(Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018 (Luận văn thạc sĩ) Hội khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THU HÀ
HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THU HÀ
HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và trích dẫn nguồn tài liệu rõ ràng
Thái nguyên, tháng 08 năm 2019
Người thực hiện Nguyễn Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình sau đại học và viết luận văn thạc sĩ, trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất của mình đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nghiêm Thị Hải Yến - người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Hội Khuyến học Tỉnh Quảng Ninh, Hội Khuyến học thành phố
Hạ Long, Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Hạ Long, Thư viện tỉnh Quảng Ninh
và các sở ban ngành liên quan đã tích cực giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đã khích lệ, động viên giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Luận văn là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học của tôi, nên không khỏi có những hạn chế, do đó tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy
cô
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2019
Tác giả Nguyễn Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH v
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI KHUYẾN HỌC 8
1.1 Vài nét về thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 8
1.2 Quá trình thành lập Hội Khuyến học thành phố Hạ Long 13
1.2.1.Cơ sở hình thành Hội khuyến học 13
1.2.2 Hội khuyến học thành phố Hạ Long 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH (2004 - 2018) 30
2.1 Chủ trương, nhiệm vụ và kế hoạch hành động của Hội khuyến học thành phố Hạ Long giai đoạn 2004 - 2018 30
2.2 Hoạt động khuyến học ở các phường, tổ nhân dân trên địa bàn thành phố Hạ Long 37
2.3 Hoạt động khuyến học trong các cơ quan, doanh nghiệp và các trường học 51
2.4 Hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng tiến tới xây dựng xã hội học tập 64
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70
Chương 3: NHẬN XÉT VỀ HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH 71
3.1 Vai trò của Hội Khuyến học đối với phát triển của thành phố Hạ Long 71
3.1.1 Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục của thành phố Hạ Long 71
3.1.2 Phát hiện, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài phục vụ cho công cuộc đổi mới của thành phố, của đất nước 78
3.2 Những thành tựu và khó khăn trong quá trình hoạt động của Hội khuyến học thành phố Hạ Long 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 7BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH : Ban chấp hành
DHHH : Dòng họ hiếu học
GD-ĐT : Giáo dục và đào tạo
GĐHH : Gia đình hiếu học
HĐND : Hội đồng nhân dân
LĐ-TBXH : Lao động và thương binh xã hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng nguồn quỹ Khuyến học thành phố Hạ Long từ năm 2010 -2015 34 Bảng 2.2 Thống kê số chi hội khuyến học, hội viên khuyến học ở TP Hạ Long 38 Bảng 2.3: Số gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học TP Hạ Long (2007 - 2018) 50 Bảng 3.1: Kết quả học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế của thành phố Hạ
Long 2010-2018 73 Bảng 3.2: Kết quả bồi dưỡng TTHTCĐ thành phố Hạ Long từ 2010-2015 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đất nước ngàn năm văn hiến Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, đó là một truyền thống vô cùng quý báu được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử Nhờ truyền thống ấy, mà trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, luôn xuất hiện những hiền tài, những danh nhân kiệt xuất làm rạng rỡ non sông đất nước
Trong lịch sử nước nhà, những người học rộng, tài cao luôn được tôn vinh và coi trọng, được tạo điều kiện phát huy hết tài năng để phục vụ đất nước, các vương triều phong kiến đã sớm nhận ra rằng, nhân tài luôn gắn với vận mệnh của quốc gia,
của dân tộc Các đời vua hiền đã luôn tâm niệm “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, là nguồn gốc sự hưng thịnh của đất nước
Từ ngày có Đảng, nhất là từ khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền
về tay nhân dân, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã chú trọng nâng cao dân trí, dân chủ, dân sinh Bác coi chống giặc dốt cũng khẩn thiết như chống đói, chống giặc ngoại xâm Trong suốt cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho dân tộc, trước lúc đi xa Bác Hồ chỉ
có một ham muốn “Ham muốn tột bậc là nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Bác mong muốn “Dân tộc ta là một dân tộc thông thái” Trong Thư gửi học sinh trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 9/1945,
Bác viết: “Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em” [54, tr.33] Bác gửi trọn niềm tin tương
lai đất nước gắn liền với sự học hành của thế hệ trẻ Thể hiện niềm yêu mến, tin tưởng vào khả năng và vai trò to lớn của các em trong công cuộc xây dựng đất nước giàu
mạnh Sau này, bác lại nêu một triết lý sâu sắc hơn “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [39, tr.284]
Trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách đầu tư, khuyến khích, phát triển giáo dục và đào tạo Một trong những biện pháp được Đảng và Nhà nước quan tâm đó
Trang 11là khuyến khích, động viên và tạo điều kiện phát triển rộng rãi hoạt động học tập cho mọi người
Nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, Quảng Ninh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh Thành phố Hạ Long là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế văn hóa của tỉnh, là vùng đất ẩn chứa nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội Để khai thác những tiềm năng, có lợi thế riêng, nhanh chóng hội nhập với các địa phương trên cả nước, các nước trong khu vực quốc tế, thành phố Hạ Long cần có nguồn nhân lực có tri thức mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn hết lòng phấn đấu cho sự hùng cường của dân tộc
Tỉnh Quảng Ninh đã và đang có nhiều chính sách đầu tư, quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, không ngừng đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập Thành phố Hạ Long đi đầu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hạ Long đã trở thành điểm sáng, là nơi khởi phát những ý tưởng sáng tạo đột phá, luôn đi đầu và đón trước những xu thế phát triển toàn cầu hiện nay
Công tác Khuyến học là vấn đề quan trọng được thành phố Hạ Long quan tâm đặc biệt và ưu tiên hàng đầu nhằm khuyến khích, động viên người tài giỏi, những người
có chí hướng, tâm huyết và có khả năng đẩy nhanh sự nghiệp phát triển quê hương Là động lực tạo nên thế hệ thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên”, thế hệ kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn
Xuất phát từ thực tiễn trên, làm sáng rõ về quá trình hoạt động của Hội Khuyến học thành phố Hạ Long từ năm 2004 đến năm 2018 là một việc làm cần thiết nhằm góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho lịch sử địa phương Qua đó, tác giả muốn khẳng định vai trò của Hội Khuyến học trong nền giáo dục, kinh tế - xã hội của thành phố, nhằm xây dựng Hạ Long đạt chuẩn tỉnh văn minh, hiện đại
Với lý do, tôi quyết định chọn đề tài: “Hội Khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018” để thực hiện luận văn Thạc sĩ Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu của mình, trước tiên tôi đã tiến hành khảo cứu các công trình khoa học đã được công bố liên quan trực tiếp đến nội dung và hướng nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở tìm hiểu nguồn tài liệu, vấn đề khuyến học
Trang 12đã được một số tác giả nghiên cứu qua các bài viết Trong đó kể đến các công trình sau:
Năm 1998, nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản cuốn sách, Việc đào tạo và
sử dụng quan lại triều Nguyễn từ 1802 đến 1804 của tác giả Lê Thị Thanh Hòa Nội
dung cuốn sách đề cập về chính sách giáo dục và sử dụng người tài dưới triều Nguyễn
Năm 2000, nhà xuất Văn hóa thông tin đã giới thiệu bạn đọc cuốn sách, Văn bia Quốc Tử Giám do tác giả Đỗ Văn Ninh biên soạn, giới thiệu phần dịch của các văn bia
tiến sĩ còn được lưu giữ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội Qua cuốn sách này, ngoài thông tin về những người đỗ tiến sĩ, trạng nguyên, người đọc còn thấy được cách thức khuyến khích, trọng dụng người tài trong lịch sử phong kiến
Năm 2004, nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã in cuốn sách, Khuyến học của tác giả Fukuzaoa Yukichi với nội dung về chính sách Khuyến học, cũng như
công tác xây dựng tổ chức khuyến học, vai trò, ý nghĩa của hoạt động này
Năm 2006, nhà xuất bản Giáo dục giới thiệu bạn đọc cuốn sách, Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 của tác giả Nguyễn Đăng Tiến
Nội dung cuốn sách cung cấp cho người đọc tình hình giáo dục nước nhà trước Cách mạng, truyền thống hiếu học của dân tộc và khái quát đôi nét về hình thức khuyến khích người hiền tài
Năm 2006, nhà xuất bản Văn học in ấn cuốn sách Đại Việt sử ký toàn thư, phản
ánh lịch sử Nho học trong đó đề cập đến những hình thức Khuyến học, khuyến tài nhưng chưa đi sâu
Những tác phẩm của Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước mang tính định hướng việc khuyến khích, động viên học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân không ngừng học tập
Năm 1993, nhà xuất bản Lao động xã hội xuất bản cuốn sách, Quảng Ninh đất
và người của tác giả Nguyễn Hồng Quân chủ biên, đã có một phần giới thiệu về con
người Hạ Long hiếu học, kiên cường trong lịch sử
Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xuất bản cuốn Địa chí Quảng Ninh tập I, II, III Có một phần giới thiệu về lĩnh vực giáo dục của tỉnh Quảng Ninh, đề
cập đến truyền thống hiếu học của nhân dân trong tỉnh
Năm 2013, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách, Lịch sử Đảng
Trang 13bộ thành phố Hạ Long 1930-2010 Cuốn sách có một mục giới thiệu về vùng đất con
người và truyền thống Đây là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ nên lĩnh vực giáo dục không được đề cập nhiều
Năm 2013, nhà xuất bản Xã hội đã xuất bản cuốn, Văn hóa Hạ Long trên vùng đất Quảng Ninh do tác giả Trần Trọng Hà chủ biên Nội dung cuốn sách khái quát sơ
lược về văn hóa giáo dục thành phố
Báo Quảng Ninh từ năm 2004 đến 2018, số bài báo phản ánh về hoạt động Hội Khuyến học có thể kể đến như:
“Chuyện một gia đình văn hóa kiểu mẫu” của nhà báo Hoàng Nhi đăng trên báo
Quảng Ninh hàng tuần số 285 (ngày 1/7/2007), tác giả giới thiệu gia đình bác Hà Quang Hợp tổ 2, khu 8 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long có đông con cháu, ai cũng ngoan ngoãn, học giỏi, thành đạt
“Điểm sáng phong trào Khuyến học khuyến tài” của tác giả Minh Thu đăng trên
báo Quảng Ninh hàng tuần số 7097 (ngày 28/10/2008), khẳng định vai trò của hoạt động Khuyến học trong sự phát triển xã hội Để lan tỏa phong trào, hội khuyến học đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tham gia công tác khuyến học
“Bí quyết từ Khuyến học” của tác giả Minh Hà đăng trên báo Quảng Ninh hàng
ngày số 8292 (ngày 12/9/2012), bài viết trình bày hoạt động khuyến học khuyến tài tại trường Tiểu học Hạ Long, thành phố Hạ Long, có tác dụng thúc đẩy phong trào học tập của các em học sinh
“Niềm đam mê sáng tạo ở Chuyên Hạ Long” của tác giả Như Hoa đăng trên báo
Quảng Ninh hàng ngày số 8769 (ngày 4/4/2014), viết về sự say mê học tập, tự học, nghiên cứu khoa học của các em học sinh trường Chuyên Hạ Long
“Những gia đình hiếu học tiêu biểu” tác giả Lan Anh viết đăng trên báo Quảng
Ninh hàng ngày số 9384 (ngày 6/4/2016), giới thiệu một số gương điển hình gia đình hiếu học, dù kinh tế khó khăn nhưng các gia đình quyết tâm nuôi con ăn học thành tài
Tuy nhiên, trên cơ sở tìm hiểu về các công trình khoa học, các ấn phẩm đã được công bố có nội dung liên quan đến vấn đề luận văn lựa chọn nghiên cứu, tôi thấy rằng:
Thứ nhất, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện về hoạt động khuyến học khuyến tài ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
Thứ hai, số tài liệu tham khảo đã được in ấn, xuất bản không nhiều, nội dung tản
Trang 14mạn vì thế để hoàn thành luận văn, tác giả xác định khai thác chủ yếu tài liệu lưu trữ tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh và tài liệu điền dã do tác giả trực tiếp thực hiện
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hội Khuyến học là tổ chức xã hội của thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
- Về thời gian : Phạm vi nghiên cứu của đề tài trong thời gian 15 năm từ năm
2004 - 2018 trên địa bàn thành phố Hạ Long Năm 2004 là mốc hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh được thành lập
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nguyên nhân ra đời của hội khuyến học ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
- Hoạt động của hội khuyến học và xây dựng xã hội học tập từ năm 2004 đến năm 2018
- Vai trò của hội khuyến học thành phố Hạ Long đối với sự phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Tài liệu thành văn: Các công trình khoa học như sách, báo, tạp chí, luận văn đã
được công bố liên quan đến nghiên cứu luận văn
Tài liệu lưu trữ: Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX,
X, XI; các Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề xã hội hóa giáo dục
và các vấn đề liên quan đến khuyến học Các văn bản hướng dẫn chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh, Ban Tuyên giáo tỉnh Quảng Ninh, được lưu trữ tại văn phòng Tỉnh
ủy
Báo cáo tổng kết, hướng dẫn của UBND thành phố, phòng giáo dục và đào tạo thành phố Hạ Long về hoạt động khuyến học lưu tại văn phòng Hội Khuyến học thành phố
Báo cáo về khuyến học và xây dựng xã hội học tập ở các phường, tổ, khu
Trang 15phố, gia đình dòng họ trong thành phố Hạ Long lưu tại văn phòng Hội Khuyến học thành phố
Tư liệu điền dã: Kết quả thực địa và phỏng vấn nhân chứng thuộc Hội Khuyến
học tổ khu phố trên địa bàn thành phố Hạ Long
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,
là hai phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu đề tài:
Phương pháp lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu về Hội Khuyến học thành phố
Hạ Long, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử nhằm phân tích, đánh giá về hoạt động của Hội Khuyến học thành phố theo logic thời gian
Phương pháp logic: Tác giả nghiên cứu về hoạt động của Hội Khuyến học thành
phố Hạ Long từ năm 2004 đến năm 2018 Trên cơ sở phân tích thực tiễn dựa trên nguồn tài liệu khoa học, tác giả khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và đề xuất phương hướng trong quá trình hoạt động và phát triển của Hội Khuyến học thành phố
Phương pháp điền dã:
Tác giả đã lập phiếu điều tra, lấy ý kiến của các thành viên thuộc thuộc Hội Khuyến học thành phố để thấy được hoạt động hiệu quả các kế hoạch đã triển khai ở Hội Khuyến học các cấp
Thực hiện phỏng vấn nhân chứng
Ngoài ra, tác giả còn kết hợp các phương pháp khác như: Phương pháp tổng hợp
và xử lý tài liệu thống kê, phương pháp phân tích để thấy được quá trình hình thành và
phát triển của hội khuyến học; Mối liên hệ giữa hội khuyến học với các ban ngành, đoàn thể Tìm ra vai trò của hoạt động khuyến học với sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong sự phát triển xã hội ở thời kỳ đổi mới, để rút ra nhận xét, kết luận
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể về hoạt động khuyến học của thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là kênh thông tin đóng góp đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những thế mạnh của hội khuyến học khuyến tài phát triển trong tương lai
Trang 16- Luận văn là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử địa phương
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn gồm
3 chương:
Chương 1 Khái quát về thành phố Hạ Long và sự thành lập Hội Khuyến học Chương 2 Hoạt động của Hội Khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh (2004 - 2018)
Chương 3 Nhận xét về Hội Khuyến học ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG VÀ SỰ THÀNH LẬP
HỘI KHUYẾN HỌC
1.1 Vài nét về thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
Thành phố Hạ Long là trung tâm tỉnh Quảng Ninh, có vi trí địa lý từ 20°40’ đến 21°02’ vĩ độ bắc và từ 106°55’ đến 107°13’kinh độ đông Thành phố nằm gần hai đô thị lớn nhất miền Bắc là thủ đô Hà Nội (165km), Hải Phòng (70 km) Phía đông Hạ Long tiếp giáp thành phố Cẩm Phả, phía tây giáp thị xã Quảng Yên, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía nam là vịnh Hạ Long
Người tiền sử đã xuất hiện trên Vịnh Hạ Long từ rất lâu Qua nhiều năm khảo
cổ, các nhà nghiên cứu kết luận rằng trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ - Cái Bèo - Hạ Long trên khu vực vịnh cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời từng là cái nôi văn hóa của nhân loại
Vùng đất trung tâm của thành phố ngày nay, xưa kia chỉ là một làng chài ven biển với các hòn đảo nhỏ có những bụi gai đan xen vì vậy có tên cũ là Hòn Gai - hòn đảo nhiều cây gai Sau ngày thực dân Pháp chiếm đóng và mở mỏ khai thác than, phố Hòn Gai hình thành, do một quan bang người Việt cai quản, nhưng thực quyền đều nằm trong tay viên Đại úy người Pháp
Ngày 19/7/1946, tạm lập tại tỉnh Quảng Yên một khu Đặc biệt gọi là Khu đặc biệt Hòn Gai
Tháng 3/1947, Trung ương quyết định hợp nhất Khu đặc biệt Hòn Gai với Quảng Yên thành tỉnh Quảng Hồng
Ngày 30/10/1963, hợp nhất tỉnh Hải Ninh và Khu Quảng Hồng, lấy tên là tỉnh
Quảng Ninh (theo Nghị quyết của Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 7)
Ngày 27/12/1993, thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh trên
cơ sở thị xã Hồng Gai (theo Nghị định số 102/NĐ-CP của Chính phủ)
Thành phố Hạ Long có diện tích hơn 650 km², trong đó diện tích đất tự nhiên là 271,95 km² Địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc chiếm 70% diện tích đất của thành
Trang 18phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504m; vùng ven biển ở phía nam có quốc lộ 18A; vùng hải đảo là toàn bộ vùng vịnh Thành phố trải dài và chia làm hai khu vực chính: phía đông và phía tây ngăn cách bởi eo biển Cửa Lục là cầu Bãi Cháy - một trong năm cây cầu dây văng một mặt phẳng có khẩu độ lớn nhất thế giới Bãi Cháy xưa cũng là một hòn đảo nay có đường biển nối với các phường phía tây Đảo Tuần Châu nằm trong Vịnh Hạ Long có đông dân cư cũng đã có đường lối với đất liền Phía đông thành phố là trung tâm chính trị, hành chính, thương mại và công nghiệp khai thác than của tỉnh và thành phố Phía tây là trung tâm du lịch, dịch vụ; có khu công nghiệp đóng tàu, khu sản xuất vật liệu, cảng biển với công suất lớn, hiện đại tầm cỡ quốc gia
Hạ Long thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, có hai mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,7 °C Lượng mưa trung bình 1.832 mm, phân bố không đều giữa mùa hè và mùa đông, lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 khoảng 350mm
Do nằm trong vùng biển có hàng nghìn hòn đảo đá lớn, nhỏ bao bọc, nên ở đây ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, cấp lớn nhất có sức gió cấp 9-10
Hạ Long còn nổi tiếng với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, đặc biệt là than Người dân Quảng Ninh ai cũng thuộc câu ca:
“Hồng Gai than lắm, cá nhiều Bao nhiêu bể, núi, bấy nhiêu bạc vàng”
loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở hang hay khe đá Trong đó có các loài thực vật đặc hữu, như thiên tuế, cọ, khổ cử đại nhung, móng tai, ngũ gia bì, hài vệ nữ hoa vàng
Thành phố Hạ Long nằm trong khu vực có trữ lượng than lớn nhất Việt Nam Các mỏ than phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Đông Bắc trên địa bàn phường
Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Tu và Hà Phong Ngoài ra, than còn phân bố trên địa bàn các phường Việt Hưng, Đại Yên, Cao Thắng Tổng trữ lượng than hiện nay ước tính khoảng 592 triệu tấn, trong đó 270 triệu tấn nằm ở vị trí thuận lợi cho khai thác, chiếm khoảng một nửa trữ lượng than có vị trí tốt của Việt Nam [17, tr.18] Ngoài than, thành phố Hạ Long còn có các nguồn khoáng sản khác, trong đó nhiều
Trang 19nhất là đá vôi Đá vôi phần lớn nằm trên các đảo và dưới dạng các nền đá mới với trữ lượng khoảng 1,3 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở địa bàn phường Hà Phong và phường Đại Yên Hạ Long còn có trữ lượng đất sét khoảng 41,5 triệu m3 phân bố chủ yếu ở phường Giếng Đáy và Hà Khẩu với chất lượng tốt dùng để sản xuất xi măng, gạch và ngói
Các sông chính chảy qua địa phận thành phố có sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Hốt, Man, Trới và đều đổ vào vịnh Cửa Lục, rồi chảy ra Vịnh Hạ Long Sông và suối ở đây đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều Chế độ thủy triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ Nhiệt độ nước biển ở lớp
bề mặt trung bình 18 °C đến 30,8°C, độ mặn nước biển trung bình 21,6% Tài nguyên nước của thành phố tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập với tổng dung tích gần 110 triệu m3(thời điểm đo tháng 8/2010), hồ Khe Cá tại phường Hà Tu Đây là nguồn cung cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Nguồn nước sinh hoạt cho phía đông thành phố là từ đập Diễn Vọng và hồ Hòa Bình, phía tây thành phố là đập Thác Nhòng trên sông Trới Ngoài ra, còn có các hồ điều hòa tạo cảnh quan cho thành phố như Yết Kiêu, Ao Cá - Kênh Đồng,…
Thành phố Hạ Long nằm dọc theo bờ Vịnh Hạ Long, bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.553 km2, từ trên cao nhìn xuống Vịnh Hạ Long như một bức tranh thủy mạc khổng lồ vô cùng sống động Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt
mỹ, tài hoa của tạo hóa, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng trở thành những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, hùng vĩ, tiêu biểu như hòn Rồng, hòn Trống Mái… Tiềm ẩn trong các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt…Đây thực sự là những lâu đài của tạo hóa giữa chốn trần gian được đại thi hào
dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao” Vịnh Hạ Long
với các giá trị thẩm mỹ và địa chất toàn cầu, Hạ Long còn mang trong mình nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng để thành phố bên bờ di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới phát triển du lịch và thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với thành phố biển xinh đẹp này
Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới với các giá trị thẩm mỹ nổi bật mang tầm vóc quốc tế
Trang 20Năm 2000, Vịnh Hạ Long lần thứ hai được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới với các giá trị địa chất, địa mạo
Tháng 7 năm 2003, Vịnh Hạ Long được Câu lạc bộ Các vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng là một trong 29 vịnh đẹp nhất trên thế giới
Năm 2011, vịnh Hạ Long được bình chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới
Ngoài ra, theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế, Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều giá trị sinh học, lịch sử văn hóa
Với diện tích đất bãi triều lớn ở Cửa Lục và Yên Cư, khu vực quanh đảo Tuần Châu có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng thủy hải sản, như tôm,
cá, ngọc trai, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, vịnh Hạ Long là một vịnh kín với nhiều loài rắn biển, 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài mang giá trị kinh tế cao như cá thu, tôm, mực, ngọc trai, bào ngư và hàu Các rạn san hô trong vịnh cũng rất phong phú với 117 loại san hô thuộc 40 họ và 12 nhóm khác nhau cùng sinh sống Vì vậy, vùng biển ngoài khơi của Vịnh Hạ Long là một trong 4 ngư truờng lớn của Việt Nam
Ngoài Vịnh Hạ Long là tài nguyên du lịch quan trọng nhất, thành phố còn có các nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch khác Ba tài sản văn hóa vật thể quan trọng của thành phố Hạ Long là quần thể núi Bài Thơ, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn
và chùa Lôi Âm Những tài sản văn hóa này được khách du lịch trong nước biết đến rộng rãi
Cơ cấu kinh tế của thành phố được xác định là: Công nghiệp - du lịch, Dịch vụ, Thương mại, Nông - lâm nghiệp và hải sản Khai thác than được xem một thế mạnh của thành phố với nhiều mỏ lớn như Hà Tu, Hà Lầm, Tân Lập, Núi Béo, lượng than khai thác mỗi năm ước đạt trên 10 triệu tấn Gắn liền với các mỏ là các nhà máy sàng tuyển, cơ khí các xí nghiệp vận tải và bến cảng Hạ Long phát triển mạnh công nghiệp đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm hải sản
Thành phố Hạ Long là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc Tổ quốc với hệ thống giao thông đường bộ có chất lượng, hạ tầng kỹ
Trang 21miền Đông và một phía đi Hải Dương, Bắc Ninh; quốc lộ 10 đi Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định Quốc lộ 279 từ Bắc Giang qua Hoành Bồ, đến Hạ Long…Hệ thống cảng, bến tàu du lịch có khả năng đón nhận các loại tàu nội địa, tàu viễn dương có trọng tải lớn Có một số bãi đỗ cho sân bay trực thăng và thủy phi cơ
Với vị trí địa lý thuận lợi, thành phố Hạ Long sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, nên từ lâu đã có con người cư trú Theo xác định của các nhà khảo cổ học, thì nơi đây vào thời đại đá mới cách ngày nay từ 3.000 đến 5.000 năm, đã có một nền văn hóa tiền sử - Văn hóa Hạ Long Trước Văn hóa Hạ Long, nhiều di chỉ lại chứng
tỏ có người ở sớm hơn, tiêu biểu là di chỉ Soi Nhụ Lớp cư dân tạo lập nên những nền văn hóa ấy có thể coi là lớp cư dân bản địa, một bộ phận của người Việt cổ Ngoài những người Việt cổ, vùng này, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, luôn là địa bàn hấp dẫn, thu hút người dân thuộc các tộc người khác nhau từ nhiều miền đất khác nhau đến làm ăn sinh sống
Hạ Long là địa phương có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, còn có 15 dân tộc khác gồm: Tày, Hoa, Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Mường, Thái, Nùng, Hán, Thổ, PaKo, Sán Chỉ, Thái Thổ, Thanh Y, H Mông với
830 nhân khẩu sống chủ yếu ở các phường Hà Phong, Đại Yên, Việt Hưng, Hà Khánh Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn được tạo điều kiện ổn định Dân số của thành phố Hạ Long tính đến năm 2013 là 229.300 người Thêm vào đó, do số lượng lớn gồm lao động nhập cư, khách du lịch, sinh viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố, dân số thực tế của Hạ Long cao hơn so với dân số trung bình theo báo cáo khoảng 130 nghìn người, trong đó gồm khoảng 60 nghìn người là lao động Trong năm 2013, mật độ dân số Hạ Long là xấp xỉ 870 người/km2
là địa bàn có dân số lớn nhất của tỉnh Quảng Đặc biệt, ở các phường thuộc phía Đông của Thành phố như Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Cao Thắng và Yết Kiêu [17, tr.180]
Sở hữu cơ cấu dân số trẻ, là cơ hội lớn để Hạ Long có thể đáp ứng một cách đầy đủ những nhu cầu cần thiết về nhân lực cho quá trình phát triển của mình Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các thề hệ trẻ của thành phố có thêm nhiều cơ hội để có thể học hỏi, giao lưu và phát triển những kỹ năng của mình
ở mức cao nhất có thể
Trang 22Có thể thấy, Hạ Long có rất nhiều tiềm năng, thế mạnh, tài nguyên phong phú Trong tất cả các nguồn tài nguyên đó, Vịnh Hạ Long rõ ràng là nguồn tài nguyên nổi bật nhất, nguồn tài nguyên chính hỗ trợ ngành du lịch Trong tương lai, Hạ Long sớm trở thành một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội toàn diện, hiện đại, bền vững ở trong nước và khu vực
1.2 Quá trình thành lập Hội Khuyến học thành phố Hạ Long
1.2.1.Cơ sở hình thành Hội khuyến học
“Quảng Ninh có thể coi là một trong những mảnh đất kỳ lạ của hành tinh, một sản phẩm có một không hai vừa là tạo hóa, vừa là của con người Nơi đây, những bờ cát, những con sóng đều thấm đượm những hạnh lạc và ưu tư, những nước mắt và nụ cười, những giọt mồ hôi và máu đỏ của bao nhiêu con người” [36, tr.1]
Quảng Ninh với những con người kiên cường, dũng cảm, bất khuất, giàu tình nhân ái đã không ngừng phát huy truyền thống của dân tộc, viết nên những trang sử vẻ vang trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Đó là niềm tự hào và cũng là truyền thống tốt đẹp của quê hương Thành phố Hạ Long lại là nơi có nhiều lợi thế nhất của tỉnh, ẩn chứa nhiều tiềm năng cho việc phát triển kinh tế - xã hội Gắn liền với sự phát triển trên, ngành giáo dục và đào tạo đã có những thành tựu lớn trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trong một kỳ thi đình năm 1374 - đời Trần Dụ Tông, Đông Triều đã giành được
2 trong 3 vị trí “Tam khôi” của cả nước (1 Thám hoa, 1 Bảng nhãn) Lê Hiến Phủ đỗ Bảng nhãn, Trần Đình Sâm đỗ Thám hoa
Thời Lê, nhất là thời vua Lê Thánh Tông, vùng An Bang phát triển hưng thịnh, nhiều người đỗ đạt cao Ví như Nguyễn Vũ (tức Nguyễn Dao) người làng Phúc Đa (Đông Triều) đỗ Tiến sĩ khoa Quý Dậu (1453), Vũ Phi Hổ người làng Cư Xá (Tựa Xá
- Hoành Bồ) đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1511), Phạm Đốc Hải (Tiên Yên) cả hai bố con
đỗ Tiến sĩ năm 1538 Yên Hưng là nơi có nhiều người học cao và đỗ đạt dưới thời nhà Nguyễn
Đến thời thuộc Pháp, cùng với sự hình thành khu công nghiệp mỏ thì giáo dục cũng phải phát triển, song thực dân Pháp đã thực hiện ở đây một chính sách ngu dân rất triệt để Vùng mỏ với mô hình công trường thủ công thời trung cổ, với đánh đập và
Trang 23cúp phạt, đã thành một “địa ngục trần gian”, người phu mỏ suốt đời mù chữ Pháp thống trị cả vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và cả tỉnh Hải Ninh không có nổi một lớp ở bậc tiểu học, người dân không thực hiện được khát vọng học của mình đã phải thốt lên:
“Thân mình dốt nát đã xong Muốn con được học mà không có trường”
(Ca dao vùng mỏ)
Chỉ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự nghiệp giáo dục mới được chú ý Khi tình hình chính trị - xã hội còn chưa ổn định, kinh tế và đời sống còn rất gieo neo, phong trào toàn dân đi học đã diễn ra Cuộc kháng chiến trường kỳ, từ vùng căn cứ du kích đến vùng tạm bị địch chiếm đóng, các lớp bình dân học vụ vẫn liên tiếp được tổ chức
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhân dân Quảng Ninh vừa chống giặc ngoại xâm, song cũng luôn quan tâm đến đến giáo dục Từ năm học 1965-1966 tỉnh đã mở lớp chuyên toán ở Đông Triều, năm 1990 thành lập trường cấp III chuyên tỉnh (nay là trường Chuyên Hạ Long), chứng tỏ các cấp
ủy, chính quyền sớm nhận thức được việc đào tạo nhân tài cho địa phương
Như vậy, trước ngày giải phóng Quảng Ninh là một vùng giáo dục rất chậm phát triển, đến khi hòa bình lập lại toàn dân lại nô nức đi học Sự nghiệp giáo dục tuy có những bước gập ghềnh, những năm khủng hoảng kinh tế - xã hội, song nhìn chung đã liên tục phát triển Các ngành học, các cấp học đã đi từ thấp đến cao từ hẹp đến rộng, ngày càng phát triển vững chắc và trải qua non nửa thế kỷ đã xoá được nạn mù chữ, nhiều thị xã, thị trấn phổ cập được trung học cơ sở, hàng chục trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và hàng chục trường dạy nghề cùng với hàng chục lớp đại học mở tại địa phương đã tạo nên một hiệu quả to lớn: mặt bằng dân trí được nâng cao, hàng vạn người lao động có kỹ thuật cùng hàng nghìn người được đào tạo ở trình độ đại học hàng năm đã tạo nên một nguồn nhân lực sung sức, nối tiếp các thế hệ của tỉnh
Trong thành quả chung của cách mạng, thành tựu giáo dục là sự tự hào Vùng Đông Bắc xưa tăm tối, nay thành tựu đó được khẳng định Với xu thế toàn cầu hóa diễn
ra mạnh mẽ, nhận thức được sứ mệnh phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm
Trang 24nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Do đó, thành phố Hạ Long đã đặt quyết tâm cao, ưu tiên các nguồn lực để tập trung đầu tư cho hạ tầng giáo dục, quyết tâm tạo chuyển biến căn bản về công tác giáo dục và đào tạo như: ưu tiên đặc biệt cho
hạ tầng giáo dục, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng, đào tạo các thế hệ trẻ có đủ tâm - tầm - tài cho thành phố nói riêng và đất nước nói chung
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, trong quá trình phát triển của nền giáo dục cách mạng, sự nghiệp giáo dục Quảng Ninh có nhiều nội dung đặc biệt và mang tính đặc thù Đó là sự nghiệp giáo dục ở miền núi, ở hải đảo và ở các làng chài lênh đênh trên biển, ở vùng đồng bào dân tộc Hoa Sự phát triển giáo dục luôn chênh lệch giữa các vùng cũng là một tình trạng cố hữu Đây là áp lực và thách thức rất lớn của ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh nói chung và thành phố Hạ Long nói riêng
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cùng những khó khăn chung về kinh tế
- xã hội của đất nước, sự nghiệp giáo dục của nước nhà thời kỳ đó cũng đối diện với
nhiều thách thức Trong bối cảnh đó, với bản lĩnh trí tuệ của mình, Đảng và Nhà nước
ta đã vững vàng trèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn, thử thách
Tháng 12/ 1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đường lối đổi mới toàn diện Đổi mới về kinh tế được thực hiện song song với đổi mới trên các mặt khác như hành chính, chính trị, văn hóa, giáo dục Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lần thứ 2 (khóaVIII) và Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IX) khẳng định: “ Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [71, tr.107]
Giáo dục - đào tạo là chìa khóa để tiếp thu khoa học công nghệ là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Để giáo dục và đào tạo phát triển, cần thay đổi tư duy giáo dục, các quan điểm, đường lối, nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực và năng lực tự học của học sinh,… nhằm hoàn thành sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực, phát triển tự do và toàn diện con người, đưa đất nước từng bước phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Luồng gió đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI nhanh chóng được quán triệt triển khai, làm thay đổi sâu sắc các mặt hoạt động trong công tác giáo dục Tạo bước phát triển vững chắc, làm nền tảng cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
Trang 25dưỡng nhân tài
Đầu năm 1995, trước yêu cầu chấn hưng nền giáo dục, Đảng chủ trương “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựng nền giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước…” Ý tưởng về việc thành lập một tổ chức
xã hội có chức năng hỗ trợ các hoạt động dạy và học trong hệ thống giáo dục học đường, vận động người dân đi học để nâng cao dân trí, phát triển sản xuất… đã chín muồi Ban vận động thành lập một Hội có chức năng hỗ trợ và khuyến khích phát triển giáo dục đã hình thành và hoạt động
Ngày 30/4/1995, Ban Vận động gửi công văn lên Thủ tướng Chính phủ xin phép thành lập Hội Khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam
Ngày 29/2/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 122/TTg, duyệt y việc thành lập Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam (gọi tắt là Hội Khuyến học Việt Nam)
Ngày 2/10/1996, Đại hội thành lập Hội Khuyến học Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội Hội Khuyến học Việt Nam, là tổ chức xã hội tự nguyện của những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, khuyến học góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập khu vực và quốc tế Hội Khuyến học có nhiệm vụ chính là:
Làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
Khuyến khích và hỗ trợ việc dạy và học trong nhà trường Vận động nhân dân tích cực học tập, học tập suốt đời, quan tâm đến những người nghèo, người khuyết tật không có điều kiện học tập và những người có năng khiếu nhằm nâng cao dân trí, nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp để góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Liên kết, vận động mọi gia đình và tổ chức xã hội, cùng các cơ sở giáo dục và đào tạo góp phần động viên, chăm lo về vật chất và tinh thần đối với các thầy cô giáo, thực hiện sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, học kết hợp với hành, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
Tư vấn, phản biện, giám định xã hội theo quy định của pháp luật về giáo dục
Trang 26trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, các phụ huynh học sinh Kiến nghị với Đảng, chính quyền, ngành giáo dục và đào tạo về các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành xã hội học tập
Từ khi Hội Khuyến học Việt Nam được thành lập, hoạt động khuyến học, khuyến tài, đã trở thành phong trào rộng lớn, phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong cả nước thu hút đông đảo các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân nhiệt tình tham gia Hội Khuyến học đã khuyến khích thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển, bước đầu khẳng định vai trò của mình trong công cuộc xã hội hoá giáo dục
Ngày 24/08/1999, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 50/CT-TW yêu cầu hoạt động của Hội Khuyến học cần quán triệt theo phương hướng sau:
1.Tuân thủ các Nghị quyết của Trung ương về giáo dục, đào tạo con người, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực, nguồn cán bộ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện đúng đắn chủ trương xã hội hóa giáo dục, khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc, phát huy nội lực của đất nước và con người Việt Nam, đưa sự nghiệp giáo dục lên ngang tầm đòi hỏi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới
2 Phát triển phong trào khuyến học theo phương châm giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội Hội cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều biện pháp nhằm xây dựng phong trào “toàn dân học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời, học tập với động cơ trong sáng”; tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục về chính trị, đạo đức, kiến thức văn hóa, nghề nghiệp, thể lực, thẩm mỹ và lối sống văn minh, lành mạnh
3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, đặc biệt là với ngành giáo dục - đào tạo trong hoạt động khuyến học, coi đây là một phương thức hoạt động quan trọng Vận động các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển sự nghiệp giáo dục; xây dựng quỹ khuyến học, đồng thời quản lý, sử dụng đúng mục đích của quỹ này
4 Tập hợp rộng rãi các nhà giáo dục, nhà khoa học, giới tri thức, nhà kinh doanh, những người hoạt động xã hội và các kiều bào ở nước ngoài tự nguyện tham gia sự nghiệp chấn hưng và phát triển giáo dục Củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt
Trang 27động theo đúng tôn chỉ, mục đích của Hội; phát triền tổ chức hội ở những địa phưong
và cơ sở thực sự có nhu cầu và có đủ điều kiện
5 Để phong trào khuyến học đạt hiệu quả thiết thực, các cấp uỷ đảng cần quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác của Hội Khuyến học thuộc cấp mình Ban Dân vận Trung ương giúp Bộ Chính trị theo dõi và định hướng chỉ đạo các hoạt động của Hội Khuyến học Việt Nam Cùng với việc tăng cường công tác quản lý, Nhà nước dành cho Hội sự hỗ trợ cần thiết, tạo điều kiện để Hội hoạt động đạt kết quả thiết thực
Để Hội Khuyến học hoạt động hiệu quả cao, ngày 09/09/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 183/1999/QĐ TTg về việc thành lập Quỹ khuyến học Việt Nam Quỹ khuyến học Việt Nam thuộc Hội Khuyến học Việt Nam, hoạt động theo nguyên tắc đóng góp, tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước không vì mục đích lợi nhuận, nhằm tài trợ cho các hoạt động khuyến khích, phát triển giáo dục trên
quy mô cả nước Quỹ Khuyến học Việt Nam có nhiệm vụ:
Vận động và tiếp nhận tài trợ một cách hợp pháp của các tổ chức, các cá nhân
trong và ngoài nước Tiếp nhận sự đóng góp theo nghĩa vụ của các đơn vị trực thuộc Trung ương hội do Ban thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam quy định
Hỗ trợ các chương trình, đề án phát triển giáo dục hoặc tài trợ theo địa chỉ chỉ định của các tổ chức, cá nhân tài trợ
Hỗ trợ các hoạt động giáo dục tại các địa bàn có khó khăn đặc biệt Cấp học bổng hoặc khen thưởng học sinh nghèo vượt khó và đạt kết quả xuất sắc trong học tập Chi giải thưởng cho học sinh và sinh viên có thành tích cao trong các kỳ thi Quốc gia
và Quốc tế Trợ giúp các thầy cô giáo dạy giỏi, giáo sinh học giỏi của các trường khó khăn đặc biệt
Ngày 15/10/1999, Chính phủ ban hành Chỉ thị 29/1999/CT-TTg “ Về việc phát huy vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam trong sự phát triển giáo dục” Đại hội IX của Đảng (3/2001) đưa ra mục tiêu: “xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập”
và “đẩy mạnh xây dựng các tổ chức Khuyến học” Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VII (khóa IX) tháng 3/2003 cụ thể hóa nghị quyết Đại hội IX, và phát động toàn dân thực hiện ba cuộc vận động lớn đó là:
1.Toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp
Trang 282.Toàn dân thi đua xây dựng đời sống văn hóa
3.Toàn dân thi đua xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập
Để đẩy mạnh phong trào học tập trong cả nước, tháng 11/2003 Chính phủ giao cho Hội Khuyến học Việt Nam kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án
“Xây dựng cả nước thành một xã hội học tập” Tuy nhiên, nhận thức của nhiều cấp uỷ
đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết, tầm quan trọng của công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ mới chưa thật sự đầy đủ; một số cấp uỷ đảng chưa chỉ đạo chính quyền, đoàn thể phối hợp thực hiện; hoạt động ở một số nơi còn mang tính hình thức; phong trào phát triển không đồng đều, triển khai còn lúng túng, hiệu quả thấp; cán bộ chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu; việc huy động các nguồn lực của xã hội thông qua các chủ trương, biện pháp tuyên truyền, vận động thực hiện xã hội hoá để mọi người tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập còn hạn chế; cơ chế, chính sách và hành lang pháp
lý cho công tác này chậm được ban hành
Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập và
tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời”, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Ngày 13/04/2007, Ban chấp hành Trung ương đã ra Chỉ thị số 11/CT-TW, “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Khuyến học, khuyến tài, xây dựng
xã hội học tập” Chỉ thị nhấn mạnh cấp ủy đảng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công
tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời gian tới, tập trung thực hiện một số nội dung cơ bản
l Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay Xác định xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng
và phát triển giáo dục của nước ta
2 Cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng xã hội học tập trong
Trang 29phạm vi từng địa phương, đơn vị Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong “Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” mà Chính phủ đã ban hành Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện
3 Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào khuyến học, khuyến tài, góp phần
hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong giảng dạy và học tập Xây dựng gia đình hiếu học; cộng đồng, dòng họ, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn, phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị
Chú trọng và kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài, nhất
là tài năng trẻ trên các lĩnh vực
Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp, chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc, chất lượng cuộc sống Gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
Chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm và có hình thức khen thưởng, tuyên dương, nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả trong việc triển khai thực hiện phong trào khuyến học, xây dựng xã hội học tập ở các địa phương, đơn vị
4 Củng cố, xây dựng Hội Khuyến học các cấp vững mạnh, lành nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp tích cực, chủ động tổ chức các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo tinh thần xã hội hoá giáo dục
5 Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của mình khẩn trương chỉ đạo việc xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách, kế hoạch triển khai thực hiện “Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” của Chính phủ, nhất là các chủ trương, chính sách bảo đảm phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên, tổ chức dạy nghề ở các quận, huyện, tạo
Trang 30điều kiện cho hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn
Có biện pháp tích cực, nội dung cụ thể giúp các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, những địa phương có khó khăn trong việc triển khai xây dựng xã hội học tập Ban hành
cơ chế giao cho hội khuyến học các cấp thực hiện nhiệm vụ triển khai phong trào khuyến học, khuyến tài, nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập; quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi về chế độ, chính sách, tổ chức bộ máy, kinh phí hoạt động của hội khuyến học các cấp theo các quy định hiện hành của Nhà nước
Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tăng cường các hoạt động phối hợp thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
Các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập và các cá nhân, tập thể có thành tích trong công tác này
6 Ban Tuyên giáo Trung ương, ban tuyên giáo các địa phương chủ trì, phối hợp với ban dân vận cùng cấp giúp cấp uỷ theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện Chỉ thị này Hằng năm, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (ở địa phương báo cáo thường vụ cấp uỷ đảng) về kết quả thực hiện
Chỉ thị đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp giáo dục Nhận thấy rõ lợi ích từ việc học, các cấp ủy đảng triển khai, xây dựng kế hoạch thực hiện, chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể đưa chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống góp phần xây dựng xã hội học tập
Ngày 08/01/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, “Về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập” Thủ tướng chỉ thị:
1 Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; tập trung triển khai thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, đào tạo, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
2 Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta Cần đẩy mạnh công
Trang 31tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, học
đi đôi với hành Phát triển các hình thức học tập chính quy đi đôi với phát triển, đa dạng hóa các hình thức học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được học tập thường xuyên, học suốt đời
3 Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần tập trung chỉ đạo xác định,
cụ thể hoá các mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp triển khai các hoạt động xây dựng xã hội học tập theo Đề án của Chính phủ về việc xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005
- 2010, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác khuyến học, khuyến tài, trong đó lưu ý xây dựng tổ chức Hội Khuyến học Việt Nam vững mạnh, hoạt động thiết thực,
có hiệu quả [30, tr.1]
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, đồng thời để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đông đảo những người nhiệt tình và tâm huyết với sự nghiệp “trồng người” để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng xã hội học tập, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu Ngày 08/01/2004, Hội khuyến học tỉnh Quảng Ninh chính thức thành lập theo Quyết định số 72/QĐ - UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
và Quyết định công nhận số 37 - QĐ/KHVN của Trung ương Hội khuyến học Việt Nam Ban Chấp hành lâm thời Hội Khuyến học tỉnh gồm 31 thành viên phần lớn là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các Sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố Trụ sở của Hội đặt tại Sở GD-ĐT Quảng Ninh - 163B đường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam và điều lệ Hội được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt
Được sự nhất trí của UBND tỉnh, ngày 24/01/2005, Hội Khuyến học tỉnh đã tổ chức Đại hội Đại Biểu lần thứ nhất bầu BCH Hội Đại hội đề ra phương hướng nhiệm
vụ giai đoạn 2005 - 2010 là : “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của công tác khuyến học, khuyến tài; Đẩy mạnh phong
Trang 32trào học tập trong nhân dân, xây dựng xã hội học tập; Phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với ngành GD-ĐT thúc đẩy việc phát triển và nâng cao chất lượng GD; hiện tốt chủ trương xã hội hoá GD” [5, tr.1]
Sau 5 năm hoạt động, Hội đạt được những kết quả bước đầu Kết quả đó tạo cơ
sở quan trọng để vượt lên khó khăn, tạo bước tiến lớn trong thời gian tiếp theo
Ngày 19/08/2010 Hội Khuyến học Tỉnh đã tiến hành Đại hội lần thứ hai để kiểm điểm lại hoạt động của Hội từ 2005-2010 và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2010
- 2015 Để tăng cường hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh, Ban thường vụ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản Chỉ thị, Nghị quyết cho các cấp
Ngày 12/11/2010, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 01 - NQ/TV “về đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai đoạn
2010 - 2015, định hướng đến 2020”, với quan điểm “ Xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần phát triển Quảng Ninh
cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015…” [57, tr.1]
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 01 - NQ/TW gắn với việc triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29 - NQ/TW Ngày 27/04/2016, Ban thường vụ Tỉnh ủy
ra Chỉ thị số 04-CT/TU “về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay” Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu cấp ủy,
chính quyền, các ban, sở, ngành, mặt trận tổ quốc, đoàn thể các cấp và nhân dân đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời
Ngay sau đó, ngày 15/07/2016.Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh đã đề ra bản
đề cương triển khai thực hiện chỉ thị 04-CT/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh về “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay” theo số 115/ĐC-KHQN
Ngày 24/3/2016, Đại hội đại biểu Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh lần III, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ hai và tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò của Hội Khuyến học, phối hợp với các lực lượng làm khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2016-
2020 Đại hội thông qua chương trình hành động, thực hiện yêu cầu hội nhập quốc tế
của tỉnh với nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền vận động
Trang 33Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình học tập, dòng họ học tập, đơn vị học tập, cộng đồng học tập Xây dựng toàn diện nguồn lực cho hoạt động khuyến học, khuyến tài Nâng cao chất lượng các TTHTCĐ Thúc đẩy hoạt động Khuyến học trong nhà trường Đẩy mạnh phong trào thi đua Tiếp tục phát triển; đổi mới nội dung phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động Hội Khuyến học các cấp” [7, Tr13]
Từ những chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh quyết tâm thực hiện để đưa phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập phát triển sâu rộng Tạo nên phong trào thi đua học tập sôi nổi trong toàn dân, góp phần xứng đáng cùng với cả nước trong việc chấn hưng nền giáo dục, với nhiệm vụ là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Như vậy, cơ sở hình thành Hội Khuyến học là xuất phát từ truyền thống hiếu học của dân tộc Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự học và trong thực tế đã có nhiều chủ trương chính sách lớn để tạo cho người dân được học tập thường xuyên, học tập suốt đời Vì vậy, cần phải có tổ chức xã hội
để hỗ trợ chấn hưng sự nghiệp GD-ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh ra đời xuất phát từ những nhân tố đó Hiện nay, trước yêu cầu phát triển kinh tế và chiến lược con người của thế kỷ XXI, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền, toàn tỉnh Quảng Ninh trong đó tiêu biểu nhất là thành phố Hạ Long đã có những hoạt động quan tâm đến giáo dục và công tác khuyến học Điều đó chứng tỏ sự ra đời của Hội Khuyến học thành phố Hạ Long là một chủ trương đúng đắn, phù hợp lòng dân, có tác dụng lớn đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh nói chung và thành phố Hạ Long ngày càng phát triển
1.2.2 Hội khuyến học thành phố Hạ Long
Ngay sau khi Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh thành lập, nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hạ Long và Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh
Ngày 30/03/2004 Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đã được thành lập theo quyết định số 20/QĐ-UB của UBND thành phố Hạ Long, đặt trụ sở tại phòng Giáo dục thành phố Hạ Long đường Nguyễn Du, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Ban đầu có 25 đồng chí là thành viên Ban chấp hành lâm thời của Hội
Trang 34[Phụ Lục 1]
Nhận được sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, sự ủng hộ của nhân dân trên địa bàn thành phố Hạ Long Tháng 12/2005, Hội khuyến học thành phố chính thức Đại hội lần thứ Nhất, Đại hội đã bầu ra 37 đồng chí tham gia Ban chấp, đồng chí Vũ Văn Hạnh trưởng phòng GD-ĐT thành phố được bầu làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ (2005 - 2010)
Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu là: “Quán triệt đầy đủ tinh thần, quan điểm chỉ đạo các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Đẩy mạnh công tác phát triển và xây dựng tổ chức cơ sở hội Huy động xây dựng Quỹ Khuyến học các cấp Phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng xã hội học tập” [5, tr.1]. Thời gian đầu còn gặp nhiều khó khăn, với sự cố gắng của các ủy viên BCH, công tác khuyến học của thành phố Hạ Long đạt được kết quả đáng kể, hoàn thành nhiệm vụ đề ra hàng năm
Dưới sự chỉ đạo của Thành Ủy, HĐND, UBND thành phố, hội Khuyến học thành phố Hạ Long quyết tâm đẩy mạnh hoạt động của Hội trong toàn thể hội viên và các tầng lớp nhân dân thành phố Từ năm 2010 - 2015, Hội đạt được nhiều thành tích
nổi bật, trở thành đơn vị dẫn dầu trong toàn tỉnh
Ngày 30/3/2016 Đại hội Khuyến học thành phố Hạ Long lần III diễn ra, bầu ra
40 đồng chí trong BCH Hội khóa mới, trong đó đồng chí Vũ Hồng Sơn Ủy viên BTV,
Phó chủ tịch UBND thành phố là Chủ tịch Hội [Phụ Lục], [Ảnh 1]
Đại hội kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện công tác khuyến học nhiệm kỳ
2010 - 2015, đề ra phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2015 -2020 thông qua các nhiệm
vụ:
Tiếp tục đẩy mạnh, xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng của tổ chức Hội,
tích cực phát triển hội viên, nhất là hội viên trong khối doanh nghiệp
Phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo, cùng các ban ngành, đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, nhằm góp phần tích cực thực hiện đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, duy trì phổ cập giáo dục phổ thông trên địa bàn Thành phố
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng “Gia đình hiếu học”, “Khu phố hiếu học”, “Dòng họ hiếu học”, “Cơ quan hiếu học”, “Đơn vị hiếu học” gắn với phong trào
Trang 35xây dựng “Gia đình văn hóa”
Đẩy mạnh phong trào “Ba đỡ đầu” và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng với phương châm “cần gì học nấy”
Tích cực huy động quỹ khuyến học từ cơ sở đến thành phố Huy động sức mạnh tổng hợp cho hoạt động khuyến học, khuyến tài và tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua trong các tổ chức Hội, nhằm động viên khuyến khích mọi người tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài
Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh Căn cứ Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam; Quy chế tổ chức hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh, Căn cứ Nghị quyết của Đại hội Khuyến học thành phố Hạ Long lần thứ I, II, III, BCH Hội Khuyến học thành phố thống nhất ban hành Quy chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chấp hành Hội theo Quyết định số 84/QĐ-KH ngày 24/11/2016 như sau:
1 Ban Chấp hành Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đặt dưới sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hạ Long; là thành viên của Ủy ban Mặt trận tổ quốc thành phố Hạ Long; hoạt động dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn của Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh
2 Ban Chấp hành, Ban Thường vụ hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội
3 Ban Chấp hành Hội Khuyến học thành phố có trách nhiệm thực hiện đầy đủ,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam; Quy chế hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh
4 Ban Chấp hành Hội mỗi năm sinh hoạt định kỳ 2 lần hoặc đột xuất, mở rộng khi cần thiết
5 Quyền hạn, nhiệm vụ của Ủy viên Ban Chấp hành được quy định tại Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam Các ủy viên Ban Chấp hành có quyền và trách nhiệm tham gia đầy đủ, tích cực sinh hoạt của Ban Chấp hành, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Ban Chấp hành theo nhiệm vụ được phân công
6 Ban Thường vụ do Ban Chấp hành bầu, chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành trong việc điều hành các hoạt động của Hội giữa hai nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết của
Trang 36Đại hội Ban Thường vụ ban hành các Nghị quyết theo quy định của Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam và quy chế chi tiêu nội bộ của Hội Sinh hoạt 6 tháng 01 lần và đột xuất khi cần thiết Ủy viên Ban Thường vụ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện thắng lợi các Nghị quyết, kế hoạch công tác ở lĩnh vực và địa bàn được phân công
7 Thường trực Hội do Ban Chấp hành phân công gồm : Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Thường trực Hội có nhiệm vụ thay mặt Ban Thường vụ điều hành, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tổng hợp, báo cáo hoạt động thường xuyên của Hội giữa hai kỳ họp của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Ban Chấp hành ban hành các kế hoạch, hướng dẫn hoạt động và phối hợp hoạt động trong các mặt công tác và thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, thi đua, khen thưởng
8 Chủ tịch Hội kiêm nhiệm là người đứng đầu Hội Khuyến học thành phố, phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cấp trên về các hoạt động của Hội
9 Các Phó chủ tịch Hội kiêm nhiệm và Phó Chủ tịch Hội chuyên trách chịu trách nhiệm trước Chủ tịch, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cấp trên về các lĩnh vực đã được Chủ tịch phân công phụ trách Phó Chủ tịch thường trực giúp Chủ tịch điều hành các hoạt động thường xuyên của Hội để thực hiện nhiệm vụ của Hội và được
ủy nhiệm làm chủ tài khoản thứ nhất, trực tiếp quản lý quỹ Hội Đồng chí Phó Chủ tịch chuyên trách được ủy nhiệm làm chủ tài khoản thứ hai
10 Chánh Văn phòng Hội kiêm nhiệm giúp thường trực Hội quản lý văn phòng Hội, tổng hợp báo cáo định kỳ, đột xuất, dự thảo các văn bản của Hội và một số công việc hành chính khi cần
11 Kế toán, thủ quỹ của Hội làm kiêm nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của pháp luật và quy chế hoạt động của Hội
12 Nguồn tài chính của Hội gồm : Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ ; Nguồn các đơn vị, các nhà hảo tâm tài trợ ; Các nguồn thu hợp pháp khác
Riêng hội phí để lại 100% ở cơ sở để quản lý và hoạt động thu, chi theo quy định của Nhà nước và quy chế thu, chi của Hội cơ sở
Hàng năm, kế toán, thủ quỹ phải tham mưu cho thường trực Hội lập kế hoạch, kinh phí, dự toán kinh phí để xin hỗ trợ, vận động tài trợ và triển khai nhiệm vụ
Trang 37Như vậy, Hội Khuyến học thành phố Hạ Long thành lập, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của đông đảo nhân dân, của các cấp ủy Đảng Hội luôn đặt nhiệm vụ xây dựng, phát triển hoạt động của Hội theo đúng tinh thần nghị quyết mà Đảng, Nhà nước
đề ra Cơ cấu tổ chức của Hội có đặc điểm là kết hợp chặt chẽ giữa cán bộ đương chức với cán bộ hưu trí, nên đội ngũ cán bộ được bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng Hội vững mạnh, phát triển nhanh và đi sâu vào quần chúng nhân dân
Trang 38Đảng và Nhà nước coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương
đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể để phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó công tác khuyến học khuyến tài được coi là nhiệm vụ trọng tâm Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, Hội khuyến học thành phố Hạ Long được thành lập, đáp ứng nguyện vọng của những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục Hội Khuyến học sẽ là cầu nối giữa gia đình, nhà trường, xã hội, tạo môi trường tốt để khuyến khích, ươm mầm tài năng, tham gia tích cực vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Để phong trào khuyến học, khuyến tài đi vào cuộc sống người dân, Hội Khuyến học thành phố Hạ Long tiếp tục tranh thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể để củng cố, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh Đẩy mạnh các hoạt động học tập thường xuyên, học tập suốt đời, hướng tới xây dựng xã hội học tập đến các cơ sở
Trang 39Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH (2004 - 2018) 2.1 Chủ trương, nhiệm vụ và kế hoạch hành động của Hội khuyến học thành phố
Hạ Long giai đoạn 2004 - 2018
Thành phố Hạ Long xác định việc xây dựng xã hội học tập (XHHT) là nhiệm
vụ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Vì vậy, để công tác khuyến học, khuyến tài phát triển mạnh
mẽ, Hội cần tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức để xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội Những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác Khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, Hội Khuyến học thành phố ban hành nhiều các văn bản, Nghị quyết, Chương trình hành động để triển khai thực hiện nhiều nội dung liên quan đến công tác đẩy mạnh xây dựng
xã hội học tập trên địa bàn như :
Ngày 01/08/2008, Hội đã tham mưu với thành uỷ, UBND thành phố ban hành
Chỉ thị 05/2008/CT-UBND “đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng
xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hạ Long” Nhằm để mọi người hiểu được tầm
quan trọng của khuyến học, khuyến tài đối với sự phát triển giáo dục của thành phố
Ngày 05/07/2011, Hội đã xây dựng kế hoạch số 09/KH - KH HL về triển khai thực hiện Nghị quyết 01 - NQ/TV của BTV Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 09 - CTr - TU của Thành ủy Hạ Long về đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ CNH, HĐH giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020
Ngày 01/08/2011, Hội ra Kế hoạch số 11/KH - KH HL về tổ chức Đại hội biểu dương “Gia đình hiếu học”,“Dòng họ, đơn vị hiếu học” và gương sáng “Ba đỡ đầu”
ở cơ sở xã, phường trong thành phố, tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Việt Nam; Hướng dẫn số 15/HD - KHHL ngày 18/10/2011 về hướng dẫn tổ chức Đại hội biểu dương “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ, đơn vị hiếu học” và gương sáng
“Ba đỡ đầu” ở cơ sở xã, phường trong thành phố
Ngày 30/9/2013 Hội Khuyến học thành phố ban hành kế hoạch số 26/KH - KH
HL về tổ chức tọa đàm “Học tập suốt đời với xây dựng xã hội học tập” trong tuần lễ
Trang 40hưởng ứng học tập suốt đời năm 2013; cùng với Hội chủ động tuyên truyền, hướng dẫn các Hội cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể và lấy Hội khuyến học cơ sở làm
nòng cốt để đẩy mạnh phong trào xây dựng “Gia đình hiếu học”,“Dòng họ hiếu học, Đơn vị hiếu học”,“Gương sáng ba đỡ đầu”
Ngày 29/9/2014, Kế hoạch số 151/KH - UBND của Ủy ban nhân dân thành phố
Hạ Long về thực hiện Quyết định số 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê
duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đặc biệt, ngày 10/08/2016, Ban Thường vụ Thành ủy Hạ Long đã đề ra bản kế
hoạch số 36-KH/TU “tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04 - CT/TU ngày 27/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay” với nội dung
cơ bản như:
Tiếp tục tuyên truyền các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến 2020 được nêu trong Nghị quyết số 01, Chương trình hành động số 09-CTr/TU, ngày 10/3/2011 của BCH Đảng bộ thành phố
Tuyên truyền phổ biến, quán triệt đầy đủ 07 nội dung nêu trong Chỉ thị 04; những kết quả, ưu điểm, tồn tại, hạn chế, cũng như nguyên tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện
Tuyên truyền về công tác tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị từ thành phố đến
cơ sở; những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; những gương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời
Để kế hoạch 36-KH/TU đạt hiệu quả cao, ngày18/10/2016 Thành ủy Hạ Long
ra Chương trình hành động số 6414/CTr-UBND về “Triển khai Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 04 - CT/TU ngày 27/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay”
Từ năm 2011 đến nay, Thành ủy, UBND thành phố, Phòng GD&ĐT, Hội Khuyến học thành phố đã ban hành 52 văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện