Tiết kiệm được nhiều thời

gian và chi phí do khá đơn giản, dễ dàng thực hiện

Không phù hợp với nhiều loại hình doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp khác nhau do chỉ lấy một tỷ lệ nhất định, khả năng linh hoạt không cao

Phương pháp chuỗi giá trị Tiết kiệm được thời gian và

chi phí do đơn giản, dễ thực hiện

Phù hợp với quy mô khác nhau của các doanh nghiệp

do lấy một khoảng giá trị để xác định tỷ lệ tương ứng, không phải chỉ lấy một giá trị như phương pháp ở trên

Tuy tỷ lệ được chọn đã linh hoạt nhưng vẫn không phù hợp với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau do

sử dụng một tiêu thức cố định

Phương pháp bình quân Đối với từng doanh nghiệp

có quy mô, lĩnh vực khác nhau, phương pháp này có thể đưa ra đánh giá phù hợp

Yêu cầu kiểm toán viên phải

có hiểu biết nhất định về doanh nghiệp, lĩnh vực kinh

Trang 23

Kết hợp được nhiều chỉ tiêu, làm cho số liệu của nhiều năm không có sự khác nhau quá lớn

doanh, tình hình cụ thể của doanh nghiệp

Phương pháp sử dụng công

thức

Có áp dụng hệ số rủi ro và kết hợp được nhiều chỉ tiêu lại với nhau

Việc xây dựng được công thức khá phức tạp và dựa nhiều vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên

Bảng 1.2: Ưu điểm và nhược điểm của bốn phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể

báo cáo tài chính

Phần“trên đã trình bày các phương pháp xác định mức trọng yếu tổng thể, sau đây người viết sẽ trình bày phần tiếp theo là xác định mức trọng yếu thực hiện cho từng khoản mục theo nghiên cứu trên đã thực hiện:

 Dựa vào xét đoán của kiểm toán viên: phương pháp này chỉ dựa vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên để ước tính tỷ lệ phần trăm để phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục

 Dựa vào kinh nghiệm năm trước: Nếu kiểm toán viên nhận thấy năm trước có nhiều bút toán điều chỉnh cho một khoản mục, vì vậy có thể đánh giá hệ thống kế toán yếu kém và cần phải kiểm toán chặt chẽ hơn trong năm hiện hành, lúc này xác lập mức trọng yếu cho khoản mục này thấp hơn so với”năm trước Phương pháp này cũng dựa vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên

 Tính theo công thức tỷ lệ:

Mức trọng yếu thực hiện = mức trọng yếu tổng thể BCTC * Tỷ lệ %

Tùy theo xét đoán của kiểm toán viên mà tỷ lệ này có thể dùng chung cho các khoản mục hoặc thiết lập một tỷ lệ riêng cho một khoản mục riêng nhất định Tỷ lệ này bao nhiêu tùy thuộc vào đánh giá rủi ro ban đầu của các khoản mục

 Dựa vào kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính: đối với các khoản mục được người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm hơn các khoản mục khác trên báo cáo tài chính và sai sót của các khoản mục này có thể ảnh hưởng trọng yếu đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính, thì cần phải thiết lập mức trọng yếu thấp hơn cho các khoản mục này

1.4 Vận dụng trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

1.4.1 Khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu (VSA 315)

“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu.” (Một bài viết trên Cổng thông tin điện tử lớn nhất Việt Nam về kiến thức Kinh doanh – Tài chính SAGA) Do đó, mức trọng yếu là một trong những cơ sở của quá trình đánh giá rủi ro, mà trước hết là việc xác định nội dung, phạm vi và lịch trình của các thủ tục đánh giá rủi ro

Trang 24

Ví dụ khi kiểm toán đơn vị sản xuất, doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn Kiểm toán viên phải tìm hiểu về chiến lược kinh doanh, cạnh tranh, định mức tồn kho,… thông qua các thủ tục như phỏng vấn ban giám đốc và phân tích báo cáo tài chính để đánh giá rủi

ro có sai sót trọng yếu liên quan đến khoản mục này

Việc xác lập mức trọng yếu ngay từ đầu còn giúp kiểm toán viên dễ dàng nhận biết và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Tiếp tục thí dụ trên, giả định qua phân tích báo cáo tài chính, kiểm toán viên nhận thấy rằng có sự gia tăng đáng kể của hàng tồn kho so với mức ước tính hợp lý từ tình hình bán hàng năm nay, kiểm toán viên sẽ đánh giá

là có thể có rủi ro sai sót trọng yếu cao đối với khoản mục này Để kết luận rằng sự gia tăng

là đáng kể, kiểm toán viên so sánh số liệu biến động, chênh lệch giữa số liệu trên báo cáo tài chính với mức trọng yếu đã xác lập

1.4.2 Khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo cần thực hiện (VSA 330)

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần xem xét đến“mức trọng yếu tổng thể được phân bổ cho từng khoản mục Trên cơ sở rủi ro được đánh giá, các thủ tục kiểm toán tiếp theo có tham chiếu đến mức trọng yếu thực hiện này Tùy theo mức trọng yếu mà kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo

Theo VSA 330 có hướng dẫn khi thiết kế các thủ tục kiểm toán tiếp theo, nếu mức độ rủi ro được kiểm toán viên đánh giá càng cao thì càng phải thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán thuyết phục hơn, tức là tăng số lượng bằng chứng kiểm toán hoặc thu thập bằng chứng thích hợp hơn hay đáng tin cậy hơn Như vậy, có thể thấy phạm vi của các thủ tục kiểm toán được

áp dụng phụ thuộc vào mức trọng yếu và rủi ro đã được đánh giá

Cụ thể hơn, theo chuẩn mực VSA 500, tại đoạn A52 “Lựa chọn phần tử kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán” có hướng dẫn các phương pháp để lựa chọn các phần tử để kiểm tra là: chọn tất cả các phần tử (kiểm tra 100%); lựa chọn các phần tử cụ thể (phần tử đặc biệt); lấy mẫu kiểm toán Việc áp dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp này có thể phù hợp tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, như rủi ro có sai sót trọng yếu liên quan đến cơ sở dẫn liệu đang được kiểm tra, tính khả thi và hiệu quả của các phương pháp khác nhau Trên thực

tế, kiểm toán viên thường chia tổng thể thành hai phần căn cứ vào mức trọng yếu Đối với các phần tử có số tiền lớn hơn hoặc bằng mức trọng yếu sẽ được kiểm tra toàn bộ (phương pháp lựa chọn các phần tử cụ thể), các phần tử còn lại, kiểm toán viên chọn một số phần tử

để kiểm tra (phương pháp lấy mẫu kiểm toán) Kết quả của hai phần sẽ được sử dụng phối hợp để đánh giá khoản mục

Khi tiến hành phương pháp lấy mẫu kiểm toán, kiểm toán viên cần lưu ý nhiều yếu tố, trong

đó có mức trọng yếu và đặc điểm của tổng thể Ở đây, mức trọng yếu liên quan trực tiếp và

là cơ sở để xác định cỡ mẫu cũng như khoảng cách mẫu Chương trình kiểm toán mẫu của VACPA (2013) có hướng dẫn công thức để xác định cỡ mẫu:

Cỡ mẫu = (Gía trị tổng thể / Mức trọng yếu thực hiện) x R Khoảng cách mẫu = Gía trị tổng thể / Cỡ mẫu = Mức trọng yếu thực hiện / R

Trang 25

Trong đó, R là hệ số rủi ro được xác định dựa trên mức độ đảm bảo mà thử nghiệm chi tiết cần đạt được đối với mẫu được chọn.”

1.4.3 Khi đánh giá ảnh hưởng của các sai sót (VSA 450) và hình thành ý kiến kiểm toán (VSA 700)

1.4.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của các sai sót đã phát hiện đối với cuộc kiểm toán

Theo yêu cầu của chuẩn mực VSA 450 “Tổng hợp các sai sót đã được phát hiện”, đoạn 05 trình bày: “Kiểm toán viên phải tổng hợp tất cả các sai sót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán, trừ những sai sót không đáng kể” Sai“sót không đáng kể này là các sai sót nhỏ hơn ngưỡng sai sót không đáng kể đã được xác định cùng lúc khi thiết lập mức trọng yếu Các sai sót không đáng kể này không cần tổng hợp lại vì kiểm toán viên cho rằng tổng hợp các sai sót đó không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính

Chuẩn mực còn yêu cầu khi phát hiện các sai sót, kiểm toán viên cần phải xem xét các sai sót có thể đi kèm, tính chất của sai sót và mức độ tác động tổng hợp đến báo cáo tài chính,

kể cả các sai sót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính gần đạt tới mức trọng yếu Các kết quả này có thể sẽ khiến kiểm toán viên phải điều chỉnh lại chiến lược kiểm toán

Với tất cả sai sót được phát hiện, kiểm toán viên phải trao đổi kịp thời với cấp quản lý phù hợp của đơn vị được kiểm toán Trong trường hợp khác, kiểm toán viên sẽ trao đổi với Ban giám đốc đơn vị để đề nghị các chỉnh sửa cần thiết nhằm loại trừ ảnh hưởng của sai sót đến báo cáo tài chính

Nếu Ban giám đốc từ chối điều chỉnh một số hoặc tất cả các sai sót do kiểm toán viên yêu cầu, lúc này kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh đến báo cáo tài chính.”

1.4.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh đối với báo cáo tài chính

Sai sót không“được điều chỉnh là sai sót mà kiểm toán viên đã phát hiện và tổng hợp lại nhưng đơn vị từ chối điều chỉnh theo yêu cầu của kiểm toán viên VSA 450 yêu cầu kiểm toán viên phải xác định liệu các sai sót không được điều chỉnh có trọng yếu hay không khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại Việc xem xét này phải dựa trên cả phương diện định tính và định lượng Chuẩn mực này có đưa ra một vài hướng dẫn đánh giá ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh như sau:

Ảnh hưởng của từng sai sót riêng lẻ cần được đánh giá trong mối quan hệ với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh liên quan và xem xét các sai sót có vượt quá mức trọng yếu áp dụng cho các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh đó hay không

Nếu một sai sót riêng lẻ được đánh giá là trọng yếu thì không được bù trừ với các sai sót khác

Trong một số trường hợp, các sai sót, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, vẫn được coi là trọng yếu mặc dù giá trị của các sai sót này có thể thấp hơn mức trọng yếu áp dụng cho tổng

Trang 26

Kiểm toán viên phải xem xét ảnh hưởng của một sai sót do hoặc có thể do gian lận đến các khía cạnh khác của cuộc kiểm toán ngay cả trong trường hợp mức độ sai sót này là không trọng yếu đối với báo cáo tài chính.”

1.4.3.3 Hình thành ý kiến kiểm toán (VSA 700)

Chuẩn mực VSA 700 có hướng dẫn:

“Để đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải kết luận liệu kiểm toán viên đã đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Kết luận đó cần tính đến:

 Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp hay chưa

 Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu những sai sót không được điều chỉnh, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, có trọng yếu hay không

 Các đánh giá về việc báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập

và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng trên các khía cạnh trọng yếu hay không

 Việc đánh giá ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh, ngoại trừ sai sót dưới ngưỡng sai sót không đáng kể là cơ sở để kiểm toán viên quyết định loại ý kiến kiểm toán.”

1.5 Mối quan hệ giữa mức trọng yếu, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán

Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai sót trọng yếu Theo VSA 200, rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro phát hiện và rủi ro sai sót trọng yếu Nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán có thể là do rủi ro lấy mẫu (vì kiểm toán viên chỉ có thể chọn mẫu để kiểm tra chứ không thể kiểm tra hết toàn bộ 100% phần tử, nên có thể kết quả đưa ra từ kiểm tra chọn mẫu sẽ khác với kết quả nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể), hoặc rủi ro ngoài lấy mẫu (do kiểm toán viên sử dụng thủ tục không phù hợp, hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ, kinh nghiệm và xét đoán của kiểm toán viên,…khiến đưa ra kết luận sai)

Mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán là quan hệ tỷ lệ nghịch, nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Khi kiểm toán viên thiết lập mức trọng yếu càng cao, nghĩa là sai sót tối đa có thể chấp nhận được càng lớn và rủi ro khi kiểm tóan viên không phát hiện được các sai sót trọng yếu là nhỏ, do đó rủi ro kiểm toán nhỏ Ngược lại với mức trọng yếu càng nhỏ thì số tiền sai sót chấp nhận được càng nhỏ, lúc này kiểm toán viên sẽ gặp rủi ro không phát hiện được sai sót trọng yếu cao nên rủi ro kiểm toán cao Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán Khi lập kế hoạch, nếu kiểm toán viên thiết lập mức trọng yếu nhỏ, dẫn đến rủi ro kiểm toán lớn, lúc này để giảm rủi ro phát hiện xuống cần sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến

Bằng chứng kiểm toán: theo VSA 500 định nghĩa như sau: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán Bằng chứng kiểm toán bao gồm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả báo cáo tài chính và những tài liệu, thông tin khác;”

Trang 27

Kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định liệu bằng chứng kiểm toán thu thập được đã đầy đủ và“thích hợp để làm giảm rủi ro kiểm toán xuống mức có thể chấp nhận được hay không, từ đó đưa ra kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán Một trong những yếu tố cần quan tâm khi xét đoán về tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán là mức trọng yếu của các khoản mục Khi mức trọng yếu được thiết lập càng thấp, nghĩa là sai sót chấp nhận được càng nhỏ, như giải thích ở trên thì rủi ro kiểm toán càng lớn

và muốn giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức có thể chấp nhận được thì phải giảm rủi ro phát hiện bằng cách thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm cơ bản Như vậy, mức trọng yếu và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập tỷ lệ nghịch với nhau Tóm lại, khi mức trọng yếu được thiết lập thấpthì rủi ro kiểm toán cao và số lượng bằng chứng cần thu nhập được cao.”

Trang 28

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C 2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

 Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

 Tên giao dịch đối ngoại: Auditing and Consulting Limited Company

 Tên viết tắt: Công ty A&C (A&C Co., Ltd)

 Trụ sở chính: 02 Trường Sơn, phường 2, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh

 Chi nhánh Hà Nội: 40 Giảng Võ, Quận Đống Đa, TP Hà Nội

 Chi nhánh Nha Trang: Lô STH 06A.01 Đường số 13, KĐT Lê Hồng Phong II, P Phước Hải, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

 Chi nhánh Cần Thơ: I5-13 Võ Nguyên Giáp, Quận Cái Răng, TP Cần Thơ

 Công ty con:

 Công ty TNHH Dịch vụ Kế toán và Tư vấn Đồng Khởi

 Công ty TNHH Thẩm định và Tư vấn Việt (V.A&C)

2.1.1 Lịch sử hình thành

Ngày 13 tháng 05 năm 1991 theo Quyết định số 165 của“Bộ Tài Chính công ty kiểm toán Việt Nam VACO được thành lập Ngày 26/03/1992 Chi nhánh VACO thành phố Hồ Chí Minh được thành lập Sau đó, ngày 13/02/1995 A&C được thành lập từ chi nhánh phía Nam của VACO theo Quyết định số 140 TC/QĐ/TCCB, Quyết định số 107 TC/QĐ/TCCB của

Bộ trưởng Bộ Tài chính, tiến hành hoạt động biệt lập theo giấy phép kinh doanh số 102218

do Uỷ ban Kế hoạch TP Hồ Chí Minh cấp

A&C được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho phép kiểm toán các công

ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các công ty đại chúng và các công ty chứng khoán Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chấp thuận cho A&C kiểm toán các ngân hàng và các tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam

Trong quá trình hoạt động A&C tự hào là một trong các Công ty kiểm toán độc lập hàng đầu của ngành Kiểm toán Việt Nam và là Công ty đầu tiên của Bộ Tài chính thực hiện thành công 02 lần chuyển đổi hình thức sở hữu theo qui định của Chính phủ và Bộ Tài chính:

Trang 29

- Cuối năm 2003, Công ty chính thức chuyển từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần Nhà nước

- Tháng 02 năm 2007, A&C chuyển đổi từ Công ty cổ phần Nhà nước sang Công ty TNHH nhiều thành viên

2.1.2 Quá trình phát triển của công ty

Từ tháng 01/2004 đến tháng 4/2010, A&C là thành viên chính thức của HLB International -

Tổ chức kế toán, kiểm toán và tư vấn quốc tế có trụ sở tại Vương quốc Anh với mục đích tăng cường chất lượng cũng như không ngừng mở rộng thị trường khách hàng

Từ tháng 5/2010, A&C là thành viên chính thức của Tập đoàn Kiểm toán quốc tế Baker Tilly International, một trong tám Tập đoàn kiểm toán và tư vấn lớn nhất trên thế giới có trụ sở chính tại số 2 Bloomsbury St London, Vương quốc Anh Đây là bước chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng cung cấp dịch vụ của khách hàng A&C

Ngoài ra, A&C là Hội viên tập thể của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA); Hội viên của Câu lạc bộ Doanh nghiệp Việt Nam (VBC) và là Hội viên tập thể của Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA)

Trong nhiều năm hoạt động liên tục, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C đã mở rộng mạng lưới các chi nhánh tại các trung tâm kinh tế lớn trong nước như Hà Nội, Nha Trang và Cần Thơ Ngành nghề và loại hình dịch vụ cũng phát triển đa dạng hơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường Đồng thời Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C cũng thu được nhiều thành tựu đáng kể như:

 Bằng chứng nhận Thương hiệu uy tín – Trusted Brand Index năm 2015 do Tổ chức đánh giá và chứng nhận quốc tế InterConformity (Cộng hòa Liên bang Đức, châu Âu) phối hợp với Viện Doanh nghiệp Việt Nam trao giải và chứng nhận

 Bằng chứng nhận Hàng Việt tốt – Dịch vụ hoàn hảo năm 2014 do Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam trao giải và chứng nhận

 Giải thưởng Vietnam Top Trade Services Awards 2010 do Bộ Công Thương cấp nhằm tôn vinh doanh nghiệp có hoạt động xuất sắc trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

 Ngày 14/12/2006, Chủ tịch nước đã ký Quyết định 1355/2006/QĐ-CTN, tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng III cho tập thể công ty A&C vì những thành tựu mà Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C đã đạt được trong những năm qua

Cùng nhiều thành tích, giải thưởng khác do các tổ chức trong và ngoài nước công nhận và trao tặng cho các cá nhân, tập thể A&C có thành tích xuất sắc

Trên 25 năm hành nghề kiểm toán và tư vấn các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh

tế, A&C đã thu thập nhiều kỹ năng hành nghề và kinh nghiệm sâu rộng, đồng thời nhiều năm liên tiếp nằm trong top 10 công ty kiểm toán độc lập lớn nhất Việt Nam (sau KPMG, E&Y, Deloitte, PwC, AASC) về doanh thu, số lượng khách hàng, số lượng kiểm toán viên hành nghề,… theo tổng kết của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)”hằng năm

Trang 30

(Tài liệu của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C)

Trang 31

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý

2.1.4 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức

2.1.4.1 Đội ngũ nhân viên

Hơn 25 năm hoạt động, A&C luôn chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên nhằm nâng cao trình

độ chuyện môn, kỹ năng và bản lĩnh nghề nghiệp cùng các kiến thức bổ trợ về pháp luật,

kinh tế, kỹ thuật, thị trường,…

Ngoài các chương trình đào tạo trong nước, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C còn

tạo điều kiện cho đội ngũ nhân viên được tham gia huấn luyện, thực hành tại các nước

Malaysia, Singapore, Philippines, Hongkong, Anh, Pháp, Bỉ, Ireland…do công ty tổ chức

cùng các chương trình hỗ trợ của Bộ Tài Chính, Baker Tilly International và các tổ chức

Lý Quốc Trung

PHÓ TGĐ Nguyễn Minh Trí

PHÓ TGĐ

Lê Hữu Phúc

PHÓ TGĐ Nguyễn Ngọc Thành

PHÓ TGĐ Nguyễn Hoàng Đức

PHÓ TGĐ Nguyễn Văn Kiên

PHÓ TGĐ

Lê Minh Tài

Khối Kiểm toán

BCTC I

Khối Kiểm toán BCTC II

Khối Kiểm toán Đầu tư XDCB

Phòng

Tư vấn

Công tác đào tạo

Chi nhánh

Hà Nội

Chi nhánh Nha Trang

Công ty dịch vụ

và tư vấn Đồng Khởi

và Công ty Thẩm định Việt

Phòng Quản trị Tổng hợp

Phòng Kế toán

Bộ phận Thư ký đối ngoại

PHÓ TGĐ Nguyễn Hữu Danh

Chi nhánh Cần Thơ

Trang 32

Hiện nay, A&C có đội ngũ hơn 450 nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo trong nước và ở nhiều quốc gia khác nhau, trong đó:

 25% đã được Bộ Tài chính cấp Chứng chỉ Kiểm toán viên, Chứng chỉ Thẩm định viên về giá

2.1.4.2 Các cấp bậc kiểm toán viên

Sơ đồ 2.2: Các cấp bậc của kiểm toán viên trong một khối kiểm toán

(Tài liệu của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C)

2.1.4.3 Trách nhiệm của các thành viên trong nhóm kiểm toán

Trách nhiệm của Phó tổng Giám đốc (Partner)

Khai thác các khách hàng mới và phân bổ hợp lý cho các Giám đốc và Chủ nhiệm

Chịu trách nhiệm cao nhất trong phân công lịch công tác cho các KTV, đảm bảo khai thác hiệu quả cao nhất nguồn nhân lực của khối

Chịu trách nhiệm cao nhất trong việc đảm bảo về tổng thể công tác kiểm toán cho các khách hàng tuân thủ đúng theo quy trình của Công ty, tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán và các quy định pháp lý có liên quan

Partner GĐKT CNKT cao cấp CNKT KTV chính KTV 2 KTV1 Trợ lý 2 Trợ lý 1

Trang 33

Soát xét các vấn đề trọng yếu và ký Báo cáo kiểm toán sau khi Giám đốc hoặc Chủ nhiệm kiểm toán đã kiểm tra, soát xét

Trách nhiệm của Giám đốc kiểm toán/ Chủ nhiệm kiểm toán (Manager)

Quản lý các khách hàng được phân công phụ trách, đảm bảo đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng và giữ khách hàng được giao phụ trách

Giải quyết các bất đồng về ý kiến trong cuộc kiểm toán giữa Trưởng nhóm và KTV trong nhóm đồng thời báo cáo cho PTGĐ phụ trách khách hàng biết sự việc

Giám sát nhóm kiểm toán thực hiện kiểm toán cho các khách hàng được phân công

Soát xét hồ sơ, báo cáo trước khi giao PTGĐ phụ trách khách hàng xem xét

Chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán và đảm bảo hồ

sơ kiểm toán cho khách được lập và lưu trữ đúng theo quy định của Công ty

Trách nhiệm của Trưởng nhóm kiểm toán (Senior)

Phân công, giám sát, hướng dẫn các nhóm viên thực hiện tốt các công việc được giao Chịu trách nhiệm tổng hợp và lập dự thảo Báo cáo kiểm toán trình Giám đốc/ Chủ nhiệm kiểm toán phụ trách khách hàng xem xét

Trao đổi với Giám đốc/Chủ nhiệm kiểm toán phụ trách khách hàng để giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công tác kiểm toán

Hoàn tất hồ sơ cho khách hàng đúng theo quy định của Công ty

Hỗ trợ các trợ lý trong nhóm về chuyên môn nghiệp vụ

Trách nhiệm của KTV là thành viên trong nhóm kiểm toán (Preparers)

Thực hiện các công việc được Trưởng nhóm phân công

Hoàn thành các công việc được phân công đúng hạn và đúng quy định của Công ty

Báo cáo kịp thời các phát hiện cho Trưởng nhóm để giải quyết nhanh chóng

Hoàn tất giấy tờ làm việc của phần công việc được giao đúng hạn

Trách nhiệm của trợ lý kiểm toán

Thực hiện các công việc được giao

Nhanh chóng báo cáo với nhóm trưởng nếu có vấn đề xảy ra hoặc có sự không nhất quán Giải đáp thắc mắc hoặc hướng dẫn công việc cho các trợ lý ít kinh nghiệm hơn

2.1.5 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động

2.1.5.1 Mục tiêu của công ty

“Mục tiêu phát triển của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C hiện nay là tiếp tục nỗ lực hơn nữa để giúp khách hàng hoạt động ngày càng hiệu quả.” (Trích từ website của công

ty A&C)

Trang 34

2.1.5.2 Nguyên tắc hoạt động của công ty

“Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn“A&C hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng như quyền lợi của chính mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp.”

“Không ngừng đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tích cực ứng dụng công nghệ tiên tiến để phục vụ khách hàng trong tiến trình phát triển và hội nhập toàn cầu.”

“Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ với chất lượng cao theo phong cách chuyên nghiệp Xây dựng và phát triển mối quan hệ với khách hàng trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện.”

“Hỗ trợ tối đa để khách hàng gặt hái thành công trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam Không ngừng đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng, nhân viên, nhà đầu tư và toàn xã hội.” (Trích từ website của công ty A&C)

2.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C

2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

Nhằm hạn chế những rủi ro và mâu thuẫn có thể xảy ra với khách hàng được kiểm toán, giai đoạn chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn quan trọng chi phối chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán, chuẩn bị đầy đủ về mặt vật chất và con người để tiến hành một cuộc kiểm toán Giai đoạn này tạo cơ sở pháp lý để xác định phạm vi, mục tiêu, lịch trình của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính

 Tính chính trực của ban lãnh đạo, chủ sở hữu

 Tính độc lập của nhóm kiểm toán

 Thay đổi trong các quy định của pháp luật mà khách hàng không chấp nhận

 Khách hàng còn nợ phí kiểm toán, có áp lực giảm phí hoặc hạn chế phạm vi kiểm toán.” (Trích từ tài liệu kiểm toán của công ty A&C)

Giám đốc kiểm toán hoặc chủ nhiệm điều hành cuộc kiểm toán xem xét lại hợp đồng cũ, các vấn đề cần lưu ý như trên và trao đổi với khách hàng, sau đó đưa ra quyết định chấp nhận tiếp tục hợp đồng kiểm toán của khách hàng Kiểm toán viên phụ trách sẽ lập thư báo phí gửi đến khách hàng Nếu khách hàng đồng ý mức phí và những đề xuất của A&C thì sẽ tiến hành ký hợp đồng và A&C sẽ thông báo cho khách hàng về thời gian làm việc của nhóm kiểm toán tại công ty khách hàng

Đối với khách hàng mới

Trang 35

Công ty sẽ thu thập đầy đủ thông tin để quyết định có nên chấp nhận đơn vị như là khách hàng của công ty không, các vấn đề cần được công ty xem xét như sau:

 “Tính chính trực của ban lãnh đạo, chủ sở hữu của đơn vị được kiểm toán

 Một số thông tin về khách hàng như hệ thống tổ chức, ngành nghề hoạt động kinh doanh, thông tin về tình hình tài chính,…

 Những yêu cầu cụ thể của khách hàng

 Khả năng của nhóm kiểm toán, thời gian và các nguồn lực khác

 Khả năng tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của nhóm kiểm toán

 Các trường hợp từ chối hợp đồng khi phát hiện những rủi ro trọng yếu.” (Trích từ tài liệu kiểm toán của công ty A&C)

Sau khi thỏa thuận về các điều khoản trong hợp đồng và báo phí, sau đó công ty sẽ ký kết hợp đồng kiểm toán và thực hiện công việc kiểm toán với khách hàng

2.2.1.2 Phân công kiểm toán

Sau khi tiếp nhận khách hàng, trưởng nhóm sẽ phân công nhóm kiểm toán xuống tìm hiểu

và kiểm toán khách hàng, lên kế hoạch và bố trí thời gian hợp lý Thông thường một nhóm kiểm toán”có khoảng 4 đến 6 người, tùy thuộc vào quy mô và tính quan trọng của khách hàng, trong đó có 1 trưởng nhóm trực tiếp điều hành cuộc kiểm toán và 3 đến 5 trợ lý, kiểm toán viên Các kiểm toán viên trong nhóm kiểm toán phải độc lập với đơn vị, tức là không

có thành viên nào trong nhóm kiểm toán có mối quan hệ gia đình hay cá nhân với những người trong bộ máy quản lý của đơn vị khách hàng

2.2.1.3 Gửi kế hoạch kiểm toán đến khách hàng

Các vấn đề cần trao đổi và thỏa thuận với khách hàng khi nhận thấy có thể chấp nhận hợp đồng kiểm toán:

 “Mục đích và phạm vi kiểm toán

 Vấn đề khách hàng cung cấp tài liệu kiểm toán và các phương tiện để phục vụ cho cuộc kiểm toán

 Vấn đề kiểm tra số dư đầu kỳ đối với khách hàng mới

 Vấn đề tiến hành kiểm kê những tài sản hiện có.” (Tài liệu kiểm toán công ty A&C)

2.2.2 Giai đoạn lập kế hoạch

Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C hướng dẫn chi tiết các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này tại biểu 5.02 – “Chiến lược và kế hoạch kiểm toán / Audit strategy and plan”

Biểu 5.02 có mục đích đảm bảo phát triển một kế hoạch kiểm toán phù hợp theo yêu cầu của các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, từ đó đưa ra phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và đáng tin cậy giúp cho việc hình thành ý kiến kiểm toán Thực hiện kiểm toán đạt hiệu quả tốt nhất và tiết kiệm chi phí

Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược kiểm toán

Trang 36

 Hồ sơ kiểm toán, báo cáo năm trước và các vấn đề cần lưu ý từ cuộc kiểm toán năm trước

 Hồ sơ thuế và thư từ giao dịch

 Môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán

 Hoạt động kinh doanh của đơn vị và hoạt động kiểm soát nội bộ trong đơn vị được kiểm toán

 Thủ tục phân tích cơ bản nhằm nhận định xu hướng biến động, phát hiện các biến động bất thường, không thường xuyên

 Đánh giá rủi ro

Chiến lược kiểm toán

Xây dựng chiến lược kiểm toán giúp Kiểm toán viên phân bổ thời gian và nhân lực phù hợp, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kiểm toán và xác định phạm vi, định hướng cho cuộc kiểm toán

Kế hoạch kiểm toán

Kế hoạch kiểm toán theo Chuẩn mực yêu cầu bao gồm:

 Nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro

 Nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo

 Các thủ tục kiểm toán bắt buộc khác để đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

2.2.3 Giai đoạn thực hiện kiểm toán

2.2.3.1 Thử nghiệm kiểm soát

Mục đích của thử nghiệm kiểm soát là“đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trong đơn vị khách hàng Nếu kiểm toán viên tin rằng đơn vị có hoạt động kiểm soát nội bộ hữu hiệu giúp ngăn chặn sai sót từ môi trường kinh doanh, kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát còn lại giảm xuống Và để chứng minh cho nhận định của mình, kiểm toán viên phải thực hiện thử nghiệm kiểm soát để thu thập bằng chứng theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Nếu đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ tối đa, kiểm toán viên sẽ không thực hiện thử nghiệm kiểm soát nữa mà đi ngay vào thử nghiệm cơ bản để tiết kiệm thời gian và chi phí

2.2.3.2 Thử nghiệm cơ bản

Thủ tục phân tích

Thủ tục phân tích góp mặt xuyên suốt trong toàn bộ quá trình kiểm toán Ở giai đoạn chuẩn

bị kiểm toán, thủ tục phân tích được xem như là thủ tục phân tích ban đầu để đánh giá sơ bộ

về rủi ro có sai sót trọng yếu, thu thập sự hiểu biết về đơn vị và môi trường hoạt động của

nó Tại giai đoạn hoàn thành kiểm toán, thủ tục phân tích giúp đánh giá tính đồng bộ và xác thực của thông tin tài chính thu thập được, xác định được những bộ phận cần phải thu thập thêm bằng chứng để làm vững chắc cho ý kiến kiểm toán

Trang 37

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, thủ tục phân tích giúp đánh giá thông tin tài chính qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính với nhau và giữa dữ liệu tài chính với phi tài chính

Thủ tục phân tích sẽ giúp kiểm toán viên có cái nhìn khái quát về tổng thể và định hướng họ trong quá trình thực hiện các thử nghiệm chi tiết Thủ tục này được kiểm toán viên A&C sử dụng trong hầu hết các khoản mục trên báo cáo tài chính, ngoại trừ một số khoản mục không thích hợp áp dụng thủ tục này như lợi nhuận hoạt động tài chính, thu nhập khác, chi phí khác

Kiểm tra chi tiết

Trong từng chương trình kiểm toán, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C đã xây dựng sẵn các thủ tục cho từng khoản mục cụ thể Tùy theo ngành nghề kinh doanh và đặc điểm của đơn vị khách hàng cùng với xét đoán của kiểm toán viên mà nhóm kiểm toán có thể áp dụng toàn bộ thủ tục trong chương trình, thay thế hoặc bổ sung thêm các thủ tục cần thiết để đạt được mục tiêu kiểm toán Chi tiết sẽ được trình bày trong phần 3 của bài viết

2.2.4 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

Nhóm trưởng sẽ“thu thập các vấn đề cần giải thích, các bút toán điều chỉnh và các giấy tờ cần cung cấp từ các nhóm viên và tiến hành trao đổi với kế toán trưởng và giám đốc của khách hàng sau khi kết thúc quá trình kiểm toán tại khách hàng

Đối với các sai sót cần điều chỉnh, kiểm toán viên sẽ đề nghị các bút toán để điều chỉnh và làm rõ các vấn đề còn tồn đọng, đồng thời thu thập “Thư giải trình của Ban giám đốc” Sau khi nhóm kiểm toán kết thúc làm việc ở khách hàng, các nhóm viên phụ trách các phần hành nhanh chóng hoàn thành giấy tờ làm việc, đưa ra kết luận về từng phần hành đó và gửi giấy tờ làm việc của các phần hành đó cho nhóm trưởng Nhóm trưởng tiến hành rà soát, nếu thấy phần nào chưa hợp lý hoặc còn thiếu sót, nhóm trưởng sẽ yêu cầu kiểm toán viên chịu trách nhiệm phần hành đóbổ sung

Khi các nhóm viên hoàn tất sữa chữa giấy tờ làm việc cũng như trao đổi với trưởng nhóm

về những vấn đề phát sinh, trưởng nhóm sẽ tập hợp các vấn đề trọng yếu cần lưu ý vào Biểu 3.09 (Phụ lục 6) – Các vấn đề cần lưu ý cho thành viên BGĐ phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán và lập dự thảo báo cáo kiểm toán chuyển cho Giám đốc kiểm toán hoặc chủ nhiệm kiểm toán thực hiện việc rà soát tiếp theo Để nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán, ngoài sự rà soát của Giám đốc kiểm toán hoặc Chủ nhiệm kiểm toán còn có bước đánh giá của Phó Tổng Giám đốc Đối với công ty có lợi ích công chúng thì cần Phó Tổng Giám đốc độc lập với cuộc kiểm toán rà soát sau cùng

Kết thúc việc soát xét hồ sơ kiểm toán sẽ đến giai đoạn lập báo cáo kiểm toán, dự thảo báo cáo kiểm toán sẽ được ký duyệt bởi Phó Tổng Giám đốc và yêu cầu trưởng nhóm kiểm toán điều chỉnh khi cần thiết Đối với khách hàng là công ty niêm yết thì bản dự thảo phải được soát xét bởi Phó Tổng Giám đốc khác không phụ trách cuộc kiểm toán

Trưởng nhóm sẽ gửi bản dự thảo báo cáo kiểm toán cùng Thư giải trình cho khách hàng để lấy ý kiến Sau khi khách hàng chấp nhận dự thảo, trưởng nhóm kiểm toán sẽ xem xét ý kiến

và phát hành báo cáo kiểm toán bản chính thức Báo cáo kiểm toán sẽ được phát hành có

Trang 38

chữ ký của Phó Tổng Giám đốc, Trưởng nhóm kiểm toán và tiến hành bàn giao cho khách hàng.”

Trang 39

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC THIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY

TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN A&C ”

Dựa trên cơ sở là Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế, công ty A&C đã ban hành bộ tài liệu hướng dẫn Audit Manual (AAM), bộ tài liệu này đưa ra các hướng dẫn cụ thể hơn, xét về trọng yếu, bộ tài liệu này đưa ra hướng dẫn lựa chọn chỉ tiêu cũng như tiêu chí để thiết lập mức trọng yếu và lý giải khi nào thì nên lựa chọn tiêu chí nào làm cơ sở xác lập mức trọng yếu, cũng như lưu ý đến kiểm toán viên khi thiết lập mức trọng yếu thì nên cân nhắc những vấn đề gì

Bộ tài liệu này không phải tóm tắt từ các “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam” hay “Chuẩn mực kiểm toán thế giới”, nên khi kiểm toán viên vận dụng vào thực tế, trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa chuẩn mực với bộ tài liệu hướng dẫn AAM thì kiểm toán viên ưu tiên sử dụng chuẩn mực

3.1 Những vấn đề chung cần cân nhắc khi thiết lập các mức trọng yếu

Mức trọng yếu được thiết lập khi kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán, như đã trình bày ở trên, về mặt định lượng thì mức trọng yếu được thiết lập và căn cứ vào đó để cho phép các sai sót bao nhiêu thì chấp nhận được, tuy nhiên trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cũng cần lưu ý đến bản chất của vấn đề, mặc dù sai sót có thể nhỏ hơn mức trọng yếu Cụ thể những vấn đề cần cân nhắc sẽ được đề cập dưới đây:

 Có những sai sót tuy nhỏ khi xét về mặt định lượng nhưng khi tổng hợp lại có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Ví dụ cụ thể là chi phí kết chuyển, nếu xảy

ra sai sót ở một tháng có thể không ảnh hưởng đáng kể, nhưng tháng nào cũng sai sót thì có thể gây ảnh hưởng trọng yếu

 Có những sai sót mặc dù nhỏ hơn mức trọng yếu khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, tuy nhiên về mặt định tính, sai sót này có thể gây sai lệch nhận thức của người sử dụng về thông tin trên báo cáo tài chính Ví dụ như đơn vị trình bày sai lệch chính sách kế toán đang

áp dụng, cụ thể là phương pháp khấu hao tài sản cố định, điều này có thể khiến người sử dụng hiểu biết không chính xác về thông tin chi phí, lợi nhuận trên báo cáo

 Đối với những thông tin có tính chất nhạy cảm đều được xem là trọng yếu, không quan tâm lớn hơn hay nhỏ hơn mức trọng yếu, đơn vị bắt buộc phải trình bày trên báo cáo tài chính Ví dụ giao dịch với các bên liên quan, đơn vị phải trình bày trên thuyết minh báo cáo tài chính, vì khoản mục này dễ xảy ra gian lận, điển hình trong lịch sử đã có nhiều vụ bê bối lớn, lợi dụng giao dịch với các bên liên quan để gian lận báo cáo tài chính

 Đối với những thông tin, giao dịch, thuyết minh đặc biệt, được đánh giá theo sự quan tâm đặc biệt của người sử dụng báo cáo tài chính Kiểm toán viên có thể thiết lập mức trọng yếu riêng cho những khoản mục này Ví dụ khi kiểm toán báo cáo tài chính cho một doanh nghiệp dược phẩm V, nhận thấy người sử dụng báo cáo tài chính có sự quan tâm đặc biệt đối với khoản mục chi phí nghiên cứu và phát triển doanh mục Lúc này, kiểm toán viên thiết lập một mức trọng yếu riêng cho chi phí này thấp hơn mức trọng yếu tổng thể

 Trong quá trình thực hiện kiểm toán, mức trọng yếu có thể thay đổi so với giai đoạn lập kế hoạch do các tình huống phát sinh hoặc sau khi thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán,

Trang 40

Trong thực tế, mặc dù bộ tài AAM đưa ra hai phương pháp để xác lập mức trọng yếu là phương pháp dãy giá trị (Range of values) và phương pháp tầng giá trị (Cascading values), nhưng thông thường kiểm toán viên chỉ sử dụng phương pháp dãy giá trị vì đây là phương pháp được áp dụng phổ biến từ lâu, sử dụng đa dạng với nhiều doanh nghiệp có quy mô khác nhau, khác với phương pháp tầng giá trị chỉ áp dụng cho đơn vị quy mô nhỏ

Tuy nhiên nếu hai phương pháp này không phù hợp, kiểm toán viên có thể sử dụng thay thế phương pháp khác Ví dụ nếu người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm đến chỉ tiêu nguồn vốn trên báo cáo tài chính thì kiểm toán viên có thể thiết lập mức trọng yếu theo phương pháp một giá trị được nêu ra ở trên và cơ sở tính là nguồn vốn lưu động hoặc vốn chủ sở hữu

3.2 Phương pháp xác lập mức trọng yếu

3.2.1 Mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính

“Mức trọng yếu tổng thể [I] = Tiêu chí (Benchmark) x Tỷ lệ (%)”

Trong “Hướng dẫn áp dụng”, đoạn A3 của “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 320” có đề cập đến phương pháp xác lập mức trọng yếu như sau: “Thông thường, kiểm toán viên sử dụng một tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho một tiêu chí được lựa chọn làm điểm khởi đầu trong việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính”

Điểm khác biệt của công thức dãy giá trị của AAM so với chuẩn mực là trong phương pháp này, AAM sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau, ứng với mỗi tiêu chí sẽ có 2 tỷ lệ khác nhau, và mức trọng yếu tổng thể là giá trị được chọn nằm trong khoảng các giá trị đó, cụ thể được đề cập trong phần “Xác định tỷ lệ phần trăm cho tiêu chí lựa chọn”

3.2.1.1 Xác định tiêu chí lựa chọn

Như đã trình bày ở trên, việc lựa chọn tiêu chí nào làm cơ sở cho việc thiết lập mức trọng yếu tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính Đối với tổ chức phi chính phủ nhận vốn tài trợ từ các doanh nghiệp khác thì tiêu chí là nguồn tài trợ, hoặc người sử dụng thông tin quan tâm đế chỉ tiêu vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay thì kiểm toán viên có thể sử dụng chỉ tiêu này làm cơ sở thiết lập mức trọng yếu

Ngoài ra qua các giai đoạn có thể đơn vị có thay đổi về quy mô, chính sách, môi trường kinh doanh,… nên mức trọng yếu thiết lập cho đơn vị cụ thể cần cập nhật thông tin mới nhất và lấy từ báo cáo tài chính năm hiện hành Trường hợp tại giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, báo cáo tài chính chưa có sẵn, kiểm toán viên có thể thiếp lập mức trọng yếu dựa trên thông tin lấy từ báo cáo tài chính năm trước đã kiểm toán có điều chỉnh cho phù hợp với năm nay hoặc thông tin dự kiến cho kỳ hiện tại Nếu thông tin để thiết lập mức trọng yếu có sẵn tại giai đoạn lập kế hoạch và đáng tin cậy thì có thể mức trọng yếu này sẽ không thay đổi trong suốt quá trình kiểm toán Tuy nhiên, nếu trong quá trình kiểm toán phát sinh thông tin mới, mức trọng yếu được thiết lập ban đầu có thể cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp và có thể

sẽ mở rộng thủ tục kiểm toán nếu sau khi điều chỉnh, mức trọng yếu bị giảm đáng kể

Bộ tài liệu AAM của A&C đưa ra một cách cụ thể các hướng dẫn giúp kiểm toán viên xác định tiêu chí thiết lập mức trọng yếu, tuy nhiên đây chỉ là một vài trường hợp phổ biến thường dùng, thực tế sẽ phát sinh nhiều trường hợp đa dạng khác nhau, lúc này kiểm toán

Ngày đăng: 23/03/2020, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w