Cụ thể, DARD nêu lên mối lo ngại rằng nội dung phổ biến thông tin chỉ được truyền từ cấp trên xuống cấp quản trị cấp dưới và họ không thể đóng góp cho bất kỳ hành động nào bởi người nhận
Trang 1J R
1 R
Khảo sát thu thập dữ liệu
về tính khả dụng của các công
cụ truyền thông ICT cho phòng chống
thiên tai ở Việt Nam Báo cáo cuối cùng
Trang 2Khảo sát thu thập dữ liệu
về tính khả dụng của các công
cụ truyền thông ICT cho phòng chống
thiên tai ở Việt Nam Báo cáo cuối cùng
Trang 3M ục lục
Viết tắt
Danh mục Hình và Bảng
Trang
1 Đề cương khảo sát 1
1.1 Mục tiêu 1
1.2 Địa điểm mục tiêu 1
1.3 Cơ quan chính phủ liên quan 2
1.4 Thời gian nghiên cứu 2
2 Khảo sát thiên tai 3
2.1 Thu thập thông tin cơ bản 3
2.2 Phổ biến thông tin 5
2.3 Sơ tán và phòng ngừa thiên tai 11
3 Tổng hợp các vấn đề và Đề xuất cải thiện 18
3.1 Tổng hợp các vấn đề 18
3.2 Xem xét các giải pháp cải thiện 21
3.3 Lựa chọn các công cụ ICT cho đợt thử nghiệm 24
4 Xác minh tính hiệu quả của Thông báo cảnh báo và Phổ biến thông tin phòng ngừa thiên tai sử dụng công cụ ICT 26
4.1 Đề cương thử nghiệm 26
4.2 Kết quả đợt thử nghiệm 40
5 Kết luận 47
5.1 Phân tích và tổng hợp các cải thiện và các vấn đề cần được cải thiện 47
5.2 Mở rộng hệ thống hơn nữa 54
5.3 Bài học kinh nghiệm về Quan hệ đối tác công tư và sử dụng quỹ công thông qua dự án 55
Trang 4MLIT Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch NCHMF Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia
Trang 5Danh mục hình
Trang
Hình 1.2.1 Địa điểm mục tiêu 1
Hình 2.1.1 Xu hướng thương vong và thiệt hại kinh tế do thiên tai ở Việt Nam 4
Hình 2.1.2 Xu hướng thương vong và thiệt hại kinh tế do thiên tai ở mỗi tỉnh (trái: Huế, phải: Bình Định) 4
Hình 2.1.3 Xu hướng tần suất xuất hiện lũ 5
Hình 2.2.1 Vị trí các trạm đo mưa và mực nước ở Huế 6
Hình 2.2.2 Vị trí các trạm đo mưa và mực nước ở Bình Định 6
Hình 2.2.3 Chuỗi hành động ở Huế trong đợt lũ tháng 11 năm 2017 8
Hình 2.2.4 Lộ trình phổ biến thông tin trong lúc thiên tai 9
Hình 2.2.5 Ví dụ về thiết lập mực nước cảnh báo lũ (Trạm Kim Long trên sông Hương) 11
Hình 2.3.1 Nơi sơ tán khi lũ 13
Hình 3.1.1 Tổng hợp các vấn đề 20
Hình 4.1.1 Nội dung các hoạt động trong đợt thử nghiệm 27
Hình 4.1.2 Thành phần hệ thống của thử nghiệm 28
Hình 4.1.3 Màn hình ứng dụng Smartphone (lựa chọn phương pháp quan trắc) 28
Hình 4.1.4 Hiển thị ứng dụng Smartphone (AR marker: Huế) 29
Hình 4.1.5 Hiển thị ứng dụng Smartphone (Nhập tay mực nước: tỉnh Bình Định) 29
Hình 4.1.6 Hiển thị ứng dụng Web (hình trên: Huế, dưới: Bình Định) 30
Hình 4.1.7 Hiển thị ứng dụng Smartphone (thông báo hệ thống) 31
Hình 4.1.8 Hiển thị ứng dụng Smartphone (thông báo cảnh báo) 31
Hình 4.1.9 Kế hoạch thử nghiệm 32
Hình 4.1.10 Bản đồ điểm quan trắc tại Huế 35
Hình 4.1.11 Bản đồ địa điểm quan trắc tại Bình Định (1: Nhơn Bình, 2: Canh Vinh) 35
Hình 4.1.12 Ví dụ mức cảnh báo lũ (Trạm Kim Long ở sông Hương) 36
Hình 5.1.1 Ví dụ mức cảnh báo lũ (Trạm Kim Long ở sông Hương) 48
Hình 5.1.2 Khái niệm về mức cảnh báo lũ được chỉ định ở Nhật Bản 48
Hình 5.1.3 Mức cảnh báo lũ và mức rủi ro ở Nhật Bản 51
Hình 5.1.4 Các vấn đề hiện tại 53
Hình 5.1.5 Cải thiện và các vấn đề cần cải thiện 53
Trang 6Danh mục bảng
Trang
Bảng 2.1.1 Điều kiện xã hội cơ bản 3
Bảng 2.2.1 Số lượng mỗi loại trạm đo ở cả hai tỉnh 5
Bảng 2.2.2 Ví dụ phổ biến cảnh báo của CCNDPCSR Huế 7
Bảng 2.2.3 Cấp độ rủi ro thiên tai và cơ quan phụ trách 10
Bảng 2.2.4 Cấp độ rủi ro thiên tai do lũ 10
Bảng 2.3.1 Xã / phường được lựa chọn phỏng vấn 11
Bảng 2.3.2 Câu hỏi khảo sát 11
Bảng 3.2.1 Các thách thức, giải pháp và hiệu quả của công cụ ICT 21
Bảng 3.2.2 Công cụ ICT hiệu quả được đề xuất 22
Bảng 3.3.1 Bảng đánh giá công cụ ICT cho thử nghiệm 25
Bảng 4.1.1 Các vấn đề cần cải thiện và các giải pháp cải thiện sử dụng công cụ ICT 26
Bảng 4.1.2 Nội dung thử nghiệm 26
Bảng 4.1.3 Đề cương buổi họp chuẩn bị (Huế) 32
Bảng 4.1.4 Đề cương buổi họp chuẩn bị (Bình Định) 33
Bảng 4.1.5 Thành phần tham dự (Huế) 33
Bảng 4.1.6 Thành phần tham dự (Bình Định) 33
Bảng 4.1.7 Người đo và thời gian đo 36
Bảng 4.1.8 Ngưỡng thử nghiệm (Huế) 37
Bảng 4.1.9 Ngưỡng thử nghiệm (Bình Định) 37
Bảng 4.1.10 Ngưỡng được thay đổi cho thử nghiệm (Huế) 38
Bảng 4.1.11 Ngưỡng được thay đổi cho thử nghiệm (Bình Định) 38
Bảng 4.1.12 Thành phần tham dự và vai trò (Bình Định) 39
Bảng 4.1.13 Thành phần tham dự và vai trò (Huế) 39
Bảng 4.1.14 Buổi họp đánh giá (Bình Định) 40
Bảng 4.1.15 Họp đánh giá (Huế) 40
Bảng 4.2.1 Phương pháp xác minh hiệu quả 41
Bảng 4.2.2 Số lượng dữ liệu quan sát được trong đợt thử nghiệm 41
Bảng 4.2.3 Kết quả mực nước quan trắc, tình trạng ngập lụt và thông báo hệ thống 42
Bảng 4.2.4 Kết quả gửi thông báo cảnh báo 44
Bảng 4.2.5 Kết quả phỏng vấn (Huế) 44
Bảng 4.2.6 Kết quả phỏng vấn (Bình Định) 45
Bảng 4.2.7 Yêu cầu và xem xét cho sử dụng trong tương lai 46
Bảng 5.1.1 Danh sách các dữ liệu cần thiết và nghiên cứu để thiết kế mực nước 50
Bảng 5.1.2 Tổng hợp các cải thiện và các vấn đề cần cải thiện 52
Bảng 5.2.1 Ưu và nhược điểm của hai hệ thống 54
Trang 71 Đề cương khảo sát
1.1 Mục tiêu
Nghiên cứu này nhằm tổng hợp tình hình và thách thức hiện tại về quản lý rủi ro thiên tai và đề xuất các công cụ ICT (Công nghệ thông tin và truyền thông) phù hợp để quản lý rủi ro thiên tai, và xác minh tính hiệu quả của các công cụ ICT được đề xuất
1.2 Địa điểm mục tiêu
Các tỉnh Thừa Thiên Huế và Bình Định tại Việt Nam
Hình 1.2.1 Địa điểm mục tiêu
Trang 81.3 Cơ quan chính phủ liên quan
• Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế (DARD)
• Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định (DARD)
1.4 Th ời gian nghiên cứu
• Tháng 8, 2018 – Tháng 3, 2019
Trang 92 Khảo sát thiên tai
Đoàn nghiên cứu JICA đã tóm tắt tình hình hiện tại về thông tin cơ bản, phổ biến thông tin, sơ tán và phòng chống thiên tai bằng cách thực hiện các cuộc phỏng vấn với các tổ chức liên quan (ví dụ, Sở NN
& PTNT Huế và Bình Định) và người dân địa phương, khảo sát thực địa và phân tích hồ sơ thiên tai
2.1 Thu thập thông tin cơ bản
Bảng 2.1.1 đưa ra điều kiện xã hội cơ bản của cả hai tỉnh Huế và Bình Định Không có sự khác biệt đáng chú ý giữa hai tỉnh và trung bình quốc gia về dân số, diện tích, tỷ lệ nam và nữ, và tỷ lệ nghèo
B ảng 2.1.1 Điều kiện xã hội cơ bản
*Các xếp hạng được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về giá trị
*Tỷ lệ nghèo cao hơn nếu giá trị lớn hơn
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Xu hướng về số lượng thương vong và tổng chi phí thiệt hại do thiên tai ở tỉnh Huế và tỉnh Bình Định được thể hiện trong Hình 2.1.1 Năm 1999, số thương vong ở cả hai tỉnh tăng lên do sự xuất hiện của trận lụt lớn nhất từng được ghi nhận tại thời điểm đó ở cả hai tỉnh Sau đó, tỉnh Bình Định có số thương vong tương đối lớn, cụ thể là 40 trường hợp thương vong được ghi nhận từ nhiều năm xảy ra thảm họa thiên nhiên Đối với tổng thiệt hại kinh tế, số tiền có xu hướng ngày càng lớn hơn trong những năm gần đây và người ta cho rằng tính dễ bị tổn thương do thiên tai đang gia tăng do sự phát triển của các thành phố
Trang 10Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA dựa trên cơ sở dữ liệu EM-DAT
Hình 2.1.1 Xu hướng thương vong và thiệt hại kinh tế do thiên tai ở Việt Nam
Source: JICA Study Team
Hình 2.1.2 Xu hướng thương vong và thiệt hại kinh tế do thiên tai ở mỗi tỉnh
(trái: Huế, phải: Bình Định)
Hình 2.1.3 cho thấy xu hướng xảy ra lũ lụt do tràn sông Hương, sông chính của Huế và sông Kone, sông chính của tỉnh Bình Định Nhóm nghiên cứu của JICA đã xem xét “xảy ra lũ” là lũ lụt với Cảnh báo 3 (mức cảnh báo lũ được mô tả sau trong báo cáo này) hoặc mức cảnh báo cao hơn Cả hai tỉnh Huế
và Bình Định đã phải đối mặt với lũ lụt gần như mỗi năm một lần Ngoài ra, số người thương vong và người mất tích và tổng thiệt hại kinh tế có xu hướng lớn trong những năm xảy ra lũ lụt, do đó người ta cho rằng thiệt hại do lũ gây ra chiếm phần lớn thiệt hại do thiên tai
~ 359
Trang 11Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Hình 2.1.3 Xu hướng tần suất xuất hiện lũ 2.2 Ph ổ biến thông tin
Thực hiện khảo sát về những loại thông tin cảnh báp nào được chia sẻ đến các cơ quan (tỉnh, huyện/thành phố và xã/phường) cộng đồng và người dân
(1) Các trạm quan sát và Nội dung thông tin cảnh báo thiên tai
Các vị trí trạm đo mưa và mực nước ở Huế và Bình Định được chỉ ra trong Bảng 2.2.1
B ảng 2.2.1 Số lượng mỗi loại trạm đo ở cả hai tỉnh
Trang 12Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Hình 2.2.1 Vị trí các trạm đo mưa và mực nước ở Huế
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Hình 2.2.2 Vị trí các trạm đo mưa và mực nước ở Bình Định
Tại Huế, việc lắp đặt mười trạm quan sát thủy văn mới sẽ được lên kế hoạch với viện trợ của Nhật Bản Ngoài ra, việc lắp đặt thêm các trạm khí tượng thủy văn mới lên đến năm mươi địa điểm được lên kế
hoạch dựa trên Kế hoạch tổng thể của tỉnh đến năm 2030
Trang 13Tại Bình Định, tám trạm đo mực nước mới được lắp đặt dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Đức (trong đó, bốn trạm không hoạt động tại thời điểm năm 2018 do lỗi thiết bị) Cơ sở quan sát radar khí tượng của Phần Lan và trạm khí tượng thủy văn của Ý cũng được lên kế hoạch lắp đặt Liên quan đến các trạm đo lượng mưa, khoảng bốn mươi máy đo lượng mưa của các công ty tư nhân của WATEC đã được sử dụng
Mặc dù số lượng trạm khí tượng thủy văn đang tăng lên hàng năm, DARD cho rằng cần phải lắp đặt thêm để giám sát các sông và hồ nhỏ và vừa trong các tỉnh
Trong thời tiết xấu, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia (NHMS) và Trung tâm Khí tượng Thủy văn Khu vực đưa ra cảnh báo liên quan đến mưa lớn và lũ lụt, và Ban Chỉ huy PCTT & TKCN (CCNDPCSR) tại mỗi cấp độ chính quyền chỉ đạo ứng phó thiên tai dựa trên những dữ liệu quan sát này Nội dung của thông báo khẩn cấp do CCNDPCSR của thành phố Huế đưa ra trong trận lụt vào tháng 11 năm 2017 được thể hiện trong Bảng 2.2.2
B ảng 2.2.2 Ví dụ phổ biến cảnh báo của CCNDPCSR Huế
Nguồn thông báo Ban chỉ huy PCTT & TKCN thành phố Huế
Nơi nhận Chủ tịch UBND các phường, lãnh đạo các cơ quan, sở, ban, ngành của thành phố - thành viên của Ban chỉ huy PCLB thành phố
(Cc: UBND tỉnh và thành phố, Ban chỉ huy PCTT & TKCN tỉnh, v.v.)
Thời gian 8:00 sáng ngày 5 tháng 11, 2017
Nội dung
1 Sơ tán người dân
2 Báo cáo về kiểm soát lũ
3 Đảm bảo an toàn các công trường đang thi công
4 Công an và các lực lượng thành phố chuẩn bị cho công tác cứu nạn
5 Chuẩn bị đối phó lũ lụt
6 Chuẩn bị đội ngũ y tế
7 Phổ biến thông tin qua đài
8 Theo dõi và báo cáo các khu vực bị ảnh hưởng
9 Hệ thống làm việc 24 giờ
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Mặc dù các cảnh báo và hướng dẫn khác nhau được công bố, ứng phó thảm họa dựa trên dữ liệu quan sát và dự đoán không được quy định trước và DARD cũng nhận ra rằng có những khó khăn trong giai đoạn phân tích dữ liệu / ra quyết định Cụ thể, DARD nêu lên mối lo ngại rằng nội dung phổ biến thông tin chỉ được truyền từ cấp trên xuống cấp quản trị cấp dưới và họ không thể đóng góp cho bất kỳ hành động nào bởi người nhận
(2) Th ời điểm
Tình hình đập và sông khi lũ lụt ở Huế vào tháng 11 năm 2017 và các hành động theo chuỗi thời gian của mỗi tổ chức và người dân được tóm tắt như sau: Vào sáng sớm ngày 5 tháng 11, lưu lượng xả tối đa được ghi nhận tại hai đập thượng nguồn, sau đó mực nước tăng tại trạm Kim Long, ở hạ lưu sông Hương, đã được ghi lại Khi tỉnh và thành phố Huế đưa ra thông báo khẩn cấp, một số người dân bắt đầu sơ tán và được ghi nhận rằng tình trạng ngập lụt đã chạm tới sàn nhà vào buổi chiều
Trang 14Dam Operation Water level at Kim LongStation (Huong River) Hue Province Government GovernmentHue City Commune /Ward Residents
6:00Start discharging from Ta
Track Dam
14:00Start discharging from
Bin Dien Dam
(0.7m indoor)
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICAdựa trên báo cáo của Huế DARD
Hình 2.2.3 Chuỗi hành động ở Huế trong đợt lũ tháng 11 năm 2017
Lũ lụt ở các tỉnh Huế và Bình Định thường do mưa lớn gây ra bởi bão Trận lụt vào tháng 11 năm 2017 xảy ra trong cơn bão, do đó các cơ quan chính phủ có thể đã chuẩn bị cho việc ứng phó 3-4 ngày trước khi trận lụt xảy ra
(3) Lộ trình phổ biến, Nguồn và nơi nhận
Về phổ biến thông tin, Quyết định số 46/2014 (Cảnh báo và phổ biến thiên tai) của Chính phủ quy định thông báo dự báo và lộ trình phổ biến như trong Hình 2.2.4
Trang 15Nguồn: Hiện trạng pháp lý và sắp xếp thể chế và các hoạt động về giảm thiểu rủi ro thiên tai ở Việt Nam,
Kenichiro TACHI, “KASEN (RIVER)”, tháng 11, 2017
Hình 2.2.4 Lộ trình phổ biến thông tin trong lúc thiên tai
(4) Phương pháp phổ biến
Fax, SMS, cuộc gọi điện thoại (smartphone) và e-mail qua điện thoại chủ yếu được sử dụng để phổ biến thông tin ở cấp trung ương, tỉnh và thành phố / huyện Tuy nhiên, không sử dụng fax ở cấp huyện / thành phố và xã / phường ở tỉnh Bình Định, do đó, các cuộc gọi điện thoại và e-mail chủ yếu được sử dụng Ngoài ra, DARD nhận ra rằng họ đã thất bại trong việc phổ biến trong khi bị mất điện do bão và
lũ lụt
Loa chủ yếu được sử dụng để phổ biến thông tin cho cư dân Tuy nhiên, theo các cán bộ của DARD, số lượng loa được lắp đặt là không đủ ở cả hai tỉnh Huế và Bình Định và cần lắp đặt thêm cũng như cần thiết có các phương tiện phổ biến thông tin khác
Loa được lắp đặt tại một khu dân cư Loa được lắp đặt tại xã
Ảnh 1 Các loa được lắp đặt cho công tác phổ biến thông tin
Hydro-Met information Emergency instruction
Hydro-Met information Emergency instruction
Hydro-Met information Emergency instruction
Hydro-Met information Emergency instruction
Hydro-Met information Emergency instruction
Trang 16(5) Các hạng mục liên quan khác
Chính phủ Việt Nam đã thiết kế các cấp độ rủi ro thiên tai đối với lũ lụt như trong Bảng 2.2.3 Tuy nhiên, bảng này không chỉ ra nguy cơ thảm họa mà chỉ đặt ra mức độ của ủy ban chỉ huy có trách nhiệm ứng phó, theo báo cáo “Khảo sát thu thập dữ liệu về chiến lược phát triển giảm thiểu và quản lý rủi ro thiên tai tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (JICA, 2018)
B ảng 2.2.3 Cấp độ rủi ro thiên tai và cơ quan phụ trách
Nguồn: Khảo sát thu thập dữ liệu về chiến lược phát triển giảm thiểu và quản lý rủi ro thiên tai tại Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (JICA, 2018)
B ảng 2.2.4 Cấp độ rủi ro thiên tai do lũ
Nguồn: Khảo sát thu thập dữ liệu về chiến lược phát triển giảm thiểu và quản lý rủi ro thiên tai tại Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (JICA, 2018)
Trang 17Ví dụ về thiết kế các mức cảnh báo lũ, Hình 2.2.5 cho thấy ngưỡng tại Trạm mực nước Kim Long ở sông Hương, Huế Cảnh báo 3 trong trạm được đặt cho toàn bộ dòng sông (không có đê)
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Hình 2.2.5 Ví dụ về thiết lập mực nước cảnh báo lũ (Trạm Kim Long trên sông Hương) 2.3 Sơ tán và phòng ngừa thiên tai
Nhóm nghiên cứu của JICA đã thực hiện các cuộc phỏng vấn về cách người dân chuẩn bị và ứng phó với cảnh báo lũ lụt Tổng cộng 14 người là cán bộ chính quyền và người dân từ các xã / phường hiển thị dưới đây đã được chọn cho cuộc phỏng vấn dựa trên hồ sơ lũ lụt trong quá khứ và từ các khuyến nghị của cán bộ DARD
Bảng 2.3.1 Xã / phường được lựa chọn phỏng vấn
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Các câu hỏi phỏng vấn như dưới đây
Bảng 2.3.2 Câu hỏi khảo sát
Thông tin cơ bản Giới tính, Độ tuổi, Địa chỉ
Thiệt hại lũ trước đây Kinh nghiệm về các trận lụt (Nếu có) chiều sâu ngập lụt lớn nhất, thời gian xuất hiện, khoảng thời gian
ngập lụt, tần suất, thiệt hại (chết, bị thương, đổ nhà, hư hỏng đồ đạc)
Sơ tán
Kinh nghiệm sơ tán khi lũ lụt (Nếu có) như thế nào / khi nào thì sơ tán, lộ trình / khoảng cách/ thời gian đến nơi sơ tán, phương tiện sơ tán, hành động có thể khi nhận được cảnh báo lũ lụt sớm
(Nếu không) lý do không sơ tán
Phổ biến thông tin Kinh nghiệm nhận thông tin cảnh báo từ chính quyền (Nếu có) thời gian / nội dung, phương pháp nhận, thời điểm, từ ai, thông
tin hữu ích không
Trang 18Phỏng vấn tại xã Quảng An Phỏng vấn người dân địa phương
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Ảnh 2 Khỏa sát phỏng vấn
Kết quả phỏng vấn như sau
(1) Nội dung/ Phương tiện / Thời điểm nhận thông tin để chuẩn bị
Như đã đề cập ở trên, cảnh báo mưa lớn, cảnh báo lũ lụt và hướng dẫn sơ tán được chia sẻ từ DARD tới
xã / phường, thỉnh thoảng sử dụng loa Bởi vì thông báo qua loa có thể không đến được với một số người dân, DARD và cán bộ xã/phường đến từng nhà để cung cấp thông tin
Theo các cán bộ của DARD, phải mất khoảng một giờ để phổ biến thông tin từ cấp tỉnh đến người dân
(2) Địa điểm sơ tán và tuyến đường
Theo các cuộc phỏng vấn tại các xã, khi xảy ra lũ lụt, người dân sơ tán đến các cơ sở công cộng được chỉ định, chẳng hạn như trường học Các trung tâm sơ tán được xây dựng với sự hỗ trợ của JICA tại Huế và với sự hỗ trợ của CCCO (Văn phòng điều phối biến đổi khí hậu) tại tỉnh Bình Định Những trung tâm sơ tán này không chỉ được sử dụng trong trường hợp khẩn cấp mà còn cho các hoạt động cộng đồng Trong các cuộc phỏng vấn với người dân, họ xác định các cơ sở trường học và chùa gần đó
là trung tâm sơ tán Một số cư dân sơ tán lên tầng hai của ngôi nhà của họ hoặc nhà của người thân; tuy nhiên, đảm bảo thực phẩm và nhu yếu phẩm hàng ngày có thể là những thách thức trong các tình huống khẩn cấp
Trang 19Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Hình 2.3.1 Nơi sơ tán khi lũ
Trung tâm sơ tán (JICA hỗ trợ) Trung tâm sơ tán (CCCO hỗ trợ)
Tầng 2 của trung tâm sơ tán do CCCO hỗ trợ (các
ổ điện được lắp đặt cao trên tường để tránh ngập
lụt)
Nhà vệ sinh trên tầng 2 của trung tâm sơ tán do CCCO hỗ trợ (khả dụng cả khi xảy ra ngập lụt)
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Ảnh 3 Trung tâm sơ tán
Một kế hoạch sơ tán tổng thể chưa được xây dựng và các trung tâm sơ tán ở mỗi khu vực bao gồm cả các tuyến đường sơ tán chưa được định rõ Do đó, việc sơ tán người dân là do chủ động cá nhân trong các tình huống thực tế
Trang 20(3) Phương pháp sơ tán
Việc sơ tán trước khi lũ lụt được thực hiện chủ yếu bằng đi bộ khi người dân đến các trung tâm sơ tán gần nhất Sau khi khu vực bị ngập, thuyền được lắp đặt trong một số ngôi nhà và văn phòng xã cho mục đích sơ tán Trong tình huống này, cán bộ xã và người dân có thể cần nhiều thuyền hơn không chỉ để sơ tán mà còn để phân phối vật tư Đáng chú ý, có trường hợp các thành viên nam trong gia đình đã chọn
ở lại nhà của họ ngay cả khi lũ lụt để bảo vệ tài sản hộ gia đình
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Ảnh 4 Thuyền khẩn cấp tại cơ quan xã
(4) Chuẩn bị tập huấn sơ tán
Người dân có rất ít cơ hội cho các cuộc tập huấn sơ tán hoặc giáo dục DRR, ngoại trừ các dự án của các nhà tài trợ cũng như Hội Chữ thập đỏ và của tỉnh Tuy nhiên, một số cư dân có thói quen chuyển tất cả các vật dụng gia đình lên tầng trên vào đầu mùa mưa hàng năm, giảm thiểu thiệt hại về tài sản khi lũ
lụt
(5) Ưu tiên phụ nữ, người già, người khuyết tật (NKT) trong khi sơ tán
Thành phố Quy Nhơn của tỉnh Bình Định có danh sách phụ nữ, trẻ em, người già và người khuyết tật (NKT) trong thành phố được ưu tiên hàng đầu khi sơ tán Danh sách này đã được chuẩn bị khi bản đồ nguy hiểm được tạo ra với sự hỗ trợ của Đức vào năm 2016 và nó đã được quản lý ở cấp phường (bằng với cấp xã) Trong các cuộc phỏng vấn với người dân tại phường Nhơn Phú, thành phố Quy Nhơn, một
số người dân xác nhận rằng phụ nữ và trẻ em được sơ tán tốt nhất đến các trung tâm sơ tán lân cận
Trang 21Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA Bản đồ vị trí của phụ nữ, trẻ em, người già, và NKT trong phường
Ảnh 5 Bản đồ nguy hiểm ở Bình Định được lập với sự hỗ trợ của Đức
(6) T ỷ lệ sơ tán / Khoảng thời gian
Theo các cuộc phỏng vấn với người dân địa phương, không có trường hợp nào sơ tán đến các trung tâm
sơ tán được chỉ định trước khi lũ lụt Hơn nữa, người dân chọn các địa điểm sơ tán khác nhau như trung tâm sơ tán công cộng, nhà người thân, và tầng trên hoặc mái nhà của chính họ Tỷ lệ sơ tán khó xác định vì chính quyền không lưu giữ chính xác địa điểm và số người sơ tán
Cũng dựa trên các cuộc phỏng vấn, thời gian sơ tán phụ thuộc vào thời gian ngập lụt trong khu vực Có thể từ 3 ngày đến 2 tuần, tùy thuộc vào tình trạng ngập lụt
Trang 22(8) Các vấn đề và mối quan tâm khác
Do các con sông ở cả hai tỉnh Huế và Bình Định đều có ít bờ kè, nên đặc điểm mực nước dâng cũng như lũ lụt khác với Nhật Bản Theo phỏng vấn, cư dân thường bắt đầu sơ tán sau khi mực nước dâng lên đến mắt cá chân của họ; họ không sơ tán trước trừ người già Cần xem xét các đặc điểm của dòng sông và nhận thức của người dân trong việc thiết kế ngưỡng để ban hành các cuộc gọi sơ tán
Dòng sông tự nhiên (thượng nguồn) Dòng sông tự nhiên (thượng nguồn)
Phân đoạn không có kè (giữa sông, khu vực đô thị) (giữa sông, khu vực đô thị) Phân đoạn không có kè
Ảnh 6 Đặc điểm sông (Huế)
Trang 23Dòng sông tự nhiên (thượng nguồn) Dòng sông tự nhiên (thượng nguồn)
Phân đoạn không có kè (phần giữa) Phân đoạn có kè (hạ lưu)
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Ảnh 7 Đặc điểm sông (tỉnh Bình Định)
Trang 243 Tổng hợp các vấn đề và Đề xuất cải thiện
Trong chương này, các vấn đề về thông tin thảm họa được sử dụng cho sơ tán và công tác chuẩn bị được liệt kê và các biện pháp tương ứng để cải thiện được đề xuất Đầu tiên, các vấn đề được trích dẫn như sau dựa trên tình hình hiện tại được trình bày trong Chương 2
3.1 Tổng hợp các vấn đề
(1) Thu thập dữ liệu
• Do số lượng trạm quan sát thủy văn không đủ (số lượng đã tăng nhưng vẫn chưa đủ), nên rất khó
để hiểu các đặc điểm thủy văn của lưu vực, bao gồm mực nước của nhiều hồ chứa và ao
• Một khi thiết bị quan sát bị hỏng, nó không thể sửa chữa được Sau đó, dữ liệu quan sát không có
• Không đủ ngân sách cho việc lắp đặt mới và bảo trì thiết bị và hệ thống Tình huống này có thểgây hỏng thiết bị và lỗi quan sát
• Cả quan trắc lượng mưa và mực nước đều được vận hành thủ công, do đó cần có nhiều ngườiquan trắc Dữ liệu quan trắc không được truyền từ xa tại trạm quan trắc thủ công (dữ liệu chỉ cóthể được lấy thông qua người quan trắc), vì vậy rất khó để thực hiện kịp thời các hoạt động đểcảnh báo thảm họa
• Các trạm khí tượng thủy văn được lắp đặt thông qua hỗ trợ của nhà tài trợ, tuy nhiên, các sángkiến của chính phủ và các nỗ lực của nhà tài trợ không được phối hợp với nhau
(2) Phân tích thông tin và ra quyết định
• Chính quyền địa phương không chắc chắn phải làm gì với dữ liệu quan trắc đủ nhiều Đây là lý
do chính tại sao thông tin thảm họa không thể được phổ biến đúng cách
• Do mối quan hệ giữa dữ liệu thủy văn như lượng mưa và mực nước và đặc điểm của lũ lụt chưađược phân tích, rất khó để biết và dự đoán tình hình lũ lụt hiện tại và do đó, các hoạt động phòngchống thiên tai thích hợp không thể được tiến hành
(4) Sơ tán người dân
• Người dân chọn các địa điểm sơ tán khác nhau và sơ tán vào thời gian thích hợp của họ, do đóchính quyền địa phương khó thực hiện phản ứng khẩn cấp
• Một số người dân không sơ tán để bảo vệ tài sản hộ gia đình của họ
Trang 25• Do thời gian ngập lụt kéo dài, chính quyền địa phương phải gắng sức để phân phối hàng hóa và hướng dẫn sơ tán sau khi lũ lụt xảy ra
Trong đề xuất các biện pháp cải thiện, các vấn đề nêu trên có thể được tóm tắt thành bốn mục sau đây
V ấn đề 1: [Thu thập dữ liệu]
Số lượng dữ liệu quan trắc thủy văn và trạm là không đủ Rất khó để thực hiện kịp thời các hoạt động, như đưa ra cảnh báo, bởi vì cả việc quan trắc lượng mưa và mực nước đều được thực hiện thủ công
V ấn đề 2: [Phân tích thông tin / Ra quyết định]
Chính quyền không thể phát hành lệnh cảnh báo và sơ tán thích hợp
Nội dung cảnh báo khó hiểu đối với người dân
Trang 26Ngu ồn: Đoàn nghiên cứu JICA
sớm và lệnh sơ tán thích hợp
• Nhận thức và hiểu biết của người dân là chưa đủ
• Không có tiêu chí cảnh báo
• Khu vực cảnh báo không cụ thể
• Thiếu khả năng dự báo
• Thiếu số liệu tích lũy cho phân tích thủy văn
• Phổ biến thông tin
sơ tán đột ngột
• Không thể nắm bắt
ngập lụt theo thời gian thực
• Không có kế hoạch ứng phó thảm họa
•Đường truyền không ổn định trong thời tiết xấu
họa
• Chính quyền thiếu kiến thức và công cụ để giáo
Trang 273.2 Xem xét các giải pháp cải thiện
Các vấn đề về sử dụng các công cụ ICT, bao gồm các vấn đề mà các công cụ không thể giải quyết được, được tóm tắt trong Bảng 3.2.1 và được chia sẻ với DARD
B ảng 3.2.1 Các thách thức, giải pháp và hiệu quả của công cụ ICT
Vấn đề Giải pháp Hi ệu quả của công cụ ICT
[ thu thập dữ liệu]
Thiếu các trạm và số liệu khí
tượng thủy văn
Quan trắc thủ công gây khó khăn
cho việc thực hiện các hoạt động
ứng phó thảm họa
(Tự động) Cần phải lắp đặt thêm các trạm quan trắc khí tượng thủy văn
• Quan trắc mực nước bằng công cụ ICT và ứng dụng báo cáo tình trạng ngập lụt [1]
• Trạm đo mực nước để quản lý rủi ro [2]
• Quan trắc mực nước và lưu lượng với hình ảnh camera (eye- BOX) [3]
Vận hành và bảo trì dễ dàng hơn và với chi phí thấp hơn các sản phẩm thông thường.
Giám sát tình hình ngập lụt thời gian thực • Quan trắc mực nước bằng công cụ ICT và ứng dụng báo cáo tình trạng ngập lụt [1]
• Mô phỏng lũ theo thời gian thực [4]
[ Phân tích thông tin / Ra quyết
Cải thiện khả năng dự báo lũ • Mô phỏng lũ theo thời gian thực [4]
Thiết lập tiêu chí và khu vực mục tiêu để phát cảnh báo và sơ tán (Cần một hỗ trợ kỹ thuật khác về phân tích thủy văn, mục tiêu cho DARD và HMS.)
Cân nhắc phổ biến dần dần để cảnh báo và sơ tán cho dễ hiểu (Cần một hỗ trợ kỹ thuật khác về phân tích thủy văn, mục tiêu cho DARD, tỉnh, quận,và xã)
Giới thiệu một hệ thống để đánh giá
sự cần thiết của việc cảnh báo và kêu gọi sơ tán
• Hệ thống hỗ trợ dòng thời gian [5]
[Ph ổ biến]
Mất nhiều thời gian để phổ biến
thông tin nên không ứng phó kịp
thời
S ử dụng các dịch vụ phổ biến đồng thời • • Dịch vụ đẩy thông báo thảm họa Phổ biến bằng fax, E-mail, và SMS [6] [7]
• Hệ thống cảnh báo thảm họa kích hoạt không dây
Xây dựng hệ thống và quy tắc báo cáo về các thiệt hại và tình hình sơ tán
• Ứng dụng báo cáo và thu thập thông tin thiệt hại
(Cần nâng cấp hạ tầng viễn thông và điện)
[ Sơ tán người dân / Giáo dục]
Ngay cả khi cư dân nhận được
hướng dẫn sơ tán, họ cũng không
thể sơ tán đúng cách
Nhận thức và kiến thức của cư
dân không đầy đủ
h ọa ở cấp độ cộng đồng)
Lập bản đồ nguy hiểm (bản đồ sơ tán) • • Mô phỏng lũ theo thời gian thực [4] Hệ thống hiển thị bản đồ khả năng ngập lụt [9]
• Dịch vụ thông tin cảnh báo sạt lở [“Doshabul”
(sản phẩm của Nhật)] [10]
Thiết lập giải pháp và lộ trình sơ
Giáo dục người dân thông qua các hoạt động cộng đồng về DRR • • Trực quan nguy hiểm bằng AR [11] Ứng dụng hướng dẫn sơ tán [12]
phân tích dữ liệu / ra quyết định và phổ biến
• Hệ thống chia sẻ thông tin thảm họa [13] Các số liệu trong bảng này là phổ biến với số lượng công cụ ICT được sử dụng bên dưới
Trang 28Công cụ ICT được đề xuất ở trên được tổng hợp trong bảng dưới và được giới thiệu cho DARD
B ảng 3.2.2 Công cụ ICT hiệu quả được đề xuất
Phác thảo các công cụ ICT được đề xuất Giải pháp 1: Lắp đặt trạm thủy văn (tự động) & đo mưa
Công cụ ICT sau giá cả phải chăng hơn và dễ bảo trì
Giải pháp 2: Giám sát tình hình ngập lụt theo thời gian thực
[1] Quan trắc mực nước sử dụng công cụ
ICT và ứng dụng báo cáo tình trạng
ngập lụt
[2] Máy đo mực nước để quản lý rủi ro [3] Quan trắc mực nước và lưu lượng
với hình ảnh camera (eye- BOX)
Nguồn: Fujitsu, Hình ảnh quan trắc mực nước với công
nghệ AR Nguồn: Ủy ban về trạmdđ muực nước để quản lý rủi ro, Bộ Đất đai, Hạ tầng, giao thông và Du lịch Nguồn: Ủy ban về trạmdđ muực nước để quản lý rủi ro, PCKK
Mực nước có thể được đo trong điện thoại
thông minh, nhận dạng mã QR được đặt
trên triền sông hoặc trụ cầu
Máy đo mực nước giá rẻ chuyên dụng cho quan trắc mực nước trong ngập lụt (300K đến 1triệu JPY)
Máy đo mực nước bằng hình ảnh camera Nó giúp đo mực nước và nhận biết hình ảnh trực quan (từ 880K JPY)
Giải pháp 3: Cải thiện khả năng dự báo lũ
Giải pháp 4: Giới thiệu một hệ thống để đánh giá sự cần thiết của việc cảnh báo và kêu gọi sơ tán
[4] Hệ thống mô phỏng lũ theo thời gian thực [5] Hệ thống hỗ trợ dòng thời gian
Nguồn: Công ty giải pháp năng lượng Hitachi Nguồn: MLIT Nhật Bản, PCKK
Sự thay đổi chuỗi thời gian của vùng ngập lụt có thể được xác
nhận bằng mô phỏng lũ góp phần lên kế hoạch hành động
kiểm soát lũ
Dịch vụ đẩy DRR đưa ra hướng dẫn các hành động phù hợp theo từng cấp mực nước Cán bộ không cần phải hiểu toàn bộ quy trình hành động DRR
Bắn mã QR bằng smartphone
Dụng cụ đo mực nước ảo
Mực nước có thể được đo trực quan
Máy đo mực nước kiểu áp lực
Máy đo mực nước loại siêu âm
Máy đo loại nhận biết trực tiếp
Máy đo mực nước kiểu sóng radio
Máy đo mực nước loại tiếp xúc
Máy đo mực nước loại không tiếp xúc
Non-Contact Type water level gauge Image Processing-type
Pole
Video Camera, Control Equipment, Communication Device
Solar panel, Battery
Hiển thị khu vực bị ngập lụt theo chuỗi
thời gian sử dụng các mức nước được
theo dõi theo thời gian thực
Trang 29Giải pháp 5: Sử dụng dịch vụ phổ biến đồng thời
Giải pháp 6: Xây dựng hệ thống và quy tắc báo cáo về các thiệt hại và tình hình sơ tán
[6] Hệ thống phổ biến đồng thời qua
fax, email, và SMS [7] Dịch vụ thông báo thông tin DRR [8] Hệ thống thu thập dữ liệu và báo cáo tình trạng ngập lụt và sơ tán
Nguồn: Công ty năng lượng Hitachi Nguồn: MLIT, Nhật Bản Nguồn: Thông tin thời tiết Inc., Twitter Inc.,
Đồng thời phổ biến thông tin về thảm
họa và khí tượng đã đăng ký cho truyền
thông
Thông báo về dự báo thảm họa tới thiết bị, cảnh báo từ cơ quan khí tượng và thông tin khẩn cấp từ chính quyền địa phương
Hệ thống báo cáo tình trạng ngập lụt từ các cư dân bị ảnh hưởng và thu thập dữ liệu về số lượng người sơ tán tại mỗi trung tâm sơ tán
Giải pháp 7: Lập các bản đồ nguy hiểm (các bản đồ sơ tán)
Giải pháp 8: Giáo dục cho người dân địa phương thông qua các hoạt động DRR cộng đồng
[9] Hệ thống hiển thị bản đồ nguy hiểm
sử dụng GIS
([11] Hiển thị bản đồ nguy hiểm sử
dụng thiết bị thông minh và công nghệ
AR)
[10] Dịch vụ thông tin cảnh báo sạt lở (“Doshaburu”, sản phẩm của Nhật Bản)
[12] Ứng dụng hướng dẫn sơ tán
Nguồn: Pacific Consultants Co.,Ltd Nguồn: Pacific Consultants Co.,Ltd Nguồn: CAD CENTER CORPORATION
Xác nhận độ sâu ngập lụt mô phỏng tại
các vị trí hiện tại bằng GPS của điện thoại
thông minh sử dụng công nghệ AR
Hỗ trợ xây dựng và vận hành hệ thống quản lý rủi ro sạt lở bằng dữ liệu lượng mưa
Hướng dẫn sơ tán để hiển thị vị trí của các trung tâm sơ tán trong điện thoại thông minh sử dụng công nghệ AR
Nơi sơ tán Tên : XXX
Số : 100 Nơi sơ tán Tên : YYY
Số : 200 Nơi sơ tán Tên : ZZZ
Số : 300
Chú ý chỗ giao cắt! Nhà ga đang bị ngập!
Thiết bị cứu hộ đang đến!
Mực nước hạ lưu giảm
do gỗ trôi dạt cản trở dòng sông.
Chụp vị trí hiện tại bằng điện
thoại thông minh
Hình ảnh tình trạng ngập (AR)
tại vị trí hiện tại
Khu vực ngập lụt trên bản đồ
Kết quả phân tích nguy cơ sạt trượt Đăng thông tin nguy cơ
Chỉ dẫn hướng và khoảng cách đến các nơi sơ tán sử dụng công nghệ AR.
Các địa điểm sơ tán được hiển thị trên bản đồ kỹ thuật số
Đăng tin nhắn Địa điểm : XXX Tin: Mưa to và
cảnh báo ngập lụt
Sơ tán ngay lập tức!
Danh sách thông tin
Thông báo mở rộng
Trang 303.3 Lựa chọn các công cụ ICT cho đợt thử nghiệm
Các công cụ ICT cho đợt thử nghiệm được đánh giá và lựa chọn dựa trên các tiêu chí sau
(1) Kh ả dụng với điều kiện hiện trường
Dựa trên khảo sát thực địa, công cụ ICT đã được đánh giá xem liệu chúng có thể áp dụng được đối với các điều kiện tự nhiên và xã hội tại địa điểm đó hay không và liệu có đủ nghiên cứu và thông tin cần thiết cho thử nghiệm hay không (A: chúng được đánh giá là có khả năng áp dụng cao đối với các điều kiện hiện trường, B: các nghiên cứu, hoạt động, thông tin và dữ liệu liên quan sẽ là cần thiết, mặc dù khả năng ứng dụng sẽ được dự kiến, C: chúng được đánh giá là có khả năng áp dụng thấp hoặc quá sớm
để lắp đặt.)
(2) Th ời gian cần thiết để chuẩn bị cho thử nghiệm
Các công cụ ICT được đánh giá xem có cần thời gian hay không để thiết lập thiết bị / hệ thống, phát triển ứng dụng, v.v (A: thử nghiệm sẽ sẵn sàng trong vòng 1 – 2 tháng, B: trong vòng 2 – 3 tháng, C: sẽ mất hơn 3 tháng)
(3) Ý định của địa phương
Các công cụ ICT đã được đánh giá theo ý định của địa phương (A: địa phương có ý định mạnh mẽ, B: địa phương có ý định tích cực, C: địa phương không quan tâm.) Đánh giá này bao gồm ý định của địa phương muốn lắp đặt và duy trì một hệ thống có chi phí thấp sau đợt thử nghiệm
(4) Đánh giá tổng thể
Nếu cả ba tiêu chí trên được đánh giá là “A”, đánh giá tổng thể là “A” Nếu có đánh giá “C” cho một trong ba tiêu chí, đánh giá tổng thể là “C” Các trường hợp khác được đánh giá là “B”
Trang 31Bảng 3.3.1 Bảng đánh giá công cụ ICT cho thử nghiệm
1) Khả dụng với điều kiện hiện
trường 2) Thời gian cần thiết 3) Ý định của địa phương 4) Đánh giá tổng thể
[2] Máy đo mực nước để quản lý
rủi ro A: Sự cần thiết quan trắc là cao và điều kiện hiện trường đã sẵn sàng
[3] Quan trắc mực nước và lưu
lượng với hình ảnh camera
[5] Hệ thống hỗ trợ dòng thời
gian
C: “Dòng thời gian” không thể chuẩn
bị được do không có sự phân công vai trò và các hoạt động cụ thể phải thực hiện trong khi thảm họa
[6] Hệ thống phổ biến đồng thời
qua fax, email, and SMS
A: Khả năng áp dụng cao từ khía cạnh
“Phổ biến”, mặc dù nội dung của tin nhắn được phổ biến cần nghiên cứu cẩn thận
[7] Dịch vụ thông báo thông tin
PCTT
A: Khả năng áp dụng cao từ khía cạnh
“Phổ biến”, mặc dù nội dung của tin nhắn được phổ biến cần nghiên cứu cẩn thận
[9][11] Hệ thống hiển thị bản đồ
nguy hiểm sử dụng GIS
(Hiển thị bản đồ nguy hiểm
sử dụng các thiết bị thông
minh và công nghệ AR)
C: Hiển thị hiệu quả không thể thực hiện do thiếu bản đồ địa hình, dữ
[13] Hệ thống chia sẻ thông tin
thiên tai
C: Khả năng ứng dụng thấp do nghiên cứu về việc cần thực hiện sử dụng thông tin tích hợp không đủ mặc dù tính cần thiết tích hợp các thông tin liên quan là cao
Nguồn: Đoàn nghiên cứu JICA
Nhóm nghiên cứu JICA đã thảo luận với DARD tại Huế và Bình Định và JICA dựa trên bảng trên và quyết định các công cụ ICT cho thí nghiệm trong dự án này là “[1] Quan trắc mực nước sử dụng công
cụ ICT và ứng dụng báo cáo tình trạng ngập lụt” và “[7] Dịch vụ thông báo thông tin PCTT”