1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn cao cấp chinh trị GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

32 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về kinh tế – xã hội, nhờ đó mà đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, trở thành một nước có nền kinh tế năng động, ổn định và có tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực. Song, bên cạnh những thành tựu kinh tế, những vấn đề xã hội cũng nổi lên gay gắt do hậu quả của chiến tranh, do mặt trái của nền kinh tế thị trường đem lại như nạn thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội….Trong các vấn đề này, vấn đề lao độn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp là một trong những vấn đề kinh tế – xã hội mà Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Hơn nữa, đây là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối lo chung của toàn nhân loại. Giải quyết việc làm cần được hiểu theo nội dung là không chỉ đơn thuần trong phạm vi chính sách xã hội, không chỉ là thanh toán nạn thất nghiệp cho công dân được giáo dục và chuẩn bị tốt hơn để bước vào lập thân, lập nghiệp, được tự do lao động, sáng tạo và hưởng thụ theo đúng pháp luật, nhằm nâng cao cuộc sống vật chất, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và cống hiến cho cộng đồng. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, hơn lúc nào hết nguồn nhân lực được đặt vào vị trí xứng đáng, là nguồn lực cơ bản, quyết định đối với các nguồn lực khác như : Vốn, tài nguyên, khoa học công nghệ…Chính vì vậy, vấn đề việc làm cho người lao động được đặt ra không chỉ là một yêu cầu cấp bách mà còn là một vấn đề trong tổng thể các vấn đề chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta. Ở nước ta hiện nay việc làm được coi là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập, tạo điều kiện mang lại thu nhận cho những người khác trong hộ gia đình, nói cách khác : Việc làm là những hoạt động có ích cho gia đình và xã hội, tạo ra thu nhập, việc làm không chỉ trong biên chế mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội mà còn tại gia đình. Tuy nhiên do dân số nước ta tăng, hàng năm có hơn 1 triệu người đến tuổi lao động cần việc làm, đồng thời có một số lao động không nhỏ dôi thừa do sắp xếp biên chế trong các cơ quan Nhà nước, bộ đội xuất ngũ, học sinh tốt nghiệp ra trường, lao động đi làm ở nước ngoài về…đang có nhu cầu về việc làm dẫn đến tình trạng sức ép việc làm ngày càng tăng và bức xúc. Mặt khác, chúng ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị trong độ tuổi ở nước ta ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê của Thời báo kinh tế cho biết thất nghiệp năm 1999 là 5,88%, năm 2000 là 6,01%. Riêng huyện Châu Thành tỉnh Long An năm 2000 là 6,1%, mà tỷ lệ thất nghiệp càng cao thì đồng nghĩa với thiếu việc làm mà mặt trái của nó là tệ nạn xã hội. Như vậy giải quyết việc làm cũng có nghĩa là giải quyết bớt khó khăn, gánh nặng cho xã hội. Nghị định 120HĐBT ngày 11941993 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ghi rõ : “Giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội và của mọi người lao động”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiềuchính sách về kinh tế – xã hội, nhờ đó mà đất nước ta thoát khỏi khủnghoảng kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng,trở thành một nước có nền kinh tế năng động, ổn định và có tốc độ tăngtrưởng nhanh trong khu vực

Song, bên cạnh những thành tựu kinh tế, những vấn đề xã hội cũng nổilên gay gắt do hậu quả của chiến tranh, do mặt trái của nền kinh tế thị trườngđem lại như nạn thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội….Trong cácvấn đề này, vấn đề lao độn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp là một trongnhững vấn đề kinh tế – xã hội mà Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.Hơn nữa, đây là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối lo chungcủa toàn nhân loại

Giải quyết việc làm cần được hiểu theo nội dung là không chỉ đơn thuầntrong phạm vi chính sách xã hội, không chỉ là thanh toán nạn thất nghiệp chocông dân được giáo dục và chuẩn bị tốt hơn để bước vào lập thân, lậpnghiệp, được tự do lao động, sáng tạo và hưởng thụ theo đúng pháp luật,nhằm nâng cao cuộc sống vật chất, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và cốnghiến cho cộng đồng

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, hơnlúc nào hết nguồn nhân lực được đặt vào vị trí xứng đáng, là nguồn lực cơbản, quyết định đối với các nguồn lực khác như : Vốn, tài nguyên, khoa họccông nghệ…Chính vì vậy, vấn đề việc làm cho người lao động được đặt rakhông chỉ là một yêu cầu cấp bách mà còn là một vấn đề trong tổng thể cácvấn đề chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta

Ở nước ta hiện nay việc làm được coi là một hoạt động có ích, không bịpháp luật ngăn cấm, có thu nhập, tạo điều kiện mang lại thu nhận cho nhữngngười khác trong hộ gia đình, nói cách khác : Việc làm là những hoạt động

có ích cho gia đình và xã hội, tạo ra thu nhập, việc làm không chỉ trong biênchế mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội mà còn tại gia đình

Tuy nhiên do dân số nước ta tăng, hàng năm có hơn 1 triệu người đếntuổi lao động cần việc làm, đồng thời có một số lao động không nhỏ dôi thừa

do sắp xếp biên chế trong các cơ quan Nhà nước, bộ đội xuất ngũ, học sinh

Trang 2

tốt nghiệp ra trường, lao động đi làm ở nước ngoài về…đang có nhu cầu vềviệc làm dẫn đến tình trạng sức ép việc làm ngày càng tăng và bức xúc.Mặt khác, chúng ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị trong

độ tuổi ở nước ta ngày càng tăng Theo số liệu thống kê của Thời báo kinh tếcho biết thất nghiệp năm 1999 là 5,88%, năm 2000 là 6,01% Riêng huyệnChâu Thành tỉnh Long An năm 2000 là 6,1%, mà tỷ lệ thất nghiệp càng caothì đồng nghĩa với thiếu việc làm mà mặt trái của nó là tệ nạn xã hội Nhưvậy giải quyết việc làm cũng có nghĩa là giải quyết bớt khó khăn, gánh nặngcho xã hội Nghị định 120/HĐBT ngày 11/94/1993 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là chính phủ) đã ghi rõ : “Giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhànước, của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội và của mọi người laođộng”

Qua thời gian học tập và nghiên cứu các môn học trong chương trình lýluận chính trị cao cấp tôi càng nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề việc làm chongười lao động trong quá trình đổi mới và đẩy mạnh “Công nghiệp hoá, hiệnđại hoá” đất nước ta hiện nay mà thiết thực nhất là ở huyện Châu Thành Do

đó tôi đã chọn đề tài viết tiểu luận tốt nghiệp “ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ” giai đoạn 2001 –2005 ở huyện Châu Thành tỉnh

Long An

Để thực hiện đề tài nay, tôi đã dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương chính sách củaĐảng cộng sản Việt Nam làm phương pháp tiếp cận chung

Do thời gian nghiên cứu viết tiểu luận có giới hạn, thu thập tài liệu phục

vụ cho việc làm tiểu luận chưa nhiều, nên trình bày, lý giải và phân tích khôntránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Kính mong được sự thông cảm vàgiúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô để tiếp tục bổ sung hoàn thiện

Trang 3

Ănghen đã viết : “Xã hội cộng sản là xã hội mà mỗi thành viên của nó

có thể phát triển hoàn toàn tự do và phát huy hết tiềm năng, sức lực củamình, đồng thời không xâm nhập đến điều kiện cơ bản của xã hội” (C Mác –Ănghen tuyển tập – Tập 12 trang 354 bản tiếng Nga) Mác – Ănghen nhấnmạnh : Thay thế cho xã hội tư bản với những giai cấp và đối kháng giai cấp

sẽ là một liên hợp mới mà trong đó “Sự phát triển tự do của mỗi người làđiều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (C Mác – Ănghen tuyểntập Tập 1, NXB Hà Nội 1980 trang 560)

Xuất phát từ cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin về con người cũng như dựa trên những thành tựu mới về khoa họccông nghệ, trong những năm gần đây các nhà khoa học đã đưa ra nhiều côngtrình nghiên cứu đề cập và làm sáng táng tỏ các khía cạnh chủ yếu sau đây :Con người là một thực thể xã hội mang bản chất xã hội, nhưng đồng thời làmột thực thể tự nhiên, một cấu trúc bên cạnh những nhu cầu về tinh thần,một trong những nhu cầu đó chính là lao động, việc làm

-Lao động là một phạm trù vĩnh viễn, nó ra đời, tồn tại và phát triển cùngvới sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của loài người Nói đến vai trò quantrọng của lao động, nhà kinh tế thuộc phái cổ điển Anh – Wiliam Petty đãnói : “Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải” (lịch sử các học thuyếtkinh tế – NXB – TK –1996 –Trang 51) Theo các Cac – Mác lao động la sựkết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vàođối tượng lao động, trong đó sức lao động của con người là yếu tố hàng đầu

cơ bản nhất của lực lượng sản xuất Một trong những phát minh vĩ đại nhấtcủa Mác – Ănghen đó là hai ông đã khẳng định “Sản xuất vật chất là cơ sởcho sự phát triển của xã hội loài người”

Trang 4

Để sống, con người cần có cái ăn, cái mặc, cái ở và những của cải vậtchất khác Những tư liệu sinh hoạt cần thiết đó cho con người không có sẵn,chúng chỉ được sản xuất ra thông qua lao động của con người, Mác viết “Đứa trẻ nào cũng biết rằng mỗi một nước sẽ chết đói nếu nó ngừng hoạtđộng, tôi không nói là trong một năm, mà ngay trong một vài tuần lễ” (Mác–Ănghen tập tuyển – NXB –Sự thật – H- trảng, trang 687) Bởi vậy sc củacải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

Vậy lao động là phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính củanhững thu nhập đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của mỗi thành viên và củatoàn xã hội Không cá nhân nào có quyền trút cho người khác cái phần laođộng của mình vốn là điều kiện tự nhiên của sự sống còn của loài người “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc củachúng ta” Nó là trách nhiệm của mỗi thành viên xã hội có sức lao động Laođộng và việc làm gắn chặt với nhau trở thành bản chất, mục tiêu của chủnghĩa xã hội Bởi lẽ trong mọi hình thái kinh tế –xã hội, ở mỗi trình độ củalực lượng sản xuất, lao động và việc làm Ở các hình thái kinh tế –xã hộitrước như : chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa thì người lao động

bị bóc lột sức lao động của mình dưới hình thức này hoặc hình thức khác –lao động không được qúy trọng và vì thế trong nhiều trường hợp người ta coilao động đó là sự bắt buộc, là cái tất yếu để kiếm sống Còn hướng đi lên củatiến bộ kinh tế trong chủ nghĩa xã hội là phải làm sao cho lao động trở thành

sự húng thú, là phương tiện tự biểu hiện, tự khẳng định của con người Đó làvấn đề đặt ra cho nền kinh tế nước ta trong hiện tại cũng như trong tương lai.Theo các nhàn kinh tế học phát hiện mô hình việc làm đầy đủ từ năm

1803 và lấy tên nhà văn Pháp I.B Say và sau này được các nhà kinh tế họcnổi tiếng tán thành và ủng như DRI Cardo, I.S.Mill, A.Marshall, A.C.Pigou,các nhà kinh tế này cho rằng cần thiết tạo điều kiện cho thị trường cạnh tranhhoàn toàn tự do Chính điều này sẽ kích thích nền kinh tế sử dụng triệt đểnăng lực sản xuất hiện có, sử dụng hợp lý lao động xã hội, máy móc thiếtbị…Vì vậy sản phẩm thực tế được sản xuất bao giờ cũng ngang bằng vớimức sản phẩm cao nhất có thể đạt được

Như vậy mô hình này cần thiết, bảo đảm cho thị trường cạnh tranh hoàntoàn và có sự linh hoạt nhạy bén trong giá cả và tiền lương Bởi vì theo “ACPigou” với cạnh tranh hoàn toàn tự do sẽ luôn luôn có một khuynh hướngmạnh mẽ đi tới va đầy đủ công ăn việc làm Nạn thấp nghiệp tồn tại bất cứ

Trang 5

lúc nào hoàn toàn do có sự chống đối là việc điều chỉnh tiền lương và giá cảthích đáng không thể thực hiện khắc được Mặt khác, chính sách những môhình không thể tác động đến sản lượng và tình trạng thất nghiệp mà chỉ cóthể tác động đến giá cả.

Trong điều kiện nền sản xuất được huy động đầy đủ, lao động xã hộiđược sử dụng một cách hợp lý, tương ứng với nó là tỷ lệ thất nghiệp tối ưu

Các nhà triết học, kinh tế chính trị nổi tiếng, người sáng lập ra chủnghĩa cộng sản khoa học Các Mác(1818 –1883) phát hiện mô hình việc làmkhông đầy đủ tương đối từ những năm 1867 trong các tác phẩm nổi tiếng

“Tư bản” Trong khi nghiên cứu nền sản xuất hàng hóa Tư bản chủ nghĩaông phát hiện ra quy luật nhân khẩu dưới tư bản chủ nghĩa là nạn nhân khẩuthừa tương đối

Theo ông, chính tích lũy tư bản trong điều kiện cấu tạo hữu cơ tư bảnngày càng tăng lên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạn thất nghiệp dướichủ nghĩa tư bản Vì vậy, nạn thất nghiệp chỉ phát sinh trong chế độ tư bản

do chiếm hữu tư nhân Tư bản chủ nghĩa quyết định Nạn thất nghiệp chỉ

mang tính tương đối Một bộ phận “Nhân khẩu thừa” không phải vì nếu sản

xuất không có khả năng thu hút họ, càng không phải là nhu cầu lao động củanền kinh tế đã thỏa mãn mà là “thừa” so với nhu cầu tích lũy tư bản Trên ý

nghĩa đó Các Mác gọi là “nạn nhân khẩu thừa tương đối”.

Chính nạn nhân khẩu thừa tương đối tạo ra một đội quân hậu bị côngnghiệp khổng lồ cho nên sản xuất Tư bản chủ nghĩa và bản thân nó lại trởthành một sức ép để giảm sút tiền lương thực tế của toàn thể giai cấp côngnhân

Tuy nhiên, cấu tạo hữu cơ tư bản tăng lên không ngừng và càng nhanh

Do đó, nếu tích lũy cơ bản không tăng thì tỷ lệ lao động sẽ giảm tuyệt đối.Nếu tích lũy tư bản cũng tăng (thường với tốc độ chậm hơn cấu tạo hữu cơ)

Trang 6

thì tỷ lệ lao động giảm tương đối Nhưng theo mô hình này muốn xóa bỏ nạnnhân khẩu thừa tương đối thì cần phải :

- Xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Bởi vì chính mâu thuẫn củachủ nghĩa tư bản chứ không phải tiến bộ kỹ thuật tạo ra nạn nhân khẩu thừatương đối

- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy tư bản và nhu cầu về laođộng, về nâng cao phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống cho người lao động.Vào những năm 1929 – 1933 xuất hiện cuộc tổng khủng hoảng của chủnghĩa tư bản Đã hình thành một đội quân thất nghiệp khổng lồ thế giới tưbản, làm sụp đổ hoàn toàn lý luận về việc làm đầy đủ của I.B.Say Trước tình

hình đó Keyness cho ra đời “Lý thuyết tổng quát” vào năm 1936 Keyness

phê phán kịch liệt lý luận của I.B.Say, ông cho rằng sự điều chỉnh kinh tế vĩ

mô thông qua việc điều chỉnh giá cả sinh hoạt và tiền lương Ông cho rằnggiá cả và tiền lương không không hòan tòan linh họat và không thể điềuchỉnh trong một thời gian ngắn Bởi vì tiền lương thường được quy định bởichính phủ chứ không phải do thị trường và ngay cả hầu hết các loại hàng hoáthông thường, giá cả cũng khó có thể được điều chỉnh trong một thời gianngắn

Như vậy, theo mô hình của Keyness thì sản lượng thực tế không bao giờ

có thể đạt đến sản lượng tiềm năng khi không có xả ra một sự lạm phát nào

cả và do đó tỷ lệ thất nghiệp bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

Vì vậy theo Keyness thì : nạn thất nghiệp là một căn bệnh của nền sảnxuất hàng hoá do sản phẩm thực tế khi đạt đến đến sản phẩm tiềm năng làmcho tỷ lệ thất nghiệp thực tế bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

và có thể hạn chế thất nghiệp bằng các chính sách vĩ mô như : Giảm lãi xuất,phá giá đồng tiền…

Để khuyến khích xuất khẩu và tăng đầu tư, khuyến khích sử dụng laođộng tăng tiêu dùng : Giảm thuế tăng thu nhập để khuyến khích tiêu dùngcủa chính phủ, tăng nguồn vốn đầu tư của chính phủ, tăng các khoản chi phícông cộng và chi phí quốc phòng

Vấn đề lao động và việc làm ngày càng không còn là vấn đề giới hạncủa mỗi quốc gia, dân tộc, mà nó đã trở thành vấn đề có tình toàn cầu Chính

vì thế thế mà một nước lao động thiếu việc làm, thất nghiệp không chỉ gâyảnh hưởng tiêu cực cho nước mình mà nó còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến

Trang 7

nhiều nước khác Ngày nay vấn đề dân số, lao động việc làm là một trongnhững vấn đề kinh tế –xã hội phức tạp và gay gắt trên phạm vi toàn thế giới.

Vì nó vừa là nền tảng và là chủ thể, vừa là lực lượng sản xuất hàng đầu của

xã hội, vừa là người tiêu dùng của cải vật chất do lao động làm ra Kinhnghiệm của nhiều nước trên thế giới cho hay dân số, lao động và việc làm làmột trong những tiêu chuẩn hàng đầu cơ bản để xây dựng mô hình kinh tế –

xã hội, là nhân tố quan trọng cho sự ổn định chính trị xã hội; bản thân nó vừa

là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề chính trị, văn hoá….Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản trực tiếp của những hiệntượng tiêu cực đang lan tràn trong đời sống kinh tế – xã hội hiện nay Hầuhết các nước trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng là tình trạng thấtnghiệp đang ở mức trầm trọng Những người thất nghiệp đó họ không cónguồn thu nhập bằng lao động của mình nên tự phát tham gia vào quá trình

“phân phối lại” số của cải vật chất của xã hội bằng mọi con đường, dưới mọihình thức, thậm chí có một bộ phận tha hoá nghiêm trọng hơn, họ rơi vào tậnđáy xã hội – đó là số tội phạm, gái mại dâm, trộm, cướp

Cho nên không thể nói đến yếu tố con người là vốn quý của xã hội mộtcách trừu tượng, siêu thực mà con người là vốn quý nhất Xét cả về phươngdiện sản xuất Sự mất cân đối giữa số cung và cầu về lao động tới một giớihạn nào đó là sự nguy hại cho sự phát triển bình thường của một quốc gia,dân tộc

Trên cơ sở một số lý luận cho chúng ta thấy vấn đề giải quyết việc làmcho người lao động gần như là một nhu cầu khách quan ở bất cứ một quốcgia nào Đối với Việt Nam, nước ta trải qua hàng chục năm chiến tranh, bịkhập khiển trong quá trình cải tạo, xây dựng đất nước những năm sau ngàyhoà bình Trong cơ chế thị trường hiện nay có sự phân hoá giàu nghèo, cànglàm cho vấn đề giải quyết việc làm thêm phần bức xúc để từng bước đưa nềnkinh tế Việt Nam tăng trưởng dần Đây cũng là vấn đề xã hội, tác động đếntâm tư tình cảm của nhân dân, của Đảng và Nhà nước, của các cấp, cácngành, các tổ chức quần chúng xã hội, trong mục tiêu chung về xoá đói giảmnghèo mà chính phủ nhiều năm qua đã quan tâm thì vấn đề giải quyết việc

làm cũng sẽ góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã

đặt ra

1.2 Quan điểm của Đảng ta về vấn đề lao động – việc làm.

Trang 8

Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bịpháp luật cấm, là hoạt động cơ bản của con người, nhờ đó bảo đảm sự tồntại, phát triển của chính bản thân mỗi con người và cộng đồng, là điều kiện

để người lao động tự khẳng định mình trong xã hội về các mặt : Vật chất vàtinh thần

Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định cókhả năng lao động Còn nguồn lao động là tổng số số người trong độ tuổiquy định đang tham gia lao động hoặc tích cực tìm việc làm và những ngườingoài độ tuổi nhưng thực tế đang làm việc

Những người chưa có việc nhưng không tích cực tìm việc làm Nhữngngười làm công việc nội trợ thường xuyên trong gia đình và những ngườiđang đi học (học sinh, sinh viên…)thuộc nguồn nhân lực, chưa phải đãthuộc nguồn lao động Việc phân biệt nguồn lao động và nguồn nhân lực liênquan đến việc xác định số người và tỷ lệ thất nghiệp

Huyện Châu Thành có một lực lượng lao động đông đảo, năm 2002 cókhoảng 11.680 lao động chiếm trên 55% dân số, trong đó có việc làm 88.500người, số người thất nghiệp 4.600 người, tỷ lệ 4,11%, bình quân hàng năm

có khoảng 2.500 người bước vào tuổi lao động Nền kinh tế có tốc độ tăngtrưởng đã và đang đi vào thế ổn định Tổng sản phẩm quốc nội GDP tăngbình quân giai đoạn năm 1998 –2000 là 7,3% nhưng số người không có việclàm vẫn chiếm tỷ lệ khá cao so với lực lượng lao động

Mặt khác, việc làm cho người lao động là vấn đề xã hội có ý nghĩa kinh

tế, chính trị là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ của huyện

so với thời gian trước Do đó, giải quyết việc làm là một trong những mụctiêu của phát triển kinh tế –xã hội Vì vậy mọi hoạt động giải quyết việc làmcủa huyện Châu Thành đều phân bổ lao động hợp lý, có kiểm tra, để trên cơ

sở đó đánh giá về mục tiêu của sự tiến bộ xã hội trong từng những năm và cảthời kỳ, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể, thích hợp

Nước ta từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước luônquan tâm đền nguồn nhân lực, giải quyết việc làm Năm 1992 Chính phủ đãban hành và triển khai Nghị quyết 120/HĐBT Đây là Nghị quyết đầu tiên cótính chất bao trùm nhất là việc làm Huyện Châu Thành hàng năm đón nhận

từ chương trình này được trung ương và tỉnh hỗ trợ từ 1 –2 tỷ đồng từ nguồnvốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm để đầu tư cho người lao động không có

Trang 9

việc làm vay, gắn giải quyết việc làm với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xãhội, gắn lao động với đất đai, kết hợp giải quyết việc làm tại chổ là chính.Như vậy, nguồn nhân lực – giải quyết việc làm là vấn đề bức xúc hiệnnay, đòi hỏi các ngành, các cấp phải chủ động tham mưu đề xuất chủ trươngchính sách phù hợp với từng địa bàn, địa phương…Về mặt lý luận cũng nhưthực tiễn cho thấy, việc xây dựng và thực hiện chương trình giải quyết việclàm là cần thiết khách quan và cũng là việc bắt buộc phải làm theo quy địnhcủa Bộ luật lao động.

1.3 Một số khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp.

Lao động : Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, cũng như các

loại hàng hoá khác được mua bán, trao đổi trên thị trường lao động Số lượnglao động phụ thuộc dân số, quy mô và cơ cấu của nguồn lao động phụ thuộcvào số lượng dân số quyết định

Tuỳ theo quốc gia quy định độ tuổi lao động, Ở Việt Nam, theo Bộ luậtlao động quy định độ tuổi lao động :

Nam từ 15 – 60 tuổi

Nữ từ 15 – 55 tuổi

Nguồn lao động : Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trởlên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao độngnhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, hoặcchưa có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (nghĩ việchoặc nghĩ hưu trước tuổi theo quy định)

nghiên c u c c u ngu n lao đ ng ng i ta th n s d ng s đ sau :

Đ ứu cơ cấu nguồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ơ cấu nguồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ấu nguồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ộng người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ười ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ười ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ử dụng sơ đồ sau : ụng sơ đồ sau : ơ cấu nguồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau : ồn lao động người ta thườn sử dụng sơ đồ sau :

TỔNG DÂN SỐNgoài độ tuổi lao động Trong độ tuổi lao động

Không tham gia

lao động

Có tham gia laođộng

Có khả năng laođộng

Không có khảnăng lao độngNguồn lao động

Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động được chia làm 2 bộphận : lực lượng lao động và ngoài lực lượng lao động

Lực lượng lao động : Là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và

những người thất nghiệp Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt

Trang 10

động kinh tế, quy mô lực lượng lao động bằng số lượng dân số hoạt độngkinh tế, lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn nhân lực.

Thị trường lao động : Thị trường lao động là một bộ phận của hệ

thống thị trường Trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là ngườilao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổinày được thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ về lao động như tiền công,tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội….Thông qua 01 hợp đồnglao động bằng văn bản hoặc bằng miệng

Lao động có việc làm : Lao động có việc làm là những công việc được

người lao động thực hiện trong các lĩnh vực, các ngành nghề, các dạng hoạtđộng không bị pháp luật ngăn cấm, việc làm đem lại thu nhập nuôi sống bảnthân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội

Ngày nay, khái niệm về việc làm được mở rộng hơn so với nhìn nhậnthời bao cấp Người lao động được tự do lựa chọn thị trường lao động, chấpnhận việc làm ở bất cứ thành phần kinh tế nào được trả công xứng đáng vớitrí lực, thể lực của mình bỏ ra Đồng thời cũng được quyền khước từ nhữngcông việc không phù hợp

Để làm rõ hơn khái niệm việc làm, có thể phân loại việc làm thànhnhiều dạng :

+ Việc làm chính : Người lao động dành thời gian nhiều nhất so vớicông việc khác

+ Việc làm phụ : Người lao động dành nhiều thời gian nhất sau côngviệc chính

Nếu thời gian chính, phụ như nhau thì căn cứ vào mức thu nhập nhiềuhơn là việc làm chính

Hoặc có thể phân loại việc làm đầy đủ và không đầy đủ

+Nếu trong năm 12 tháng qua có việc làm từ 06 tháng trở lên gọi là việclàm đầy đủ

+ Nếu việc làm dưới 06 gọi là việc làm không đầy đủ

Từ những khái niệm trên giúp cho các ngành chức năng phân biệt đượcgiữa lao động có việc làm và thất nghiệp, thống kê số lượng lao động trongnăm đã giải quyết được việc làm được bao nhiêu so sánh với các năm trước

Trang 11

và cũng đánh giá tốc độ phát triển của nền kinh tế trong năm qua thu hútđược bao nhiêu chổ làm việc mới.

Thất nghiệp : Do ảnh hưởng của tiến độ khoa học kỹ thuật, cơ chế hoạt

động của nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một yếu tố khách quan

Muốn đánh giá mức độ thất nghiệp cần phải định nghĩa thế nào là thấtnghiệp, thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động quy định

Nam từ 15 –60 tuổi

Nữ từ 15 – 55 tuổi

Có khả năng lao động hiện đang không có việc làm và đang mong muốntìm kiếm việc làm gọi là thất nghiệp Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp của cả nước

là 7,4% của huyện Châu Thành là 4,11%

Thất nghiệp tạm thời : Loại thất nghiệp này bao gồm những người

đang đi tìm việc, xuất thân từ thành phần bỏ việc làm cũ đi tìm việc làm mớihoặc từ thành phần mới gia nhập, tái nhập lực lượng lao động

Trong nền kinh tế thị trường năng động như hiện nay, sự tồn tại thườngxuyên một lực lượng thất nghiệp tạm thời là một thực tế khách quan Vìnhiều người muốn có việc làm tốt hơn, nhiều người bước vào độ tuổi laođộng, học sinh vừa tốt nghiệp chuyên môn nghiệp vụ, bộ đội xuất ngũ, xuấtkhẩu lao động trở về nước … tất cả họ không phải lúc nào cũng tìm đượcviệc làm đúng sở thích mà họ mong muốn

Thất nghiệp cơ cấu : Xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về lao

động, do sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, sự thay đổi này có thể xảy ratrong một vùng hay một ngành, một tổng công ty cấp 1 theo Nghị định50/CP của chính phủ

Thất nghiệp chu kỳ : Do tổng cung về hàng hoá và dịch vụ giảm, buộc

các doanh nghiệp phải sản xuất ít hơn sản phẩm thậm chí phải đóng cửadoanh nghiệp Lúc đó, họ sẽ xa thải bớt công nhân dẫn đến thất nghiệp chukỳ

Như vậy, qua các dạng thất nghiệp đã nêu trên điều hiển nhiên là tỷ lệthất nghiệp càng cao thì các giá phải càng đắt, không những cá nhân và giađình họ bị thiệt thòi mà xã hội phải gánh chịu một phần chi phí rất lớn

Qua các khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp có ý nghĩa tolớn trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế phải đi đôi với chính sách xã

Trang 12

hội, đầu tư cho con người về vật chất và tinh thần Dự đoán và kiểm soátđược tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số, tỷ lệ tăng nguồn lao động xã hội trongtương lai.

Trang 13

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN (TỪ NĂM 1998 – 2000)

2.1 Đặc điểm tình hình về vị trí địa lý và kinh tế văn hoá xã hội.

Châu Thành là một huyện vùng hạ thuộc phía Nam của tỉnh Long An,nhưng có lợi thế về vị trí nối tiếp với trung tâm chính trị – văn hoá của tỉnhLong An, gần cửa ngỏ của Tp Hồ Chí Minh Phía Bắc của huyện tiếp giápvới sông Vàm Cỏ Tây và huyện Tân Trụ, phía Đông tiếp giáp với huyện CầnĐước và huyện Gò Công của tỉnh Tiền Giang, phía Nam tiếp giáp với thị xãTân An, phía Tây tiếp giáp với chợ Gạo Tỉnh Tiền Giang Châu Thànhkhông những là căn cứ địa cách mạng của huyện mà còn là căn cứ địa củatỉnh và căn cứ của phân khu III trong những năm kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ, là vùng căn cứ có đường hành lang chiến lượcthuận lợi cho bộ đội hành quân tấn công vào Sài Gòn trong những đợt tấncông vào mùa xuân Mậu thân 1968 và mù xuân năm 1975 Ngày nay huyệnChâu Thành được Nhà nước đầu tư xây dựng tuyến đường nhựa 827A nối từthị xã Tân An đến xã Thanh Vĩnh Đông và đang thi công tuyến đường quốc

lộ 50 huyện Nhà Bè (Tp Hồ Chí Minh) đi qua huyện Cần Đước – huyệnChâu Thành – huyện Chợ Gạo (Tiền Giang), khi tuyến quốc lộ 50 hoànthành sẽ góp phần thuận lợi cho việc phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội anninh quốc phòng ở vùng hạ của Huyện

Huyện Châu Thành có tổng diện tích tự nhiên là 15.055 ha, gồm 12 xã

và 01 thị trấn, dân số tính đến ngày 31/12/2002 là 97.796 người (22.000 hộ),trên 90% dân số sống ở vùng nông thôn và sinh sống bằng nghề trồng trọt,chăn nuôi là chủ yếu Mật độ dân số bình quân 649,59 người/ km2

Kinh tế nông nghiệp của huyện trong 5 năm qua từng bước được pháttriển, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, chọn giống lúa có năng xuất chất lượngcao để sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi nhanh và thích hợpvới từng vùng trong huyện, tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn, sản lượng lúa năm

1991 là 67.979 tấn, năm 1995 là 87.796 tấn tăng 29,15% Diện tích lúa 1 vụlên hai vụ là 1096 ha, diện tích sản xuất lúa 3 vụ trong năm chiếm 54% diệntích canh tác toàn huyện, chăn nuôi tăng 70% so với năm 1990, tôm sú bướcđầu được nuôi thử nghiệm ở vùng hạ; giá trị tổng sản lượng nông nghiệp sảnphẩm nông nghiệp năm 1995 là 125,6 tỷ đồng tăng 21% so với năm 1990; tỷ

Trang 14

trọng chăn nuôi chiếm 29% (Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện ChâuThành lần VI, nhiệm kỳ 1996 –2000).

Theo đánh giá của đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Châu Thành lần VII,nhiệm kỳ 2000 –2005 là : Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm tăng7,01%; trong đó nông nghiệp đạt 6,02%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,xây dựng cơ bản 17,29%; dịch vụ thương mại là 5,59%; sản lượng lươngthực tăng 12%, bình quân đầu người 1.013 Kiên Giang lương thực quy thóc,bình quân GDP trên đầu người đến năm 2000 là 196 USD Tỷ trọng sản xuấtnông nghiệp chiếm 71,6%, công nghiệp và thương mại dịch vụ 28,3%… Từsau đại hội lần VII của Đảng bộ huyện Châu Thành (2000) đến nay, Đảng bộ

có nhiều cố gắn tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích nhân dân sản xuất,

áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất để thâm canhtăng vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển đổi vật nuôi có chất lượng caonên kinh tế huyện Châu Thành phát triển tương đối ổn định

Hệ thống thuỷ lợi, kinh mương nội đồng được phát triển đều khắp các

xã trong huyện, nhất là hệ thống đê bao ngăn mặn đã khép kín, đảm bảo đủnước ngọt phục vụ cho sản xuất lúa 3 vụ và trồng cây ăn trái, hoa màu

Tiểu thủ công nghiệp vẫn tiếp tục duy trì các ngành nghề truyền thốngnhư : Xay xát lương thực, cưa xẻ gỗ, đan lát, may mặt, sữa chữa xe gắn máy+ ghe xuồng với quy mô nhỏ Đưa tỷ lệ lao động tiểu thủ công nghiệp đạt7,9% tạo ra giá trị sản phẩm 32 tỷ đồng chủ yếu là ở thành phần kinh tế tưnhân và hộ gia đình

Hoạt động thương mại dịch vụ tăng nhanh và ngày càng đa dạng hoátrên nhiều lĩnh vực, mỗi xã đều có hình thành chợ nông thôn, các loại dịch

vụ phát triển góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở lĩnhvực này đã thu hút 2,7% lao động, tạo ra giá trị sản phẩm 51,3 tỷ đồng tăng

25 % so với năm 1996

Về xây dựng kết cấu hạ tầng được đầu tư trên cơ sở nguồn thu ngânsách hàng năm, kết hợp với nguồn lực đóng góp của nhân dân, sự đầu tư củacấp trên, việc xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện có bước phát triểnmới Đã có 2/3 số trường học kiên cố, 12/12 xã đều có trạm y tế được nângcấp và xây dựng mới Hệ thống giao thông đã đưa vào sử dụng lộ nhựa 827Adài 20 km, trên 90% các lộ liên xã, liên ấp được trải sỏi đỏ Đáp ứng được95% hộ có sử dụng điện và 94,8% hộ có sử dụng nước sạch Hệ thống thuỷlợi được xây dựng khá hoàn chỉnh, đảm bảo dẫn ngọt, ngăn mặn chống lũ

Trang 15

phục vụ tưới tiêu đạt hiệu quả cao Đã hoàn thành công trình đập sông Cui,

hệ thống đê bao Vàm Cỏ Tây, sông Trà và nạo vét nhiều sông rạch Trong 5năm 1996 –2000 tỷ lệ huy động ngân sách chiếm 5,14% GDP, tổng huyđộng nguồn vốn xây dựng kết cấu hạ tầng đạt 7,5% GDP với 97 tỷ đồng.Đối với sự nghiệp giáo dục : Tiếp tục xã hội hoá giáo dục, đa dạng cácloại hình trường lớp, giữ vững chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và xoá

mù chữ, giáo dục phổ thông có nhiều tiến bộ, giáo dục mầm non từng bướccán công và công lập hoá ở khu Thị trấn Đội ngũ giáo viên thường xuyênđược bồi dưỡng về tư tưởng, chính trị Công tác xây dựng Đảng, đoàn, đội

có chuyển biến tích cực, mỗi xã có từ 1 đến 2 chi bộ trường học, tỷ lệ Đảngviên tăng gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ Nghiệp vụ chuyên môn đã chuẩn hoá85% giáo viên tiểu học và 95% giáo viên trung học cơ sở (Văn kiện đại hộiVII huyện Đảng bộ huyện Châu Thành nhiệm kỳ 2000 –2005)

Nói chung về chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên và ổn định ởmức cao ở các cấp học, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên được tăng cường,

tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm tăng khá, phong trào học tập nâng caotrình độ phát triển sâu rộng cả trong cán bộ công nhân viên chức và các tầnglớp nhân dân, mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên

so với trước

Về y tế có nhiều cố gắng duy trì nề nếp công tác Y tế dự phòng, không

để xảy ra dịch bệnh, đội ngũ Y bác sĩ và trang thiết bị khám chữa bệnh đượctăng cường, nâng cao ý thức chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong cộng đồng

Có 8/12 trạm Y tế xã phục vụ nhân dân, công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em

và thực hiện chiến lược dân số cũng đạt thành quả tốt, đến năm 2000 trẻ emsuy dinh dưỡng giăm 3% chỉ còn 16,6% tỷ lệ phát triển dân số đạt 1,34%.Các chính sách Xã Hội :công tác giải quyết xây dựng nhà tình nghĩa,xoá đối giảm nghèo vượt chủ tiêu nghị quyết với 211 căn nhà tình nghĩađược xây dựng và tỷ lệ nghèo giảm4%, toàn Huyện còn 7,7% hộ nghèo Nhu cầu thông tin văn hoá, vui chơi giải trí của nhân dân được đáp ứngngày càng tốt hơn, hoạt động giáo dục truyền thống cũng được chú trọng,toàn Huyện đã có 8 nhà bia ghi danh liệt Sĩ, 2 bia của hiến thắng, 1 bia cămthù và 1 khu di tích danh nhân văn hoá Nguyễn Thông- đã tạo điều kiện chogiáo dục truyền thống Ngoài ra còn có hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnhngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng yêu cầu của nhân dân Hội diễn, hộithi diễn ra hàng năm sôi nổi, phong trào văn nghệ quần chúng, rèn luyện thân

Trang 16

thể ngày càng khởi sắc được quần chúng cổ vũ và ủng hộ nhiệt tình Hệthống đài truyền thanh được mở rộng đến các cụm dân cư, mạng lưới thôngtin liên lạc đã được 1,8 máy/100 dân.

Đi đôi với việc phát triển kinh tế Xã Hội, công tác an ninh quốc phòngcũng được Đảng bộ quan tâm, tăng cường công tác xây dựng lực lượng vũtrang nhân dân, củng cố và phát triển phong trào quần chúng, hình thành thếtrận chiến tranh nhân dân vững chắc, định hướng phát triển kinh tế luôn gắngchặt với xây dựng quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo ổnđịnh chính trị, an ninh nông thôn và giữ vững trật tự an toàn Xã Hội Chútrọng đến công tác ngăn ngừa tội phạm, ngăn chặn các mầm móng có khảnăng gây mất ổn định chính trị, kiên quyết đấu tranh chống các loại tộiphạm, các loại tệ nạn Xã Hội góp phần làm lành mạnh hoá Xã hội trên toànđịa bàn Huyện

Hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ HuyệnChâu Thành đã giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vựckinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, Y tế, quốc phòng an ninh, củng cố xâydựng hệ thống chính trị vững mạnh Có được những thành tựu như vậy lànhờ có sự đóng góp của đội ngũ cán bộ mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnhđạo chủ chốt ở các cấp, chăm lo cho sự nghiệp cách mạng chung

2.2 Thực trạng giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo cho người lao động ở huyện Châu Thành, Tỉnh Long An ( từ năm 1998 – 2000 ) 2.2.1 Thực trạng:

Châu Thành kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, tỷ lệ hộ nông nghiệpchiếm 72,43%, có trên 80% lực lượng lao động ở nông thôn, công nghiệpphát triển chậm, chất lượng lao động còn ở mức thấp, tỷ lệ lao động qua đàotạo chiếm 12% so với tổng số lao động, tình hình thất nghiệp, thiếu việc làmnhững năm qua ở mức 6% so với lao động trong độ tuổi, hàng năm toànhuyện có số người lao động vào độ tuổi lao động 1.000 người Nhu cầu việclàm ngày càng ở mức trên 2.000 người/năm

Trong thời gian qua huyện cũng đã nổ lực giải quyết việc làm mới mỗinăm được trên 1.000 lao động bằng từ chương trình quỹ quốc gia hỗ trợ việclàm, khuyến khích thu hút các doanh nghiệp mở cơ sở chế biến trên địa bàn

để giải quyết việc làm cho lao động

Ngày đăng: 22/03/2020, 15:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w