Đáng tiếc là các ví dụ được thấy trong tài liệu quốc tế không thể truyền cảm hứng cho những người ra quyết định ở Việt Nam do phần lớn các tình huống kết hợp biến đổi khí hậu được xem xé
Trang 1Tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu cho cơ sở hạ tầng các
tỉnh miền núi phía Bắc
Báo cáo kỹ thuật - Nhóm Kỹ thuật CSHT - Hợp phần UNDP
ĐỀ XUẤT VIỆC SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG CÁC TIÊU CHUẨN, QUY ĐỊNH VÀ HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT LIÊN
QUAN ĐẾN HẠ TẦNG NÔNG THÔN ĐỂ TĂNG
CƯỜNG KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU VỚI KHÍ HẬU
(Bản dự thảo số 1)
Hà nội tháng 9 năm 2015
Trang 21
Chú thích
Báo cáo này được Ban quản lý dự án trung ương (trực thuộc Ban quản lý các dự án nông nghiệp) đệ trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN & PTNT) và Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP) Những quan điểm, kết luận và khuyến nghị trong báo cáo này không đại diện cho quan điểm của Bộ NN & PTN hoặc UNDP
Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ
Ông Trần Văn Lam, Giám đốc Dự án
Ban quản lý các dư án Nông nghiệp
16 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà nội
pcrinmp@apmb.gov.vn
hoặc ông Jorge Alvarez-Sala
Chuyên gia quốc tế về Kỹ thuật dân dụng/Hạ tầng nông thôn
jorge.alvarezsala@gmail.com
01242961635
Trang 32
LỜI CẢM ƠN
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến cho báo cáo này Trước hết tôi muốn được cảm ơn nhóm công tác của Ban quản lý dự án trung ương và UNDP đã tạo điều kiện cho tôi tham gia vào công việc thú vị này
Tôi xin bày tỏ sự đánh giá cao đối với ông Trần Văn Lam, bà Hoàng Thị Kim Cúc, ông Marcello Arosio, ông Nguyễn Gia Vượng, bà Bùi Viết Hiền, bà Jenty Kirsh-Wood và ông Koos Neefjes
đã hỗ trợ đưa ra nhiều gợi ý có tính xây dựng trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện công việc này
Tôi cũng xin cảm ơn sự hỗ trợ của các tư vấn trong nước thuộc Đội Kỹ thuật cơ sở hạ tầng: Ông Nguyễn Thanh Hùng và ông Đỗ Duy Đỉnh Nếu không có họ, tôi sẽ không thể thực hiện được việc rà soát các văn bản pháp qui liên quan và tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng
Tôi xin cảm ơn các thành viên còn lại của nhóm công tác thuộc Hợp phần UNDP đã hỗ trợ, thảo luận mang tính xây dựng cũng như các thành viên thuộc Tư vấn ICEM đã sẵn sàng chia sẻ thông tin
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Vụ Khoa học & Công nghệ và Môi trường (DOSTE) - Bộ NN
& PTNT(MARD), đã xem xét và đồng ý cho dự án thử nghiệm việc hỗ trợ trong việc xây dựng hai tiêu chuẩn liên quan đến cơ sở hạ tầng trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng như xin cảm ơn các nhà nghiên cứu, viên chức chính phủ đã đóng góp và chia sẻ thông tin để hiểu rõ hơn thách thức và bối cảnh thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trang 43
Tóm tắt
Sửa đổi điều chỉnh tiêu chuẩn/quy chuẩn xây dựng cơ sở hạ tầng chống chịu với khí hậu là một trong những cách tốt nhất góp phần cho việc thích ứng biến đổi khí hậu của hạ tầng nông thôn Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ này không phải luôn thuận lợi như được nêu trong báo cáo này
Báo cáo đưa ra một số khuyến nghị làm thế nào để kết hợp chống chịu với khí hậu vào khung pháp lý hiện nay tại Việt Nam Báo cáo tập trung vào quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn có liên quan đến hạ tầng nông thôn (giao thông nông thôn, thủy lợi và đê kè bảo vệ bờ sông), bao gồm các bài học rút ra từ hai tiêu chuẩn xây dựng đang được Vụ Khoa học, công nghệ và Môi trường soạn thảo trong năm 2015
Việc xem xét lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu vào hai tiêu chuẩn xây dựng cho thấy tính khả thi và thách thức, rào cản của việc thực hiện trong các hoạt động hàng ngày
Một trong những rào cản chính để thực hiện việc lồng ghép biến đổi khí hậu là khung pháp lý phức tạp của Việt Nam và đặc biệt là dựa vào một số tiêu chuẩn chính như tiêu chuẩn C- 6 -77 hiện đang cần cập nhật Tuy nhiên, việc cập nhật tiêu chuẩn C - 6 - 77 cần phải sử dụng một phương pháp ngoài việc cập nhật các tiêu chuẩn xây dựng thông thường
Tính bất định ở mức độ cao do biến đổi khí hậu và nhu cầu giả định để phân tích chi phí lợi nhuận tốt hơn, việc bắt buộc phải thay đổi hoặc cập nhật các tiêu chuẩn xây dựng cũng đã từng được thiết kế và cập nhật trước đây Do vậy, cần có một cách tiếp cận linh hoạt và tổng thể hơn Đáng tiếc là các ví dụ được thấy trong tài liệu quốc tế không thể truyền cảm hứng cho những người ra quyết định ở Việt Nam do phần lớn các tình huống kết hợp biến đổi khí hậu được xem xét chỉ là một phần của xu hướng xây dựng hạ tầng chống chịu, và do vậy, rất khó có thể tìm được các tình huống mà chỉ xem xét riêng đến biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh như vậy, việc tăng mức độ an toàn và thông qua đó, tăng tính chống chịu của cơ
sở hạ tầng, đã được xem xét chỉ là một biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu, nhưng các biện pháp ít hối tiếc cũng có thể đóng góp nhiều nhất việc sử dụng các nguồn lực luôn hạn hẹp được phân bổ cho hạ tầng nông thôn
Trang 54
Danh sách từ viết tắt
CCFSC Trung tâm/Uỷ ban quốc gia phòng chống lũ lụt
DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
M&E Giám sát đánh giá
SREX Báo cáo đặc biệt về các hiện tượng thời tiết cực đoan ( từ IPCC)
TCXDVN Bộ tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp quốc
UNFCCC Khung công ước Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu
Trang 65
GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
Thích ứng: Trong các thiết chế của con người, đây là quá trình điều chỉnh cho phù hợp với điều
kiện khí hậu thực tế hoặc dự báo và các tác động của nó nhằm giảm nhẹ tác hại hoặc khai thác những cơ hội thuận lợi Trong những hệ thống tự nhiên, đây là quá trình điều chỉnh cho phù hợp điều kiện khí hậu thực tế và những tác động của nó; sự can thiệp của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều chỉnh trước điều kiện khí hậu dự báo
Thích ứng với biến đổi khí hậu: Là sự điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người
nhằm ứng phó với các tác nhân khí hậu dự báo, nhằm giảm nhẹ tác hại hoặc khai thác những cơ hội thuận lợi
Năng lực thích ứng: Là sự kết hợp những thế mạnh, thuộc tính và nguồn lực sẵn có của một cá
nhân, cộng đồng, xã hội hoặc tổ chức để chuẩn bị và thực hiện các hành động nhằm giảm bớt những tác động tiêu cực, giảm nhẹ tác hại hoặc khai thác những cơ hội thuận lợi Năng lực thích ứng là khả năng dự báo và chuyển đổi cấu trúc, chức năng hoặc tổ chức nhằm vượt qua các rủi ro một cách hiệu quả hơn
Năng lực: Là sự kết hợp mọi thế mạnh, thuộc tính và nguồn lực sẵn có của một cá nhân, cộng đồng, xã hội hay tổ chức để đạt tới những mục tiêu đã định Năng lực là một thành tố quan trọng trong hầu hết các mô hình khái niệm về tình trạng dễ bị tổn thương và rủi ro Năng lực là những mặt tích cực của tính cách con người giúp giảm bớt nguy cơ của một hiểm họa nhất định Nâng cao năng lực thường được coi là mục tiêu của các chính sách và dự án, dựa trên ý niệm rằng củng cố năng lực sẽ giúp giảm bớt rủi ro Rõ ràng năng lực có vai trò trong việc giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu Là sự thay đổi tình trạng khí hậu có thể được xác định (chẳng hạn bằng cách
sử dụng các phép thử thống kê) qua những thay đổi trung bình và/hoặc sự biến thiên của các thuộc tính của khí hậu, và sự thay đổi diễn ra trong một thời gian dài, thường là thập kỷ hoặc lâu hơn Biến đổi khí hậu có thể bắt nguồn từ các tiến trình nội tại tự nhiên hoặc do các yếu tố bên ngoài như sự biến đổi của các chu kỳ mặt trời, sự phun trào núi lửa và những thay đổi lâu dài có nguyên nhân từ con người trong sự kiến tạo không khí hoặc sử dụng đất Lưu ý rằng trong Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), tại Điều 1, biến đổi khí hậu được định nghĩa là “sự thay đổi khí hậu có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ hoạt động của con người, làm biến đổi thành phần không khí toàn cầu và, bên cạnh sự biến thiên khí hậu tự nhiên,
sự thay đổi này được quan sát trong các giai đoạn so sánh.” Theo đó, Công ước khung phân biệt biến đổi khí hậu do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần không khí và biến thiên khí hậu do các nguyên nhân tự nhiên
Mô hình khí hậu: Là sự thể hiện bằng số hệ thống khí hậu dựa trên các thuộc tính vật lý, hóa
học và sinh học của các thành tố của hệ thống, sự tương tác giữa các thành tố, và các quá trình hồi đáp, và mô hình này lý giải tất cả hoặc một số thuộc tính đã biết của hệ thống Hệ thống khí hậu có thể được thể hiện qua các mô hình phức hợp biến thiên, nghĩa là đối với bất kỳ một cấu phần nào hoặc kết hợp nhiều cấu phần đều có thể xác định một chuỗi hoặc trật tự các mô hình, khác nhau xét về những khía cạnh như số chiều không gian, mức độ thể hiện rõ ràng các quá trình vật lý, hóa học hoặc sinh học, hay mức độ liên quan của các tham số hóa thực nghiệm Các
mô hình khí hậu toàn cầu khí quyển – đại dương (AOGCMs), còn được gọi là mô hình hoàn lưu chung khí quyển – đại dương, là một mô hình khí hậu gần như bao quát nhất của hệ thống mô
Trang 76
hình hiện nay Các mô hình đang phát triển hướng tới mức độ phức tạp hơn, trong đó có sự tương tác hóa – sinh Các mô hình khí hậu được sử dụng với vai trò là một công cụ nghiên cứu nhằm tìm hiểu và mô phỏng khí hậu, và dành cho những mục đích cụ thể như dự báo khí hậu tháng, mùa và hàng năm
Kịch bản khí hậu: Là sự thể hiện hợp lý và đơn giản hóa điều kiện khí hậu tương lai, dựa trên
tập hợp thống nhất các mối quan hệ khí hậu được xây dựng để áp dụng vào việc tìm hiểu những
hệ quả tiềm ẩn của sự biến đổi khí hậu do con người, thường đóng vai trò là nguồn dữ liệu đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động Các dự báo khí hậu thường là nguồn nguyên liệu thô để xây dựng các kịch bản khí hậu, tuy nhiên các kịch bản này thường cần thêm những thông tin như điều kiện khí hậu hiện tại đã được quan sát
Đối phó với biến đổi khí hậu: Là việc sử dụng những kỹ năng, nguồn lực và cơ hội hiện có để
xác định, quản lý và khắc phục những điều kiện bất lợi, nhằm mục tiêu đảm bảo vận hành cơ bản trong ngắn và dài hạn Khái niệm đối phó thường được sử dụng để nói về những hành động diễn
ra sau sự kiện, trong khi thích ứng thường gắn với những hành động xảy ra trước sự kiện Điều này có nghĩa năng lực đối phó cũng là khả năng phản ứng lại và giảm bớt những tác động tiêu cực của các rủi ro
Mức độ phơi nhiễm: Là sự hiện diện của con người, sinh kế, các loài hoặc hệ sinh thái, chức
năng về môi trường, dịch vụ, nguồn lực, cơ sở hạ tầng, hoặc tài sản kinh tế, xã hội hay văn hóa tại những địa điểm hoặc hoàn cảnh có thể bị tác động một cách tiêu cực
Lũ quét: là lũ lụt dâng lên nhanh ở các khu vực có địa hình thấp: sông suối, hồ và lưu vực Lũ
có thể do mưa lớn có liên quan đến bão, bão nhiệt đới hay băng tan gây ra Lũ quét được phân biệt với lũ lụt thông thường trong một khoảng thời gian ít hơn 6 giờ
Nguy cơ : Là khả năng một sự kiện tự nhiên hoặc do con người hay xu hướng hoặc tác động
thực tiễn có thể xảy ra và gây tổn thất về người, thương tích, hay những ảnh hưởng khác về sức khỏe cũng như thiệt hại, mất mát tài sản, cơ sở hạ tầng, sinh kế, dịch vụ, hệ sinh thái, và các tài nguyên thiên nhiên Trong báo cáo này, khái niệm rủi ro thường dùng để nói tới các sự kiện hoặc
xu hướng thực tiễn có liên quan tới khí hậu hoặc các tác động thực tiễn của các sự kiện này
Tác động: Là những ảnh hưởng đối với những hệ thống tự nhiên hoặc của con người Trong báo
cáo này, thuật ngữ tác động được sử dụng chủ yếu để nói tới những ảnh hưởng đối với những hệ thống tự nhiên và của con người của các sự kiện thời tiết và khí hậu cực đoan và của biến đổi khí hậu Nói chung, tác động là những ảnh hưởng đối với đời sống, sinh kế, sức khỏe, hệ sinh thái, nền kinh tế, xã hội, văn hóa, dịch vụ và cơ sở hạ tầng do sự tương tác của biến đổi khí hậu hoặc các sự kiện khí hậu nguy hiểm diễn ra trong một khoảng thời gian cụ thể và tình trạng dễ bị tổn thương của một hệ thống hoặc một xã hội có phơi nhiễm Tác động còn là hậu quả và kết quả Tác động của biến đổi khí hậu đối với các hệ địa vật lý, bao gồm lũ lụt, hạn hán và mực nước biển dâng, là phân nhóm của những tác động được gọi là tác động thực tiễn
Giảm nhẹ: Là sự giảm bớt mức độ biến đổi khí hậu bằng cách quản lý các tác nhân gây ra (phát
thải khí nhà kính từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch, nông nghiệp, thay đổi trong sử dụng đất, sản xuất xi măng, v.v.)
Sự chống chịu: Là khả năng một hệ thống hoặc các thành tố của nó dự báo trước, hấp thụ, điều
tiết, hoặc phục hồi từ những tác động của một sự kiện nguy hiểm một cách kịp thời, hiệu quả,
Trang 87
thông qua việc đảm bảo bảo tồn, phục hồi, hoặc nâng cấp các công trình và công năng thiết yếu của hệ thống
Chu kỳ lặp lại: Là ước tính khoảng thời gian trung bình giữa các lần xảy ra của một sự kiện (ví
dụ lượng mưa hoặc mực lũ cực đại) có quy mô hoặc cường độ đã được xác định (dưới/trên)
Rủi ro: Là hậu quả tiềm ẩn khi một công trình có giá trị bị đe dọa và khi kết quả không chắc
chắn, với nhiều giá trị khác nhau Rủi ro thường được thể hiện qua xác xuất xảy ra của các sự kiện hoặc xu hướng nguy hiểm nhân lên với tác động nếu các sự kiện hoặc xu hướng này xảy ra Rủi ro xuất phát từ sự kết hợp của tình trạng dễ bị tổn thương, mức độ phơi nhiễm, và hiểm họa Trong báo cáo này, thuật ngữ rủi ro được sử dụng chủ yếu để nói tới rủi ro của những tác động của biến đổi khí hậu
Dòng chảy mặt: Đó là một phần của lượng mưa không bay hơi và không bị thẩm thấu, nhưng
chảy qua mặt đất hoặc trên mặt đất đến khu trữ nước
Yếu tố an toàn (SF): là một thuật ngữ mô tả khả năng kết cấu của một hạ tầng/hệ thống bên
ngoài tải trọng mong muốn hoặc tải trọng thực tế Đặc biệt, hệ thống có năng lực lớn hơn các nhu cầu đối với một tải trọng được mong đợi Các yếu tố an toàn thường được tính toán sử dụng phân tích chi tiết do kiểm tra toàn diện không được thực hiện ở nhiều dự án như các tòa nhà, cầu đường nhưng khả năng của công trình có thể chịu tải phải được xác định ở một mức tương đối chính xác Nhiều hệ thống được chủ định xây dưng lớn hơn nhu cầu sử dụng thực tế cho phép sử dụng trong các tình huống khẩn cấ, tải trọng không mong muốn, sử dụng sai hay xuống cấp
Tính bất ổn: Là mức độ không nhận biết được một giá trị hoặc một mối quan hệ Tính bất ổn có
thể bắt nguồn từ sự thiếu thông tin hoặc do sự thiếu thống nhất giữa những cái đã biến hoặc thậm chí có thể biết được Tính bất ổn có thể nảy sinh từ nhiều nguồn, như lỗi dữ liệu định tính, những khái niệm hoặc thuật ngữ được định nghĩa mơ hồ, hoặc sự dự báo thiếu chắc chắn về hành vi con người Do đó, tính bất ổn có thể được thể hiện bằng những thước đo định tính, chẳng hạn một chuỗi giá trị được tính bằng các mô hình khác nhau, hoặc bằng những báo cáo định tính, ví
dụ phản ánh sự đánh giá của một nhóm các chuyên gia
Tình trạng dễ bị tổn thương: Là xu hướng có thể bị tác động tiêu cực Tình trạng dễ bị tổn
thương bao gồm nhiều khái niệm và thành tố bao gồm mức độ nhạy cảm hoặc khả năng tổn thương trước mối nguy hại hoặc thiếu năng lực để đối phó và thích ứng Theo UNISDR tình trạng dễ bị tổn thương cũng được định nghĩa theo tính chất và hoàn cảnh của một cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản dễ bị ảnh hưởng bởi nguy cơ
Trang 98
Mục lục
Lời cảm ơn
LỜI CẢM ƠN 2
Tóm tắt 3
Danh sách từ viết tắt 4
Mục lục 8
1 GIỚI THIỆU 9
1.1 Điều chỉnh 9
1.2 Phạm vi công việc 10
1.3 Giới hạn phạm vi 11
2 BỐI CẢNH 12
2.1 Phân tích xu hướng biến đổi khí hậu 12
2.2 Biến đổi khí hậu ở các tỉnh miền núi phía Bắc: 14
2.3 Đối phó với tính bất định Quản lý các kịch bản khác nhau 17
2.4 Làm thế nào để biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hạ tầng nông thôn tại Việt Nam 21
2.5 Tác nhân tăng cường/gây stress của ảnh hưởng biến đổi khí hậu 22
3 CÁC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HẠ TẦNG CHỐNG CHỊU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG 23
3.1 Bài học kinh nghiệm quốc tế 23
3.2 Các quốc gia khác đưa biến đổi khí hậu vào bộ tiêu chuẩn xây dựng như thế nào 24
4 XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN VÀ BỘ TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 29
4.1 Hiểu khung pháp lý ở Việt Nam 29
4.1.1 Hiểu quy trình phát triển xây dựng /nâng cấp Quy phạm xây dựng Việt Nam 31
5 SÀNG LỌC VÀ PHÂN TÍCH NHANH MỘT SỐ TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG VIỆT NAM 33
5.1 Điều chỉnh và phương pháp luận 33
5.1.1 Các hạn chế 33
5.2 Phân tích một số tiêu chuẩn và bộ tiêu chuẩn được lựa chọn 34
5.3 Các kết luận từ việc rà soát một số quy định và tiêu chuẩn được lựa chọn 34
5.3.1 Các đề xuất của hai bộ tiêu chuẩn xây dựng này hiện đang được cập nhật 37
6 CÁC KHUYẾN NGHỊ CHUNG LÀM THẾ NÀO ĐỂ XEM XÉT BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO LUẬT 40
6.1 Kết hợp dữ liệu khí tượng thủy văn lịch sử với dự báo biến đổi khí hậu cũng như một phần của nguồn dữ liệu đối với thiết kế hạ tầng 40
6.2 Tạo điều kiện tiếp cận với dữ liệu khí tượng thủy văn cập nhật và dự báo biến đổi khí hậu cho các kỹ sư thiết kế và viên chức chính phủ 42
Trang 109
6.3 Cập nhật hướng dẫn quy phạm xây dựng C-4 -77 trong tính toán đặc điểm thiết kế thủy
6.4 Xem xét và ưu tiên các lựa chọn không hối tiếc và ít hối tiếc khi thiết kế hạ tầng nông thôn 45
6.5 Phát triển quy phạm xây dựng về kỹ thuật sinh học 46
6.6 Cải thiện vận hành và bảo dưỡng hạ tầng nông thôn bằng các công cụ triển khai cụ thể và quy phạm xây dựng dành cho vận hành bảo dưỡng 46
6.7 Xác định tiêu chuẩn nào thiết yếu hơn và hạ tầng nào dễ bị tổn thương hơn đối với biến đổi khí hậu 47
6.8 Tăng kiến thức về biến đổi khí hậu và làm thế nào lồng ghép biến đổi khí hậu cho cả nhà ra quyết định và nhà làm luật 47
6.9 Một khung pháp lý phù hợp là cần thiết để tiếp cận đến tài chính khí hậu 48
6.10 Khi phân tích các lựa chọn kỹ thuật khác nhau, cần phải phân tích chi phí lợi ích tốt hơn 48 6.11 Thích ứng biến đổi khí hậu phải được lồng ghép vào khung luật pháp khác 48
6.12 Xem xét biến đổi khí hậu, nhưng cũng lưu ý đến các thông số khác 49
6.13 Hiệu lực của công nghệ phần mềm đối với mô hình 49
6.14 Thích ứng biến đổi khí hậu là một quy trình dài và phải bắt đầu từ hôm nay 49
6.15 Tăng cường "hạ tầng thông minh" không cần thiết phải chi phí nhiều hơn 50
6.16 Cung cấp sự linh hoạt khi xây dựng thêm 50
6.17 Xem xét tốt hơn đến tuổi thọ của hạ tầng 50
6.18 Luật pháp là bước đầu tiên nhưng không phải là duy nhất 51
9 KẾT LUẬN 53
PHỤ LỤC 1: CƠ SỞ DỮ LIỆU TIÊU CHUẨN /QUY PHẠM XÂY DỰNG 54
PHỤ LỤC 2: PHÂN TÍCH MỘT SỐ TIÊU CHUẨN /QUY CHUẨN XÂY DỰNG 75
2.1 Nghị định số: 72/2007/ND-CP về quản lý an toàn đập 75
2.2 TCVN 9902: 2013 Công trình thủy lực Yêu cầu về thiết kế đê sông 78
2.3 QP.TL C-6-77 Hướng dẫn Quy phạm tính toán đặc trưng thiết kế thủy văn 82
2.3 Công trình thủy lợi - các yêu cầu kỹ thuật về kiểm tra an toàn đạp (dựa trên phiên bản dự thảo lần đầu của một bộ tiêu chuẩn mới đang được xây dựng) 89
2.4 Công trình Thủy lợi – Yêu cầu kỹ thuật thi công và nghiệm thu kết cấu bê tông trên mái dốc dựa trên bản dự thảo đầu tiên của quy chuẩn mới đang được xây dựng) 93
1 GIỚI THIỆU
1.1 Biện giải
Trang 1110
Một trong những biện pháp chi phí hiệu quả nhất của hạ tầng nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu là bằng cách nâng cấp tiêu chuẩn xây dựng Tất nhiên, nâng cấp một tiêu chuẩn mà không phù hợp với thực tế thì sẽ không có tác dụng; nhưng nâng cấp các tiêu chuẩn xây dựng là bước đầu tiên để tăng tính chống chịu
Trước đây, các dữ liệu thống kê về thủy văn khí hậu đã được sử dụng như một nguồn thông tin chính để tính toán thủy văn trong thiết kế hạ tầng nông thôn Tuy nhiên, trong điều kiện biến đổi khí hậu, chỉ các sự kiện trong quá khứ khó có thể dự báo cho tương lai Do vậy, các giả định và xem xét khác đã được tính đến
Những khó khăn để dự báo các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai, được kết nối với các yếu tố bên ngoài khác có liên quan khiến các nhà làm luật và người thực hành tạo ra một phương pháp linh hoạt (và nội dung cụ thể) hơn để đưa dữ liệu có liên quan đến khí hậu vào thiết kế cơ
sở hạ tầng
Ảnh hưởng rõ nhất của biến đổi khí hậu lên cơ sở hạ tầng là ảnh hưởng lên các chế độ thủy văn, như dòng chảy hay lũ lụt Tuy nhiên, biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi mức tập trung CO2trong khí quyển và các thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm (trong dài hạn) góp phần giảm sức bền của các kết cấu bê tông Một số quốc gia đã bắt đầu phân tích tình trạng ăn mòn bê tông cốt thép tại các công trình hạ tầng
Trong một số trường hợp, tăng khả năng chống chịu của hạ tầng có thể tăng tổng chi phí đầu tư tới mức khiến công trình không còn tính bền vững về tài chính Tuy nhiên, có các trường hợp mà các biện pháp đề xuất có thể không nhắc tới chi phí bổ sung; và thậm chí có thể tiết kiệm tiền (ví
dụ một số phương pháp kỹ thuật sinh học) Một tiếp cận rộng lớn, dài hạn và toàn diện do vậy cần được quyết định để mở rộng phạm vi, nâng cao tiêu chuẩn là phù hợp
Thích ứng biến đổi khí hậu đòi hỏi các thay đổi đáng kể đối với lĩnh vực hạ tầng nông thôn Việc cập nhật các tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng (trong nhiều trường hợp) là khó khăn nhưng cần một bước hướng tới năng lực chống chịu tốt hơn của cơ sở hạ tầng và xã hội
1.2 Phạm vi công việc và mục tiêu
Theo điều khoản tham chiếu, Chuyên gia tư vấn quốc tế về Kỹ thuật cơ sở hạ tầng nông thôn chịu trách nhiệm về các sản phẩm sau đây:
1 Báo cáo về kinh nghiệm quốc tế điển hình về kỹ thuật chống chịu trong bối cảnh đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi và đê kè sông sau đây
2 Báo cáo về đánh giá tính dễ bị tổn thương của hạ tầng nông thôn với biến đổi khí hậu tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
3 Báo cáo về đề xuất điều chỉnh và bổ sung trong tiêu chuẩn/quy chuẩn và hướng dẫn phát triển hạ tầng chống chịu biến đổi khí hậu
4 Các nhận xét về dự thảo báo cáo của tư vấn trong nước về giao thông nông thôn và thủy lợi (2014 and 2015)
Báo cáo này là kết quả chuyển giao thứ ba: Báo cáo về đề xuất điều chỉnh và bổ sung trong tiêu chuẩn/quy chuẩn và hướng dẫn phát triển hạ tầng chống chịu biến đổi khí hậu
Mục tiêu của báo cáo như sau:
1 Phân tích và tập trung vào sự cần thiết để điều chỉnh và bổ sung các tiêu chuẩn/quy chuẩn, hướng dẫn có liên quan để tăng sức chống chịu với khí hậu của hạ tầng nông thôn
Trang 12hạ tầng chống chịu với khí hậu
1.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
So với các quốc gia khác, khung pháp lý của Việt Nam rất rộng và phức tạp bao gồm: hướng dẫn, nghị định, luật, chỉ thị, nghị quyết, sắc lệnh, quyết định, chỉ thị - nghị định, thông tư, thông
tư liên tịch và các hiệp ước quốc tế cũng như hiến pháp
Bên cạnh các cơ quan trong nước như Chính phủ, quốc hội và các Bộ; Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng ra một số quy định với số lượng văn bản luật pháp ngày càng tăng
Ở cấp kỹ thuật, có khoảng hơn 7.500 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và hơn 1.300 tiêu chuẩn xây dựng (TCXDVN) (Nguyen Ngoc, 2006) Chỉ riêng với ngành thủy lợi, tác giả đã xác định có hơn 400 bộ tiêu chuẩn xây dựng đang được áp dụng
Do số lượng lớn các tiêu chuẩn, với thời gian có hạn, và thực tế là nhiều tài liệu chỉ viết bằng tiếng Việt, tư vấn quốc tế chỉ có thể tiến hành sàng lọc tổng quát các bộ tiêu chuẩn khác nhau, và sau đó tập trung vào một số bộ tiêu chuẩn có thể phục vụ để minh họa làm thế nào có thể được xem xét / lồng ghép yếu tố chống chịu biến đổi khí hậu khi xây dựng và cập nhật các bộ tiêu chuẩn xây dựng này
Việc rà soát các bộ tiêu chuẩn hiện có đã được thực hiện với nỗ lực của tư vấn Các bộ tiêu chuẩn xây dựng được phân tích trong tài liệu này không có nghĩa là các bộ tiêu chuẩn khác có tầm quan trọng thấp hơn hay ít được ưu tiên hơn
Mức nước biển dâng được dự báo sẽ ảnh hưởng rộng rãi tại khu vực bờ biển và đất thấp tại Việt Nam Do bản chất của dự án, báo cáo này tập trung vào các tiêu chuẩn và quy chuẩn có liên quan đến khu vực miền núi phía Bắc Do vậy, một số bộ tiêu chuẩn chỉ áp dụng tại khu vực đất thấp như đê biển không được đề cập đến trong báo cáo này Tuy nhiên, các bộ tiêu chuẩn xây dựng được rà soát và khuyến nghị chung đưa ra có thể áp dụng trên toàn quốc
Trang 1312
2 BỐI CẢNH
2.1 Phân tích xu hướng biến đổi khí hậu
Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC WGII AR5) là tài liệu đầy đủ nhất về biến đổi khí hậu hiện có Báo cáo này đưa ra một số bằng chứng lý thú về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu đang diễn ra: Trong vài thập kỷ qua, biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng
lên hệ thống tự nhiên và nhân tạo trên tất cả các lục địa và đại dương.Bằng chứng về ảnh hưởng biến đổi khí hậu là mạnh nhất và bao quát nhất đối với các hệ thống tự nhiên Một số ảnh hưởng lên hệ thống nhân tạo đã góp phần vào biến đổi khí hậu, với đóng góp lớn hoặc nhỏ vào biến đổi khí hậu rõ rệt ngoài các ảnh hưởng khác
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nguồn nước Trong nhiều khu vực, thay đổi lượng
mưa hay băng tuyết tan đang làm thay đổi hệ thống thủy văn, ảnh hưởng đến nguồn nước về
số lượng và chất lượng (mức tin cậy trung bình, theo Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí
hậu )
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp và phát triển nông thôn: Dựa trên
nhiều nghiên cứu trên diện rộng các khu vực và cây trồng, các ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu lên sản lượng cây trồng đã trở nên thường xuyên hơn các ảnh hưởng tích cực
(mức tin cậy cao)
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến tính dễ xảy ra thiên tai và tăng nguy cơ: Sự khác nhau trong tính dễ bị tổn thương và dễ xảy ra thiên tai phát sinh từ
các yếu tố phi khí hậu và sự không đồng đều đa chiều thường được tạo ra từ các quy trình
phát triển không cân bằng (mức tin cậy rất cao) Sự khác nhau này tạo ra các nguy cơ khác
nhau từ biến đổi khí hậu Những người dân bị đẩy ra ngoài lề về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, thể chế đặc biệt dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu và đối với một số biện pháp
ứng phó giảm thiểu và thích ứng (bằng chứng mức trung bình, đồng thuận cao) Mức độ dễ
bị tổn thương cao này ít khi do một nguyên nhân gây ra, nó là kết quả của các quy trình xã hội giao thoa và tạo ra sự bất bình đẳng về địa vị kinh tế xã hội và thu nhập, cũng như độ phơi nhiễm trước các hiểm họa
Các hiện tượng thời tiết cực đoan liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu: Các ảnh
hưởng từ các hiện tượng thời tiết cực đoan gần đây như nhiệt độ cao, hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy, cháy rừng cho thấy tính dễ bị tổn thương và dễ xảy ra thiên tai đáng kể của một số hệ sinh thái và nhiều hệ thống công trình do con người xây dựng với các biến thể biến đổi khí
hậu( độ tin cậy rất cao) Những ảnh hưởng của khí hậu có liên quan đến hiện tượng thời tiết
cực đoan như vậy bao gồm sự thay đổi các hệ sinh thái, làm gián đoạn việc sản xuất lương thực và cung cấp nước, hủy hoại hạ tầng và sụt lún, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, hậu quả đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của con người Đối với các quốc gia trong mọi cấp độ phát triển, những ảnh hưởng này là liên tục, thiếu sự chuẩn bị đáng kể đối với các loại hình biến đổi khí hậu trong một số ngành
kết quả tiêu cực lên sinh kế, đặc biệt là đối với những người nghèo (mức độ tin cậy cao) Các
nguy cơ có liên quan đến khí hậu ảnh hưởng đến đời sống của người nghèo trực tiếp thông
Trang 1413
qua những ảnh hưởng lên sinh kế, giảm sản lượng mùa màng, hay phá hủy nhà cửa và gián tiếp, ví dụ như tăng giá thực phẩm và mất an ninh lương thực
đối phó trong tương lai của các hệ thống tự nhiên và nhân tạo là lớn (mức độ tin cậy cao)
Điều này thúc đẩy việc tìm ra một loạt các vấn đề kinh tế xã hội trong tương lai khi đánh giá nguy cơ Hiểu năng lực về tính dễ bị tổn thương, dễ xảy ra thiên tai và đối phó trong tương lai của các hệ thống tự nhiên và nhân tạo là vấn đề thách thức do một số các yếu tố kinh tế,
xã hội và văn hóa có ảnh hưởng lẫn nhau đến nay vẫn chưa được xem xét một cách toàn diện
Trong tương lai, chúng ta có thể gặp nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên hơn và nhiều thảm họa tiềm ẩn có liên quan đến thời tiết hơn Nhưng vấn đề không chỉ liên
quan đến các hiện tượng thời tiết cực đoan, sẽ có những thay đổi trung bình và biến thể được nêu
trong sơ đồ sau:
Hình 1: Các thay đổi dự kiến trung bình, biến động và đối xứng Nguồn: IPPC (SREX), 2012
Trang 1514
2.2 Biến đổi khí hậu ở các tỉnh miền núi phía Bắc:
Bộ TN & MT (Bộ tài nguyên và môi trường) dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia và quốc tế, đã dự báo nhiệt độ và lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Dựa trên các kịch bản khác nhau, Bộ TN & MT khuyến nghị sử dụng kịch bản trung bình (B2) của các Bộ, chính phủ và tỉnh/thành như cơ sở ban đầu trong đánh giá biến đổi khí hậu và phát triển các kế hoạch hành động để ứng phó
Theo ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2009), những thay đổi nhiệt đội trung bình (ºC) tương ứng trong giai đoạn 1980-1999 đối với kịch bản phát thải nhà kính trung bình (B2) là:
Bảng 1 Nhiệt độ trung bình hàng năm đối với kịch bản khí thải nhà kính trung bình (B2)
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường (2012) Biến đổi khí hậu, các kịch bản nước biển dâng đối với Việt Nam
Theo ước tính của Bộ Tài nguyên & Môi trường, lượng mưa trong mùa khô sẽ giảm Lượng mưa trong mùa mưa và tổng lượng mưa hàng năm sẽ tăng Theo kịch bản khí thải nhà kính trung bình, liên quan đến giai đoạn 1980-1999, lượng mưa trung bình năm sẽ tăng khoảng 7-8% tại
Trang 16Bảng 2 Lượng mưa trung bình hàng năm đối với kịch bản phát thải (B2)
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường (2012) Biến đổi khí hậu, các kịch bản nước biển dâng đối với Việt Nam
Trong trường hợp kịch bản phát thải nhà kính cao (A2), lượng mưa hàng năm sẽ tăng 9-10% tại các tỉnh miền núi phía Bắc Lượng mưa trong giai đoạn từ tháng Ba đến tháng Năm có thể giảm khoảng 6-9% tại khu vực miền Bắc, và tăng 12-19% vào giữa mùa mưa
Lượng mưa trung bình hàng năm và đặc biệt là lượng mưa tăng cường là yếu tố chính ảnh hưởng đến hạ tầng nông thôn Biến đổi khí hậu được mong đợi tăng cường độ tối đa của lượng
Trang 1716
mưa lên đến 30% ở một số khu vực miền Bắc và giảm lượng mưa nhiều nhất là 30% ở các khu vực khác (SREX Vietnam, 2015) Biến đổi khí hậu được dự báo để tăng cường độ mưa lên đến 30% tại một số khu vực ở miền Bắc, và giảm cường độ mưa tối đa tới 30% ở các khu vực khác.1
Sự thay đổi đáng kể trong các khu vực tương đối nhỏ có ảnh hưởng lớn đến bất kỳ thích ứng với biến đổi khí hậu nào trong tương lai
Theo ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2009), thay đổi nhiệt độ trung bình (ºC) tương ứng trong giai đoạn 1980-1999 đối với kịch bản phát thải nhà kính trung bình (B2) là:
Bảng 3 mức tăng nhiệt độ trung bình hàng năm đối với kịch bản phát thải (B2)
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường (2009) Biến đổi khí hậu, các kịch bản nước biển dâng đối với Việt Nam
Theo ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2009), thay đổi lượng mưa trung bình hàng năm (%) trong giai đoạn 1980-1999 đối với kịch bản phát thải nhà kính trung bình (B2) là:
Trang 1817
tháng 5 Tháng 6 - tháng 8
Tháng 9 - tháng 11
Tháng 6 - tháng 8
Tháng 9 - tháng 11
Bảng 4 Thay đổi lượng mưa trung bình hàng năm với kịch bản phát thải (B2)
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường (2009) Biến đổi khí hậu, các kịch bản nước biển dâng đối với Việt Nam
Kịch bản phát thải nhà kính trung bình (B2) cũng dự báo việc tăng đáng kể cường độ và lượng mưa lớn nhất Bộ Tài nguyên Môi trường (2012) dự báo lượng mưa ngày lớn nhất vào cuối thế
kỷ 21 so với mức năm 1980-1999 sẽ như sau
Bắc bộ
Bắc Trung
bộ
Nam Trung
bộ
Tây Nguyên
Khu vực Nam bộ
Bảng 5 Thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất với kịch bản phát thải (B2)
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường (2012) Biến đổi khí hậu, các kịch bản nước biển dâng đối với Việt Nam
Khu vực miền Bắc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề với báo cáo tăng lượng mưa trung bình ngày là 126% tại khu vực Tây Bắc Điều này ảnh hưởng lớn đến tần suất lũ quét và mức độ nghiêm trọng
do nó gây ra
Bên cạnh đó, IPCC khuyến cáo áp dụng sai số đối với các kịch bản biến đổi khí hậu Ví dụ, một sai số về nhiệt độ vào cuối thế kỷ là 0.4-0.6ºC; đối với lượng mưa hàng năm là 1-2%, và khoảng 5% đối với lượng mưa hàng tháng
2.3 Liên quan đến tính bất định: Quản lý các kịch bản khác nhau
Trang 19Hình 2: Khí hậu trong tương lai của vùng Đông Bắc Việt Nam đối với một kịch bản phát thải vào năm 2055 Nguồn: Website khí
hậu Việt Nam (IMHEN)
Trong trường hợp này, các mô hình khác nhau được sử dụng, cho thấy sự giảm mạnh thay đổi về lượng mưa hàng năm từ -7% tăng lên đến +17%
Xem xét tất cả các loại mô hình, trung bình lượng mưa hàng năm thay đổi +4% với sai số tiêu chuẩn 6.2
Nhưng con số này chỉ cho thấyt sự khác nhau giữa các mô hình trong cùng một kịch bản biến đổi khí hậu tương tự Các biến thể của các kịch bản khác tăng nhiều hơn nữa
Trang 2019
Hình 3: Khí hậu trong tương lai của vùng Đông Bắc Việt Nam đối với một kịch bản phát thải rất cao RCP 8.5 vào năm 2055
Nguồn: Website khí hậu Việt Nam (IMHEN)
Chú thích cho phần chữ của hình trên:
Annual rainfall change: Thay đổi lượng mưa hàng năm
Annual temperature change : Thay đổi nhiệt độ hàng năm
Hotter and Drier : Nóng hơn và khô hơn
Hotter and Little change in rainfall: Nóng hơn và lượng mưa thay đổi chút ít
Much hotter and little change in rainfall: Nóng hơn nhiều và lượng mưa thay đổi chút ít
Warmer and Wetter: Nóng ẩm hơn
Hotter and Welter: Nhiệt độ cao hơn và ẩm hơn
Much Hotter and Welter: Nhiệt độ cao hơn và ẩm hơn nhiều
Trong trường hợp đó, sự thay đổi lượng mưa trung bình năm sẽ trong khoảng -7% đến +15% Trung bình lượng mưa hàng năm thay đổi +1,9% với sai số tiêu chuẩn 5.6
Các ví dụ sau có thể dẫn người đọc đến hai kết luận sơ bộ sai sau đây:
Có quá nhiều tính bất định, do vậy chúng ta không thể đối phó
Thay đổi lượng mưa trung bình năm tương đối thấp (ví dụ +2.4%) và thậm chí thấp hơn lượng mưa trung bình giữa các năm
Trang 2120
Kết quả thứ nhất phần nào đúng Có sự bất định, nhưng chúng ta phải đối phó với chúng Trên thực tế, các kinh nghiệm kỹ thuật luôn phải đối phó với nhiều hiện tượng bất định, và quy trình thiết kế đòi hỏi việc tiến hành một số giả định bao gồm một số yếu tố an toàn để đối phó với các bất định này
Kết luận thứ hai không xem xét đến mục đích kỹ thuật, lượng mưa trung bình năm có thể không thích hợp với các hiện tượng thời tiết cực đoan Do vậy, cường độ mưa tối đa có thể có liên quan nhiều hơn đến thiết kế hạ tầng hơn lượng mưa hàng năm
Con số dưới đây chỉ ra làm thế nào cường độ mưa được dự báo gây ra các biến thể khác nhau Tại một số khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, cường độ mưa tăng khoảng 20-30% được dự báo Tuy nhiên, dự báo lượng mưa tăng không đều, và tại các khu vực liền kề cũng có sự suy giảm lượng mưa tối đa đáng kể thể hiện một thách thức và cơ hội khi thiết kế hạ tầng
Hình 4: Các thay đổi được dự đoán trong lượng mưa một ngày lớn nhất (RX1), (b) 5- lượng mưa 5 ngày lớn nhất (RX5), vào cuối
thế kỷ 21 theo kịch bản tập trung khí thải nhà kính (RCP 8.5) (%) Nguồn: SREX Việt Nam, 2015
Ví dụ sau đây minh họa làm thế nào để tăng lượng mưa tối đa 1 ngày 20% có thể ảnh hưởng đến
Trang 222.4 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hạ tầng nông thôn tại Việt Nam như thế nào
Ví dụ nói trên cho thấy ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hạ tầng nông thôn ở Việt Nam và tầm quan trọng (có liên quan) của các sự kiện thời tiết cực đoan trong thiết kế các hạ tầng chống chịu thời tiết
Một số rủi ro chung được xác định có liên quan đến hạ tầng nông thôn:
Rủi ro về thương vong, sức khỏe kém hay ảnh hưởng đến sinh kế do bão lũ
Rủi ro về gián đoạn sinh kế đối với người dân nông thôn do một số yếu tố có liên quan đến khí hậu (hạn hán, lũ lụt vv)
Rủi ro hệ thống do hiện tượng thời tiết cực đoan dẫn đến phá vỡ hệ thống hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu
Rủi ro về mất an ninh lương thực và phá vỡ hệ thống lương thực được kết nối do hiện tượng ấm lên toàn cầu, hạn hán, lũ lụt, sự biến đổi về lượng mưa và các sự kiện thời tiết cực đoan
Rủi ro về mất sinh kế vùng nông thôn và thu nhập do không đủ nguồn nước và giảm sản lượng nông nghiệp, đặc biệt là các hộ nghèo có ít lựa chọn thay thế
Rủi ro mất các hệ thống sinh thái trên sông và đất liền, đa dạng sinh học và sản phẩm hệ sinh thái, chức năng và dịch vụ do các hệ thống này cung cấp
Trang 2322
2.5 Các tác nhân tăng cường / gây căng thẳng (stressors) từ tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một trong các yếu tố chính sẽ có ảnh hưởng lên tính dễ bị tổn thương và tuổi thọ của hạ tầng nông thôn Có các yếu tố khác cần phải xem xét
Địa lý và vật lý địa lý là một trong các bằng chứng rõ nét nhất Các tỉnh miền núi phía bắc có đặc điểm là sườn dốc cao đóng góp trong việc tăng cường ảnh hưởng của các sự kiện thời tiết cực đoan Lũ quét xảy ra thường xuyên hơn với ảnh hưởng hư hại hơn tại các khu vực đất thấp Các vùng mái dốc cao dễ xảy ra sạt lở đất hơn,đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi đặc điểm đất/đá có ảnh hưởng lớn đến sạt lở đất nghiêm trọng
Các hoạt động của con người cũng đóng vai trò là tác nhân quan trọng đối với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Các hoạt động được tiến hành tại thượng nguồn (ví dụ thay đổi về sử dụng đất, quản lý nguồn nước vv) có ảnh hưởng trực tiếp lên dòng chảy sông suối
Trang 2423
3 CÁC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HẠ TẦNG CHỐNG CHỊU VỚI KHÍ HẬU THÔNG QUA TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG
3.1 Bài học kinh nghiệm quốc tế
Có rất nhiều tài liệu liên quan đến thích ứng biến đổi khí hậu Chỉ cần một tìm kiếm đơn giản trên Google về chủ điểm "thích ứng biến đổi khí hậu" cho thấy 91,500,000 kết quả
Tuy nhiên, rất nhiều lý thuyết thích ứng, hướng dẫn, lưu ý kỹ thuật, nghiên cứu chiến lược phần lớn là lý thuyết về những gì sẽ /đáng ra phải thực hiện Các bài học thích ứng vẫn là một vấn đề tồn đọng tại phần lớn quốc gia, cả quốc gia đã phát triển và đang phát triển (Alvarez-Sala, 2014; Kucan, 2015)
Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp thích ứng các tiêu chuẩn/quy chuẩn xây dựng Mặc dù nhiều quốc gia đã đưa chủ điểm này vào chiến lược và kế hoạch tổng thể, việc thực hiện hiệu quả vẫn mới chỉ bắt đầu
Các xu thế hiện tại về thích ứng biến đổi khí hậu có thể được tóm tắt như sau:
Tất cả các quốc gia đang đối phó với tính bất định mức độ cao
Mối quan hệ trong dài hạn là một phần của quy trình thích ứng dài hạn
Các chính phủ, ngay cả ở các nước đã phát triển, chậm trễ khi kết hợp thích ứng biến đổi khí hậu vào chính sách của họ, và bắt đầu thực hiện trong tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng
Cần sự phối hợp chéo và hoàn chỉnh giữa các bên thực hiện
Việc thực hiện địa phương có thể góp phần vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu nhưng cần có bối cảnh cụ thể
Phần lớn quốc gia đang bắt đầu với các biện pháp không hối tiếc, ít hối tiếc và đôi bên cùng có lợi,
Một số quốc gia cũng đang “tìm ra ưu điểm" và xác định cơ hội có liên quan đến biến đổi khí hậu
Khí hậu thay đổi, nhưng các khu vực nông thôn cũng đã / đang thay đổi, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam), do vậy, thích ứng biến đổi khí hậu cần có một tiếp cận toàn diện hơn
Thích ứng không chỉ là "chiến đấu chống lại" mà còn là "ứng phó" với biến đổi khí hậu
Dữ liệu đáng tin cậy đóng góp vào các giải pháp thích ứng tốt hơn
Không có lối tắt và phương pháp khác Ngay cả các giải pháp dễ dàng cũng có thể là khó thực hiện
Cần phải bắt đầu ngay Mặc dù tất cả các quốc gia đều công nhận tiến độ chậm, họ đều nhận thấy tầm quan trọng của việc bắt đầu ngay lập tức
Hiểu tính dễ bị tổn thương hiện nay với biến đổi khí hậu và xác định ngưỡng tới hạn Ở nhiều quốc gia, cả hạ tầng và ngành nông nghiệp được xem là ưu tiên hàng đầu
Trang 2524
Tầm quan trọng để xây dựng các chính sách và biện pháp thích ứng, linh hoạt và chống chịu biến đổi khí hậu
Một số quốc gia sử dụng công cụ kinh tế hiện có và mới (tài chính khí hậu)
Tất cả các quốc gia đều gặp hạn chế tương tự khi thực hiện
Thích ứng không phù hợp (maladaptation) có thể làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương Một số kết luận có thể được rút ra từ kinh nghiệm quốc tế về thích ứng biến đổi khí hậu trong giai đoạn thiết kế, bao gồm nâng cấp các tiêu chuẩn, quy chuẩn
Nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đã phát triển đang xây dựng quá nhiều hạ tầng để đảm bảo chúng đủ sức ứng phó với mức độ bất định
Các quốc gia tuyên bố đã đưa biến đổi khí hậu vào quy chuẩn xây dựng cập nhật, tăng ngưỡng an toàn ngoài những gì được dự báo từ quan điểm thích ứng biến đổi khí hậu
Đã có nhiều nỗ lực trong việc giảm thiểu và quản lý việc phục hồi, kết nối thích ứng biến đổi khí hậu với giảm rủi ro thiên tai
Có thỏa thuận rõ ràng về nhu cầu xem xét các các kịch bản tương lai hiện có, các ảnh hưởng có liên quan đến mô hình thay đổi từ chỉ sử dụng dữ liệu thời tiết lịch sử để dự đoán các sự kiện tương lai
Xem xét đến tuổi thọ của các hạ tầng được thiết kế, và việc thay thế hạ tầng là một quy trình dần dần từng bước có thể được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau
Chuyển từ các giai đoạn lặp lại sang một cách tiếp cận linh hoạt hơn cũng là một ưu tiên, nhưng kinh nghiệm quốc tế dường như không được nhân rộng ở Việt Nam
Một số quốc gia quyết định ứng phó với tính bất định bằng cách giới thiệu yếu tố "thích ứng biến đổi khí hậu"trong thiết kế của họ
Các chính sách không hối tiếc, ít hối tiếc hay đôi bên cùng có lợi thường xuyên được áp dụng trong kinh nghiệm quốc tế và thường bắt đầu ở cấp độ chính sách trong giai đoạn thiết kế
Một số quốc gia sử dụng phần mềm mô hình như công cụ để hướng biến đổi khí hậu vào giai đoạn thiết kế, tuy nhiên có thể không được nhân rộng đối với các hạ tầng nông thôn trên quy mô rất nhỏ ở Việt Nam
Các thiết kế tốt xem xét đến tất cả các chi phí có liên quan trong phân tích kinh tế, kể cả CAPEX (Chi phí vốn) và OPEX (Chi phí vận hành)
Tại các quốc gia đang phát triển, nên cải thiện việc kết hợp thu thập dữ liệu chính thức với sự tham gia của cộng đồng để thu thập dữ liệu từ địa phương
Các thiết kế tốt cũng đảm bảo rằng hạ tầng không làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương của khu vực xung quanh với biến đổi khí hậu
Thích ứng biến đổi khí hậu bắt đầu từ việc phân tích các lựa chọn thay thế
3.2 Các quốc gia khác đưa biến đổi khí hậu vào bộ tiêu chuẩn xây dựng như thế nào
Yếu tố khí hậu đóng một vai trò lớn với việc xuống cấp của hạ tầng, và biến đổi khí hậu được dự báo có ảnh hưởng đáng kể lên tốc độ xuống cấp Có hai loại cơ chế dẫn đến sự xuống cấp của cơ
sở hạ tầng:
Trang 2625
Thứ nhất, việc tăng xuống cấp của cơ sở hạ tầng diễn ra ở khía cạnh vật liệu hạ tầng, do tăng mức độ nghiêm trọng của yếu tố liên quan như vật liệu xuống cấp bởi hiện tượng các bon hóa
Thứ hai, việc tăng đột ngột các hư hỏng do các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hạ tầng
Việc xuống cấp của cơ sở hạ tầng có thể được bù đắp bằng bảo dưỡng thường xuyên và cải thiện công nghệ vật liệu, thiết kế Ngược lại, tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể gây ra hư hại nhanh đòi hỏi việc thay thế toàn bộ tài sản hạ tầng, và điều này rõ ràng và thường xuyên hơn với chi phí cao hơn Bên cạnh đó, các hiện tượng thời tiết cường độ thấp hơn xuất hiện với tần suất cao hơn, như tăng lượng mưa trung bình, cũng sẽ góp phần giảm tuổi thọ của hạ tầng.Quy chuẩn xây dựng lập ra các tiêu chuẩn có thể chấp nhận về sai số cho các bối cảnh và hiện tượng thời tiết cực đoan và sẽ đóng vai trò trong việc đảm bảo các giả định của biến đổi nếu được xem xét đúng mức
Các quy chuẩn và tiêu chuẩn có liên quan được dựa trên các dữ liệu được đo trong dài hạn, như
dự báo về gió và lượng mưa Chúng cần phải đủ linh hoạt có tính đến biến đổi khí hậu trong vòng đời sử dụng của hạ tầng, có thể là hơn 100 năm (ví dụ: đập) Các thay đổi về tiêu chuẩn thực hiện được tham chiếu trên bộ dữ liệu cơ sở đã được rà soát dễ dàng hơn, do các bộ dữ liệu
cơ sở có thể được điều chỉnh từng bước với biến đổi khí hậu mà không ảnh hưởng đến quy phạm ban đầu
Các biến thể sẵn có từ mô hình biến đổi khí hậu, tuy nhiên không phải luôn luôn phù hợp với việc hiệu chỉnh các dữ liệu khí hậu cơ sở này, có thể tham chiếu với thời gian kéo dài của sự kiện (ví dụ lượng mưa), tần suất (ví dụ số cơn bão), khoảng (ví dụ khoảng biến thiên nhiệt độ hàng ngày ), liều lượng (ví dụ số giờ chiếu sáng ), các kết hợp (ví dụ chỉ số mưa ) hay khả năng xảy ra (ví dụ nguy cơ bão lũ ) (Johns & Fedesky, 2001)
Có hai tiếp cận chính để kết hợp thích ứng biến đổi khí hậu vào giai đoạn thiết kế
Tiếp cận nguyên tắc phòng ngừa thường được gợi ý để giảm thiểu rủi ro Nguyên tắc
đến từ Nguyên tắc 15 của Tuyên bố về Môi trường và phát triển Rio (1992): "Khi có đe
dọa nghiêm trọng và hư hại không thể sửa chữa, việc hoàn toàn thiếu khoa học sẽ không được sử dụng như một lý do để trì hoãn các biện pháp"
Lựa chọn thay thế là một cách tiếp cận tỷ lệ với quy định rủi ro và là tiếp cận có thể phù
hợp với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tiếp cận này là một kiểm tra phức hợp, cẩn thận và kỹ lưỡng về nguy cơ và chi phí của mỗi lựa chọn
Đáng ngạc nhiên là rất ít quốc gia phát triển đã cập nhật quy chuẩn xây dựng của họ xem xét đến biến đổi khí hậu Bảng dưới đây chỉ ra các ví dụ về các quốc gia nơi việc xem xét biến đổi khí hậu đã được giới thiệu trong quy phạm xây dựng:
thực hiện?) Canada Canada là một trong những quốc gia dẫn đầu về thích ứng biến đổi khí
hậu Môi trường của Canada và Uỷ ban xây dựng và Quy chuẩn phòng
Trang 2726
cháy Canada đang cập nhật và cải thiện hơn 6.000 giá trị thiết kế khí hậu
cụ thể sử dụng Quy chuẩn xây dựng của Canada và nhiều Hiệp hội tiêu chuẩn quốc gia Canada Một nghiên cứu và phát triển khác là mục tiêu xây dựng hướng dẫn mới về điều kiện khí hậu hiện tại và tương lai đối với việc kết hợp vào kinh nghiệm kỹ thuật và quy phạm, tiêu chuẩn (trang web môi trường Canada , 2014)
Vào năm 2015 dự báo Canada có phiên bản Bộ Qui chuẩn xây dựng mới bao gồm thích ứng biến đổi khí hậu
Đan Mạch Các quy định về giao thông đường bộ và tiêu chuẩn đường sắt được rà
soát và xem xét lại có tính đến biến đổi khí hậu được dự báo năm 2009
Cơ quan bảo vệ môi trường Đan Mạch xuất bản hướng dẫn năm 2007 đưa
ra các công cụ mới của thành phố về ý tưởng xuyên suốt các ngành đô thị
và tính đến biến đổi khí hậu có liên quan đến xây dựng và vận hành hệ thống thoát nước và cải tạo hệ thống thoát nước
Hà Lan Đạo luật phòng chống lũ lụt (1996) nêu ra tiêu chuẩn an toàn đối với tất
cả các loại hình phòng chống lũ từ 1/ 1000 năm lên đến 1 /1250 năm Mỗi
5 năm, Bộ trưởng đã quyết định mức nước phù hợp với tần suất này Do mỗi mức quyết định này sẽ quyết định chiều cao của đê kè, kiến thức mới nhất về biến đổi khí hậu được tích hợp mỗi 5 năm vào thiết kế chống lũ New Zealand Sách hướng dẫn sử dụng kỹ thuật, hướng dẫn quy hoạch cho chính quyền
địa phương và nghiên cứu tình huống bài học kinh nghiệm tốt nhất
Na Uy Tiến độ, năng lực thoát nước, bảo vệ chống sạt lở đất, chống ăn mòn,
hướng dẫn kiểm tra và bảo dưỡng v.v Một trong những mục tiêu chính của chương trình "Khí hậu và giao thông" là thực hiện đưa kiến thức mới vào hướng dẫn NPRA về quy hoạch, thiết kế, bảo dưỡng và vận hành
Thông số kỹ thuật được rà soát trong thiết kế công trình thoát nước trong
hệ thống đường bộ Na Uy được trình bày trong Sổ tay 018 bản mới nhất (phát hành năm 2011)
Thụy Điển Ấn phẩm về kích thước các công trình thủy của Thụy điển có hệ số tính
toán dòng chảy tăng Quy tắc thiết kế thoát nước được nêu trong VVMB
310 Kích thước công trình thủy , 2008:61.
Anh Quốc Chính phủ đã đầu tư để cải thiện các dịch vụ cảnh báo lũ lụt, nâng cao
nhận thức của người dân về nguy cơ lũ lụt, cải thiện hạ tầng bảo vệ bờ biển và hạ tầng chống lũ, tăng cường mức mục tiêu cao đối với hạ tầng bảo vệ bờ biển và chống lũ, hướng tới giảm rủi ro trong dài hạn Cải thiện phát hành các thông báo cảnh báo lũ, hạ tầng chống lũ và bảo vệ bờ biển Thành phố Luân đôn đã xuất bản Hướng dẫn quy hoạch bổ sung về thiết
kế và xây dựng bền vững có bao gồm các tư vấn chi tiết đề cập đến thích ứng khí hậu
Hiện tại, Kế hoạch hoạt động thích ứng đang được xây dựng để đảm bảo các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu được đưa vào trong quy hoạch, thiết
Trang 2827
kế và xây dựng đường cao tốc Điều này đã được kết hợp trong báo cáo hạ tầng chủ yếu của Anh quốc (chưa có thông tin về việc đã được xuất bản chưa)
biến đổi khí hậu Các sáng kiến cấp bang (ví dụ bang California) và thành phố (ví dụ Boston, NYC)
Bảng 6: Một số thông tin về các quốc gia đã xem xét yếu tố thích ứng biến đổi khí hậu để đưa vào quy chuẩn xây dựng Nguồn: một số nguồn bao gồm PWC (2010); EU (2013), CEDR (2011)
Như được nêu trong bảng trên, quy chuẩn / qui định và tiêu chuẩn xây dựng thích ứng với biến đổi khí hậu đã được tiến hành ở một số quốc gia phát triển và giới hạn ở một số ít quy chuẩn / tiêu chuẩn liên quan Hơn nữa, tiêu chí được sử dụng để tăng mức độ chống chịu của hạ tầng hiện rất hạn chế về bằng chứng khoa học và thường được điều chỉnh từ quan điểm lo về rủi ro trong tương lai Tuy nhiên, chi phí bổ sung của các cập nhật quy chuẩn xây dựng đối với một số
hạ tầng có thể không là giả định tại một số quốc gia thu nhập trung bình như Việt Nam Xây dựng nhiều công trình có ảnh hưởng tiêu cực và rõ ràng lên chất lượng và tuổi thọ hạ tầng, tuy nhiên phải thực hiện với phân tích chi phí lợi nhuận vững chắc hơn
Có rất ít các trường hợp biến đổi khí hậu hướng tới quy chuẩn xây dựng có thể được sử dụng như
ví dụ / định hướng cho những người ra quyết định ở Việt Nam Nghiên cứu tình huống dưới đây chỉ ra làm thế nào người ra quyết định thực hiện sau một hiện tượng thời tiết cực đoan đặt đập
và các hạ tầng chính khác trước nguy cơ nghiêm trọng Giống như hậu quả Hàn quốc cập nhật quy chuẩn của họ nhưng theo một số nhà khoa học Hàn quốc (Kim, 2003) tiêu chuẩn mới là quá mức và tốn kém ngay cả đối với năng lực kinh tế của Hàn Quốc
Trang 2928
Ghi chú: Gia cố đập Sung Ju năm 2003
Hạ tầng kiểm soát lũ lụt nên được xây dựng trước Những hạ tầng này an toàn nhưng chi phí tốn kém, Do vậy PMF nên liên tục hỗ trợ bằng cách nâng cấp tiêu chuẩn thiết kế Kỹ thuật đánh giá
dự án mới là cần thiết
Nguồn: Kim 2003
Một số quốc gia khác như Đan Mạch, đã giới thiệu yếu tố biến đổi khí hậu vào thiết kế hạ tầng
Nghiên cứu tình huống 2: Tiêu chuẩn thoát nước được cải thiện tại Đan Mạch
Tiêu chuẩn thiết kế thoát nước ở Đan Mạch được rà soát năm 2009
Nghiên cứu tình huống số 1: Thích ứng biến đổi khí hậu của tiêu chuẩn an toàn đập tại Hàn quốc
Năm 2002 bão Rusa gây ra lượng mưa 870.5mm/24 giờ (và 100.5mm/giờ ) tại Hàn Quốc Mưa lớn gây vỡ một phần đê và đập tràn tại đập thủy lợi Sung-ju (28 HM3) Trước nguy cơ nguy hiểm nhìn thấy trên TV tạo ra động lực để chính phủ Hàn quốc nâng cấp an toàn đập Chính phủ đã thay đổi tiêu chí thiết kế tần suất 200 năm đối với Lũ lụt tối đa có thể xảy ra đối với đập thủy lợi Quyết định này tăng gần như gấp đôi kích thước đập tràn và chi phí 12 triệu
Đô la Mỹ
Nâng cấp tiêu chí thiết kế và tăng cường công suất khẩn cấp của đập tràn không nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu nhưng thực tế là có Việc nâng cấp tiêu chí thiết kế đáng kể làm tăng mức độ an toàn nhưng cũng làm tăng chi phí
Nguồn: Kim, 2003
Trang 3029
Đối với thiết kế đường ống, các lưu vực trên các đường giao thông quan trọng nhất, giai đoạn lặp lại tối thiểu đối với các mực nước quan trọng nhất (ví dụ mực nước vượt quá lòng đường bộ) được lập trong 25 năm Thêm vào đó, tình hình lũ lụt cần phải sử dụng toàn bộ tiết diện của cống
sẽ không xảy ra nhiều hơn một lần trong năm
Quy mô lượng mưa được dựa trên loạt dữ liệu đến năm 2005 Để bù đắp lượng mưa tăng trong tương lai, một yếu tố khí hậu bất định được đưa vào Các giá trị được khuyến nghị cho yếu tố khí hậu bắt nguồn từ các hướng dẫn do Hiệp hội Kỹ sư Đan Mạch, Uỷ ban phòng chống ô nhiễm nguồn nước (hướng dẫn SVK số 29) Các giá trị là: 1.3 khi tính toán dòng chảy được dựa trên giai đoạn lặp lại 10 năm và 1.4 đối với giai đoạn 100 năm
Độc lập với yếu tố khí hậu, một yếu tố khác được bổ sung, xem xét đến tính bất định tăng lên từ thống kê đến phương pháp Yếu tố mô hình này thường trong khoảng 1.1–1.5 dựa trên chất lượng của dữ liệu sẵn có
Nguồn: CEDR, 2011
Khả năng hòa nhập “yếu tố biến đổi khí hậu” sẽ được nghiên cứu Tuy nhiên, như đã giải thích trong báo cáo, dự định giữ cho việc "kinh doanh như bình thường" và chỉ giới thiệu hệ số này nên được tránh Ví dụ như quy phạm C-6-77 của Việt Nam yêu cầu nhiều hơn một hệ số biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, thông lệ hiện đang tồn tại từ thiết kế đến vận hành bảo dưỡng hạ tầng hiện có sẽ được rà soát và thích ứng Do vậy, người ra quyết định được tư vấn không sử dụng
"lối tắt" và đơn giản hóa nhu cầu thích ứng chỉ đối với một hệ số.Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nên rà soát quy phạm xây dựng hiện có và thích ứng chúng vào môi trường đang thay đổi hơn là tạo ra một quy phạm mới và cụ thể về thích ứng biến đổi khí hậu Theo đó, chương 5 đưa ra một
số khuyến nghị làm thế nào để giới thiệu biến đổi khí hậu vào luật hiện có
Hơn nữa, có một số công cụ được Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đề cập tới biến đổi khí hậu
có thể định hướng cho những nhà lập pháp Các công cụ gồm:
Giám sát biến đổi khí hậu
Định lượng phát thải nhà kính và truyền thông về ảnh hưởng môi trường
Xúc tiến các kinh nghiệm hay về quản lý môi trường và thiết kế
Mở ra các thị trường thế giới cho công nghệ năng lượng hiệu quả
Bên cạnh đó, ISO./DIS 37101 phát triển bền vững cộng đồng - hệ thống quản lý - các yêu cầu với hướng dẫn chống chịu và sáng kiến, hiện vẫn đang trong quá trình xây dựng Tuy nhiên, tất
cả các công cụ này có thể được áp dụng hạn chế tại Việt Nam
Tại Australia, chính phủ đã xây dựng tiêu chuẩn Australia AS5334-2013 thích ứng biến đổi khí hậu đối với sụt lún và hạ tầng - một tiếp cận dựa trên sự rủi ro
Trong khu vực Đông nam Á, có một số sáng kiến để hài hòa các tiêu chuẩn xây dựng Một số đề xuất bao gồm: phát triển một bộ quy phạm thiết kế châu Á mới, phát triển quy phạm thiết kế ISO, hay mô phỏng quy phạm của nước ngoài như quy phạm châu Âu hay hệ thống quy phạm Nhật Bản Những sáng kiến này đưa ra khả năng chia sẻ thách thức và kinh nghiệm trong khu vực, và có thể đóng góp cho sự hợp tác tốt hơn giữa nhà lập pháp và làm thế nào để đề cập tới thách thức toàn cầu ở một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trên thế giới
4 TIÊU CHUẨN VÀ QUI CHUẨN / QUI ĐỊNH XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM
4.1 Hiểu khung pháp lý ở Việt Nam
Trang 3130
So với các quốc gia khác, khung pháp lý của Việt Nam rất lớn và phức tạp bao gồm: hướng dẫn, nghị định, luật, chỉ thị,nghị quyết, sắc lệnh, quyết định, chỉ thị - nghị định, thông tư, thông tư liên tịch và các hiệp ước quốc tế cũng như hiến pháp
Bên cạnh các cơ quan trong nước như Chính phủ, quốc hội và các Bộ; Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng ra một số quy định với số lượng văn bản luật pháp ngày càng tăng
Ở các mức kỹ thuật, các tiêu chuẩn xây dựng có thể ở cấp quốc gia(TCVN, TCXD, TCDXVN) hoặc được một bộ chuyên nghành nào đó xây dựng và áp dụng cho một ngành cụ thể (22 TCN,
14 TCN) Bản dưới đây tóm tắt cấu trúc của hệ thống tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
TCVN 3992:1985
TCXD, TCXDVN
Các lĩnh vực khác (thiết
kế, xây dựng, quy hoạch vv)
Bộ Xây dựng
Bảng 7 Cấu trúc của hệ thống tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (trước năm 2006)
Bên cạnh tiêu chuẩn quốc gia tự nguyện, có các quy định kỹ thuật (tiêu chuẩn) là bắt buộc Theo luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (2006), có những Tiêu chuẩn (tự nguyện) và Quy định kỹ thuật hoặc Bộ tiêu chuẩn (là bắt buộc)
Hình 5: Luật về quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn
Hiện tại, có hơn 7500 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và hơn 1300 tiêu chuẩn xây dựng (TCXDVN) Mỗi Bộ ban hành tiêu chuẩn riêng có thể áp dụng cho mỗi ngành cụ thể
Số Quy phạm quốc gia (QCVN) ít hơn, và khó có thể ước tính số quy chuẩn cấp tỉnh (QPĐP)
Luật về Tiêu chuẩn và quy định
Quy chuẩn quốc gia (QCVN)
Quy chuẩn Tỉnh (QCĐP)
Trang 3231
Bên cạnh đó, có nhiều quy phạm xây dựng (quy định) khác như:
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam - Chương I (1996), Chương II, III (1997)
Quy chuẩn hệ thống cấp thoát nước trong nhà và công trình (1999)
Quy định kỹ thuật quốc gia về xây dựng để người khuyết tật có thể tiếp cận với các tòa nhà và công trình tiện ích (2014) 2014:QCVN 10:2014/BXD
Quy định kỹ thuật quốc gia về các tòa nhà sử dụng năng lượng hiệu quả (2013)
4.1.1 Những hiểu biết về quy trình xây dựng /nâng cấp Quy phạm xây dựng Việt Nam
Việt nam có một khung quy định rất năng động thường xuyên được rà soát và nâng cấp tài liệu pháp lý Không giống các quốc gia khác, những nhà lập pháp Việt Nam xem luật pháp là tài liệu sống (living documents) cần thường xuyên được cập nhật4
Trong những thập kỷ qua, các tiêu chuẩn Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với tiêu chuẩn Nga Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những nhà lập pháp đã bắt đầu sử dụng các tiêu chuẩn của các quốc gia khác như hệ thống tiêu chuẩn Anh quốc (BS), hệ thống tiêu chuẩn Hoa
kỳ (UBC, IBC, ACI, AASHTO), hệ thống tiêu chuẩn Nhật Bản hay hệ thống tiêu chuẩn Trung Quốc Một số tiêu chuẩn châu Âu( ví dụ Eurocode 8: TCXDVN 375:2006 "Quy phạm thiết kế đối với công trình chống chịu động đất đã được giới thiệu, mô phỏng ở Việt Nam
Thông tư 40/2009 / TT-BXD ngày 09/12/2009 của Bộ Xây dựng quy định việc áp dụng tiêu chuẩn xây dựng nước ngoài vào các hoạt động xây dựng ở V ệt Nam Theo thông tư này, các tiêu chuẩn xây dựng nước ngoài có thể được áp dụng ở Việt Nam nếu chúng:
Là tiêu chuẩn quốc tế hay khu vực, quốc gia có hiệu lực
Tuân thủ với các nguyên tắc của thông tư 40 và các quy phạm bắt buộc khác
Được chủ đầu tư phê duyệt
Tuy nhiên trong phần lớn các trường hợp, các nhà lập pháp Việt Nam không chỉ sao chép quy phạm nước ngoài mà mô phỏng theo dựa trên bối cảnh trong nước Theo đó, các nguyên tắc chính sau đây bao gồm:
Đảm bảo công trình xây dựng và sản phẩm được tạo nên và chúng:
o An toàn cho con người sử dụng, an toàn đối với công trình và công trình liền kề
o Đáp ứng quy định của Việt Nam về môi trường và an toàn sinh thái
o Bảo vệ
o Hiệu quả về mặt kỹ thuật và kinh tế
Đảm bảo tính khả thi và đồng bộ trong quá trình xây dựng, từ thiết kế, xây dựng và nghiệm thu công trình và khi vận hành công trình
Bắt buộc sử dụng dữ liệu nhập vào có liên quan đến các điều kiện đặc biệt của Việt Nam được quy định trong tiêu chuẩn xây dựng bắt buộc trong các phạm vi sau đây:
o Các điều kiện khí hậu và tự nhiên
o Các điều kiện địa chất và thủy văn
o Phân loại các vùng địa chấn và mức độ địa chấn
4
Thảo luận với với một luật sư có liên quan đến xây dựng luật quốc gia
Trang 3332
Trong phạm vi đó, các xem xét khí hậu cụ thể của vùng miền được tính đến Tuy nhiên, một số người sử dụng vẫn đặt câu hỏi về tính phù hợp khi sử dụng tiêu chuẩn của Nga đối với điều kiện nhiệt đới ở Việt Nam (phân tích thêm được cung cấp ở phần sau)
Vai trò và trách nhiệm
Tiêu chuẩn quốc gia được Uỷ ban Kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia (TCVN/TC) chuẩn bị và
Bộ Khoa học Công nghệ (MOSTE) phê duyệt và ban hành
Các quy định kỹ thuật được mỗi Bộ chuẩn bị và phê duyệt Trong trường hợp Bộ NN & PTTN, Vụ Khoa học Công nghệ và môi trường (DOSTE) chịu trách nhiệm quản lý xây dựng tiêu chuẩn Khi đó, Vụ Khoa học Công nghệ chỉ định các quan chuyên ngành (ví dụ Viện Khoa học Thủy lợi) hay nhóm chuyên gia chuẩn bị quy định kỹ thuật mới
Quy trình xây dựng một quy chuẩn xây dựng thường như sau:
Hình 6: Quy trình xây dựng các tiêu chuẩn xây dựng (Nguyễn Ngọc Linh)
Trang 3433
5 SÀNG LỌC VÀ PHÂN TÍCH NHANH MỘT SỐ TIÊU CHUẨN / QUI CHUẨN XÂY DỰNG VIỆT NAM
5.1 Biện giải và phương pháp luận
Chuyên gia quốc tế về kỹ thuật nông thôn phân tích khung pháp lý ở Việt Nam và tiến hành sàng lọc nhanh quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn có thể áp dụng được đối với hạ tầng nông thôn Dựa trên sàng lọc đó, tư vấn chọn ra trước một danh sách quy phạm xây dựng và tiêu chuẩn được rà soát xem xét đến sự phù hợp bao gồm lĩnh vực biến đổi khí hậu trong các quy phạm này
Một cơ sở dữ liệu của các quy phạm xây dựng và tiêu chuẩn được xác định bao gồm trong phụ lục kèm theo tài liệu này Tập trung nghiên cứu tiêu chuẩn và quy chuẩn được Bộ NN & PTNT (MARD) xây dựng Chỉ có một số tiêu chuẩn cụ thể như Tiêu chuẩn quốc gia: TCVN_10380-
2014 Thông số kỹ thuật thiết kế dành cho đường giao thông nông thôn hay TCVN 9845:2013 để tính toán đặc trưng dòng chảy đã được thêm vào danh sách Mục tiêu của công việc này không phải là tiến hành một nghiên cứu sâu đối với tất cả các quy phạm xây dựng có thể áp dụng, mà nhằm cung cấp sự hiểu biết hơn về khung pháp lý hiện có và xác nhận một số quy phạm có thể cần phải rà soát thêm có tính đến yếu tố biến đổi khí hậu Chuyên gia quốc tế sử dụng tài liệu sẵn
có từ hai nguồn dữ liệu chính: (i) các trang web của Bộ và (ii) trang web Thư viện pháp luật LawSoft (http://thuvienphapluat.vn) – đây là trang web thương mại chuyên cung cấp các thông tin về văn bản pháp qui của Việt nam ( cả phiên bản tiếng Việt và một vài văn bản luậ đã được dịch sang tiếng Anh) Chuyên gia trong nước rà soát cơ sở dữ liệu, và xác nhận danh sách này đã không bỏ sót bất kỳ tài liệu chính nào
Với cơ sở dữ liệu quy phạm / qui chuẩn xây dựng, chuyên gia quốc tế tiến hành sàng lọc nhanh
để xác nhận một số quy phạm có thể được phân tích như các ví dụ mà biến đổi khí hậu được xem xét và làm thế nào để biến đổi khí hậu có thể được kết hợp vào quy phạm phiên bản cập nhật mới nhất
Mục tiêu của công tác này không phải là "thực hiện công việc" rà soát các quy phạm này mà để nêu bật ví dụ thực tế làm thế nào biến đổi khí hậu có thể được bao gồm trong các văn bản này Giải thích chính là thực tế là các khuyến nghị chung làm thế nào để xu hướng biến đổi khí hậu có thể được hiểu là không hữu ích hay không thể áp dụng các quy phạm xây dựng cập nhật Vì lý do này, tác giả quyết định "biến lời nói thành hành động " và giả định thách thức để xem những gì
có thể được thực hiện trong một số tình huống quy phạm thực tế
Để việc thực hiện này trở nên thực tế và dựa trên bằng chứng, chuyên gia quốc tế đưa ra một số khuyến nghị cụ thể về làm thế nào để hướng biến đổi khí hậu vào hai bộ quy phạm xây dựng hiện đang được Bộ NN & PTNT xây dựng Các quy phạm này tạo cơ hội tốt nhằm xác định việc xem xét khí hậu có thể được bao gồm tới phạm vi nào trong quá trình nâng cấp quy phạm hiện có; và nếu - khi tài liệu được thảo luận và phê duyệt - chúng được xem xét và bao gồm trong tài liệu cuối cùng, Vào thời điểm viết báo cáo này, phiên bản cuối của hai quy phạm vẫn đang được thảo luận nhưng khuyến nghị đưa ra cho Vụ Khoa học Công nghệ đang được xem xét và bao gồm trong phần này Quy trình đã được hệ thống hóa mặc dù chưa đưa ra kết luận cuối cùng
5.1.1 Các hạn chế
Dựa trên cơ sở liệu của tiêu chuẩn và quy phạm / qui chuẩn, tư vấn tiến hành một phiên bản sơ
bộ về sự cố biến đổi khí hậu trên quy phạm xây dựng và nhu cầu cập nhật quy phạm đó theo hiện tượng thời tiết Trong trường hợp này, tư vấn tập trung vào một số tiêu chuẩn và quy phạm cụ
Trang 3534
thể hoặc bao gồm lĩnh vực khí hậu như một phần của tiêu chí thiết kế (ví dụ lượng mưa đến kích thước của một hạ tầng), hoặc có thể cần được rà soát như kết quả của các loại khí hậu khác nhau Những quy phạm này không chỉ là quy phạm duy nhất cần nâng cấp mà có thể được sử dụng như một ví dụ
Phân tích các tiêu chuẩn và quy phạm này càng toàn diện càng tốt, nhưng có xét đến hai giới hạn
cơ bản
Sự sẵn có bản dịch tiếng Anh của quy phạm / qui chuẩn xây dựng: Khi một bản dịch tiếng Anh sẵn có, tư vấn quốc tế sử dụng bản đó Khi chỉ có phiên bản tiếng Việt, tư vấn quốc tế sử dụng công cụ dịch của Google và đề nghị tư vấn trong nước và đồng nghiệp
hỗ trợ
Điều kiện thời gian để tiến hành rà soát: Mục đích chính của công việc này không phải là cung cấp rà soát toàn diện của quy phạm này mà chỉ nêu bật một số yếu tố chính có thể chỉ ra thách thức và cơ hội của việc đưa biến đổi khí hậu vào khung pháp lý
5.2 Phân tích một số tiêu chuẩn và bộ tiêu chuẩn được lựa chọn
Tiêu chuẩn và bộ tiêu chuẩn được phân tích trong phần này gồm:
1 Nghị định số: 72/2007/ND-CP về quản lý an toàn đập
2 TCVN 9902: 2013 Công trình thủy lực Yêu cầu về thiết kế đê sông
3 QP.TL C-6-77 Hướng dẫn Quy phạm tính toán đặc trưng thiết kế thủy văn
Bên cạnh đó, bản dự thảo của các bộ tiêu chuẩn sau hiện đang xây dựng cũng được rà soát
1 Công trình thủy lợi - Các yêu cầu kỹ thuật để kiểm tra an toàn đập
2 Công trình Thủy lợi – Yêu cầu kỹ thuật thi công và nghiệm thu kết cấu bê tông trên mái dốc
Các kết quả và phân tích các bộ tiêu chuẩn này được bao gồm trong phụ lục 2
5.3 Các kết luận từ việc rà soát một số quy định và tiêu chuẩn được lựa chọn
Từ việc rà soát quy phạm / quy chuẩn nêu ở phần 5.2 có thể rút ra một số kết luận sau:
Không có quy chuẩn xây dựng nào bao gồm yếu tố thích ứng biến đổi khí hậu hay ít nhất, chúng tôi không tìm thấy các bằng chứng này khi rà soát quy chuẩn
Phần quan trọng nhất được xem xét trong tương lai là nhu cầu kết hợp một tiếp cận linh hoạt hơn khi dự báo yếu tố khí hậu Chỉ riêng báo cáo dữ liệu thủy văn lịch sử, là không đầy đủ để dự báo loại hình khí hậu trong tương lai
Thích ứng biến đổi khí hậu phải được xem là yếu tố chính khi xây dựng hạ tầng chống chịu khí hậu Tuy nhiên, có nhiều khía cạnh khác như thay đổi kinh tế xã hội diễn ra trong khu vực/quốc gia cũng có ảnh hưởng lớn Ví dụ, thay đổi sử dụng đất sẽ có ảnh hưởng lớn lên dòng chảy tại lưu vực, và xu hướng sử dụng đất sẽ được bao gồm trong phân tích kịch bản tương lai
Đập là tài sản chính cần phải lưu ý đặc biệt Những hạ tầng chính này không chỉ thể hiện rủi ro đối với cộng đồng và tài sản tại hạ lưu; gián đoạn dịch vụ (ví dụ hư hại) hay giảm chức năng của đập (ví dụ là hậu quả của việc cấp nước giảm) có thể có ảnh hưởng chính lên người sử dụng (công ty thủy điện, nông dân, tiện ích vv)
Trang 3635
An toàn đập cần có tiếp cận toàn diện hơn Theo đó quy chuẩn sắp ban hành về an toàn đập bao gồm việc phân loại các đập và các yêu cầu khác nhau đối với mỗi loại Việc đánh giá lại thường xuyên tiêu chí thiết kế là một tiếp cận lý thú có thể góp phần xác định đập theo rủi ro và xu hướng
Trong tương lai, các hiện tượng thời tiết cực đoan dự báo sẽ tăng và thường xuyên hơn
Do vậy nhu cầu tham gia (ví dụ bằng cách xả nước trước khi bão lũ) và quản lý dòng chảy (giảm dòng chảy) có thể gợi ý việc tăng cường các cửa của đập tràn hiệu qua hơn
so với điều tiết dòng chảy Tuy nhiên, các nhà lập pháp nên xem xét các khó khăn để đảm bảo quản lý hoàn chỉnh các hạ tầng này và rủi ro gia tăng khi không kiểm soát được lũ lụt
Vận hành và quản lý hạ tầng có tính quyết định đặc biệt đối với một số tài sản chính Theo
đó, việc giảm các lỗi của con người bằng cách giảm vận hành thủ công các cổng và van cổng thay thế các công việc này bằng kiểu tự động cần được thảo luận Các tiêu chí rõ ràng cho mỗi lựa chọn( đập tràn "có van / cửa" so với đập tràn mở) nên được bao gồm trong quy phạm sau này
Việc xây dựng các công trình phù hợp với quản lý tổng hợp nguồn nước có thể đóng góp hiệu quả để cải thiện việc quản lý nguồn nước và chống chịu với khí hậu của cả cơ sở hạ tầng và người dân được phục vụ
Theo thuật ngữ chung, quy phạm / qui phạm xây dựng ở Việt Nam là không rõ ràng / khá chung chung so với các quy phạm tương tự ở các quốc gia khác Những người sử dụng khác nhau có thể diễn giải một số điều theo các cách khác nhau, và do vậy, việc thực hiện luật có xu hướng khó hơn Việc giới thiệu các tiêu chí thiết kế cụ thể (ví dụ hệ số, công thức, ngưỡng an toàn) có thể góp phần xây dựng một khung pháp lý vững chắc hơn
Liên quan đến các phát hiện trước đây, việc bao gồm một số công thức cụ thể không cần tới một quy phạm vững chắc hơn nếu những công thức này không thể áp dụng với các điều kiện cụ thể Một ví dụ là quy phạm C - 6 - 77 đã được xây dựng cách đây hơn 40 năm dựa trên công thức được sử dụng ở một bối cảnh hoàn toàn khác (các sông ở Tây Bắc Nga) Những công thức và hệ số này không áp dụng được với bối cảnh địa phương
Dòng chảy sông (đặc biệt là đỉnh lũ và dòng chảy lớn nhất) sẽ được tính toán có xem xét đến kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai Tuy nhiên, nhu cầu nêu rõ kịch bản biến đổi khí hậu nào sẽ được sử dụng và khung thời gian để xem xét đối với mỗi loại hạ tầng Đây không phải là quyết định dễ dàng và trong khi ở một số tình huống, tiếp cận thận trọng sẽ được xem xét (kịch bản xấu nhất) thì ở một số nơi, các kịch bản có khả năng xảy
ra nhất và khung thời gian ngắn hạn hơn có thể phù hợp hơn Điều này có thể yêu cầu sử dụng tiêu chí khác để tính toán mức lũ đỉnh khi thiết kế một công trên đường giao thông hơn là thiết kế đập tràn ở một đập lớn hơn
Dường như có một số nhầm lẫn giữa tuổi thọ công trình được mong đợi của hạ tầng, giai đoạn lặp lại và khung thời gian của kịch bản biến đổi khí hậu Ngày tháng không cần thiết phải giống nhau Ví dụ, một đập lớn có thể được xây dựng với vòng đời sử dụng 50 năm nhưng giai đoạn lặp lại có thể lớn hơn (trong một số quốc gia như Hà Lan hay Tây Ban Nha là 10,000 năm ), nhưng kịch bản biến đổi khí hậu được dự báo chỉ đến năm
2100 (85 năm) Một hạ tầng chính sẽ gây thảm họa khi vỡ sẽ được sử dụng ngưỡng an
Trang 3736
toàn cao hơn vòng đời sử dụng Mặt khác, ngay cả khi nếu các hạ tầng này được xây dựng với vòng đời sử dụng tương đối ngắn (ví dụ 50 năm) trong phần lớn trường hợp, bản chất của các hạ tầng này không cho phép việc đập bỏ toàn bộ tài sản mà phải "nâng cấp ” Các hạ tầng khác như một số tài sản đường giao thông nông thôn, có thể không có vòng đời sử dụng lớn do khu vực nông thôn phát triển nhanh và nâng cấp thường xuyên phù hợp theo quan điểm hiệu quả chi phí
Việc sử dụng các giải pháp kỹ thuật sinh học đối với đê kè sông đang thu hút sự chú ý như một biện pháp bền vững Nhiều quốc gia đã phát triển như Hà Lan ghi nhận lịch sử theo dõi các công trình hạ tầng "xám" đang thay thế một số đê kè sông để trồng thảm thực vật ở đáy sông hoặc các giải pháp kỹ thuật sinh học thân thiện với hệ sinh thái hơn Giải pháp kỹ thuật sinh học có thể có nhiều lợi ích hơn, ví dụ chi phí đầu tư và bảo dưỡng thấp hơn Tuy nhiên, việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật sinh học yêu cầu một khung pháp lý đối với Việt Nam, và chỉ phù hợp với một số hoàn cảnh (ví dụ không phù hợp với dòng chảy tốc độ lớn) Hiện tại, khung pháp lý của Việt Nam không bao gồm bất kỳ tham chiếu hay hướng dẫn nào đến việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật sinh học
QP.TL C-6-77 – Qui phạm về tính toán các đặc trưng thủy văn thiết kế năm 1977 Quy phạm này là nền tảng của các thiết kế hạ tầng nông thôn liên quan đến tính toán thủy văn, tuy nhiên hiện đã lỗi thời Trước hết, do quy phạm chỉ bao gồm tiêu chí thiết kế cho miền Bắc Việt Nam, nhưng phần lớn do công thức và quy phạm bao gồm các công thức rất cũ không còn được sử dụng tại các quốc gia xuất xứ nữa (ví dụ Sokolovsky)
QP.TL C-6-77 cần phải được nâng cấp ngay, tuy nhiên, dường như có sự hiểu biết chung rằng việc nâng cấp quy phạm này cần nhiều nỗ lực và không thể thực hiện như các quy phạm xây dựng được cập nhật khác
Các kỹ sư thiết kế hiện chịu trách nhiệm tìm các nghiên cứu có liên quan tới việc thu thập
dữ liệu đối với các mô hình dòng chảy thủy văn Việc sàng lọc các nghiên cứu và phổ biến thông tin (ví dụ thông qua hệ số lưu vực sông) có thể tiết kiệm nhiều nguồn lực và thời gian C-6-77 được đánh giá cao về điều này nhưng đáng tiếc là các quy phạm này được xây dựng dựa trên dữ liệu lịch sử hạn chế và chắc chắn đưa ra các kết quả sai
Ngày nay, việc sử dụng phần mền CAD và hệ thống thông tin địa lý GIS cho phép nhà thiết kế sử dụng dữ liệu trong một quy mô hoàn toàn khác Tuy nhiên, những công cụ mạnh này cần sử dụng dữ liệu chính xác Những mô hình này được chia độ theo kết quả
và hệ số được tính toán năm 1977 và dẫn đến sai số và biến thể lớn Hiện tại, tiềm năng của các công cụ hiệu quả (như MIKE) bị giới hạn bởi thực tế là việc chia các dữ liệu đã lỗi thời (ví dụ dữ liệu lịch sử về lũ lụt đã đề cập trong C-6-77)
Trong bối cảnh hiện nay, dữ liệu quan trắc sẽ được sử dụng như một công cụ để kiểm tra chéo các kết quả của mô hình, nhưng không phải là một giải pháp riêng Tuy nhiên, các phương pháp gián tiếp được đề xuất trong C-6-77 nên được sử dụng cho khu vực hạ lưu nhỏ (ví dụ thiết kế cống) nhưng không dành cho các dự án hạ tầng lớn hơn
C-6-77 đề xuất một số công thức dựa theo kinh nghiệm để tạo điều kiện cho quy trình thiết kế Tuy nhiên, các công thức này được dựa trên hệ số được tính toán cách đây đã lâu, với nguồn lực và dữ liệu lịch sử hạn chế Sử dụng cùng công thức và tính toán lại hệ
số dựa trên một dữ liệu lịch sử lớn hơn sẽ chứng tỏ nhu cầu nâng cấp quy phạm này Bên
Trang 3837
cạnh đó, biến đổi khí hậu không được xét đến và trong một số trường hợp (ví dụ công thức Sokolovsky), chính công thức này đã hoàn toàn lỗi thời và không chính xác đối với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Công thức Solovsky đối với thiết kế lưu vực sông là một trong những công thức kinh nghiệm đầu tiên được xây dựng trong lịch sử (năm 1945) Công thức kinh nghiệm được xây dựng đối với các sông ở miền Tây nước Nga và không còn được sử dụng ở đây nữa Các công thức chính xác hơn đã thay thế công thức Sokolovsky ở Nga Việt Nam dường như là quốc gia duy nhất hiện còn sử dụng công thức lỗi thời này
Việc sử dụng công thức, hệ số dựa vào ghi chép số liệu lịch sử ngắn hạn, và đối với các khu vực địa lý có thể là rất khác biệt giữa điều kiện nhiệt đới và á nhiệt đới ở Việt Nam,
có thể dẫn đến sai số lớn
Những người sử dụng tin rằng C- 6 - 77 là rất bảo thủ và có xu hướng làm tăng kích thước hạ tầng, tuy nhiên cần phải nhận ra rằng trong một số trường hợp, điều này có thể ngược lại Cải thiện tính chính xác của công thức có thể tiết kiệm đáng kể khi sử dụng tái đầu tư chúng vào cải thiện tính chống chịu trên các tài sản dễ bị tổn thương khác
Hệ số C-6-77 được tính toán chỉ cho 9 trên 18 vùng khí hậu trên cả nước Bên cạnh đó,
có thể đưa ra các thông tin chính xác hơn trên quy mô chi tiết hơn
Trong những thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được tiến bộ kinh tế xã hội đáng kể, và điều này đã ảnh hưởng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm nước và
sử dụng đất Do vậy, các ghi chép báo cáo dữ liệu lịch sử của các trạm thủy văn cũng có thể phản ánh các thay đổi này, đặc biệt trong các lưu vực nhỏ, hay lưu vực sông có thay đổi lớn (ví dụ như việc xây dựng các đập mới) Sau cùng, biến đổi khí hậu sẽ gây ảnh hưởng cũng được dự báo Việc cập nhật quy chuẩn cũng phản ánh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và xu hướng tại các lưu vực sông
Dòng chảy trung bình của ghi chép dữ liệu lịch sử, ngay cả trong một thời gian dài có thể không phù hợp để dự báo dòng chảy trung bình trong tương lai Khi lưu vực và môi trường xung quanh thay đổi, chế độ thủy văn cũng thay đổi theo Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến chế độ thủy văn Do vậy, cần có một tiếp cận linh hoạt và tổng thể hơn
5.3.1 Các đề xuất của hai bộ tiêu chuẩn xây dựng này hiện đang được cập nhật
i) Công trình thủy lợi - Các yêu cầu kỹ thuật để kiểm tra an toàn đập
Quy phạm xây dựng an toàn đập đang được lập hiện nay tạo cơ hội tốt để kết hợp biến đổi khí hậu và tăng sức chống chịu cho hạ tầng trong tương lai
Dự thảo đầu tiên của quy phạm, đã được bao gồm khuyến nghị để tính toán lại thông số thiết kế của đập với dữ liệu lịch sử hiện có và quy phạm xây dựng hiện đang được thay thế Tuy nhiên, phiên bản thứ nhất bỏ qua sự cần thiết phân tích xu hướng trong tương lai của khí hậu, phát triển kinh tế xã hội và sử dụng đất Khí hậu đang thay đổi ,nhưng xã hội
và lưu vực cũng thay đổi Những vấn đề này cũng phải được xem xét
Việc tính toán lại thông số của đập là phù hợp, nhưng chi phí để nâng cấp hạ tầng theo đó
có thể cần đến một số tiền lớn (hàng trăm triệu đô la Mỹ) Bao gồm biến đổi khí hậu sẽ làm tăng tổng chí phí Việc điều chỉnh để tiến hành các công việc này và lồng ghép biến đổi khí hậu vào quy phạm là:
Trang 3938
o Đập và các tài sản chính ảnh hưởng đến các cộng đồng ở hạ lưu sông nhưng cũng ảnh hưởng đến người sử dụng hạ tầng (thủy điện, thủy lợi, cung cấp nước) và cần phải được bảo vệ
o Đầu tư vào bảo vệ luôn rẻ hơn giảm thiểu hư hại khi vỡ hỏng hạ tầng, Số tiền phải chi tiêu hàng năm để hồi phục các đập bị hư hại có thể được phân bổ lại bao gồm đầu tư dài hạn để giải quyết vấn đề
o Lồng ghép biến đổi khí hậu trong quy phạm đưa ra khả năng tiếp cận tài chính khí hậu để hỗ trợ đầu tư
o Tính toán lại thông số của đập có thể cung cấp một phân tích rất chính xác sau đó
có thể được so sánh với chi phí không làm gì cả Khó có thể hành động khi thiếu thông tin chính xác
Các đập được xem xét là một trong các hạ tầng nông thôn thiết yếu nhất đối với biến đổi khí hậu Xem xét số lượng đập trong cả nước, cần ưu tiên theo phân loại, với các đập lớn thiết yếu hơn các đập nhỏ Tuy nhiên, những người ra quyết định không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của các đập nhỏ hơn, đặc biệt là các đập do cộng đồng quản lý Trong nhiều trường hợp, các hạ tầng này ít được giám sát và kiểm soát chất lượng thấp hơn Ảnh hưởng khi sụp đổ có thể thấp hơn đối với các đập nhỏ, nhưng tần suất vỡ đập dường như rất cao
Có một số công cụ có thể đánh giá nhanh mức độ rủi ro của một đập Xem xét đặc biệt đến ghi chép lịch sử về các hư hại do lũ gây ra (đặc biệt ở đập tràn) Như hậu quả của biến đổi khí hậu, nhà thiết kế phải dự báo các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra với cường độ và tần suất lớn hơn Nếu trước đây, lũ lụt ảnh hưởng đáng kể đến hạ tầng (ví dụ tràn), hạ tầng có thể thậm chí dễ bị tổn thương hơn trong tương lai, và do vậy, nên được thay thế (ví dụ mở rộng đập tràn)
Lưu ý đặc biệt đối với tiêu chuẩn an toàn đập : tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với
nhóm chuyên gia phụ trách xây dựng quy chuẩn mới (phụ lục 2) và tiến hành hai cuộc họp kỹ thuật để thảo luận các vấn đề làm thế nào để lồng ghép biến đổi khí hậu vào tiêu chuẩn này Các chuyên gia chỉ ra mối quan tâm cao đến chủ đề và nhất trí về tầm quan trọng xem xét đến biến đổi khí hậu Phiên bản thứ hai của quy chuẩn dường như sẽ bao gồm các lĩnh vực này, mặc dù quy trình sẽ vẫn mất vài tháng
ii) Công trình thủy lợi - Công trình bê tông trên mái dốc – Thi công và nghiệm thu công trình
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên công trình bê tông trên mái dốc dường như không phải là bằng chứng như trong tình huống trước đây; Tuy nhiên, ảnh hưởng biến đổi khí hậu lên tất cả các công trình hạ tầng có sự phơi bày / phơi nhiễm đối với môi trường Trong trường hợp này, mục tiêu tham gia vào tiêu chuẩn xây dựng là phân tích tính phù hợp của lồng ghép biến đổi khí hậu vào các quy phạm này Mặc dù tiêu chuẩn tập trung vào thông số kỹ thuật để xây dựng công trình bê tông, biến đổi khí hậu cũng là một lĩnh vực cần được xem xét
Lượng CO2 tăng trong khí quyển được dự báo tăng ăn mòn các thanh thép và vòng đời sử dụng của công trình bê tông, quá trình này được hiểu là các bon hóa Việc nghiên cứu chủ điểm này cho thấy ảnh hưởng lớn hơn của việc các bon hóa trong bối cảnh nhiệt đới và á nhiệt đới Việc xem xét phù hợp cacbon hóa trong thiết kế của công trình bê tông (không chỉ trên đất dốc)
Trang 4039
Giải pháp để giảm ảnh hưởng các bon hóa là dễ dàng và không nhắc đến bất kỳ chi phí bổ sung nào Điều này bao gồm việc tăng lớp bảo vệ các thanh sắt và các tác động bên ngoài
Lưu ý đặc biệt đối với tiêu chuẩn về thi công nghiệm thu công trình bê tông trên mái dốc:
tác giả đưa ra tham chiếu về nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (và các bon hóa) trong công trình bê tông đối với nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn mới Chuyên gia cũng chỉ ra mối quan tâm đến chủ đề và đồng ý khi rà soát thông số kỹ thuật và tăng lớp bê tông bảo vệ cốt thép