1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thắp sáng Hy vọng: Di cư, bóc lột và nạn buôn bán trẻ em và thanh thiếu niên ở Việt Nam

79 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số liệu được thu thập thông qua một loạt cỡ mẫu n=103 phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn sâu kinh nghiệm của các bên liên quan trong công tác phòng chống buôn bán người cũng như những t

Trang 2

Mục lục 

MỤC LỤC   2

LỜI CẢM ƠN   4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT   6

1 GIỚI THIỆU   7

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU   8

2.1 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU   8

2.2 PHƯƠNG PHÁP   8

2.2.1. Nghiên cứu định tính   8

2.2.2. Nghiên cứu định lượng   9

2.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU   15

3 HƯỚNG TỚI KHUNG KHÁI NIỆM ĐỂ XÁC ĐỊNH VÀ ĐO LƯỜNG BUÔN BÁN (TRẺ EM)   17

3.1 ‘NẠN BUÔN NGƯỜI’ NỔI LÊN LÀ MỘT VẤN ĐỀ THU HÚT SỰ QUAN TÂM CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ   17

3.2 TÌM HIỂU VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI: NHỮNG TRANH LUẬN VÀ THÁCH THỨC TRONG ĐỊNH NGHĨA   19

3.3 GỢI Ý NGHIÊN CỨU   21

4 QUY MÔ NẠN BUÔN BÁN (TRẺ EM) Ở VIỆT NAM   22

4.1 TÍNH TOÁN MỨC ĐỘ PHỔ BIẾN CỦA ‘CÁC CHỈ SỐ BUÔN BÁN’   23

4.2 TỔNG ƯỚC TÍNH MỨC ĐỘ PHỔ BIẾN CỦA TRẺ CÓ CHỈ SỐ BUÔN BÁN TRẺ EM  28

4.2.1. Mức độ phổ biến của các dấu hiệu buôn bán trẻ em: các hình thái cơ bản và xu thế   31

5 PHƯƠNG THỨC TUYỂN MỘ: BUÔN BÁN NGƯỜI XẢY RA NHƯ THẾ NÀO   34

5.1 MẦM MỐNG BỊ BUÔN BÁN: LỜI HỨA (GIẢ DỐI) VỀ CÁC CƠ HỘI   34

5.2 QUÁ TRÌNH TUYỂN MỘ   36

5.3 LÀM RÕ YẾU TỐ ĐỒNG THUẬN VÀ CƯỠNG ÉP: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA THANH THIẾU NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TUYỂN  MỘ     38

5.3.1. Vai trò tác động của cha mẹ và gia đình   38

5.3.2. ‘Em bị đánh thuốc mê’: Những câu chuyện bị cưỡng ép tuyển mộ   41

5.4 TUYỂN MỘ VÀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG   44

6 TRẢI NGHIỆM (LIÊN QUAN ĐẾN) BỊ BUÔN BÁN: NHẬN DIỆN BUÔN BÁN NGƯỜI   50

6.1 CÁC HÌNH THỨC BÓC LỘT   50

6.2 TÌM HIỂU VỀ TRẢI NGHIỆM BỊ BUÔN BÁN CỦA TRẺ   52

6.2.1 Cơ chế ép buộc và kiểm soát   55

7 HẬU THỜI KÌ BUÔN BÁN: TRẢI NGHIỆM TÁI HOÀ NHẬP VÀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ HỖ TRỢ   60

7.1 SỨC KHOẺ TINH THẦN BỊ GIẢM SÚT   60

7.2 THÁCH THỨC TRONG TÁI HOÀ NHẬP   62

7.3 TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ   65

7.4 RÀO CẢN TIẾP CẬN DỊCH VỤ: HẠN CHẾ TRONG NHẬN DIỆN NẠN NHÂN   66

7.5 RÀO CẢN TỪ PHÍA NẠN NHÂN TRONG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ   68

7.6 TRẢI NGHIỆM TIẾP NHẬN CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ   70

Trang 3

8 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ   73

8.1 CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH VÀ KẾT LUẬN   73 8.2 ĐỊNH HƯỚNG CHO CÁC NỖ LỰC PHÒNG NGỪA VÀ ỨNG PHÓ VỚI BUÔN BÁN NGƯỜI   75

Trang 4

Lời cảm ơn 

Báo cáo này được thực hiện bởi hai tác giả Kara Apland và Elizabeth Yarrow thuộc Trung tâm Pháp chế Trẻ em của tổ chức Coram Quốc tế dưới dự giám sát và chỉ dẫn kỹ thuật của Giáo sư Dame Carolyn Hamilton, Giám đốc tổ chức Coram Quốc tế. Báo cáo cũng được rà soát và nhận được những đóng góp và hỗ trợ kỹ thuật từ Charlotte Baker, Ruth Barnes, Maurice Dunaiski, Tiến sĩ Anna Mackin, Awaz Raoof và Tiến sĩ Lauren Wroe. Công việc thu thập dữ liệu được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu đến từ Viện Nghiên cứu Con người (tại Hà Nội, Việt Nam) và Viện Khoa học Lao động và Xã hội trực thuộc Bộ Lao động Thương Binh Xã hội. 

 

Báo cáo là một phần của dự án “Thắp sáng hy vọng: Chống lại nạn buôn bán và nô lệ trẻ em tại Việt Nam” do Quỹ Bảo vệ Chống lại nạn buôn bán trẻ em thuộc Bộ Nội Vụ Anh tài trợ. Các tác giả và nhóm nghiên cứu xin ghi nhận và chân thành cảm ơn mối quan hệ đối tác với Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp quốc tại Việt Nam trong việc điều phối công tác thu thập dữ liệu và tổ chức các hội thảo tham vấn trong nước cũng như những hỗ trợ và trợ giúp quý báu từ hai đối tác dự án là UNICEF Việt Nam và UNICEF Vương Quốc Anh (UNICEF UK), đặc biệt 

là cá nhân ông Nguyễn Ngọc Anh, Ommera Ahmed và Stefan Stoyanov. 

từ thiện trẻ em hàng đầu ở Anh, cam kết thúc đẩy và bảo vệ quyền trẻ em ở Anh và trên toàn thế giới. Coram Quốc tế hợp tác với các chính phủ, các cơ quan Liên Hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ Quốc tế ở hơn 80 quốc gia nhằm thúc đẩy quyền trẻ em thông qua cải cách luật pháp, chính sách và thực thi. Trong 20 năm qua, Coram Quốc tế đã tiến hành các nghiên cứu định lượng và nghiên cứu sâu định tính, hỗ trợ và chủ trì cải cách hệ thống liên quan đến quyền trẻ em và đã có nhiều xuất bản phẩm về chủ đề quyền trẻ em và vấn đề Giới. 

Trang 7

1 Giới thiệu 

Báo cáo này trình bày những kết quả từ một nghiên cứu kéo dài hai năm rưỡi do một nhóm các nhà nghiên cứu pháp lý xã hội đến từ tổ chức Coram Quốc tế thực hiện nhằm củng cố các bằng chứng về nạn buôn bán trẻ em và bóc lột lao động ở Việt Nam. Báo cáo tìm hiểu các loại hình và động cơ của nạn buôn bán trẻ em và bóc lột lao động, xác định các yếu tố cụ thể làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của trẻ em và xem xét trải nghiệm của những người từng bị buôn bán trở về tái hòa nhập và tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ. Nghiên cứu được thực hiện với sự hợp tác của UNICEF Việt Nam và UNICEF UK và được Quỹ Bảo vệ Chống lại nạn buôn bán trẻ 

em thuộc Bộ Nội Vụ Anh tài trợ1. 

Trong hai thập kỷ qua, buôn bán người gây sự chú ý đáng kể trên toàn thế giới. Ngày 15 tháng 11 năm 2000, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước Liên Hợp quốc Chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ban hành kèm theo Nghị định thư về Phòng ngừa, Trấn áp và Trừng trị tội phạm buôn bán người đặc biệt 

là Phụ nữ và Trẻ em. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu về buôn bán trẻ em đã được thực hiện với sự quan tâm đặc biệt dành cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long – nơi có ngành công nghiệp tình dục khá nổi tiếng trong khu vực. Tuy vậy, vẫn còn những khoảng trống đáng kể về kiến thức và hiểu biết về nạn buôn bán trẻ em do những thách thức trong thu thập bằng chứng về hoạt động mang tính bất hợp pháp và bí mật này, cũng như những thách thức trong xác định và đo lường một khái niệm còn nhiều tranh cãi và mang tính chính trị. 

Nghiên cứu này được thiết kế để bổ sung cho những bằng chứng hiện có về nạn buôn bán trẻ em ở Việt Nam. Nghiên cứu nhằm củng cố hiểu biết về hiện tượng này từ quan điểm của trẻ em và các thanh thiếu niên đã từng bị buôn bán. Cách tiếp cận của chúng tôi, sẽ được mô tả chi tiết hơn trong mục phương pháp dưới đây, 

là quy nạp và dựa trên kinh nghiệm.  Các phân tích và kết luận được đưa ra dựa trên trải nghiệm cụ thể và thực tế của trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam.  

Nghiên cứu này là một phần của dự án rộng hơn kéo dài hai năm rưỡi với mục tiêu củng cố công tác phòng ngừa và ứng phó với nạn buôn bán trẻ em tại Việt Nam. Ngoài nghiên cứu pháp lý xã hội này, dự án còn hai hợp phần khác. Hợp phần thứ nhất gồm các hội thảo tham vấn liên ngành nhằm củng cố công tác điều phối giữa các bên liên quan, chia sẻ những thực hành tốt và xác định các thách thức và thiếu hụt. Hợp phần thứ hai tập trung xây dựng và thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực làm việc về các vấn đề liên quan đến trẻ em cho các cơ quan chức năng và cán bộ làm công tác trực tiếp phòng ngừa và ứng phó với nạn buôn bán người. Nghiên cứu được thiết kế và thực hiện bởi tổ chức Coram Quốc tế với sự hợp tác của UNICEF Việt Nam và UNICEF UK. Số liệu trong nghiên cứu được thu thập bởi tổ chức Coram Quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu về Giới 

Trang 8

2 Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu được thiết kế với các phương pháp hỗn hợp nhằm đào sâu và phát huy các thế mạnh khác nhau của cả hai phương pháp định lượng và định tính trong thu thập và phân tích số liệu. Trong bối cảnh công tác phòng chống buôn bán người, lâu nay các nhà bình luận thường quan ngại về việc thiếu các bằng chứng đáng tin cậy, chắc chắn, có thể định lượng (dẫn đến những tuyên bố thiếu căn cứ và không đủ mạnh về quy mô và bản chất của buôn bán người). Mặt khác họ cũng chỉ ra rằng vẫn còn thiếu sự chú ý tới sự phức tạp và tính linh hoạt của vấn đề và bối cảnh khi hình thành các bằng chứng dựa trên trải nghiệm sống của chính các chủ thể bị buôn bán (Yea, 2017).  

Nghiên cứu này nhằm giải quyết hai vấn đề đáng quan tâm: thu thập một hệ thống số liệu mạnh, có thể đo lường, có thể so sánh và khái quát hóa đồng thời vẫn đảm bảo số liệu có chiều sâu, giải thích được vấn đề và bao gồm đa dạng các câu chuyện cá nhân và các trường hợp điển hình.  Mục tiêu là thu thập được các chứng 

cứ phức tạp và mang tính khái quát để từ đó có thể đưa ra khuyến nghị cải thiện hiệu quả các can thiệp nhằm phòng ngừa và ứng phó với nạn buôn người.  

2.1 Mục tiêu của nghiên cứu 

Cân nhắc những điều nói trên, phương pháp nghiên cứu được thiết kế nhằm đạt các mục tiêu sau: 

1 Thu thập số liệu về quy mô, nguyên nhân, các loại hình và xu thế nạn buôn bán trẻ em và thanh thiếu niên tại Việt Nam (định lượng); 

2 Thu thập số liệu về những trải nghiệm của trẻ em và thanh thiếu niên (tuổi từ 10 đến 24) bị ảnh hưởng bởi buôn bán người (định tính);  

3 Thu thập số liệu về tiếp cận các dịch vụ bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về, những trải nghiệm và đánh giá của họ về các dịch vụ này và kết quả đầu ra (định lượng và định tính). 

4 Thu thập một hệ thống số liệu phục vụ cho các can thiệp nhằm củng cố chính sách và dịch vụ để có thể phòng ngừa và ứng phó hiệu quả nhất với nạn buôn người và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của trẻ em với nạn buôn người (định lượng và định tính).  

2.2  Phương pháp 

2.2.1. Nghiên cứu định tính 

Hợp phần định tính của nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu 2, 3 và 4.  Số liệu được thu thập thông qua một loạt (cỡ mẫu n=103) phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn sâu kinh nghiệm của các bên liên quan trong công tác phòng chống buôn bán người cũng như những thanh thiếu niên từng trải nghiệm bị buôn bán đã trở 

về, người chăm sóc hoặc gia đình các em.   

Hầu hết số liệu định tính được thu thập bởi các cán bộ từ Viện Nghiên cứu Con người (IHS): các phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt cũng như tiếng dân tộc (ví dụ như H’mong), biên bản/ghi chép lại các phỏng vấn được dịch sang tiếng Anh, trước khi được mã hóa và phân tích bằng phần mềm Nvivo.  Một số ít các phỏng vấn được các nghiên cứu viên của Coram tiến hành có sử dụng phiên dịch bản ngữ.  

Trang 9

Tổng số 54 phỏng vấn cá nhân bán cấu trúc được tiến hành với các cán bộ chính quyền ở cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã, bao gồm: bộ đội biên phòng, công an, thẩm phán, các cán bộ tư pháp, đại diện các Bộ/Sở Lao động Thương binh và Xã hội (trong đó có cả các cán bộ xã hội làm việc tại các trung tâm bảo trợ xã hội), và đại diện Hội Phụ nữ.  Mười một phỏng vấn được tiến hành với đại diện của các Tổ chức Phi chính phủ Quốc tế, các Tổ chức Phi chính phủ địa phương và các Tổ chức Quốc tế hoạt động trong lĩnh vực phòng ngừa và ứng phó với nạn buôn người.  Cuối cùng, tám cuộc phỏng vấn được tiến hành với các bên liên quan khác gồm môi giới hôn nhân, nhân viên quán karaoke và những người tuyển dụng.   

Các cuộc phỏng vấn này nhằm nắm bắt quan điểm, năng lực và mối quan tâm của những cán bộ làm công tác bảo vệ và hỗ trợ cho các thanh thiếu niên có nguy cơ hoặc là mục tiêu của buôn bán người ở Việt Nam. Người phỏng vấn được lựa chọn thông qua các đối tác của UNICEF, chính phủ và các NGO quốc tế, thông qua lấy mẫu nhóm 'các bên liên quan' dựa trên mức độ kinh nghiệm trực tiếp của họ về a) làm việc trong các lĩnh vực chính sách liên quan trực tiếp đến buôn bán người hoặc b) tương tác với nạn nhân bị buôn bán trong vị trí công việc của họ. Hướng dẫn phỏng vấn được xây dựng để đảm bảo chuẩn hóa số liệu thu thập từ mỗi người cung cấp thông tin; tuy nhiên khi triển khai phỏng vấn vẫn đảm bảo tính linh hoạt để cho phép tương tác phù hợp với người tham gia phỏng vấn. 

Phỏng vấn trải nghiệm sống  

Thêm vào đó, 48 cuộc phỏng vấn sâu về cuộc sống của trẻ em và thanh thiếu niên từ 12‐24 tuổi, những người từng trải nghiệm bị buôn bán, bao gồm 20 trẻ em/thiếu niên nam và 28 trẻ em/thiếu niên nữ đã được thực hiện. 

Các cuộc phỏng vấn này nhằm ghi lại một cách phong phú và chi tiết các trải nghiệm của các nạn nhân bị buôn bán, bao gồm quá trình dẫn đến sự ra đi của họ, họ đã bị bóc lột như thế nào tại điểm đến, hoàn cảnh khi họ 

đi và khi trở về, và trải nghiệm của họ sau khi đã trở về. Mục đích của việc tiếp cận theo tiến trình cuộc sống 

là để có một bức tranh tổng thể về cuộc sống của của các nạn nhân: để có thể hiểu hoàn cảnh riêng và hoàn cảnh gia đình họ và trải nghiệm bị buôn bán của họ, từ đó có thể phân tích và rút ra bất cứ dấu hiệu hay vấn 

đề mang tính hệ thống nào là yếu tố nguy cơ đối với những gì các thanh thiếu niên này đã trải qua trước, trong 

và sau khi bị buôn bán, và liên hệ chúng với hoàn cảnh và những đặc điểm cá nhân của người đó. Những cuộc phỏng vấn tiến trình cuộc sống của nạn nhân được bổ sung bằng một phỏng vấn riêng với người chăm sóc hoặc thành viên gia đình họ bất cứ khi nào có thể.    

Những người tham gia phỏng vấn sâu được tiếp cận thông qua các cơ sở hỗ trợ nạn nhân, những nơi cung cấp dịch vụ hỗ trợ phục hồi và tái hòa nhập khác cho nạn nhân bị buôn bán và thông qua đại diện Hội Phụ nữ địa phương, những người biết các câu chuyện của trẻ em và các gia đình ở các xã, làng trên địa bàn. Người trả lời phỏng vấn được chọn thông qua lấy mẫu với biến thể lớn nhất để tối đa hóa sự đa dạng về độ tuổi (trong phạm vi độ tuổi đã được chỉ định cho nghiên cứu), giới tính, loại hình dịch vụ nhận được và đặc điểm về trải nghiệm khi bị buôn bán của họ (ví dụ: họ đã làm ngành nghề gì khi bị buôn bán). 

2.2.2. Nghiên cứu định lượng 

Chuỗi định lượng của nghiên cứu tập trung đáp ứng mục tiêu nghiên cứu 1 và 3. Mục đích là thu thập một số 

dữ liệu một cách toàn diện và có tính đại diện về quy mô của nạn buôn bán và bóc lột trẻ em ở Việt Nam cũng 

Trang 10

như một số dữ liệu có thể định lượng và đo lường được về các trải nghiệm bị buôn bán, các yếu tố nguy cơ, kết quả việc tiếp cận các dịch vụ sau khi nạn nhân trở về. 

Để đạt được điều này, nhóm đã thiết kế và thực hiện ba cuộc khảo sát riêng biệt.  

Khảo sát 1: Khảo sát người thụ hưởng các dịch vụ hỗ trợ 

Cuộc khảo sát đầu tiên được thực hiện với trẻ em và thanh thiếu niên (tuổi từ 12‐24) đã được công nhận chính thức là nạn nhân bị buôn bán và hiện đang hoặc đã nhận được các dịch vụ hỗ trợ thông qua các trung tâm bảo trợ xã hội của nhà nước và các chương trình khác (sau đây gọi tắt là ‘khảo sát người thụ hưởng’). 

Mục đích của khảo sát này nhằm thu thập một số số liệu cơ bản mang tính mô tả và tiêu chuẩn để có thể phân tích khách quan các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học, trải nghiệm bị buôn bán, các dịch vụ hỗ trợ đã nhận được kể từ khi trở về, những tác động đến sức khỏe và cuộc sống của người tham gia khảo sát. 

Những người tham gia khảo sát đã được lựa chọn từ các nhà tạm lánh ở bảy tỉnh. Các tỉnh được lựa chọn có chủ đích2 nhằm phản ánh tính đa dạng về địa lý và dân tộc của các 'điểm nóng’ về buôn bán người được biết đến ở Việt Nam, bao gồm: Lào Cai (Tây Bắc), Bắc Giang (Đông Bắc), Lạng Sơn (Đông Bắc), Thừa Thiên‐Huế (Bắc Trung Bộ), Đắc Lắc (Tây Nguyên), Cần Thơ (Đồng bằng sông Cửu Long) và Tây Ninh (Đông Nam Bộ). 

Sau đó một cơ sở hỗ trợ nạn nhân đã được chọn có chủ ý từ mỗi 7 tỉnh này.  Việc lựa chọn cơ sở hỗ trợ nạn nhân có chủ ý được thực hiện với mục đích tối đa hóa sự đa dạng trong 1) bản chất của các hình thức bóc lột 

      

 

2 Do những khó khăn trong tiếp cận với trẻ em và thanh thiếu niên cư trú trong các cơ sở hỗ trợ nạn nhân, việc thực hiện một cuộc khảo sát toàn diện mang tính đại diện toàn quốc đối với nhóm người thụ hưởng này là không khả thi. 

3 Các cơ quan cung cấp dịch vụ đã tiếp cận bao gồm: các Trung tâm bảo trợ xã hội của nhà nước, một cơ sở hỗ trợ nạn nhân do cơ quan chức năng địa phương quản lý với nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế (Nhà Nhân Ái), các dịch vụ hỗ trợ do ngành lao động cung cấp tại cộng đồng, các dịch vụ hỗ trợ từ dự án của các tổ chức quốc tế như IOM (ở Bắc Giang, Huế, Tây Ninh). 

Trang 12

Khảo sát 2: Khảo sát hộ gia đình các thanh thiếu niên  

Khảo sát thứ hai là một cuộc khảo sát hộ gia đình mang tính đại diện toàn quốc cho nhóm trẻ 12 đến 24 tuổi tại Việt Nam (sau đây gọi là ‘Khảo sát hộ gia đình các thanh thiếu niên’). 

Cuộc khảo sát đặt các câu hỏi về trải nghiệm di cư của các thanh thiếu niên cũng như những trải nghiệm về việc bị ép buộc và bóc lột đã xảy ra trong quá trình di cư, với mục đích đầy tham vọng là thu thập một số thông tin mang tính đại diện quốc gia về quy mô nạn buôn bán trẻ em trong độ tuổi này. Cuộc khảo sát cũng bao gồm các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học và hoàn cảnh gia đình các em, để thu thập thông tin về các yếu 

tố nguy cơ và mối tương quan với các trải nghiệm bị buôn bán, và khi có thể cũng bao gồm các câu hỏi về việc tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ tái hòa nhập cũng như tác động tới sức khỏe và cuộc sống hiện tại của các em. Khảo sát được thực hiện thông qua thiết kế chọn mẫu ba giai đoạn bao gồm cả phân tầng và gộp theo cụm. Giai đoạn đầu, phương pháp xác suất tỷ lệ với kích thước mẫu được sử dụng để chọn ra hai xã/phường trong phạm vi 16 tầng theo khu vực, được tạo ra bằng cách chia tất cả các xã và phường trong mỗi 8 khu vực địa lý cấp hai của Việt Nam thành hai nhóm riêng biệt: xã nông thôn và phường đô thị. Theo đó đã lựa chọn ra được tổng cộng 32 xã/phường. 

Giai đoạn hai, chọn ngẫu nhiên từ mỗi xã bốn "điểm xuất phát" về mặt vị trí và bắt đầu với mỗi "điểm xuất phát", các điều tra viên sử dụng chiến lược bước ngẫu nhiên chọn ra 27 hộ gia đình (trên cùng một dãy phố 

sử dụng một giá trị vòng lặp đã định trước để chọn ra hộ gia đình tham gia khảo sát). Kết quả đã chọn được tổng số 108 (27 x 4) hộ gia đình mỗi xã. 

Giai đoạn cuối, sàng lọc từ mỗi hộ gia đình đã chọn xem gia đình đó có người đủ điều kiện từ 12‐24 tuổi hay không. Với các hộ có nhiều hơn một người 12‐24 tuổi, chọn ngẫu nhiên một người tham gia khảo sát sử dụng phương pháp lưới Kish4. 

Các giả định sau đây được sử dụng để ước tính kích thước mẫu: khoảng tin cậy (CI) 95%, sai số lề/mức độ chính xác là +/‐ 2,9%), biến thiên tối đa (50%) trong dân số và hiệu quả thiết kế mẫu là 1,5. Theo phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã thu được cỡ mẫu ban đầu là 3.453 bảng hỏi đã hoàn thành. 

Cuối cùng, trong giai đoạn 1 của quy trình lấy mẫu, ngoài 32 xã được chọn ngẫu nhiên, nhóm nghiên cứu đã quyết định bổ sung thêm 4 xã điểm nóng của buôn bán người bằng cách lựa chọn có chủ đích. Những điểm nóng được chọn này là nơi mà theo thông tin sẵn có tại địa phương, tỷ lệ buôn bán trẻ em có thể đặc biệt cao, 

do đó được chọn để xác thực các thông tin và giả định hiện có về địa điểm mà buôn bán trẻ em xảy ra. Các giai đoạn 2 và 3 của quá trình lấy mẫu đã được lặp lại ở các xã điểm nóng, theo đó số mẫu từ các điểm nóng 

là 432 bảng hỏi đã hoàn thành.  

      

 

4 Xem: Phương pháp Kish L. A cho việc chọn lựa chọn chủ thể trả lời từ hộ gia đình. Tạp chí Hiệp hội Thống kê Mỹ. 1949; 44:380‐87. 

Trang 13

Khảo sát 3: Khảo sát tiếp theo với chủ hộ 

Khảo sát thứ ba và là khảo sát cuối cùng thực hiện trong nghiên cứu là ‘khảo sát các chủ hộ’ chọn ra từ mẫu các hộ gia đình nằm trong Khảo sát hộ gia đình các thanh thiếu niên. 

Trong các hộ gia đình này, chủ hộ trả lời một bảng hỏi liên quan đến trẻ em hay thanh thiếu niên của hộ gia đình đã di cư khi các em chưa đến 18 tuổi và vẫn chưa quay về nhà.  

Thông tin bổ sung thu được từ cuộc khảo sát thứ ba này được sử dụng để đảm bảo rằng mức độ/qui mô ước tính về trẻ em/thanh thiếu niên từng trải nghiệm bị buôn bán đưa ra trong nghiên cứu đã bao gồm số 'nạn nhân không trở về' trong độ tuổi 12‐24, những người có thể vẫn đang ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam nhưng không phải tại gia đình họ. 

Để hoàn thành khảo sát cuối cùng này, 769 hộ gia đình đã được chọn ra từ 3.885 mẫu hộ gia đình đã được chọn lúc trước. Mẫu phụ này được chọn sử dụng thiết kế hai giai đoạn: Đầu tiên, các xã/phường đô thị được chọn trong giai đoạn đầu lấy mẫu cho khảo sát hộ gia đình được nhóm theo sáu khu vực5 và phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản được sử dụng để chọn hai xã/phường đô thị từ mỗi khu vực này để quay lại khảo sát tiếp, theo đó có tổng số 576 hộ được chọn. Sau đó bốn xã điểm nóng từ khảo sát ban đầu cũng được đưa vào các địa điểm sẽ quay lại khảo sát tiếp, theo đó mẫu bổ sung là 193 hộ gia đình từ các điểm nóng. 

Trong giai đoạn thứ hai, bốn khu vực liệt kê ban đầu (được sử dụng ở mỗi xã trong khảo sát hộ gia đình ban đầu) được chỉ định một thứ tự xếp hạng ngẫu nhiên. Các điều tra viên được yêu cầu quay lại càng nhiều hộ gia đình trong khu vực liệt kê thứ nhất càng tốt, trước khi chuyển sang khu vực liệt kê thứ hai, và sau đó là thứ 

Trang 14

Hình 2: Bản đồ đánh dấu các địa bàn tiến hành thu tập dữ liệu khảo sát hộ gia đình 

  

 

Trang 15

        2.3  Hạn chế của nghiên cứu 

Nghiên cứu bị ảnh hưởng bởi một số hạn chế. Đáng kể nhất trong số này là khả năng tiếp cận giới hạn tới những thanh thiếu niên bị buôn bán trở về được hỗ trợ thông qua các Tổ chức Phi chính phủ Quốc tế (INGO) 

và các đơn vị tư nhân cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác. Trong khi khu vực tư nhân và các tổ chức tình nguyện cung cấp một tỷ lệ đáng kể các dịch vụ cho nạn nhân bị buôn bán ở Việt Nam, phần lớn những thanh thiếu niên được phỏng vấn trong nghiên cứu này được tiếp cận thông qua kênh chính phủ và các cơ quan chức năng. Những khó khăn này đặc biệt hạn chế khả năng thu thập thông tin về dịch vụ hỗ trợ của các nghiên cứu viên 

và việc đạt được mục tiêu nghiên cứu số 3 và 4. Đặc biệt cần lưu ý rằng số liệu được trình bày từ Khảo sát người thụ hưởng dịch vụ có cỡ mẫu tương đối nhỏ (n = 86) và được chọn có chủ đích từ những người bị buôn bán trở về. 

Ngoài ra, do tính chất nhạy cảm chính trị của chủ đề nghiên cứu, có khả năng một số bằng chứng thu thập được trong điều tra hộ gia đình và từ các cuộc phỏng vấn định tính bị ảnh hưởng bởi các sai lệch khi báo cáo. Các thanh thiếu niên tham gia khảo sát có thể không muốn tiết lộ những trải nghiệm liên quan đến di cư bất hợp pháp và hoạt động tội phạm. Họ cũng có thể từ chối nhận mình là 'nạn nhân' của buôn bán người hoặc 

từ chối thừa nhận họ có thể đã bị ép buộc hoặc lừa dối bởi nhà tuyển dụng hoặc kẻ buôn người do e sợ bị kỳ thị hay bị cho là 'thất bại', thiếu hiểu biết hoặc quá ngây thơ nếu thừa nhận điều này. Điều này có thể đã dẫn đến các báo cáo không đầy đủ về các trải nghiệm liên quan đến buôn bán người, bị ép buộc hoặc bóc lột trong khảo sát hộ gia đình, đặc biệt khi liên quan đến các ngành nghề bị kỳ thị cao như ngành công nghiệp tình dục. 

Để giảm thiểu những sai lệch khi báo cáo, các nghiên cứu viên đã giải thích cẩn thận mục đích của nghiên cứu (để cải thiện các hỗ trợ nhằm ngăn chặn nạn buôn bán trẻ em, hoặc giúp trẻ em và thanh thiếu niên phục hồi sau khi đã bị buôn bán). Các nghiên cứu viên cũng nhấn mạnh sẽ đảm bảo tính ẩn danh và đảm bảo sẽ không 

có các hậu quả cá nhân hay từ các cơ quan hữu quan khi họ cởi mở và trung thực chia sẻ thông tin. Các câu hỏi được hỏi một cách nhạy cảm, được tương tác linh hoạt, có sự tham gia để có thể trao đổi tự nhiên, chân thật và đảm bảo quá trình trao đổi được dẫn dắt bởi người tham gia. 

Cuối cùng, việc dịch thông tin sang tiếng Anh và vai trò của cơ quan nghiên cứu chính với tư cách là ‘người ngoài’ sẽ có một số tác động đến tính xác thực của dữ liệu được thu thập. Chắc chắn, một số thông tin sẽ bị mất trong quá trình dịch thuật, đặc biệt là các thông tin phức tạp, chi tiết và mang tính bối cảnh hoặc đặc thù 

13 Xã Trà Tân, Huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận  27.  Xã  Dào  San,  Xã  Hoang  Thèn  –  Huyện  Phong  Thổ  và  Phường  Tân  Phong, 

Thành phố Lai Châu, Tỉnh Lai Châu. 

14 Phường Tam Hiệp, Thành phố Biên Hoà, Tỉnh Đồng Nai   

Trang 16

văn hóa. Tuy nhiên, các biện pháp đã được đưa ra để ngăn ngừa hạn chế này: trước hết, các phiên dịch và dịch giả có kỹ năng tiếng Anh tốt, có kiến thức kỹ thuật chuyên môn về tình hình buôn bán trẻ em tại địa phương 

đã được lựa chọn. Tương tự, các nhà nghiên cứu định tính ở trung ương với khả năng tiếng Anh tốt, cũng như 

đã từng có kinh nghiệm phỏng vấn các nhóm dễ bị tổn thương, đã được chọn để thực hiện các cuộc phỏng vấn định tính ở cấp tỉnh và địa phương. Thứ ba, các công cụ thu thập dữ liệu định tính đã được phát triển để định hướng thảo luận. Các nhà nghiên cứu và dịch giả được làm quen trước với các công cụ này. Cuối cùng, trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu chính thức, một nghiên cứu viên từ Coram đã tiến hành thí điểm trong một ngày để làm quen với quá trình phiên dịch và giải quyết bất kỳ vấn đề hoặc băn khoăn nào nảy sinh.  

Trang 17

3 Hướng tới khung khái niệm để xác định và đo lường 

buôn bán (trẻ em) 

Chương này đề cập đến một số thử thách mang tính lý thuyết gắn với việc xác định và đo lường buôn bán người, trong bối cảnh lịch sử khi khái niệm pháp lý “buôn bán người” xuất hiện. Những tranh luận và băn khoăn mang tính lý thuyết này định hình phương pháp tiếp cận cho nghiên cứu đánh giá nạn buôn bán người trong Khảo sát thanh thiếu niên: khung khái niệm sẽ được làm rõ ở mục 3.2 dưới đây.  

vào năm 2000, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị định thư về Ngăn ngừa, Trấn áp, và Trừng trị  tội phạm Buôn bán người, đặc biệt là Phụ nữ và Trẻ em, thường gọi là ‘Nghị định thư Palermo’. Nghị định  thư được xây dựng như một phần bổ sung cho Công ước Chống Tội phạm Có tổ chức Xuyên Quốc gia, trong 

đó có một định nghĩa toàn diện về buôn bán người và các điều khoản bắt buộc liên quan đến vụ án hình sự.   Định nghĩa Buôn bán người trong Nghị định khá chung chung và rườm rà, được xây dựng trong bối cảnh có 

nhiều mối bận tậm về các vấn đề như di cư, mại dâm và bạo hành trẻ em.10 Tuy nhiên, Nghị định thư đã nhận được sự tán thành và ủng hộ rộng rãi từ các quốc gia: 174 trong số 193 quốc gia hiện đang tham gia Nghị định 

      

 

6 Vào năm 1949, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về Ngăn chặn Buôn bán người và Khai thác Mại dâm, công ước này không được nhiều quốc gia phê chuẩn.  

Trang 18

thư Palermo. Hơn nữa, 134 quốc gia trong số đó, bao gồm Việt Nam, đã xây dựng các quy phạm pháp luật trong nước về phòng chống buôn bán người dựa trên các điều khoản trong Hiệp ước năm 2012.11 

Định nghĩa ‘buôn bán người’ trong Nghị định thư Palermo 

‘"Buôn bán người” là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận người, bằng cách sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực hoặc các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa dối, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hoặc lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương, hoặc cho/nhận tiền hoặc các lợi ích khác để đạt được sự đồng ý về việc một người có quyền kiểm soát người khác, vì mục đích bóc lột. Bóc lột, tối thiểu, bao gồm khai thác mại dâm, hoặc các hình thức khác của bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức, nô lệ, hoặc những hình thức tương tự như nô lệ, hoặc lấy nội tạng’. 

và nhất quán. 

Định nghĩa ‘mua bán (trẻ em)’ trong Luật Việt Nam hẹp hơn so với trong Nghị định thư Palermo vì nó dường như đòi hỏi phải có sự trao đổi hai chiều, bao gồm ‘chuyển giao và ‘tiếp nhận’ người. Điều này được cho là không thể bao quát hết tính chất hình sự rộng hơn của việc ‘tuyển mộ’, ‘vận chuyển’ hoặc ‘chứa chấp’ người được bao gồm trong luật pháp quốc tế. Hơn nữa, tại Việt Nam, ‘mua bán trẻ em’ chỉ áp dụng cho người dưới 

16  tuổi,  và  không  bao  gồm  những  người  bị  buôn  bán  ở  độ  tuổi  16  hoặc  17.   

Việc áp dụng các luật pháp quốc tế và quốc gia mới đã khiến số lượng các tổ chức làm việc trong lĩnh vực ngăn chặn và ứng phó với nạn buôn người trên toàn cầu gia tăng nhanh chóng. Một nghiên cứu gần đây ước tính rằng có ít nhất 1.861 tổ chức phi chính phủ chuyên thực thi các sáng kiến phòng chống buôn bán người, hoạt động tại 168 quốc gia trên toàn thế giới (Limoncelli, 2016). Buôn bán người đã trở thành một ngành công 

      

 

11 Limoncelli, S. A. (2016). Các tổ chức phi chính phủ chống buôn bán người đang làm gì? Kết quả từ một nghiên cứu 

toàn cầu. Tạp chí về buôn bán người, 2(4), 316–328. https://doi.org/10.1080/23322705.2015.1135605 

Trang 19

Mặc dù có sự nhất trí cao trên toàn cầu về nhu cầu ngăn chặn và ứng phó với nạn buôn bán người, tại nhiều quốc gia việc ban hành luật hình sự về nô lệ và buôn bán người, năng lực và nguồn lực được huy động cho những nỗ lực này, những tiến triển trong xác định nạn nhân và truy tố xét xử tội phạm vẫn còn rất hạn chế. Vẫn còn rất ít thông tin về mức độ và quy mô của nạn buôn người, với những ước tính dao động đáng kể, từ 2.5 triệu – đến 27 triệu nạn nhân trên toàn thế giới. 12 

Hơn nữa, số liệu thống kê cho thấy con số phát hiện, điều tra, truy tố và kết án là rất nhỏ so với quy mô của vấn đề.13 Trong số hàng triệu người hiện được cho là đang sống trong cảnh nô lệ hiện đại trên toàn thế giới,14 chỉ có 100.409 nạn nhân đã được xác định trên toàn cầu trong năm 2017. Hơn nữa, trong số này, chỉ có 17.880 trường hợp bị truy tố, và 7.045 trường hợp bị kết án hình sự.15 Điều này đặt ra câu hỏi về các thách thức trong xác định và ứng phó với nạn buôn người, cũng như kêu gọi cần có những bằng chứng mạnh mẽ hơn để chứng minh hoặc bác bỏ các kết luận về bản chất, mức độ và địa bàn của nạn buôn người trên toàn thế giới.  Những thách thức trong đánh giá, xác định và ứng phó với nạn buôn bán người thường được cho là do những khó khăn khi theo dõi và giám sát những hành vi gian lận và phạm pháp. Mặc dù công tác ứng phó với buôn bán người chắc chắn bị cản trở bởi các vấn đề liên quan đến tiếp cận và tiết lộ thông tin, các nhà bình luận cho rằng còn có cả những toan tính và lợi ích chính trị làm phức tạp tình hình, cản trở việc nhận diện và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bị buôn bán. 

3.2  Tìm hiểu về buôn bán người: những tranh luận và thách thức trong định nghĩa Một trong những căng thẳng chính về mặt chính sách trong công tác phòng chống buôn bán người là sự ràng buộc định nghĩa di cư với buôn bán người. Nhánh đầu tiên trong định nghĩa buôn bán người trong Nghị định 

thư Palermo là một quá trình liên quan đến sự di chuyển một người, thông qua ‘tuyển mộ, vận chuyển, chuyển 

giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận’. Khía cạnh này của định nghĩa liên quan đến bối cảnh ban đầu khi Nghị định 

thư Palermo được xây dựng và nhận được sự đồng thuận: đây là nghị định thư bổ sung cho Công ước của Liên  hợp quốc về Chống Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cùng với Nghị định thư chống Buôn lậu Người di 

cư bằng đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Nó phản ánh những lo ngại của các quốc gia về sự gia 

tăng di cư bất thường và kiểm soát biên giới. Điều này đưa đến những cuộc tranh luận về vấn đề khi nào và làm như thế nào để phân biệt giữa buôn bán người, buôn lậu người và di cư trái phép. 16 

Thật vậy, với các mối quan tâm mang tính chính trị của các quốc gia trong kiểm soát và hạn chế di cư xuyên biên giới, trong khi việc hạn chế nghĩa vụ nhân đạo của các quốc gia này đối với người di cư (có thể với số       

Trang 20

lượng khá nhiều) lâm vào cảnh bị bóc lột lao động, việc phân biệt giữa buôn bán người và buôn lậu người là vấn đề quan trọng và thu hút sự quan tâm đặc biệt. Tuy nhiên, từ góc độ nhân quyền, sự khác biệt không thực 

sự rõ ràng, như Anderson viết: ‘nếu vấn đề là mại dâm hoặc lao động cưỡng bức, vậy tại sao phải băn khoăn 

về di cư? Tại sao việc bị buộc phải làm mại dâm ở nước ngoài lại tệ hơn ở chính quê nhà?’ Điều này đã gây ra căng thẳng giữa những người định nghĩa buôn bán trẻ em hẹp hơn: như một quá trình bao gồm việc trao đổi, chuyển nhượng và tiếp nhận người bất hợp pháp, với những người muốn xem xét rộng hơn, tập trung vào mục đích cuối cùng của buôn bán người: bóc lột lao động hoặc tình dục (Anderson, 2014) 

Hơn nữa, trong thực tế, buôn lậu người và buôn bán người thường biến chuyển linh hoạt và liên quan đến nhau nên rất khó phân biệt. Phần lớn các báo cáo mô tả những người trở về sau khi bị buôn bán như những nạn nhân thụ động, bị bắt cóc, tù đày và nô lệ, điều này đã đơn giản hoá những câu chuyện phức tạp về di cư 

và bóc lột: với những hành trình, xuất xứ và kết thúc mơ hồ hơn. Điều này có thể đặc biệt đúng trong trường hợp đối tượng di cư bí mật là trẻ em không có người đi cùng. Trẻ em đặc biệt phụ thuộc vào bên ‘trung gian’ 

là người trưởng thành giúp các em di chuyển một đoạn đường dài, trốn tránh kiểm soát nhập cư, và tiếp cận những ‘cơ hội’ lao động; trong khi đó, do sự phụ thuộc tương đối và thiếu kinh nghiệm, các em đặc biệt dễ bị tổn thương bởi nhiều hình thức bóc lột và lạm dụng trong suốt hành trình của mình, ví dụ như lạm dụng tình dục, lao động cưỡng bức, và ép buộc tham gia vào các hành vi phạm pháp. 17 

Có một số khía cạnh của định nghĩa trong Nghị định thư Palermo cố gắng phân biệt buôn bán người và buôn lậu người; tuy nhiên, mỗi cách phân biệt khác nhau lại đặt ra những thách thức về mặt định nghĩa. Tiêu chí phân biệt đầu tiên: yếu tố vận chuyển của buôn bán người không nhất thiết phải diễn ra xuyên biên giới quốc gia, và bản thân việc di chuyển không nhất thiết phải là bất hợp pháp. Thứ hai, để cấu thành buôn bán người, 

để phân biệt buôn bán người với các hình thức bóc lột lao động hoặc lạm dụng khác: phân biệt ‘tiến trình’ buôn bán người với giai đoạn cuối là ‘bóc lột’. Thứ hai, liên quan đến yếu tố ‘ép buộc’, ‘lừa đảo’, và ‘lạm dụng quyền lực’ (đối với người lớn) đặt ra câu hỏi là khi nào thì sức ép hoặc những ràng buộc lao động, làm việc là hợp pháp và khi nào là vi phạm, và làm thế nào để xác định chính xác khi nào những hình thức lao động khác nhau là ‘tự do’, ‘tự nguyện’ hoặc ‘ép buộc’. Cuối cùng, định nghĩa ‘bóc lột’ trong Nghị định thư được để mở và 

chung chung là ‘tối thiểu’, bao gồm khai thác mại dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục, lao động cưỡng 

bức hoặc dịch vụ, nô lệ, hoặc lấy nội tạng’. Đưa ra giới hạn cho bóc lột trong thực thế liên quan đến những đánh giá mang tính đạo đức và chính trị, không chỉ loại hình công việc nào được coi là hợp pháp và loại công       

 

17 Lelliott, J. (2017). Buôn lậu và buôn bán người nhỏ tuổi không có người đi kèm: Hướng tới một phương pháp tiếp cận 

mang tính bảo vệ và đồng thuận trong luật quốc tế. Tạp chí quốc tế về luật tị nạn, 29(2), 238–269. 

https://doi.org/10.1093/ijrl/eex024. 

Trang 21

tư và lợi nhuận một cách hợp lý), và trong trường hợp nào điều kiện làm việc quá tồi tệ, lương quá thấp, với 

tỷ lệ vô lý là không chấp nhận được.  

Do đó, trên thực tế, xác định và định vị buôn bán người là mơ hồ và còn nhiều tranh cãi. Có thể cho rằng, từng khía cạnh của buôn bán người – ‘di chuyển’, ‘ép buộc’ và ‘bóc lột’ – được hiểu rõ nhất như một quá trình nối tiếp, và các dấu hiệu của từng yếu tố trong định nghĩa ‘buôn bán người’ có thể diễn ra ở những giai đọan khác nhau trong hành trình lao động hoặc di cư của thanh thiếu niên. 

3.3 Gợi ý nghiên cứu  

Thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa thanh thiếu niên di cư với ‘nạn nhân bị buôn bán’ và thiếu những hiểu biết chuyên sâu về sắc thái và tính phức tạp của những trải nghiệm di cư của từng cá nhân, đặt ra thách thức cho các nhà nghiên cứu – những người đang thu thập những dữ liệu khách quan, đáng tin cậy, và có thể định lượng 

về mức độ phổ biến của buôn bán người và thanh thiếu niên ở quy mô quốc gia hoặc quốc tế. Chương tiếp theo của bản báo cáo giải thích tại sao các nhà nghiên cứu của Coram Quốc tế dựa trên những phân tích này 

đã xây dựng một khung đánh giá buôn bán người linh hoạt hơn trong nghiên cứu khảo sát thông qua phát triển bộ ‘dấu hiệu’ có thể báo hiệu liệu một trẻ di cư đã có những trải nghiệm liên quan đến buôn bán người hay không.  

Những thách thức, sự mơ hồ và căng thẳng trong việc xây dựng định nghĩa nạn buôn bán người đã chỉ rõ hướng đi của nghiên cứu này. Điều đó cùng với thông tin đánh giá nạn buôn bán trẻ em trong nghiên cứu khảo sát, định hình việc phân tích dữ liệu định tính và định lượng thu thập được trong quá trình nghiên cứu. Nghiên cứu tìm hiểu xem khi nào và bằng cách nào thực tế buôn bán trẻ em và bóc lột và cưỡng bức thanh thiếu niên Việt Nam trong quá trình di cư, giống hay khác những mô tả trong các ấn phẩm, văn bản và định nghĩa pháp 

lý về buôn bán người, cũng như những chương trình ưu tiên của các bên liên quan đang làm việc để ngăn chặn 

và giải quyết các tác động tiêu cực của buôn bán người.  

 

Trang 22

4 Quy mô nạn buôn bán (trẻ em) ở Việt Nam  

Chương này miêu tả cách thức đánh giá nạn buôn bán (trẻ em) trong nghiên cứu khảo sát hộ gia đình, và trình bày một số phát hiện ‘tiêu đề’ về mức độ phổ biến và xu hướng.  

Như đã thảo luận ở mục phương pháp nghiên cứu (Chương 2) của báo cáo này, hai khảo sát đã được sử dụng 

để đưa ra ước tính về độ phổ biến của nạn buôn bán trẻ em và thanh thiếu niên ở Việt Nam: khảo sát đầu tiên thực hiện với một nhóm đại diện các thanh thiếu niên tuổi từ 12 đến 24 tại Việt Nam (‘khảo sát hộ gia đình các thanh thiếu niên’), và khảo sát thứ hai với số mẫu ít hơn được tiến hành với nhóm ‘chủ hộ’ (‘khảo sát chủ hộ’). Nhận thức buôn người là hiện tượng phức tạp và mơ hồ, và những trải nghiệm liên quan đến buôn bán trẻ em là một quá trình liên tục, các kháo sát này bao gồm một loạt câu hỏi được thiết kế như một tập hợp các ‘dấu hiệu’ có thể dùng để đánh giá liệu những thanh thiếu niên này đã từng trải nghiệm những dấu hiệu của nạn buôn người hay chưa. Những dấu hiệu được chia thành ba nhóm để phán ánh ba nhánh của định nghĩa ‘buôn bán người’ trong Nghị định thư Palermo (được nêu rõ trong Chương 3): I. ‘di chuyển’; II. ‘lừa đảo, 

niên, trong lãnh thổ Việt Nam (di cư nội địa) hoặc ra ngước ngoài (di cư xuyên biên giới). Chỉ những người báo cáo là đã di cư mà không đi cùng cha mẹ hoặc người chăm sóc được tham gia khảo sát, điều này đảm bảo tất 

19 https://www.unicef.org/southafrica/SAF_pressrelease_notetrafficking.pdf 

Trang 23

Nhóm II. Lừa đảo, ép buộc hoặc lạm dụng quyền lực 

Một số câu hỏi liên quan đến nhánh thứ hai trong định nghĩa ‘buôn bán người’ trong Nghị định thư Palermo, 

‘lừa đảo, cưỡng ép hoặc lạm dụng quyền lực’ đã được đưa vào khảo sát. Những câu hỏi này dành cho thanh thiếu niên bao gồm: ai quyết định cho họ di cư, ai là người chịu trách nhiệm tạo điều kiện và sắp xếp chuyến 

đi của họ, họ có được an toàn ở điểm đến và suốt cuộc hành trình không, liệu họ đã bao giờ được phép liên lạc với gia đình chưa, và (nếu họ đi làm) liệu họ có được trả mức lương như đã thoả thuận từ đầu hay không.  

Nhóm III. Bóc lột 

Cuối cùng, nhánh thứ ba ‐ ‘bóc lột’, các dấu hiệu đã đúc kết ra định nghĩa của các hình thức bóc lột (lao động 

và tình dục) trong luật pháp và tiêu chuẩn nhân quyền trong nước và quốc tế. (Khi định nghĩa trong nước và quốc tế không phù hợp, các nhà nghiên cứu đã chọn ra một tiêu chuẩn có tính bảo vệ và/hoặc rõ ràng nhất). Thanh thiếu niên đã di cư được hỏi một loạt câu hỏi liên quan đến trải nghiệm của họ về ‘công việc’ tại điểm đến, ví dụ như liệu họ có hoạt động mại dâm hoặc những hình thức bóc lột nào khác không, họ làm việc bao nhiêu tiếng một ngày và một tuần, và họ được trả công bao nhiêu.   

4.1  Tính toán mức độ phổ biến của ‘các chỉ số buôn bán’ 

Tất cả những người tham gia vào khảo sát thanh thiếu niên dưới 18 tuổi di cư độc lập, và thanh thiếu niên có 

báo cáo trải nghiệm bị cưỡng bức hoặc bóc lột trong quá trình di cư, được coi như đã có trải nghiệm giống với  hoặc chính là buôn bán trẻ em. (Từ sau đây, ‘ICTs’ được dùng như từ viết tắt của ‘Dấu hiệu của nạn buôn bán  trẻ em’) khi miêu tả trải nghiệm của những người trên 18 tuổi khi di cư, kể cả khi họ trình báo đã bị cưỡng bức 

và bóc lột trong thời gian di cư, cụm từ ‘buôn bán người’ được tránh sử dụng. Điều này phản ánh một thực tế 

là luật pháp thường yêu cầu tiêu chuẩn cao hơn cho những bằng chứng để làm rõ việc buôn bán người trên 

18 tuổi. Những người di cư trên 18 tuổi được mô tả là những thanh thiếu niên đã có trải nghiệm giống với  hoặc chính là bị cưỡng bức hoặc bị bóc lột trong hoàn cảnh di cư. (Từ sau đây, ‘IFEMs’ được dùng như từ 

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 15 tuổi VÀ làm việc nhiều hơn 4 tiếng một ngày và nhiều hơn 

20 tiếng một tuần (bị cấm theo Luật Lao động, Việt Nam); 

Trang 24

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 18 tuổi VÀ đang làm việc tại điểm đến VÀ không được trả công theo thoả thuận ban đầu; 

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 18 tuổi VÀ họ được trả ít hơn mức lương hợp pháp tối thiểu được quy định trong Luật Lao động Việt Nam; 

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 18 tuổi VÀ chưa từng được liên lạc với bạn bè và gia đình một lần nào tại điểm đến; 

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 18 tuổi VÀ cho biết họ đã quay trở lại sau khi được ‘giải cứu’; HOẶC 

 Trẻ em thoả mãn các điều kiện để trở thành nạn nhân của nạn bóc lột lao động* VÀ chủ gia đình không phải là cha mẹ/ông bà/người thân của họ VÀ họ không phải là chủ gia đình; 

HOẶC 

 Người được hỏi di cư độc lập khi ít hơn 18 tuổi VÀ một người lạ đã sắp xếp chuyến đi của họ VÀ họ là một người làm thuê trong hộ gia đình họ đang sinh sống cùng; 

Trang 25

 Người được hỏi dưới 15 tuổi VÀ làm việc vì tiền trong hơn 20 tiếng một tuần (bị cấm theo luật Lao động, Việt Nam);   

HOẶC 

 Người được hỏi dưới 15 tuổi VÀ không đi học thường xuyên (3 ngày hoặc ít hơn một tuần) VÀ cho biết vai trò chính của họ trong gia đình là người kiếm tiền; 

HOẶC 

 Người được hỏi dưới 18 tuổi VÀ làm việc vì tiền trong hơn 40 tiếng một tuần (bị cấm theo Luật Lao động Việt Nam); 

 Người được hỏi dưới 18 tuổi VÀ được trả công ít hơn mức lương hợp pháp tối tiểu (theo quy định của Luật Lao động Việt Nam) 

HOẶC 

 Người được hỏi hơn 17 tuổi, di cư độc lập VÀ không được cho phép liên hệ với gia đình; 

HOẶC 

 Người được hỏi hơn 17 tuổi, di cư độc lập VÀ cho biết họ đã quay trở lại sau khi được “giải cứu”; 

Trang 26

HOẶC 

Người được hỏi hơn 17 tuổi, di cư độc lập VÀ được trả công ít hơn mưc lương hợp pháp tối thiểu  (được quy định trong Luật Lao động Việt Nam)  

Mức độ phố biến của các dấu hiệu của nạn buôn bán (trẻ em) và bóc lột (lao động) trong hoàn cảnh di cư:  Kết quả từ khảo sát hộ gia đình thanh thiếu niên20 . 

 2,8% số người được hỏi trong khảo sát hộ gia đình thanh thiếu niên được ước tính là đã từng có trải nghiệm giống với hoặc chính là nạn buôn người (ICTs); 

 3,1% số người được hỏi trong khảo sát hộ gia đình thanh thiếu niên được ước tính là trẻ em bị bóc lột lao động (bóc lột lao động mà không phải di cư hoặc ‘di chuyển’); 

 7,9% số người được hỏi trong khảo sát hộ gia đình thanh thiếu niên được ước tính là đã từng có trải nghiệm giống với cưỡng bức hoặc bóc lột trong hoàn cảnh di cư (IFEMs).  

Trang 27

 

 Cuối cùng, để ước tính mức độ phổ biến của nạn buôn bán trẻ em, những kết quả này được kết hợp với những 

dữ liệu từ khảo sát chủ hộ (khảo sát này hỏi về các thành viên của các gia đình đã di cư và không quay trở lại). 

Việc này để đảm bảo những nạn nhân tiềm năng của nạn buôn người chưa trở về Việt Nam, và/hoặc không sống trong môi trường gia đình, cũng được ghi nhận trong tỷ lệ phổ biến ước tính.  

Thông tin thu được từ khảo sát hộ gia đình và khảo sát chủ hộ được tổng hợp theo phương trình dưới dây để ước tính tỷ lệ phổ biến.  

Những người tham gia khảo sát hộ gia đình tại ‘điểm nóng’ đã bị loại khỏi phân tích khi ước tính mức độ  phố biến, vì những địa điểm này được chọn có chủ đích (không ngẫu nhiên).  

Trang 28

    + 

 Trung bình số những người 

có ICTs không 

trở về tại mỗi 

hộ gia đình22  

  

    

 

 Trung  bình  số 

thành  viên  hộ  gia  đình  dưới 

18 tuổi  

Trung bình số dân di cư dưới 

18 tuổi và không quay trở lại tại mỗi hộ gia đình23    

em trong nhóm này đều chính thức ‘đủ điều kiện’ và thoả mãn định nghĩa của ‘buôn bán người’. Tuy nhiên, phương pháp này cố nhấn mạnh rằng một nhóm thiểu số quan trọng (có lẽ là 1 trong số 18) trẻ em Việt Nam 

      

 

21 Tỷ lệ người được hỏi dưới 18 tuổi trong toàn bộ khảo sát hộ gia đình ban đầu là nạn nhân trẻ em là 0.0231 (i.e. 2,31%). 

22 Dữ liệu khảo sát hộ gia đình được sử dụng để tính toán tỷ lệ phần trăm những người đầu tiên di cư dưới 18 tuổi có dấu hiệu bị buôn bán. Sau đó, con số này được nhân với tổng số người không di cư dưới 18 tuổi được báo cáo bởi chủ hộ (là 26: 10 gái và 16 trai), và chia cho 576 (số hộ trong cuộc khảo sát tiếp theo ‐ trừ đi các điểm nóng) để có được số lượng dấu hiệu bị buôn bán không trả lại trung bình ước tính cho mỗi hộ gia đình. 

23 Đây là tính toán những người di cư dưới 18 được báo cáo bởi các chủ hộ gia đình, 26 người, chia cho tổng số 576 trong khảo sát tiếp theo hộ gia đình. Kết quả đưa ra là trung bình/hộ có 0.044065 người di cư dưới 18 tuổi không trở về. 

Trang 29

đã nếm trải bị ép buộc hoặc bị bóc lột trong khi di cư – những hành vi tương tự hoặc trùng với hành vi của buôn bán người.  

Trang 31

Buôn bán qua biên giới và trong nội địa 

Nhóm đa số áp đảo, 92,3%, số thanh thiếu niên có dấu hiệu bị buôn bán trẻ em (và 84,4% số thanh thiếu niên 

có dấu hiệu bị cưỡng bức và bóc lột khi di cư) được báo cáo là đã bị buôn bán trong nước (từ một địa điểm  này đến một địa điểm khác trong Việt Nam). Mặt khác, theo ước tính của nghiên cứu này, buôn bán trẻ em 

xuyên biên giới dường như là một hiện tượng tương đối hiếm, với mức độ phổ biến chỉ 0.4%. Mặc dù quy mô của vấn đề là vậy song các kết quả nghiên cứu lại chỉ ra rằng những trường hợp buôn bán người trong nước ít 

có khả năng được xác định hoặc chính thức được công nhận bới các nhà chức trách. Sự khác biệt này, vốn đã được ghi nhận trong Báo cáo tình hình Buôn Bán Người của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm 201924, sẽ tiếp tục được làm rõ xuyên suốt báo cáo nghiên cứu này. 

Dữ liệu chỉ ra rằng trẻ em và thanh thiếu niên bị buôn bán đến đa dạng các quốc gia, nhưng tập trung theo khu  vực.  Các  trường  hợp  di  cư  có  dấu  hiện  buôn  bán  trẻ  em  được  trình  báo  ở  Campuchia,  Trung  Quốc, Indonesia và Singapore, và các trường hợp khi thanh thiếu niên trình báo đã bị cưỡng bức và bóc lột trong quá trình di cư được xác định ở Angola, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Na Uy, Nga, Saudi Arabia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, và Thái Lan.  

Các quốc gia khác nơi thanh thiếu niên được trình báo đi di cư độc lập, trong khảo sát hộ gia đình,  gồm Úc, Canada, Malaysia, và Hoa Kỳ.   

Sự phân bố các dấu hiệu của buôn bán trẻ em theo vị trí địa lý  

Trẻ em bị buôn bán được tìm thấy ở tất cả các vùng của đất nước, với mật độ đặc biệt cao ở các tỉnh miền Trung và miền Nam. Các báo cáo liên quan đến buôn bán trẻ em đặc biệt nhiều ở vùng sâu vùng xa, và những vùng kinh thế yếu kém của đất nước (p < 0.05). Thoạt nhìn, sự phân bố các dấu hiệu của nạn buôn bán người theo vị trí địa lý dường như mâu thuẫn với thông tin về mức độ buôn bán người ở miền Bắc và đặc biệt là xuyên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, vấn đề này được đặt ra với những người tham gia vào xác minh kết quả nghiên cứu bước đầu. Tuy nhiên, thực tế là phần lớn những dấu hiệu được xác định trên cả nước là buôn bán người trong nước. Kết quả này không hẳn là mâu thuẫn với nhận thức chi phối; nó có thể do các trường hợp buôn bán qua biên giới tương đối phổ biến ở các tỉnh miền Bắc, trong khi buôn bán trong nước xảy ra ít hơn ở miền Bắc so với các khu vực khác của đất nước.    

 

Trang 32

cư ra nước ngoài. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì cả bốn điểm nóng được chọn đều gần biên giới đất liền của Việt Nam và nó phản ánh thực trạng rằng buôn bán người xuyên biên giới nhận được nhiều chú ý và quan tâm từ chính quyền và các bên liên quan, so với các loại hình buôn bán người trong nội địa (ý nghĩa của việc này sẽ được nhắc đến rõ hơn tại Chương 7 của bản báo cáo này. Chương 7 cũng sẽ giải đáp những câu hỏi liên quan đến ‘việc công nhận’ buôn bán người và những nạn nhân bị buôn bán trở về). 

Trang 33

Trải nghiệm liên quan đến nạn buôn bán trẻ em được phát hiện là có ảnh hưởng đến cả bé trai và bé  gái. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng tỷ lệ bé trai có trải nghiệm liên quan đến nạn buôn bán trẻ em (6,8%)  nhỉnh hơn so với tỷ lệ đó của bé gái (4,5%). Điều đó có thể phản ánh thực tế là nhiều bé trai trải  nghiệm di cư độc lập hơn bé gái (chi‐square, p<.1). Tuy nhiên, Bằng chứng từ nghiên cứu có cho thấy 

sự khác sự khác biệt về tỷ lệ giới tính trong báo cáo về buôn bán trẻ em trong khảo sát hộ gia đình  thanh thiếu niên quá nhỏ và không có ý nghĩa thống kê.biệt giữa trải nghiệm của nữ và nam về nạn  buôn người và quá trình tái hoà nhập, tuy nhiên, điều này sẽ được trình bày sâu hơn ở những chương  sau. 

Biểu đồ 3: Tỷ lệ buôn bán người theo giới tính 

 Những phát hiện ở trên cho thấy rằng nạn buôn bán trẻ em không phải là hiện tượng biệt lập tại Việt Nam. Nó ảnh hưởng đến trẻ em trên toàn quốc, mặc dù trẻ em vùng sâu vùng xa và nông thôn đặc biệt có nguy cơ cao hơn. Các kết quả này cũng cho thấy những trường hợp buôn bán trẻ em được biết đến khó có thể phản ánh đúng thực trạng trải nghiệm của trẻ em về nạn buôn người tại Việt Nam. Chương tiếp theo sẽ phân tích những động lực này rõ hơn, tìm hiểu sâu hơn những xu hướng nhân khẩu học và hộ gia đình liên quan đến các dấu hiệu của nạn buôn người và bóc lột, dựa trên dữ liệu từ các khảo sát hộ gia đình. Các kết quả được đưa vào một cuộc thảo luận rộng hơn với chủ đề nạn buôn bán trẻ em diễn ra như thế nào trên thực tế: các phương tiện và phương thức khiến những trẻ em và thanh thiếu niên yếu thế bị ‘tuyển dụng’ để bóc lột và trở thành nạn nhân (tiềm năng) của nạn buôn người.   

Trang 34

5 Phương thức tuyển mộ: Buôn bán người xảy ra như thế 

nào 

Phần lớn các tài liệu về buôn bán người đều đề cập đến các yếu tố thống trị điều khiển buôn bán người cũng như các nhân tố dễ bị tổn thương khiến một người bị đưa vào trong các hoàn cảnh có nguy cơ đặc biệt. Trong khi có những điều kiện và đặc điểm đương nhiên– đáng chú ý nhất là đói nghèo – khiến người đó dễ bị tổn thương với mọi hình thức buôn bán thì hoàn cảnh, điều kiện cá nhân và con đường dẫn tới bị buôn bán rất đa dạng và phức tạp. Chương này sẽ tiếp tục đưa ra các lý giải để giúp hiểu biết sâu hơn tại sao trẻ bị buôn bán 

và bị buôn bán như thế nào. Nó cũng sẽ xem xét khi nào buôn bán người xảy ra và xảy ra như thế nào, đâu là nhóm trẻ dễ có nguy cơ bị buôn bán nhất, tìm hiểu mức độ tác động mà trẻ đã phải trải qua trong suốt thời kì 

đã quan sát thấy ‘buôn bán người thường bị đóng khung là hậu quả của sự di chuyển không tình nguyện của 

nạn nhân, với những câu chuyện về phụ nữ [và trẻ em] bị lừa gạt hoặc bắt cóc trái với ý muốn của họ’27. Bằng chứng về việc buôn bán người xảy ra trên thực tế như thế nào chỉ ra rằng mặc dù kịch bản như trên có diễn ra song không nhiều. Các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng đều cho thấy phần lớn các vụ việc nạn nhân đều không bị các đối tượng tuyển mộ cưỡng ép đưa đi mà ban đầu là người chủ động đưa ra quyết định di cư 

để tìm cơ hội thay đổi cuộc sống và trở thành nạn nhân bị bóc lột trong quá trình thực hiện mong muốn này, thường là do tính dễ bị tổn thương của họ. Thực vậy, trong tổng số những trẻ tham gia khảo sát có dấu hiệu 

bị buôn bán, chỉ 13% (1 trong 8 trẻ) cho biết ‘bị đưa đi trái với ý muốn’. 

Người tham gia khảo sát kể lại nhiều cách thức khác nhau mà đối tượng buôn người dùng để tuyển mộ trẻ em 

và thanh thiếu niên,28 phần lớn trong số này liên quan đến những lời hứa (thường là giả dối) về thu nhập, công việc và, trong một chừng mừng ít hơn, là những cơ hội học hành và đào tạo. Thực vậy, hơn một nửa (50.3%) 

số trẻ được hỏi có dấu hiệu bị buôn bán cho biết lí do chính khiến các em rời nhà ra đi là để tìm kiếm cơ hội       

Trang 35

nghiên cứu rằng: “Tôi muốn kiếm tiền để phụ giúp gia đình…họ nói rằng tôi có thể kiếm tiền” 29 Một phụ nữ trẻ khác bị làm việc trong các điều kiện bị bóc lột tại xưởng may từ lúc còn là trẻ em cho biết thêm: 

“Tôi đã phải rất chăm chỉ để vừa làm vừa có thể đi học nhưng đã phải bỏ học sau khi hết lớp 

7. Cha mẹ bảo tôi lên Sài Gòn làm việc và học nghề. Ước mơ của tôi là có một tiệm may của 

riêng mình.” 30  

Trong nhiều trường hợp, nạn nhân cho biết họ bị các đối tượng tuyển mộ lừa gạt, đưa ra những thông tin dối trá về lương, điều kiện làm việc, thậm chí là mục đích của tuyển dụng và địa bàn làm việc. Một nam thanh niên 

gia đình cho biết họ đã không được trả lương đúng như đã thoả thuận từ đầu.  

Trong một số trường hợp khác, nạn nhân chỉ đơn giản là đã không thoả thuận hoặc đồng ý về các điều khoản, chỉ dựa vào mô tả công việc mà sau đó dần dần trở thành tình trạng bị bóc lột hoặc cưỡng ép lao động nặng 

Trang 36

5.2  Quá trình tuyển mộ 

Kết quả nghiên cứu cho thấy nạn nhân thường được tuyển mộ bởi người lạ hoặc người quen bình thường – những người biết lợi dụng vào điểm yếu của người đang đi tìm kiếm cơ hội thu nhập. Một cán bộ quản lý ca làm việc với nạn nhân bị buôn bán ở Hà Nội cho biết thêm: 

Trang 37

Nhiều đại diện các cơ quan chức năng tham gia trả lời khảo sát cũng cho biết nạn nhân bị tuyển mộ bởi các công ty tuyển dụng lừa đảo, đối tượng đẩy nạn nhân vào các thoả thuận mang tính bóc lột (và phi pháp). Rất khó để phân biệt những công ty này với các công ty hoạt động hợp pháp khác ngoài việc họ thường đưa ra các thoả thuận một cách nhanh chóng, chi phí dịch vụ rẻ hơn và hứa hẹn về các điều khoản và điều kiện hào phóng hơn. Khi được hỏi liệu người lao động di cư có bao giờ nghĩ rằng đi qua những công ty không chính thống có 

Trang 38

quan chức năng. Họ vận động chính quyền địa phương và không đưa các thông tin trung thực 

cho người lao động di cư” 39  

5.3  Làm rõ yếu tố đồng thuận và cưỡng ép: vai trò trung gian của thanh thiếu niên  trong quá trình tuyển mộ  

Các câu chuyện chủ đạo thường mô tả nạn nhân là những người thụ động và bất lực, bị tuyển mộ cưỡng ép song số liệu từ nghiên cứu này lại cho thấy vai trò trung gian của nạn nhân trong quá trình tuyển mộ lại khá phức tạp và tiến triển liên tục. Trong khi nhiều, thậm chí là phần lớn trẻ em và thanh thiếu niên bị cuốn vào các mối quan hệ lao động có yếu tố bóc lột có thể không phải là do “trái ý muốn của họ” thì chắc chắn vẫn có những yếu tố nằm ngoài mong muốn và lựa chọn của chính họ tác động tới việc tuyển mộ. Hơn nữa, sự sắp đặt mang tính bóc lột thường trở nên dần dần cưỡng chế theo đó nạn nhân ban đầu tự lựa chọn rơi vào tình huống và càng ngày càng khó có thể chống lại hay giải phóng bản thân họ khỏi tình huống đó và vấn đề này sẽ được đề cập sâu hơn trong các trải nghiệm bị buôn bán ở chương sau của báo cáo này.  

Như đã đề cập ở chương 1 (về khung khái niệm), tuyển mộ bằng hình thức ‘cưỡng ép’ hoặc ‘lừa gạt’ là một yếu tố trọng tâm trong định nghĩa buôn bán người, trừ trường hợp buôn bán trẻ em. Đối với các trường hợp dưới 18 tuổi, yếu tố cưỡng ép hay vai trò trung gian không liên quan đến câu hỏi liệu đứa trẻ đó có bị buôn bán không. Nếu một đứa trẻ được tuyển mộ và vận chuyển vì mục đích bóc lột thì có nghĩa là nó đã bị buôn bán không cần xem xét đến việc đã dùng thủ đoạn gì và đứa trẻ có đồng ý hay không. Tuy nhiên, khi xem xét 

buôn bán trẻ em xảy ra như thế nào trên thực tế, việc khai thác làm rõ mức độ liên quan cuả trẻ là rất quan 

trọng để có thể hiểu được lộ trình đưa trẻ đến hoàn cảnh bị buôn bán. 

5.3.1. Vai trò tác động của cha mẹ và gia đình  

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng việc tuyển mộ trẻ em vào hoàn cảnh bị buôn bán thường bị ảnh hưởng bởi cha mẹ, gia đình và cộng đồng của trẻ. Điều này phản ánh sự lệ thuộc của trẻ, người gần như không có khả năng tự chủ trong việc đưa ra các quyết định ảnh hưởng tới cuộc đời của chúng, và xem ra chúng bị ảnh hưởng bởi mong muốn và quyết định từ người khác.  

Khi được hỏi ai là người quyết định cho trẻ rời nhà ra đi, gần một nửa (47.3%) số người có dấu hiệu bị buôn bán trẻ em tham gia trả lời phỏng vấn cho biết bố mẹ chúng là người đưa ra quyết định (hoặc, trong chừng mực ít hơn, là họ hàng hoặc người khác). Trẻ em ở lứa tuổi nhỏ hơn được phát hiện là ít có sự liên quan đến quyết định rời nhà ra đi so với trẻ lớn tuổi hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ đáng kể giữa tuổi và khả năng tự mình đưa ra quyết định di cư của trẻ. Với mỗi một năm tuổi có liên quan đến việc tăng 27% khả năng trẻ nói ‘quyết định rời nhà ra đi là cho tôi tự quyết’ (logistic, p<0.0001). 

Kết quả định lượng cũng cho thấy cha mẹ có nhiều cách khác nhau để gây ảnh hưởng đến việc tuyển mộ của con cái họ. Một số người tham gia trả lời phỏng vấn cho biết người tuyển mộ có thể thoả thuận và đạt được 

sự đồng ý trực tiếp từ bố mẹ của nạn nhân. Một đại diện từ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết thêm:  

      

 

39 Phỏng vấn riêng, ILO, Hà Nội 04/10/2017  

Trang 39

Kể cả trong những trường hợp cha mẹ và gia đình trẻ không liên quan trực tiếp đến việc tuyển mộ thì họ vẫn được xem là có một sự ảnh hưởng to lớn đến quyết định của con cái. Điều này phù hợp với truyền thống gia đình của Việt Nam trong đó quy định việc tôn trọng thứ bậc cũng như trách nhiệm hỗ trợ gia đình. Nhiều trẻ       

Ngày đăng: 21/03/2020, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w