1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Vườn Cây Ăn Trái Lái Thiêu Tại Tỉnh Bình Dương

110 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 894,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục đích của luận văn này là nghiên cứu tiềm năng du lịch thiên nhiên và du lịch vườn để đưa ra giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho vườn cây ăn trái

Trang 1

-

NGUYỄN VƯƠNG HÃNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VƯỜN CÂY

ĂN TRÁI LÁI THIÊU TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Mã số ngành: 60340102

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2015

Trang 2

-

NGUYỄN VƯƠNG HÃNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VƯỜN CÂY

ĂN TRÁI LÁI THIÊU TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

Trang 3

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS,TS Phước Minh Hiệp

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 23 tháng 05 năm 2015

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

TT

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa

Trang 4

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : Nguyễn Vương Hãnh Giới tính : Nam

Ngày, tháng, năm sinh : 28/10/1985 Nơi sinh : Bình Dương

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh MSHV : 1341820016

I- Tên đề tài:

Giải pháp phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh Bình Dương

II- Nhiệm vụ và nội dung:

- Phân tích thực trạng du lịch vườn ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh Bình Dương

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh

Bình Dương

III- Ngày giao nhiệm vụ: 18/08/2014

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/04/2015

V- Cán bộ hướng dẫn: PGS,TS Phước Minh Hiệp

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

PGS,TS Phước Minh Hiệp

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Vương Hãnh

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy Cô Khoa Quản Trị Kinh Doanh, trường Đại Học Công Nghệ TP HCM đã trang bị cho em vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian học vừa qua

Đặt biệt em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy PGS,TS Phước Minh Hiệp

đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Anh chị, Cô chú Sở văn hóa – thể thao– du lịch tỉnh Bình Dương, phòng nông nghiệp Thị Xã Thuận An và Phòng Tài nguyên Thị Xã Thuận An đã nhiệt tình cung cấp số liệu cho em

Tôi cũng cảm ơn các bạn bè, anh, chị học viên lớp 13SQT11 đã giúp đỡ tôi cũng như động viên tôi suốt thời gian qua

Tôi cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng hộ tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Trong quá trình thực hiện luận văn, dù đã cố gắng hoàn thiện nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những lời góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn

Tác giả luận văn

Nguyễn Vương Hãnh

Trang 7

TÓM TẮT

Trong những năm qua nền kinh tế của Việt Nam và tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển nhanh chóng, thu nhập người dân ngày càng tăng Vì vậy ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn

có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch Do đó, du lịch

là một trong những ngành có triển vọng Nhận thấy du lịch là một ngành “công nghiệp không khói” mang lại nhiều lợi nhuận lớn trong tương lai, ngành du lịch Bình Dương

đã có những chính sách tạo điều kiện để phát triển nhằm mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Bình Dương với bạn bè trong nước Nhận thức được điều này, trong vài năm qua Ủy ban tỉnh Bình Dương đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Việc nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn Nó giúp du lịch Bình Dương đạt được những thành tựu mới, qua đó khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của

nó, nhanh chóng hội nhập với du lịch các tỉnh thành khác trong khu vực Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, đề tài “ Giải pháp phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh Bình Dương” nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch nơi này trong thời gian gần đây, để từ đó phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển

du lịch một cách bền vững hơn

Đề tài được thực hiện qua các giai đoạn: Giai đoạn đầu thu thập số liệu tại địa phương và các cơ quan ban ngành có liên quan, sau đó tiến hành khảo sát tại địa phương Trên cơ sở đó tiến hành phân tích thực trạng, dự vào kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu trong tương lai bền vững hơn

Trang 8

ABSTRACT

In recent years the economy of Vietnam and Binh Duong Province is growing rapidly, people's income is increasing So today's human life increasing, they not only have extensive needs but also material needs are met mentally as entertainment, recreation and tourism Therefore, tourism is one of the promising sectors Recognizing tourism as an industry "smokeless industry" bring big profits in future, Binh Duong tourism industry had policies to create conditions for development in order to bring large incomes GDP for the economy , resolving employment for many workers, helps

to spread the image of Binh Duong with friends in the country Aware of this, in recent years the Commission has launched Binh Duong Construction target the tourism industry into a spearhead economic sector The study of tourism becomes imperative, it helps us to have a full view, exactly on tourism This makes sense both in terms of theory and practice It helps tourism Pacific gained new achievements, thereby overcoming the limitations, quickly growing tourism potential with its strict, quick integration with tourism in other provinces in the region Realizing the importance of this issue, titled "Solutions tourism development Lai Thieu orchard in Binh Duong province," the study of factors affecting the tourist places in the previous period , from which to analyze and propose solutions to develop tourism in a sustainable way over

This study was conducted through phases: The first phase of data collection and other local agencies, industry sectors concerned, then surveyed locally On that basis, conduct a situational analysis, projected on research results the authors suggest a number of measures to develop tourism Lai Thieu orchard more sustainable future

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

DANH MỤC CÁC BẢNG xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 3

6 Tổng quan đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VƯỜN CÂY ĂN TRÁI LÁI THIÊU 5

1.1 Các khái niệm về du lịch và du lịch vườn cây ăn trái 5

1.1.1 Khái niệm du lịch 5

1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái 6

1.1.3 Khái niệm Phát triển du lịch bền vững 7

1.1.4 Khái niệm du lịch vườn cây ăn trái 9

1.2 Những đặc trưng cơ bản về du lịch sinh thái 9

1.2.1 Các đặc trưng xuất phát từ sản phẩm du lịch sinh thái (DLST) 9

1.2.2 Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST 10

1.2.3 Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST 10

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến du lịch vườn cây ăn trái 11

1.3.1 Điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu và mùa vụ 11

1.3.2 Tài nguyên du lịch 12

Trang 10

1.3.3 Các nhân tố kinh tế – xã hội 13

1.3 3.1 Về mặt kinh tế 13

1.3.3.2 Về mặt xã hội 13

1.3.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 15

1.3.4.1 Khách du lịch và doanh thu du lịch 16

1.3.4.2 Số lượng dân cư và chất lượng lao động 16

1.3.5 Các cơ chế luật pháp và chính sách đầu tư du lịch 17

1.3.6 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá 18

1.4 Một số loại hình du lịch sinh thái nói chung và mô hình du lịch sinh thái vườn cây ăn trái Lái Thiêu nói riêng 19

1.4.1 Du lịch sinh thái cộng đồng 19

1.4.2 Du lịch sinh thái kết hợp với làng nghề 20

1.4.3 Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng 22

1.4.4 Du lịch sinh thái lịch sử văn hóa 23

1.4.5 Mô hình du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 24

1.4.5.1 Tham quan vườn cây ăn trái 24

1.4.5.2 Tham quan làng nghề gốm 24

1.4.5.3 Du ngoạn trên sông, kênh rạch 25

1.4.5.4 Du lịch nghe đờn ca tài tử Nam bộ 25

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH VƯỜN CÂY ĂN TRÁI LÁI THIÊU 27

2.1 Khái quát vườn cây ăn trái Lái Thiêu và các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh Bình Dương 27

2.1.1 DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu là một bộ phận của du lịch Bình Dương 27 2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh 28

2.1.2.1 Lĩnh vực kinh tế 28

2.1.2.2 Lĩnh vực văn hóa – xã hội 38

2.2 Tiềm năng DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu rất đa dạng và phong phú 42

2.3 Phân tích thực trạng du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 44

Trang 11

2.3.1 Đặc điểm khu vực vườn cây ăn trái Lái Thiêu – Bình Dương 44

2.3.1.1 Vị trí địa lí 44

2.3.1.2 Đặc điểm tự nhiên 44

2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 45

2.3.3 Tài nguyên du lịch 45

2.3.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 45

2.3.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 46

2.3.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 47

2.3.4.1 Cơ sở hạ tầng 47

2.3.4.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật 48

2.3.5 Hiện trạng khách du lịch và doanh thu du lịch 49

2.3.5.1 Tình hình khách du lịch 49

2.3.5.2 Tính thời vụ trong DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu 50

2.3.5.3 Doanh thu du lịch 50

2.3.6 Lao động trong ngành du lịch 51

2.3.7 Thực trạng đầu tư du lịch 52

2.3.8 Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 53

2.4 Đánh giá thực trạng du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 54

2.4.1 Điểm mạnh – ưu điểm 54

2.4.1.1 Về tài nguyên du lịch 54

2.4.1.2 Về nguồn lực cho phát triển du lịch 55

2.4.1.3 Về chính sách phát triển du lịch 55

2.4.1.4 Về kinh nghiệm phát triển du lịch thời gian qua 55

2.4.2 Điểm yếu – hạn chế ảnh hưởng đến du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 56

2.4.2.1 Về quản lý khai thác tài nguyên du lịch 56

2.4.2.2 Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 57

2.4.2.3 Về nguồn nhân lực du lịch 57

2.4.2.4 Về phát triển sản phẩm và thị trường 58

2.4.2.5 Về vốn và công nghệ 58

Trang 12

2.4.2.6 Về nông nghiệp 59

2.4.2.7 Về quản lý du lịch và vai trò của nhà nước 60

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VƯỜN CÂY ĂN TRÁI LÁI THIÊU 62

3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 62

3.1.1 Mục tiêu 62

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 62

3.1.2.1 Định hướng phát triển trung tâm khu du lịch Cầu Ngang đến năm 2020 62

3.1.2.2 Định hướng thị trường nguồn khách 63

3.2 Cơ sở dự báo và các chỉ tiêu dự báo nhu cầu du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 64

3.2.1 Cơ sở dự báo 64

3.2.2 Các chỉ tiêu dự báo 65

3.2.2.1 Dự báo thị trường 65

3.2.2.2 Dự báo sự phát triển khách du lịch 66

3.2.2.3 Dự báo lao động trong ngành du lịch 67

3.2.2.4 Dự báo doanh thu 68

3.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp 68

3.4 Các giải pháp cơ bản phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu 69

3.4.1 Giải pháp về gìn giữ, tôn tạo, phát triển tài nguyên và môi trường DLST 69

3.4.2 Giải pháp về quy hoạch 71

3.4.2.1 Quy hoạch các khu DLST kết hợp với quy hoạch phát triển các cơ sở của các ngành kinh tế khác 71

3.4.2.2 Quy hoạch và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 72

3.4.2.3 Giải pháp về đào tạo, thu hút nguồn nhân lực cho DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu 77

3.4.3 Giải pháp về phát triển sản phẩm DLST và thị trường 78

Trang 13

3.4.3.1 Định hướng thị trường và định hướng sản phẩm DLST 78

3.4.3.2 Phát triển các loại hình và đa dạng hóa các sản phẩm DLST 79

3.4.3.3 Giải pháp phát triển sản phẩm DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu 80

3.4.3.4 Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị cho DLST vườn cây ăn trái Lái Thiêu 80

3.4.4 Giải pháp về huy động, thu hút vốn đầu tư cho DLST 81

3.4.5 Giải pháp đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ 82

3.4.6 Giải pháp phát triển nông nghiệp 83

3.4.7 Giải pháp về nâng cao nhận thức xã hội đối với môi trường sinh thái vườn cây ăn trái Lái Thiêu 85

3.4.7.1 Nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa của phát triển DLST với phát triển bền vững tự nhiên và môi trường 85

3.4.7.2 Xây dựng các chương trình thông tin, tuyên truyền 85

3.4.8 Giải pháp xúc tiến, quảng bá hoạt động du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu: 86

3.5 Kiến nghị 88

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 92

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 93

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 14

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DLST Du lịch sinh thái

VQG Vườn quốc gia

PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

DLCĐ Du lịch cộng đồng

Trang 15

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích trồng cây ăn trái của các phường giai đoạn 2010-2014 46Bảng 2.2: Kinh doanh thương mại, khách sạn, nhà hàng và dịch vụ Lái Thiêu 48Bảng 2.3: Số lượng khánh du lịch đến vườn cây ăn trái Lái Thiêu giai đoạn 2010-

2014 49Bảng 2.4: Bản Doanh thu du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu giai đoạn 2010-2014

51Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu lao động trong ngành du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

đến năm 2025 67Bảng 3.2: Dự báo doanh thu du lịch thành vườn cây ăn trái Lái Thiêu giai đoạn

2015-2020 68Bảng 3.3: Kế họach thực hiện giao thông – cầu đường đến năm 2020 74Bảng 3.4: Kế họach thực hiện thủy lợi đến năm 2020 76Bảng 3.5: Định hướng thay thế giống cây già cỗi từ vườn để trồng mới đến năm

2020 84Bảng 3.6: Định hướng cải tạo và phát triển vườn đến năm 2020 85

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển vọng Ngành du lịch Bình Dương so với các tỉnh thành khác trong cả nước tuy kém phát triển nhưng nhận thấy du lịch là một ngành “công nghiệp không khói”, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Bình Dương với bạn bè trong nước Nhận thức được điều này, trong vài năm qua Ủy ban Tỉnh Bình Dương đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Việc nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch Điều này có ý nghĩa cả

về phương diện lí luận và thực tiễn Nó giúp du lịch Bình Dương đạt được những thành tựu mới, qua đó khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của nó, nhanh chóng hội nhập với du lịch các tỉnh thành khác trong khu vực Song song đó tôi nhận thấy việc cải tạo du lịch vườn trái cây ăn trái Lái Thiêu là một việc vô cùng cần thiết, góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên, thay đổi diện mạo và tiềm năng tương xứng cho nền kinh tế tỉnh nhà

Vì vậy đây là lý do tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại tỉnh Bình Dương”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là nghiên cứu tiềm năng du lịch thiên nhiên và du lịch vườn để đưa ra giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho vườn cây ăn trái Lái Thiêu nhằm giúp cho du lịch Bình Dương điều chỉnh những bước đi hợp lý

ở hiện tại và tiếp tục xác lập những định hướng quy hoạch phát triển theo mục tiêu bền vững của hoạt động du lịch trong tương lai

Trang 17

Việc nghiên cứu của đề tài này là nêu những lý luận và thực tiễn về nội dung phát triển du lịch sinh thái bền vững Trên cơ sở lý luận đó, đi sâu phân tích đánh giá hiện trạng phát triển du lịch chung cũng như phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu từ năm 2010 đến 2014 Căn cứ vào những cơ sở phân tích của tác giả và định hướng của ngành, tác giả sẽ tập trung đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững cho du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu thời kỳ 2015-2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: khu du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp định tính

- Phương pháp khảo sát thực địa tại địa bàn khu du lịch vườn cây ăn trái Lái

Thiêu đến các vườn, khu du lịch trọng điểm để thẩm tra, quan sát và đánh giá sự phân bố khách du lịch, hiện trạng các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái đang được khai thác Từ đó có các nhận định đúng đắn về thực trạng hoạt động ngành du lịch sinh thái của khu du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: thông qua việc thu thập các dữ liệu,

thông tin, các bài báo chính thức của các đơn vị quản lý chuyên ngành du lịch từ

Trung ương đến địa phương (Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở văn hóa-thể thao-du

l ịch Bình Dương,…), các cơ quan ban ngành của Bình Dương (Sở kế hoạch đầu tư,

S ở thông tin và truyền thông, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thuận An,

Phòng tài nguyên và môi tr ường Thuận An, Cục Thống kê Bình Dương,… ), các tài

liệu lịch sử, địa chí của các vùng đất trong tỉnh, các sách giáo trình đã học và các bài báo của tác giả thuộc tỉnh Bình Dương, … Ngoài ra còn tham khảo các tài liệu nước ngoài để đối chiếu, phân tích, tổng hợp từ đó giúp cho việc xây dựng phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu có tính sát hợp hơn

Trang 18

- Các phương pháp khác: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng sẽ tiến

hành phân tích diễn dịch quy nạp bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy tương quan và các công cụ toán liên quan

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm có 3 chương nội dung chính như sau:

Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

Chương 2 : Thực trạng du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

Chương 3 : Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái

Thiêu

6 Tổng quan đề tài

Trong thời gian gần đây, loại hình du lịch sinh thái cụ thể là du lịch sinh thái vườn đang được nhiều du khách quan tâm, đặc biệt là sự quan tâm của các nhà kinh doanh du lịch Các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái luôn thu hút các chuyên gia về du lịch, vì vậy hiện nay có nhiều đề tài, công trình khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực du lịch sinh thái như:

- Năm 1995, viện nghiên cứu phát triển du lịch đã thực hiện đề tài “Hiện trạng

và những định hướng cho công tác quy hoạch phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long ( 1996-2010 ) với mục tiêu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long cùng các phương án phát triển cụ thể Nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã đề xuất các loại hình du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long như du lịch sinh thái, du lịch sông nước, tham quan, vui chơi giải trí và du lịch biển, nhưng chưa nghiên cứu sâu vào loại hình du lịch sinh thái cụ thể

- Cho đến năm 1998 đã có công trình nghiên cứu của Phạm Trung Lương, “Cơ

s ở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam” Báo cáo đề tài khoa học cấp

ngành, Hà Nội, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển du lịch sinh

Trang 19

thái, đã trình bày tiềm năng, hiện trạng cùng một số giải pháp phát triển DLST ở Việt Nam

- Lê Huy Bá, “ Nghiên cứu tiềm năng và các giải pháp phát triển bền vững du

l ịch sinh thái tỉnh Đồng Nai”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, đã trình bày

những vấn đề như: hoạt động du lịch sinh thái, tài nguyên cảnh quan, sử dụng hợp

lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong phát triển du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Đồng Nai, 2006

Tuy nhiên, đến bây giờ vẫn còn ít công trình nghiên cứu nào mang tính học thuật chuyên sâu về du lịch dinh thái mặc dù nhu cầu trong nước rất nhiều, các cơ quan quản lý nhà nước cũng ban hành khá nhiều văn bản cho công tác này Việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam vẫn còn mang tính đơn lẻ và bột phát, tiềm năng khai thác và phát triển du lịch sinh thái trong những năm vừa qua chưa cao Đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về du lịch sinh thái trên địa bàn

Tỉnh Bình Dương, do đó tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp phát triển du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu tại Tỉnh Bình Dương” để làm luận văn thạc sĩ của mình một mặt để thực hiện công trình khoa học nhằm hoàn thành khóa học thạc sĩ của nhà trường; mặt khác để đóng góp những giải pháp thiết thực cho quê hương, nơi mình đang sinh sống và được sự ưu ái của thiên nhiên để phát triển loại hình du lịch sinh thái vườn

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VƯỜN

CÂY ĂN TRÁI LÁI THIÊU

1.1 Các khái niệm về du lịch và du lịch vườn cây ăn trái

1.1.1 Khái niệm du lịch

Khi nói đến du lịch, thường thì người ta nghĩ đến một chuyến đi đến nơi nào

đó để tham quan, nghỉ dưỡng, thăm viếng bạn bè họ hàng và dùng thời gian rảnh để tham gia các hoạt động thể dục thể thao, đi dạo, phơi nắng, thưởng thức ẩm thực, xem các chương trình biểu diễn nghệ thuật hay chỉ đơn giản quan sát các môi trường xung quanh Hoặc ở khía cạnh rộng hơn, có thể kể đến những người tìm các

cơ hội kinh doanh (business traveller) đi công tác, dự hội nghị, hội thảo hay đi học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật… Do hoàn cảnh khác nhau về điều kiện kinh tế

xã hội, thời gian và không gian, và cũng do các góc độ nghiên cứu khác nhau, nên mỗi ngành khoa học, mỗi người đều có cách hiểu khác nhau về du lịch Đúng như một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả thì có bao nhiêu định nghĩa”

- Pháp lệnh Du lịch: công bố ngày 20/2/1999 trong Chương I Điều 10: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng,trong khoảng thời gian nhất định”

- Luật Du lịch: công bố ngày 27/6/2005 trong Chương I Điều 4: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong 1 khoảng thời gian nhất định”

- Tại hội nghị của Liên Hiệp Quốc về du lịch và lữ hành quốc tế tổ chức tại Rome vào 1963, các chuyên gia đã đưa ra: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của

cá nhân hay tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên hay ngoài nước với mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Trang 21

Tóm lại, để có 1 định nghĩa tổng quát về du lịch phải bao gồm những nội dung cơ bản:

- DL là 1 hiện tượng kinh tế - xã hội được đặc trưng bởi sự tăng nhanh về số lượng, mở rộng phạm vi và cơ cấu dân cư tham gia vào quá trình DL ở từng nước, ở các khu vực và trên toàn thế giới

- DL là việc đi lại, lưu trú tạm thời của cá nhân và tập thể với nhiều mục đích

và nhiều nhu cầu đa dạng

- DL là tổng hợp các hoạt động kinh doanh được tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người

- DL phát sinh ra các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế

1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái

Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái(DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này" trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn

Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”

Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang

Trang 22

lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”

Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”

Theo Hiệp Hội Du Lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì

“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường

và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”

1.1.3 Khái niệm Phát triển du lịch bền vững

- Khái niệm về du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc tại Riode Janeriro năm 1992: Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và quan tâm đến người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi

Trang 23

vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người

- Khái niệm phát triển du lịch bền vững: Phát triển du lịch bền vững là loại hình phát triển mà sự phát triển của hiện tại không làm tổn hại đến sự phát triển ở trong tương lai Đó là bao gồm: Nguồn lực doanh nghiệp và tài nguyên, môi trường

Trong thời đại hiện nay, phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút của khách đến các vùng du lịch Điều cốt lõi trong phát triển du lịch bền vững là bảo đảm sự cân bằng giữa cung và cầu; giữa số lượng và chất lượng; giữa phát triển du lịch quốc tế và du lịch nội địa; giữa khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch; cân đối giữa yêu cầu phát triển và khả năng quản lý, trong đó nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò then chốt

Đối với ngành du lịch của chúng ta, thì phát triển bền vững có nghĩa là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành ngành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng

để có thể mang lại những kết quả có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hoá của điểm

du lịch Quá trình phát triển du lịch bền vững phải kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích tái tạo, bảo tồn và phát triển tự nhiên, giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc Theo đó, để đảm bảo sự bền vững của phát triển du lịch thì yếu tố tài nguyên được xem như là nhân tố quan trọng hàng đầu Tài nguyên du lịch được xem là quản lý bền vững nếu trong quá trình khai thác, phục vụ du lịch đảm bảo được hai tiêu chí sau:

• Hoạt động quản lý tài nguyên bền vững cần được thực hiện để xây dựng những sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao, tránh tổn thất, lãng phí, đem lại lợi ích nhiều mặt cho xã hội cả về vật chất và tinh thần

• Quản lý tài nguyên bền vững đảm bảo tài nguyên không chỉ được bảo vệ mà còn không ngừng được tôn tạo và phát triển cho mục tiêu sử dụng lâu dài

Trang 24

1.1.4 Khái niệm du lịch vườn cây ăn trái

Du lịch vườn cây ăn trái là một loại hình của du lịch sinh thái mà mục đích của người đi du lịch là đến những khu vực có nhiều trái cây, những vườn trái cây và được thưởng thức nhiều loại trái cây thơm ngon trong quá trình đi du lịch Đương nhiên, với loại hình du lịch này, không phải đến chợ hay đến vựa, cửa hàng, siêu thị… có bán nhiều trái cây mà phải là vào những vườn trái cây sống tự nhiên và tự tay hái quả trên cành để thưởng thức

Nói nôm na, đây là loại hình du lịch về với miệt vườn, những khu vực có nhiều sông nước và tập trung mật độ các vườn trái cây dày đặc, nơi có nhiều loại hình đất đai thích hợp cho hàng trăm loại trái cây sinh sôi, phát triển

1.2 Những đặc trưng cơ bản về du lịch sinh thái

1.2.1 Các đặc trưng xuất phát từ sản phẩm du lịch sinh thái (DLST)

Sản phẩm DLST về cơ bản cũng không cụ thể không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm DLST là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ Sản phẩm DLST đa dạng và phong phú

Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm DLST là rất khó khăn, vì thường mang tính chủ quan và phần lớn là không phụ thuộc người kinh doanh mà phụ thuộc vào người tiêu dùng - khách du lịch Chất lượng sản phẩm DLST phụ thuộc vào tài nguyên du lịch Sản phẩm DLST thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch Do vậy, sản phẩm DLST ít có khả năng di chuyển được Trên thực

tế, không thể đưa sản phẩm DLST đến nơi có người tiêu dùng - khách du lịch mà bắt buộc người tiêu dùng phải đến với nơi có sản phẩm DLST để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng

Sản phẩm của DLST được tạo ra trên cơ sở giảm thiểu tác hại đến môi trường Dịch vụ vận chuyển: chủ yếu bằng phương tiện như đi bộ trong rừng, xe đạp, du thuyền ; dịch vụ lưu trú: DLST đòi hỏi chủ yếu là nhà nghỉ sinh thái, sử dụng vật liệu ở địa phương; dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống sạch, an toàn; những sản phẩm DLST này thật sự ít gây tác hại cho môi trường sinh thái

Trang 25

1.2.2 Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST

- Quá trình tạo lập sản phẩm DLST phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và công phu, mang tính thẩm mỹ cao Việc xây dựng nhà nghỉ sinh thái, sản xuất hàng lưu niệm đòi hỏi phải có thời gian và đáp ứng được các tiêu chí Tiêu chí của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng không làm tổn hại đến tài nguyên để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu du khách Chính vì vậy, việc tạo lập sản phẩm DLST tốn nhiều thời gian, phải chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra những sản phẩm đặc thù

- Tạo lập sản phẩm du lịch không theo ý muốn chủ quan của những người kinh doanh dịch vụ mà phải theo quy định chung nhằm tạo ra sự đồng bộ, đảm bảo cảnh quan môi trường Việc xây dựng cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển khách

du lịch phải theo quy hoạch thống nhất đảm bảo cảnh quan thiên nhiên, không làm tổn hại đến môi trường sống xung quanh

- Hướng dẫn viên đòi hỏi phải có chuyên môn, đồng thời là tuyên truyền viên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, phải có kiến thức hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như: Kiến thức văn hóa dân tộc, am hiểu về tài nguyên thiên nhiên, động thực vật, ý thức cao trong bảo vệ môi trường

1.2.3 Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST

- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm DLST trùng nhau về không gian và thời gian Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là khó khăn Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm DLST là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch

- Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thường không diễn ra điều đặn, mà có thể tập trung vào những thời điểm nhất định trong ngày (đối với dịch vụ lưu trú, nhà hàng, cơ sở ăn uống), trong tuần (đối với sản phẩm thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm là một số loại hình du lịch như: du lịch biển, du lịch leo núi ) Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ

Trang 26

Sự dao động trong tiêu dùng sản phẩm DLST gây khó khăn cho việc tổ chức và hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh

- Trong quá trình tiêu dùng, sản phẩm DLST ít mất đi vì được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch Du khách thỏa mãn nhu cầu khi tiêu dùng sản phẩm

du lịch sinh thái thông qua quan sát, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, Do đó sản phẩm DLST thường vẫn tồn tại

- Ngoài ra, DLST hoạt động chủ yếu trong môi trường thiên nhiên với đặc điểm đi kèm là: loại hình du lịch khuyến khích bảo vệ môi trường sinh thái, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư và đem lại lợi ích về kinh tế xã hội thúc đẩy sự phát triển bền vững Loại hình này luôn được sự quan tâm điều hành của Chính phủ và các tổ chức môi trường thế giới

- DLST là một dạng hoạt động tiêu dùng ở trình độ cao, lại biểu hiện với hình thức kinh doanh Người du lịch phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc

đi lại, ăn ở, vui chơi, mua sắm ; xã hội phải cung cấp các điều kiện tất yếu về việc giao thông, phương tiện du lịch cho hoạt động này Trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch tất nhiên có liên quan với việc trao đổi về mặt chính trị, văn hóa từ đó tạo nên chỉnh thể du lịch Do đó, muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch dễ dàng đòi hỏi phải phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến du lịch vườn cây ăn trái

1.3.1 Điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu và mùa vụ

Trước hết đa số khách DLST là những người có tuổi, trình độ văn hóa, thu nhập cao, thường họ đi du lịch vào những kỳ nghỉ cùng với gia đình, bạn bè Nếu thời tiết, khí hậu và mùa vụ không phù hợp thì ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm DLST Ngoài ra, do đặc trưng của tiêu dùng sản phẩm DLST cho nên cũng mang tính thời vụ cao Sự giao động về thời gian trong tiêu dùng sản phẩm DLST gây khó khăn cho tổ chức và hoạt động kinh doanh Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc

Trang 27

Ngoài ra, tiêu dùng sản phẩm DLST chịu ảnh hưởng đến các qui định, các cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật Chính yếu tố này đảm bảo cho DLST phát triển đồng thời cũng làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng, không thể đáp ứng, phục vụ đầy đủ yêu cầu tiêu dùng của du khách

1.3.2 Tài nguyên du lịch

- DLST là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt DLST còn có mối liên hệ mật thiết với địa điểm mà khách du lịch có ý định tới thăm quan là cảnh quan quan thiên nhiên tươi đẹp, môi trường trong lành, sự đa dạng, đặc sắc của văn hoá truyền thống bản địa, ngành nghề truyền thống Tài nguyên của DLST gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn hai yếu tố này gắn kết với nhau tạo nên sự hấp dẫn của DLST

- Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức hoạt động, phạm vi cũng như cơ cấu và chuyên môn của khu, điểm DLST Với mỗi loại tài nguyên có thể tổ chức loại hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình riêng để phục vụ các nhu cầu và mục đích khác nhau của du khách

- Quy mô hoạt động du lịch được xác định trên cơ sở khối lượng, chất lượng nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm của DLST và

nó cũng tham gia vào việc tạo ra tính mùa vụ trong hoạt động du lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng khách, thị trường khách du lịch

- Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển DLST Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu DLST là loại hình du lịch gắn liền với thiên nhiên và môi trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng có nguy cơ thường xuyên bị đe dọa xâm hại và tàn phá Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên tắc là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên

Một quốc gia, một khu vực được du khách quan tâm chỉ khi ở đó có nguồn tài nguyên về du lịch phong phú, hệ động, thực vật đa dạng được bảo tồn và phát

Trang 28

triển, môi trường thiên nhiên trong lành, môi trường văn hóa xã hội độc đáo Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cho du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì chính tài nguyên là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình và sản phẩm DLST Việc phát triển nhà nghỉ sinh thái người dân khai thác gỗ trong rừng làm cho nguồn tài nguyên rừng cạn kiệt, xảy ra tình trạng phá rừng Dịch vụ

ăn uống hàng tiêu dùng hàng lưu niệm người khai thác săn bắn động vật, hải sản quý hiếm từ đó ảnh hưởng đến việc bảo tồn Du khách dùng lửa để đun nấu, nướng các loài động vật, thủy sản trong khi đi tham quan làm xảy ra nguy cơ cháy rừng, nguy hại đến tài nguyên rừng

1.3.3 Các nhân tố kinh tế – xã hội

1.3.3.2 Về mặt xã hội

Việc phát triển du lịch trong đó có DLST tăng cường giao lưu, trao đổi giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới làm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Như vậy để du lịch thực sự góp phần vào việc bảo vệ thiên nhiên đòi hỏi phải có sự suy nghĩ và hành động đúng không những của những người làm du lịch mà còn là toàn

xã hội Nếu nhận thức của xã hội về DLST tốt thấy rõ được tác dụng của nó thì mọi

Trang 29

người sẽ đồng tâm thúc đẩy nó phát triển, ngược lại nếu chưa nhìn nhận được hết giá trị của nó thì người ta sẽ không ủng hộ thậm chí có thể gây khó khăn trong quá trình phát triển DLST Người dân, chính quyền địa phương và du khách cần phải nhìn thấy những lợi ích của DLST có thể mang lại thông qua những hoạt động và những cơ hội mà loại hình du lịch này tạo nên mà mục tiêu cơ bản của DLST là phát triển bền vững Nghĩa là: "Đảm bảo đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm cản trở đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Để tạo điều kiện và kích thích loại hình du lịch này phát huy tác dụng của nó Ngoài những vấn đề lớn không thể không làm như quy hoạch, quản lý sự phát triển DLST ở mức độ thích hợp, thì vấn đề giáo dục cộng đồng đóng vai trò không kém phần quan trọng, góp phần hỗ trợ các mối quan hệ tích cực hai chiều của DLST và bảo tồn tự nhiên cũng như DLST và cộng đồng địa phương Cần phải làm cho tất cả các thành phần trong

xã hội nhất là cư dân địa phương hiểu được những tác động tích cực của DLST đến địa phương đó là:

- Góp phần làm thay đổi chất lượng cuộc sống cộng đồng nhất là những ai tham gia trực tiếp vào ngành này, trong đó bao gồm cả sự cải thiện những dịch vụ

xã hội như: y tế, nhà cửa, hệ thống giao thông, cấp - thoát nước, điện năng,… - Giúp cho việc bảo vệ và tôn tạo các di sản văn hóa lịch sử, làm tăng niềm tự hào của địa phương vào ý thức cộng đồng

- Góp phần làm tăng danh tiếng địa phương, giúp cho du khách khám phá những ý tưởng mới, giá trị mới và cách sống mới

- Tạo điều kiện giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, các quốc gia, phá vỡ ngăn cách về văn hóa và dân tộc thông qua quan hệ này

- Du lịch sinh thái còn có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế cho nhân dân địa phương Sẽ rất có tác dụng nếu như các đối tượng sau đây được tuyên truyền hiểu biết và nhận thức sâu sắc về DLST: Những nhà lập kế hoạch và đầu tư; các tổ chức quản lý ở các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển…; Các cán bộ điều hành của các công ty du lịch; Các hướng dẫn viên du lịch, nhân viên khách sạn, nhà hàng; Cư dân địa phương; Khách du lịch

Trang 30

1.3.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra sản phẩm dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch Với DLST nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu thiên nhiên và văn hoá của khách du lịch Vì vậy, phạm vi hoạt động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, cho đến hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc Mặc dù DLST là hình thức

du lịch dựa nhiều vào thiên nhiên, tạo lập sản phẩm DLST phải đảm bảo nguyên tắc hạn chế tối đa việc tác hại đến môi trường thiên nhiên và hệ sinh thái Tuy nhiên, đây là một hoạt động phục vụ “con người” trong khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển và thu hút khách du lịch đó là: đường giao thông, phương tiện đi lại, cơ sở lưu trú, dịch vụ y tế, các dịch vụ bổ sung như hệ thống thông tin liên lạc, các hoạt động vui chơi giải trí, hàng lưu niệm đặc biệt vấn đề thông tin liên lạc là một khâu quan trọng đối với phát triển

du lịch nói chung và phát triển DLST nói riêng Mặc dù, muốn tách khỏi sự ồn ào của đời sống đô thị công nghiệp tuy nhiên du khách vẫn cần có thông tin liên lạc để liên lạc với người thân, bạn bè và giải quyết công việc làm ăn Những nơi có điều kiện cho phát triển DLST thường nằm ở vùng sâu, vùng xa việc đi lại thường gặp nhiều khó khăn, vì vậy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để du khách có thể đến được những điểm tham quan là rất cần thiết Tuy nhiên, nếu việc quy hoạch, xây dựng cơ

sở hạ tầng không hợp lý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường Việc lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi trường là vô cùng quan trọng Hệ thống giao thông phải được thiết kế để chống xói mòn và đảm bảo nơi cư trú cho động thực vật Triệt để sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng Các thiết bị xử lý chất thải, nước thải phải được sử dụng phù hợp, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nơi vui chơi giải trí là những hạng mục cơ sở hạ tầng cần được đặc biệt coi trọng về mặt thiết kế cũng như việc sử dụng vật liệu xây dựng

Trang 31

và địa điểm xây dựng Đó là yêu cầu quan trọng không chỉ đảm bảo cho sự phát triển DLST bền vững mà còn có cả ý nghĩa kinh tế xã hội Xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cùng với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của DLST

1.3.4.1 Khách du lịch và doanh thu du lịch

- Khách du lịch là chỉ tiêu chỉ số lượng du khách đến tham quan và lưu trú tại nơi họ đến du lịch (Bao gồm cả khách du lịch trong nước và khách du lịch của nước ngoài)

- Doanh thu du lịch là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ số tiền thu được do kết quả hoạt động kinh doanh của các cơ sở kinh doanh phục vụ các nhu cầu khách du lịch trong một thời gian nhất định (Bao gồm cả khách du lịch trong nước và khách du lịch của nước ngoài)

- Đây là hai chỉ tiêu quan trọng nhằm phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch tại nơi cần khảo sát

1.3.4.2 Số lượng dân cư và chất lượng lao động

Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thông qua khách du lịch Vì vậy,ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và quan trọng hơn là ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, hệ động thực vật Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông, trình độ dân trí thấp

Đối với DLST,sự tham gia của cư dân địa phương đóng một vai trò quan trọng Trên thực tế, mối quan hệ giữa người dân bản địa và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một quan hệ gắn bó được thiết lập lâu đời Ở nhiều nơi, người dân địa phương sử dụng tài nguyên thiên nhiên như phương tiện sống hay một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên

để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên

Lao động là yếu tố quan trọng trong tiêu dùng sản phẩm và phát triển DLST Lao động làm việc trong các đơn vị này ngoài những kiến thức về chuyên môn

Trang 32

nghiệp vụ, họ còn phải là các chuyên gia về môi trường, sự hiểu biết sâu rộng về hệ động, thực vật tại khu vực mà họ làm việc, giảng giải thuyết minh cho khách tham quan

Rõ ràng vai trò của dân cư và ngồn nhân lực là rất quan trọng, phải có những chiến lược để quy hoạch dân cư và phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học có như vậy mới đảm bảo cho DLST đi đúng hướng và phát triển bền vững

1.3.5 Các cơ chế luật pháp và chính sách đầu tư du lịch

Xây dựng cơ chế, chính sách về quản lý một cách đồng bộ, khuyến khích việc khai thác các tiềm năng DLST đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên thiên…phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý, từ các cơ quan quản lý nhà nước như: Bộ Nông nghiệp và phát triển tài nguyên, Bộ Tài chính, Tổng cục Du lịch…Thực tế, mặc dù nhiều nước, nhiều quốc gia vùng lãnh thổ có tiềm năng rất lớn về DLST nhưng sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo, những nhà hoạch định chính sách và đầu tư chưa thật sự sâu sắc do đó không có cơ chế, chính sách thích hợp để quy hoạch, tập trung đầu tư để phát triển du lịch do đó đã làm lãng phí nguồn tài nguyên thậm chí có thể bị lãng quên hoặc bị tàn phá do không có cơ quan đơn vị hay người quản lý các nguồn tài nguyên đó Để DLST phát triển thì việc nhận ra thế mạnh và phát huy nó là một vấn đề cần được quan tâm Vấn đề này chỉ được giải quyết khi các nhà hoạch định chính sách, các cấp quản lý nhận thức rõ và đưa ra cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển DLST chỉ phát triển khi nó có được một cơ chế chính sách hợp lý và pháp luật đồng bộ Đó là nghiên cứu quy hoạch, đầu tư và khuyến khích đầu tư, cơ chế xúc tiến quảng bá, cơ chế phối hợp và phân chia một cách hài hòa lợi ích giữa người dân địa phương với các cơ quan quản lý, các công ty lữ hành Cơ chế mà qua đó hoạt động DLST tạo điều kiện cho người dân địa phương bảo vệ môi trường, gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cơ chế thuận lợi làm cho DLST phát triển tạo ra công ăn việc làm cho cư dân địa phương và nâng cao đời sống của họ, có như vậy mới ngăn chặn được tận gốc nạn chặt phá rừng và săn bắn của cư dân địa phương Một cơ chế, chính sách đúng sẽ

Trang 33

vừa khuyến khích bảo tồn phát triển tài nguyên môi trường vừa phát triển DLST một cách bền vững đảm bảo đời sống của cư dân địa phương

Để đạt được các mục tiêu phát triển, các cơ chế chính sách và luật pháp cần được hướng tới là:

- Khuyến khích phát triển các nguồn lực du lịch về phương diện sức hấp dẫn thiên nhiên cũng như các điểm lịch sử, khảo cổ và văn hóa, chú trọng đến chất lượng cùng với hệ thống thông tin có hiệu quả và có nhận thức về khả năng thu xếp nơi nghỉ cho du khách

- Có sự điều phối để tạo ra sự hợp tác giữa tất cả các bên liên quan, nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tinh thần trách nhiệm đối với hệ sinh thái và việc tổ chức các tour sẽ không gây thiệt hại hay huỷ hoại môi trường

- Xây dựng nhận thức về loại hình du lịch mà có góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và có sự hoàn trả thích hợp cho hệ sinh thái

- Triển khai lập kế hoạch, cải tiến và xây dựng nguyên tắc và quy định, tổ chức, quản lý hiệu quả du lịch sinh thái, từ đó có thể tạo nên sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Chính phủ, khối tư nhân và người dân địa phương

- Có chính sách, cơ chế động viên cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào quá trình và thu được lợi ích từ du lịch

1.3.6 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá

Đây là một khâu quan trọng trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch, phát triển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh Đối với DLST việc tuyên truyền quảng bá

và hoạt động xúc tiến thương mại còn quan trọng hơn

Trên thực tế nhu cầu tiêu dùng sản phẩm du DLST ngày càng cao Nếu một điểm du lịch hay một khu du lịch dù có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, hấp dẫn, môi trường trong lành, hệ sinh thái da dạng nhưng nếu những thông tin về nó không được quảng bá, không đến được với du khách thì chắc chắn điểm du lịch đó cũng không có nhiều khách đến thăm, tiêu dùng sản phẩm DLST gặp nhiều khó khăn

Trang 34

Hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá bằng nhiều hình thức khác nhau Một trong những đặc điểm của tiêu dùng sản phẩm DLST là nó chỉ xuất hiện khi khách hàng, khách du lịch đến sử dụng, thăm quan Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học -kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, do đó có rất nhiều hình thức quảng bá, xúc tiến phát triển du lịch Việc xây dựng, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm DLST, môi trường cảnh quan thiên nhiên độc đáo hay thái độ phục vụ, hành vi ứng xử có văn hóa của nhân viên phục

vụ, cộng đồng dân cư địa phương đó là những phương thức quảng bá hữu hiệu nhất Nếu như công tác quảng bá được chú trọng đúng mức, duy trì thường xuyên thì nó

sẽ là một nhân tố quan trọng cho việc phát triển DLST

1.4 Một số loại hình du lịch sinh thái nói chung và mô hình du lịch sinh thái vườn cây ăn trái Lái Thiêu nói riêng

và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về

lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997)

Tại Việt Nam, hàng loạt khái niệm về DLCĐ đã được đề cập Tác giả Trần

Thị Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho khái niệm này như sau: “DLCĐ là hoạt

động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

có dự án.” tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng

đồng địa phương, với cách nhìn về DLCĐ: “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu

Trang 35

trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường

du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.”

Tựu chung lại, khái niệm DLCĐ chứa đựng các nội dung chủ yếu như sau:

- Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể

- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi có

cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương

- Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách

- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho

du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình

1.4.2 Du lịch sinh thái kết hợp với làng nghề

Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng

bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề

Trang 36

không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai

Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hoá độc đáo của từng vùng miền, địa phương

Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng

và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu trong quá trình

đi du lịch của du khách, bao gồm:

- Sản phẩm du lịch đặc trưng: đó là những sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, tạo ra mục đích của khách du lịch tại điểm đến như: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nơi nghỉ mát, chữa bệnh, thăm quan

- Sản phẩm du lịch cần thiết: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong quá trình đi du lịch như: phương tiện vận chuyển, ăn, nghỉ

- Sản phẩm du lịch bổ sung: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu phát sinh trong quá trình đi du lịch như: cắt tóc, giặt là, massage, mua sắm hàng lưu niệm

Như vậy, làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó có khả năng hấp dẫn, thu hút khách, vừa là sản phẩm du lịch bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách

Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng

Trang 37

Đi dọc chiều dài đất nước hình chữ S, du khách gần như có thể dừng chân ở bất cứ địa phương nào để tìm hiểu về làng nghề truyền thống Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn 3000 làng nghề thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí

Lợi thế của phần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi, cả đường bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch kết hợp Có thể kế đến các địa phương khá năng động trong việc phát huy lợi thế làng nghề để phát triển du lịch như Hà Nội, Hà Tây, Hoà Bình, Bắc Ninh, Bình Dương, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam

Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để du lịch làng nghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn bền vững hơn cho mục tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang từng bước hội nhập toàn diện cùng với châu lục và thế giới

1.4.3 Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng

Du lịch nghỉ dưỡng là loại hình du lịch giúp cho con người phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng

thường xuyên xảy ra trong cuộc sống

Cách đây không lâu, chúng ta thường quan niệm rằng: du lịch chỉ đồng nghĩa với việc tham quan thưởng ngoạn những đất nước xa xôi, những danh lam thắng cảnh, hay tiếp xúc với những con người có phong tục tập quán, văn hóa khác với mình Điều đó cũng đã đem lại vô vàn thú vị và hạnh phúc, khiến bao nhiêu người làm lụng chỉ cốt dành tiền đi du lịch cho biết đó đây Nhưng thời gian gần đây khái niệm về“du lịch nghỉ dưỡng” đã bước vào đời sống hiện đại Đó là việc kết hợp giữa du lịch với bồi bổ sức khỏe hoặc chữa bệnh Những hình thức này đã được nhiều người ở những nước kinh tế phát triển rất ưa chuộng

Trang 38

Sở dĩ việc bồi bổ sức khỏe và chữa bệnh trong khi đi du lịch có hiệu quả cao

là vì đó là những nơi có khí hậu tuyệt vời, không khí trong lành; con người như thoát ra khỏi cuộc sống đời thường với bao nhiêu lo toan, vất vả, bận rộn và có điều kiện thảnh thơi nghĩ đến chính mình

1.4.4 Du lịch sinh thái lịch sử văn hóa

Nhiều năm qua ở nước ta, có một bài học, một kinh nghiệm hết sức thuyết phục là văn hoá trong du lịch ở nước ta vừa như là mục tiêu mang tính định hướng, vừa như là một quan điểm khẳng định rằng, văn hoá là nội dung, là bản chất đích thực của du lịch Việt Nam, tạo nên tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn nhất của các sản phẩm du lịch Việt Nam, góp phần tạo dựng hình ảnh quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế

Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch (nguồn nguyên liệu để hình thành lên hoạt động du lịch) Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hình thành lên hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến vật hút / đối tượng hưởng thụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: Văn hoá vật thể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, chẳng hạn những di tích lịch sử văn hoá, những mặt hàng thủ công, các công cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Văn hoá phi vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp… Theo quan niệm của ngành du lịch, người ta xếp các thành tố văn hoá vào tài nguyên nhân văn (đối lập với tài nguyên tự nhiên như biển, sông hồ, núi rừng, hang động…), cụ thể là: Các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm mang tính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật

Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát triển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong những điều kiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Giá trị của những di sản văn hoá: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc,

Trang 39

các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống… cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật, các bảo tàng…

là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho du lịch khai thác và

sử dụng Sự khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên, việc xây dựng các khu điểm

du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi trường và điều kiện cho du lịch phát sinh và phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương

1.4.5 Mô hình du lịch vườn cây ăn trái Lái Thiêu

1.4.5.1 Tham quan vườn cây ăn trái

Mục đích: Mang đến cho du khách cảm giác thư giãn với bầu không khí trong lành, thoáng mát; du khách được tìm hiểu lịch sử vườn cây, phương thức canh tác tại miệt vườn Lái Thiêu đồng thời thưởng thức trái cây mang hương vị đặc trưng nơi đây do chính tay mình hái

Hoạt động của mô hình: Ban điều hành phân công cụ thể đưa nhóm khách đến từng vườn Các chủ vườn sẽ giới thiệu lịch sử hình thành miệt vườn Lái Thiêu,

sự tích các loại trái cây cũng như hướng dẫn du khách cách hái trái thưởng thức mà không làm tổn hại đến sức sống của cây Trong chương trình tham quan, du khách

có thể yêu cầu chủ vườn cây chế biến các món ăn lấy nguyên liệu từ chính những sản phẩm do người dân trồng trọt, chăn nuôi có được

Địa điểm xây dựng mô hình: Vườn Thu Nga, Ba Tâm và một số khu vườn thuộc 4 xã, phường: Bình Nhâm, Hưng Định, An Sơn, An Thạnh

1.4.5.2 Tham quan làng nghề gốm

Mục đích: Giới thiệu sản phẩm gốm Lái Thiêu đến với du khách

Hoạt động của mô hình: du khách được tìm hiểu lịch sử làng gốm, quan sát

và tham gia trực tiếp các công đoạn sản xuất gốm

Địa điểm xây dựng mô hình: Làng gốm Lái Thiêu

Trang 40

1.4.5.3 Du ngoạn trên sông, kênh rạch

Mục đích: Khai thác lợi thế sông nước của khu vực, tạo không gian yên tĩnh,

êm đềm cho du khách sau những ồn ào náo nhiệt chốn phố phường

Hoạt động của mô hình: Du khách được du ngoạn bằng thuyền ngắm cảnh

Có thể dừng lại một điểm nào đó để câu cá, sau đó mang lên các nhà chòi, khu vực cắm trại 2 bên bờ để chế biến (nướng cá chẳng hạn) Sau cuộc du thuyền, câu cá đã khá mệt thì được ngã mình dưới vườn cây hóng mát, thưởng thức cá nướng và ăn trái cây tại vườn Kết thúc hành trình, du khách có thể ghé các khu vực thuyền buôn bán trái cây dọc trên bờ sông Sài Gòn để mua trái cây về làm quà cho người thân

Địa điểm xây dựng mô hình: Dọc sông Lái Thiêu, đoạn sông Sài Gòn chảy qua Thị xã Thuận An

1.4.5.4 Du lịch nghe đờn ca tài tử Nam bộ

Mục đích: Bảo tồn, phát huy và giới thiệu đến du khách giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian đờn ca tài tử của địa phương

Hoạt động của mô hình: Du khách trở về khu vực lưu trú sau 1 ngày tham quan, nghe các nghệ nhân đờn ca tài tử biểu diễn và cùng tham gia diễn xuất, tìm hiểu nhiều thông tin liên quan đến đờn ca tài tử

Địa điểm xây dựng mô hình: xã Hưng Định, Bình Nhâm

Ngày đăng: 21/03/2020, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w