MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài 10 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11 5. Phương pháp nghiên cứu 11 6. Cấu trúc luận văn 12 Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 13 1.1. Bản chất của văn học 13 1.1.1. Văn học 13 1.1.2. Đặc trưng của văn học nghệ thuật 14 1.2. Bản chất của điện ảnh 18 1.2.1. Nghệ thuật điện ảnh 18 1.2.2. Đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh 20 1.3. Mối quan hệ văn học – điện ảnh 27 1.3.1. Sự tương đồng, khác biệt giữa văn học và điện ảnh 27 1.3.2. Sự tương tác, hiệu ứng cộng sinh giữa văn học điện ảnh 29 Chương 2. TRUYỆN NGẮN “VỢ CHỒNG A PHỦ” ĐIỆN ẢNH TRONG VĂN HỌC 33 2.1. Tô Hoài và mảng sáng tác về đề tài miền núi 33 2.2. Vợ chồng A Phủ mối giao thoa với điện ảnh 36 2.2.1. Cốt truyện và nghệ thuật dựng truyện trong Vợ chồng A Phủ 37 2.2.2. Nghệ thuật miêu tả tạo hình trong Vợ chồng A Phủ 44 2.2.3. Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Vợ chồng A Phủ 49 Chương 3. PHIM “ VỢ CHỒNG A PHỦ” – VĂN HỌC TRONG ĐIỆN ẢNH 55 3.1. Mai Lộc và điện ảnh cách mạng Việt Nam 55 3.2. Vợ chồng A Phủ sự kết giao nhuần nhuyễn văn học và điện ảnh 57 3.2.1. Kịch bản phim – những tiếp nhận và sáng tạo 57 3.2.2. Âm nhạc, hội họa trong phim Vợ chồng A Phủ 64 3.2.3. Hệ thống nhân vật – tiếp nhận và sáng tạo 73 PHẦN KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1.1. Trong gia đình nghệ thuật, văn học luôn có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là với điện ảnh. Văn học là cái kho vô tận, là nền móng đầu tiên, cung cấp “cái viết” cho điện ảnh. Là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, điện ảnh kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố khác nhau của văn học, điêu khắc, tạo hình, sân khấu, âm nhạc, khiêu vũ. Thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết giao, hòa hợp giữa các ngành nghệ thuật. Chuyển thể một tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh là cả một chặng đường dài và cũng không kém phần phức tạp, đòi hỏi cả hai loại hình nghệ thuật này phải có sự tương tác lẫn nhau một cách hợp lí. 1.2. Vấn đề chuyển thể văn học ảnh không còn là vấn đề xa lạ của nghệ thuật điện ảnh trong nước. Thực tế chứng minh hơn 60 năm qua điện ảnh Việt đã khá thành công trong chuyển thể từ tác phẩm văn học. Tính từ bộ phim chuyển thể thành công được coi là khởi đầu Lục Vân Tiên dựa theo truyện Nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1957) đến nay, nhiều đạo diễn, biên kịch đã thể hiện được sức mạnh kết nối và khả năng tương hỗ giữa hai loại hình nghệ thuật này. Có thể kể đến một số tác phẩm điện ảnh chuyển thể thành công từ văn học như: Chị Tư Hậu (chuyển thể từ truyện Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, 1963), Bến không chồng (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dương Hướng, 2000), Người đàn bà mộng du (chuyển thể từ truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, 2003), Mê thảo thời vang bóng (dựa theo tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân), Long thành cầm giả ca (dựa theo bài thơ chữ Hán cùng tên của Nguyễn Du), Chuyện của Pao (khởi đầu từ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá Đỗ Bích Thúy)... Vợ chồng A Phủ tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài đã được coi là một trong những bộ phim chuyển thể thành công. Bộ phim do xưởng phim Việt Nam sản xuất (Đạo diễn Mai Lộc) và đã được vinh danh trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 năm 1973 với giải Bông sen bạc. Nghiên cứu về Vợ chồng A Phủ từ góc độ tự sự văn học và tự sự điện ảnh cũng là một cách minh định giá trị của tác phẩm từ nguyên gốc đến tác phẩm chuyển thể. Đây cũng là cách thức khẳng định tính giao thoa văn học điện ảnh. 1.3. Chọn một lối đi đúng trong nghiên cứu các loại hình nghệ thuật là vô cùng cần thiết. Nhìn nhận mối quan hệ tương giao giữa văn học và điện ảnh cũng là một cách thức để khám phá tiếng nói riêng – chung giữa chúng. Vợ chồng A Phủ trên hai phương diện truyện và phim – đều có những đặc sắc riêng về mặt giá trị loại thể, đồng thời cũng thể hiện dấu ấn cộng hưởng, tương tác rất rõ nét. Đây là một gợi ý hay cho chúng tôi khi định hướng nghiên cứu về mối giao thoa giữa văn học và điện ảnh. Từ các vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Giao thoa giữa văn học và điện ảnh trong Vợ chồng A Phủ”.
Trang 1NGUYỄN QUANG CHUNG
GIAO THOA GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH
TRONG “VỢ CHỒNG A PHỦ”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thúy Hằng
PHÚ THỌ, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, những kết luận, nhận định là trung thực và chưa được công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Chung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thúy Hằng, người
đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và triển khai đề tài luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy cô giáo trong bộ môn Ngữ Văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn là điểm tựa vững chắc để tôi hoàn thành luận văn này
Phú Thọ, ngày 10 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Chung
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Cấu trúc luận văn 12
Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 13
1.1 Bản chất của văn học 13
1.1.1 Văn học 13
1.1.2 Đặc trưng của văn học nghệ thuật 14
1.2 Bản chất của điện ảnh 18
1.2.1 Nghệ thuật điện ảnh 18
1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh 20
1.3 Mối quan hệ văn học – điện ảnh 27
1.3.1 Sự tương đồng, khác biệt giữa văn học và điện ảnh 27
1.3.2 Sự tương tác, hiệu ứng cộng sinh giữa văn học - điện ảnh 29
Chương 2 TRUYỆN NGẮN “VỢ CHỒNG A PHỦ” - ĐIỆN ẢNH TRONG VĂN HỌC 33
2.1 Tô Hoài và mảng sáng tác về đề tài miền núi 33
2.2 Vợ chồng A Phủ - mối giao thoa với điện ảnh 36
2.2.1 Cốt truyện và nghệ thuật dựng truyện trong Vợ chồng A Phủ 37
2.2.2 Nghệ thuật miêu tả - tạo hình trong Vợ chồng A Phủ 44
2.2.3 Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Vợ chồng A Phủ 49
Chương 3 PHIM “ VỢ CHỒNG A PHỦ” – VĂN HỌC TRONG ĐIỆN ẢNH 55
Trang 53.1 Mai Lộc và điện ảnh cách mạng Việt Nam 55
3.2 Vợ chồng A Phủ - sự kết giao nhuần nhuyễn văn học và điện ảnh 57
3.2.1 Kịch bản phim – những tiếp nhận và sáng tạo 57
3.2.2 Âm nhạc, hội họa trong phim Vợ chồng A Phủ 64
3.2.3 Hệ thống nhân vật – tiếp nhận và sáng tạo 73
PHẦN KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Trong gia đình nghệ thuật, văn học luôn có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là với điện ảnh Văn học là cái kho vô tận, là nền móng đầu tiên, cung cấp “cái viết” cho điện ảnh Là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, điện ảnh kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố khác nhau của văn học, điêu khắc, tạo hình, sân khấu, âm nhạc, khiêu vũ Thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết giao, hòa hợp giữa các ngành nghệ thuật Chuyển thể một tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh là cả một chặng đường dài và cũng không kém phần phức tạp, đòi hỏi cả hai loại hình nghệ thuật này phải có sự tương tác lẫn nhau một cách hợp lí
1.2 Vấn đề chuyển thể văn học - ảnh không còn là vấn đề xa lạ của nghệ thuật điện ảnh trong nước Thực tế chứng minh hơn 60 năm qua điện ảnh Việt đã khá thành công trong chuyển thể từ tác phẩm văn học Tính từ bộ
phim chuyển thể thành công được coi là khởi đầu Lục Vân Tiên dựa theo truyện Nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1957) đến nay, nhiều đạo
diễn, biên kịch đã thể hiện được sức mạnh kết nối và khả năng tương hỗ giữa hai loại hình nghệ thuật này Có thể kể đến một số tác phẩm điện ảnh chuyển
thể thành công từ văn học như: Chị Tư Hậu (chuyển thể từ truyện Một chuyện
chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, 1963), Bến không chồng (chuyển thể từ tiểu
thuyết cùng tên của Dương Hướng, 2000), Người đàn bà mộng du (chuyển thể từ truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, 2003), Mê thảo thời vang bóng (dựa theo tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân), Long thành cầm giả ca (dựa theo bài thơ chữ Hán cùng tên của Nguyễn Du), Chuyện của Pao (khởi đầu từ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá - Đỗ
Bích Thúy)
Vợ chồng A Phủ - tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ truyện ngắn cùng
Trang 7tên của nhà văn Tô Hoài - đã được coi là một trong những bộ phim chuyển thể thành công Bộ phim do xưởng phim Việt Nam sản xuất (Đạo diễn Mai Lộc) và đã được vinh danh trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 năm
1973 với giải Bông sen bạc Nghiên cứu về Vợ chồng A Phủ từ góc độ tự sự
văn học và tự sự điện ảnh cũng là một cách minh định giá trị của tác phẩm từ nguyên gốc đến tác phẩm chuyển thể Đây cũng là cách thức khẳng định tính giao thoa văn học - điện ảnh
1.3 Chọn một lối đi đúng trong nghiên cứu các loại hình nghệ thuật là
vô cùng cần thiết Nhìn nhận mối quan hệ tương giao giữa văn học và điện ảnh cũng là một cách thức để khám phá tiếng nói riêng – chung giữa chúng
Vợ chồng A Phủ trên hai phương diện - truyện và phim – đều có những đặc
sắc riêng về mặt giá trị loại thể, đồng thời cũng thể hiện dấu ấn cộng hưởng, tương tác rất rõ nét Đây là một gợi ý hay cho chúng tôi khi định hướng nghiên cứu về mối giao thoa giữa văn học và điện ảnh
Từ các vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên
cứu đề tài: “Giao thoa giữa văn học và điện ảnh trong Vợ chồng A Phủ”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tô Hoài là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại, là tấm gương tự học, miệt mài cống hiến, say mê lao động nghệ thuật cho đến tận những năm tháng cuối đời Kể từ khi trình làng những tác phẩm đầu tay đến khi từ biệt cõi thế ông đã có hai phần ba thế kỉ gắn bó với văn nghiệp và để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ Tô Hoài được ghi nhận không chỉ bởi tên tuổi xuất hiện trong nhiều thể loại văn học: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, mà còn bởi chất lượng nghệ thuật của mỗi một sáng tác
Thành công nhất ở đề tài viết về miền núi, Tô Hoài được mệnh danh
là nhà văn xuất sắc viết về các dân tộc vùng cao Tây Bắc Những chuyến đi
Trang 8thực tế dài ngày đã giúp nhà văn tích lũy vốn sống, tăng thêm tình cảm sâu nặng với nhân dân Tây Bắc Vì sự gắn bó tình nghĩa, thủy chung này mà các sáng tác về đề tài vùng cao của ông ra đời như một sự trả ơn sâu sắc với người dân nơi đây Nhiều tác phẩm về đề tài này gây được tiếng vang
và tạo vị thế quan trọng trong sáng tác của ông Tiêu biểu là truyện ngắn
Vợ chồng A Phủ trong tập Truyện Tây Bắc Điều đặc biệt từ khi Vợ chồng A Phủ được đạo diễn Mai Lộc chuyển thể thành phim thì lại càng nhận được
nhiều sự thu hút, quan tâm từ phía độc giả
Mai Lộc vốn là một đạo diễn điện ảnh cách mạng và khá thành công
trong mảng đề tài nói trên Vợ chồng A Phủ cũng được coi là một mốc son trong sự nghiệp của ông Với giải Bông sen vàng (1973), Vợ chồng A Phủ
được giới nghiên cứu quan tâm cũng là điều dễ hiểu
2.1 Những nghiên cứu về truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
Trong nguồn mạch sáng tác cho dân tộc vùng cao Vợ chồng A phủ
được đánh giá là một tác phẩm xuất sắc, đặc biệt trong việc thể hiện phong cách của Tô Hoài Chính vì lẽ đó truyện ngắn này luôn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Sau đây là những nghiên cứu tiêu biểu nhất:
Tác giả Vân Thanh đã dành một bài viết khá sâu sắc để khẳng định sự
thành công của Tô Hoài, trước hết là vị trí bước ngoặt của tập Truyện Tây Bắc
(đã từng được giải nhất về tiểu thuyết 1954 -1955 của Hội văn nghệ Việt Nam) trong sự nghiệp sáng tác của ông Tác giả viết: “Cho đến nay phần thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của anh là những tác phẩm viết về
miền núi Truyện Tây Bắc ra đời đánh dấu bước phát triển mới của Tô Hoài
cả về mặt tư tưởng và mặt nghệ thuật Đây là một tập truyện xuất sắc trong văn xuôi kháng chiến ” [14; 121]
Tác giả Huỳnh Lý có một cái nhìn khá toàn diện về Truyện Tây Bắc
Không chỉ đề cập tới chủ đề, nội dung tác phẩm, Huỳnh Lý còn có những
Trang 9đánh giá sắc sảo về nghệ thuật: “Khi miêu tả một cảnh đẹp, một cuộc vui, một không khí gia đình đầm ấm, ông không ngại nói nhiều, ông đưa rất đúng lúc màu sắc, hình ảnh và nhạc điệu vào khiến cho đoạn văn vừa như một khúc nhạc, một bức tranh, một bài thơ”[14; 241]
Trong bài viết Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, tác giả Nguyễn Văn Long
thấy “thành công của truyện trước hết ở nghệ thuật xây dựng nhân vật” và
“tác giả đã nắm bắt, lựa chọn được nhiều chi tiết chân thực, sinh động mà có sức khái quát cao” [14; 256] Bên cạnh đó tác giả khẳng định tài năng của Tô Hoài trong việc khắc họa đời sống tâm lí nhân vật: “tác giả đã diễn tả được những chuyển biến tính tế trong nội tâm nhân vật, nhưng vẫn giữ được tính chất tự nhiên, chân thực của con người miền núi trong các nhân vật của mình, tránh được cái nhìn đơn giản cũng như cách tô vẽ giả tạo khi viết về những con người miền núi”[14; 255]
GS Hà Minh Đức trong lời giới thiệu “Tuyển tập Tô Hoài” (1987)
cũng đưa ra lời kết luận đáng chú ý về sự gắn bó giữa nhà văn và nhân vật:
“Tô Hoài đã miêu tả nhân vật của mình với tình cảm trân trọng, mến yêu, không có khoảng cách giữa tác giả và nhân vật” Ông cũng nhấn mạnh đến sự hòa hợp giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Sự dung dị, ít nói, bút pháp thể hiện nội tâm qua hành động cũng là điều mà Hà Minh Đức nhấn mạnh trong bài viết [14; 140]
Với tham luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của
Tô Hoài về đề tài miền núi (Diễn đàn văn nghệ Việt Nam) Nguyễn Long chỉ rõ:
“Quan niệm nghệ thuật về con người mặc dù trải qua bao nhiêu đau khổ, có lúc tưởng như buông xuôi nhưng khi được giác ngộ, họ đã vươn dậy mạnh mẽ dưới ánh sáng cách mạng Họ xuất hiện với tư cách là người công dân hơn là đối tượng thẩm mỹ” [14; 442]
Như vậy, nghiên cứu về Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài khá dày dặn
Trang 10Đây chính là tiền đề là thành tựu quan trọng mà thế hệ sau được kế thừa
2.2 Nghiên cứu về bộ phim “Vợ chồng A Phủ”
Bộ phim Vợ chồng A Phủ của đạo diễn Mai Lộc ra đời lập tức thu hút
được khá nhiều sự quan tâm của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình Một vài ví dụ:
- “Vợ chồng A Phủ - bộ phim từ tác phẩm để đời của Tô Hoài” (Tiểu
bà đã nhận được giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai năm 1973
Với “Vợ chồng A Phủ từ trang sách đến của Tô Hoài đến màn ảnh
Trang 11rộng”, tác giả Bích Ngọc đã viết về sự thành công của bộ phim: “ cùng với
những bộ phim nổi tiếng như Làng Vũ Đại ngày ấy, Chị Dậu, Rừng xà nu, Số
đỏ , Vợ chồng A Phủ là một trong những bộ phim văn học xuất sắc của điện
ảnh Việt Nam Trong bộ phim chuyển thể từ truyện ngắn, có nhiều chi tiết khác với nguyên tác văn học Tuy vậy, những giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo vẫn được giữ gìn nguyên vẹn [38]
Đa số các bài viết tập trung chỉ ra cái hay, cái còn tồn tại của bộ phim chuyển thể Những khen – chê làm rộn diễn đàn không chỉ một thời này giống như một tất yếu về một hiện tượng đáng được quan tâm Bên cạnh cái thành công được khẳng định, bộ phim cũng nhận được một vài tiếc nuối (khi nói về
sự vênh lệch trong quá trình chuyển thể) Tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh: đó là sự kĩ tính không thể tránh khỏi khi độc giả đã ngấm quá sâu cái thành công của một tác phẩm văn học xuất sắc của một nhà văn có tiếng
2.3 Nghiên cứu về mối giao thoa giữa văn học và điện ảnh trong
tác phẩm Vợ chồng A Phủ
2.3.1 Nghiên cứu về mối giao thoa giữa văn học và điện ảnh
Văn học và điện ảnh với mối nghệ thuật tương giao luôn là một vấn đề cuốn hút giới nghiên cứu và phê bình Nhiều bài viết, công trình đã bàn về
vấn đề này Chẳng hạn như, Lý thuyết cải biên học - từ tác phẩm văn học đến
tác phẩm điện ảnh - trường hợp Kurosawa Akira của tác giả Đào Lê Na Cải biên tác phẩm văn học sang kịch bản điện ảnh của Lê Cẩm Lượng; Tác phẩm chuyển thể nhiều mặt mạnh và yếu của Huyền Thanh; Ngoài ra, Phạm Hồng
Thinh cho biết Cần tránh tùy tiện trong việc chuyển tác phẩm văn học sang
điện ảnh của; Trịnh Đình Khôi khẳng định Tính chuyên nghiệp của điện ảnh;
Hải Ninh Thử bàn về một số phong cách trong điện ảnh Việt Nam
Như vậy, vấn đề chuyển thể đã không còn là mới và hiện nay đã trở nên rất phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới Thực sự khó khăn nếu muốn
Trang 12thống kê chính xác con số những tác phẩm văn học đã được chuyển thể thành phim Duy có một điều chắc chắn, những tác phẩm kinh điển ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc ít nhất một lần từng bén duyên với bộ môn nghệ thuật thứ bảy này
Kim Vân Kiều (chuyển thể từ Truyện Kiều - Nguyễn Du) là bộ phim
chuyển thể đầu tiên của được công chiếu năm 1924 ở Việt Nam Kể từ đó, văn học đã được nhìn nhận là mảnh đất tiềm năng thì vẫn còn khá hiếm Mãi đến những năm đầu thế kỉ XX, vấn đề này được hâm nóng trong một số
công trình Năm 2009, Luận văn Từ tác phẩm văn học đến phim truyện điện
ảnh của Trương Nữ Diệu Linh (Trường Đại học Khoa học và Nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh) đã tìm hiểu khá cặn kẽ về thuật ngữ điện ảnh, sự tương tác giữa tác phẩm văn học và điện ảnh cũng như những kiến thức chung nhất về chuyển thể
Với luận văn Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện
ảnh (từ góc nhìn tự sự), Đỗ Thị Ngọc Diệp cũng đã cung cấp một cái nhìn khá
toàn diện về chuyển thể: “Khi chuyển thể tác phẩm văn học lên màn ảnh, người chuyển thể có thể vay mượn, tiếp thu nhiều yếu tố tự sự từ tác phẩm văn học gốc: đường dây cốt truyện chính; các chi tiết nghệ thuật đặc sắc; hệ thống sự kiện, biến cố; nhân vật và tính cách nhân vật Một tác phẩm văn học có cốt truyện hay, tình tiết hấp dẫn, cấu trúc mới lạ, tính cách nhân vật sắc nét luôn thu hút sự quan tâm của các nhà làm phim [46; 90]
Có thể kể thêm hai chuyên luận nghiên cứu về vấn đề này như: Từ
Chùa Đàn đến Mê Thảo: Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh
(Nguyễn Nam); Về quá trình chuyển thể tiểu thuyết thành phim (qua tác
phẩm Triệu phú ổ chuột) (Phạm Ngọc Hiền) Những nghiên cứu này đều có
những phân tích và so sánh tác phẩm văn học gốc với phim chuyển thể để thấy những mối tương quan giữa chúng
Trang 13Năm 2014, TS Phan Bích Thủy trong cuốn sách Từ tác phẩm văn học
đến tác phẩm điện ảnh đã đi sâu phân tích các yếu tố cơ bản của quá trình
chuyển thể, rút ra lý giải hữu ích, góp phần nâng cao nghệ thuật chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh trong bối cảnh sáng tác phim truyện hiện nay Chuyên luận đồng thời khảo sát được một số trường hợp chuyển thể thành công của điện ảnh Việt Nam từ trước đến nay
Công trình “Lí thuyết cải biên học: Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm
điện ảnh- trường hợp Kurosawa Akira” của Đào Lê Na (Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015) một lần
nữa lại cung cấp cho chúng ta một lượng kiến thức mới mẻ về vấn đề chuyển
thể, cải biên tác phẩm văn học sang điện ảnh
Gần đây, TS Lê Thị Dương (2016) với công trình Chuyển thể văn học
- điển ảnh (nghiên cứu liên văn bản) đã tiếp cận vấn đề chuyển thể từ lí thuyết
liên văn bản Cuốn sách cũng khai thác khá sâu những dạng thức của chuyển thể: chuyển thể trung thành và chuyển thể tự do
Bên cạnh đó, mối quan hệ mật thiết giữa văn học và điện ảnh luôn thu hút quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình Tiêu biểu:
- Minh Trí (2002), “Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh”, Tạp chí
văn hóa nghệ thuật, số 12
- Hương Nguyên (2001), “Từ văn học đến điện ảnh”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2
- Phạm Vũ Dũng (1999), “Từ Văn học đến điện ảnh”, Tạp chí Văn hoá
nghệ thuật, số 6
Tác giả Tiểu Quyên (2012) trong bài viết Văn học - điện ảnh: Hiệu ứng
cộng sinh đã nói về ảnh hưởng của mối quan hệ giữa văn học điện ảnh, đồng
thời chỉ ra áp lực của các nhà làm phim từ công chúng khi chuyển thể một bộ
phim từ tác phẩm văn học Bài viết Chuyển thể văn học thành tác phẩm điện
Trang 14ảnh: Khó để so sánh tác giả Mỹ Trân (2015) thì khái quát tình hình chung của
một số bộ phim chuyển thể gần đây dưới sự đánh giá của người xem và của chính người hoài thai tác phẩm được chuyển thể Song, đa số các ý kiến đồng thuận: phim là sự sáng tạo lại với những đặc trưng riêng của loại hình nghệ
thuật mang tính trực tiếp chứ không phải là bản sao của nguyên tác
Dù nhìn nhận và đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau nhưng các bài viết đều khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa hai loại hình nghệ thuật văn học
Tiểu Nhi, trong bài “Vợ chồng A Phủ” được Tô Hoài chắp cánh đã đưa
ra nhận xét: nhà văn Tô Hoài đã viết về Mỵ, A Phủ với tất cả lòng yêu thương bằng một ngòi bút chan chứa tính nhân văn Có những khác biệt giữa truyện
và phim trong “Vợ chồng A Phủ” nhưng tài năng của nhà văn Tô Hoài thì
không ai có thể phủ nhận [41]
Bài viết Vợ chồng A Phủ - từ trang sách đến màn ảnh của tác giả
Nguyễn Hằng Nga đã nhấn mạnh đến sự thành công của chuyển thể: “Bộ
phim đã mang đến một làn gió mới trong việc cảm nhận câu chuyện “Vợ
chồng A Phủ” đã trở nên quen thuộc với thế hệ độc giả Cả truyện ngắn và
phim đều là những thành công của Tô Hoài khi chính ông là người chắp bút
để chuyển thể kịch bản thành phim”[40]
Phan Bích Hà cho rằng: “Trong bộ phim Vợ chồng A Phủ, các nhân vật
được xây dựng đã có chiều sâu, và cá tính đã đậm nét hơn Bộ phim khá thành
Trang 15công với nghệ thuật biểu hiện mang sắc thái của dân tộc Tuy nhiên, bên cạnh các nhân vật đã có chiều sâu như Mị và người vợ cả được thể hiện khá đậm nét, thì nhân vật trung tâm A Phủ lại vẫn chưa “vượt thoát” được khỏi sự ảnh hưởng của mô hình”[12; 178]
Tác giả Bích Ngọc trong bài viết Vợ chồng A phủ từ trang sách đến
màn ảnh rộng đã viết: “Vợ chồng A phủ là niềm tự hào của văn học điện ảnh
Việt Nam “Cú đúp” thành công trên trang sách và trên màn ảnh của Vợ
chồng A Phủ là nhờ tài năng của nhà văn – nhà biên kịch Tô Hoài” [38]…
Có thể nói, các bài báo, các nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào khẳng định tài năng của Tô Hoài Một số nghiên cứu có “đụng chạm” ít nhiều
đến chuyển thể, nhấn mạnh đến sự lan tỏa cộng hưởng khi Vợ chồng A Phủ
được chuyển thể thành phim Tuy nhiên, nghiên cứu giao thoa giữa văn học và
điện ảnh trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ một cách hệ thống, toàn diện thì chưa
có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này, vì đây là điều thực sự cần thiết
3 Nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài
3.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu sự giao thoa giữa văn học - điện ảnh, trường hợp: Vợ
chồng A Phủ
- Khẳng định giá trị của tác phẩm văn học Vợ chồng A Phủ, đánh giá
về những thành công và hạn chế của bộ phim chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên (đạo diễn Mai Lộc)
Trang 16chồng A Phủ và bộ phim cùng tên Cụ thể là: các yếu tố điện ảnh trong tác
phẩm văn học và các yếu tố văn học trong tác phẩm điện ảnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đạo diễn: Mai Lộc
Nhà sản xuất: Xưởng phim chuyện Hà Nội
Năm sản xuất: 1961
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt vấn đề nghiên cứu người viết đã sử dụng phối kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp liên ngành: Giúp người viết thực hiện tốt nhiệm vụ
nghiên cứu, chỉ ra được bản chất của văn học điện ảnh, từ đó làm rõ mối quan
hệ, tính chất giao thoa được thể hiện trong “Vợ chồng A Phủ”
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Cũng được vận dụng triệt để trong
khai thác các tài liệu liên quan đến nội dung luận văn Từ việc phân tích những nghiên cứu về vấn đề chuyển thể, về cuộc đời nhà văn Tô Hoài, tuyến nhân nhân vật và kết cấu cốt truyện trong văn học và điện ảnh, người viết tổng hợp và đưa ra những ý kiến đánh giá riêng về việc chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh trên các phương diện đó
Trang 17- Phương pháp so sánh, đối chiếu: sử dụng để soi chiếu những thay
đổi của tác phẩm điện ảnh so với nguyên gốc, nhằm tìm ra nguyên nhân, mục đích thay đổi của các nhà làm phim Đồng thời giúp người viết thực hiện tốt nhiệm vụ khác khi triển khai vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu liên văn bản: cho thấy sự chuyển dịch ký
hiệu của các văn bản trong mối tương tác giữa văn học với điện ảnh
- Phương pháp so sánh - loại hình: Dùng phương pháp so sánh - loại
hình để tìm hiểu cái giống và khác nhau giữa hai loại hình nghệ thuật văn học
và điện ảnh
- Thao tác thống kê, phân loại được vận dụng tập hợp ngữ liệu, chỉ ra
các khía cạnh tương ứng và khác biệt trong tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia
làm 3 chương:
Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh
Chương 2: Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” - điện ảnh trong văn học Chương 3: Phim “Vợ chồng A Phủ” - văn học trong điện ảnh
Trang 18Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH
Nghệ thuật là quá trình sáng tạo ra những sản phẩm (vật thể, phi vật thể) chứa đựng giá trị lớn về tư tưởng, thẩm mĩ, văn hóa,… tác động tới người thưởng thức trên nhiều phương diện Nghệ thuật là sản phẩm kì diệu, vĩ đại nhất của trí tuệ và tâm hồn nhân loại Trong các loại hình nghệ thuật, văn học và điện ảnh là hai loại hình được coi là có mối lương duyên kỳ diệu và đáng chú ý nhất Vậy văn học và điện ảnh thực sự là gì? Mối quan hệ, khả năng tương tác giữa chúng? Chúng tôi sẽ dành toàn bộ chương 1 để tìm hiểu những vấn đề này
1.1 Bản chất của văn học
1.1.1 Khái niệm văn học
Theo từ điển Tiếng Việt: văn học “là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người” [31; 1100]
Với tư cách là bộ môn nghệ thuật (lấy con người và các vấn đề đời sống xã hội liên quan đến con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy việc xây dựng hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung và lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng), văn học nhận thức thế giới, xã hội, con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ của nó trên phương diện thẩm mĩ Không phải lúc nào văn học cũng trực tiếp miêu tả con người nhưng dù thế nào chăng nữa con người vẫn luôn là đối tượng trung tâm của văn học Đặc biệt, văn học không phản ánh đời sống con người một cách máy móc, loại hình nghệ thuật này còn phản ánh, ca ngợi, hình tượng hóa mơ ước, khát vọng, tâm tư, tình cảm trong chiều sâu thăm thẳm của thế giới tâm hồn con người Văn học còn có khả năng chiếm lĩnh không gian thời gian, mở rộng biên độ phản ánh đời sống Văn học cũng khiến các ngành nghệ thuật khác ganh tị ở khả năng tái hiện lời nói cũng như
Trang 19tư tưởng của con người
1.1.2 Đặc trưng của văn học nghệ thuật
Làm nên tính đặc trưng riêng biệt của văn học chính là yếu tố ngôn từ Với tất cả phẩm chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của mình, ngôn từ đã tạo ra thành công của loại hình nghệ thuật này
1.1.2.1 Tính phi vật thể của ngôn từ văn học
Với chất liệu là ngôn từ, văn học phát huy thế mạnh với các hình tượng
“phi vật thể”, đưa người đọc thâm nhập vào thế giới của cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng, liên tưởng mà ngôn ngữ thông thường ít khi truyền đạt được Không ai có thể nhìn hình tượng văn học bằng con mắt thật, bên ngoài, nó chỉ bộc lộ qua cái nhìn sâu thẳm bên trong Ngôn ngữ với tác động “ma thuật” của nó đã dẫn dắt người đọc đồng sáng tạo với nhà văn, từ đó, góp phần tạo tiếng nói đa thanh, đa chiều cho tác phẩm
Khác với các loại hình nghệ thuật khác, hình tượng văn học không thể cảm nhận trực tiếp bằng thính giác ( như khi ta nghe một bản nhạc), thị giác (như khi ta xem một bức tranh) Ở đây, văn học cần độc giả tưởng tượng suy ngẫm và chỉ ra cái hình tượng, hàm ý nghệ thuật sâu xa mà nhà văn gửi gắm vào trong tác phẩm Tuy nhiên, ngôn ngữ cùng sự sáng tạo giúp các nhà văn
có thể tạo ra cả những cái hữu hình và cái vô hình để người đọc cảm nhận
bằng mọi giác quan Như trong bài thơ Tương ứng của Baudlaire: “Có những
mùi hương thơm mát như da thịt trẻ con/ êm nhẹ như tiếng sáo xanh mướt như cỏ non ”, chúng ta có thể cảm nhận được sự chuyển đổi của nhiều giác quan, người đọc cảm nhận trong không gian tương ứng từ thị giác đến thính giác thiên nhiên tươi đẹp tràn đầy sức sống Ngôn ngữ của văn học là ngôn ngữ độc đáo có tính chất nội chỉ, biểu hiện cái thế giới được hư cấu trong tâm hồn của người và trong văn bản Ngôn ngữ mở ra hình ảnh ở trong tâm trí, phát huy trí tưởng tượng, trường liên tưởng của mỗi chúng ta
Trang 20Như vậy, tính phi vật thể của hình tượng ngôn từ là một đặc điểm tiêu biểu để phân biệt văn học với các loại hình nghệ thuật khác Đặc tính này giúp cho nhà văn mở rộng được hiện thực da dạng, cùng với sự liên tưởng phong phú của con người
1.1.2.2 Khả năng miêu tả đời sống, tâm lí nhân vật
Ngôn ngữ văn học có vai trò quan trọng trong đời sống con người Ngôn ngữ đã giúp nhà văn khai thác thế giới tinh thần, khám phá những suy
tư phức tạp, những xúc cảm, rung động tế vi nhất của lòng người Cảm xúc, tâm trạng, trạng thái tâm lý bất kỳ nào đó của con người cũng cung cấp cho nhà văn những thông tin, dữ liệu, góp phần tạo nên những kiệt tác, những bức tranh hiện thực một cách cụ thể, sinh động Đây là một lợi thế của văn học
với tư cách là một loại hình nghệ thuật ngôn từ
Tâm lí được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhân vật Tâm lí là cái thể hiện khả năng độc lập về nhân cách của một cá thể người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm Dĩ nhiên, trong giai đoạn văn học chưa phát triển, yếu tố tâm lý không đóng vai trò quan trọng trong sự tả, kể về con người Điều này được minh chứng trong hệ thống nhân vật của các tác phẩm
tự sự dân gian, khi yếu tố tâm lí hầu như không xuất hiện Ngay cả tiểu thuyết thời trung đại, hầu như các nhà văn cũng chưa có ý thức làm rõ trạng thái tinh
thần của nhân vật Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung không miêu tả
tâm trạng của Lưu Bị sau trận hỗn chiến Tương Dương Cảm xúc hỗn độn, suy tính đắn đo của nhân vật chỉ được đọc, đoán, nhận biết thông qua hành động Lưu Bị ném A Đẩu xuống đất Càng về sau, khi văn học đã phát triển thêm một bước mới, mối quan tâm đối với tâm lý nhân vật càng được chú ý Văn học Tây Âu thế kỷ XVIII đã tạo được một bước tiến lớn trong khả năng
phân tích, mổ xẻ tâm lí nhân vật Những tác phẩm như Julie hay là nàng
Héloise mới của J.J Rousseau, Những nỗi đau của chàng Verter của J.V
Trang 21Goethe là những thành tựu nổi bật của một thời Ở Việt Nam, các nhà
nghiên cứu nhận định rằng Truyện Kiều (Nguyễn Du) thực sự thành công
trong nghệ thuật tự sự thể hiện khả năng khám phá thế giới tâm hồn các nhân vật, trước hết là nhân vật Thúy Kiều Các đại diện của chủ nghĩa hiện thực văn học Âu – Mĩ thế kỉ XIX , XX (L Tolstoi, F Dostoievski) còn phát hiện ra
cái gọi là “Phép biện chứng của tâm hồn” (không chỉ miêu tả các trạng thái
tinh thần của con người, hơn thế, phát hiện cả quá trình, cơ chế nảy sinh các trạng thái ấy nữa Do nắm được bí mật của tâm hồn, các nhà văn không khó
để đi sâu vào mỗi cuộc đời, mỗi số phận Nhiều tác giả văn học Việt Nam hiện đại (Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Thi ) đã chứng tỏ được tài năng của mình khi đi vào tận cùng nhữngrung cảm diễn ra trong tâm hồn con người
Có ai đó đã nói: khách thể của văn học là “vương quốc bất tận của tinh thần” Ngôn ngữ là điều kiện tiên quyết giúp văn học khám phá từng chi tiết cấu trúc tạo nên vương quốc tâm hồn và dẫn dắt độc giả cảm nhận nó Suy tư trong lòng nhân vật tưởng như vô hình mà lại hữu hình Bởi ngôn ngữ tạo ra cảm giác về thực tại, hiển hiện với đủ cảm giác: vui sướng, tê dại, đau khổ, hân hoan trên từng đường gân, thớ thịt… Nguyễn Ngọc Tư rất tài trong cách thể hiện nỗi đau, từ hành động gắng an nhiên với những gì đang buốt nhói:
“tôi ngồi quẹt tay lau nước mắt đi, kỹ càng, để gương mặt an nhiên, ráo hoảnh Tôi quyết không để cha thấy mình buồn”[30; 182] đến xúc cảm dửng dưng, cô đơn tột cùng giữa giống người Cái cách Ngọc Tư để cho nhân vật “nghe” được tiếng vịt nhưng lại khó khăn khi dùng tiếng người: “những kí ức chắp vá, đứt đoạn được chúng tôi kể khá chậm, một phần vì đã lâu không dùng cách giao tiếp bằng lời, một phần do vài chi tiết khiến chúng tôi phải dừng câu chuyện lại, vì thấy nhói ở đâu đó”[dẫn theo 30; 205]
1.1.2.3 Khả năng chiếm lĩnh không gian và thời gian
Khác hẳn các loại hình nghệ thuật khác, văn học thuộc loại hình nghệ
Trang 22thuật thời gian - mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nó đều mở dần, lan rộng
và phát triển theo thời gian Nhờ chất liệu ngôn từ, khả năng cảm nhận thời gian trong văn học là vô tận Thời gian có thể kéo dài, rút gọn, dồn nén, đảo lộn… Dòng thời gian trần thuật của văn học vì vậy vô cùng phong phú Văn học có thể đưa con người trở về với thời gian của quá khứ, hay đưa con người
đi cùng chiều với thời gian của hiện tại và tương lai Văn học dường như đã thâu tóm được toàn bộ thời gian của vũ trụ, chiếm lĩnh được mọi lĩnh vực của đời sống hiện thực Không đơn thuần là thời gian vật lí, thời gian trong văn học còn là thời gian tâm lí của nhân vật
Giống như thời gian, không gian trong văn học cũng không hề bị giới hạn Nhà văn hoàn toàn có thể mở rộng không gian miêu tả, có thể chuyển đổi hoặc đồng hiện không gian Vận dụng khả năng ảo diệu của ngôn từ, nhà văn cho độc giả đắm chìm trong nhiều không gian khác nhau Chẳng hạn không
gian ba chiều trong Tràng Giang của Huy Cận: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu” Qua câu thơ ấy con người có thể
biểu hiện trực tiếp tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ một cách sống động mang tính
đặc thù Hoặc trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một không
gian chủ đạo là những cánh đồng quê nắng cháy khô, hoang hoải gió, kênh rạch chằng chịt Cuộc sống của cha con Út Vũ liên tục xê dịch bởi kế sinh nhai cùng đàn vịt, nay cánh đồng này, mai dòng kênh khác, lênh đênh không
biết tới ngày mai
Văn học còn có khả năng tạo ra những giới hạn khác của không gian,
nó tạo ra thế giới nội tâm, suy tư và tình cảm, những mơ ước khát khao của con người, tạo ra không gian lịch sử Nhìn vào không gian trong một tác phẩm văn học, chúng ta có thể nhìn thấy cảnh buổi sáng làng quê, mùi hương cốm thơm dịu, những giọt sương long lanh, Văn học có thể phản ảnh đời sống hiện thực trong một sự trọn vẹn, hoàn bị và đầy đủ của nó
Trang 23Vậy “điện ảnh” là gì ? Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về “đứa con
út” xuất sắc này Cuốn Đại từ điển tiếng Việt cho rằng điện ảnh là “Kỹ thuật
thu vào phim những hình cử động liên tục và chiếu lại trên màn ảnh; Ngành nghệ thuật dùng kỹ thuật để thu phát kịch bản được dàn dựng, đạo diễn công
phu”[32; 634] Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng thì cho rằng đây
là “nghệ thuật phản ánh hiện thực bằng những hình ảnh hoạt động liên tục, thu vào phim (nhựa, video) để chiếu các cử động lên màn ảnh”[10; 905] Cũng có nhiều quan niệm mang tính chủ quan khác Ví như: “điện ảnh là âm nhạc của ánh sáng”, “là nghệ thuật của sự biến đổi”, “là hình ảnh chuyển động”, “là con đẻ của khoa học kỹ thuật”…Tuy nhiên những cách hiểu đó hầu như chưa thể hiện được hết nội hàm của thuật ngữ này Chúng tôi cho rằng, để đưa ra một khái niệm toàn diện tương đối, cần tìm hiểu trước hết từ chính những đặc trưng của nó
Là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, điện ảnh mang tính quần chúng, tính dân tộc, tính quốc tế Điện ảnh cũng thiên về giải trí dù không hề coi nhẹ tính kinh tế, thương mại, đồng thời mang giá trị nhân văn sâu sắc
Điện ảnh là một ngành nghệ thuật tổng hợp tinh hoa của các nghệ thuật khác Khi xem phim, chúng ta được dịp thưởng thức cùng một lúc nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, ca múa, hội họa, kiến trúc…Các ngành nghệ thuật ấy khi đến với điện ảnh đã từ bỏ tính độc diễn của chúng để hòa tan trong những hình ảnh và âm thanh sinh động, tạo ra chất tổng hợp hoàn
Trang 24toàn mới Điện ảnh kế thừa khá nhiều từ văn học (đề tài, cốt truyện, tư tưởng, thủ pháp nghệ thuật ) Bên cạnh đó, điện ảnh cũng sử dụng nhiều ý tưởng của hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc Chính những tiếp nhận và sáng tạo từ các loại hình nghệ thuật đã tạo nên tính tổng hợp của nghệ thuật điện ảnh Đa chiều trong phản ánh, điện ảnh tạo một mãnh lực đối với công chúng, thấm sâu vào mọi giác quan, thức nhận mỹ cảm của từng cá thể đối với các phương diện của đời sống hiện thực
Giống như một người phụ nữ duyên dáng, thông minh, điện ảnh không kiêu kì đỏng đảnh mà chân tình, dễ gần và để lại nhiều nhung nhớ Lênin đã từng coi nghệ thuật điện ảnh là quan trọng nhất trên khía cạnh dễ gần và hết sức quần chúng
Điện ảnh cũng mang dấu ấn riêng của mỗi cộng đồng do nó bị quy định bởi thị hiếu, văn hóa cộng đồng Tuy nhiên, bên cạnh dấu ấn cộng đồng, dân tộc, điện ảnh cũng chịu ảnh hưởng đồng thời vươn rộng khả năng học hỏi tới các nước trên thế giới Vì vậy, đặc tính quốc tế luôn rõ nét Bên cạnh đó, yếu
tố giải trí của truyền hình được đánh giá không kém gì truyền hình, báo chí, mạng , đúng như một nhà nghiên cứu khẳng định: “điện ảnh cũng nằm trong cấu trúc văn hóa và truyền thông đại chúng”
Nói về thời điểm ra đời của điện ảnh, người ta ghi nhận ngày cuộn phim ghi lại những hình ảnh chuyển động dầu tiên ra đời tại Leeds – Anh năm
1988 Đây là thử nghiệm của một nhà phát minh người Pháp Louis Le Prince Tiếp đó, ngày 28/12/1989 hai anh em kỹ sư nhiếp ảnh gia người Pháp là Louis Lumiere và August Lumiere đã cho ra đời bộ phim đầu tiên của nhân loại, chiếu tại thủ đô Pari Từ đó đến nay, điện ảnh đã phát triển mạnh với những bước tiến khổng lồ Bắt đầu từ những thước phim câm đến nay, điện ảnh đã gặt hái nhiều thành công với những bước bứt phá ngoạn mục…Sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã giúp điện ảnh phát huy thế mạnh
Trang 25Có thể nói, chẳng một góc khuất nào của tâm hồn con người, chẳng một ngõ ngách nào của đời sống mà điện ảnh không chạm tới Đó cũng là lý do mà có người cho rằng vị thần linh bảo hộ cho điện ảnh là khoa học và công nghệ
Điện ảnh cũng có tính kinh tế thương mại cao Vì đặc trưng này mà điện ảnh còn được xếp vào ngành công nghiệp - công nghiệp điện ảnh
Tuy nhiên, một tác phẩm điện ảnh có giá trị thực sự phải chứa đựng một chiều sâu tư tưởng nhân sinh, để lại những ấn tượng, suy tư trong lòng khán giả
Như vậy, theo chúng tôi, có thể quan niệm: điện ảnh là một ngành nghệ thuật tổng hợp, nằm trong cấu trúc văn hóa truyền thống, có tính quần chúng, tính dân tộc, tính quốc tế, tính giải trí, tính kinh tế thương mại và mang giá trị
tư tưởng nhân sinh sâu sắc
1.2.2 Đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh
Đặc trưng tổng hợp của điện ảnh là khá rõ Tuy nhiên, cái cốt lõi, đặc trưng, linh hồn của điện ảnh lại chính là hình ảnh Vì vậy, ở một phương diện
nào đó, ngôn ngữ điện ảnh gần hơn với ngôn ngữ nhiếp ảnh, ngôn ngữ hội họa
Điện ảnh được biết đến là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, cho nên ngôn ngữ của nó cũngmang tính tổng hợp; đó là sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ thị giác, ngôn ngữ thính giác và kỹ thuật dựng phim
Nếu tác phẩm văn chương chỉ là cái viết duy nhất của duy nhất tác giả thì tác phẩm điện ảnh là kết quả của một cộng đồng sáng tạo bao gồm
số đông, và mang tính liên hoàn giữa các công đoạn mà không thể lược bớt
đi bất cứ một công đoạn nào, ở đó văn chương mới là công đọan thứ nhất mang tính khởi đầu Bộ phim khi đã được khởi hành từ tác phẩm văn chương tức là đã bỏ qua cái viết, cái đọc, là hai thao tác quan trọng của nhà văn và người đọc, để đi đến cái diễn của đạo diễn, của diễn viên và cuối cùng nhằm phục vụ cho cái nghe nhìn của người xem, như một thưởng thức
Trang 26đặc trưng đối với loại nghệ thuật đặc thù này
1.2.2.1 Ngôn ngữ thị giác
“Phim, đó là chữ viết của các các hình ảnh thị giác” (GiangCocto) Đúng vậy, tri giác bằng mắt của chúng ta về thế giới là cơ sở của ngôn ngữ điện ảnh Nhưng ngay thị giác của chúng ta chứa đựng sự phân biệt giữa mô hình thế giới mà chúng ta có được bằng những phương tiện của các nghệ thuật tượng hình cố định và bởi những phương tiện của điện ảnh Khi một vật biến thành một hình ảnh thị giác mà được cố định hóa bởi một vật liệu nào đó, hình ảnh này trở thành một ký hiệu thì tri giác của chúng ta đòi hỏi
có sự đối chiếu hình ảnh thị giác với hiện tượng hay vật thể tương ứng với
nó ở ngoài đời
Hình ảnh là chất liệu cơ bản, nguyên liệu đầu tiên của nghệ thuật điện ảnh Khẳng đính sự quan trọng của nó, có một nhà nghiên cứu đã từng nhấn mạnh: ba yếu tố quan trọng nhất của điện ảnh là: hình ảnh, hình ảnh và hình ảnh Mỗi hình ảnh trên màn ảnh là một ký hiệu, nghĩa là nó mang một ý nghĩa, mang một thông tin Tuy nhiên, ý nghĩa đó có thể có tính chất kép Một mặt, những hình ảnh của màn ảnh thể hiện những đối tượng của thế giới thực Giữa những đối tượng và những hình ảnh này của màn ảnh, kiến lập nên một mối quan hệ ngữ nghĩa Những đối tượng trở thành những ý nghĩa của hình ảnh được thể hiện trên màn ảnh Mặt khác, những hình ảnh có thể chất đầy những ý nghĩa phụ, đôi lúc hoàn toàn không ngờ Sự chiếu sáng, sắp xếp các cảnh…có thể đem đến cho đối tượng những ý nghĩa phụ: tượng trưng, ẩn dụ, hoán dụ,…
Một bộ phim được cấu thành từ một loạt ảnh “hoạt động” chụp nối tiếp nhau Những hình ảnh nếu tách rời riêng rẽ khỏi bộ phim thì nhiều khi sẽ trở nên vô nghĩa Truyền đạt sự chuyển động là đặc tính chủ yếu, bản chất của điện ảnh Đập vào giác quan, điện ảnh đòi hỏi khắt khe tính chân thực của hành
Trang 27động Các nhà làm phim thông qua dàn cảnh để diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ, Cảnh có thể chính là những bối cảnh thiên nhiên hoặc cảnh nhân tạo do đạo diễn bài trí, sắp xếp
Ánh sáng có vai trò rất quan trọng trong tạo dựng hình ảnh, góp phần biểu lộ tư tưởng, chủ đề của phim, đồng thời cũng là yếu tố nhấn mạnh cảm xúc, chiều sâu, phong cách của nhân vật Ánh sáng được đặc thù hóa như một phương thức biểu hiện Việc xử lý “sự sáng”, “sự tối” trong điện ảnh luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu nghệ thuật Nhờ sự đa dạng trong xử
lý sáng tối, các nhà làm phim sẽ phát huy khả năng biểu hiện các hiện tượng đời sống
Hai yếu tố kết hợp cùng ánh sáng góp phần tạo ra hình ảnh còn là màu sắc và trang phục Màu sắc thực sự là một phương tiện biểu hiện – ngôn ngữ thị giác của điện ảnh Các tông màu (kể cả đen – trắng) đều được sử dụng nhằm gợi tạo liên tưởng và thông qua đó, vươn tới những biểu tượng Trang phục luôn được đề cao trong tính điển hình và chân thực của nhân vật (so với sân khấu thì phục trang không được cách điệu) Đây là điều để người xem dễ dàng nhận ra các nhân vật Tuy không phải là một thành phần nghệ thuật riêng biệt nhưng phục trang là một bộ phận cấu thành phong cách dàn dựng hình ảnh nhất định của một bộ phim Trang phục thường được xuất hiện trong những bối cảnh khác nhau, nhấn mạnh động tác, tư thế, biểu hiện tính cách của nhân vật Đôi khi, phục trang đóng vai trò thuần túy biểu trưng cho một ý
tưởng nào đó Ví như những bộ phục trang cũ nát trong phim Vợ chồng A Phủ
tự nó đã biểu đạt đời sống khốn khó của dân tộc vùng cao trước cách mạng
Bên cạnh sự quan trọng của ánh sáng, trang phục, màu sắc… diễn xuất của diễn viên còn có vai trò lớn hơn trong tạo dựng hình tượng nhân vật Thành công của vai diễn chính là thành công của một tác phẩm điện ảnh “Dù không
sử dụng cảnh dựng sẵn, nhờ diễn xuất của các diễn viên, điện ảnh vẫn cứ là
Trang 28một nghệ thuật”, “điện ảnh vẫn không thể thực sự phát triển thành một ngành
phong phú và vĩ đại nếu không có sự tham gia cả các diễn viên”[21; 175] Hình
tượng nhân vật trôi qua hoặc đọng lại trong lòng khán giả phụ thuộc rất nhiều vào diễn xuất của diễn viên, họ chính là linh hồn của điện ảnh Trong điện ảnh, tính cách của nhân vật được thể hiện thông qua diễn xuất (từ ánh mắt tới nét mặt, cử chỉ, lời thoại…) Đó chính là các yếu tố tác động trực tiếp tới thị giác
và thính giác của khán giả Diễn viên được coi là linh hồn của bộ phim Vì vậy việc lựa chọn được những diễn viên phù hợp với từng nhân vật là điều vô cùng cần thiết
Khung cảnh, trang phục, ánh sáng, diễn xuất kết hợp tạo nên cấu trúc của hình ảnh điện ảnh Ngoài ra, tạo hình sẽ quyết định chất lượng nghệ thuật của cảnh phim Nghệ thuật tạo hình khiến hình ảnh trên màn ảnh không chỉ là hình thức và vẻ thẩm mỹ bên ngoài mà nó còn biểu đạt nội dung của bản thân hình tượng Công tác tạo hình thể hiện đầu tiên ở nghệ thuật dựng khuôn hình cho hình ảnh Các cỡ cảnh khác nhau (trung cảnh, viễn cảnh, cận cảnh) phụ thuộc vào cự ly của khuôn hình và các góc độ quay (góc quay thẳng, góc quay cao, góc quay thấp) Sự đa dạng trong việc tạo các cỡ cảnh và bố trí khuôn hình thể hiện rõ hơn một hiện thực được chọn lựa, gọt rũa, xây dựng
Như vậy, nhờ có phương tiện biểu hiện mạnh mẽ của mình, dựa trên
cơ sở chọn lựa và sử dụng các yếu tố vật chất như ánh sáng, màu sắc, phục trang, diễn xuất, kết hợp với nghệ thuật bố cục tạo hình, điện ảnh đã xây dựng
và giới thiệu với người xem những thực tế mà nó tìm được Ngôn ngữ thị giác
đã trở thành một thuộc tính đặc trưng của màn ảnh
1.2.2.2 Ngôn ngữ thính giác
Giai đoạn đầu khi xuất hiện, điện ảnh là những thước phim câm không lời Điện ảnh bắt đầu có âm thanh từ năm 1926 khi một hãng phim của Mỹ đã
Trang 29mạo hiểm bất chấp có thể lỗ vốn hoặc phá sản quyết định đưa âm thanh vào phim, đi ngược lại quan điểm tuyệt đối tôn trọng “cái đẹp vĩ đại của sự im lặng” Không ngờ, sự mạo hiểm này được đánh đổi bằng những nhiệt liệt hoan nghênh của công chúng Âm thanh đã hỗ trợ khai thác khả năng vô tận của thị giác, dẫn người xem đi qua hình ảnh, chỉ cho họ những thứ cần xem, gợi cho họ những gì nhân vật nghĩ cũng như những biến động trong tâm hồn nhân vật.Tình trạng “câm” của điện ảnh thực sự không phải là ưu thế mà nó là bất lực của kĩ thuật Bởi vậy, như một lẽ tự nhiên, ngôn ngữ thính giác trở thành đặc trưng không thể thiếu của điện ảnh
Âm thanh điện ảnh gồm lời thoại, âm nhạc và tiếng động (hiệu quả âm thanh) Lời thoại gồm độc thoại và đối thoại, thêm nữa là lời dẫn chuyện (giới thiệu, dẫn dắt, bình luận sự việc) Qua lời thoại thấy rõ được lai lịch, cương
vị, tính cách, ý nghĩ của từng nhân vật mối quan hệ xã hội và nội dung mâu thuẫn giữa họ với nhau Lời thoại còn lý thú ở chỗ mang ý nghĩa bóng gió, tính triết lí sâu sắc thường được gửi gắm trong lời thoại Không chỉ thế cách chơi chữ của thoại cũng tạo cho người xem nhiều hứng thú Lời thoại hướng tới nhận thức của người xem, dẫn dắt họ đi sâu vào tư duy thẩm mĩ, bộc lộ tính cách, ý nghĩa triết lí của hình tượng nghệ thuật
Âm nhạc là thành tố quan trọng của các kí hiệu âm thanh Nó tạo nên những hiệu quả cảm xúc bất ngờ và bổ sung ý tứ cho tác phẩm “Bằng việc sắp xếp lại trật tự và thay đổi motif âm nhạc, nhà làm phim có thể so sánh tinh
tế các cảnh, truy tìm các mẫu hình phát triển và khơi gợi những ý nghĩa ẩn tàng” [4; 513] Sáng tác nhạc phim bao giờ cũng dựa vào yêu cầu của kịch bản Vì vậy, nó chính là sự hỗ trợ cho hình ảnh, nhấn mạnh hoặc lí giải các
biểu tượng xuất hiện trên màn ảnh
Tiếng động (của thiên nhiên hay do con người tạo ra) cũng được xử lí trong phim như một yếu tố ngôn ngữ Đó là âm thanh của cuộc sống được đưa
Trang 30vào phim, tạo dựng hiện thực giúp người xem dễ dàng thâm nhập tác phẩm Bên cạnh đó, tiếng động đôi khi còn được xử lý như một sự ẩn dụ, tượng trưng ước lệ cho ý tưởng Với sự phát triển của kĩ thuật hiện nay, tiếng động ngày càng được thể hiện với sự chính xác tối ưu, phong phú, đa dạng, tạo nên
sự hoàn chỉnh cho tác phẩm điện ảnh
Ngôn ngữ thính giác mang lại cho người đọc sức sống cùng với khả năng hoàn thiện tuyệt vời Các bộ phim đạt được thành công cũng nhờ vào ngôn ngữ thính giác
1.2.2.3 Kỹ thuật dựng phim (montage)
Dựng phim là một công việc phức tạp đòi hỏi tính kĩ thuật cao, là một phương tiện thể hiện, đồng thời cũng là một thành tố cấu thành ngôn ngữ điện ảnh Một bộ phim không phải là sự lắp ghép đơn thuần các hình ảnh Sự sắp xếp hình ảnh, cảnh quay được thực hiện nghiêm ngặt gắn với ý tưởng của đạo diễn giúp câu chuyện được diễn tiến vừa logic, vừa hấp dẫn và cũng không đánh đố người tiếp nhận
Kỹ thuật dựng phim hiểu một cách đơn nhất thì là công việc ráp nối các cảnh theo thứ tự kịch bản Theo bản chất, điện ảnh cũng là một câu chuyện kể tường thuật lại một hiện thực nào đó bằng những kí hiệu và những quy định riêng về sự truyền đạt Bởi vậy, “sự kể” này đòi hỏi người dựng phải rất chi li, thành thạo kĩ thuật cũng như các quy tắc dựng cảnh Với kỹ thuật cao, các khung hình được nối khớp với nhau nhuyễn ngọt và kết dính như những viên gạch với xi măng, vôi và nước Thủ pháp dựng cảnh và sự di động của máy quay đã liên kết những thông điệp bằng hình ảnh, lời thoại, âm nhạc tạo một
“văn bản thị giác” với đa tầng ý nghĩa Hiệu quả của “văn bản” này đến đâu cũng một phần nhờ vào montage Sự phát triển của tình huống đời sống cũng như những diễn biến phức tạp của cốt truyện với những ý nghĩa của riêng nó một phần lớn nhờ vào montage
Trang 31Trong văn học người ta cũng dùng kĩ thuật lắp ghép để tạo cốt truyện kiểu ghép mảnh (cốt truyện những mảnh ghép) Đặc trưng của loại cốt truyện này là sự lắp ghép nhiều mảnh vỡ với nhau, thoạt nhìn thì tưởng là đứt nối logic nhưng thực chất các mảnh vỡ được kết dính từ đề tài, tư tưởng chủ đề, của truyện Kiểu cốt truyện này có nhiều điểm tương đồng với một bộ phim, khi các kĩ thuật viên phải thực hiện thao tác ghép nhiều cảnh quay lại với nhau, chỉnh sửa để cho ra một tác phẩm hoàn chỉnh
Nghệ thuật sắp xếp hình ảnh, âm thanh nhằm tạo dựng nội dung cụ thể trong phim phụ thuộc vào ý đồ cũng như sự sáng tạo của đạo diễn Đó chính
là yếu tố tạo nên sức mạnh, dấu ấn phong cách cũng như nguyên nhân của sự trường tồn một cách khách quan của việc dựng phim Nếu sự sắp xếp các chuỗi hình ảnh đơn thuần chỉ là diễn đạt xuôi chiều câu chuyện theo một trật
tự nào đó, hẳn là bộ phim sẽ thiếu tính sáng tạo, khó khai thác được sức mạnh của liên kết và sự sắp xếp các khuôn hình trong điện ảnh Bằng những lối dựng khác nhau, đạo diễn sẽ khơi dậy những ý nghĩa đặc biệt từ ghép cảnh, hình thành biểu tượng, khái niệm, đánh thức mĩ cảm người tiếp nhận
Dựng phim cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi tư duy của một cộng đồng, một dân tộc Các nền điện ảnh khác nhau luôn có những biểu hiện khác nhau mang sắc thái riêng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Montage cũng được chú ý, không phải bởi mục đích tường thuật lại câu chuyện mà là sự nảy sinh ý thơ, ý văn do nó đem lại Montage cũng tạo ra tiết tấu, đem đến sự sống động cho tác phẩm, biểu hiện mạnh sức truyền thụ của phim.Tốc độ dựng phim cũng được lưu ý bởi nó hàm chứa kịch tính hoặc biểu cảm một tiểu chủ đề nào đó Đây là điều mà các đạo diễn luôn lưu ý với mục đích nhấn mạnh tình tiết, tô đậm tâm trạng nhân vật hay tạo dựng một bầu không gian đặc biệt nào đó
Như vậy, với những đặc trưng riêng, ngôn ngữ thị giác, thính giác, kĩ
Trang 32thuật dựng phim đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên một tác phẩm điện ảnh Đây cũng chính là những đặc trưng riêng biệt khiến nghệ thuật điện ảnh thực sự khác biệt với các anh em trong ngôi nhà nghệ thuật
1.3 Mối quan hệ văn học – điện ảnh
1.3.1 Sự tương đồng, khác biệt giữa văn học và điện ảnh
Văn học và điện ảnh đều là hai loại hình mang tính tổng hợp Với chất liệu ngôn từ, văn học chiếm ưu thế lớn trong khả năng ôm chứa, dung nhập nhiều yếu tố của các loại hình nghệ thuật khác Trong văn có nhạc, có họa, có điện ảnh Bêlinxki từng khẳng định: “Thơ văn chính là toàn bộ nghệ thuật”
Ra đời sau, điện ảnh càng có ưu thế trong vận dụng thành quả của các ngành nghệ thuật khác Trong điện ảnh có ngôn từ, có giai điệu, có hình họa, màu sắc, đường nét, hình khối, có vũ đạo… Tất cả các yếu tố này hòa nhuyễn, đem đến cho người xem một tác phẩm đặc biệt, tác động mạnh vào thị giác, thính giác, xúc cảm, gợi hướng cho những đam mê và hành động
Tuy nhiên, cũng vì chất liệu khác nhau, văn học và điện ảnh đương nhiên có nhiều điểm khác biệt Nếu văn học là loại hình nghệ thuật tổng hợp gián tiếp thì điện ảnh là loại hình nghệ thuật trực tiếp Chất liệu ngôn từ khiến văn học có thế mạnh trong việc xây dựng các hình tượng “phi vật thể” nhờ nghệ thuật miêu tả, so sánh, ẩn dụ…là điều mà điện ảnh khó có thể thực hiện được Văn học “nói” bằng ngôn ngữ hay ngôn từ, theo đúng nghĩa chính xác của từ này Chất liệu của văn chương có thể nghe đọc, nghe kể, hay nhìn vào trang sách, song đó không phải là nghe, nhìn trực tiếp nhưng không có một hình ảnh, âm thanh trực quan nào hiện lên cả, mà chỉ có những kí hiệu, để rồi
từ kí hiệu đó, những hình ảnh, âm thanh mới được liên hệ, tưởng tượng, hiện dần lên trong đầu người đọc, người nghe
Vận dụng khả năng vô tận của ngôn từ, văn học thâm nhập vào bề sâu,
bề xa của thế giới hiện thực, của cửa ngõ tâm hồn con người, vẽ nên cả những
Trang 33ý niệm mơ hồ nhất Thế mạnh này đồng thời cũng là điểm yếu Đơn giản vì văn học xây dựng hình tượng nghệ thuật thông qua trí tưởng tượng của con người Hiệu ứng của hình tượng, sự hoàn thiện của hình tượng còn phụ thuộc vào chính khả năng tưởng tượng, tiếp nhận của độc giả
Xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học là một loại hình tượng gián tiếp chỉ có thể được tái tạo, hình dung qua trí tưởng tượng của người đọc đó là tính chất tinh thần hay tính “ phi vật thể” của hình tượng văn học Đặc điểm “phi vật thể” ấy dẫn đến đặc thù, độc đáo trong phản ánh, sáng tạo và cảm thụ thế giới của nghệ thuật ngôn từ Với chất liệu ngôn ngữ đặc biệt văn học là phương tiện vạn năng để chiếm lĩnh thế giới Tính gián tiếp của hình tượng văn học đã khiến văn học có một sự bao quát toàn diện về hiện thực, về khả năng chiếm lĩnh chiều sâu nội dung Có thể nói trí lực con người có thể chiếm lĩnh thế giới ở mức nào thì hình tượng văn học có thể đạt tới tầm vóc ấy
Ở loại hình nghệ thuật điện ảnh, do sử dụng chất liệu “hữu hình” như màu sắc, hình khối, diễn viên, đạo cụ nên hình tượng mang tính trực quan, có khả năng tác động trực tiếp vào thị giác con người, gây những ấn tượng cảm tính xác thực mạnh mẽ Một bộ phim là cả một thế giới vật thể, bởi vì chất liệu điện ảnh là tất cả những gì máy quay phim có thể thâu lại - cả hình ảnh lẫn âm thanh Nói rõ hơn, ngôn ngữ điện ảnh bao hàm phương pháp xử lý hình ảnh và âm thanh thông qua các thủ pháp điện ảnh Điện ảnh đã dựa trên hai loại ký hiệu cơ bản nhất này của xã hội loài người để tạo ra một sức mạnh ghê gớm, quy mọi sự vật và hiện tượng về dưới dạng hình ảnh hoặc âm thanh Cũng chính từ đặc trưng là “vật thể” ở mức tối đa này, ngôn ngữ điện ảnh trở thành thứ ngôn ngữ thể hiện hình tượng mạnh mẽ nhất, thuận tiện và hấp dẫn người thưởng thức nhất Tiếp nhận “truyện kể” từ điện ảnh thoải mái và đỡ tốn sức hơn tiếp nhận văn chương, bởi với văn chương, người đọc còn phải
Trang 34tưởng tượng, còn với điện ảnh thì tất cả đã bày ra trước mắt
Chính những nét “giống” và “khác” nói trên đã giúp văn chương và điện ảnh có mối quan hệ tương tác, tạo nên giá trị tích cực, kích thích cả hai cùng phát triển
1.3.2 Sự tương tác, hiệu ứng cộng sinh giữa văn học - điện ảnh
Nói văn học là nguồn chất liệu điện ảnh không sai, khi thực tế chứng minh nhiều tác phẩm điện ảnh được khơi nguồn và rất thành công sau khi chuyển thể
Điện ảnh tiếp thu không chỉ các vấn đề thuộc về nội dung tác phẩm văn học, các yếu tố ngôn ngữ như lời thoại, hay cách thức thể hiện thời gian, tạo dựng không gian… cũng được học hỏi triệt để Các lời thoại, tựa đề, lời dẫn
… trong phim đa số được chuyển thể hoặc tiếp nhận từ cốt truyện Trước đây, khi loại hình nghệ thuật điện ảnh ra mắt, các bộ phim thuần túy là sự lắp ghép các hình ảnh thể hiện hành động, rất thiếu yếu tố chuyển động nội tâm (một chuyến tàu về sân ga, một đôi trai gái nắm tay nhau hay những gì tương tự như thế…) Nhưng chẳng lâu sau, điện ảnh đã thể hiện khả năng khai thác dòng suy nghĩ bên trong Những diễn biến tinh tế của tâm hồn nhân vật đã được điện ảnh khai thác khá nhuyễn, đó là minh chứng sự học hỏi của điện ảnh từ văn học Tương tự như vậy với phương thức thể hiện dòng chảy thời gian trong tác phẩm điện ảnh (sự hồi cố quá khứ - những diễn biến hiện tại, suy tưởng đến tương lai) hay hình ảnh không gian với sự chuyển đổi linh hoạt đều là do văn học gợi hướng cho điện ảnh
Với đặc trưng riêng, điện ảnh cũng tác động trở lại khá mạnh mẽ Kỹ thuật lắp ghép (montage) giúp hình thành cách viết mới đối với văn chương Chúng ta đã từng không ngạc nhiên khi từ nửa sau thế kỉ XX, văn học Pháp xuất hiện loại hình “Tiểu thuyết điện ảnh”, đỉnh cao là Marguerite Duras (1914 -1996) - nhà văn, đồng thời cũng là người viết kịch bản điện ảnh nổi
Trang 35tiếng “Người đàn bà lai” là tên gọi dành cho Duras khi nhà văn này sử dụng lối viết vừa mang tính văn chương lại vừa lồng ghép rất nhiều kĩ thuật điện
ảnh Tiểu thuyết “Người tình” in đậm dấu ấn của lối viết kịch bản Ở đó, bà
không dùng cốt truyện, cũng không nặng nghệ thuật trần thuật, ngược lại, bà chú ý đến cái nhìn Các nhà tiểu thuyết mới sau này của Pháp đã tiếp nhận lối viết này như một cách thức thể hiện cá tính của giới trẻ nặng động, khoáng đạt và hấp dẫn
Kĩ thuật “montage” (cắt - dán) của điện ảnh ảnh hưởng khá lớn đến văn chương Chúng ta thấy rõ điều này trong cốt truyện hiện đại Kiểu sử dụng, thiết lập các “mảnh ghép” nhằm xáo trộn biến cố sự kiện (không theo trình tự tuyến tính của thời gian) dù có thể tạo ra khó khăn trong theo dõi cốt truyện nhưng lại tạo ra sự bất ngờ, tránh lối đi cũ mòn, dễ nhàm trong văn học truyền thống Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật cũng là một học hỏi thành công của văn học từ điện ảnh Với các góc nhìn khác nhau, tính chất khách quan, đa chiều của sự vật hiện tượng được phản ánh vượt xa biên độ thông thường, giúp mềm hóa các mô thức truyền thống
Lịch sử điện ảnh trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã ghi nhận tính phổ biến của phim truyện khi được tái sinh từ văn học Dĩ nhiên, chuyển thể là một cuộc thai nghén lâu dài với đầy đủ những khó khăn vất vả
và cũng không thể thiếu sự sáng tạo Bởi lẽ, không phải tác phẩm văn học nào cũng hội tụ đầy đủ các yếu tố để tạo nên hình hài một kiệt tác điện ảnh
Chúng ta đã từng được chứng kiến và chiêm nghiệm thành công của các nhà làm phim trên toàn thế giới khi các sản phẩm điện ảnh sáng giá ra mắt công chúng Người xem một lần nữa được nhìn thấy sự xuất hiện của những tác phẩm văn học kinh điển ở một hình thức nghệ thuật khác Các tiểu thuyết
dài đi cùng năm tháng như Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm,
Những người khốn khổ, Cuốn theo chiều gió, Tây du kí, Thủy hử, Tam quốc
Trang 36diễn nghĩa, Hồng Lâu Mộng…tạo được không ít hiệu ứng từ khán giả Có nhà
nghiên cứu đã tỉ mỉ thống kê và thông báo kết quả đáng kinh ngạc về con số tác phẩm điện ảnh bắt nguồn từ văn học, rằng hơn 100 năm qua, 50% bộ phim ở Pháp được bắt nguồn từ văn học Và cũng gần 60 năm nay, nền điện ảnh Việt Nam có phân nửa số phim được sản xuất trên cơ sở các truyện ngắn, tiểu
thuyết Ví dụ: Lục Vân Tiên (Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu), Chị Dậu (Tắt đèn – Ngô Tất Tố), Chị Tư Hậu (Một chuyện chép ở bệnh viện – Bùi Đức Ái), Hòn Đất (Hòn đất – Anh Đức), Thời xa vắng (Thời xa vắng – Lê Lựu),
Mùa len trâu (Hương rừng Cà Mau – Sơn Nam), Quyên (Quyên – Nguyễn Văn
Thọ), Chuyện của Pao (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá – Đỗ Bích Thúy), Đất
phương Nam (Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi), Ma làng (Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường), Dưới cờ đại nghĩa, Kính vạn hoa, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Tiểu thuyết cùng tên - Nguyễn Nhật Ánh); Nước (Nước như nước mắt – Nguyễn Ngọc Tư), Hương Ga (Phiên bản –
Nguyễn Đình Tú)…
Rõ ràng, các nhà làm phim truyền hình luôn quan tâm đặc biệt đến các tác phẩm văn học xuất sắc có nhiều tiền tố cho sự chuyển thể của điện ảnh Đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng từng chia sẻ: “Dù không phải tác phẩm nào cũng có thể khai thác thành phim ảnh nhưng chúng ta có một nguồn đề tài vô cùng phong phú từ văn học và nên phát triển việc khai thác kịch bản phim từ văn học thành một xu hướng”[29] Đây cũng là một cách thức tận dụng, khai thác nguồn tài nguyên sẵn có Kết hợp với sự sáng tạo, nhà biên kịch thiết kế ngôi nhà nghệ thuật mới cho tác phẩm văn học Sự tinh tế, đồng cảm trong tiếng nói chung giữa nhà văn với các nhà làm phim là điều hết sức cần thiết trong hoạt động sáng tạo này, đảm bảo cho tác phẩm chuyển thể không sai lệch về nội dung, chủ đề, đồng thời khắc phục được điẻm yếu, phát huy thế mạnh chính từ tác phẩm văn học Như vậy, việc sử dụng tài nguyên văn học
Trang 37không đơn thuần chỉ là sao chép Các nhà điện ảnh cần học hỏi, sáng tạo từ chính các thủ pháp, phương tiện biểu hiện của văn học Áp lực dành cho quá trình tái sinh này vì vậy khá đáng kể Làm thế nào để không đánh mất vẻ đẹp của tài nguyên, làm thế nào để nó sáng rộng hơn trong một thể loại mới, tác động mạnh vào nhận thức của người tiếp nhận và góp phần phát triển, quảng
bá lẫn nhau của cả hai thể loại, đó là mục tiêu sống còn của các tác phẩm điện ảnh Sự khắt khe của công chúng, sự thấm sâu tác phẩm nguyên gốc khiến cả công chúng và người phê bình vừa háo hức vừa thận trọng với sự ra đời của phim Chúng ta không phủ nhận hiện tượng tác phẩm văn học nổi tiếng sẽ tạo sức hút cho điện ảnh và ngược lại, tác phẩm văn học được biết đến từ hiệu ứng phim Sự lan tỏa trong công chúng đã chứng minh yếu tố cộng sinh giữa hai ngành nghệ thuật này, dù đó là sản phẩm của hai quá trình sáng tạo khác biệt
*
* *
Ở chương này chúng tôi tập trung vào phân tích các đặc trưng cơ bản của văn học và điện ảnh cũng như mối quan hệ đặc biệt giữa chúng Văn học được coi là loại hình nghệ thuật tiền đề giúp điện ảnh phát triển Sử dụng chất liệu sẵn có, kết hợp tài năng của đạo diễn, tác phẩm điện ảnh có thể “thoát xác”, “bay lên” với những đặc trưng riêng của nó Sự tương tác giữa hai thể loại khiến tác phẩm văn học cũng như tác phẩm điện ảnh có sức lan tỏa mãnh liệt hơn mà minh chứng thiết thực nhất là số lượng sách phát hành cũng như
số lượt người xem sau mỗi lần phim được công chiếu
Trang 38Chương 2
TRUYỆN NGẮN VỢ CHỒNG A PHỦ -
ĐIỆN ẢNH TRONG VĂN HỌC
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ hấp dẫn không chỉ vì đây là tác phẩm đặc
sắc viết về đề tài miền núi gắn với chủ đề tư tưởng về hành trình đến với cách mạng của dân tộc vùng cao Cái độc đáo của tác phẩm còn ở nghệ thuật dựng truyện sắc sảo, ở cách kiến tạo, lắp ráp những bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc, cách thể hiện không gian văn hóa Tây Bắc, cách phân tích, phát triển logic của tâm hồn Đây chính là những thuận lợi lớn giúp tác phẩm điện ảnh
có thể “cất cánh” từ chất liệu ngôn từ Trong chương này chúng tôi đi sâu vào phân tích cái độc đáo này của tác phẩm để làm rõ những tiền tố đích thực, cái
“chất” điện ảnh trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
2.1 Tô Hoài và mảng sáng tác về đề tài miền núi
Thực tế ai cũng biết Tô Hoài không phải là nhà văn sinh ra ở miền núi hay sống lâu ở miền núi như Mạc Phi, Vi Hồng, Ma Văn Kháng… Ông từng
nói “trước cách mạng, rừng núi hoàn toàn xa lạ đối với tôi [14; 49] Một số
sáng tác về miền núi của ông trước cách mạng, trong đó có Đội nữ du kích Ba
Bể được ghi theo chuyện kể của những cán bộ cách mạng, những đồng chí
giải phóng quân Tô Hoài đã từng tri nhận những bước khởi đầu ấy chính là
“duyên nợ”, là “ngọn nước của tình cảm tôi sau này” đối với vùng cao
Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc sống rộng lớn sôi động, mở ra một chặng đường mới cho sáng tác của ngòi bút Tô Hoài Vượt qua ngỡ ngàng choáng ngợp của buổi ban đầu, các nhà văn đã dần đi sâu, gắn bó với cuộc sống mới Phong trào “kháng chiến văn hóa”, những chuyến đi thâm nhập thực tế, “ba cùng” với nhân dân… là điều kiện vô cùng thuận lợi để các nhà văn nắm bắt được tình hình thực tế, hiểu sâu rộng, đúng với cuộc sống
Trang 39mới, con người mới với quan điểm nghệ thuật mới để tạo nên nền văn học mới Ông có điều kiện để thâm nhập vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi, sống cùng đồng bào dân tộc Tày, Dao ở Việt Bắc; Mường, Thái, Mông ở Tây Bắc… Cảm quan hiện thực đời thường khiến Tô Hoài thâm nhận nhanh chóng phong tục tập quán các dân tộc nơi đây Sau các mạng, ông trở
về vùng cao như một người con về với gia đình Ông cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt, như một chàng trai Mông thực thụ Cuộc sống “ba cùng” đã dần thấm trong từng trang sách Tô Hoài Ông tâm sự: “trước kia tôi không biết điều gì về miền núi đâu, nhưng bây giờ tôi dám viết về miền núi Tôi say sưa viết về miền núi Tôi đã để công phu vào việc học tiếng miền núi, và tha thiết yêu người miền núi, yêu tha thiết người miền núi, coi miền núi là quê hương mình vậy” [14; 532] Thế là con mắt quan sát tinh tế đượm tình đời lại có dịp thể hiện trên mảnh đất mới màu mỡ Từ đây mảnh đất máu thịt cho cuộc đời, trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật được nhà văn cảm nhận theo một lăng kính hoàn toàn nhất quán Tô Hoài không chỉ mở lòng mà còn bám riết lấy cuộc sống để tung hoành ngòi bút
Tập truyện Núi Cứu quốc (1948) là tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết
về miền núi Giá trị hiện thực của tập truyện được đề cao (cảnh sống vất vả, thiếu thốn, nhưng giàu nghĩa tình đối với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi) Tuy nhiên, hạn chế của nó không thể tránh khỏi bởi đây là tác phẩm đầu tay, còn nặng về miêu tả, liệt kê các tài liệu bề mặt mà chưa thể hiện được chiều sâu cũng như bản chất của đời sống
Sự ra đời của Truyện Tây Bắc đánh dấu thành công đặc sắc cũng như trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài ở mảng đề tài này Truyện Tây Bắc gồm
ba truyện ngắn: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ Hiện
thực cuộc sống bị áp bức dưới gót giày của thực dân phong kiến chúa đất vùng cao trở thành bản cáo trạng đầy nước mắt xót xa trong ba tác phẩm Đặc
Trang 40biệt, thân phận những người phụ nữ như Mị, như Ảng đã để lại không ít day dứt cho độc giả Họ không chỉ biến thành món tiền trả nợ truyền kiếp (Mị), họ còn là món đồ chơi lăn lóc qua tay quan châu, quan lang, chúa đất (Ảng) Lỗi không phải tại họ quá đẹp, cũng không phải tại họ quá nghèo, lỗi là tại vòng cương tỏa nặng nề của xã hội thực dân phong kiến Chính sách áp bức, hủ tục lạc hậu, khắt khe đã khiến họ không thể ngẩng đầu Bên cạnh giá trị tố cáo hiện thực, Tô Hoài còn mang đến niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của người dân miền núi Tây Bắc Ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của họ, tác giả lí giải về sự thành công của con đường cách mạng, con đường ánh sáng tất yếu giúp người dân vùng cao thoát khỏi cuộc sống địa ngục
Thành công tiếp nối thành công Tô Hoài tiếp tục khẳng định bút lực
dồi dào qua hàng loạt tác phẩm khác, đặc biệt từ sau 1955 (Miền Tây, Tuổi trẻ
Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu, ) Vẫn tiếp tục chủ đề
ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của các dân tộc ở miền núi Tây Bắc trong đời sống cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tô Hoài xây dựng khá nhiều tấm gương anh hùng điển hình nơi Tây Bắc, những chàng trai, cô gái đã
hi sinh vì sự bình yên của núi rừng
Trong số tác phẩm viết về miền núi Tây Bắc sau 1955 của Tô Hoài,
tiểu thuyết Miền Tây được đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất Tác giả đã cho
thấy ánh sáng cách mạng chan hòa khắp nẻo vùng cao dù trong bước đầu xây dựng cuộc sống mới, người dân vẫn gặp nhiều khó khăn do đời sống kinh tế thấp kém, sự phá phách của bọn phản động và nạn mê tín dị đoan vẫn đè nặng lên đời sống tinh thần Đấu tranh với tư tưởng lạc hậu này không phải là dễ Câu chuyện của gia đình bà Giàng Súa được đổi đời nhờ cách mạng, nhiều bà con dân bản (Thào Khay, Thào Mỵ) trở thành cán bộ gương mẫu thực sự thuyết phục nhờ nghệ thuật triển khai cốt truyện, cách khai thác các chi tiết và xây dựng nhân vật điển hình của Tô Hoài Với tiểu thuyết này, ông đã phát