Trên cơ sở các thành tựu về khoa học môi trường KHMT, trong xây dựng, thực thi pháp luật về BVMT nước LVS và những vụ vi phạm pháp luật điển hình về môi trường trên LVS Nhuệ - sông Đáy,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ QUYẾT THẮNG
TS VÕ TUẤN NHÂN
Hà Nội – Năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn
thành Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ
môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy”
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám hiệu Nhà trường, các Thầy, Cô trong Phòng Sau đại học, Khoa Môi trường của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Quyết Thắng – Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, TS Võ Tuấn Nhân – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Đồng chí là Lãnh đạo Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, các bộ, ngành trung ương, các cán
bộ của Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, Tổng cục Môi trường, các cán bộ công tác tại các Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và các đơn vị khác mà tác giả đến làm việc, đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt công việc của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn đứng cạnh, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án tiến sĩ
Tác giả: Nguyễn Quang Hùng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Lời cam đoan
Tôi tên là Nguyễn Quang Hùng, Nghiên cứu sinh ngành Khoa học môi trường (chuyên ngành: Môi trường đất và nước) tại Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các trích dẫn sử dụng trong luận án đã ghi rõ tên tài liệu tham khảo và tác giả của tài liệu đó
Hà nội, ngày 25 tháng 02 năm 2016
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Hùng
Trang 51
MỤC LỤC
Mục lục
Lời cam đoan iv
Mục lục 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng 4
Danh mục các hình vẽ, đồ thị 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: TỔNG QUAN 9
1.1.NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 9
1.1.1.Khái niệm và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông 9
1.1.2.Nội dung và nguyên lý bảo vệ môi trường nước lưu vực sông 11
1.1.3.Công cụ quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông 13
1.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 14
1.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.3.TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 31
1.3.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 31
1.3.2.Hiện trạng ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 34
1.3.3.Áp lực lên môi trường nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 37
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 41
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 41
2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 41
2.2.PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.2.1.Phương pháp tiếp cận và các bước tiến hành nghiên cứu 41
2.2.2.Phương pháp nghiên cứu 45
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54
3.1.THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 54
3.1.1.Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở trung ương 54
3.1.2.Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở địa phương 56
Trang 62
3.2.NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 563.2.1.Tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy phân bố không đều và hữu hạn 563.2.2.Lợi ích kinh tế chi phối 573.2.3.Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy còn nhiều hạn chế 583.2.4.Hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy có nhiều hạn chế, khoảng trống 603.2.5.Chế tài chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa vi phạm 743.3.NHẬN DIỆN VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ, KHOẢNG TRỐNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 763.3.1.Hạn chế, khoảng trống của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 763.3.2.Hạn chế, khoảng trống về vai trò của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 1023.3.3.Hạn chế, khoảng trống của chế tài xử lý vi phạm 1053.4.ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHƯƠNG ÁN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 1173.4.1.Khái niệm và ý nghĩa hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 1173.4.2.Nội dung và hình thức hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 1183.4.3.Định hướng và phương án hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 1193.5 GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY 1273.5.1.Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy… 1273.5.2.Hoàn thiện khung pháp lý và mô hình hoạt động của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 1303.5.3.Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm 135
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 138 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 140 TÀI LIỆU THAM KHẢO 141 PHỤ LỤC 150
Trang 73
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
QLTHTNN Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 84
DANH MỤC CÁC BẢNG
Danh mục các bảng
Bảng 1-1: Quản lý ngành TNN ở một số nước trên thế giới 16
Bảng 1-2: Thời gian bắt đầu thực hiện ĐTM của một số quốc gia trên thế giới 18
Bảng 1-3: Đặc trưng lưu vực của một số sông nhánh trên LVS Nhuệ - sông Đáy 33
Bảng 1-4: Kết quả điều tra đánh giá về mức độ cảm nhận ô nhiễm của người dân, doanh nghiệp và cơ quan QLNN đối với LVS Nhuệ - sồng Đáy 37
Bảng 1-5: Dự báo nhu cầu dùng nước đến năm 2020 37
Bảng 1-6: Dự báo nguồn thải đô thị và công nghiệp trên LVS đến năm 2020 39
Bảng 1-7 Dự báo CTR công nghiệp trên LVS năm 2015 và năm 2020 39
Bảng 2-8: Thang đánh giá hiệu quả can thiệp của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS đối với LVS Nhuệ - sông Đáy thông qua chỉ số WQI 51
Bảng 3-9: Thống kê các văn bản pháp luật liên quan đến BVMT nước LVS 55
Bảng 3-10: Văn bản pháp luật của 5 địa phương về BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy 56
Bảng 3-11: Hiện trạng và khả năng cấp nước từ Cửa Đáy và Cống Liên Mạc để làm sạch nguồn nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy 57
Bảng 3-12: Kết quả triển khai Đề án BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy năm 2013 so với mục tiêu trong Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg của TTCP 59
Bảng 3-13: Kết quả điều tra về tính đầy đủ của điều cấm trong hệ thống pháp luật BVMT nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy 64
Bảng 3-14: Kết quả điều tra về tính đầy hợp lý của điều cấm trong hệ thống pháp luật BVMT nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy 66
Bảng 3-15: Kết quả điều tra mức độ cảm nhận về tính công khai các thông tin chất lượng môi trường trên LVS Nhuệ - sông Đáy đối với người dân 67
Bảng 3-16: Ma trận tổng hợp đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy 69
Bảng 3-17: Kết quả điều tra về khả năng thi hành các điều cấm đối với BVMT trên LVS Nhuệ - sông Đáy 70
Bảng 3-18: Kết quả chỉ số chất lượng nước (WQI) sông Nhuệ năm 2008 và 2013 71
Bảng 3-19: Kết quả chỉ số chất lượng nước (WQI) sông Đáy năm 2008 và 2013 73
Bảng 3-20: Khách thể và mục tiêu quản lý bị phân tán, nhỏ lẻ, đan xen, chồng chéo giữa các bộ chủ quản (chủ thể quản lý) trên LVS Nhuệ - sông Đáy 79
Bảng 3-21: Nhận diện những hạn chế, khoảng trống trong các quy định về quản lý chất thải trên LVS Nhuệ - sông Đáy 86
Bảng 3-22: Nhận diện những hạn chế, khoảng trống trong các quy định về ĐTM trên LVS Nhuệ - sông Đáy 92
Bảng 3-23: Nhận diện những hạn chế, khoảng trống trong các quy định về QCVN trên LVS Nhuệ - sông Đáy 97
Bảng 3-24: So sánh một số chỉ tiêu giữa QCVN 40:2011 và QCVN 08:2008 99
Bảng 3-25: Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của một số quốc gia và WHO thải ra môi trường xung quanh 100
Bảng 3-26: Nhận diện những hạn chế, khoảng trống trong các quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy 102
Bảng 3-27: Nhận diện những hạn chế, khoảng trống trong các quy định về chế tài xử lý vi phạm trên LVS Nhuệ - sông Đáy 106
Trang 95
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Hình 1-1: Lưu vực sông và mô tả dòng chảy lưu vực sông 9
Hình 1-2: Hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy 10
Hình 1-3: Sơ đồ tổ chức hội đồng lưu vực sông Lerma-Chapala 23
Hình 1-4: Sơ đồ tổ chức quản lý cấp lưu vực Murray-Darling 23
Hình 1-5: Cấu trúc tổng thể tổ chức LVS Đà trên cơ sở ban quản lý quy hoạch LVS Hồng – sông Thái Bình 28
Hình 1-6: Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy theo đặc điểm thủy văn 32
Hình 1-7: Cơ cấu dùng nước năm 2013 trên LVS Nhuệ - sông Đáy 37
Hình 1-8: Phân bố nguồn thải lỏng trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 38
Hình 1-9: Cơ cấu nguồn thải theo loại hình trên LVS Nhuệ - Đáy 39
Hình 2-10: Sơ đồ tiếp cận trong nghiên cứu hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy 43
Hình 2-11: Khung logic nghiên cứu của luận án 44
Hình 2-12: Phương pháp tiếp cận trong định lượng hiệu quả can thiệp của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS thông qua chỉ số WQI 50
Hình 2-13: Mô hình DPSRr trong phân tích hạn chế, khoảng trống của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy 53
Hình 3-14: Sơ đồ tổ chức Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy 58
Hình 3-15: Vị trí quan trắc CLN sông Nhuệ, sông Đáy vào năm 2008 và 2013 71
Hình 3-16: Biến thiên giá trị WQI của sông Nhuệ từ năm 2008 đến năm 2013 72
Hình 3-17: Biến động giá trị WQI của sông Đáy từ năm 2008 đến năm 2013 74
Hình 3-18: Sơ đồ nghiên cứu mâu thuẫn, xung đột giữa các ngành liên quan đến sử dụng TNN và BVMT nước mặt LVS Nhuệ - sông Đáy 77
Hình 3-19: Sơ đồ các bước của quản lý 78
Hình 3-20: Đập Đáy cạn nước trên thượng nguồn sông Nhuệ 81
Hình 3-21: Sông Nhuệ cạn đáy chỉ còn là sông thoát nước thải 84
Hình 3-22: Sông Nhuệ “chết dần, chết mòn” vì bị lấn chiếm dòng chảy (Khu Cự Đà) 85
Hình 3-23: Rác thải chiếm lòng sông Nhuệ, đoạn cầu Tó (bên trái) và cầu 72II (bên phải) 86
Hình 3-24: Khai thác cát trái phép làm sạt lở hai bên bờ sông 89
Hình 3-25: Cá chết trắng trên sông Nhuệ (Đoạn cầu Nhật Tựu, tỉnh Hà Nam) 91
Hình 3-26: Nguồn thải và hệ sinh thái trên LVS Nhuệ- sông Đáy 91
Hình 3-27: Việc phát hiện đối tượng trở nên khó hơn khi không áp dụng công nghệ trong việc phát hiện nguồn thải trên LVS Nhuệ- sông Đáy 92
Hình 3-28: Mức độ tham gia của cộng đồng 95
Hình 3-29: Sơ đồ tổ chức Cục quản lý tài nguyên nước (hiện tại) – Bộ TN&MT 132
Hình 3-30: Sơ đồ tổ chức Tổng cục môi trường – Bộ TN&MT 133
Hình 3-31: Sơ đồ đề xuất mô hình tổ chức Ủy ban lưu vực sông quốc gia 135
Hình 3-32: Sơ đồ đề xuất mô hình Ủy ban lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 135
Trang 106
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên nước (TNN) trên các lưu vực sông (LVS) có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và rất nhạy cảm với các vấn đề kinh tế-xã hội (KT-XH), an ninh lương thực, sinh kế, bảo vệ môi trường (BVMT), chính trị, quốc phòng - an ninh và đang là vất đề nóng bỏng của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam – nơi mà nhu cầu cuộc sống hằng ngày của con người và nhu cầu phát triển KT-XH xung đột mạnh mẽ với nhau, xung đột với phát triển bền vững (PTBV), với sự cần thiết phải BVMT, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên (TNTN) Chính vì nước trên các LVS quan trọng như vậy nên chúng đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và suy thoái Nguy cơ này ngày càng rõ trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) ở nước ta Nhà nước đã ban hành các chính sách để khuyến khích các chủ thể sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ TNN, BVMT trên LVS Tuy nhiên, vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích kinh tế một cách không công bằng của các chủ thể khai thác TNN và môi trường nên các chính sách khuyến khích sử dụng và bảo vệ TNN, BVMT của nhà nước đã không phát huy hiệu quả và Nhà nước đã ban hành các đạo luật, hình thành các thiết chế, các chế định pháp luật để kiểm soát mạnh mẽ hơn những hành vi gây ô nhiễm môi trường nước LVS
Hiện nay, môi trường nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy đang là đối tượng xâm hại mạnh mẽ và điển hình nhất của vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thủ đô Ô nhiễm LVS Nhuệ - sông Đáy đã gây thiệt hại về sức khỏe con người, về tài sản và đặt ra nhiều quan ngại về mặt xã hội Để hạn chế được sự xâm phạm trên không còn cách nào khác là phải có sự can thiệp mạnh mẽ của pháp luật, sử dụng quyền lực Nhà nước
để can thiệp, loại bỏ, kiểm soát một cách hữu hiệu những hành vi xâm hại đến môi trường nước LVS - đây là một nguyên tắc tuyệt đối cần thiết mà bất cứ thể chế chính trị, một nhà nước nào cũng phải tuân theo nếu không muốn đi ngược lại lợi ích của đa
số nhân dân Và pháp luật đã trở thành một trong bốn công cụ quan trọng bậc nhất trong công tác quản lý môi trường, giải quyết các xung đột môi trường
Tuy nhiên, trong thời gian qua các cơ quan Nhà nước chủ yếu quan tâm đến việc ban hành các văn bản để khắc phục những hậu quả của các hành vi xâm hại đến môi trường nước như việc phê duyệt Đề án BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy; thành lập Uỷ ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy; hình thành các công trình, cụm công trình xử lý
nước thải (XLNT) nhằm hạn chế ô nhiễm mà chưa quan tâm đúng mức đến việc
phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi xả chất thải ra LVS Cùng với đó, vai trò của các
tổ chức LVS còn rất hạn chế, các chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVMT chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, giáo dục và làm thay đổi nhận thức, hành vi của người vi phạm Những khiếm khuyết này của hệ thống văn bản pháp luật về
Trang 117
BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy là một trong những nguyên nhân chủ yếu để các chủ thể sử dụng TNMT lợi dụng khe hở pháp luật gây ô nhiễm nghiêm trọng trên LVS Nhuệ - sông Đáy hiện nay Để có thể kiểm soát và hạn chế những hành vi xả chất thải
ra LVS Nhuệ - sông Đáy thì những hạn chế, khoảng trống này của hệ thống văn bản pháp luật về BVMT nước LVS cần phải được bổ sung, hoàn thiện
Với tinh thần đó, đề tài “Nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy” được nghiên cứu sinh lựa chọn cho luận
án tiến sĩ của mình Trên cơ sở các thành tựu về khoa học môi trường (KHMT), trong xây dựng, thực thi pháp luật về BVMT nước LVS và những vụ vi phạm pháp luật điển hình về môi trường trên LVS Nhuệ - sông Đáy, đề tài tập trung nghiên cứu nguyên nhân ô nhiễm, nhận diện và phân tích những hạn chế, khoảng trống của Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy, của chế tài xử lý vi phạm và của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy Từ đây, đề xuất phương án, giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy với mục tiêu để pháp luật trở thành công cụ sắc bén, hiệu quả trong việc kiểm soát ô nhiễm, kiểm soát tội phạm môi trường (TPMT), đáp ứng yêu cầu BVMT trong tiến trình xây dựng đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Góp phần xác lập cơ sở khoa học, phương pháp luận về hoàn thiện hệ thống
pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy và khung pháp lý mô hình Ủy ban quốc gia LVS ở Việt Nam
- Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước LVS, hệ
thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy, các chế tài xử lý vi phạm và xây dựng khung pháp lý mô hình Ủy ban quốc gia LVS nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát, sử dụng, bảo vệ, cải thiện và nâng dần chất lượng môi trường nước trên các LVS ở Việt Nam nói chung và LVS Nhuệ - sông Đáy nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng, hiệu lực thực thi và hiệu quả can thiệp của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
- Xác định nguyên nhân và phân tích những hạn chế, khoảng trống của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
- Đề xuất phương án và kiến nghị giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước LVS
4 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về pháp luật BVMT nước LVS trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 125 Những điểm mới của luận án
- Hệ thống lại các văn bản pháp luật BVMT nước LVS hiện hành và vai trò của
hệ thống pháp luật này trong BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
- Xác định nguyên nhân ô nhiễm, phân tích những hạn chế, khoảng trống và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy cũng như hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVMT nước LVS
- Đề xuất khung pháp lý mô hình Ủy ban quốc gia LVS hướng tới quản lý bền vững TN&MT nước LVS nói chung và LVS Nhuệ - sông Đáy nói riêng
6 Luận điểm bảo vệ
(1) Ô nhiễm môi trường nước LVS Nhuệ - sông Đáy có nguyên nhân mang bản chất xã hội Từ hoạt động của con người với những mưu lợi về kinh tế đã lợi dụng kẽ
hở, khoảng trống của pháp luật để trốn tránh nghĩa vụ BVMT do hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình gây ra Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy dựa trên các yếu tố về pháp luật, yếu tố đặc thù của LVS Nhuệ - sông Đáy và các vụ vi phạm pháp luật môi trường điển hình trên LVS sẽ là các yếu tố quan trọng để BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy trong nghiên cứu này
(2) Hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy là một bộ phận của
hệ thống pháp luật BVMT và hệ thống này đang xuất hiện nhiều hạn chế, khoảng trống Vì vậy, để nâng cao chất lượng, tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật, sức răn đe của chế xử lý vi phạm và vai trò của Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy, để pháp luật trở thành công cụ chủ đạo, sắc bén trong việc kiểm soát TPMT, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường trên LVS Nhuệ - sông Đáy
Trang 139
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
1.1.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
a) Khái niệm lưu vực sông
Hiện nay, có nhiều khái niệm về LVS của nhiều tác giả trên thế giới, nhưng lưu
vực sông trong luận án này được hiểu là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà
mọi lượng nước mưa khi rơi xuống sẽ tập trung lại và thoát qua một cửa ra duy nhất (Hình 1-1) Nói cách khác, LVS là phần diện tích mặt đất giới hạn bởi đường phân thủy, trên đó nước chảy vào một con sông hay một hệ thống sông gọi là lưu vực [23]
Hình 1-1: Lưu vực sông và mô tả dòng chảy lưu vực sông
b) Khái niệm về môi trường nước lưu vực sông
Môi trường nước LVS hiện nay có nhiều khái niệm theo các góc độ khác nhau Môi trường nước LVS trong luận án này được hiểu là: Toàn bộ hệ thống các thủy vực
tự nhiên và nhân tạo trên lưu vực như sông, suối, kênh, rạch, mương, hồ, ao và các hồ chứa nhân tạo hợp thành từ các yếu tố lý, hóa, sinh và các quá trình, tác động tới sự sinh tồn, phát triển của con người và sinh vật trên lưu vực đó
c) Khái niệm hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật (QPPL), các nguyên tắc,
định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau
Hệ thống văn bản pháp luật là tổng thể các QPPL (một QPPL gồm ba phần: giả
định, quy định và chế tài), các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau và được thể hiện trong các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định Tập hợp các văn bản QPPL (hay còn gọi là văn bản pháp luật dùng chung), văn bản pháp luật cá biệt và văn bản áp dụng pháp luật có liên quan đến BVMT nước LVS trở thành một hệ thống văn bản pháp luật BVMT nước LVS
Văn bản QPPL (văn bản dùng chung) là các văn bản chứa đựng các QPPL do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực
Trang 1410
bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội Các văn bản chung gồm: Luật, nghị quyết của Quốc hội; nghị quyết, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH); nghị quyết, nghị định của Chính phủ; thông tư, thông tư liên tịch của các bộ…liên quan đến BVMT nước LVS
Hình 1-2: Hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
Các văn bản quy phạm pháp luật (dùng chung) liên quan đến BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy như: Luật BVMT, Luật TNN, Luật Khoáng sản, Luật Thanh tra, Luật
Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự… Các văn bản hướng dẫn luật, các thông tư, thông tư liên tịch, các QCVN (ban hành dưới dạng thông tư) về môi trường…
Văn bản pháp luật cá biệt và văn bản áp dụng luật đều là văn bản triển khai các QPPL do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành theo hình thức và trình tự thủ tục do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóa các QPPL thành những mệnh lệnh cụ thể áp dụng đối với cá nhân, tổ chức nhất định Các văn bản cá biệt này thể hiện dưới hình thức: quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (TTCP); quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng các bộ, của lãnh đạo các địa phương trên LVS; Các văn bản áp dụng luật là các bản án của Tòa án nhân dân và Viện kiểm soát nhân dân liên quan đến BVMT
Các văn bản cá biệt triển khai trên LVS Nhuệ - sông Đáy gồm: Một số văn bản
của trung ương như các Quyết định của TTCP về phê duyệt Đề án BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy; Quyết định quy hoạch CTR; Quyết định quy hoạch HTXLNT; Quyết định thành lập Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy; Quyết định, chỉ thị của TTCT, của bộ trưởng các bộ, ngành…đối với LVS Nhuệ - sông Đáy Ở địa phương có các chỉ thị, quyết định phê duyệt, triển khai, chỉ đạo về các đề án, chương trình BVMT trên các phụ lưu của LVS Nhuệ - sông Đáy
d) Vai trò và ý nghĩa của pháp luật BVMT nước LVS trong bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Vai trò của pháp luật nói chung và pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
Trang 1511
nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng Môi trường nước LVS Nhuệ - sông Đáy ô nhiễm nghiêm trọng phần lớn là do con người Chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố môi trường trên LVS đã có những hành vi tác động xấu làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, muốn BVMT thì phải tác động đến con người, đến hành vi của con người Pháp luật BVMT nước LVS với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người trong quá trình khai thác,
sử dụng TNMT sẽ có tác dụng rất lớn trong việc BVMT nước LVS Ý nghĩa của pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Pháp luật BVMT nước LVS quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng TNN, các yếu tố môi trường khác trên LVSNhuệ - sông Đáy Đó cũng là công cụ điều tiết các hành vi khai thác, sử dụng, bảo vệ các yếu tố môi trường theo một tiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định để BVMT nước LVS
- Pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức BVMT trên LVS Nhuệ - sông Đáy để hình thành các hệ thống tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ BVMT
- Pháp luật quy định các chế tài để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy
đủ các đòi hỏi của hệ thống pháp luật BVMT nước LVS trong việc khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường trên LVS
- Pháp luật BVMT nước LVS có vai trò to lớn trong việc BVMT là đưa ra các quy chuẩn môi trường (cấp quốc gia và địa phương) thể hiện ở dạng văn bản pháp luật (cấp quốc gia ban hành thông tư-QCVN, cấp địa phương ban hành quyết định-QCĐP)
- Pháp luật BVMT thể hiện rõ nét vai trò trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến BVMT Các tranh chấp phát sinh do khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường trên LVS Đưa các QPPL chung thành các văn bản pháp luật cá biệt, cụ thể để triển khai thực hiện trên thực tế
1.1.2 Nội dung và nguyên lý bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
a) Nội dung về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
BVMT nước LVS là một trong những nội dung của quản lý tổng hợp LVS và là nội dung nghiên cứu của KHMT Theo định nghĩa của GWP về quản lý tổng hợp TNN
(Integrated Water Resource Management-IWRM) được hiểu như sau: “Là một quá
trình đẩy mạnh, phối hợp phát triển và quản lý nguồn nước, đất đai và tài nguyên liên quan, để tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu” [154]
Mặc dù đã trở thành một vấn đề chủ đạo và đã được thảo luận trong nhiều giai đoạn và nhiều đề tài, nhưng ý tưởng về IWRM đã phải chịu không ít những ý kiến phản đối gay gắt Ngay trong khái niệm của IWRM cũng cho thấy sự không thống nhất và thiếu sự nhất trí về những vấn đề cơ bản được bao gồm trong quản lý tổng hợp, làm thế nào để IWRM và ai làm IWRM hoặc thậm chí ngay cả khi kết hợp những lĩnh vực rộng lớn (quản lý đất đai, khoảng sản, rừng, ĐDSH, đô thị, nông nghiệp, giao
Trang 1612
thông,…) như vậy liệu có khả thi hay không Do đó, mô hình này gần như không thể triển khai trong thực tế [124]
Quản lý tổng hợp LVS thuộc lĩnh vực quản lý TNN và là một phần của việc quản
lý các nguồn TNTN Mặc dù quản lý LVS thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nước, nhưng công tác quản lý LVS không chỉ liên quan đến việc bảo vệ chất lượng và khối lượng nước trong LVS Công tác quản lý LVS còn liên quan tới các khía cạnh của việc quản
lý đất đai, sinh vật, khoáng sản trong LVS cũng như trong quản lý toàn thể các hoạt động khác như: quản lý thành thị, nông thôn, quản lý công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề hay quản lý xã hội Điều này có thể ảnh hưởng đến việc quản lý LVS và làm giảm khả năng đạt được những mục tiêu quản lý đường phân thuỷ đã được đề ra Trong thời kỳ đầu khi đề cập đến quản lý tổng hợp LVS người ta thường có tham vọng giải quyết vấn đề một cách toàn diện, có nghĩa là tất cả các hợp phần trong quản
lý LVS đều được đưa vào và giải quyết đồng thời Cách hiểu này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc trong quá trình điều tra, phân tích toàn bộ hệ sinh thái LVS Trong khi đó môi trường, HST lại biến động liên tục do những tác động của con người Để quản lý tổng hợp được LVS, ngoài việc dựa trên các văn bản pháp luật thì người ta phải dựa trên quy hoạch LVS để quản lý Nhưng thực tiễn cho thấy, sản phẩm của quy hoạch sau khi làm ra ít có tác dụng thực tế vì thời gian trôi qua, nhiều công trình mới đã được xây dựng, nhiều yếu tố mới phát sinh và các sản phẩm của quy hoạch lại trở nên lạc hậu ngay từ lúc mới ra đời Hiện nay, cách hiểu quản lý tổng hợp
giữ lại ý tưởng chung về toàn diện, nhưng tập trung vào những vấn đề cốt lõi và thực
tiễn hơn Giải pháp tổng hợp không tìm cách giải quyết tất cả các hợp phần và mối liên
kết mà chỉ giải quyết những cái coi là chính yếu nhất [154]
Cho tới nay, mặc dù quan niệm về quản lý tổng hợp LVS được trình bày trong khá nhiều báo cáo và tài liệu nhưng trên thực tiễn hiếm khi thực hành được giải pháp này Lý do chính là do sự phân tán về quản lý đối với TNN về ranh giới hành chính cũng như theo các bộ, ngành chuyên môn mà sự phối hợp đa ngành, liên lãnh thổ, liên mục tiêu hiện nay rất khó thực hiện [154] Do những hạn chế trên mà Việt Nam và một
số nước quan tâm chủ yếu vào các vấn đề chính yếu nhất trong quản lý tổng hợp LVS
đó là BVMT nước trên LVS (bảo vệ về số lượng và chất lượng) BVMT nước trên LVS là hoạt động gắn với các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và các hoạt động để kiểm soát TNN và ô nhiễm nguồn nước nhằm bảo đảm CLN trên LVS cũng như các quá trình liên quan khác trong một LVS
Ba nhóm nội dung chính trong BVMT nước LVS cũng là nội dung chính của quản lý tổng hợp TNN trên LVS đó là:
- Xây dựng và hoàn thiện khung chính sách, pháp luật đủ mạnh để thực thi nhiệm
vụ bảo vệ TNN, BVMT nước trên LVS (bao gồm: chính sách, pháp luật, quy hoạch,
kế hoạch, nhiệm vụ… được nhà nước phê duyệt)
- Xây dựng và hoàn thiện các công cụ hỗ trợ, các chế tài đủ sức răn đe để bảo vệ
Trang 1713
TNN, BVMT nước LVS
- Thiết lập mô hình tổ chức LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để thực thi hiệu quả các nhiệm vụ được giao
Căn cứ vào 3 nhóm nội dung chính trên, Luật TNN năm 2012, Luật BVMT năm
2014, Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý LVS và các văn bản khác có liên quan đã cụ thể 3 nhóm nội dung về BVMT nước LVS trên như sau:
1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT nước LVS, TNN trên LVS Lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch TNN, quy hoạch BVMT; ĐMC, ĐTM, KHBVMT; kế hoạch phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt; BVMT, bảo vệ TNN, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên LVS
2 Cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về xả thải, sử dụng TNN trên LVS Nguồn thải vào LVS phải phù hợp với sức chịu tải, gắn liền với bảo tồn ĐDSH Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có trách nhiệm giảm thiểu và xử lý chất thải trước khi xả thải vào LVS theo quy định của pháp luật
3 Thành lập tổ chức lưu vực sông (Hội đồng tư vấn TNN, Ủy ban BVMT LVS, Ban quản lý quy hoạch LVS, Hội đồng LVS )
4 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và đào tạo nhân lực về TNN Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về BVMT và TNN trên LVS
b) Các nguyên lý cơ bản trong bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
Nguyên lý trong BVMT nước LVS:
- Quản lý môi trường, TNN phải theo hướng liên ngành, liên vùng, đa mục đích
và liên lợi ích (quốc gia, địa phương, cộng đồng)
- Quản lý TNN phải thống nhất theo LVS, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý hành chính, lấy phòng ngừa ô nhiễm là chính, bảo đảm cân bằng giữa sử dụng với phục hồi, cải thiện, bảo tồn và phát triển khả năng tái tạo TNN, các hệ sinh thái
- Phải huy động sự tham gia của cộng đồng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm quản
lý TNN và BVMT; áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải khắc phục, trả tiền
- Nước có giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng và cần phải được xem như một loại hàng hóa có giá trị kinh tế
1.1.3 Công cụ quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông
Quản lý chất lượng nước LVS là việc áp dụng các biện pháp tổng hợp (luật pháp,
khoa học kỹ thuật, công cụ kinh tế và các công cụ bổ trợ khác) nhằm bảo vệ nước trên
LVS đạt chất lượng phục vụ cho các mục đích (cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy
sản, tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, du lịch, giao thông, ) hướng tới PTBV kinh tế -
xã hội, BVMT Hiện nay trong công tác quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi
Trang 1814
trường nước LVS gồm 4 nhóm công cụ sau:
a) Công cụ pháp luật: là hệ thống các văn bản QPPL quy định về quản lý
LVS; các quyết định thành lập tổ chức LVS; các quy hoạch, kế hoạch quốc gia, ngành
và địa phương nhằm kiểm soát các hành vi của các tổ chức, cá nhân làm ảnh hưởng môi trường nước LVS
b) Công cụ kinh tế: là công cụ nhằm điều chỉnh hành vi của các nhà sản xuất,
người tiêu dùng và tạo nguồn tài chính cho ngân sách cũng như duy trì giá trị môi
trường trên LVS
Công cụ kinh tế có 3 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm công cụ tạo nguồn thu (thuế môi trường; phí môi trường; quỹ môi
trường )
Nhóm 2: Nhóm công cụ tạo lập thị trường (chi trả dịch vụ môi trường; giấy phép
xả thải; cota chuyển nhượng )
Nhóm 3: Nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động
BVMT nước LVS (ký quỹ môi trường; đặt cọc hoàn trả; bồi thường thiệt hại môi trường; bảo hiểm môi trường )
c) Công cụ khoa học-kỹ thuật: là công cụ thể hiện rõ vai trò kiểm soát và
giám sát của nhà nước về chất lượng môi trường nước LVS Các công cụ khoa học-kỹ thuật gồm: ĐMC, ĐTM, quan trắc, xử lý, tái chế, tái sử dụng
d) Công cụ phụ trợ: (tuyên truyền, giáo dục, thanh tra, kiểm tra, xử phạt, kiếu
nại, tố cáo…)
Trong đó, ba công cụ là kinh tế, khoa học-kỹ thuật và công cụ phụ trợ được áp dụng với tổ chức, cá nhân đều phải thông qua một công cụ duy nhất là “pháp luật” Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật chính là hoàn thiện cả 4 nhóm công cụ trên
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Quản lý TNN và BVMT nước LVS không còn mới mẻ đối với các nước trên thế giới Việc nghiên cứu để đưa ra những chiến lược, thoả thuận, cam kết, chính sách và
cả các nguyên tắc làm cơ sở cho việc hình thành pháp luật chung về bảo vệ TNN trên LVS được thể hiện trong các văn bản tuyên bố tại các hội nghị quốc tế về BVMT và PTBV, Kế hoạch hành động Mar del Plata (1977), Tuyên bố New Delhi (1990) và được củng cố trong chương 18 của lịch trình thế kỷ 21 Hội nghị thượng định về nước
năm 1992 tại Rio [143] với chủ đề “Nước và môi trường” Hội đồng nước thế giới đã
được thành lập năm 1996 và đã đưa ra tại điễn đàn nước thế giới lần thứ nhất tại
Marrakech (Marocco) năm 1997 với chủ đề “Tầm nhìn dài hạn về nước, cuộc sống và
môi trường cho thế kỷ 21” và Công ước 1997 của Liên hợp quốc về sử dụng nguồn
nước quốc tế vào các mục đích phi giao thông là văn bản pháp luật quốc tế liên quan
Trang 1915
đến LVS rất quan trọng Ủy ban thế giới về Đập (WCD) được thành lập vào năm 1998
đã đưa ra để nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về tác động tiêu cực của đập trên LVS
và đưa ra các khuyến cáo cần thiết Trên cơ sở nghiên cứu đó, đã ban hành Nghị định thư về Đánh giá tính bền vững của Thủy điện (HSAP) là một cơ chế chấm điểm tự nguyện, không ràng buộc nhằm đánh giá tính bền vững về xã hội, môi trường và kinh
tế của đập Diễn đàn nước thế giới lần thứ hai tại Hague (Hà Lan) năm 2000 với chủ
đề “Nước là công việc của tất cả mọi người”; Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg năm 2002 “Nước là một trong năm chủ đề quan trọng nhất của thế
giới”; Diễn đàn nước thế giới lần thứ ba tại Kyoto (Nhật Bản) với các chủ đề thảo luận
như: Quản lý tổng hợp nguồn nước và quản lý LVS; nước và khí hậu; nước và nông nghiệp; khoa học công nghệ và quản lý nước, v.v Hội nghị Bộ trưởng các nước thông
qua với tiêu đề tổng quát về “một thế giới an ninh về nước trong thế kỷ 21” gồm 10
thông điệp và 6 chỉ tiêu cần đạt được đều hướng tới sử dụng hiệu quả TNN Đại hội đồng liên minh Nghị viên thế giới lần thứ 132 (gọi tắt là IPU 132) diễn ra từ ngày 28/3 – 01/4/2015 tại Hà Nội-Việt Nam đã thông qua Nghị quyết về định hình một cơ chế
mới về quản trị nguồn nước “thúc đẩy nghị viện hành động về nước và vệ sinh”
Việc sử dụng nước quá mức cần thiết, thiếu hợp tác trong các vấn đề về LVS và các nguồn nước quốc gia, quốc tế và việc thực hiện quyền con người với nước sạch và
vệ sinh môi trường, an ninh nguồn nước, chia sẻ TNN; hợp tác trong các vấn đề liên
quan đến sông quốc tế, kênh đào quốc tế; kêu gọi sự tham gia, ủng hộ của cộng đồng địa phương và tăng cường hợp tác quốc tế để cung cấp nguồn lực tài chính có quan hệ mật thiết, liên kết với nhau và ảnh hưởng đến chất lượng nước Nhiều chủ đề khác như quản lý tổng hợp nguồn nước và quản lý tổng hợp LVS; nước và khí hậu; nước và nông nghiệp; khoa học công nghệ và quản lý nước… cũng được bàn luận tới Trong đó ban hành chính sách, pháp luật và thực thi chúng được quan tâm hàng đầu
Đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu đã được thực hiện và áp dụng trong quản lý
LVS trên thế giới Các nước trên thế giới đã tập trung vào những vấn đề như phát triển
thể chế, chính sách trong quản lý tổng hợp TN&MT LVS; phương pháp luận và áp
dụng các công cụ kỹ thuật để lập quy hoạch LVS; nghiên cứu xây dựng mô hình cơ
quan quản lý LVS phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước Từ các kết quả nghiên
cứu này, nhiều cơ quan quản lý về TNN trên LVS đã được thành lập trên các LVS lớn của thế giới và hoạt động có hiệu quả nhất là ở các nước phát triển như Châu Âu, Bắc
Mỹ, Nam Mỹ, Úc… từ hàng chục năm nay [132] Quản lý tổng hợp TNN trên LVS ở
các nước này đã mang lại những thành công trong việc khai thác nguồn nước của lưu vực, đồng thời BVMT và các HST trong lưu vực
Nghiên cứu trên thế giới về 3 nội dung quan trọng của bảo vệ TNN, BVMT nước LVS (quản lý tổng hợp TNN trên LVS) cụ thể như sau:
a) Xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật bảo vệ TNN, BVMT nước trên LVS
Theo số liệu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), hệ thống điều
Trang 2016
ước quốc tế về nguồn nước quốc tế đã ghi nhận có khoảng 400 điều ước về nước đã được thông qua kể từ năm 1820 [161], hệ thống điều ước ở mỗi khu vực lại có sự khác nhau [160] và mỗi quốc gia lại có những khung chính sách, pháp luật khác nhau đối với từng lĩnh vực về TNN và BVMT nước LVS như:
Về quản lý TNN theo các điều ước quốc tế và điều ước khu vực: Tại Châu Phi có
59 LVS, nhưng chỉ có 19 sông quản lý được điều chỉnh bằng các điều ước quốc tế [164] Tại đây chỉ có 34 Hiệp định về hợp tác phân phối, cung cấp nguồn nước Đặc biệt, có hơn 10 Ủy ban hợp tác về sử dụng chung nguồn nước các con sông ở khu vực
này Tại Châu Á có 57 LVS xuyên biên giới với 25 LVS được điều chỉnh theo điều
ước quốc tế, trong đó có Hiệp định hợp tác PTBV LVS Mê Công năm 1995 mà Việt Nam là thành viên [164], đã có nhiều chương trình, dự án nghiên cứu và phát triển được thực hiện bởi các quốc gia thành viên LVS Mê Công với sự tài trợ to lớn của cộng đồng quốc tế theo hướng bền vững, phục vụ cho lợi ích của trên 60 triệu dân
trong LVS Mê Công [136] Tại Châu Âu có 64 LVS xuyên biên giới trong đó 45 LVS
được quản lý theo các điều ước quốc tế Ngoài ra, hầu hết các quốc gia Châu Âu đều
có nghĩa vụ thực hiện hai văn kiện quan trọng của khu vực liên quan đến TNN là Chỉ thị Khung về nước tại Châu Âu và Công ước Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sử dụng
các nguồn nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế [164] Tại Bắc Mỹ và Nam Mỹ có
79 LVS xuyên biên giới với 55 sông được điều chỉnh theo các điều ước quốc tế [164]
Về quản lý TNN theo đặc thù từng quốc gia: Việt Nam cũng như các quốc gia
Đông Nam Á, chưa đề cập đến nhiều về quản trị ngành nước như các nước Châu Âu, Mỹ…, mà chủ yếu là quản lý TNN và BVMT nước LVS Bản thân chức năng quản lý TNN đã là chức năng mới Vào đầu thập niên 2000, khi xác lập chức năng quản lý TNN, các quốc gia này đều cải cách thể chế ngành nước để tạo cho chức năng này có được vị thế khách quan trong điều hòa các yêu cầu sử dụng nước canh tranh Nhiều quốc gia trên thế giới có Luật về TNN và Luật về BVMT Chức năng quản lý TNN được chuyển về Bộ Môi trường hoặc Bộ TN&MT (Bảng 1-1) để thống nhất quản lý
Bảng 1-1: Quản lý ngành TNN ở một số nước trên thế giới Tên quốc gia
Nay đặt nước hoặc TNN thuộc bộ nào
Luật nước/TNN
Bộ Môi trường hoặc
Bộ TN&MT
Bộ Nông nghiệp
Bộ Công chính
Bộ riêng
về nước/TNN
Trang 21Về kiểm soát ô nhiễm và BVMT nước LVS: Nhiều nước có riêng đạo luật kiểm
soát ô nhiễm nước hoặc được lồng ghép vào đạo luật về BVMT hoặc TNN như: Luật
Kiểm soát ô nhiễm nước năm 1970 và Luật nước và môi trường năm 1997 [59] của
Nhật với mục tiêu là chất lượng môi trường phải đạt tiêu chuẩn môi trường nước ở hầu hết các địa phương trên đất nước Nhật và đã tập trung vào kiểm soát tổng lượng chất ô
nhiễm [59] Luật phòng và kiểm soát ô nhiễm nước (năm 1984, sửa đổi năm 1996 và
2008) của Trung Quốc [19] có quy định rõ chính quyền địa phương phải có mục tiêu
cụ thể trong khoảng thời gian xác định về giảm ô nhiễm nước, quy định hệ thống kiểm soát tổng thải của các chất ô nhiễm Quy định về hệ thống cấp phép thải chất ô nhiễm
nước hướng tới mô hình thương mại Đặc biệt hơn là các Luật kiểm soát ô nhiễm nước
và thoát nước (Water Pollution Control and Drainage Act), Luật sức khỏe cộng đồng môi trường (Environmental Public Health Act-EPHA), Luật không khí trong lành (Clean Air Act-CAA), Luật động vật và chim hoang dã (Wild Animals and Bird Act- WABA) của Singapore cơ bản hình thành một hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm
nước và môi trường khá hiệu quả Ở một số nước Châu Âu như Pháp có Luật môi
trường nước và môi trường thủy sản (LEMA, năm 1964) [130] và Luật TNN (năm
1992) coi nước như một "di sản chung của dân tộc” và tăng cường thiết chế để bảo vệ chất lượng, số lượng nguồn nước như việc: đổi mới tổ chức thể chế; đề xuất các công
cụ mới để chống ô nhiễm lan tỏa; tăng cường công tác quản lý của địa phương đối với các nguồn TNN; cung cấp công cụ mới để các Thị trưởng quản lý các dịch vụ nước công cộng và vệ sinh môi trường minh bạch hơn; đơn giản hóa và tăng cường lực lượng cảnh sát nước để có thể giám sát chặt chẽ hơn Đáng chú ý hơn là tại Đức có hệ
thống pháp luật để kiểm soát TNN, BVMT khá đồ sộ như: Luật bảo vệ nguồn nước,
Luật TNN, Luật quy chế cân bằng nước, Luật hành chính môi trường, Luật bảo vệ đất, Luật bảo vệ không khí và tiếng ồn, Luật tái chế và quản lý chất thải, Luật bảo vệ động vật, Luật kiểm toán môi trường, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự…[17] Các luật này
của Đức đã đóng vai trò rất quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm và BVMT nước LVS
Ngoài ra, Mỹ đã có các Luật kiểm soát lũ lụt, Luật nước sạch, Luật hình sự, Luật dân
sự… từ rất sớm Các luật này đã thể hiện rõ nhất các chính sách, pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm và BVMT nước LVS Trong đó, phải kể đến đó là đạo luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước năm 1960 hay được gọi là Luật nước sạch Hoa Kỳ sửa đổi vào năm
1972 với mục đích bảo vệ nước mặt và loại bỏ mọi chất gây ô nhiễm nước để bảo tồn chất lượng các nguồn nước mặt đáp ứng phát triển ngành cá, thủy hải sản, bảo tồn động vật hoang dã, đảm bảo mục tiêu giải trí trong và trên mặt nước của mọi người dân Ngân sách Liên bang Mỹ dành đủ cho việc xây dựng NMXLNT, kiểm soát ô nhiễm nước Giá trị lớn nhất mà Luật Nước sạch mang lại là hầu hết các sông, hồ của
Trang 2218
Mỹ, từ tình trạng ô nhiễm nặng đến nay các dòng sông đã đáp ứng CLN cho các tiêu
chí của con người Hiến pháp năm 1917 của Mexico quy định TNN thuộc sở hữu của quốc gia và được quản lý bởi chính phủ liên bang Năm 1926, Luật thủy lợi liên bang
của Mexico được công bố và định hình nhiều chính sách về quản lý TNN và kiểm soát
ô nhiễm nước trên LVS
b) Xây dựng và hoàn thiện các công cụ hỗ trợ, các chế tài đủ sức răn đe để bảo vệ TNN, BVMT nước LVS
Công cụ hỗ trợ, các chế tài là một trong 3 bộ phận của quản lý tổng hợp TNN và BVMT nước LVS Các công cụ hỗ trợ, các chế tài xử lý phải được gắn liền với các quy định của pháp luật để nâng cao tính hiệu quả, nghiêm minh của pháp luật, quá đó
sẽ thực hiện tốt hơn công tác quản lý TNN và BVMT Hiện nay, các nước trên thế giới
áp dụng các công cụ vào quản lý và bảo vệ TNN, BVMT như:
Công cụ kỹ thuật-quản lý là các công cụ được pháp luật quy định để thể hiện vai
trò kiểm soát và giám sát của nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm ĐTM, kỹ thuật xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải, các QCVN về môi trường… Hiện nay, công cụ ĐTM đã được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng từ rất sớm (Bảng 1-2) Công cụ ĐTM đã trở thành một công
cụ kỹ thuật quan trọng trong hệ thống pháp luật về BVMT, bảo vệ TNN của các quốc gia Ví dụ như các đạo luật của Hoa Kỳ liên quan đến môi trường cũng quy định chỉ thông qua dự án thủy điện sau khi có báo cáo ĐTM đầy đủ, thuyết phục Người dân được quyền lên tiếng phản đối nếu việc xây đập ảnh hưởng tới cuộc sống của họ [140] Bảng 1-2: Thời gian bắt đầu thực hiện ĐTM của một số quốc gia trên thế giới
Philippenes 1977 Tây Ba Nha 1986 New Zealand 1991
Nguồn: Tác giả tổng hợp, năm 2015
Công cụ tiêu chuẩn môi trường (Việt Nam là quy chuẩn môi trường) và hạn ngạch xả thải là công cụ kỹ thuật được đưa ra nhằm kiểm soát và quản lý tốt chất
lượng môi trường Công cụ này được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng, như: Hệ thống tiêu chuẩn môi trường của Nhật được quy định vào những năm 1970 với mục tiêu là chất lượng môi trường nước trên toàn nước Nhật phải đạt tiêu chuẩn và tiêu chuẩn nước đã tập trung vào 3 vấn đề chủ yếu: (i) Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước liên quan đến bảo vệ sức khỏe con người và BVMT sống; (ii) Tiêu chuẩn và quy
Trang 2319
định phát thải; (iii) Kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm bằng hạn ngạch xả thải [59] Ở
Mỹ, Luật nước sạch quy định tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước, được Liên bang phê chuẩn, quy định về giấy phép thực thi cấp Liên bang và của các công dân; các bang có quyền cấp phép và quyền thi hành tương đương EPA khi đã được EPA phê chuẩn… Giấy phép xả thải được phát hành bởi EPA hoặc chính quyền các bang 5 năm/lần với các mục chính như: Các hạn mức thải, tiêu chuẩn thải, các quy định giám sát, lưu giữ và chế độ báo cáo [142]
Công cụ kinh tế và chế tài xử lý hành chính: công cụ kinh tế nhằm điều chỉnh
hành vi của các nhà sản xuất, người tiêu dùng và tạo nguồn tài chính cho ngân sách để duy trì các hoạt động quản lý TNN và BVMT nước trên LVS Hiện nay các công cụ kinh tế được hầu hết các nước trên thế giới như: Nhật, Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Việt Nam… đang sử dụng Các công cụ kinh tế như: thuế môi trường; phí môi trường; quỹ môi trường, chi trả dịch vụ môi trường; giấy phép xả thải; cota chuyển nhượng, đặt cọc hoàn trả; bồi thường thiệt hại môi trường; bảo hiểm môi trường Ngoài ra, việc không tuân thủ các quy định về quản lý TNN, BVMT khiến cho ô nhiễm ở mức độ không nghiêm trọng có thể bị xử phạt hành chính Các mức phạt hành chính nặng, nhẹ phụ thuộc vào từng quốc gia như: Trung quốc có thể phạt đối với những vụ ô nhiễm tới 50% thu nhập doanh nghiệp trong năm trước Tương tự vậy, trong Luật nước sạch của Mỹ cũng thi hành các mức phạt khá nghiêm khắc, phạt người dân lên đến 37.500USD/ngày và phạt cơ quan hành chính tối
đa 177.500 USD [142] Ở Singapore ngoài xử phạt hành chính, hình sự ra còn áp dụng chế tài xử phạt dân sự như vệ sinh có thời hạn nơi công cộng và hình phạt này trở nên
rất hiệu quả (giai đoạn từ 1992 - 1997 đã có 1.715 trường hợp bị kết án và áp dụng
hình phạt này, trong đó chỉ có 16 trường hợp tái phạm, chiếm chưa đến 1%)
Chế tài xử phạt hình sự: Chế tài xử phạt hình sự là chế tài nghiêm khắc nhất và
cuối cùng cho tội gây ô nhiễm nước nghiêm trọng Tùy vào quan điểm về nhân đạo và mức độ thiệt hại các quốc gia có những quy định hình phạt khác nhau đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội, như: Điều 15 Luật Kiểm soát ô nhiễm nước và thoát nước (Water
Pollution Control and Drainage Act-WPCDA) của Singapore quy định: “Bất kể người
nào thải hoặc gây ra hoặc cho phép thải bất kì chất độc hại nào vào trong nguồn nước nội địa với khả năng làm phát sinh một mối nguy hại về môi trường là phạm tội và phải chịu trách nhiệm bị kết án.” Đặc biệt, pháp luật hình sự của Singapore về môi
trường tương đối tiến bộ và vấn đề chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự có quy định
cả pháp nhân khi vi phạm Đơn cử như quy định tại Phần 67 Luật về Quản lý ô nhiễm
nước và thoát nước quy định: “Trong trường hợp một công ty có tội theo quy định của
Luật này và tội phạm đó được chứng minh là được thực hiện với sự đồng ý hoặc thông đồng hoặc do lỗi bất cẩn của bất kì ai, giám đốc, quản lý, thư kí hoặc bất kì cán bộ tương tự nào của công ty, hoặc bất kì ai được cho là thực hiện hành vi với thẩm quyền của mình, anh ta cũng như công ty có tội đối với tội phạm đó và phải chịu trách nhiệm
bị truy cứu và trừng phạt tương ứng” [141] Ở Mỹ án phạt hình sự 01 năm tù cho vi
Trang 2420
phạm không cố ý, phạt 03 năm tù do vi phạm cố ý và kèm theo là phạt tiền lên đến 75.000USD/ngày [142] Bộ Luật hình sự của Đức [17] có quy định chi tiết về tội liên quan đến môi trường như Tội gây ô nhiễm nước, đất, không khí, tiếng ồn, độ rung, phóng xạ, chất thải nguy hại… đều rất nghiêm khắc Hiện nay có trên 120 quốc gia đã quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân và Việt Nam đang định hình khung hình phạt vào Bộ Luật Hình sự năm 2015 với án phạt nặng nhất đến 10 năm tù và 7 tỷ đồng cho tội gây ô nhiễm môi trường
c) Thiết lập mô hình tổ chức LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để thực thi hiệu quả các nhiệm vụ được giao
Mô hình tổ chức LVS: Các mô hình tổ chức LVS trên thế giới có thể quy thành
ba loại phổ biến như: Cơ quan thuỷ vụ LVS, Ủy hội LVS và Hội đồng LVS Mỗi loại
có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia vào quản lý nước khác nhau Ba loại mô hình trên thực chất chỉ là những cái tên gọi khác nhau đối với tổ chức LVS, điều quan trọng là chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý mới quyết định
sự thành công Cụ thể 3 mô hình trên thế giới như:
Cơ quan thuỷ vụ LVS: Đây là hình thức tổ chức LVS có đầy đủ quyền hạn và
phạm vi quản lý lớn nhất Thí dụ như là Cơ quan thuỷ vụ thung lũng Tennessce ở Mỹ
và Cơ quan thuỷ vụ Núi tuyết ở Úc, Đây là những tổ chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan QLNN, Ủy hội, Hội đồng và Ủy ban LVS Trong đó bao gồm tất cả chức năng điều hành và quản lý nước (giấy phép, thanh tra, kiểm tra, xử phạt…) Hình thức này áp dụng đối với các lưu vực có nhiệm vụ phát triển trọng tâm và các mục tiêu lớn
Uỷ hội LVS: Là mô hình thấp hơn cơ quan thuỷ vụ LVS về quyền hạn cũng như
sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trong quản lý LVS Một Uỷ hội LVS thường bao gồm một hội đồng quản lý sẽ đại diện cho tất cả các bên quan tâm và có một văn phòng chuyên sâu hỗ trợ về kỹ thuật Uỷ hội LVS liên quan chủ yếu đến tham mưu để xây dựng chính sách, lập quy hoạch phát triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước Ủy hội có thể điều chỉnh các vấn đề sử dụng nước liên quan đến nhiều tỉnh thông qua các chính sách liên quan đến nước của LVS, xây dựng các cơ
sở dữ liệu, thông tin và mô hình phù hợp về các vấn đề quản lý trên quy mô toàn lưu vực Một số Uỷ hội có cả chức năng vận hành (có thể cả đầu tư) đối với những công trình lớn, còn hầu hết việc vận hành và quản lý hàng ngày đối với các công trình, hệ thống cung cấp dịch vụ nước là công việc của các tỉnh nằm trong lưu vực Một Uỷ hội như vậy có thể giám sát việc thực hiện các chiến lược, vận hành và quản lý các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện chủ chốt Tuy nhiên, trong thực tế Uỷ hội thường uỷ quyền làm việc cho các tổ chức khác thông qua các thoả thuận hay hợp đồng vận hành Ví dụ như là Uỷ hội sông Maray - Darling của Úc, Uỷ hội sông Mê Kông, Ở Việt Nam hiện nay được tổ chức thành Ban quản lý công trình thủy lợi thuộc Bộ NN&PTNT và Ủy ban BVMT LVS thuộc Bộ TN&MT Thực chất hai mô hình này các nước đã ghép lại
Trang 2521
để thành là Ủy hội quản lý hoặc Ủy ban quốc gia LVS
Hội đồng LVS: Đây là mô hình yếu và có ít quyền lực nhất hiện nay Hội đồng
LVS hoạt động chỉ như một diễn đàn mà tại đó chính quyền các địa phương, cũng như đại diện các hộ dùng nước chia sẻ trách nhiệm phân phối nước, thúc đẩy toàn diện quản lý nước tại lưu vực Các Hội đồng LVS thường hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận Nói chung, hình thức này có vai trò giới hạn trong quy hoạch dài hạn, điều phối các vấn đề chính sách và chiến lược cấp cao, không có vai trò vận hành hoặc quản lý hành chính Thí dụ về hình thức này như Hội đồng LVS Lerma – Chapala được thành lập năm 1993 của Mexico,… Ở Việt Nam thì Ủy ban BVMT LVS Nhuệ - sông Đáy, các Ủy ban BVMT khác và Hội đồng LVS Srêpôk có chức năng, nhiệm vụ giống với Hội đồng LVS, chỉ có chức năng thúc đẩy, họp định kỳ
Phương thức quản lý LVS: Hiện nay trên thế giới có 3 phương thức quản lý
LVS đang được áp dụng [66] Tùy thuộc vào từng quốc gia mà có phương thức khác nhau để quản lý LVS Phương thức quản lý LVS ở Nhật, Pháp, Mỹ, Úc, châu Âu, Thái Lan, Trung quốc … đều khác nhau và có những đặc trưng riêng, như:
Phương thức quản lý theo thuỷ văn: Phương thức quản lý này dựa trên tiêu chí
ranh giới thuỷ văn và có quy hoạch LVS Việc quản lý nước được giao cho Tổ chức
quản lý LVS quản lý, có phạm vi hoạt động cắt ngang các địa giới hành chính và chỉ
chịu trách nhiệm tất cả các mặt về TNN Tổ chức quản lý LVS tại Pháp quản lý theo phương thức thuỷ văn, tuy nhiên họ chỉ có kế hoạch và tài chính, không có quyền quy định, sở hữu hoạt động cơ sở hạ tầng Các cơ quan QLNN về LVS bị giới hạn quyền
và chỉ có nhiệm vụ phối hợp, không có sự can thiệp sâu vào nhiệm vụ quản lý LVS của các tổ chức quản lý LVS này Luật LEMA của Pháp đã tạo hành lang pháp lý để lập ra các cơ quan nước và Ủy ban LVS LEMA đã tạo cơ hội cho tất cả các bên tham gia vào quản lý và sử dụng nước được phối hợp hành động, trong mối quan tâm của tất
cả các bên Chính sách về nước và LVS được xác định bởi Nhà nước trong mối quan
hệ với cộng đồng địa phương, người sử dụng cho mục đích công nghiệp, những ngành phát triển quy mô lớn, ngư dân, người nuôi trồng thủy sản, các hiệp hội bảo vệ tự nhiên ở tất cả các cấp với quan điểm là tổ chức quản lý tài nguyên mang tính tổng thể
nhằm đáp ứng cao nhất các nhu cầu trong khi vẫn tôn trọng HST thủy sinh [120] Ở
cấp quốc gia, Ủy ban nước quốc gia do một thành viên của nghị viện chủ trì bao gồm
các đại diện của Quốc hội và Nghị viện cùng sự tham gia của các cơ quan trong Liên bang Ủy ban được các bên tham vấn về các chính sách quốc gia về nước, LVS và về
dự thảo văn bản pháp lý [120] Ở cấp lưu vực của 6 LVS, Ủy ban LVS do một quan
chức địa phương được bầu chủ trì giữ một vai trò quan trọng liên quan đến các hoạt động định hướng và khích lệ Ủy ban xây dựng và thông qua kế hoạch tổng thể việc phát triển và quản lý nguồn nước cho mỗi LVS hoặc nhóm các LVS, xác định các phương hướng cơ bản trong quản lý nguồn nước, cân bằng, đảm bảo chất lượng và khối lượng Được các bên tham vấn về giá, cơ sở của thu tiền thuế nước và nước thải
[120] Ở cấp chi nhánh và phụ lưu, một Ủy ban nước địa phương chuẩn bị và thực
Trang 2622
hiện Kế hoạch quản lý và phát triển nước Cơ quan Nhà nước ủy quyền và kiểm soát việc quản lý, thu phí đối với người sử dụng nước và thải nước,… [120] Sông Seine-Normandy của Pháp thông qua phương thức quản lý này thực hiện các biện pháp quản
lý, kiểm soát lượng nước thải xả vào sông, xây dựng nhà máy XLNT… [139] LVS Loire của Pháp với diện tích lưu vực 155.000 km2 và 11,5 triệu dân cũng đạt được nhiều thành công, từng bước khắc phục ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ngày càng trở nên nghiêm trọng do các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt và khai thác 4 bậc thang thủy điện ở vùng trung và hạ lưu sông Loire [127] Tuy nhiên, vấn đề trên đã từng bước được giải quyết nhờ sự phối hợp chặt chẽ ở tất cả các cấp từ địa phương, cấp vùng, cấp lưu vực, cấp quốc gia trong quản lý, BVMT nước LVS [128, tr 131-137]
Phương thức quản lý theo hành chính: Là phương thức quản lý có nhiều mặt đối
lập với phương thức quản lý theo thuỷ văn và được các nước phát triển áp dụng Ở đây quản lý LVS là một phần của quản lý môi trường và quản lý theo địa giới hành chính Phương thức quản lý này được thực hiện bởi chính phủ, các tỉnh và các cơ quan khác không dựa trên ranh giới thuỷ văn, không có quy hoạch LVS Hệ thống quản lý của Đức và hệ thống quản lý sông Meuse của Pháp giống mô hình quản lý hành chính, có
cơ chế điều phối trên quy mô lưu vực
Phương thức quản lý phối hợp (thuỷ văn và hành chính): Là sự điều phối đan xen
giữa thuỷ văn và hành chính Phương thức quản lý này không tổ chức thành các Tổ
chức quản lý LVS độc lập (tức là cơ quan QLNN có rất ít quyền hạn để can thiệp vào
tổ chức này) mà có các Uỷ ban LVS phối hợp với các cơ quan QLNN để đạt được
nhiệm vụ và mục tiêu quản lý trên LVS Sự điều phối và phối hợp của phương thức quản lý này thường vạch ra chiến lược quy hoạch LVS Trong chiến lược này, các quy hoạch, kế hoạch để thực hiện các mục tiêu như việc giảm lượng phát thải chất X đến phần trăm Y sau năm Z bằng các biện pháp kinh tế, hành chính, khoa học, kỹ thuật và pháp luật Hiên nay, phương thức quản lý phối hợp được rất nhiều nước trên thế giới
dùng như: Mexico ban hành Luật TNN năm 1992 (NWL) đã cung cấp một nền tảng
pháp lý để tạo ra các hội đồng LVS nhằm thúc đẩy theo hướng hiện đại và hiệu quả
hơn trong ngành nước Vai trò của Hội đồng LVS theo NWL là để phối hợp với các tổ
chức chính phủ, thương lượng với người sử dụng, các tổ chức xã hội để xây dựng các mục tiêu và thực hiện các chương trình, hành động nhằm cải thiện quản lý nước [147]
Ví như Hội đồng LVS Lerma-Chapala [123] thành lập năm 1993 (Hình 1-3) là diễn đàn để chính quyền và đại diện các hộ sử dụng nước chia sẻ trách nhiệm phân phối TNN, thúc đẩy quản lý toàn diện TNN cấp LVS và hoạt động rất có hiệu quả trong thời gian qua Hội đồng hoạt động dựa trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận [146] Việc quản lý nước của Australia đã trở thành những vấn đề cấp bách nhất Mọi
chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp TNN đều được thể hiện tại Đạo luật TNN
năm 2010 quy định khá chi tiết về khung pháp lý cho việc lập kế hoạch lưu vực, quản
lý môi trường lưu vực, quy định thủ tục, tài chính và sửa đổi Hiệp định LVS
Trang 27Murray-23
Darling, quy định chức năng của Hội đồng bộ trưởng LVS Murray-Darling (Hình 1-4),Hội đồng tư vấn, Ủy ban Quốc gia nước và các cơ quan khác có liên quan Cơ cấu này tạo nên một diễn đàn để hoạch định chính sách và chiến lược trong việc chia sẻ nguồn nước và quản lý những vấn đề nghiêm trọng về môi trường trong lưu vực [115, 116, 122] Uỷ ban lưu vực Murray-Darling và các bang có sông Murray-Darling được thành lập và đã thông qua một chính sách về hạn mức (Cap-hạn mức) xả thải, nó chính là cơ
sở để thiết kế một số chính sách quản lý LVS [150]
Nguồn: [114, tr 233]
Hình 1-3: Sơ đồ tổ chức hội đồng lưu vực sông Lerma-Chapala
Ở Mỹ đã có Ủy hội thung lũng sông Tennessee (The Tennessee Valley Authorrity) được biết đến nhiều nhất về phát triển, quản lý vùng LVS một cách toàn diện và bền vững [127]
Nguồn: [114, tr 231]
Hình 1-4: Sơ đồ tổ chức quản lý cấp lưu vực Murray-Darling Trên cơ sở các đạo luật về nước và môi trường, Nhật Bản cũng hình thành các
Trang 2824
Ủy ban bảo vệ LVS ở mức độ khác nhau (Mức độ lưu vực, mức độ tiểu lưu vực để
quản lý, nghiên cứu và lắng nghe ý kiến từ những người có kiến thức và kinh nghiệm cho sự phát triển và bảo vệ lưu vực) để quản lý theo phương thức này Những thành
tựu đạt được đối với BVMT nước của 5 LVS chảy qua vùng Greater Tokyo của Nhật
để cho các nước như Việt Nam đáng phải học hỏi Thông qua việc tiến hành một loạt chương trình nghiên cứu nhằm BVMT nước, khai thác hiệu quả nguồn nước sông, giám sát HST nước và quản lý các rủi ro Nhật Bản đã khắc phục tình trạng ô nhiễm, phục hồi HST vốn rất phong phú và đa dạng của vùng này [133] Hiện nay, Trung Quốc cũng có 7 Uỷ ban cho các LVS liên tỉnh do Chính phủ thành lập và trực thuộc
Bộ Thủy lợi [125, tr 268-290] và quản lý theo phương thức phối hợp Ví dụ, Ủy ban bảo tồn sông Hoàng Hà có chức năng như một bộ nhỏ với phạm vi hoạt động, quyền lực rất rộng, một bộ máy đồ sộ (29.000 người), Ủy ban Quản lý sông Hoàng Hà vừa là một cơ quan xây dựng và triển khai các chính sách, chiến lược, lại vừa là một cơ quan
trực tiếp thực hiện các dự án đầu tư [66] Các nước EU đã thành lập Ủy Ban quản lý
LVS Danube gồm 10 nước: Áo, Bulgaria, Croatia, Đức, Hung-ga-ry, Moldova,
Slovakia, Serbia, Ru-ma-ni và Ukraina [137, 138] Ủy ban này đã có kế hoạch nâng cao năng lực của các tổ chức, cá nhân, phát triển sinh kế một cách bền vững cho người dân trong LVS để họ không phá hủy rừng, HST và duy trì canh tác nông nghiệp hữu
cơ, thân thiện với môi trường [78, tr 56-63]
Tóm lại, Các chiến lược khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN đã được tuyên bố
trong Kế hoạch hành động Mar del Plata (1977), Tuyên bố New Delhi (1990), Hội nghị thượng định về nước năm 1992 tại Rio, Công ước 1997 của Liên hợp quốc về sử dụng nguồn nước quốc tế… trên cơ sở đó, mỗi khu vực có những hiệp định để quản lý các LVS liên quốc gia và mỗi một quốc gia đều có các chính sách, pháp luật về BVMT nước LVS hiệu quả và tương đối phát triển Các nước đã có các nghiên cứu, đưa ra các quy định và chế tài xử phạt cũng rất đa dạng, nghiêm khắc Như Pháp coi nước là di sản quốc gia, có luật về môi trường nước và thủy sản, có Ủy ban nước các cấp; Ở Mỹ
có đạo luật nước sạch năm 1972, có các ủy hội sông và việc xử phạt rất nghiêm khắc trong đó phạt hình sự và hành chính với cá nhân là 37.000 USD/ngày, tổ chức 177.000 USD/ngày…Hiện nay có 3 mô hình quản lý LVS là Cơ quan thủy vụ, Ủy hội (tuy từng quốc gia có thể là Ủy ban quốc gia LVS) hoặc Hội đồng LVS 3 mô hình này quản lý
theo 3 phương thức (quản lý theo thuỷ văn; quản lý theo hành chính; quản lý phối
hợp) khác nhau và tùy thuộc vào từng nước
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
a) Tình hình nghiên cứu về lưu vực sông ở Việt Nam
Nghiên cứu về sử dụng hợp lý TNN và PTBV TNN trên LVS: TNN bao gồm
nước mặt, nước ngầm và cả nước mưa được sử dụng cho mọi nhu cầu sinh hoạt, cho phát triển năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ và rất nhiều lĩnh vực khác Quản lý TNN, yếu tố then chốt đầu tiên trong quản lý môi trường nước lưu vực
Trang 2925
Trong những năm qua, các nghiên cứu ở Việt nam về tài nguyên môi trường nước
thường có hướng tiếp cận theo lưu vực Nguyễn Quang Trung (2008-2010) đã Nghiên
cứu đánh giá tác động của các công trình trên dòng chính và giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả TNN mặt LVS Hương Trên cơ sở đánh giá được tác động các công trình
đến môi trường vật lý như xói lở, bồi lắng trên dòng chính sông Hương, đề xuất được các giải pháp công trình và phi công trình để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn TNN mặt cho các ngành kinh tế và phòng tránh suy thoái nguồn nước và các HST then chốt trên LVS Hương Đề tài đã thiết lập cơ sở khoa học để xây dựng quy trình điều tiết liên hồ chứa về mùa kiệt những năm hạn hán bảo đảm sự hợp lý, hạn chế rủi ro và
hài hoà lợi ích cho người dân [108] Đào Xuân Học (2005-2006) [34], cũng đã Nghiên
cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến TN&MT nước phục vụ PTBV LVS Vàm Cỏ
Tô Trung Nghĩa (2002-2004) [60], Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển bền
vững LVS Vu Gia - Thu Bồn Đề tài đã phân tích thực trạng quản lý, bảo vệ và PTBV
tài nguyên và môi trường LVS Vu Gia-Thu Bồn Giới thiệu nội dung chính của chiến lược quản lý bền vững TN&MT LVS Vu Gia-Thu Bồn: nghiên cứu, phát triển tài nguyên môi trường đất, nước, rừng; nghiên cứu, đánh giá các vấn đề KT-XH, môi trường sinh thái, cơ chế chính sách quản lý và đề xuất các biện pháp bảo vệ TN&MT
trong lưu vực Đào Xuân Học (2002-2003) [33]: Nghiên cứu xây dựng chiến lược quản
lý phát triển bền vững LVS Đồng Nai Đã nghiên cứu, đánh giá hiện trạng KT-XH, môi
trường và từ đó đề xuất các giải pháp định canh, định cư, giữ gìn và phát triển vốn rừng; định hướng PTBV về cung cấp nước; đề xuất quy hoạch liên tỉnh, liên vùng về phát triển KT-XH với chiến lược phát triển bền vững LVS Đồng Nai
Nghiên cứu áp dụng các mô hình TANK, NAM, MITSIM và MIKE BASIN:
Có rất nhiều nghiên cứu sử dụng các mô hình thủy lực trên, trong đó nghiên cứu của
Tô Trung Nghĩa (2006) [61] đã Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công nghệ để
PTBV LVS Hồng đã nghiên cứu, điều tra hiện trạng tài nguyên, môi trường LVS Hồng,
áp dụng các mô hình TANK, mô hình NAM, mô hình MITSIM, mô hình MIKE BASIN để tính toán cấn bằng nước, tính toán khả năng chịu tải, tự làm sạch của LVS Hồng, đồng thời thiết lập, mô phỏng, phân tích đánh giá các kịch bản và các phương
án công trình cho việc tối ưu hiệu quả kinh tế trên LVS Hồng Nguyễn Văn Hạnh và nhiều người khác (2010) [31]: Trình bày kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước
và xâm nhập mặn, xác định và đề xuất giải pháp duy trì dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình phù hợp với yêu cầu PTBV TNN Tô Trung Nghĩa
(2008) [62] đã tính toán cân bằng nước, khả năng chịu tải của LVS Hồng, thiết lập cơ
sở khoa học cho xây dựng các phương án công trình phục vụ việc khai thác TNN và
tối ưu hiệu quả kinh tế trên LVS Hồng
Nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm trên lưu vực: Chất lượng nước của các thủy
vực chịu tác động của các yếu tố tự nhiên như địa chất, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật vv Nhưng yếu tố quan trọng gây ra các vấn đề về CLN chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực Để BVMT nước sông, Nguyễn Minh
Trang 3026
Lâm (2013) [52] trong nghiên cứu khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh
Long An, khi xem xét toàn diện các yếu tố phát triển và yếu tố hạn chế của môi trường
đã đề xuất được các biện pháp quản lý chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông - đoạn
chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An bao gồm các giải pháp công nghệ và phi công
trình, cơ chế quản lý sông Vàm Cỏ Đông Lê Huy Bá và công tác viên (2013) [3], ở
một phạm vi rộng lớn hơn, đã nghiên cứu đánh giá hiện trạng ô nhiễm, đánh giá khả
năng chịu tải của hệ sinh thải LVS Vàm Cỏ để phục vụ cho quy hoạch các cụm công
nghiệp (CCN), rửa phèn, ngăn mặn, phục vụ quy hoạch nông lâm thủy sản và phát triển khu dân cư đến năm 2025 và đề xuất các giải pháp bảo vệ HST môi trường LVS Vàm Cỏ Đề tài nghiên cứu ngành TN&MT giai đoạn từ năm 2002-2006 [102] của
Tổng Cục môi trường (TCMT) “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất các
giải pháp BVMT theo LVS” Trong đề tài này, nhóm tác giả đi sâu vào đánh giá hiện
trạng môi trường và dự báo xu hướng ô nhiễm tại các LVS ở Việt Nam; đánh giá công tác BVMT tại các LVS và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường LVS
Các nghiên cứu dựa trên tiếp cận tổng hợp trong quản lý TNN trong LVS:
Nguyễn Văn Cư (2001-2005) [13]: Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài
nguyên và BVMT LVS Ba và sông Côn Đã đánh giá hiện trạng, đưa ra các nguyên
nhân, dự báo suy thoái các nguồn nước TNTN và môi trường LVS Ba và sông Côn để
đề xuất các giải pháp tổng thể, sử dụng công nghệ viễn thám, công nghệ GIS để quản
lý, sử dụng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, BVMT LVS Ba và sông Côn Đại học Thủy Lợi (2004) [21], sau khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc khai thác sử dụng, cũng như công tác quản lý và quy hoạch TNN trên LVS Ba, đã đề
xuất việc chuyển đổi hình thức quản lý TNN từ truyền thống sang quản lý tổng hợp
Đỗ Tiến Lanh và nnk (2010) [50]: Đã nghiên cứu, đề xuất Quản lý tổng hợp lưu vực
và sử dụng hợp lý TNN hệ thống sông Đồng Nai Đề tài đã trình bày các kịch bản về
quản lý khai thác TNN; cơ chế chia sẻ nguồn nước, giải quyết xung đột về sử dụng, vận hành hồ chứa Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm sử dụng hợp lý và kiểm soát ô nhiễm hệ thống sông Đồng Nai Bên cạnh đó, Bùi Tá Long (2009-2010) [53]: Nghiên cứu xây dựng phần mềm quản lý tổng hợp số liệu quan trắc LCN mặt lưu vực hệ thống
sông Đồng Nai dựa trên công nghệ Web GIS (WINS) đã đề xuất phần mềm quản lý
tổng hợp số liệu quan trắc CLN LVS Đồng Nai được lấy tên là WINS Mô hình hoạt động của WINS gồm các cơ quan quản lý hệ thống, cộng đồng ( người dân, nhà quản
lý, nhà khoa học, ) có thể tương tác với hệ thống WINS sử dụng công nghệ WebGis, các nguồn thông tin trong WINS được thu thập từ các cơ quan, tổ chức khác nhau, đồng thời có sự liên kết và trao đổi với nhau, tạo cơ sở khoa học vững chắc để
hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của hệ thống quản lý Viện Khoa học Thủy lợi (2010-2011) [115]: Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp quản lý PTBV tài nguyên nước
LVS, ứng dụng cho LVS Mã đã đưa ra giải pháp quản lý LVS thông qua việc xây dựng
khung hỗ trợ ra quyết định dưới dạng phần mềm DSF (Decision Support Franme)
Nghiên cứu về pháp luật BVMT: Vũ Thị Duyên Thuỷ (2009) [95]: đã nghiên
Trang 3127
cứu “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam” chỉ đề
cập đến những quy định chung, mang tính khung để hình thành nên hệ thống quản lý
về chất thải mà không đề cập đến yếu tố về LVS và yếu tố địa phương Cù Huy Đấu
(2005) [22]: đã nghiên cứu “Quản lý chất thải và quy hoạch môi trường bệnh viện ở
Việt Nam (lấy bệnh viện Bạch Mai Tp Hà Nội làm ví dụ)” Nghiên cứu đã phân tích,
đánh giá tổng hợp thực trạng quản lý chất thải và quy hoạch, đúc kết những kinh nghiệm về quản lý chất thải và quy hoạch môi trường bệnh viện ở trong và ngoài nước Hoàn thiện phương pháp luận về quản lý chất thải và quy hoạch môi trường bệnh viện Lồng ghép quy hoạch môi trường với quy hoạch xây dựng, quản lý chất thải y tế và hệ
thống cơ chế chính sách Mai Thế Toản (2009) [97]: đã “Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và
thực tiễn nhằm xây dựng bản hướng dẫn chi tiết đánh giá tác động môi trường cho ngành khai thác mỏ lộ thiên” Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng về BVMT tại một số
mỏ khai thác lộ thiên Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện nội dung báo cáo ĐTM chuyên ngành đối với dự án khai thác lộ thiên để nâng cao công tác BVMT trong quá trình khai thác khoáng sản lộ thiên Đưa ra hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM khai thác khoáng sản mỏ lộ thiên Lê Sơn Hải (2006) [32]: đã nghiên
cứu “Những vấn đề pháp lý của việc đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu
tư” Nêu và phân tích những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện các qui định pháp luật
về ĐTM của các dự án đầu tư Giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ĐTM và
cơ chế thực hiện pháp luật về ĐTM của các dự án đầu tư
Các nghiên cứu pháp lý về TPMT: Đinh Tiến Quân (2013) [65]: đã nghiên cứu
về “Hoạt động phòng ngừa tội phạm về môi trường theo chức năng của lực lượng
Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường trong tiến trình CNH-HĐH đất nước”
Đã nghiên cứu lý luận về TPMT cũng như công tác phòng ngừa loại tội phạm này của lực lượng Cảnh sát phòng chống TPMT Khảo sát, nghiên cứu, phân tích tình hình tội phạm về môi trường ở Việt Nam và thực trạng hoạt động Phan Tiến Dũng (2012)
[24]: đã nghiên cứu về “Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát phòng,
chống tội phạm về môi trường” Đã tổng quan những vấn đề nghiên cứu và lý luận,
thực trạng công tác điều tra cơ bản và giải pháp nâng cao hiệu quả về công tác điều tra
cơ bản của lực lượng cảnh sát phòng chống TPMT
Các nghiên cứu về mô hình tổ chức quản lý LVS: Nguyễn Hải Hà An (2010)
[1]: đã nghiên cứu Quy chế pháp lý về Ủy ban BVMT nước theo các LVS Các vấn
đề pháp lý và cơ sở lý luận của việc quản lý TNN theo LVS dựa trên cơ sở so sánh, đánh giá giữa các mô hình quản lý theo LVS trên thế giới cũng như ở Việt Nam Từ
đó đề xuất các giải pháp, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xây dựng quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các Ủy
ban LVS Lã Thanh Hà (2001-2006) [29]: Nghiên cứu giải pháp khai thác sử dụng
hợp lý tài nguyên, BVMT và phòng tránh thiên tai LVS Lô – sông Chảy đã đề xuất mô
hình quản lý tổng hợp TN&MT LVS Lô-sông Chảy như một cơ quan độc lập, không trực thuộc bộ hay tỉnh nào, nhưng chịu sự hướng dẫn chuyên ngành của các bộ liên
Trang 3228
quan và tư vấn về mặt TNN cho Hội đồng TNN quốc gia Chủ tịch BQL LVS Lô-sông Chảy là luân phiên Chủ tịch UBND 8 tỉnh do Hội đồng bầu Nguyễn Quang Trung
(2001-2005) [114, tr 2-4]: Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng hợp TN&MT
LVS Đà, đã tiến hành các nghiên cứu cơ bản về các nguồn TN&MT trên LVS Đà,
phân tích đánh giá hiện trạng và dự báo diễn biến các thành phần TN&MT dưới tác động của các phương án phát triển KT-XH Tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn để xây dựng phương pháp luận về quản lý tổng hợp LVS, phân tích đánh giá các mô hình được áp dụng trong nước và một số mô hình của nước ngoài để đề xuất mô hình quản
lý thích hợp đối với các tiểu lưu vực và LVS Đà (Hình 1-5)
Nguồn: [114, tr 231]
Hình 1-5: Cấu trúc tổng thể tổ chức LVS Đà trên cơ sở ban quản lý quy hoạch LVS
Hồng – sông Thái Bình Trên cơ sở nghiên cứu Đề tài đã đề xuất mô hình quản lý LVS Đà thông qua tổ
chức LVS Đà (Hình 1-5) bao gồm: Hội đồng phối hợp gồm các đại diện của tỉnh, các
cơ quan trung ương, các hộ dùng nước và cộng đồng dân cư Ban kỹ thuật nhằm trợ
về mặt hành chính, kỹ thuật và thông tin – tư liệu
Tóm lại, nghiên cứu BVMT nước LVS tại Việt Nam trong những năm qua đã
được chú trọng và đẩy mạnh Cách tiếp cận nghiên cứu và nội dung nghiên cứu về LVS ở Việt Nam có thể nói là tương đối giống nhau Nghiên cứu, quản lý môi trường nước LVS cho đến nay thường chỉ chú trọng đến nghiên cứu cách thức BVMT nước bằng việc bảo vệ số lượng nước trên LVS Các nghiên cứu trên đều dựa trên cơ sở khoa học về môi trường như: đánh giá khả năng chịu tải, khả năng tự làm sạch, xác định thiệt hại sinh thái và đề xuất một số công trình, dự án để pha loãng, tăng lưu lượng dòng chảy, tăng khả năng chịu tải và tự làm sạch của hệ thống sông Một số nghiên cứu đã đề xuất tổ chức LVS Các giải pháp trong các nghiên cứu này thiên về mặt kỹ thuật Các nghiên cứu về pháp luật và hoàn thiện pháp luật BVMT nước LVS còn ít, mới chỉ tập trung vào nghiên cứu những phần nhỏ trong hệ thống pháp luật BVMT nói chung như ĐTM, quản lý chất thải nguy hại, chất thải bệnh viện, phòng
Trang 3329
ngừa TPMT mà chưa có các nghiên cứu về hệ thống pháp luật BVMT nước LVS nhằm kiểm soát các hành vi gây ô nhiễm nước trên LVS một cách toàn diện
b) Tình hình nghiên cứu về lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ (NC&KH) cấp Nhà nước, cấp bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ TNN, BVMT nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy như:
Trong công trình của Nguyễn Vũ Thanh (2003) [84, tr 234-237], đánh giá đa
dạng sinh học tuyến trùng sống tự do ở các thủy vực Hồ Tây, sông Tô Lịch và sông Nhuệ đã sử dụng các chỉ số đa dạng sinh học H’ và chỉ số đa dạng loài λ tính toán
được trên cơ sở số liệu điều tra khảo sát về quần xã tuyến trùng (giun tròn) trên sông Nhuệ và sông Đáy Qua phân tích nghiên cứu sự biến đổi các chỉ số đa dạng sinh học, các tác giả xác định được mức độ ô nhiễm môi trường khu vực nghiên cứu Đây là nghiên cứu thuần túy khoa học môi trường và được sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học
Công trình của Nguyễn Kiên Sơn (2005): Đánh giá môi trường nước bằng chỉ số
tổ hợp sinh học (IBI) và chỉ số đa dạng sinh học dựa vào thành phần loài cá thu được
ở sông Nhuệ và sông Tô Lịch Công trình nghiên cứu đã dùng các chỉ số tổ hợp sinh
học (IBI) và các chỉ số đa dạng sinh học α và H’ tính từ số liệu về thành phần loài cá tại các thời điểm và địa điểm khác nhau để đánh giá mức độ ô nhiễm nước sông Nhuệ
và sông Tô Lịch Giá trị các chỉ số nêu trên tương ứng với mức độ ô nhiễm của từng đoạn sông [79]
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hợp tác khoa học với Cơ quan nghiên
cứu khoa học Pháp và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2005): Nghiên cứu và triển
khai dự án quan trắc và khảo sát môi trường nước LVS Đáy Dự án có được cơ sở
dữ liệu, thực hiện mô hình hoá chuyển tải các chất dinh dưỡng trong môi trường nước sông Đáy thông qua việc nghiên cứu chất lượng nước hệ thống sông Đáy, lấy trọng điểm là nghiên cứu mức độ ô nhiễm dinh dưỡng Ứng dụng mô hình toán học
mô phỏng CLN sông Đáy Các kết quả thu được góp phần vào việc đánh giá chất lượng môi trường nước hệ thống sông Đáy – sông Nhuệ và làm cơ sở dữ liệu cho việc xử lý nguồn ô nhiễm, bảo vệ và quản lý nguồn nước có hiệu quả ở Việt Nam [113] Công trình nghiên cứu hầu như rất ít đề cập đến pháp luật mà công trình nghiên cứu này tạo cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo liên quan đến công tác quản lý nguồn nước trên LVS Đáy và các LVS khác
Nguyễn Thị Việt Nga trong Luận văn thạc sĩ (2012) [57]: Nghiên cứu về tính
đa dạng thực vật đất ngập nước của sông Nhuệ - Đáy (phần chảy qua tỉnh Hà Nam) và khả năng sử dụng chúng để xử lý ô nhiễm môi trường Luận văn đã đánh
giá hiện trạng ĐDSH của thực vật đất ngập nước LVS Nhuệ, sông Đáy (phần chảy
Trang 3430
qua tỉnh Hà Nam) và giá trị sử dụng của chúng Tìm hiểu khả năng sử dụng một số loài thực vật đất ngập nước trong việc xử lý ô nhiễm môi trường nước Định hướng một số mô hình cho việc xử lý ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ, sông Đáy Nguyễn Hữu Huế, Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi Trong tuyển
tập Hội nghị Khoa học thường niên (2013) đã công bố đề tài nghiên cứu giải pháp
công trình lấy nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ và sông Tô Lịch Do tình
trạng khan hiếm nước vào mùa khô diễn ra ở tất cả các hệ thống sông trên địa bàn
Tp Hà Nội, nhất là LVS Đáy và sông Nhuệ Nên đề tài đã đưa ra cơ sở, luận chứng
về đề xuất và lựa chọn phương án tuyến công trình dẫn nước tự chảy theo 2 phương
án: Phương án 1 là tuyến công trình dựa trên nền tảng kế thừa, sử dụng phát huy
các tuyến công trình thủy lợi, hệ thống thủy nông đã có sẵn nhằm giảm được chi phí đầu tư, công tác quản lý vận hành, giúp tiết kiệm tối đa nhân vật lực, tiền của
và đặc biệt thuận lợi trong công tác giải phóng mặt bằng Phương án 2 là trục phát
triển kinh tế Tây Thăng Long – Hà Nội [39]
Đặc biệt là chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm cấp nhà nước thực
hiện đề tài Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khơi thông dòng chảy, tăng khả năng
chịu tải và tự làm sạch các sông để BVMT sông Nhuệ, sông Đáy do Trần Đình Hợi
(năm 2010, mã số đề tài KC.08.12/06-10) Đề tài đã đánh giá về nguồn nước, hiện trạng, diễn biến, tác động của môi trường nước, các công trình tiêu thoát nước, lòng dẫn trên LVS; tính toán, xác định các nguồn gây ô nhiễm trên toàn lưu vực; khả năng làm sạch và ngưỡng chịu tải; thiết lập, tính toán mô hình thủy lực, CLN và truyền chất; đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường nước LVS Nhuệ - sông Đáy, kịch bản phát triển chiến lược của vùng Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý quy hoạch môi trường kết nối hệ thống thông tin GIS cho hệ thống sông Nhuệ và sông Đáy [37] Đề tài không đi sâu vào phân tích thể chế, pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy
Nguyễn Thanh Sơn và nnk (2011) [77, tr 227-234] Đã nghiên cứu áp dụng
mô hình NAM để tính toán chuẩn mưa năm; tính toán dòng chảy năm và đánh giá TNN trên LVS Nhuệ - sông Đáy Từ đó khai thác mặt lợi, tránh tác hại, phục vụ cho việc đánh giá TNN, sự phát triển KT-XH và phòng tránh thiên tai Là cơ sở để thực hiện bài toán cân bằng nước và điều hoà nguồn nước trên LVS Nhuệ - sông Đáy Nguyễn Hữu Huế (2013) [39, tr 77-84] đã nghiên cứu tính toán thủy lực bằng
mô hình HEC-RAS hệ thống các sông ứng với điều kiện biên thượng lưu tại thời điểm kiệt nhất, cống Liên Mạc 1 và cống Cẩm Đình không phát huy tác dụng, nhằm đánh giá hiệu quả của giải pháp dẫn nước tự chảy về cấp cho các sông Theo tính toán ở kịch bản trên, điều kiện bất lợi nhất xảy ra khi mực nước sông Hồng giảm xuống kỷ lục khiến hệ thống cống lấy nước đầu mối như Cẩm Đình, Liên Mạc 1 rơi vào tình trạng cạn trơ đáy kéo theo sức ép lấy và dẫn nước nước bị phụ thuộc cống Lương Phú
Trang 3531
và tuyến công trình dẫn nước tự chảy Chính vì vậy mà không thể cùng một lúc cấp đủ nhu cầu nước cho tất cả bốn sông trong khu vực nghiên cứu Hệ thống các công trình điều tiết trong quá trình mô phỏng để khống chế lưu lượng nước đổ vào từng sông tùy theo nhu cầu và mục đích sử dụng Khi phân chia nước cho từng sông được thực hiện lặp nhiều bước bằng các chế độ mở cửa van điều tiết của các cống sao cho lượng nước được phân bổ hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất Việc cấp nước được vận hành cho lần lượt từng LVS tùy thuộc vào mục đích và nhu cầu sử dụng Kết quả tính toán cho thấy,
dù mực nước ở mức thấp nhất như đã từng xảy ra thì nước vẫn được dẫn qua tuyến công trình mới xây dựng cấp đủ cho từng LVS, đảm bảo điều kiện vận hành của hệ thống tưới trên các trục sông chính, đồng thời sông Tô Lịch vẫn được rửa sạch
Nguyễn Thanh Sơn và nnk (2013) [78, tr 56-63] Nghiên cứu tiếp cận theo hướng
đa ngành, xây dựng bản đồ tính dễ bị tổn thương sử dụng mô hình thủy lực kết hợp với điều tra khảo sát khả năng chống chịu của người dân Khu vực dễ bị tổn thương của lưu vực đã được khoanh vùng, đồng thời một số kiến nghị cũng được đưa ra nhằm cung cấp
cơ sở thực tiễn và khoa học, hỗ trợ các nhà quản lý hoạch định chiến lược giảm nhẹ tác hại do ngập lụt gây ra Trong đó đưa ra các kiến nghị về đầu tư áp dụng các giải pháp điều hòa nước mưa như xây bể chứa nước cho các tòa nhà, chú ý việc bố trí hồ điều hòa khi triển khai xây dựng khu đô thị; tăng cường công tác dự báo thời tiết; tăng cường cơ sở vật chất cứu hộ thiên tai; tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực phòng tránh thiên tai; thường xuyên nâng cao nhận thức cho người dân trong vùng có độ phơi nhiễm cao về lũ lụt và các biện pháp thích ứng
Phan Văn Mạnh, Nguyễn Đình Tạo [56] đã nghiên cứu cho kết quả là đã xác định được 87 loài thực vật nổi; 42 loài động vật nổi; 50 loài động vật đáy Các khu vực khảo sát đều thể hiện CLN từ ô nhiễm đến hơi ô nhiễm Trong đó sông Nhuệ biểu hiện
ô nhiễm cao hơn cả Sông Châu Giang và sông Đáy ở mức hơi ô nhiễm
Mai Văn Trịnh, Bùi Thị Phương Loan, Đỗ Thanh Định [104] đã nghiên cứu đã xác định được tải lượng chất ô nhiễm vào vùng canh tác nông nghiệp cuối sông Nhuệ Đánh giá khả năng cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và mô tả diễn biến môi trường nước LVS Nhuệ
Tóm lại, các nghiên cứu với LVS Nhuệ - sông Đáy tập trung vào việc đánh
giá chất lượng nước, sử dụng các mô hình toán học tính toán dòng chảy để bổ sung nguồn nước vào LVS nhằm giảm sự ô nhiễm, mà chưa có nghiên cứu nào về hệ thống pháp luật BVMT nước LVS Nhuệ - sông Đáy để kiểm soát ô nhiễm
1.3 TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - SÔNG ĐÁY
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
a) Vị trí, địa lý lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy (Hình 1-6) có tọa độ địa lý từ 20000’ - 21020' vĩ
Trang 3632
độ Bắc và 105000’-106030' kinh độ Đông, nằm ở hữu ngạn sông Hồng, thuộc phần Tây Nam của vùng đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích tự nhiên khoảng 7.949 km2 (chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên của Việt Nam)
Lưu vực nằm trên địa phận các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hoà Bình
và Tp Hà Nội [5], cụ thể như sau:
Hình 1-6: Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy theo đặc điểm thủy văn
Thành phố Hà Nội: gồm huyện Từ Liêm, Thanh Trì và khu vực nội thành bên hữu
ngạn sông Hồng và toàn bộ tỉnh Hà Tây (cũ) gồm quận Hà Đông, Sơn Tây và các huyện: Thạch Thất, Quốc Oai, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín, Phú
Xuyên, Thanh Oai, Ứng Hòa, Chương Mỹ và Mỹ Đức
Tỉnh Hòa Bình: gồm huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy và huyện Yên Thủy Tỉnh Hà Nam: toàn bộ tỉnh Hà Nam gồm Tp Phủ Lý và các huyện: Duy Tiên, Lý
Nhân, Kim Bảng, Bình Lục và huyện Thanh Liêm
Tỉnh Nam Định: gồm Tp Nam Định và các huyện: Nam Trực, Vụ Bản, Trực
Ninh, Nghĩa Hưng và huyện Ý Yên
Tỉnh Ninh Bình: gồm Tp Ninh Bình, Tp Tam Điệp và các huyện: Gia Viễn, Nho
Quan, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô và huyện Kim Sơn
Trang 3733
b) Đặc điểm khí tượng, thủy văn lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Sông Nhuệ và sông Đáy nằm trong khu vực của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
ẩm [99] Mạng lưới thủy văn LVS Nhuệ - sông Đáy tương đối phát triển (Bảng 1-3), mật độ lưới sông đạt 0,7 - 1,2 km/km2 Tổng lượng nước hàng năm trong LVS Nhuệ - sông Đáy khoảng 28,8 tỷ m3 Sông Nhuệ 1,07 tỷ m3 (chiếm 3,4%), sông Đào Nam Định khoảng 25,7 tỷ m3 (chiếm 89,5%), sông Hoàng Long khoảng 0,68 tỷ m3 (chiếm 2,4%), sông Tích và sông Đáy khoảng 1, 35 tỷ m3 (chiếm 4,7%) [10]
Bảng 1-3: Đặc trưng lưu vực của một số sông nhánh trên LVS Nhuệ - sông Đáy
TT Sông Nguồn sông Cửa sông Chiều dài
(km)
DT lưu vực (km 2 )
Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu từ [41, 98, 101, 107, 109]
c) Hiện trạng kinh tế - xã hội lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên toàn
lưu vực năm 2013 là 200.185 tỷ đồng, chiếm 40,9% tổng giá trị sản xuất trên toàn lưu vực Sản lượng sản xuất công nghiệp của TP Hà Nội chiếm tới 81,9% tổng sản xuất công nghiệp toàn lưu vực Các ngành dệt may tập trung ở Hà Nội như công ty dệt may
Hà Nội Hanosimex, công ty may thêu Hưng Thịnh (Hà Đông)…và Nam Định Các ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gạch… được phát triển như Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình Công nghiệp chế biến nông lâm sản cũng được ưu tiên đầu tư phát triển, tại Hà Nội: Công ty bia Hà Nội, Việt Hà, công ty liên hợp tổng hợp Hà Đông Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đều sản xuất bia, nước giải khát Trong những năm gần đây các làng nghề, làng có nghề và làng nghề truyền thống thuộc LVS Nhuệ - sông Đáy được khôi phục và không ngừng phát triển Có khoảng trên 500 làng nghề, làng có nghề và làng nghề truyền thống với hàng trăm ngàn cơ sở sản xuất hộ cá thể sản xuất khác nhau như dệt may, giấy, cơ khí, bia, đường, vật liệu xây dựng… [10, 98, 99]
Nông nghiệp: Số dân sản xuất nông nghiệp trên LVS Nhuệ - sông Đáy chiếm
60-70% dân số toàn lưu vực, đóng góp chiếm 17,8% (Bảng 1, Phụ lục 4) Chăn nuôi: Từ
năm 2010 đến 2013 do rét đậm, rét hại kéo dài và việc chăn nuôi được chuyển dịch về một số tỉnh khác ven Tp Hà Nội nên đã làm giảm sút đàn gia súc, gia cẩm của các địa
phương (Bảng 3, Phụ lục 4) Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2013
là 834,4 tỷ đồng tăng 486,4 tỷ đồng so với năm 2008 Hiện trạng tài nguyên rừng của
LVS Nhuệ - sông Đáy ở Bảng 4, Phụ lục 4 Thương mại, du lịch, dịch vụ: Hết năm
Trang 3834
2012 có gần 79.906 doanh nghiệp đang hoạt động (tăng gần 3,88 lần so với năm 2005), tổng số lao động khoảng 2.297.416 người (tăng gần 2,36 lần so với năm 2005)
Dân số: Đến hết năm 2013 là 8.329.122 người [10, 98, 99]
1.3.2 Hiện trạng ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
a) Ô nhiễm nước mặt trên các phụ lưu thuộc LVS Nhuệ - sông Đáy
Tại thành phố Hà Nội: Nước thải tại các KCN từ năm 2009-2012 cho thấy:
Thông số BOD5, COD năm 2008 có hàm lượng cao, đến năm 2010 lại giảm xuống nhưng có xu hướng tăng mạnh vào năm 2011 và năm 2012; Hàm lượng Photpho tổng năm 2009, 2010 thấp, đến năm 2011, 2012, 2013 tăng cao và có xu hướng tăng dần theo thời gian; Hàm lượng Nitơ tổng và Amoni năm 2008, 2009 đều thấp, nhưng từ năm 2010-2013 tăng lên so với năm 2009 và có xu thế tăng theo thời gian Phân tích CLN tại 08 KCN thì 8 KCN đều có nước thải vượt QCVN 40:2011/BTNMT (cột B) ra ngoài môi trường Như, KCN Nam Thăng Long có 02/25 thông số vượt QCVN; KCN Thạch Thất – Quốc Oai có 8/25 thông số vượt QCVN; KCN Phú Nghĩa có 3/25 thông
số vượt QCVN Chất lượng nước trên các sông nội đô: Các sông nội đô gồm sông Tô
Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu đang bị ô nhiễm rất nặng, giá trị BOD5
năm 2008 và năm 2013 trung bình từ 30-180mg/l, gấp từ 2 – 12 lần QCVN 08:2008 cột B1 Giá trị COD từ 70 – 650mg/l, cao gấp 2 – 50 lần QCVN 08:2008 (cột B1)
Chất lượng nước tại các hồ của Hà Nội: Có tới 71% hồ có BOD5 vượt QCVN 08:2008 (cột B1); trong đó 14 hồ ô nhiễm hữu cơ rất nặng (100 mg/l); 25% hồ ô nhiễm nặng (BOD5 từ 50 – 100 mg/l) và 32% có dấu hiệu ô nhiễm [105]
Tại tỉnh Hà Nam: COD, BOD5, Amonia, Nitrit, Nitrat tại các sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sắt đều vượt QCVN 08:2008 (cột B1), như chỉ tiêu Amoni tại sông Nhuệ - cống Nhật Tựu năm 2006 vượt 36,2 lần, năm 2009 vượt 54,15 lần; hàm lượng Amoni tại kênh A48 vượt 398 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1) Ngoài ra, có khoảng 2.078 ha mặt nước ao, hồ trong tỉnh cũng có nguy cơ bị ô nhiễm, do nguồn nước không được lưu thông, cộng với nước thải sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm của các hộ dân và nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề và bệnh viện thải ra Toàn bộ các CCN, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh đều chưa có HTXLNT, ô nhiễm môi trường nước rất đáng lo ngại [99]
Tại tỉnh Ninh Bình: CLN các sông Đáy, sông Hoàng Long và một số sông nhỏ
khác như sông Lạng, sông Vạc, sông Ân, sông Vân… là các phụ lưu của LVS Nhuệ - sông Đáy trên địa bàn tỉnh chưa bị ô nhiễm, cơ bản đảm bảo phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và các mục đích khác Tuy nhiên, CLN đang có chiều hướng suy giảm, một số khu vực đã bị ô nhiễm, như sông Vân đoạn chảy qua Tp Ninh Bình, các
hồ ao, kênh mương gần, giáp khu dân cư, khu làng nghề Ở một số nơi, tại một số thời điểm nước bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp như KCN Khánh Phú [99]
Trang 3935
Tại tỉnh Nam Định: Đây là địa phương có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, làng
nghề truyền thống và các KCN Tình trạng ô nhiễm môi trường, trong đó, ô nhiễm môi trường nước ở nhiều nơi đã ở mức báo động Kết quả quan trắc tháng 3/2014 tại một
số điểm trên sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Đào và một số sông, ngòi, kênh mương nội đồng đều có hàm lượng các chất ô nhiễm vượt QCVN Nguyên nhân là do tiếp nhận nước thải ở các khu tập trung dân cư nông thôn, CCN, làng nghề Dư lượng chất bảo vệ thực vật, TSS, COD, BOD5 đều vượt QCVN cho phép Hàm lượng Coliform trên các sông Đáy, sông Đào tại một số vị trí đã có dấu hiệu bị ô nhiễm Đối với các sông nhánh như sông Vĩnh Giang, sông Giáng, sông Sắt, sông Hùng Vương, sông Vân Chàng, sông Châu Thành, sông Lạc Chính… CLN mặt đều vượt QCVN từ 1,2 – 3 lần,
có 21 mẫu COD, BOD5 thì 100% vượt QCVN, TSS có 10/21 mẫu vượt QCVN Bên cạnh đó, các ao, hồ, kênh, mương trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu ô nhiễm bởi sinh vật, chất vô cơ, dầu mỡ và cặn lơ lửng (Hải Hậu và Giao Thủy) [99]
Kết quả quan trắc cho thấy, thông số BOD5, COD tại nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh đều vượt ngưỡng cho phép, trong khi NH3 vượt từ 1,5-13 lần Tại làng nghề Vân Chàng, huyện Nam Trực sản xuất hàng cơ khí, đúc, mạ tẩy - mỗi tháng sử dụng khoảng 300 tấn than và 112,5 tấn hoá chất các lại như axít, sút Theo điều tra của ngành y tế, tuổi thọ trung bình của người dân Vân Chàng không vượt quá 55 tuổi Làng nghề tái chế nhựa Báo Đáp, huyện Nam Trực có gần 600 lao động, hiện nay vẫn chưa có bể chứa, chôn lấp CTR, ô nhiễm nguồn nước đang ở mức báo động Các thông
số COD, BOD5, tổng Nitơ tại làng này đều vượt QCVN từ 1,15 đến 2,6 lần, trong khi các mẫu Photpho đều vượt từ 9-11,9 lần, NH3+ vượt từ 1,29 đến 7,1 lần [10, 99]
b) Ô nhiễm nước trên sông Nhuệ và sông Đáy
Kết quả phân tích DO của nước sông Nhuệ và sông Đáy qua các năm không đạt QCVN 08/2008 (cột B1) Riêng tại cống Liên Mạc hàm lượng DO cao hơn 4 mg/l là
do nước sông Hồng cung cấp Giá trị DO giảm mạnh khi đi qua khu vực TP Hà Nội, đặc biệt đoạn từ cầu Hà Đông đến Cự Đà hàm lượng dao động từ 0,4 - 0,8 mg/l, sau đó hàm lượng DO bắt đầu tăng nhưng vẫn thấp hơn QCVN Trên sông Đáy, hàm lượng
DO cao hơn trên sông Nhuệ nhưng cũng không đạt QCVN Hàm lượng COD dao động từ 52-354 mg/l vượt QCVN 08/2008 (cột B1) từ 1,7-11,8 lần BOD 5 dao động từ
75,5-262,5 mg/l vượt 5,0 -17,5 lần so với QCVN 08/2008 (cột B1) NH 4 + đều vượt giá QCVN 08:2008 (cột B1) như tại Vân Đình hàm lượng NH4+ là 20,5 mg/l vượt 41 lần
so QCVN 08:2008 (cột B1) Tại Cự Đà là 32,05 mg/l (vượt 64 lần), Đồng Quan 32,82
mg/l (vượt 65,6 lần), Cống Thần 29,33 mg/l (vượt 58,7 lần) Hàm lượng Coliform cao
hơn QCVN 08:2008 (cột B1) tới 50 lần, đoạn hạ lưu sông Đáy hàm lượng Coliform tương đối thấp, hầu hết đạt QCVN 08/2008 (cột A1) [10, 98, 99]
Trang 4036
c) Suy giảm đa dạng sinh học trên sông Nhuệ và sông Đáy
Thực vật thủy sinh (Macrophyte): Xác định được 21 loài, trong đó bèo Nhật Bản,
rau Muống chiếm tỉ lệ tuyệt đối Ngoài Lúa còn một số loài khác như Sen Nelumbo
nucifera Gaertn, Súng Nymphaea pubessens Georg, Sậy Phragmitis comunis, cây
Nghể nước Polygonum hydropiper, các cây thuộc họ Cói Cyperaceae [99]
Thực vật nổi (Phytoplankton): Xác định được 73 loài Tảo Silic có số loài cao
nhất (34 loài, chiếm 47 %), tiếp đến là tảo Lục (có 17 loài, chiếm 23 %), tảo Mắt (12 loài, chiếm 16 %), tảo Lam (10 loài, chiếm 14 %) trên LVS Nhuệ - sông Đáy [99]
Động vật nổi (Zooplankton): Số lượng loài dao động từ 7-16 loài/điểm, nhóm
Cladocera và Copepoda chiếm ưu thế Mật độ động vật nổi dao động khoảng 28.265 con/m3, có xu hướng tăng mạnh về cuối dòng chảy Loài mật độ ưu thế là Mesocyclops leuckarti, Thermoccylops hyalinus (Copepoda), Moina dubia, Bosmina longirostris, Diaphanosoma sarsi (Cladocera), Brachionus calyciflorus (Rotatoria) Hàm lượng muối dinh dưỡng cao phản ánh tình trạng phú dưỡng của thuỷ vực [99]
408-Động vật đáy (Macrobenthos): Có 24 loài, dao động từ 4-12 loài/điểm, trung
bình 8 loài/điểm Thành phần loài chủ yếu thuộc nhóm Gastropoda và Bivalvia Tại một số điểm (Phúc La, Cống Thần, Cầu Hồng Phú và Đò Kiều) xuất hiện nhóm giun ít tơ-loài chỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm hữu cơ nặng Điểm có số loài cao nhất là Cầu Hồng Phú và Đò Kiều (12 loài) Các điểm Liên Mạc, Phúc La, cầu Tó và cầu Chiếc chỉ thu được 4-7 loài động vật đáy, đây là những điểm đã bị ô nhiễm nặng Nhìn chung, động vật đáy thu được trên sông Nhuệ, sông Đáy thấp Mật độ động vật đáy dao động từ 6-45 con/m2, trung bình 23 con/m2 [99]
Các loài cá: Có 95 loài cá tự nhiên và 9 bộ cá nuôi gồm: cá Chình– Anguilliformes; cá Trích-Clupeiformes; cá Ốt me-Osmeriformes; cá Chép Mỡ- Characiformes; cá Chép-Cypriniformes; Bộ cá Nheo-Siluriformes; cá mang liền- Synbranchiformes; cá Vược-Perciformes, cá Sóc-Cyprinodontiformes, cá Sặc bướm
(Trichogaster trichopterus), cá Rô phi vằn (Oreocromis niloticus) [99] Có 12 loài cá
nuôi tại các hồ, ao ven sông như cá Trắm cỏ, cá Trôi ấn, cá Trôi, cá Mrigan, cá Mè hoa, cá Mè trắng, cá Chép, cá Rô phi, cá Chim trắng, cá trê phi [99]
Mặt khác, theo kết quả điều tra về mức độ cảm nhận ô nhiễm của người dân, doanh nghiệp và cơ quan QLNN đối với LVS Nhuệ - sông Đáy (Bảng 1-4) cho thấy:
Có 89,6% người dân, 80,4% doanh nghiệp và 75,2% cơ quan QLNN cho rằng môi trường LVS Nhuệ - sông Đáy ô nhiễm nghiêm trọng