1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU HỘI THẢO VỀ PHẠM VI THÔNG TIN ĐƯỢC TIẾP CẬN VÀ HẠN CHẾ TIẾP CẬN TRONG DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

111 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ THÔNG TIN ĐƯỢC TIẾP CẬN, HẠN CHẾ TIẾP CẬN VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính Quyền tiếp cận thông tin là một

Trang 1

Chính phủ Việt Nam - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc Government of Viet Nam - United Nations Development Programme

Dự án 58492 “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” Project 58492 “Strengthening Access to Justice and Protection of Rights

in Viet Nam”

TÀI LIỆU HỘI THẢO

VỀ PHẠM VI THÔNG TIN ĐƯỢC TIẾP CẬN

VÀ HẠN CHẾ TIẾP CẬN TRONG DỰ THẢO

LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Bản quyền của Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt NamNhững quan điểm trong Báo cáo này là quan điểm của các tác giả và không phải là

quan điểm của Dự án hay của Chương trình Phát triển LHQ (UNDP)

Hà Nội, 15 - 16/12/2014

Trang 2

Chương trình Hội thảo

về phạm vi thông tin được tiếp cận và hạn chế tiếp cận trong

Dự thảo Luật tiếp cận thông tin

Hà Nội, ngày 15-16 tháng 12 năm 2014

Ngày thứ nhất

08:00 – 08:30 Đăng ký đại biểu Ban tổ chức Hội thảo

08:30 – 08:45 Tuyên bố lý do, giới thiệu thành

phần đại biểu Đại diện Vụ Pháp luật Hình sự -Hành chính, Bộ Tư pháp

08:45 – 09:00 Phát biểu khai mạc Hội thảo Đại diện Ban soạn thảo – Phó

Gs.TS Hoàng Thế Liên, nguyênThứ trưởng Bộ Tư pháp

09:00 – 09:40 Nhu cầu tiếp cận thông tin của

công dân, doanh nghiệp qua Dự

án điều tra cơ bản “Nhu cầu tiếpcận thông tin và các điều kiện bảođảm thực hiện quyền tiếp cậnthông tin của công dân, tổ chức”

TS Dương Thanh Mai – nguyênViện trưởng Viện Khoa học pháp

lý, Bộ Tư pháp

09:40 – 10:00 Thông tin được tiếp cận và hạn

chế tiếp cận theo nguyên tắc củapháp luật quốc tế

Đại diện Vụ Pháp luật Hình sự Hành chính, Bộ Tư pháp

-10:00 – 10:15 Nghỉ giải lao

10:15 – 11:30 Trao đổi, thảo luận Đại biểu

11:30 – 14:00 Nghỉ trưa

14:00 – 14:20 Trình bày kinh nghiệm quốc tế về

thông tin được tiếp cận và hạn chếtiếp cận

Brian Giacometti- Chuyên gia Dự

án Quản trị Nhà nước nhằm tăngtrưởng toàn diện - GIG

14:20 – 14:40 Giới hạn của quyền tiếp cận thông

tin GS.TS Thái Vĩnh Thắng, nguyênTrưởng Khoa hành chính Nhà

nước, Trường Đại học Luật Hà Nội

14:40 – 15:00 Thông tin thuộc bí mật nhà nước Đại tá Phạm Văn Trung, Phó Cục

trưởng Cục A82 - Tổng cục Anninh II, Bộ Công an

15:00 – 15:15 Trao đổi, thảo luận Đại biểu

15:15 – 15:30 Nghỉ giải lao

Trang 3

15:30 – 17:00 Trao đổi, thảo luận Đại biểu

Ngày thứ hai

08:30 – 08:50 Trình bày nội dung cơ bản của Dự

thảo Luật tiếp cận thông tin Đại diện Vụ Pháp luật Hình sự -hành chính

08:50 – 10:00 Trao đổi, thảo luận (tập trung vào

thông tin được tiếp cận và hạn chế tiếp cận của Dự thảo Luật)

Đại biểu

10:00 – 10:15 Nghỉ giải lao

10:15 – 11:45 Trao đổi, thảo luận (toàn bộ nội

dung của Dự thảo Luật) Đại biểu11:45 – 12:00 Bế mạc Hội thảo Đại diện Ban soạn thảo – Phó

Gs.TS Hoàng Thế Liên, nguyênThứ trưởng Bộ Tư pháp

Trang 4

NHU CẦU TIẾP CẬN THÔNG TIN VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

CỦA CÔNG DÂN, TỔ CHỨC

Viện Khoa học pháp lý

TS Dương Thanh Mai

và Trung tâm Thông tin KHPL

Trang 5

1.BỐI CẢNH:

-QH XII: Việc soạn thảo Luật TCTT, lý do dừng: cần hay

không cần? Khả thi hay không khả thi?

-QHXIII: sửa đổi Hiến pháp và vấn đề QCN,QCD tiếp

tục đưa Luật TCTT vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015-2016

2 MỤC TIÊU: Đánh giá thực trang nhu cầu TT của cá nhân, tổ chức và thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin từ phía CQNN làm luận cứ thực tiễn cho việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện DA Luật TCTT đảm bảo tính khả thi.

Dự án tiến hành trong năm 2011-2012

1 GIỚI THIỆU DỰ ÁN

Trang 6

1 GIỚI THIỆU DỰ ÁN

1.Đối tượng khảo sát: 5 nhóm điều tra thông

thường (nhân dân, doanh nghiệp, báo chí, công chức cấp tỉnh, huyện và công chức xã) và 4

nhóm điều tra sâu trong các lĩnh vực (TNMT, ATVSTP, Đất đai &XD, TP)

2 Địa bàn:6 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng

miền, cụ thể như sau: An Giang, TP Cần

Thơ,Khánh Hòa, Gia Lai, Hà Nội, Lào Cai.

3 Tổng số phiếu: 2675 (2287 phiếu thường, 388

phiếu sâu)+ 30 tọa đàm và 6 hội thảo

1 GIỚI THIỆU DỰ ÁN

4 Phương pháp và các hoạt động chính

4.1.- Nghiên cứu tại chỗ:

- Nghiên cứu, rà soát pháp luật thực địnhliên quan quyền được thông tin, phân tích sâu: đất đai, môi trường, ATVSTP, xây dựng, hành chính- tư pháp

- Nghiên cứu hồ sơ các vụ việc liên quan đến quyền tiếp cận thông tin gắn với các địa bàn điều tra

4.2 Điều tra xã hội học

Trang 7

Thứ nhất, Nhu cầu TT ngày càng lớn,

đa dạng, tập trung trong các lĩnh vực

liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức: đất đai, môi trường, XD, ATVSTP, BHXH, Y tế, Giáo dục…;

2 Các phát hiện chính của dự án

2.1 Nhu cầu TT

2 Các phát hiện chính của dự án

2.1 Nhu cầu TT

Người dân:Thông tin gắn bó thiết thực đến

cuộc sống hằng ngày như: đất đai, nhà ở, đăng ký hộ khẩu, kê khai thuế, đăng ký kinh doanh, khai sinh, đăng ký kết hôn, giáo dục,

y tế, lao động - thương binh và xã hội, khiếu nại hành chính.

Doanh nghiệp :các tin tức, dữ liệu có trong hồ

sơ, tài liệu do cơ quan công quyền tạo ra liên quan hoạt động sản xuất, kinh doanh (từ việc hoạch định chiến lược kinh doanh đến cơ cấu lại vốn đầu tư ),

Trang 8

Danh mục 30 loại thông tin phải công

khai theo quy định của PL: khoảng 1/2

số người dân, doanh nghiệp và nhà báo; 55,6% cán bộ đồng tình phải công khai các loại thông tin trong danh mục,

Lĩnh vực có nhu cầu TT lớn nhất ở tất cả

các địa phương là TT liên quan đến đất đai (Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, GPMB, cấp GCNQSDĐ…)

Thứ hai, Nhu cầu TT có sự khác biệt ở các

địa bàn (đô thị, nông thôn, miền núi), đối tượng khác nhau (người dân, DN, nhà báo,

CBCC ); trên một địa bàn thì có sự khác

biệt giữa các đối tượng: ở miền núi (Gia Lai, Lào Cai) DN có nhu cầu TCTT lớn còn người dân nhu cầu TCTT lại thấp…

Trang 9

2.1 Nhu cầu TT (Tiếp)

Bi ểu số 7

2 Các phát hiện chính của dự án

2.2 Các bất cập trong thi hành quyền

Một là, cá nhân, tổ chức, CBCC đều chưa

nhận thức đầy đủ về quyền được thông tin, nhất là quyền được yêu cầu CQNN cung cấp thông tin

Hai là, nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ

chức lớn hơn thông tin mà CQNN công

khai và cung cấp theo quy định của PL (ý kiến của 46,1% người dân, 34,3% doanh nghiệp và 33% nhà báo)

Trang 10

2 Các phát hiện chính của dự án

2.2 Các bất cập trong thi hành quyền

Ba là, thông tin phải công khai theo quy định của PL vẫn khó , thậm

chí không thể tiếp cận với nhiều cá nhân, tổ chức

-Thủ tục HC- 25%;

- VBQPPL - 29,8%

-Thu hồi và BT thu hồi đất- 45,8%

- Quy hoạch, kế hoạch SDĐ- 55,2%;

-QL ngân sách, đầu tư công -68,3%

(so sánh với kết quả WB 2010)

Đánh giá về khả năng tiếp cận thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng của nhà báo, người

dân và doanh nghiệp tại 6 tỉnh thành phố (%)

Trang 11

đầy đủ

TT không cập nhật

Nhân dân 53,2

Doanh nghiệp 74,9% 77,6%

Nhà báo 89,3% 73%

Đánh giá của cán bộ, nhà báo, doanh nghiệp và người dân

về mức độ kịp thời của thông tin cung cấp

52.7 47.3

Trang 12

Đánh giá của cán bộ, nhà báo, doanh nghiệp và người dân

về mức độ chính xác của thông tin cung cấp

Nguyên nhân bất cập trong thi hành

quyền được thông tin

Theo đánh giá của cá nhân, tổ chức) BS49

- Từ phía cá nhân, tổ chức: thiếu chủ động, thiếu kỹ năng, thiếu

điều kiện thực hiện quyền

- Từ phía CQNN:

+CQ,CCNN không đủ thông tin (dân-48%; DN-34%)

+ Thông tin được lưu giữ ở nhiều cơ quan (dân-43%; DN-70%) + CQ,CCNN không thực hiện đầy đủ trách nhiệm cung cấp thông tin (dân- 27%; DN- 24%)

+ CQ,CCNN cố tình cung cấp TT sai, che dấu thông tin 21%; DN-8%)

(dân-+ Công khai mang tính hình thức; thủ tục cung cấp TT phức tạp, phiền hà.

Trang 13

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo

đảm quyền

1/ Đa số CBCC chưa hiểu rõ, đầy đủ nội hàm của

quyền được thông tin, loại TT mà CQCC có trách nhiệm cung cấp; không xác định được cụ thể nhu cầu TT của cá nhân, tổ chức đối với thông tin

mình quản lý;

2/ Phương thức quản lý thông tin thủ công, chủ yếu bằng giấy, ứng dụng CNTT chậm, khó khăn, đặc biệt là ở cấp xã (phần lớn đến năm 2015 mới hoàn thành kết nối UBND xã)

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước rong bảo

đảm quyền

3/ Cơ chế quản lý và cung cấp thông tin phân tán (60-70% giao

đơn vị tạo ra TT quản lý, công khai và cung cấp TT; 15-30% giaocho VP; 5-7% giao cho Trung tâm TT, 2-5 % do cá nhân tự quảnlý) ;

4/ Công khai TT chưa đáp ứng nhu cầu tiếp cận TT của cá nhân

Trang 14

5/ Cung cấp TT theo yêu cầu rất hạn chế:

- Hạn chế về lĩnh vực , về chủ thể được yêu cầu cung cấp thông tin (CQNN; nhà báo theo Quy chế báo chí; người

dân chỉ được cung cấp thông tin liên quan cá nhân mình )

- Hạn chế và chưa tương thích về hình thức yêu cầu và

cung cấp TT: Vd- người yêu cầu lựa chọn: tại trụ sở, qua

internet, bưu điện

nhưng người cung cấp TT lại lựa chọn: tại trụ

sở, bưu điện, qua internet

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo

đảm quyền

Trang 15

Hình thức nhận yêu cầu cung cấp

thông tin đối với cán bộ theo lĩnh vực

95.8 91.4 91.1 84.4 85.5 88.7

15.1 36.6 45.2 51.1 38.2 40.5

20.5 12.9 15.6 21.6 10.9

Tại trụ sở Qua Internet Bưu điện

Hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu theo lĩnh vực

83.6 52.7

54.4 69.3 85.5 73.3

11.6 21.5 18.9 29.5 29.1 29.2

28.1 48.4 66.7 52.3 49.1 45.1

0 20 40 60 80 100

CB xã

CB TNMT

CB Xây dựng

CB Tư pháp

CB Y tế

CB khác

Tại trụ sở Qua Internet Bưu điện

6/Quy trình, thủ tục tiếp nhận yêu cầu, xử lý, cung cấp thông tin mang tính tự phát; thiếu hồ sơ lưu trữ, thống kê về cung cấp

7/ Phí cung cấp thông tin : chỉ có quy định về phí trong một số lĩnh vực và đối với một vài nội dung

và hình thức nhất định (khai thác, sử dụng dữ liệu TNMT trên mạng; khai thác tài liệu lưu trữ…) với mức phí khác nhau

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo

đảm quyền

Trang 16

8/ Việc từ chối cung cấp thông tin: thiếu thống kê đáng tin cậy; qua

khảo sát, tỉ lệ CBCC trả lời đã từng từ chối cung cấp thông tin khácao với nhiều lý do khác nhau ở các địa bàn khác nhau, phụ thuộc cánhân tiếp nhận, vd các lý do chính:

- TT không được cung cấp, không thuộc thẩm quyền cung cấp; PL không quy định

- Không có TT để cung cấp; không thuộc đối tượng được cung cấp;

- TT đã được công khai; yêu cầu quá lớn

(So sánh với kết quả WB 2014 về công khai thông tin ĐĐ

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền

Lý do từ chối cung cấp thông tin (%)

24.7

65.8 37

20.5 21.3

98.6 65.8

18.3

56.3 32.5

11.3

57.7 47.9 32.4

17.1

55.9 56.8 9

40.5

72.1 54.1

TT không thuộc quyền cung cấp

TT đã được công khai

An Giang Gia Lai Hà Nội

Trang 17

Cung cấp thông tin chưa chính xác

CBCC- 26% vs nhân dân- 46%,DN-82%, nhà 69%

báo-2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền

10/ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về công khai, cung cấp

thông tin chưa được theo dõi, thống kê

-CQNN không có số liệu thống kê về khiếu nại và GQKN về công

khai, cung cấp TT nhưng kết quả khảo sát cho thấy: lĩnh vực, cấp

CQ có nhiều khiếu nại (xây dựng-30%, TNMT-17%, cấp

xã-26,5%); lý do khiếu nại chính: ở xã: TT không chính xác, chậm,

thiếu TT và cán bộ gây phiền hà ; TNMT: TT không chính xác, cung

cấp chậm

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền

Trang 18

Các nguyên nhân chính: 3 thiếu cơ bản:

i/Thiếu cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật;

ii/Thiếu nguồn lực tài chính (90%-100% do NSNN

cấp, không có hoặc rất ít nguồn thu khác hỗ trợ);

Iii/ Thiếu nguồn nhân lực (cả số lượng và năng lực

CBCC), thiếu chuyên trách, chuyên nghiệp

2 Các phát hiện chính của dự án

2.3 Các bất cập từ phía cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền

Đánh giá của cán bộ về nguyên nhân chưa đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu của người dân và

doanh nghiệp tìm hiểu thông tin (%)

42.2 19.8

36.2 28.4

41.5 39.3

57.3 25.8

41.4 44.3

57.1 27.1

54.3 27.2

45.7 32.6

62.3 17.4

43.4 24.6

51.1 18.9

40 24.4

Hà Nội

Trang 19

1 Quyền được thông tin được cụ thể hóa từng bước trong một số VBQPPL gắn với trách nhiệm cung cấp TT của CQNN nhưng còn nhiều bất cập, hạn chế

Trang 20

3 Nguyên nhân của các bất cập:

i/Nguyên nhân về thể chế

Một là, độ vênh giữa khái niệm, nội hàm

Quyền được thông tin trong Hiến pháp Việt

Nam và Quyền tự do ngôn luận/biểu đạt trong

CUQT, Quyền tiếp cận thông tin trong HP,luật

bảo đảm Quyền tiếp cận thông tin ”

3.Kết luận và đề xuất

3.1.Kết luận

3.Kết luận và đề xuất

3.1.Kết luận

i/Nguyên nhân về thể chế (tiếp)

Hai là, thiếu cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo đảm thực hiện

QTCTT (chưa có Luật quy định nguyên tắc thực hiện, hạn chế quyền TCTT; tiêu chí xác định phạm vi, giới hạn thông tin được tiếp cận; trình tự, thủ tục, các bảo đảm thực hiện quyền TCTT; chế tài đối với vi phạm quyền )

Ba là, quy định trong các lĩnh vực có chồng chéo, mâu thuẫn,

hay thay đổi, khó nắm bắt

Trang 21

Ii/ Nguyên nhân về nhận thức và năng lực của cá nhân tổ chức về quyền và thực thi quyền TCTT Iii/Nguyên nhân về nhận thức, năng lực và bảo đảm điều kiện thực thi trách nhiệm của CQ,CCNN đối với Quyền TCTT.

3.Kết luận và đề xuất

3.1.Kết luận

Thứ nhất- Giải pháp pháp luật

1/ Hiến định Quyền TCTT đồng thời bổ sung: trình

tự, thủ tục thực hiện quyền TCTT theo luật định, thực hiện quyền TCTT chỉ bị hạn chế bằng luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do

ANQG,TTCC , đạo đức và sức khỏe cộng đồng

2/ Ban hành Luật TCTT

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Trang 22

65.5 41.8

37.7

50.4 44

24.8

56.9 49.3 47.9 55

3/ Rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với HP, Luật TCTT, tiến tới xây dựng bộ pháp điển về Quyền TCTT,

-Luật chuyên ngành: xác định cụ thể loại TT được công khai, cung cấp theo yêu cầu, TT tiếp cận có đ/k, TT không được tiếp cận trong lĩnh vực theo nguyên tắc mở hơn, đ/k, quy trình phải thuận lợi hơn;

- Nâng cấp pháp lệnh lên thành Luật bí mật NN (phạm vi, cấp độ

TT mật, cơ chế kiểm soát tài liệu mật và mức độ, phương thức giải mật TT)

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Trang 23

Thứ hai, giải pháp nhận thức

Thứ ba, giải pháp bảo đảm thi hành pháp luật TCTT:

- Cơ chế theo dõi, kiểm tra, giám sát thực thi Luật TCTT;

-Tăng cường năng lực CQ,CCNN chuyên trách trong việc bảođảm QTCTT;

-Tăng cường, đẩy nhanh ứng dụng CNTT trong hoạt động cungcấp TT, xây dựng CSDLQG và các CSDL TT của mỗi CQNN,xây dựng CP điện tử, CQĐP điện tử, công dân và DN điện tử

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

- Cơ chế găn kết hiệu quả thực tế các hình thức, phương thức TT, truyền thông, nhất là ở cơ sở phù hợp với đ/k người dân ở từng vùng, miền (đổi mới TSPL,BĐ-VH xã, TT học tập cộng đồng )

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Trang 24

Luật TCTT:

1/ Quan điểm: phù hợp Hiến pháp sửa đổi,

chuẩn mực QT về quyền tự do TT; kế thừa và

hoàn thiện các quy định PL hiện hành, có tính

đến đặc thù vùng, miền, lĩnh vực

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

2/ Các nguyên tắc cơ bản:

i/Tối đa hóa thông tin mà cá nhân, tổ chức được tiếp cận

ii/ Trách nhiệm của NN thực hiện các biện pháp, điều kiện bảo đảm QTCTT;

iii/Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực bảo đảm QTCTT theo trình tự, thủ tục luật định;

iv/Việc hạn chế thực hiện quyền TCTT phù hợp Điều 14(2) HP năm

2013: chỉ được hạn chế bằng luật vì các lý do: quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Trang 25

3/Các nội dung chính:

3.1.Xác định cơ quan chịu trách nhiệm công

khai, cung cấp TT (lập, hành, tư pháp)- câu

hỏi: DNNN, các tổ chức CTXH, các tổ chức sự

nghiệp DVC có trách nhiệm công khai TT

không?.

3.2/ Loại và phạm vi TT được công khai, cung

cấp theo yêu cầu:

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Thông tin do CQNN chủ động công khai rộng rãi: các TT liên

quan đến quyền, lợi ích của số đông người dân, DN (câu hỏi- liệt kêhay loại trừ)- Yêu cầu: TT chi tiết bằng các hình thức dễ tiếp cận,trong thời gian đủ dài để tiếp cận và khai thác

Thông tin cung cấp theo yêu cầu: Phạm vi- trừ bí mật NN, đời

tư và kinh doanh; hình thức mở rộng theo khả năng của người dân vàCQNN; thời hạn nhanh chóng, kịp thời, phù hợp khả năng CQNN;

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Trang 26

3.5/ Phí cung cấp TT theo yêu cầu (lệ phí tối thiểu; phí bưu điện, phí

in tài liệu số lượng lớn);

3.6/ Cơ chế giải quyết khiếu nại liên quan QTCTT (trình tự hànhchính và tư pháp)

3.7/ Chế tài đối với vi phạm QTCTT và trách nhiệm bảo đảm

3.Kết luận và đề xuất

3.2 Đề xuất

Xin cảm ơn!

Trang 27

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ THÔNG TIN

ĐƯỢC TIẾP CẬN, HẠN CHẾ TIẾP CẬN VÀ THỰC TRẠNG

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền dân sự - chính trị của

cá nhân, quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong các văn kiện quốc tếquan trọng (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và chính trị, các Công ước quốc tế khác) Quyển này được coi lànền tảng của các quyền khác của con người, hỗ trợ để thực hiện một số quyềncon người khác Quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận trong nhiều văn kiệnquốc tế và được bảo đảm thực hiện bởi quy định pháp luật của nhiều quốc gia;được ưu tiên điều chỉnh bằng một đạo luật riêng trong nhiều quốc gia với tên gọiLuật tiếp cận thông tin Việc ban hành một đạo luật riêng về tiếp cận thông tinnhư một yêu cầu tất yếu để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân trong bốicảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, của các phương tiện thông tin truyềnthông ngày nay

Là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,Việt Nam đã nỗ lực trong việc áp dụng các biện pháp để nội luật hoá cam kếtquốc tế của mình, trong đó đặc biệt là biện pháp mang tính pháp lý

Quốc hội đã đưa Luật tiếp cận thông tin vào Chương trình xây dựng phápluật khóa XII của Quốc hội Sau hơn 2 năm nghiên cứu, khảo sát, phân tích,đánh giá thực tiễn và triển khai xây dựng Dự án Luật Tiếp cận thông tin, ngày

17 tháng 7 năm 2009, Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ Dự án Luật Tại phiên họpngày 5 tháng 8 năm 2009, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến về Dự thảo LuậtTiếp cận thông tin Tuy nhiên, do còn có các ý kiến khác nhau của các bộ, ngành

về một số nội dung của Dự thảo Luật nên Chính phủ quyết định chưa trình Quốchội mà giao cho Bộ Tư pháp chỉ đạo việc nghiên cứu, báo cáo Chính phủ trìnhQuốc hội vào thời điểm thích hợp Hiện nay, Bộ Tư pháp đang khẩn trương soạnthảo, chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo Luật để Quốc hội thông qua Luật vào năm

2016 trên cơ sở tinh thần mới của Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã có nhiều điểm đổi mới tiến bộ, tích cựcliên quan đến quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân Hiến pháp sửa đổi đã có sự phân biệt giữa quyền con người và quyền, nghĩa

vụ cơ bản của công dân; ghi nhận hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự,kinh tế, xã hội, văn hóa của con người theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên; tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992 Theo đó, tại Điều 25

Trang 28

và pháp luật" và khẳng định những quyền này "chỉ có thể bị hạn chế theo quyđịnh của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14).

I Pháp luật quốc tế về quyền tiếp cận thông tin và thông tin được tiếp cận, hạn chế tiếp cận

1 Ý nghĩa, vị trí của quyền tiếp cận thông tin - một quyền hiến định

Nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế tiêu biểu có đề cập đến quyềnthông tin cho thấy pháp luật quốc tế, trong các văn kiện, điều ước quốc tế liênquan đến quyền tiếp cận thông tin đã có những nguyên tắc, chuẩn mực rõ ràng

và có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với từng quốc gia thành viên trong việcbảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của con người Pháp luật quốc tếcũng có một quá trình phát triển rõ rệt về quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt làcác công ước/điều ước quốc tế liên quan đến một lĩnh vực cụ thể có xu hướngquy định cụ thể, ràng buộc và chặt chẽ hơn với các quốc gia thành viên Các tổchức của Liên Hợp Quốc cũng nỗ lực không ngừng trong việc làm rõ yêu cầuđối với các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đặcbiệt là thông qua việc xác định Bộ quy tắc về quyền tiếp cận thông tin

Tầm quan trọng của quyền thông tin cũng được phản ánh trong xu hướngtoàn cầu hướng tới việc ban hành pháp luật quốc gia nhằm mang lại hiệu lực choquyền này1 Ngoài việc hiện diện độc lập trong các đạo luật đơn hành, quyềntiếp cận thông tin hay quyền thông tin, với tư cách là một trong những quyền cơbản của công dân, đã được ghi nhận trong rất nhiều bản hiến pháp của các quốcgia trên thế giới2

Nhiều bản hiến pháp hiện đại quy định quyền tiếp cận thông tin như mộtquyền được nhà nước bảo đảm thực hiện Các bản hiến pháp có quy định vềquyền tiếp cận thông tin đã tăng nhanh một cách đáng kể, đặc biệt là các quốcgia đang chuyển đổi đều có quy định trong hiến pháp, ở một số quốc gia mà hiếnpháp đã được ban hành từ lâu đời đã sửa đổi hiến pháp của mình để bổ sung một

số quy định về quyền tiếp cận thông tin (Hiến pháp năm 2013 cũng đã sửa đổi từ

1Xem, Toby Mendel, Freedom of information: A comparative legal survey, Second Edition, United Nations,

Trang 29

nó, đã là các quy định hiến định4 Ở Canada, Tòa án đã tuyên bố rằng Luật Tiếpcận thông tin là quy định “mang tính chất của Hiến pháp” Ở Newzeland, vàonăm 1988, Tòa phúc thẩm đã phán quyết rằng “tầm quan trọng của Luật Thôngtin chính thức là ở chỗ các biện pháp trong Luật này có thể được coi là các biệnpháp mang tính Hiến định”5.

Nói đến lịch sử về quyền thông tin, người ta thường nhắc đến Thụy Điểnnhư là một nước tiên phong Trên thế giới, phong trào vận động cho quyền đượcthông tin đã phát triển mạnh mẽ từ nhiều thập kỷ qua, đa số các quốc gia trên thếgiới đã thông qua Luật tự do thông tin/Luật tiếp cận thông tin; các quốc gia khácđang trong quá trình soạn thảo, xây dựng đạo luật tương tự Có rất ít nước banhành văn bản riêng để điều chỉnh về quyền thông tin dưới hình thức là văn bảndưới luật mà không phải hình thức luật6

2 Những ràng buộc pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin

(i) Khái niệm "quyền tiếp cận thông tin": Quyền tiếp cận thông tin được

coi là một loại quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả các quốc gia đều cóquyền được tiếp cận thông tin, dù theo cách thức trực tiếp hay gián tiếp, để thỏamãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện cácquyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận Khái niệm quyền tiếp cận thôngtin/quyền thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trongLuật về Tự do báo chí Đạo luật này, một mặt, cho phép tự do ngôn luận, mặt

3 Xem, Mendel (2008)

4Xem, Thomas Bull, Freedom of Expression in Sweden, The Rule of Formalism, Nordicom, trang.80

5 Xem, David Banisar (2006)

6 Ví dụ: Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành Pháp lệnh về công khai thông tin của chính quyền ngày 17/1/2007, văn bản này có hiệu lực từ ngày 1/5/2008.

Trang 30

khác, công nhận cho công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công” 7 Luật Tự

do báo chí của Thuỵ Điển năm 1766 là đạo luật về báo chí lâu đời nhất trên thếgiới, trong đó lần đầu tiên quy định về quyền tiếp cận thông tin Sau này, quyềntiếp cận thông tin còn được quy định trong Luật về Tự do ngôn luận năm 1991của Thụy Điển Đây là hai đạo luật chủ đạo liên quan đến quyền tiếp cận thôngtin Ngoài ra, một số quy định liên quan đến vấn đề này còn được quy định tại

Bộ quy tắc điều hành Chính phủ năm 1974

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người,thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới

về quyền con người năm 1948, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị năm 1966, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng và nhiềuvăn bản pháp luật quốc tế khác

Quyền tiếp cận thông tin được hiểu là quyền được tiếp cận các thông tinđang được cơ quan nhà nước quản lý hoặc kiểm soát Quyền này bao gồm cácquyền: được xem các tác phẩm, tài liệu, hồ sơ; được ghi chép, trích dẫn, saochụp các tài liệu, hồ sơ đó; được thu thập thông tin dưới dạng các đĩa mềm, thẻnhớ, băng ghi âm, băng hình hoặc bất kỳ dạng thiết bị điện tử nào khác v.v 8

(ii) Khái niệm “thông tin”: Nói chung quyền thông tin chỉ áp dụng đối với

các thông tin “được ghi và lưu trữ lại” Ở New Zealand, quyền thông tin đượcgiải thích bao gồm tất cả các thông tin mà các cơ quan nhà nước biết đến, kể cảthông tin chưa được ghi và lưu trữ lại thì sẽ phải ghi và lưu trữ lại nếu như cóyêu cầu về thông tin đó Ở Đan Mạch, các cơ quan tiếp nhận thông tin quantrọng bằng lời nói có liên quan đến một quyết định do một cơ quan khác chuyểnđến có nghĩa vụ phải ghi lại các thông tin này

Cùng với thời gian và sự phát triển của thông tin, chính khái niệm “thôngtin” cũng không còn là một thứ “bất biến” và phạm vi của quyền thông tin cũngngày càng mở rộng hơn Đây là một quyền có giới hạn và việc giới hạn quyềnthông tin như thế nào cũng là vấn đề rất phức tạp trong pháp luật quốc tế vàcàng trở nên phức tạp hơn trong pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật của mỗiquốc gia

Điều quan trọng là cần phải xác định rõ nội hàm của quyền này là gì và ai

có nghĩa vụ trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin Nếu nhưtrước đây, việc tiếp cận thông tin chủ yếu là các “tài liệu hành chính công” thìngày nay, phạm vi thông tin có thể tiếp cận đã mở rộng hơn rất nhiều và do đó,không cơ quan nhà nước nào có thông tin có quyền né tránh nghĩa vụ cung cấp

7 Hội Luật gia Việt Nam, Nghiên cứu về Luật Tiếp cận thông tin của Bắc Âu, Tài liệu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội ngày 06 – 07/5/2009, trang 26.

8 Xem, Mendel (2008)

Trang 31

Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia sử dụng rất nhiều các thuật ngữkhác nhau để mô tả các thông tin mà cá nhân có quyền tiếp cận Các đạo luậttiếp cận thông tin được ban hành trước đây thường quy định về quyền tiếp cận

hồ sơ tài liệu, tài liệu chính thức, tài liệu hành chính hoặc tài liệu nói chung,trong khi các đạo luật về tiếp cận thông tin mới được ban hành sau này thìthường quy định về quyền thông tin

Khi đề cập đến quyền thông tin như vậy, khái niệm về “thông tin” đượchiểu rộng hơn các “tài liệu hành chính” hoặc “tài liệu chính thức”, ví dụ như tàiliệu chính thức thì sẽ không bao gồm “tin tức”10 Một số quốc gia như là ThụyĐiển, thuật ngữ “tài liệu chính thức” không bao gồm các tài liệu đang trong quátrình chuẩn bị hoặc các dự thảo không được sử dụng trong quá trình ra quyếtđịnh cuối cùng, do vậy đã thu hẹp khá nhiều phạm vi thông tin thuộc đối tượngđiều chỉnh Nói chung quyền thông tin chỉ áp dụng đối với các thông tin đượcghi và lưu trữ lại Điều có thể tạo ra một khoảng trống đối với các thông tinđược chuyển tải bằng lời nói (như một cuộc họp) mà đã được sử dụng trong quátrình ra quyết định

Trên thực tế, không có nhiều sự khác biệt bởi vì hiện nay hầu hết các đạoluật đã định nghĩa quyền tiếp cận thông tin theo nghĩa rộng nhằm bao hàm tất cảcác loại thông tin mà không phụ thuộc vào hình thức chứa đựng các thông tin đó.Theo Luật tự do thông tin của Hoa Kỳ, bất kỳ thông tin nào được cung cấp theoyêu cầu và xét thấy rằng thông tin đó có thể phải cung cấp theo yêu cầu của mộthay nhiều người khác nữa thì thông tin đó phải có sẵn dưới dạng điện tử và đượcghi vào danh mục hồ sơ lưu trữ Quy định này cho phép hình thành cơ chế

“chuẩn bị sẵn sàng” nhằm bảo đảm các thông tin quan trọng dần dần sẽ trởthành thông tin có sẵn Nhiều nước quy định rõ trong luật yêu cầu công khai tất

cả các thông tin được biết đến Luật một số nước còn mở rộng phạm vi thông tin

9 Đào Trí Úc, Tổng quan về Luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới, tài liệu Hội thảo “Luật tiếp cận thông tin – kinh nghiệm một số

nước trên thế giới”, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, 12/7/2009.

10 Mendel (2008)

Trang 32

ra và thông tin được coi là thuộc quyền chiếm hữu của một cơ quan nào đó khithông tin ở trong tầm kiểm soát hoặc chiếm hữu của cơ quan đó Quy định nàybao hàm tất cả các thông tin dưới mọi định dạng do cơ quan nhà nước hoặc tưnhân nắm giữ đã tạo cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc công khai hoá tối đa.

Luật tiếp cận thông tin của nhiều nước có quy định khuyến khích việc tiếpcận thông tin chủ động hoặc công bố thông tin đều đặn Thông thường, các luậtnày quy định một danh sách các loại thông tin/tài liệu phải công bố, ví dụ nhưcác thông tin về hoạt động điều hành, về các dịch vụ mà các cơ quan công quyềncung cấp và về cách thức yêu cầu cung cấp thông tin Danh sách cụ thể cácthông tin cần được công bố tùy thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của từng nước.Những văn bản thuộc diện phải công bố chủ động sẽ thuộc diện ngoại lệ khôngphải cung cấp theo yêu cầu12

Như vậy, có thể nói rằng, cùng với thời gian, các quan niệm xung quanh

quyền tiếp cận thông tin ít nhiều đã có sự thay đổi theo xu hướng ngày càng ghinhận và bảo đảm hơn đối với quyền thông tin Cùng với sự ghi nhận đó thì nghĩa

vụ của các cơ quan công quyền của các quốc gia cũng tăng lên trong việc bảođảm thực hiện quyền này, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên của các côngước, điều ước quốc tế cũng bị ràng buộc nhiều hơn

(iii) Giới hạn phạm vi của quyền tiếp cận thông tin và nguyên tắc “hạn

chế các quy định về miễn trừ cung cấp thông tin, hạn chế danh mục mật”

Quyền thông tin là một quyền có giới hạn ngay cả khi được gọi là "tự do

thông tin" Tự do thông tin không có nghĩa là được tự do tiếp cận tất cả các tintức của nhà nước đang nắm giữ hoặc được tự do tìm kiếm, tiếp cận tất cả cácloại hồ sơ, tài liệu lưu giữ thông tin Điều 19 khoản 3 Công ước quốc tế về cácquyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: Việc thực hiện những quyền quyđịnh tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Do

đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế

này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: i) Tôn trọng các

11 Luật số 2 năm 2000 về thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi, Luật số 572 năm 1985 của Đan Mạch về tiếp cận các tài liệu hành chính công.

12 Mendel (2008)

Trang 33

quyền hoặc uy tín của người khác; ii) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.

Theo nội dung quy định trên, những giới hạn của quyền thông tin phải

được “pháp luật cho phép hay quy định trước13 Điều đó có nghĩa là việc giớihạn thực hiện quyền này phải được quy định cụ thể trong pháp luật của quốc gia.Mỗi nước cần xác định rõ những loại thông tin nào là thông tin cần phải đượccông khai và những loại thông tin nào cần phải được bảo mật Nguyên tắc chung

là không cần thiết phải giữ kín nếu như việc tiết lộ các loại thông tin đó khônggây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, sức khỏe, đạo đức của công chúng;không phương hại tới quyền hoặc uy tín của người khác14

Công ước về quyền trẻ em cũng đề cập tới nội dung và giới hạn của quyềnthông tin Theo khoản 1 Điều 13 Công ước “Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ýkiến; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả cácloại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực, bằng lời nói, văn bản viết tay hoặc bản

in, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác

mà tất cả trẻ em lựa chọn” Khoản 2 Điều 13 Công ước về quyền trẻ em quyđịnh: “việc thực hiện quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,nhưng những hạn chế này phải được quy định bằng pháp luật là cần thiết để

“tôn trọng các quyền và danh dự của người khác hoặc để bảo vệ an ninh quốcgia, trật tự công cộng, đạo đức và sức khỏe cộng đồng” Tuy nhiên, vấn đề là các

quốc gia quan niệm như thế nào về các khái niệm “an ninh quốc gia”, “ trật tự công cộng (“public order” hay “ordre public”) để bảo đảm không quá giới

hạn/thu hẹp quyền này

Bảo đảm quyền thông tin không loại trừ việc hạn chế cung cấp thông tintrong một số trường hợp đặc biệt Một số luận điểm thường được các quốc giaviện dẫn nhằm giải thích cho việc hạn chế cung cấp thông tin, đó là để bảo đảm

an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định của nhà nước, chế độ văn hóa,

xã hội Cụ thể hơn, việc hạn chế thông tin có thể được áp dụng trong các trườnghợp sau: nếu việc cung cấp thông tin sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính bí mậtcủa quá trình tố tụng, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ quốc tế, đến quốc phòng

và an ninh công cộng, đến việc thực thi công lý, đến quá trình xét xử và điều tra,đến bí mật thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, ảnh hưởng đến các thông tin cánhân v.v…

Tuy nhiên, những trường hợp hạn chế cung cấp thông tin phải được coinhư những ngoại lệ và các ngoại lệ này không nên được mở rộng Khi đứngtrước khả năng hạn chế cung cấp thông tin, các cơ quan Chính phủ cần thiết phải

13 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nhà xuất bản chính trị

quốc gia, Hà Nội 1998, tr 187.

14 Xem Banisar (2006), trang.23.

Trang 34

xem xét đến lợi ích công cộng trong việc công bố thông tin Luật mẫu về tự dothông tin của Liên Hợp Quốc thiết kế một số điều khoản về quy định cấm hoặchạn chế cung cấp thông tin Nhưng không dừng ở đó, còn có quy định ngoại lệ,

có nghĩa là có quy định cho phép cung cấp thông tin thuộc danh mục khôngđược cung cấp hay hạn chế cung cấp Người được yêu cầu không thể từ chốicung cấp thông tin, trừ khi lợi ích cần được bảo vệ lớn hơn lợi ích công khaithông tin Cơ quan được yêu cầu cũng không thể từ chối cung cấp thông tin vì lý

do thông tin đó đã được đăng tải rộng rãi Cơ quan, tổ chức có thể từ chối thôngbáo có nắm giữ hồ sơ hay không, hoặc từ chối tiết lộ thông tin nếu đó là thôngtin mật trong quá trình tố tụng, trừ khi người có quyền đặc miễn khước từ quyềnnày

Danh mục thông tin hạn chế cung cấp hoặc từ chối không cung cấp đượcquy định tuỳ theo pháp luật từng quốc gia Tuy nhiên, phạm vi hoặc danh mụcthông tin “mật” không công bố nói trên về nguyên tắc càng ít càng tốt Bên cạnh

đó, danh mục này cần được luật hóa một cách minh bạch trong luật về tiếp cậnthông tin hoặc trong một số luật liên quan khác Cơ quan công quyền chỉ được

từ chối không cung cấp thông tin nếu thông tin đó nằm trong danh mục này.Việc đưa vào danh mục thông tin nào được coi là miễn trừ, không cung cấp luôncần được xem xét trên cơ sở cân bằng giữa lý do không cung cấp và quyền lợichung của công chúng

Theo Nguyên tắc thứ 4 của Bộ Nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, một sốthông tin thuộc loại sau đây có thể được đưa vào danh mục miễn trừ: thông tinliên quan đến an ninh quốc gia, quốc phòng và quan hệ quốc tế; thông tin vềviệc phòng ngừa, điều tra và khởi tố hành vi phạm tội và hình sự; thông tin về bímật thương mại, lợi ích kinh tế; liên quan đến chính sách kinh tế, tiền tệ, tỷ giá

và những thông tin mà việc miễn trừ, không cung cấp chính là để đảm bảo sự antoàn của công chúng

Nguyên tắc này có quan hệ logic với nguyên tắc cung cấp một cách tối đa.Trước hết, các trường hợp miễn trừ phải được quy định rõ ràng và ở phạm vihẹp như có thể, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của quốc gia Luật Tiếp cậnthông tin các nước quy định các điều kiện từ chối hay hạn chế cung cấp thôngtin khá cụ thể Ví dụ: luật của Mêhicô quy định những trường hợp ngoại lệ củatiếp cận thông tin, đó là các thông tin: - gây tổn hại cho an ninh quốc gia, quốcphòng; - gây tổn hại cho các cuộc đàm phán đang được tiến hành hay các quan

hệ quốc tế; - gây tổn hại cho sự ổn định kinh tế hay tài chính của quốc gia; - tạorủi ro cho tính mạng, an ninh hay sức khoẻ của cá nhân; - gây tổn hại đến việcthực thi pháp luật, phòng ngừa, truy cứu tội phạm, thực thi công lý, thu thuế haykiểm soát việc nhập cư; - gây tổn hại nghiêm trọng hiệu quả hoạch định hoặcthực hiện chính sách, hiệu quả quy trình kiểm tra, kiểm toán do cơ quan nhànước thực hiện Luật Tiếp cận thông tin của Canada quy định khả năng từ chối

Trang 35

cung cấp thông tin của người đứng đầu cơ quan Chính phủ : thông tin mà nếutiết lộ sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Chính phủ, đến việc thực hiện côngviệc quốc tế, phòng vệ của Canada; tài liệu có chứa đựng thông tin mà việc tiết

lộ có thể làm nguy hại đến an ninh cá nhân… Luật của Hàn Quốc quy định

“thông tin không công khai” như thông tin chứa bí mật hoặc được luật khác quyđịnh không công khai; thông tin nếu tiết lộ sẽ gây nguy hại lớn đến quyền lợiquốc gia như an ninh quốc gia, quốc phòng, sự thống nhất hoặc quan hệ ngoạigiao…

Về thực tiễn áp dụng, việc không cung cấp thông tin phải được lập luậnthông qua minh chứng rằng thông tin đó thuộc danh mục hạn chế cung cấp Nhưvậy, sẽ tránh được sự tuỳ tiện của cán bộ, công chức nhà nước, đặc biệt là cán

bộ phụ trách về thông tin Việc từ chối phải đáp ứng sự kiểm chứng về nguy cơthiệt hại lớn và phải xuất phát từ lợi ích chung Cũng có những nước quy địnhmiễn trừ thông tin đang trong quá trình thảo luận, chưa có quyết định chính thức

về chính sách của các cơ quan công quyền Tuy nhiên, về việc quy định miễn trừloại thông tin này hiện nay cũng còn có nhiều tranh cãi

II Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

Rà soát quy định của pháp luật hiện hành về thông tin được tiếp cận và hạn chế tiếp cận, mới chỉ có một số lĩnh vực quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, cụ thể:

- Thông tin được công bố công khai:

Cụ thể hoá quy định tại Điều 69 Hiến pháp về bảo đảm quyền được thôngtin của công dân, nhằm phát huy dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quychế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn15, trong đó quy định những việcchính quyền địa phương phải có trách nhiệm thông tin và công khai để dân biếtnhững công việc ở địa phương Tiếp đó, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều luật

có nội dung liên quan đến công khai thông tin trong từng lĩnh vực, như: LuậtNgân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Nhà ở, LuậtThực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước,Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Đê điều, Luật Quản lý thuế, Luật Hóa chất, LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Bảo vệ vàphát triển rừng, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, LuậtChứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng, LuậtĐất đai, Luật Đấu thầu, Luật Hoạt động chữ thập đỏ, Luật Đặc xá, Luật Chấtlượng, sản phẩm hàng hóa, Luật Thi hành án dân sự, Luật Phòng chống bệnhtruyền nhiễm, Theo các luật này thì nội dung, phạm vi thông tin mà cơ quan

15 ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998, được sửa đổi năm 2003

Trang 36

đó có trách nhiệm phải công khai cho công chúng biết, nhất là trong lĩnh vựchoạt động sản xuất kinh doanh16.

Bên cạnh quy định về công khai thông tin đối với các lĩnh vực cụ thể, một

số luật cũng quy định về việc tiếp cận đối với các thông tin nói chung mà không

bó hẹp trong các lĩnh vực chuyên ngành như: Luật Báo chí, Luật PCTN, LuậtCông nghệ thông tin, Pháp lệnh DCCS, Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật…

Các quy định của pháp luật chưa quy định rõ loại thông tin nào có thểđược cung cấp hoặc cần phải công bố, công khai17 Mặc dù pháp luật đã có một

số quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải công khai, minh bạch cácvăn bản, tài liệu thuộc các lĩnh vực khác nhau pháp luật cũng có quy định vềcông khai một số thông tin quan trọng mà Nhà nước phải chủ động công khairộng rãi cho số đông dân chúng biết, tuy nhiên còn một mảng lớn thông tin quantrọng mà người dân chưa được tạo cơ hội tiếp cận, mảng thông tin này không bắtbuộc phải công khai rộng rãi nhưng cần phải cung cấp khi người dân có yêucầu18

- Thông tin cung cấp theo yêu cầu:

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và bảo đảm sự thống nhất với các quyđịnh của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên19, nhiều văn bản đãquy định về thông tin cung cấp theo yêu cầu, yêu cầu cung cấp thông tin để bảođảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan đó20như các thôngtin về môi trường, quy hoạch xây dựng, đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toànthực phẩm, về tiêu chí, ngân sách, thể hiện trong các Luật PCTN năm 2005,Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Cư trú năm 2006, Luật Sửa đổi, bổsung Luật Báo chí, Luật Điện lực năm 2004, Luật Kinh doanh bất động sản năm

2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Năng lượngnguyên tử năm 2008, Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Tuy nhiên, hầu hết

các văn bản hiện hành liên quan đến việc cung cấp thông tin không quy định rõphạm vi thông tin được tiếp cận, do vậy, các quy định này rất khó thực hiệntrong thực tế, các cơ quan nhà nước cũng không biết mình có được cung cấp

16 LuậtBảo vệ môi trường 2005,

17 Báo cáo tổng hợp của Bộ Tư pháp năm 2010 về tình hình tiếp cận thông tin của các bộ, ngành, địa phương

18 Nguyễn Thị Kim Thoa, Nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin một số nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp, Văn phòng Quốc hội, 2009.

19 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

20 Luật Phòng chống tham nhũng là văn bản có quy định các thông tin được tiếp cận ở mức độ rộng nhất nhưng cũng chỉ liên quan đến các thông tin về tham nhũng.

Trang 37

thông tin đó theo yêu cầu của người dân hay không và cơ sở pháp lý nào để cungcấp thông tin cho người dân Bên cạnh đó, các thông tin mà người dân, cơ quan,

tổ chức có nhu cầu biết, tìm hiểu thì rất rộng, ở tất cả các lĩnh vực nhưng phạm

vi thông tin, đối tượng đề nghị cung cấp thông tin đều còn hẹp và chưa bao quáttới các loại thông tin trên tất cả các lĩnh vực Còn nhiều thông tin quan trọng màngười dân chưa được tạo cơ hội tiếp cận, những thông tin này không bắt buộcphải công khai rộng rãi nhưng cũng không cần hạn chế tiếp cận khi cá nhân, tổchức có nhu cầu Do đó, việc cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước vẫnmang tính chắp vá, chưa đồng bộ21

Hoặc theo quy định của một số luật thì cơ quan, tổ chức chỉ có tráchnhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu cho các cơ quan nhà nước có liên quan

mà không phải cung cấp thông tin theo yêu cầu cho người dân22 hoặc Luật chỉquy định về việc công bố công khai rộng rãi mà không quy định có loại thôngtin được cung cấp theo yêu cầu23 nhưng thông tư hướng dẫn thi hành lại quyđịnh về công bố thông tin theo yêu cầu tuy nhiên cũng chưa rõ về loại thông tincông bố theo yêu cầu24

- Thông tin hạn chế tiếp cận:

Song song với việc ghi nhận các quyền được tiếp cận thông tin của côngdân, Hiến pháp năm 1992 cũng như Hiến pháp 2013 quy định những nghĩa vụcủa công dân như phải trung thành với tổ quốc (Điều 76 Hiến pháp 1992), bảo

vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân (Điều 77Hiến pháp 1992), công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của nhà nước

và lợi ích công cộng (Điều 78 Hiến pháp 1992), công dân có nghĩa vụ tuân theoHiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,giữ bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 79Hiến pháp 1992) Như vậy, công dân được đảm bảo thực hiện các quyền trên cơ

sở tôn trọng và thực hiện các nghĩa vụ

Một số văn bản pháp luật chuyên ngành khi đưa ra danh mục các thôngtin mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm công bố, kèm theo đó quy định nguyêntắc chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức phải công khai hoạt động củamình, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước25

21 Ý kiến của Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Nội vụ, Xem, Báo cáo tổng hợp của Bộ Tư pháp về tình hình thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin của các bộ, ngành, 2009

22Luật bảo vệ môi trường 2005,…

23 Khoản 4 Điều 100 Luật chứng khoán quy định việc công bố thông tin được thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng, ấn phẩm của tổ chức, công ty và các phương tiện thông tin của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán ,

24 Điều 20 Thông tư 52/2012/tt-btc Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

25 Điều 11 Luật PCTN quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc

bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ Luật Bảo vệ môi trường cũng quy định công khai thông tin, dữ liệu về môi trường, trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, phải được công khai Điểm a khoản 3 Điều 5 Quy chế người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí quy định người phát

Trang 38

Ngoài những thông tin thuộc lĩnh vực không được phép công khai, Pháplệnh BVBMNN liệt kê danh mục các loạt thông tin được bảo vệ theo chế độ bảomật với ba cấp độ (Mật, Tối mật và Tuyệt mật) Tuy nhiên, phạm vi thông tin bímật nhà nước là còn chung chung, trừu tượng, rất khó xác định, không rõ ràngranh giới giữa “thông tin mật” và thông tin có thể công khai27 Nếu giữ nguyênquy định về bí mật nhà nước như Pháp lệnh BVBMNN sẽ có sự hạn chế rất lớnquyền tiếp cận thông tin của công dân đồng thời cũng gây khó khăn cho các cán

bộ, công chức thừa hành trong việc phân loại, sắp xếp để bảo vệ thông tin mật

và cung cấp thông tin không thuộc loại mật Pháp luật hiện hành còn quy địnhmột số danh mục mật cũng có thể sẽ không được công bố Do đó, người dân vàthậm chí cán bộ, công chức sẽ không thể biết vấn đề nào/nội dung nào là mậthay không mật, và nội dung thông tin đó có cần thiết đến mức phải bảo vệ theochế độ mật hay không Điều này còn dẫn đến sự tùy tiện của các cơ quan côngquyền trong việc công khai hay không công khai thông tin

Một số luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để tổchức, cá nhân, xã hội thực hiện nhưng có một số văn bản này vẫn được xác định

là “mật”, ví dụ như Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, các nghị định quy định chứcnăng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, nghị địnhquy định hợp tác quốc tế về mật mã, nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnhvực mật mã,

Pháp luật hiện hành chưa xác định và phân loại cụ thể, thống nhất theotiêu chí nhất định các thông tin mà Nhà nước cần chủ động công khai hoặcngười dân có thể tiếp cận theo yêu cầu Hầu hết các quy định mới chỉ xác định

ngôn có quyền từ chối, không phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trong trường hợp vấn đề thuộc bí mật nhà nước,

26 Điểm b, c khoản Khoản 3 Điều 5 Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg hoặc khoản 4 Điều 2 Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ban hành Quy chế người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.

27 Điều 5 và Điều 6 tuy đã liệt kê, phân loại thông tin song vẫn chưa rõ ràng, do đó, rất nhiều thông tin thuộc diện bí mật nhà nước nếu Nhà nước "chưa công bố hoặc không công bố", trong đó có cả "công trình khoa học, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết nghề nghiệp đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ mà Nhà nước chưa côngbố" (khoản 5 Điều 6).

Trang 39

Đối với thông tin thuộc bí mật đời tư, khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm

2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bímật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luậtbảo đảm an toàn” Để thực thi quy định của Hiến pháp về bảo vệ bí mật cá nhân,

bí mật gia đình của công dân cần phải dựa vào các quy định ở các luật chuyênngành

Hệ thống pháp luật hiện hành hiện nay mới có Bộ luật dân sự năm 2005quy định về nguyên tắc “Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cánhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất nănglực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con

đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập,công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.”Ngoài ra, các quy định về bảo vệ bí mật cá nhân có rải rác trong một số văn bảnquy phạm pháp luật trên một số lĩnh vực (như trong lĩnh vực tố tụng (bảo đảmquyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tíncủa công dân, quyền được xét xử kín theo yêu cầu chính đáng của công dânnhằm bảo đảm bí mật của đương sự, quyền yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ,bút tích của người tố cáo, ), trong lĩnh vực tín dụng (bảo đảm thông tin củakhách hàng trong lĩnh vực tín dụng), lĩnh vực báo chí (báo chí không được đưatin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh

dự, nhân phẩm của công dân)),… mà chưa có một đạo luật riêng tạo khuôn khổpháp lý chung để quy định các nội dung cơ bản bảo vệ bí mật cá nhân của cánhân, trong thời gian tới cần phải nghiên cứu, ban hành luật này nhằm đảm bảoquyền của công dân, bảo đảm sự đầy đủ của hệ thống pháp luật

Tóm lại: Như vậy, mặc dù không ít văn bản luật quy định về công khai

thông tin trong một số lĩnh vực khác nhau, song pháp luật Việt Nam chưa quyđịnh cụ thể loại thông tin nào cần phải công bố, công khai; chưa xác định rõ loạithông tin nào có thể tiếp cận, loại thông tin nào cần hạn chế tiếp cận cũng như ai

có trách nhiệm cung cấp; trách nhiệm công bố, công khai thông tin và trình tự,thủ tục công bố, cung cấp thông tin như thế nào; pháp luật cũng chưa có cơ chếbảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin

28 Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật phòng chống tham nhũng giao cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nhiệm vụ tổ chức

và trực tiếp thực hiện công bố thông tin, nhưng chỉ quy định cho những thông tin được quy định phải công khai theo Luật này.

Trang 40

Qua nghiên cứu pháp luật và thực tiễn Việt Nam về việc bảo đảm quyềnthông tin trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn, nguyên tắc của pháp luật quốc tếcho thấy Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật nhằm bảođảm cho việc thực hiện quyền này Trước hết, để tạo thuận lợi cho tổ chức, cánhân được tiếp cận thông tin (đặc biệt các thông tin liên quan thiết thực đến đờisống sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của cộng đồng, các thông tin liên quan đếnsức khoẻ, y tế, khám chữa bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường, đất đai,giao thông, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, môi trường ) và để bảo đảm thực hiệnquyền tiếp cận thông tin theo quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 thì cầnphải ban hành đạo luật riêng về tiếp cận thông tin Sau đó, các đạo luật chuyênngành trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện cần bám sát tinh thần của Luật để bảođảm tạo điều kiện thuận lợi cao nhất cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tincủa công dân

III Quy định thông tin được tiếp cận, hạn chế tiếp cận trong Dự thảo Luật tiếp cận thông tin

Dự thảo Luật tiếp cận thông tin dự kiến quy định như sau, đề nghị các Quý vị đại biểu bình luận và cho ý kiến:

- Khái niệm thông tin được tiếp cận là tin tức, dữ liệu có sẵn trong hồ sơ,

tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của mình và đang được các cơ quan này nắm giữ Tiếp cận thông tin là đọc,

xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ, tài liệu Cungcấp thông tin là việc cơ quan nhà nước chủ động công bố thông tin, cung cấpthông tin theo yêu cầu

- Thông tin được tiếp cận:

+ Cơ quan nhà nước phải chủ động công bố các thông tin sau đây: Thôngtin mà các văn bản quy phạm pháp luật quy định phải được công bố, công khai;Thủ tục hành chính và quy trình giải quyết công việc thuộc thủ tục hành chínhcủa cơ quan; Các loại thông tin khác, nếu thấy việc công bố là cần thiết nhằmbảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, lợi íchcộng đồng

Trong các thông tin được cơ quan nhà nước chủ động công bố, các thôngtin sau đây phải được công bố trên trang thông tin điện tử: Văn bản quy phạmpháp luật; văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung do cơ quan ban hành;Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có giá trị áp dụng chung mà Việt Nam là

thành viên; Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được công bố theo quy định

của pháp luật; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, sơ đồ tổ chứccủa cơ quan và đơn vị trực thuộc; thủ tục hành chính và quy trình giải quyếtcông việc của cơ quan; nội quy, quy chế do cơ quan ban hành; địa chỉ, số điệnthoại, số fax, địa chỉ thư điện tử để liên hệ yêu cầu cung cấp thông tin; Chương

Ngày đăng: 21/03/2020, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w