1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PP GIẢNG BÌNH TRONG môn NGỮ văn

11 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 136,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguyên tắc khi áp dụng giảng bình: - Để bình văn thơ phải là người am hiểu, cảm nhận sâu sắc tác phẩm thơ văn; phải là người có vốn kiến thức văn học để có những so sánh, đối chiếu,

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ:

SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG BÌNH

TRONG DẠY PHẦN VĂN BẢN

MÔN: NGỮ VĂN

A Đặt vấn đề:

Giảng bình vốn là một phương pháp dạy học truyền thống nhưng nó không lỗi thời so với xu thế hiện nay Trong giờ đọc hiểu văn bản nếu thiếu đi những lời giảng giải sâu sắc, những lời bình đắt giá thì chưa thể nói là giờ dạy thành công Nó cũng chưa thể tạo hứng thú với học sinh trong những giờ dạy như thế Để có được những giờ dạy thành công, giáo viên cần vận dụng hiệu quả các phương pháp trong giờ đọc hiểu văn bản nhất là phương pháp giảng bình

B Giải quyết vấn đề:

I Vai trò, vị trí của phương pháp giảng bình trong giờ đọc hiểu văn bản:

Giảng bình là 1 công việc khá quen thuộc của giáo viên trong giờ học văn Giáo viên biết bình và bình giỏi thì đều tạo được niềm đam mê, sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Nó sẽ tạo nên một giờ học thành công Nó là phương pháp đặc thù của cảm nhận và phân tích chiếm lĩnh tác phẩm

II Các nguyên tắc khi áp dụng giảng bình:

- Để bình văn thơ phải là người am hiểu, cảm nhận sâu sắc tác phẩm thơ văn; phải là người có vốn kiến thức văn học để có những so sánh, đối chiếu, liên hệ, đánh giá Người bình văn thơ có thể còn nhớ được những ý kiến, những lời đánh giá sắc sảo của các nhà phê bình văn học có uy tín, những câu nói của các triết gia để vận dụng

- Cần chú ý đến mức độ bình tác phẩm văn học bao giờ cũng làm cơ sở cho mọi lời bình Phạm vi bình cho một tác phẩm lại rất rộng, có khi là đề tài, chủ đề, kết cấu, chi tiết, hình ảnh… Song điều quan trọng nhất vẫn là làm sao tạo dần cho học sinh từng bước hiểu và cảm sâu sắc tác phẩm, nghĩa là học sinh đồng sáng tạo với nhà văn để chuyển tải được nỗi lòng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm Muốn có 1 lời bình sâu, gọn thì giáo viên nhất định phải nghiên cứu, ngẫm nghĩ, trăn trở rất nhiều Chính những lời bình sâu và gọn làm cho giờ giảng trên lớp tiết kiệm được thời gian và lắng đọng, khêu gợi được sức suy tưởng của học sinh Nhưng nếu lời bình quá dông dài, sáo rỗng

sẽ dẫn đến cháy giáo án, hiệu quả giờ học không cao

- Khi bình cần tế nhị, người bình được phép bày tỏ bộc lộ những suy nghĩ của mình về nội dung cũng như về nghệ thuật của tác phẩm Nhưng không nên khen, chê một cách thái quá

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng và bình Nhờ bình mà lời giảng thêm sâu, nhưng bình phải dựa trên giảng Giáo viên cần giúp học sinh từ chỗ hiểu để cảm sâu tác phẩm có khi giáo viên phải dùng 1 lượng thời gian để giảng giải, cắt nghĩa để học sinh hiểu các từ, ngữ, các điển cố, điển tích có trong tác phẩm, sau đó mới đi vào bình để

Trang 2

khắc sâu nội dung cho học sinh Hoặc có khi giảng bình đi song song vừa giảng vừa bình

Ví dụ khi bình hai câu thơ: “Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Giáo viên có thể nói: Hai câu thơ như vẽ ra trước mắt người đọc một bức họa bằng ngôn từ và cảnh sắc mùa xuân tươi đẹp tràn đầy sức sống Vẫn là sắc xanh làm nền bức tranh xuân phải là sắc xanh của cỏ non Tính từ

“non” thật giàu sức gợi, nó không chỉ gợi ra màu sắc mà còn gợi nên sức sống của cỏ

đang ở độ non tơ nhất Câu thơ với vần bằng êm ả, hình ảnh cỏ xuân như đang kết dệt nên tấm thảm xanh mềm mại trải mênh mông vô tận khắp không gian Trên nền xanh

ấy, nhà thơ tiếp tục điểm xuyết thêm màu trắng tinh khiết của những bông hoa lê nở lác đác đang tỏa hương thơm ngát

III Một số cách thức giảng bình :

1 Lời bình có khi bắt đầu là một lời tâm sự, 1 câu chuyện tưởng là chủ quan nhưng chúng lại có sức khêu gợi rất sâu xa

Ví dụ : Khi bình hai câu thơ: “Sống trong cát chết vùi trong cát / Những trái tim như ngọc sáng ngời” (Mẹ Tơm – Tố Hữu) Nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết: Khi đọc đến câu: “Sống trong cát chết vùi trong cát”, tôi tưởng tượng như nghe hai câu nói ghê người của kinh thánh đạo Ga tô: “Thân cát bụi trở về cát bụi” – một câu nói đè

nặng lên đời sống của tôi trong những năm dài thê thảm Tôi có cảm giác lại như sắp rơi vào vực thẳm của những tư tưởng chán chường , tuyệt vọng Tôi không ngờ tiếp đó là

câu: “Những trái tim như ngọc sáng ngời” Bàn tay rất khỏe của nhà thơ đã giữ tôi cùng

đứng lại với anh trên miệng vực Thiếu nhiệt tình, thiếu lạc quan cách mạng không thể đứng vững như thế này ở nơi biên giới giữa thiên đường và địa ngục

2 Lời bình có khi bắt đầu từ 1 lời bình trong tác phẩm

Ví dụ: Nhà văn Thạch Lam cho rằng: “đoạn trích “Trong lòng mẹ” trong hồi kí thể hiện những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” Đúng thế, cảm giác sung

sướng đến cực điểm của 1 đứa con khi được ở trong lòng mẹ đã được nhà văn Nguyên Hồng diễn tả bằng cảm hứng say mê cùng những rung động vô cùng tinh tế Chú say sưa ngắm nhìn gương mặt người mẹ tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má Chú sung sướng được ở trong lòng mẹ, đùi áp đùi mẹ, đầu ngả vào cánh tay mẹ để thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt Có thể nói thông qua những lời văn của Nguyên Hồng, người đọc đã cảm nhận sâu sắc niềm khao khát tình mẹ đến cháy bỏng niềm hạnh phúc vốn vô hình hiện ra bằng những cảm giác thật cụ thể của các giác quan Bao bọc quanh bé Hồng lúc này là 1 bầu không khí êm ái và ấm áp của tình mẫu tử, là không gian tràn trề ánh sáng, màu sắc và ngào ngạt hương thơm

3 Bình bằng một hồi ức:

Giáo viên có thể kể cho học sinh nghe những kỷ niệm, những xúc động của chính bản thân mình khi được đọc tác phẩm đó

Trang 3

Ví dụ giảng bình bài : “Cảnh khuya”, giáo viên có thể kể: Cô còn nhớ mãi cái sung sướng của cô, lần đầu tiên được nghe hai câu thơ: “ Tiếng suối trong như tiếng hát

xa, Trăng lông cổ thụ bóng lồng hoa” Sung sướng vì được nghe lại những câu thơ hay,

nhưng sung sướng hơn nữa vì những câu thơ hay ấy lại là của Bác Cô đã đọc rất nhiều vần thơ về thiên nhiên từ ánh trăng thương nhớ của Nguyễn Du, cảnh ao thu trong veo của Nguyễn Khuyến, đến con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư, cánh cò phân vân

của Xuân Diệu, ánh trăng ngẩn ngơ buồn của Huy Cận Nhưng đọc bài thơ “Cảnh khuya” của Bác thấy thơ Bác, thơ của một người chiến sĩ cách mạng, sao thấy thiên

nhiên thơ mộng quá, yêu kiều quá Kỷ niệm đó đối với tôi thật sâu sắc và mỗi lần đọc bài thơ này tôi thấy xúc đông bồi hồi trước tâm hồn nghệ sĩ rất đẹp đẽ của Người

Cách bình trên tạo cho học sinh sự hứng thú muốn tìm hiểu cái hay cái đẹp của tác phẩm Nhưng lời tâm sự, chuyện riêng tư phải có ý nghĩa tiêu biểu, tích cực

4 Bình bằng lời khen:

Giáo viên có thể khen trực tiếp về giá trị bài thơ, áng văn ấy

Ví dụ: Khi dạy “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật – Ngữ văn 9: Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy: Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung, kính vỡ

đi rồi Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các

chàng trai lái xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ

“không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung”, tác giả đã lí giải nguyên nhân không

có kính của những chiếc xe Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên

biến dạng “không có kính”, “không có đèn”,”không có mui xe”,”thùng xe có xước” Từ

đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua

5 Bình theo con đường đối chiếu, so sánh:

Giáo viên khi bình văn thơ phải có nhiều vốn liếng về sự hiểu biết rộng về các tác phẩm thơ văn để tạo cho lời bình của mình có sức nặng hơn Đọc nhiều, biết rộng giúp cho GV bình đối chiếu được dễ dàng mà sâu sắc

Ví dụ:

- Khi bình bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh, GV có thể nhắc đến chùm thơ thu của

Nguyễn Khuyến (Thu điếu, Thu Vịnh, Thu ẩm) để thấy được nét đặc sắc của bài thơ

- Khi bình “trăng” trong thơ Bác bài “Ngắm trăng”, “Cảnh khuya”, giáo viên so sánh “trăng” trong thơ Bác và “trăng” trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến để thấy

được vẻ đẹp độc đáo của vầng trăng trong thơ Người

Cách so sánh như vậy làm giá trị bài thơ thêm nổi bật

Phạm vi so sánh đối chiếu các bài văn thơ không chỉ hạn chế trong mối quan hệ những bài văn bài thơ, những câu văn, câu thơ tương đồng có khi liên hệ đối chiếu với thực tế cuộc sống hoặc tâm trạng cuộc đời của tác giả để làm lời bình câu thơ thêm tăng

Trang 4

sức thuyết phục Chẳng hạn khi bình câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu “Làm ơn há dễ trông nguời trả ơn” (Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Ngữ văn 9) ta đối chiếu ý

nghĩa câu thơ với cuộc đời thực, với tư tưởng nhân nghĩa của Đồ Chiểu thì lời bình càng có sức nặng đặc biệt làm cho người đọc tin tưởng ở tiếng nói của nhà phê bình

Hoặc, khi bình về số phận đau khổ, bất hạnh của bé Hồng trong đoạn trích:

“Trong lòng mẹ” – Ngữ văn 8, giáo viên có thể liên hệ tới những mảnh đời bất hạnh của một số nhân vật như cái Tý trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố - Ngữ văn 8, nhân vật cô bé

bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của An-đéc-xen - Ngữ văn 8, hay nhân vật Xi-mông trong truyện “Bố của Xi-Xi-mông” – Ngữ văn 9

Hay, khi bình hình ảnh chiếc lá trong “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri – Ngữ

văn 8, giáo viên nói đến tình yêu thương, đức hi sinh cao cả của bác Bơ-men Bác đã lấy chính sự sống của mình để thắp lên ngọn lửa sống đang sắp tắt của Giôn-xi Tình

yêu thương đã thổi bùng lên ngọn lửa của sự sống Nhưng trong “Cô bé bán diêm” của

An-đéc-xen, cô bé đã chết trong đói rét vì thiếu tình tthương

Cần nói thêm trong bình giảng đôi khi cần thiết cũng phải chê nhưng mỗi tác phẩm văn chương khi được chọn vào sách giáo khoa để giảng dạy thường đánh tin cậy,

có giá trị nên khi chê không nên làm tổn hại đến tình cảm của học sinh đối với tác giả

GV dạy văn khi bình giảng cần có thái độ trân trọng và tế nhị

IV Một số lưu ý với giáo viên khi vận dụng phương pháp giảng bình:

- Giáo viên phải thường xuyên rèn luyện năng lực bình, phải gương mẫu, chịu khó, mạnh dạn Trong một giờ giảng văn ít nhất phải có một lời bình dù ngắn hay dài Nhất thiết không được bỏ qua phương pháp này Bởi nếu lời bình hấp dẫn sẽ đem đến chất nhân văn, tạo không khí văn chương tránh khô khan, kích thích hứng thú học của học sinh và từ đó học sinh bắt chước tập bình văn thơ Sau mỗi giờ dạy giáo viên nên giới thiệu cho học sinh những lời bình hay của các nhà phê bình văn học để học sinh học tập cảm thụ

- Giáo viên phải dành một thời gian nhất định gợi ý, hướng dẫn học sinh bình bằng cách nêu bài tập để học sinh luyện tập về kiểu bình một chi tiết, bình từ hình ảnh

- Kết hợp với phân môn tập làm văn qua bài viết của học sinh để đánh giá khả năng bộc lộ ý kiến riêng của học sinh về một vấn đề trong tác phẩm

- Giáo viên nên biểu dương, khen ngợi những học sinh có lời bình hay để gây hứng thú cho học sinh bình

C Kết luận:

Việc vận dụng sáng tạo, mền dẻo phương pháp giảng bình trong dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là rất quan trọng và thiết thực Nó sẽ góp phần giúp các thầy, cô thắp lên niềm đam mê, yêu thích bộ môn Ngữ văn hơn Tuy nhiên, việc thực hiện hiệu quả đến đâu lại phụ thuộc vào sự sáng tạo của các thầy cô trong quá trình thiết

kế bài dạy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh và yêu cầu của từng bài

Trang 5

Trên đây là những định hướng trong việc rèn kỹ năng vận dụng phương pháp giảng bình trong giờ dạy văn Rất mong GV trong tổ góp ý bổ sung để có phương pháp giảng bình tốt nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy

TIẾT DẠY MINH HỌA

TUẦN 10 Ngày soạn: TIẾT 48, 49 Ngày dạy:

VĂN BẢN

ĐỒNG CHÍ

Chính Hữu

I MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:

- Cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng anh bộ đội được khắc họa trong bài thơ – những người đã viết nên những trang sử Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp

- Thấy được những đặc điểm nghệ thuật nổi bật được thể hiện qua bài thơ này

II TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:

1 Kiến thức:

- Một số hiểu biết về hiện thực những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta

- Lí tưởng cao đẹp và tình cảm keo sơn gắn bó làm nên sức mạnh tinh thần của những người chiến sĩ trong bài thơ

- Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: ngôn ngữ thơ bình dị, biểu cảm, hình ảnh tự nhiên, chân thực

2 Kĩ năng:

- Đọc diễn cảm một bài thơ hiện đại

- Bao quát toàn bộ tác phẩm, thấy được mạch cảm xúc trong bài thơ

- Tìm hiểu một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, từ đó thấy được giá trị nghệ thuật của chúng trong bài thơ

3 Thái độ:

- Giáo dục cho HS lòng yêu quý, kính phục các chiến sĩ cách mạng Giáo dục tinh thần vượt khó, đoàn kết và lòng yêu nước

- Cảm nhận những khó khăn vất vả và sáng tạo của bộ đội, công an và thanh niên

xung phong trong chiến tranh (Lồng ghép GDQP-AN).

4 Năng lực:

- Năng lực đọc hiểu văn bản

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực tự quản bản thân

- Năng lực tạo lập văn bản

III CHUẨN BỊ:

- Tranh minh họa về hình ảnh người lính

- Chân dunh tác giả, một số tư liệu về tác giả

Trang 6

- Tìm một số câu thơ, đoạn thơ nói về người lính trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp

IV TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY:

1 Ổn định lớp : KTSS HS (1 phút)

2 Kiểm tra bài cũ: (5 phút)

- Đọc thuộc lòng bài thơ “Lời cây mẹ”, qua bài em rút ra bài học gì cho bản thân?

- Kể lại truyện “Lời cây mẹ” và cho biết nội dung khuyên bảo từ câu chuyện

3 Bài mới : (56 phút)

* Giới thiệu bài:

? Ở văn bản “Chim non trong tổ”, em đã cảm nhận được tình cảm cao đẹp gì? Trong cuộc sống còn những tình cảm cao đẹp nào nữa? (GV liên hệ dẫn vào bài)

Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm hiểu chung

GV hướng dẫn HS tìm hiểu tác giả và tác phẩm

? Nêu những hiểu biết của em về tác giả Chính

Hữu và hoàn cảnh ra đời của bài thơ

GV hướng dẫn đọc bài thơ: Đọc chậm rãi, tình

cảm, chú ý những câu thơ cuối mỗi đoạn Đặc

biệt câu thơ “Đồng chí!” cần đọc với giọng

lắng sâu, ngẫm nghĩ Câu cuối “Đầu súng trăng

treo” đọc giọng ngân nga.

GV và HS đọc bài thơ

GV nhận xét, sửa cách đọc cho HS

GV hs tìm hiểu một số từ khó trong và ngoài

sgk

Năng lực giải quyết vấn đề: Nêu bố cục bài

thơ?

+Đoạn 1: Sáu dòng đầu :Sự lí giải về cơ sở

của tình đồng chí

+Đoạn 2: Biểu hiện của tình đồng đội đồng

chí

+ Đoạn 3: Bức tranh đẹp về tình đồng chí

(Biểu tượng về người lính)

? Em có suy nghĩ gì về mạch cảm xúc của toàn

bài thơ?

HS: Bài thơ tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức

mạnh của tình đồng đội, đồng chí Sáu câu đầu

là sự lí giải về cơ sở hình thành tình đồng đội,

đồng chí mười câu tiếp theo thể hiện tình đồng

chí và sức mạnh của nó Ba câu còn lại là biểu

tượng giàu chất thơ của người lính

? Nêu chủ đề của bài thơ

I.Tìm hiểu chung 1.Tác giả: (xem SGK/129) 2.Tác phẩm :

- Thể thơ: Tự do

- Xuất xứ: Trích trong tập thơ “Đầu súng trăng treo”

- Hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác năm

1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc (Thu đông 1947)

-Phương thức biểu đạt: Biểu cảm -Giải nghĩa từ khó: (xem sgk/129) -Bố cục: 3 đoạn:

- Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng

Trang 7

Hoạt động2: Hướng dẫn HS đọc-hiểu văn

bản

HS đọc đoạn đầu, nêu tiêu đề

Năng lực đọc hiểu văn bản: Theo em những

hình ảnh nào tác giả giới thiệu về nguồn gốc

xuất thân của các chiến sĩ? Qua đó ta hiểu được

gì về quê hương của các anh?

HS: Quê hương của các anh rất nghèo Họ là

những người ở những miền quê"nước mặn

đồng chua, đất cày lên sỏi đá" Là những người

có chung cảnh ngộ, đó là từ mọi miền quê

nghèo khó Đó là những cơ sở cùng chung giai

cấp xuất thân của những người lính cách mạng

Năng lực đọc hiểu văn bản:Theo em câu 3, 4

có ý nghĩa như thế nào?

HS: Vì các anh xuất thân từ nhiều miền quê

khác nhau nên họ là những người xa lạ của

nhau Song vì cùng chung mục đích, chung lí

tưởng chiến đấu khiến họ trở nên thân quen của

nhau

? Ngoài những cơ sở đó tình đồng đội, đồng chí

còn được nảy sinh như thế nào?

HS: Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ đêm rét

chung chăn thành đôi tri kỉ Do các anh cùng

chung nhiệm vụ chiến đấu và nảy nở trong sự

chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm

vui Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn

chí cốt, mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình

ảnh thật cụ thể, giản dị

Năng lực hợp tác: Dòng thứ bảy của bài thơ có

gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong

bài thơ được triển khai như thế nào trước và sau

dòng thơ đó?

GV cho hs thảo luận nhóm 3 phút

HS: Câu thơ là một lời khẳng định, một sự gắn

bó keo sơn chặt chẽ của những người lính trong

chiến tranh

GV chốt bằng lời bình: Dòng thơ thứ bảy trong

chí cao cả, thiêng liêng của các anh

bộ đội Cụ Hồ - những người nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

II Đọc hiểu văn bản

1 Cơ sở của tình đồng chí

- Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng, giọng điệu

tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình,

mượn thành ngữ, tục ngữ  “Quê anh” và “làng tôi” đều là những

vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là

nơi “ nước mặn đồng chua” – vùng

đồng bằng ven biển, là xứ sở

của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi

núi trung du

- “Súng bên súng”, � Chung lí tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc

- Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất

giản dị, nhưng rất chính xác: “bên”,

“sát”,”chung”,”thành” đã thể hiện

được sự gắn bó tha thiết của mối tình tri kỉ, của tình cảm đồng chí

Trang 8

bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo,một

nét độc đáo qua ngòi bút của Chính Hữu Dòng

thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệt

gồm từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, tạo

nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện, một

lời khẳng định đồng thời như một bản lề gắn

kết đoạn thơ đầu với đoạn thơ sau Sáu câu thơ

đầu là cội nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng

chí; mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện, sức

mạnh của tình đồng chí “Đồng chí” - ấy là

điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp:

tình giai cấp, tình bạn,tình người trong chiến

tranh Hai tiếng “đồng chí” bởi vậy mà giản

dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng

? Khái quát lại cơ sở hình thành tình đồng chí

Xa lạ -> Cùng chung mục đích -> Tri kỉ ->

Đồng chí.

HS đọc đoạn hai, nêu ý chính

Năng lực đọc hiểu văn bản: Em hãy tìm

những biểu hiện tình đồng đội, đồng chí làm

nên sức mạnh tinh thần của những người lính

cách mạng Phân tích ý nghĩa giá trị của những

chi tiết, hình ảnh đó?

HS phát hiện, nêu ý kiến

GV chốt:

Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì

gắn bó thân thương nhất: “ruộng

nương”,”gian nhà”,”giếng nước”,”gốc

đa”… Họ ra đi để lại sau lưng những băn

khoăn, trăn trở, những bộn bề, lo toan của cuộc

sống đời thường Hai chữ “mặc kệ” đã diễn tả

sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn

người lính Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí

tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa.Song

dù có dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê

hương Gác tình tiêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp

ấy thật đáng trân trọng và tự hào Trong bài

thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng

trong tâm hồn những người lính:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

-“Đồng chí!” �Tình đồng chí sâu lắng, thiêng liêng

]Tình đồng chí phát triển trên cơ sở cùng giai cấp và sự gắn bó keo sơn, chặt chẽ của những người lính trong chiến tranh

2 Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí

Trang 9

Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh

vẫn cảm nhận được “Sau lưng thềm năng lá rơi

đầy”, cũng như người lính trong thơ của Chính

Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng luôn hướng

về quê hương “Giếng nước gốc đa” là hình

ảnh hoán dụ mang tính chất nhân hóa diễn tả

một cách tinh tế tâm hồn người chiến sĩ, tô đậm

sự gắn bó của người lính với quê nhà “Giếng

nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là

tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về

quê hương Quả thật, giữa người chiến sĩ và

quê hương có mỗi giao cảm vô cùng sâu sắc,

đậm đà Người đọc cảm nhận từ hình ảnh thơ

một tình quê ăm ắp và đây cũng là nguồn động

viên, an ủi, là sức mạnh tinh thần giúp người

chiến sĩ vượt qua mọi gian lao, thử thách suốt

một thời máu lửa, đạn bom

Năng lực hợp tác & tư duy sáng tạo: Em có

suy nghĩ gì về cách xây dựng đoạn: " anh với

tôi….chân không giày"? Qua đó em hiểu được

gì về tình cảm của các anh?

GV cho hs thảo luận nhóm - 3 phút

GV chốt: Bằng những hình ảnh tả thực, hình

ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực

những khó khăn thiếu thốn trong buổi đầu

kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí,

quân trang, thiếu thuốc men…Người lính phải

chịu “từng cơn ớn lạnh”, những cơn sốt rét

rừng hành hạ, sức khỏe giảm sút, song sức

mạnh của tình đồng chí đã giúp họ vượt qua tất

cả Nếu như hình ảnh “Miệng cười buốt

giá” làm ấm lên, sáng lên tinh thần lạc quan

của người chiến sĩ trong gian khổ thì cái nắm

tay lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật sâu

sắc! Cách biểu lộ chân thực, không ồn ào mà

thấm thía Những cái bắt tay truyền cho nhau

hơi ấm, niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi

khó khăn, gian khổ Cái nắm tay nhau ấy còn là

lời hứa hẹn lập công (lồng ghép GDQP-AN)

HS đọc 3 câu cuối bài thơ, nhắc lại tiêu đề

Năng lực đọc hiểu văn bản: Em có suy nghĩ gì

về ba câu cuối của bài thơ về hình ảnh người

lính? Hãy phân tích?

- Thấu hiểu những tâm tư tình cảm của nhau:

Ruộng nương anh…

… nhớ người ra lính.

� Thông cảm sâu xa nỗi lòng của nhau, cùng thể hiện nỗi nhớ quê hương

- Cùng nhau chia sẻ::

+ Áo anh rách vai…

+ Thương nhau …

� Mọi gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính, và cùng trải qua những cơn sốt rét rừng

=> Sự động viên sưởi ấm của tình đồng chí

] Nghệ thuật sóng đôi nhau

] Sự gắn bó keo sơn của người lính trong mọi cảnh ngộ khác nhau

3 Biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí :

Trang 10

HS trả lời, Gv chốt:

- Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình

đồng chí, đồng đội,là biểu tượng cao đẹp về

cuộc đời người chiến sĩ:

“Đêmnay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

+ Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh

lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên

nhau chờ giặc tới” Đó là hình ảnh cụ thể của

tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến

đấu Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét

của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những

giây phút “chờ giặc tới” Tình đồng chí đã sưởi

ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả…

+ Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp: “Đầu

súng trăng treo” Cảnh vừa thực, vừa mộng Về

ý nghĩa của hình ảnh này có thể hiểu: Đêm

khuya, trăng tà, cả cánh rừng ngập chìm trong

sương muối Trăng lơ lửng trên không, chiếu

ánh sáng qua lớp sương mờ trắng, đục Bầu trời

như thấp xuống, trăng như sà xuống theo

Trong khi đó, người chiến sĩ khoác súng trên

vai, đầu súng hướng lên trời cao như chạm vào

vầng trăng và trăng như treo trên đầu

súng “Trăng”là biểu tượng cho vẻ đẹp thiên

nhiên, đất nước, là sự sống thanh

bình “Súng” là hiện thân cho cuộc chiến đấu

gian khổ, hi sinh Súng và trăng, cứng rắn và

dịu hiền Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ Hai

hình ảnh đó trong thực tế vốn xa nhau vời vợi

nay lại gắn kết bên nhau trong cảm nhận của

người chiến sĩ: trăng treo trên đầu súng Như

vậy, sự kết hợp hai yếu tố, hiện thực và lãng

mạn đã tạo nên cái vẻ đẹp độc đáo cho hình

tượng thơ Và phải chăng, cũng chính vì lẽ đó,

Chính Hữu đã lấy hình ảnh làm nhan đề cho cả

tập thơ của mình – tập “Đầu súng trăng treo” –

như một bông hoa đầu mùa trong vườn thơ

cách mạng

? Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của bài

- Hoàn cảnh chiến đấu: rừng hoang, sương muối khó khăn gian khổ; chờ giặc tới � nguy hiểm => nhưng

họ vẫn gắn bó bên nhau trong tư thế sẵn sàng chiến đấu

- Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” � vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa biểu trưng của tình đồng đội và tâm hồn bay bổng lãng mạn của người chiến sĩ

=> Biểu tượng đẹp về người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Chiến sĩ - thi sĩ

 Hình ảnh gần gũi, giản dị � Vẻ

Ngày đăng: 21/03/2020, 17:05

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w