(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY HỒNG KHÔNG HẠT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY HỒNG KHÔNG HẠT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tâm
Thái Nguyên, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của uận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy, cung cấp những kiến thức, tài liệu chuyên ngành bổ ích trong suốt khóa học
Đặc biệt xin gửi lời cám ơn TS Nguyễn Văn Tâm là người trực tiếp
hướng dẫn khoa học tận tình và có những định hướng nghiên cứu cho tôi trước và sau khi hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cám ơn tới các bạn bè đồng nghiệp đặc biệt các bạn học cùng lớp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tuy đã cố gắng xong luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, chỉ bảo thêm của thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để nội dung Luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 7 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Phát triển bền vững 4
1.1.3 Đặc điểm sản xuất cây hồng không hạt 8
1.1.4 Nội dung của phát triển cây hồng không hạt 11
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cây hồng không hạt theo hướng bền vững 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Phát triển sản xuất hồng trên thế giới 19
1.2.2 Phát triển sản xuất hồng ở Việt Nam 21
1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển sản xuất hồng ở một số địa phương 23
1.3.1 Kinh nghiệm về sản xuất hồng ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn 23
Trang 61.3.2 Kinh nghiệm về sản xuất hồng ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang 25
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai 27
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 32
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Bàn liên quan đến sản xuất hồng không hạt 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 36
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 37
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 38
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về phát triển sản xuất 40
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về kết quả, hiệu quả kinh tế 40
2.4.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội 42
2.4.4 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Thực trạng sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 44
3.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 44
3.1.2 Các yếu tố nguồn lực phục vụ sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 45
3.1.3 Tình hình thâm canh sản xuất hồng không hạt 47
3.2 Tình hình phát triển hồng không hạt ở nhóm hộ điều tra 50
Trang 73.2.1 Đặc điểm chung chủ hộ 50
3.2.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt của nhóm hộ điều tra 52
3.2.3 Hiệu quả sản xuất hồng không hạt của nhóm hộ điều tra 54
3.2.4 Những thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình sản xuất tiêu thụ hồng không hạt tại khu vực điều tra 57
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất hồng không hạt 58
3.4 Đóng góp của cây hồng không hạt với phát triển huyện Văn Bàn 60
3.5 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và nguyện vọng của người dân sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.61 3.5.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 61
3.5.2 Nguyện vọng của người dân sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 62
3.6 Giải pháp phát triển sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 63
3.6.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 63
3.6.2 Các giải pháp phát triển sản xuất Hồng không hạt theo hướng bền vững 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
GTSX: Giá trị sản xuất GTNT: Giao thông nông thôn KH&CN: Khoa học và công nghệ NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn UBND: Ủy ban nhân dân
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng phân vô cơ bón cho một cây hồng không hạt từ năm thứ 4
trở đi 10
Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng hồng trên thế giới 19
Bảng 2.1 Tình hình đất đai của huyện Văn Bàn giai đoạn 2016 - 2018 30
Bảng 2.2 Tình hình phát triển nông - lâm - thủy sản 33
của huyện Văn Bàn giai đoạn 2016-2018 33
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn giai đoạn 2016-2018 44
Bảng 3.2 Nguồn lực về đất đai của các hộ trồng hồng không hạt 45
Bảng 3.3 Nguồn lực về vốn của các hộ trồng hồng không hạt 46
Bảng 3.4 Tình hình cơ bản về chủ hộ điều tra 50
Bảng 3.5 Lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra 51
Bảng 3.6 Tình hình tiêu thụ hồng không hạt tại các hộ điều tra 52
Hình 3.2 Kênh tiêu thụ 2 54
Bảng 3.7 Chi phí trồng 1 ha hồng không hạt 55
Bảng 3.8 Xác định chi phí cho một ha hồng không hạt thời kỳ 56
kinh doanh 56
Bảng 3.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hồng không hạt theo hướng bền vững 58
Bảng 3.10 Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn các xã nghiên cứu 60
Bảng 3.11 Phân tích SWOT sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai……….61
Bảng 3.12 Nguyện vọng của người dân về chính sách của Nhà nước 62
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Tên luận văn: Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 8.62.01.10
Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
1 Mục tiêu của đề tài
1.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng phát triển sản xuất cây hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phát triển sản xuất bền vững cây hồng không hạt trên địa bàn huyện trong thời gian tới
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất bền vững cây
hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển sản xuất bền vững cây hồng
không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn những năm tới
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển sản xuất bền vững cây hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Trang 11- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất cây hồng không hạt giai đoạn 2016 - 2018; Phương hướng, giải pháp đến năm 2020
và phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua
Tình hình sản xuất hồng không hạt ở huyện Văn Bàn những năm qua đã đạt được bước tiến đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lượng Đẩy mạnh sản xuất hồng không hạt và nâng cao hiệu quả sản xuất hồng không hạt
ở huyện Văn Bàn là hướng đi đúng đắn để khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của mình nhằm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân Sản xuất hồng không hạt đã giải quyết được nhiều công ăn việc làm, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của hộ nông dân Tăng cơ hội tiếp cận các vấn đề xã hội như: Tiếp cận với khoa học công nghệ, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đầu tư nuôi dạy con cái học tập nâng cao năng lực sản xuất, quản lý đời sống, từng bước thoát khỏi vòng luẩn quẩn “Thu nhập thấp – tích lũy ít – đầu
tư ít – năng suất thấp – thu nhập thấp”
Để phát triển sản xuất hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, tác giả đã đề ra một số giải pháp gồm: Giải pháp quy hoạch; Giải pháp về chính sách; Giải pháp đối với khâu sản xuất; Giải pháp về chế biến sản phẩm; Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồng không hạt là một trong những loại quả có giá trị dinh dưỡng cao trong ngành nông nghiệp, hồng không hạt khi chín có phẩm vị thơm ngon có thể sử dụng để ăn tươi, sấy khô, làm mứt, làm bánh nướng, hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp mỹ phẩm để sản xuất kem dưỡng da Ngoài
ra, quả hồng và các bộ phận khác còn có rất nhiều giá trị dược lý như sử dụng
ăn tươi có tác dụng chữa bệnh táo bón, bệnh trĩ, giảm sốt, giảm căng thẳn, Nhiều nghiên cứu trên quan điểm phát triển nông lâm - môi trường và bảo tồn
đa dạng sinh học cho thấy phát triển sản xuất hồng không hạt đạt được cả ba mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường
Một trong những nội dung quan trọng của tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của tỉnh Lào Cai,
đó là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển các cây công nghiệp có lợi thế và giá trị kinh tế cao, đó cũng là mục tiêu mà huyện Văn Bàn hướng đến trong giai đoạn tới
Văn Bàn là huyện vùng thấp của tỉnh Lào Cai, được thiên nhiên ưu đãi
về thổ nhưỡng và khí hậu, thời tiết khá thích hợp cho việc cây hồng sinh trưởng, phát triển và là huyện có diện tích trồng hồng không hạt lớn thứ 2 trong toàn tỉnh Nhiều năm qua, cây hồng không hạt của huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai được xác định là cây kinh tế mũi nhọn và chiến lược lâu dài Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới huyện Văn Bàn đã coi nhiệm vụ phát triển sản xuất bền vững cây ăn quả hồng không hạt là một trong những nhiệm vụ cơ bản, quan trọng Để thực hiện tốt nhiệm
vụ trên, huyện Văn Bàn đã tuyên truyền vận động nhân dân các dân tộc mở rộng diện tích trồng hồng không hạt, tăng cường các biện pháp chăm sóc cây hồng theo hướng áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Chính vì vậy,
Trang 13mà diện tích hồng không hạt của huyện đang dần khôi phục và tăng lên, tổng diện tích hồng không hạt của toàn huyện là 38 ha
Hiện nay, việc phát triển sản xuất hồng không hạt còn gặp nhiều khó khăn do việc nhân giống, sâu bệnh gây hại và biện pháp phòng trừ, kỹ thuật canh tác, chăm sóc chưa được xem xét và nghiên cứu đầy đủ Phát triển cây hồng vẫn chưa theo quy hoạch; Quy trình sản xuất, thu hái chưa theo tiêu chuẩn, khâu vận chuyển, bảo quản chưa được đầu tư hợp lý dẫn đến hồng bị dập nát, gây khó khăn cho người tiêu thụ Tuy nhiên, các khó khăn nói trên chỉ mang tính chất tạm thời, với mục tiêu tạo vùng hồng hàng hoá có chất lượng cao và có chỉ dẫn địa lý cho loại cây này, Đảng bộ huyện Văn Bàn xác định cây hồng là cây trồng chủ lực trong việc nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, góp phần quan trọng vào thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Để đề xuất được những giải pháp có tính khoa học và thực tiễn về phát triển sản xuất bền vững cây hồng không hạt tại huyện trong những năm tiếp theo, nhằm ổn định đời sống, thu nhập và tiến tới làm giàu cho nhân dân từ
cây hồng không hạt, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp phát triển sản xuất cây hồng không hạt theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng phát triển sản xuất cây hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phát triển sản xuất bền vững cây hồng không hạt trên địa bàn huyện trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất bền vững cây
hồng không hạt
Trang 14- Đánh giá thực trạng sản xuất cây hồng không hạt trên địa bàn huyện
Văn Bàn
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất bền vững cây
hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển sản xuất bền vững cây hồng
không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung phát triển sản xuất bền vững cây hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất cây hồng không hạt giai đoạn 2016 - 2018; Phương hướng, giải pháp đến năm 2020
4 Ý nghĩa của đề tài
- Đề xuất một số giải pháp vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế vừa kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn nghiên cứu nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đưa ra những căn cứ và cơ sở khoa học cũng như những giải pháp cụ thể đáp ứng các yêu cầu bức thiết cho quy hoạch sản xuất hồng không hạt, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên Đồng thời giúp cho huyện Văn Bàn lập kế hoạch phát triển cây hồng không hạt hợp lý; Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để xây dựng chương trình khuyến nông, khuyến lâm nhằm áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân trong vùng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Phát triển bền vững
- Theo tác giả Đỗ Kim Chung (2014): “Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ” Quan điểm này cũng được cho rằng, sự phát triển là quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn Phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực Bất cứ trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như sự tăng lên cả chất và lượng, sự thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức, sự thay đổi về thị trường và giữ công bằng xã hội, an ninh trật tự Phát triển là một quá trình vận động đi lên, là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi
và thay đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện
- Phát triển tiếp cận từ góc độ quản lý kinh tế bao gồm: Phát triển là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người Phát triển kinh tế gắn với phát triển ngành hồng là một khía cạnh của phát triển sản xuất vật chất Như vậy, có thể khái quát những quan điển chủ yếu về phát triển như sau:
+ Phát triển đó là sự gia tăng về số lượng và thay đổi về chất lượng; + Phát triển được hiểu theo nghĩa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu;
+ Phát triển chính là tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu
- Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở
Trang 16thị trường chấp nhận
- Phát triển sản xuất có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Trong đó:
+ Phát triển sản xuất theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách
mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất không đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn Kết quả phát triển sản xuất đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên Phát triển sản xuất theo chiều rộng bao gồm
mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai
+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế Như vậy phát triển sản xuất theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động
- Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất
về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về qui mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hoàn thiện dần từng bước
về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
- Phát triển bền vững lần đầu tiên xuất hiện năm 1980 do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên quốc tế (IUCN) công bố Năm 1984, Bà Gro Harlem Brundtland khi đó làm thủ tướng Na UY đã được đại hội đồng Liên Hợp Quốc ủy nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) này còn gọi là Ủy ban Brundtland Năm 1987, trong bản báo cáo
“Tương lai của chúng ta” do Ủy ban Brundtland đã công bố phát triển bền vững (Sustainable Development): “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm
Trang 17đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” và được thế giới công nhận là khái niệm chính thức
- Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Vì vậy đã được nhiều nước trên thế giới đồng thuận tham gia Tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về môi trường và Phát triển tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), có 179 nước tham gia Hội nghị và đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế lỷ XXI
- Tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh năm 2002, tại hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững toàn cầu họp tại Gio-han-ne-xbuoc (Cộng hòa Nam Phi) đánh giá 10 năm việc thực hiện chương trình nghị sự 21 Các Hội
nghị đều khẳng định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết
hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển Đó là phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường và một trong những nội dung
cơ bản nhất là con người, trung tâm của sự phát triển”
- Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Khái niệm
phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao
trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị -xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”
1.1.2 Phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững
- Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế và xã hội Đỗ Kim Chung (2014) cho rằng: "Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai
Trang 18đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất Nền nông nghiệp phát triển là một ngành sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ), đa dạng hơn về chủng loại và phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp Trước hết, phát triển nông nghiệp là một quá trình, không phải trong trạng thái tĩnh Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chịu
sự tác động của quy luật thị trường, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của Chính phủ, nhận thức và ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp
- Phát triển nông nghiệp khác với tăng trưởng nông nghiệp: Tăng trưởng nông nghiệp chỉ thể hiện rằng ở thời điểm nào đó, nền nông nghiệp có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế
và tập trung nhiều về mặt lượng Tăng trưởng nông nghiệp thường được đo bằng mức tăng thu nhập quốc dân trong nước của nông nghiệp, mức tăng về sản lượng và sản phẩm nông nghiệp, số lượng diện tích, số đầu con vật nuôi Trái lại phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và về chất Phát triển nông nghiệp không những bao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nền nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực; Sự phân bố của cải và tài nguyên giữa các nhóm dân cư trong nội bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế Phát triển nông nghiệp còn bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức, thể chế và môi trường.Tăng trưởng và phát triển nông nghiệp có quan hệ với nhau Tăng trưởng là điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, cần thấy rằng chiến lược phát triển nông nghiệp chưa hợp lý mà có tình trạng ở một số quốc gia có tăng trưởng nông nghiệp nhưng không có phát triển nông nghiệp"
Trang 19- Theo Đỗ Kim Chung (2014): Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về mặt xã hội (FAO, 1992) Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình đảm bảo hài hòa ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai
- Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu hiện tại về nông sản và các dịch vụ liên quan và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm gìn giữ quỹ đất, nước, rừng, khí hậu và tính đa dạng sinh học, ) Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái,
kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
1.1.3 Đặc điểm sản xuất cây hồng không hạt
- Cây hồng không hạt thân thẳng, có lớp vỏ cây trơn láng, vỏ màu xám
và bám chặt vào thân, lõi cây hồng rất rộng, phần lớn có kết cấu đẹp Cây hồng không hạt có bộ rễ đâm sâu và ăn ngang nên hấp thu nhanh mọi nguồn dinh dưỡng và nước để phát triển Từ cây con cao 4 cm sau 9 tháng tuổi cây
Trang 20đã cao khoảng 5 - 6 m và có đường kính thân đạt 15 cm Phân cành thấp cách mặt đất 1,2-1,5m; sinh trưởng khỏe; lá hình 2 lớp rộng; mặt trên có màu xanh trắng có lông màu vàng; Quả hình trụ, trôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt; khi chín vỏ quả màu vàng đỏ, thịt quả màu vàng, ăn giòn, có cát, chín vào tháng 9-10
- Là loài cây có tính thích nghi cao, mọc được từ vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới, có nhiệt độ từ 10 - 400C, nhưng thích hợp nhất ở nhiệt độ trung bình là 270C và có thể giao động từ 17 - 350C, tổng thời gian chiếu sáng trong năm khoảng từ 1.600 - 2.500 giờ
1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế
Được trồng từ lâu năm trên địa bàn, với đặc điểm không hạt, giòn và có
vị thơm, ngon đặc biệt Từ diện tích khoảng 30 ha (năm 1997) tăng lên 38 ha (năm 2017), vùng phát triển hồng mở rộng, những năm đầu cây được trồng chủ yếu ở xã Tân An sau này đã nhân rộng diện tích ra các xã trên địa bàn như: Tân Thượng, Khánh Yên Thượng, Thị trấn Khánh Yên, Hòa Mạc Với mật độ trồng từ 500-800 cây/ha, mỗi cây cho thu hoạch từ 2-3 tạ quả, giá bán trung bình từ 15 - 25 ngàn đồng/1kg, hàng năm các hộ nghèo nhờ hồng đã thoát nghèo, đời sống không ngừng được cải thiện Cây hồng không hạt đã thực sự tích cực góp phần xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Văn Bàn trong những năm qua
1.1.3.3 Kỹ thuật trồng cây hồng không hạt
- Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất trong tháng 1-2 dương lịch (trước và sau lập xuân) Khi cây rụng lá, ngừng sinh trưởng, trong cây chứa
nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi trời ấm mầm sẽ bật nhanh và khoẻ
- Chăm sóc cây hồng ở thời kỳ kiến thiết cơ bản
+ Ở thời kỳ này, cây hồng cần có các hoạt động chăm sóc cơ bản như: tưới nước, đốn tỉa tạo hình, bón phân Trong tuần đầu tiên, các hộ dân cần tưới mỗi ngày cho cây một lần vào sáng sớm hoặc chiều mát, mỗi lần 1 thùng
Trang 21nước/cây Sau đó cách 2-3 ngày tưới 1 lần cho hết tháng Khi cây đã phục hồi
sẽ tưới thưa hơn, tuy nhiên phải luôn tưới nước đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, đồng thời ủ cỏ khô xung quanh gốc để giữ ẩm Đối với việc đốn tỉa cây, năm thứ nhất chỉ chọn để 3 cành khoẻ mọc ra 3 hướng làm khung, cắt các cành khung cấp 1 chỉ để 2-3 cành khung cấp 2 vào vị trí thích hợp Đến hết
năm thứ ba, cây hồng đã có bộ khung tán song song
+ Trong ba năm đầu lượng phân bón cho một cây hồng/1 năm như sau: Đạm ure 0,3-0,5kg; lân 0,4kg; kali 0,5kg Thời gian bón: lần 1 bón vào tháng
1-2, lần 2 bón vào tháng 4-5, lần 3 bón vào tháng 10-11 hàng năm
- Chăm sóc cây thời kỳ cho quả
+ Hàng tháng các hộ dân cần kiểm tra làm sạch cỏ quanh gốc, 3 tháng làm sạch cỏ giữa các hàng cây Dùng cỏ ủ quanh gốc giữ ẩm cho cây Thường xuyên tưới đủ ẩm cho cây Nếu không mưa thì tưới 2 lần/tháng và nếu có mưa
thì không cần tưới
+ Lượng phân bón: bón một lần phân chuồng đã ủ kỹ, lượng từ
30-50kg/cây Về lượng phân bón vô cơ, có thể tham khảo bảng tổng hợp dưới đây
Bảng 1.1 Lượng phân vô cơ bón cho một cây hồng không hạt
từ năm thứ 4 trở đi
(kg)
Super lân (kg)
Kali (kg)
Trang 22- Khâu thu hoạch: Vào độ giữa thu (tháng 7 - tháng 8 âm lịch), quả hồng không hạt bắt đầu già câng, vỏ ngoài bắt đầu ngả màu xanh vàng, người dân bắt đầu hái hồng để thưởng thức và bán ra thị trường Để quả hồng không
bị dập nát, khi hái, người dân dùng móc có đeo theo túi vải nhỏ để khi quả hồng rơi khỏi cuống vẫn giữ được núm và không bị rơi xuống đất Bên cạnh
đó cũng cần lưu ý, quả hồng không hạt sau khi hái xuống vẫn cứng và ăn rất chát phải ngâm trong nước sạch ngập khoảng 15-20cm, ngâm trong 3 ngày 3 đêm (1,5 ngày phải thay nước và không được ngâm bằng nước mưa) Sau khi ngâm vớt hồng ra rửa sạch rồi hong cho ráo nước là có thể ăn được
1.1.4 Nội dung của phát triển cây hồng không hạt
1.1.4.1 Phát triển diện tích, năng suất, sản lượng
Những năm qua, xác định thế mạnh về tiềm năng đất đai, khí hậu, huyện Văn Bàn đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh
tế cao theo hướng sản xuất hàng hoá Trong đó, huyện coi cây hồng không hạt
là một trong những cây trồng mũi nhọn, góp phần xoá đói, giảm nghèo
Để phát triển cây hồng không hạt theo hướng chuyên canh hàng hoá, gia tăng diện tích, năng suất, sản lượng, huyện Văn Bàn đã khai thác tốt mọi nguồn vốn nhằm cải tạo và trồng mới mỗi năm từ 20 - 30ha hồng không hạt Đặc biệt, là tăng cương sự hợp tác gắn bó chặt chẽ giữa: nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý đem lại thu nhập cao, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho người dân địa phương Huyện phấn đấu nâng tổng diện tích trồng hồng không hạt của huyện lên 200 ha vào năm 2020
Theo thống kê của ngành chức năng huyện Văn Bàn, năm 2018, toàn huyện có khoảng gần 96 ha hồng không hạt, được trồng chủ yêú ở xã Tân An, Tân Thượng trên địa bàn huyện, sản lượng quả đạt 205 tấn Tuy nhiên cây hồng không hạt sau một thời gian thu hoạch nhiều năm, đất trồng bị cẵn cỗi, cùng với đó người dân chưa quan tâm chăm sóc nên quả dễ bị rụng, cho năng
Trang 23suất thấp, quả nhỏ Chính vì vậy, để gia tăng sản lượng hồng không hạt, việc thay thế những cây đã già cỗi bằng những cây giống mới là rất quan trọng
1.1.4.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm hồng không hạt
Chất lượng quả hồng không hạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố chăm sóc (thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ cho quả), bảo quản quả hồng sau khi thu hái Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng sản phẩm hồng không hạt, người dân cần nỗ lực trên nhiều mặt, từ khâu chọn giống, tưới nước, tỉa cành, bón phân, thu hái Bên cạnh đó, sau mỗi kỳ thu hoạch cây, việc chăm sóc, bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng quả cho cây hồng không hạt Việc nắm bắt được những kiến thức tiên tiến, những công nghệ và tiến bộ khoa học là điều rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh
tế của cây hồng trồng này
1.1.4.3 Phát triển hồng không hạt bền vững theo tiêu chuẩn VietGap
Hiện nay có nhiều mức độ khác nhau của “Thực hành Nông nghiệp tốt” (GAP), có nhiều quy trình GAP khác nhau Ở mỗi nước, mỗi khu vực lại có những quy định riêng để cho phù hợp với khu vực và quốc gia đó Trên thế giới thì có tiêu chuẩn chung là GlobalGAP, khu vực châu Âu có EuroGAP và châu Á có ASEANGAP Đứng trước những yêu cầu phải đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, ngày 28/01/2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước ta đã ban hành quy định tiêu chuẩn riêng về sản xuất nông sản an toàn của Việt Nam (VietGAP), được xây dựng trên cơ sở thừa kế các tiêu chuẩn GAP đã ra đời trước đó: GlobalGAP, seanGAP và các GAP khác trên thế giới Theo đó, VietGAP được hiểu như sau: VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn
tổ chức cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc dựa trên 4 tiêu chí như:
1 Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất;
Trang 242 An toàn thực phẩm (gồm các biện pháp đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch);
3 Môi trường làm việc (mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân);
4 Truy tìm nguồn gốc sản phẩm (tiêu chuẩn này cho phép xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm)
Với xu hướng phát triển chung của sự phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam, việc phát triển hồng không hạt của huyện Văn Bàn theo tiêu chuẩn VietGap là một hướng đi đúng đắn Để đảm bảo phát triển bền vững, huyện Văn Bàn đang lên kế hoạch và có sự kiểm soát chặt chẽ trong hoạt động sản xuất và mở rộng diện tích hồng tại địa phương Hoạt động sản xuất được chú trọng phát triển theo hướng an toàn, đẩy mạnh khoa học - công nghệ gắn với đảm bảo an toàn lao động, tuân thủ chặt chẽ các quy định về an toàn thực phẩm Không chỉ các vùng hồng VietGAP, 100% diện tích trồng hồng của huyện được định hướng theo quy trình sản xuất sạch, với quy trình chăm sóc (bón phân, phun thuốc) và thu hoạch an toàn, đảm bảo hiệu quả kinh tế, nâng cao an toàn lao động cho người dân
1.1.4.4 Phát triển thị trường tiêu thụ
Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật để thâm canh, tăng năng suất cho cây hồng không hạt, thì việc đẩy mạnh tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm cũng là điều rất quan trọng trong nội dung phát triển hồng không hạt Để giải quyết tốt bài toán về đầu ra ổn định cho cây hồng, cũng như củng cố thương hiệu cho sản phẩm hồng không hạt, đòi hỏi các cấp chính quyền tỉnh Lào Cai cần phải có những chính sách mới, cụ thể và linh hoạt để mở rộng thị trường hơn nữa Hỗ trợ người dân thiết lập các kênh phân phối để các hộ dân không
bị phụ thuộc vào thương lái, dễ dẫn đến sản phẩm bị ép giá
Trang 251.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cây hồng không hạt theo hướng bền vững
- Thời tiết: Thời tiết khí hậu là môi trường sống của các loại cây trồng
Vì vậy, nếu khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng sẽ phát triển tốt Nếu thời tiết không thuận lợi thì cây trồng không phát triển hoặc kém phát triển
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Bao gồm kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như điện, đường, hệ thống thủy lợi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển cây hồng Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật có phát triển sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện thâm canh sản xuất hồng, áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ trong bảo quản, chế biến sản phẩm, tăng cường thông thương buôn bán hàng hoá, khuyến khích đầu tư Đồng thời cho phép tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế
- Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô: Gồm các chủ trương, cơ chế, chính sách của Nhà nước các cấp tác động trực tiếp vào sản xuất hoặc gắn trực tiếp thông qua thị trường Sự can thiệp có chủ định của Nhà nước có thể thông qua các công cụ như: Thuế, lãi suất, trợ giá, điều hóa giá các chính sách đó đều
có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự hình thành và phát triển của các vùng sản xuất cây hồng Chủ trương chính sách là vai trò có tính định hướng
và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nông thôn Hệ thống chính sách nông nghiệp gồm những chính sách như chính sách ruộng đất, chính sách thuế
sử dụng ruộng đất, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khuyến nông, chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp, chính sách xã hội ở nông thôn Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Chính phủ trong việc xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới Những năm qua các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ ngày một hoàn thiện làm thúc đẩy phát triển kinh tế văn hóa xã hội nông nghiệp nông thôn làm an lòng người dân trong xây dựng nông thôn mới
Trang 26- Nhân tố tổ chức thực hiện: Việc tổ chức thiếu tính đồng bộ, thiếu tính phối hợp từ trên xuống là những trở ngại có tính hạn chế xuyên suốt của một chương trình Ngược lại việc xây dựng và phát triển vùng sản xuất tốt sẽ giúp người dân có khả năng tổ chức mọi hoạt động sản xuất của mình chủ động hơn, hiệu quả hơn Một quá trình tổ chức tốt cộng với một phương pháp phù hợp trong phát triển nông thôn là động lực góp phần xây dựng tốt về phát triển vùng sản xuất bền vững
- Nhân tố các nguồn lực cho phát triển sản xuất: Nói đến nguồn lực là nói đến vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ quá trình phát triển sản xuất bền vững cũng chịu nhiều sức ép bởi những nhân tố đó Ngoài những nhân tố nguồn lực về lao động thì vùng nông nghiệp hiện nay đang đứng trước thách thức lớn về vốn, công nghệ mặc dù đã được trang trải nhiều song thiếu hụt là tương đối lớn
- Nhân tố khoa học kỹ thuật: Xây dựng và phát triển sản xuất theo hướng bền vững là một hoạt động tổng hợp của nhiều yếu tố: Tự nhiên – xã hội – kỹ thuật, vì vậy để có thể làm tốt và xây dựng, phát triển vùng sản xuất thì việc người dân cần được trang bị tương đối đầy đủ những hiểu biết có liên quan đến hoạt động tổng hợp này Phát triển vùng sản xuất nguyên liệu trước hết cần chú ý đến việc trang bị cho người dân các kiến thức cơ bản về trồng trọt, trồng cây gì? Trước khi bắt tay vào các hoạt động sản xuất Vì vậy cần có những hiểu biết về đối tượng sản xuất, cần nắm được các công nghệ sản xuất
dự định triển khai Những hiểu biết này có thể học tập ở trường, lớp trong sách vở, tài liệu tham khảo hay những buổi tham quan khảo sát ví như với việc sản xuất và phát triển cây hồng thì người dân cần phải biết được các giống hồng, chọn giống, quá trình chăm sóc, phân bón loại phân nào? Phù hợp và hiệu quả, thời vụ và kỹ thuật trồng, các biện pháp xử lý sâu bệnh, thu hoạch Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có những chương trình mục tiêu quốc gia nhằm xóa đói giảm nghèo cho nông dân, những dự án xây dựng hạ tâng nông thôn để rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các vùng
- Đất đai: Là nhân tố quan trọng nhất, nó quyết định chủ yếu tới năng suất cây trồng, các thông số cần quan tâm tới như diện tích đất, chất lượng đất
Trang 27do độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo quyết định Mặt khác đất đai có đặc điểm cố định về vị trí, giới hạn về diện tích và chất lượng không đồng đều
Do vậy, chất lượng sản phẩm và năng suất của cây hồng ở các địa điểm là khác nhau Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất cần phải liên tục bảo vệ bồi dưỡng đất, tích cực mở rộng diện tích đất bằng cách khai hoang, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu thâm canh sản xuất, coi thâm canh là con đường phát triển chủ yếu
- Lao động: Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định tới sự phát triển của mọi ngành sản xuất trong đó có sản xuất cây hồng Nguồn lao động là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất Trong nông nghiệp, nguồn lực lao động bao gồm những người trong độ tuổi từ 16 đến 60 tuổi đối với nam, từ 16 đến 55 tuổi đối với nữ, những người ngoài độ tuổi trên cũng có thể tham gia vào sản xuất nông nghiệp Về chất lượng của nguồn lực lao động bao gồm thể lực và trí lực Trong sản xuất hồng yêu cầu lao động phải có sức khỏe, cần cù chịu khó, có khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Vốn: Vốn được hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất, lao động, tri thức, khả năng tổ chức, điều kiện tự nhiên vốn trong sản xuất kinh doanh được hiểu là giá trị của các đầu vào Đó
là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành phát triển vùng sản xuất hồng
- Tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp: Khoa học công nghệ
về giống việc nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo các loại giống hồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt là điều kiện cơ bản phát triển vùng sản xuất hồng Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ các chủng loại phân bón
vi sinh, thuốc trừ sâu bệnh và sinh vật đã được chế tạo và ứng dụng một cách hiệu quả Trong thời đại của khoa học công nghệ, việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm ngày càng trở nên quan trọng, không những góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng mà còn góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế
- Giống hồng: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hồng Hồng không hạt là giống Hồng không có hạt nên không thể nhân
Trang 28giống bằng hạt, chỉ có thể nhân giống bằng phương pháp tách rễ hoặc phương pháp ghép cành:
+ Nhân giống bằng phương pháp tách rễ (nhân giống bằng hom): Hom được lấy từ rễ nước của cây Hồng trưởng thành, cây Hồng già vào khoảng tháng 12 âm lịch Kích thước của hom rễ phải có đường kính lớn hơn hoặc bằng 1cm, đào cả bộ rễ lên cắt từng khúc dài 20 - 25 cm rồi đem trồng ra vườn ươm Chú ý khi đào rễ chặt khúc, chuẩn bị sẵn một ít vôi đã tôi để đánh dấu đầu rễ trên và dưới của mỗi hom (khúc) rễ đã cắt ra Kinh nghiệm theo dõi của người dân thấy một cây cho khai thác rễ hai lần, chính vì vậy mà hệ
số nhân giống của loại Hồng này rất thấp
+ Nhân giống bằng phương pháp ghép cành: Nguyên liệu để ghép cành gồm có cây gốc ghép và cành ghép: Cây gốc ghép được nảy mầm từ hạt của cây Hồng hạt và cành ghép được lấy từ cây Hồng không hạt của địa phương
có chất lượng tốt Thời gian ghép cành: Ghép vào vụ Xuân (tháng 3 - 4) hoặc
vụ Thu (tháng 8 - 9) với yêu cầu cành ghép bằng hoặc nhỏ hơn cây gốc ghép, phần vỏ và gỗ của cành ghép phải khít với phần vỏ và gỗ của cây gốc ghép (mục đích để nhựa của cây gốc ghép chuyền được sang cành ghép, và vì vậy nuôi sống được cành ghép, không ghép vào ngày mưa
+ Tiêu chuẩn cây giống hồng:
Đối với cây giống là cây giâm rễ: Cây phải có chiều cao 40 - 50cm, đường kính cây cách mặt đất 10cm là 0,5 - 0,8cm Lá xanh tốt, không bị sâu bệnh
Đối với cây giống là cây ghép: Chiều cao cây tính từ mặt bầu là 50 - 60cm, chiều dài cành ghép từ 30 - 40 cm đường kính cành ghép phải đạt 0,5 - 0,7 cm
- Công nghệ bảo quản: Sản phẩm nông nghiệp nói chung và hồng nói riêng là những cơ thể sống, sau khi thu hoạch chúng sẽ rất dễ bị hao hụt tổn thất Công nghệ bảo quản sau thu hoạch có vai trò đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh hồng
- Công nghệ chế biến sản phẩm: Công nghệ chế biến sản phẩm cho phép đa dạng hoá sản phẩm hồng phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng, cho phép kéo dài thời gian tiêu thụ, cho phép vận chuyển đi xa, nâng
Trang 29cao giá trị sản phẩm Qua đó tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ cho ngành hàng này Các phương pháp chế biến hồng phổ biến hiện nay như chế biến sấy khô
- Thị trường và các chính sách của nhà nước: Thị trường với các quy luật cầu - cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất Thị trường Hồng không hạt ở đây được đề cập đến cả hai yếu tố cầu - cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất Hồng, mất cân bằng một trong hai yếu tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn, sẽ không bền vững Vai trò của Nhà nước: Thể hiện qua các chính sách về đất đai, vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong đó có sản xuất Hồng không hạt Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sản xuất Hồng không hạt, các chính sách thích hợp, đủ mạnh của Nhà nước sẽ gắn kết các yếu tố trong sản xuất với nhau để sản xuất phát triển Bao gồm: Quy hoạch vùng sản xuất chính xác, sẽ phát huy được lợi thế so sánh của vùng; Xây dựng được các quy mô sản xuất phù hợp, tổ chức các đầu vào theo đúng các quá trình tiên tiến; Tăng cường công tác quản lý, thường xuyên quan tâm đổi mới quy trình sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm sẽ tiết kiệm được chi phí, nâng cao được năng xuất cây trồng và có hiệu quả cao
- Tập quán sản xuất: Liên quan tới chủng loại Hồng, giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, giá trị thu hoạch được trên một đơn vị diện tích
- Trình độ, năng lực của các chủ thể trong sản xuất kinh doanh, có tác dụng quyết định trực tiếp việc tổ chức và hiệu quả kinh tế cây Hồng không hạt Năng lực của các chủ thể sản xuất được thể hiện qua: Trình độ tổ chức quản lý và khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; Khả năng ứng xử trước các biến động của thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh; Khả năng vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, về trình độ, năng lực của các chủ thể sẽ có ảnh hưởng tích cực tới sản xuất Hồng không hạt và ngược lại
Trang 30- Giá cả: Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung và người trồng hồng nói riêng, mối quan tâm hàng đầu là giá hồng trên thị trường bởi nếu giá
cả không ổn định sẽ làm ảnh hưởng tới tâm lý người trồng hồng Do đó việc
ổn định giá cả và mở rộng thị trường tiêu thụ hồng là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Phát triển sản xuất hồng trên thế giới
Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng hồng trên thế giới
STT Các nước
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 31Qua bảng ta thấy diện tích, sản lượng hồng trong những năm qua không ngừng tăng lên, năm 2015 diện tích 1.947.102 ha, sản lượng là 9.132.711 tấn đến năm 2017 diện tích tăng lên 2.038.501 ha, sản lượng tăng lên 9.966.743 tấn; trong đó tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc (China) năm 2017 diện tích cho thu hoạch 981.528 ha, sản lượng 4.216.376 tấn;
Tuy nhiên trong tổng số 18 nước trồng hồng có 7 nước diện tích trồng hồng bị giảm dần qua các năm gồm: Republic of Korea, Japan, Brazil, Iran, Israel, New Zealand, Mexico Trong đó, nước Nhật Bản (Japan) diện tích giảm nhiều nhất từ 20.800 ha năm 2015 xuống còn 1980 ha năm 2017 (giảm 18.820 ha); Mexico diện tích bị giảm qua các năm từ 16 ha năm 2015 xuống còn 4 ha năm 2017; Brazil từ 8.588 năm 2015 xuống còn 8.061 ha năm 2017
Theo tài liệu của Voronxov (1982) [10] trên thế giới hiện nay đang trồng phổ biến 3 loại Hồng đó là Hồng dại (Diospyros lotus), Hồng Virginiana và Hồng phương đông (Diospyros Kaki) Trong đó, Hồng phương đông được trồng phổ biến nhất ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên,
Ở Hàn Quốc, quả hồng khô được sử dụng để tăng thêm hương vị truyền thống cho rượu, dùng làm sujeonggwa (một loại nước từ quả hồng với quế, gừng và đường, uống vừa ấm người, ngọt và thơm), giấm hồng còn gọi là gamsikcho rất có lợi cho sức khoẻ Quả hồng còn được ăn nhẹ như một món tráng miệng hay được sử dụng cho các mục đích nấu ăn khác Nơi sản xuất hồng khô nhiều nhất là ở thành phố Sangju, phía bắc tỉnh Gyeongsang, là nơi có đất trồng cây hồng chất lượng tốt Đặc biệt ở đây có nhiều loại thực phẩm chế biến từ lá hồng và trái hồng Chẳng hạn như trà lá hồng, hồng sấy khô, giấm hồng, rượu hồng, mật hoa, nước trái cây, mứt, và Sujeonggwa Quả hồng khô tự nhiên ở đây có lượng đường cao, ăn mềm và hương vị rất ngọt ngào Sangju là nơi sản xuất 70% lượng hồng trong nước Như vậy, không chỉ dừng lại ở việc thu hoạch quả hồng tươi để bán cho người tiêu dùng trực tiếp, mà những nông hộ tại Hàn Quốc còn áp dụng nhiều
Trang 32biện pháp khoa học kĩ thuật để chế biến ra nhiều loại thực phẩm từ cây hồng, góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế cho người dân
Còn ở Nhật Bản có một số loại giống hồng khá đặc biệt, giàu dinh dưỡng và được bán với giá khá đắt Sở dĩ giá của những loại hồng này cao như vậy là do những đặc tính đặc biệt của quả hồng và kỹ thuật chăm sóc an toàn, kĩ thuật thu hái rất tỉ mỉ của người nông dân Đơn cử có thể kể đến một vài loại hồng như: hồng giòn Fuyu, hồng cao cấp siêu ngọt tại tỉnh Gifu, hồng đen Kuroama…
1.2.2 Phát triển sản xuất hồng ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi cho việc trồng trọt các loại quả để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (kể cả các chủng loại thuộc vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới) Phát triển sản xuất và xuất khẩu các loại quả để thay thế cho những cây trồng khác có hiệu quả kinh tế thấp, qua đó mà chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, tạo việc làm thu nhập cao cho nông dân, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá của cả nước là rất cần thiết Hơn nữa, đây lại là một lĩnh vực kinh tế
có ý nghĩa xã hội và nhân văn rất to lớn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận xã hội quan trọng với 70% là nông dân, đời sống còn rất khó khăn, diện tích đất canh tác đang bị thu hẹp Do vậy, việc tập trung sức để phát triển cho được ngành này đi lên lại càng có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội cực
kỳ quan trọng
Ở nước ta cây hồng được trồng nhiều nhất ở phía bắc (từ Hà Tính trở ra); phía nam được trồng ở vùng Đà Lạt trên độ cao 1.000 - 1.500m so với mực nước biển Việt Nam có một số giống Hồng khác nhau được trồng ở một
số vùng như: Hồng Bảo Lâm ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn; Hồng Hạc Trì ở Việt Trì, Phú Thọ; Hồng Thạch Thất, Hà Tây; Hồng Thạch Hà, Hà Tĩnh; Hồng Đà Lạt, Lâm Đồng v.v Các nghiên cứu hiện nay mới chỉ dừng ở Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sâu bệnh hại và sử dụng chất điều hòa sinh
Trang 33trưởng đối với Hồng không hạt Bảo Lâm - tại Lạng Sơn, Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của giống hồng không hạt Gia Thanh, trồng tại
xã Gia Thanh- huyện Phú Ninh - tỉnh Phụ Thọ; Phát triển sản xuất hồng không hạt huyện Cao lộc, tỉnh Lạng Sơn Phát triển cây hồng không hạt tại huyện ba bể tỉnh Bắc Kạn Chưa có một đề tài nào nói đến phát triển bền vững về cây hồng không hạt
Yên Minh là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Giang, trong đó núi đá và rừng là chủ yếu Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 19,67 % diện tích toàn huyện với khoảng 14.000 ha là phù hợp với các loại cây trồng; trong đó đặc biệt thích hợp trồng hồng không hạt Do phù hợp với chất đất và khí hậu nơi đây nên cây hồng đã cho sản phẩm quả với chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao Hiện tại, hồng không hạt không chỉ là cây ăn quả xóa đói giảm nghèo mà còn là cây trồng chủ lực mang lại sự ấm no, giàu có cho đồng bào sinh sống trong vùng Để đạt được những kết quả tích cực như trên, huyện Yên Minh đã làm tốt công tác phát triển sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, với những kinh nghiệm được đúc kết như sau:
Huyện đã thực hiện tốt chủ trương tái cơ cấu cây trồng để thúc đẩy kinh
tế - xã hội với việc xác định hồng không hạt là cây mũi nhọn Nhờ vậy, diện tích trồng hồng từ vài chục ha ban đầu đã tăng lên 1.500 ha tính đến năm
2017 Cùng với đó, huyện cũng đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào các khâu từ trồng, chăm sóc, thu hoạch nên sản lượng quả na toàn huyện đến nay đã đạt khoảng 15.000 tấn/vụ, mang lại nguồn thu gần 300 tỷ đồng mỗi năm
Để nâng cao giá trị chuỗi cung ứng sản phẩm, tạo điều kiện phát triển kinh tế một cách bền vững, từ năm 2014, huyện Yên Minh đã vận động, hỗ trợ nhân dân sản xuất hồng an toàn Đến nay, toàn huyện đã có gần 1.000 ha hồng đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận sản xuất an toàn theo Thông tư 51/TTBNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đặc biệt,
Trang 34huyện Yên Minh đã xây dựng thành công hơn 100 ha hồng theo tiêu chuẩn VietGAP và 5 ha theo tiêu chuẩn GlobalGAP để hướng đến xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia…
Ngoài ra, huyện Yên Minh còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động người dân tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật để chăm sóc cây hồng theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm Đặc biệt là xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; tổ chức điểm kết nối giới thiệu sản phẩm, tiêu thụ hồng tại Hà Nội để giới thiệu rộng rãi cũng như cung cấp sản phẩm quả an toàn đến người tiêu dùng trong cả nước
Cùng với đó, huyện tăng cường phối hợp với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp để đầu tư nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch cũng như tiến tới công nghệ chế biến các sản phẩm từ quả hồng Huyện đã duy trì tổ chức các ngày hội hồng không hạt hằng năm để khích lệ nhân dân sản xuất, đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng trong nước và quốc tế
Bắt đầu từ năm 2017, huyện Yên Minh đã tổ chức Ngày hội hồng Yên Minh vào các ngày từ 11-12 tháng 8 nhằm tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu đặc sản hồng Yên Minh ra thị trường trong và ngoài nước Đây là nơi kết nối
“4 nhà”: nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý; đồng thời thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản phẩm hồng không hạt trên địa bàn huyện
1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển sản xuất hồng ở một số địa phương
1.3.1 Kinh nghiệm về sản xuất hồng ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn
Hồng không hạt ở huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn có đặc điểm: quả tròn đều, thuôn dài, khi chín có màu vàng tươi, chín đồng đều, sau khi ngâm có vị ngon, ngọt dịu, giòn… Để giữ được chất lượng, hương vị đặc trưng của quả Hồng không hạt đặc sản bản địa, trong quá trình sản xuất, thâm canh người trồng Hồng không hạt cần áp dụng đúng quy trình kỹ thuật từ các khâu như:
Trang 35Lựa chọn cây giống đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hồng không hạt bản địa; thời vụ trồng, chăm sóc, bón phân hữu cơ, vô cơ cân đối đúng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây; bấm tỉa tạo tán, phát dọn cỏ dại và phòng trừ sâu bệnh đúng cách…Cây hồng không hạt Bắc Cạn được cấp giấy chứng nhận Đăng ký chỉ dẫn địa lý theo Quyết định được cấp ngày 08/9/2010 do Cục Sở
hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ theo Quyết định số 1721/QĐ-SHTT
Từ năm 2017, nhận thấy nhu cầu của người dân trong việc trồng phát triển cây Hồng không hạt là rất lớn nhưng khó khăn về nguồn cây giống đảm bảo chất lượng; Hợp tác xã Tân Phong- xã Quảng Bạch đã mạnh dạn đầu tư sản xuất cây giống bằng phương pháp ghép mắt, nhân giống từ những cây đầu dòng đã được cơ quan chuyên môn tuyển chọn và công nhận đã phần nào đáp ứng được nguồn giống phục vụ nhân dân trồng hồng tại địa phương
Để trồng cây Hồng không hạt đạt hiệu quả cao, thời vụ thích hợp nhất
là từ tháng 1 đến tháng 2 dương lịch, khi cây con chưa bật lộc xuân Cây giống đạt tiêu chuẩn đem trồng phải có đường kính gốc đạt từ 0,8cm trở lên,
cành ghép bật lộc mọc cao trên 30cm, lá đã chuyển bánh tẻ (không còn mầm
lộc non)…; trước khi trồng cây, hố phải được đào và ủ phân lót khoảng 01
tháng với lượng phân 5-7kg phân chuồng + 0,3 kg phân hỗn hợp NPK/hố,
trộn đều với đất mặt ủ lót sâu cho hoai… Cây sau trồng từ 2- 4 năm, trong
giai đoạn kiến thiết cơ bản được chăm sóc bón phân 2-3 lần/năm nhưng không nên cho cây kết trái nhiều để tập trung dinh dưỡng cho cây phát triển
Từ năm thứ 5 sau trồng bước vào thời kỳ kinh doanh do vậy để đạt năng suất cao, chất lượng quả tốt, cây cần nhiều dinh dưỡng bổ sung theo độ tuổi cây,
và tuân thủ các biện pháp kỹ thuật như sử dụng phân bón: đúng loại, đủ lượng; số lần, thời kỳ và cách bón phân…; thường xuyên theo dõi và chủ động các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh đặc biệt là bệnh Thán thư gây hại lá trong mùa mưa, thời tiết có ẩm độ cao, bệnh làm rụng quả non (tháng 5-7) Sau mỗi kỳ thu hoạch cần tiến hành cắt tỉa, loại bỏ cành sâu, bệnh, cành gẫy
Trang 36dập; làm cỏ, quyét vôi gốc cây và cành to…; Sản phẩm quả Quả Hồng không hạt chín vào khoảng tháng 8, tháng 9 âm lịch, đúng vào dịp Tết Trung thu, được người tiêu dùng ưa chuộng, nên thị trường tiêu thụ rất thuận lợi; các tư thương trong ngoài tỉnh trực tiếp đến thu mua tại vườn của các hộ; giá quả hồng sau ngâm giao động từ 20.000-25.000đồng/kg Năm 2018, trên địa bàn huyện diện tích trồng cây Hồng không hạt có trên 350 ha; trong đó diện tích cho thu hoạch ổn định khoảng 200 ha; sản lượng ước trên 1.200 tấn Huyện đã
và đang tập trung chỉ đạo phát triển cây Hồng không hạt theo hướng sản xuất tập trung, thâm canh nâng cao chất lượng sản phẩm
Xác định cây hồng là cây chủ lực của tỉnh, định hướng phát triển trong giai đoạn tới: các ngành tiếp tục rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện
cụ thể ở từng vùng, đảm bảo phát triển bền vững theo dự án Quy hoạch cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp Huy động các nguồn lực tài chính từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án hỗ trợ trong và ngoài nước, khuyến khích các tổ chức, cá nhân có điều kiện liên doanh với hộ gia đình có đất đai đủ điều kiện phát triển cây hồng Đồng thời, tiếp tục tham mưu cho tỉnh có cơ chế, chính sách hỗ trợ khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Hồng không hạt ở các xã trong vùng quy hoạch
1.3.2 Kinh nghiệm về sản xuất hồng ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Hồng không hạt ở huyện Quản Bá được người dân trên địa bàn trồng từ lâu đời Đây là giống hồng địa phương, được trồng trong khu vực có độ cao hàng nghìn mét so với mặt nước biển nên chất lượng có sự khác biệt Quả hồng ăn ngọt đậm, giòn và nhiều bột mịn; vỏ quả cứng, thịt quả chắc, dễ bảo quản, vận chuyển nên được người tiêu dùng ưa chuộng Với các đặc điểm điển hình như: thịt quả giòn, ngọt, thơm bát, nhiều bột mịn; quả tròn, màu vàng sáng, đường kính quả từ 3,4 - 5,2 cm, trọng lượng quả từ 20 -25 quả/kg, vỏ quả cứng, thịt chắc rất dễ bảo quản và vận chuyển
Trang 37Sự thơm ngon của loại quả này có được cũng là nhờ đặc thù của khu vực địa lý Quản Bạ với các điều kiện phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của loại quả này như: là khu vực địa lý có độ cao trung bình trên 1.000 mét so với mực nước biển, độ dốc dưới 20o, tầng đất dày, ít bị xói mòn; thổ nhưỡng thuộc loại đất Feralit đỏ vàng trên đá biến chất, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, kết cấu tầng đất mặt tơi xốp, độ phì tiềm tàng khá, hàm lượng mùn tổng số tương đối cao, đất thoát nước tốt Tổng lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.200 - 2.100 mm, tổng lượng nhiệt cả năm từ 5.000 - 6.500oC, nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 14 - 18oC Biên độ dao động nhiệt độ ngày đêm từ 8,6 - 9,5oC, lớn hơn các khu vực khác Độ ẩm trung bình năm từ 81 - 87% Là khu vực có khí hậu ôn đới, hầu như mát mẻ quanh năm nên Hồng không hạt sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng cao và ổn định
Nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, thời gian qua, huyện Quản
Bạ đã có chủ trương đẩy mạnh việc phát triển cây Hồng không hạt; trong quy hoạch bảo tồn đa dạng tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm
2030 (được phê duyệt theo Nghị quyết số 187/NĐ-HĐND ngày 07/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh) cũng đã đưa cây Hồng không hạt huyện Quản Bạ vào nội dung bảo vệ Nhiều đề tài, giải pháp kỹ thuật đã được triển khai nhằm nghiên cứu, xác định phương pháp nhân giống phù hợp; lựa chọn cây mẹ, cũng như xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hát và bảo quản…
từ đó, tạo căn cứ tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân trồng, phát triển diện tích, nâng cao sản lượng trước thực tế nhu cầu ngày càng tăng của du khách thập phương với sản phẩm này
Để phát triển hồng không hạt huyện đã đưa ra một số kinh nghiệm như: vận dụng chính sách của Nhà nước hỗ trợ một phần giá giống và 200 kg phân bón NPK/ha để giúp các hộ về kỹ thuật ươm giống, trồng, chăm sóc, thu hái nhằm nâng cao chất lượng, sản lượng Bên cạnh tác động chính sách, nghiên
Trang 38cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong trồng, chăm sóc, năm 2016 với sự
hỗ trợ của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, huyện Quản Bạ đã xây dựng chỉ dẫn địa lý cho cây hồng không hạt Đến tháng 7/2017, Cục Sở hữu trí tuệ (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) đã chính thức quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho hồng không hạt Quản Bạ (Quyết định
số 2148/QĐ-SHTT), trong đó giao UBND tỉnh Hà Giang là đơn vị tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý này Và mới đây nhất, ngày 22/9/2017 lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Lãnh đạo tỉnh Hà Giang đã dự Hội nghị công bố chỉ dẫn địa lý “Quản Bạ” cho sản phẩm Hồng không hạt huyện Quản
Bạ, tỉnh Hà Giang do UBND tỉnh Hà Giang tổ chức tại huyện Quản Bạ Trong phòng trừ sâu bệnh: Đối với những cây hồng bị nấm, người nông dân
sẽ phun thuốc trong lúc cây đang ra lộc đầu xuân hoặc cắt tỉa thủ công Với sâu bệnh, người dân dùng bông tẩm thuốc trừ sâu đặt vào những lỗ trên thân tán, cành cây hoặc dùng kim tiêm bơm thuốc trực tiếp vào nơi mà sâu đang trú ngụ để loại trừ Sâu chỉ đục thân cây 1-2 lỗ nhỏ nên khi dùng thuốc bảo vệ thực vật không ảnh hưởng đến chất lượng hồng không hạt Ngoài ra, người dân cũng có bí quyết trừ sâu hiệu quả mà không cần dùng thuốc đó là dùng dây cáp 0,2 mm luồn vào lỗ sâu đục để loại trừ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Từ những thành công, kinh nghiệm thực tiễn phát triển cây hồng bền vững trên thế giới cũng như một số tỉnh của Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho huyện huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai như sau:
* Sản xuất hồng không hạt trên quy mô rộng lớn và chuyên nghiệp
Cây hồng không hạt tại huyện Văn Bàn cần phát triển trên quy mô rộng lớn và chuyên nghiệp Diện tích trồng cần tập trung mà rộng lớn, cần vận động người dân trồng sản xuất hồng không hạt trên quy mô rộng lớn và liên kết các nông hộ theo mô hình hợp tác xã để thuận tiện trong quá trình chăm
Trang 39sóc cây Hồng không hạt và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
* Ứng dụng khoa học kỹ thuật cao trong quá trình chăm sóc và thu hái hồng không hạt
Khuyến khích các nông hộ tích cực học hỏi và nghiên cứu các quy trình cũng như phương pháp chăm sóc và nhân giống cây hồng không hạt giúp giảm tỷ lệ chết, kéo dại tuổi thọ cây, thu ngắn thời gian cho quả và nâng cao chất lượng quả
Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng phải tích cực trong hoạt động liên hệ và yêu cầu sự giúp đỡ của các tổ chức và chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt là cây hồng không hạt giúp nông hộ nâng cao trình độ canh tác từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm hồng không hạt địa phương
* Đẩy mạnh công tác quảng bá sản phẩm của địa phương
Tích cực đẩy mạnh công tác quảng bá sản phẩm hồng không hạt tại các hội chợ triển lãm sản phẩm nông nghiệp trong và ngoài nước Kết hợp phát triển giữa du lịch dịch vụ và sản xuất nong nghiệp bằng hình thức du lịch trải nghiệm và du lịch sinh thái vốn là sản phẩm du lịch thế mạnh của địa phương
Trang 40Chương 2
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Văn Bàn nằm về phía Tây Nam, tỉnh Lào Cai với tổng diện tích
tự nhiên là: 142.345,46 ha có toạ độ địa lý từ 21052’22” - 22015’22” vĩ độ
Bắc; 103055'37” - 104026'04” kinh độ Đông
- Phía Đông giáp huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
- Phía Tây giáp huyện Than Uyên và huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái;
- Phía Bắc giáp huyện Bảo Thắng và huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính (22 xã và 1 thị trấn) Thị trấn Khánh Yên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá có quốc lộ 279 chạy qua cách thành phố Lào Cai 75 km về phía Tây Bắc (theo tỉnh lộ 151 và quốc lộ 279),
cách thành Phố Yên Bái 95 km về phía Tây Nam (theo quốc lộ 279 và 32c)
2.1.1.2 Đất đai
- Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện: 142.345,52 ha, trong đó:
+ Nhóm đất nông nghiệp: 105.277,41ha, trong đó đất sản xuất nông