1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tuyến đường tuần tra biên giới tới hệ sinh thái xã hội ở khu vực tây nguyên

211 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 7,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ sinh thái - xã hội có các thuộc tính sau: i Một hệ thống chức năng, gồm các yếu tố địa-vật lý sinh học và xã hội có sự tương tác thường xuyên với nhau theo một phương thức bền vững và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẠM HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA

TUYẾN ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI TỚI HỆ SINH THÁI – XÃ HỘI Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI – Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẠM HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA

TUYẾN ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI TỚI HỆ SINH THÁI – XÃ HỘI Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TSKH Trương Quang Học PGS.TS Trần Văn Chung

HÀ NỘI – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là

trung thực Những kết luận khoa học chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các kết

quả nghiên cứu tham khảo của các tác giả khác đã

được trích dẫn đầy đủ trong luận án

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2016

Tác giả

Phạm Hoài Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Trương Quang Học, PGS.TS Trần Văn Chung, những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận án tiến sĩ

Tôi đặc biệt bày tỏ lòng tri ân, kính trọng đến cố PGS.TS Phạm Bình Quyền, người đã có công lao giúp đỡ, dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học từ bậc cử nhân đến tiến sĩ

Luận án được hoàn thành tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, Phòng Quản lý Khoa học – Công nghệ và Đào tạo, các Thầy, Cô và các anh chị đồng nghiệp trong Trung tâm đã luôn ủng hộ, hướng dẫn và giúp đỡ mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện và bảo vệ luân án này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Thủ trưởng, các đồng nghiệp Viện Công nghệ mới (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự), nơi tôi công tác, đã quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận án này Qua đây, tôi cũng xin cảm

ơn sự giúp đỡ của Phòng Mặt bằng (Ban Quản lý dự án 47/Bộ Tổng Tham mưu), các đồn biên phòng ở Tây Nguyên; Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Cục Viễn thám Quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Cuối cùng, Luận án không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ, động viên, chia sẻ về tinh thần và vật chất của những người thân trong gia đình trong suốt quá trình tôi làm nghiên cứu sinh Tôi xin bày tỏ lòng tri ân, kính trọng đến bố, mẹ,

vợ, các con và các anh chị em

Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2016

Phạm Hoài Nam

Trang 5

1.1.3 Tính hệ thống, liên ngành trong đánh giá ảnh hưởng của giao thông

đường bộ tới hệ sinh thái - xã hội

9

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và phân tích tổng hợp 41

2.3.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 43

3.1 MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

Trang 6

3.1.3 Đặc điểm tài nguyên sinh vật 57

3.2 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI

3.2.1 Ảnh hưởng của xây dựng tuyến đường làm suy giảm diện tích rừng 75 3.2.2 Ảnh hưởng của việc xây dựng tuyến đường tới đa dạng loài 78 3.3 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI

TÂY NGUYÊN TỚI HỆ XÃ HỘI

81

3.3.1 Xu hướng dân số tại khu vực tuyến đường tuần tra biên giới 81 3.3.2 Diễn biến phát triển kinh - tế xã hội trên tuyến đường tuần tra biên giới 85 3.3.3 Vai trò của cộng đồng đối với dự án đường tuần tra biên giới ở Tây

3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI TÂY NGUYÊN

3.4.1 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất và suy giảm các hệ sinh thái rừng 93

3.4.3 Vai trò cộng đồng trong an ninh - quốc phòng và bảo vệ tài nguyên 118 3.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI

NGUYÊN TRÊN KHU VỰC TUYẾN ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 8

RSX Rừng sản xuất

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các băng phổ và độ phân giải ảnh mặt đất của SPOT5 47 Bảng 2.2 Các mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25000 của khu vực nghiên cứu 48 Bảng 2.3 Các loại hình sử dụng đất trong khu vực nghiên cứu 49 Bảng 3.1 Danh mục các huyện, xã biên giới ở khu vực Tây Nguyên 54 Bảng 3.2 Danh sách các loài thực vật quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam

năm 2007 có mặt trong khu vực biên giới các tỉnh Tây Nguyên 60 Bảng 3.3 Danh sách các loài Thú quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam năm

Bảng 3.4 Danh sách các loài Chim quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam năm

2007 có mặt trong khu vực biên giới các tỉnh Tây Nguyên

64

Bảng 3.5 Danh sách các loài Lưỡng cư, Bò sát quý hiếm trong sách đỏ

Việt Nam năm 2007 có mặt trong khu vực biên giới các tỉnh Tây

Bảng 3.6 Danh sách các loài Cá quý hiếm có trong SĐVN năm 2007 các

lưu vực chính khu vực các tỉnh biên giới Tây Nguyên

66

B¶ng 3.7 DiÖn tÝch rõng bÞ mÊt do thi c«ng dù ¸n §¨k Bl« 76 B¶ng 3.8 DiÖn tÝch vµ sè l-îng c©y bÞ chÆt của dù ¸n §¨k Nhoong 78 Bảng 3.9 Cấu trúc thành phần loài động vật khu vực biên giới các tỉnh

Tây Nguyên (khu vực ngoài ranh giới VQG) 2008 và 12/2013 79 Bảng 3.10 Danh sách các loài động vật qui hiếm khu vực biên giới

các tỉnh Tây Nguyên (khu vực ngoài ranh giới VQG) năm 2013 80

Bảng 3.12 Mật độ dân số ở khu vực nghiên cứu và các tỉnh Tây Nguyên 82 Bảng 3.13 Dân số và mật độ ở các xã biên giới 4 tỉnh Tây Nguyên 83 Bảng 3.14 Tỷ lệ giữa các dân tộc tại các huyện biên giới Tây Nguyên (%) 84 Bảng 3.15 Số doanh nghiệp đang hoạt động tại khu vực các xã biên giới

Tây Nguyên tính đến 2013

86

Trang 10

Bảng 3.16 Các dự án đang thực hiện tại các xã vùng biên giới Tây

Nguyên đến năm 2013

86

Bảng 3.17 Xu hướng biến động của các loại cây trồng tại các xã biên giới

Bảng 3.19 Biến động diện tích cây cao su tại khu vực biên giới Tây

Nguyên

97

Bảng 3.20 Biến động nhóm loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh

Kon Tum giai đoạn 2004 – 2013

101

Bảng 3.21 Biến động các loại hình sử dụng đất xã biên giới thuộc tỉnh

Bảng 3.22 Biến động nhóm loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh Gia

Bảng 3.23 Biến động các loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh Gia

Bảng 3.24 Biến động nhóm loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh

Bảng 3.25 Biến động các loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh Đắc

Lắk giai đoạn 2004 – 2013

108

Bảng 3.26 Biến động các loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh Đắk

Bảng 3.27 Biến động nhóm loại hình sử dụng đất các xã biên giới tỉnh

Đắk Nông giai đoạn 2004 – 2013

111

Bảng 3.29 Tỷ lệ thu nhập của các hộ (%) tại các xã biên giới được điều tra

12/2013

117

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.3 Khung nhiều tầng phân tích một hệ sinh thái-xã hội 12 Hình 1.4 Mô hình khái niệm của một hệ sinh thái - xã hội 13

Hình 1.6 Mối liên quan giữa các dịch vụ hệ sinh thái và các thành tố của

cuộc sống thịnh vượng

23

Hình 1.7 Khung phân tích hệ sinh thái-xã hội trong nghiên cứu đường tuần

tra biên giới Tây Nguyên

28

Hình 2.1 Áp dụng công cụ mô hình DPSIR cho nghiên cứu ảnh hưởng

đường TTBG Tây Nguyên đến hệ sinh thái – xã hội

45

Hình 3.1 Phạm vi nghiên cứu là các xã biên giới ở Tây Nguyên 53

Hình 3.3 Dân số các dân tộc tại các huyện biên giới 2010 85 Hình 3.4 Cơ cấu sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu qua các năm (%) 87 Hình 3.5 Xu hướng phát triển một số loại cây công nghiệp dài ngày tại khu

vực các xã biên giới Tây Nguyên

Đăk Mil, Đắk Nông

96

Hình 3.11 Sự phát triển cây cao su tại khu vực các xã biên giới Tây Nguyên 98 Hình 3.12 Hình ảnh thu nhỏ từ bản đồ tỷ lệ 1:25.000 về biến động sử dụng 103

Trang 12

đất các xã biên giới tỉnh Kon Tum qua 2 thời kỳ 2004 – 2014

Hình 3.17 Ảnh hưởng của tuyến đường TTBG Tây Nguyên tới các mối

tương tác giữa hệ sinh thái và xã hội

123

Hình 3.18 Mô hình về mối quan hệ phát triển bền vững tại khu vực TTBG

Tây Nguyên

126

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đảm bảo an ninh quốc gia, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, sau khi phân giới cắm mốc, tuyến đường tuần tra biên giới (TTBG) được hình thành Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án quy hoạch xây dựng đường TTBG đất liền giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo” (Quyết định 313/TTg – 14/3/2007) Hệ thống đường TTBG được triển khai dọc tuyến biên giới đất liền từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, có tổng chiều dài 14.251 km; Dự án thực hiện nâng cấp, mở mới 10.196 km với gần 8.000 km đường ô tô Tuyến đường này sẽ bao bọc toàn bộ biên giới đất liền Việt Nam, trong đó có khu vực Tây Nguyên tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông Đây là các tỉnh có đường biên giới với các quốc gia: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia [7, 8, 71] Tây Nguyên nằm ở phía Tây Nam Việt Nam, nằm trên dãy Trường Sơn, là khu vực tương đối nhạy cảm vì: có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng đối với cả nước và khu vực Đông Dương; là vùng kinh tế tiếp giáp 2 vùng kinh tế trọng điểm (Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam); là nơi sinh sống của trên 40 dân tộc thiểu số, đa sắc tộc, tôn giáo,

là khu vực rừng núi sát biên giới, điểm nóng về vấn đề an ninh trật tự Tây Nguyên còn là nơi bắt đầu của các dòng sông [39]

Tuyến đường xây dựng theo tiêu chuẩn cấp VI miền núi TCVN 4054-85 và giao thông nông thôn GTNT-B (22TCN 210-92) bề rộng nền đường 5,5m; bề rộng mặt đường 3,5 m Đặc điểm của đường TTBG không được cách quá biên giới 1km,

do vậy tại nhiều tỉnh tuyến đường sẽ cắt xuyên rừng, khu bảo tồn thiên nhiên Ở Tây Nguyên, tuyến đường sẽ cắt xuyên rừng, khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) trên địa bàn 4 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông Từ năm 2008 đến nay, 3/4 tỉnh biên giới ở Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đăk Nông đã tiến hành xây dựng đường TTBG [7, 8, 71]

Ngoài ý nghĩa to lớn mà tuyến đường TTBG mang lại, trong quá trình xây dựng cũng như lúc đi vào sử dụng không thể không xem xét các tác động của nó

Trang 14

đến hệ sinh thái – xã hội và môi trường tự nhiên ở đây Các tác động này là tương đối lớn và rõ rệt, cụ thể như: việc mở đường làm mất một số loài thực vật quý hiếm, gây hoảng sợ, thu hẹp sinh cảnh sống của các loài động vật hoang dã, ngăn cản tuyến đường di chuyển của động vật, ngăn cản, thay đổi dòng chảy gây xói mòn, tạo điều kiện cho lâm tặc vào phá rừng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng Các yếu tố kinh tế - xã hội trong khu vực cũng thay đổi đáng kể

Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về đánh giá ảnh hưởng của xây dựng tuyến đường TTBG và hoạt động phát triển đến hệ sinh thái – xã hội ở khu vực dọc biên giới các tỉnh Tây Nguyên Việc đánh giá đúng mức, kịp thời, xác định các nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái –

xã hội và xác định quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên ở khu vực là rất cần thiết Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, với quan điểm tiếp cận dựa trên

hệ sinh thái luận án “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tuyến đường tuần tra biên giới tới hệ sinh thái – xã hội ở khu vực Tây Nguyên” được tiến hành với

mục tiêu và các nội dung sau đây:

2 Mục tiêu của luận án

i) Đánh giá được các ảnh hưởng đến hệ sinh thái – xã hội do sự hình thành và hoạt động của tuyến đường TTBG ở khu vực biên giới 4 tỉnh Tây Nguyên

ii) Đề xuất được giải pháp quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên trên khu vực biên giới ở Tây Nguyên hướng tới phát triển bền vững

3 Nội dung của luận án

i) Nghiên cứu sự hình thành và qui mô của tuyến đường TTBG ở khu vực Tây Nguyên

ii) Nghiên cứu các nét đặc trưng về tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc trưng của

hệ sinh thái – xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên

iii) Đánh giá ảnh hưởng của việc xây dựng của tuyến đường TTBG đến các hợp phần của hệ sinh thái – xã hội ở khu vực biên giới Tây Nguyên

iv) Đề xuất biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên trên khu vực tuyến đường TTBG Tây Nguyên nhằm hướng tới phát triển bền vững

Trang 15

4 Luận điểm bảo vệ

i) Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái - xã hội là tiếp cận phù hợp với bối cảnh vừa đảm bảo an ninh quốc phòng vừa phát triển bền vững hệ sinh thái-xã hội vùng biên ii) Kết quả đánh giá ảnh hưởng của tuyến TTBG tới hệ sinh thái-xã hội vùng biên là luận cứ quan trọng để đề xuất định hướng đảm bảo đồng thời hai mục tiêu quốc phòng và phát triển kinh tế của địa phương

5 Điểm mới của luận án

i) Áp dụng khung lý thuyết hệ sinh thái – xã hội để nghiên cứu phát triển bền vững cho khu vực tuyến đường TTBG ở Tây Nguyên

ii) Đánh giá sự thay đổi của các hợp phần hệ sinh thái – xã hội do tác động của việc xây dựng và hoạt động của tuyến đường TTBG ở khu vực biên giới Tây Nguyên

iii) Đề xuất mô hình quản lý bền vững tài nguyên dựa vào cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận án

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý về môi trường, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học môi trường trong quy hoạch lãnh thổ, xây dựng các kế hoạch phát triển triển kinh tế - xã hội, các dự án về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực vùng Tây Nguyên

Trang 16

7 Thời gian thực hiện luận án

Luận án được tiến hành từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 12 năm 2014

8 Bố cục của luận án

Luận án gồm 140 trang với 26 hình, 12 bản đồ chuyên đề, 33 bảng Ngoài phần Mở đầu (4 trang), Kết luận và Khuyến nghị (3 trang), các nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương gồm:

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu (34 trang)

Chương 2 Đối tượng, phạm vi, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (13 trang)

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận (86 trang)

Ngoài ra, luận án còn bao gồm 13 trang tài liệu tham khảo và 10 phụ lục (41 trang)

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm

Đa dạng sinh học (Biodiversity): là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống

trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gen chứa đựng trong các loài và những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường hay là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [57]

Đa dạng sinh học (ĐDSH) thường xem xét ở 3 mức độ: đa dạng di truyền, đa dạng

loài và đa dạng hệ sinh thái hát tri n b n vững đa d ng sinh học là việc khai thác,

sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tự nhiên, phát triển nguồn gen, loài sinh vật và bảo

đảm cân bằng sinh thái phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [57] Hành lang đa d ng sinh học là khu vực nối liền các vùng sinh thái tự nhiên cho phép các loài sinh vật

sống trong các vùng sinh thái đó có thể liên hệ với nhau [57] Khái niệm này ngày nay tại các nước phát triển hay sử dụng trong nghiên cứu giao thông đường bộ [93,

97, 98]

Hệ sinh thái (Ecosystem) là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của

một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau [57]

Theo quan niệm hiện nay, hệ sinh thái (HST) được hiểu là một tổ hợp động của các

quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng; Con người là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái Định nghĩa này nhấn mạnh con người là một thành viên đặc biệt của HST theo nghĩa con người, một mặt, có những tác động mạnh mẽ nhất vào HST theo cách riêng của mình (có ý thức và bằng công cụ) và mặt khác lại

là đối tượng mà bất kỳ nghiên cứu HST nào cũng phải hướng tới để đem lại phúc lợi cho họ [34, 35, 111]

Các thành phần HST được đánh giá qua: sinh khối, sản lượng; các loài, quần

xã hiếm hoặc bị đe doạ tuyệt chủng , giá trị văn hóa, thẩm mỹ cho từng loài hoặc quần xã, hoặc giá trị cảnh quan tự nhiên; chỉ thị thống nhất các hiệu ứng tiềm tàng trong một hệ thông số sinh thái; vai trò tham gia của cộng đồng (tầm quan trọng,

Trang 18

quy mô) [47, 67] Đa d ng hệ sinh thái: là sự phong phú về trạng thái và loại hình

của các mối quan hệ giữa quần xã sinh học với môi trường tự nhiên

Hệ xã hội (Social system) bao gồm tất cả các sản phẩm khác nhau của văn hóa

con người ở mức độ quần thể, bao gồm các yếu tố chính: dân số, văn hóa, sản phẩm vật chất, tổ chức xã hội, và thể chế xã hội…Tuy sống trong xã hội nhưng con người vẫn luôn luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên, tác động và khai thác tài nguyên ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao của mình Từ đó, dần hình thành các Hệ sinh thái nhân văn [22, 35]

Hệ sinh thái nhân văn (Human ecosystem) là tổng hòa của hai hệ thống, hệ

thống tự nhiên và hệ thống xã hội trong sự tương tác lẫn nhau ở một khu vực nhất

định Theo đó, hình thành một khoa học liên ngành - Sinh thái học nhân văn

(Human ecology) và các chuyên ngành của nó (Sinh thái học chính trị - Political ecology; Sinh thái học xã hội – Social ecology…) [22, 35, 104]

Hệ sinh thái – xã hội (Social-ecological system) là một biến thể của hệ sinh

thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố thể chế và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị sinh - vật lý - địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh [22, 35, 37, 88,

104, 109, 114]

Hệ sinh thái - xã hội có các thuộc tính sau:

i) Một hệ thống chức năng, gồm các yếu tố địa-vật lý sinh học và xã hội có sự tương tác thường xuyên với nhau theo một phương thức bền vững và chống chịu; ii) Một hệ thống tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian xác định, có cấu trúc, chức năng và các cấp độ tổ chức tương tác lẫn nhau;

iii) Một tổ hợp các dạng tài nguyên quan trọng (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế - xã hội và văn hóa) được phát triển và sử dụng bởi phức hợp của cả hai hệ thống, hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội;

iv) Một hệ thống phức hợp biến động không ngừng với sự thích ứng liên tục

Trang 19

Như vậy, theo quan điểm của luận án, khái niệm hệ sinh thái – xã hội đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố con người trong xã hội mà cụ thể là thể chế với việc ra quyết định của mình tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái liên quan làm biến đổi theo không gian, thời gian với sự thích ứng liên tục

Cộng đồng (Community) là một nhóm người có những đặc điểm thái độ, cách

ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống trong một bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội xác định Hay nói một cách khác, cộng đồng được quan niệm là đồng bào các dân tộc đang sinh sống trong một khu vực địa lý nhất định [67, 110, 123]

Quản lý dựa vào cộng đồng (Community–based management) là lấy cộng

đồng làm trọng tâm trong việc quản lý tài nguyên Đưa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý tài nguyên, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện Đây là hình thức quản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công

cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng [30, 51, 122]

Sinh kế (Livelihood): Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả

các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống [95, 96]

Vốn sinh kế (Livelihood capitals) hay nguồn vốn hay tài sản sinh kế là toàn

bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có được để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia thành 5 loại chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên [96]

Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood): một sinh kế có khả năng ứng phó

và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [96]

Trang 20

1.1.2 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu

Luận án xác định các vấn đề nghiên cứu chính là tập trung vào phân tích, đánh giá các ảnh hưởng đến hợp phần của hệ sinh thái – xã hội do việc xây dựng tuyến đường TTBG ở Tây Nguyên, trong đó tập trung vào các tác động tới hệ tự nhiên, hệ

xã hội và mối tương tác giữa tự nhiên và xã hội Các tác động này bao gồm cả nguyên nhân trực tiếp (gây suy giảm diện tích rừng, sự đa dạng loài) và nguyên nhân gián tiếp (chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm suy giảm hệ sinh thái rừng, sinh kế - nghèo đói và suy giảm ĐDSH) Cụ thể các đánh giá tập trung vào tính ĐDSH, sự thay đổi các hệ sinh thái rừng, loài, biến động sử dụng đất, vấn đề nghèo đói và nhận thức, di dân trong các mối tương tác liên quan Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hướng tới phát triển bền vững tại khu vực biên giới Tây Nguyên

Quy trình nghiên cứu có thể mô tả trên khung phân tích sau (Hình 1.1):

Hình 1.1 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu

- Tài nguyên sinh học

- Tài nguyên nước

Hệ sinh thái Hệ xã hội

- Dân số & sinh kế

Trang 21

Các giải pháp đề xuất của luận án được lồng ghép vào trong phát triển kinh tế địa phương, đưa ra mô hình gắn với tính đặc trưng văn hóa và cộng đồng trong quản

lý tài nguyên đáp ứng được sinh kế của người dân, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở khu vực biên giới

Khung phân tích nhấn mạnh vào tính hệ thống, tính liên ngành trong nghiên cứu sự thay đổi các hợp phần và sự tương tác của chúng trong hệ sinh thái – xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên trên quan điểm định hướng phát triển bền vững

Các vấn đề nghiên cứu nằm trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), theo kịch bản biến đổi khí hậu công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường 2012, khu vực Tây Nguyên sẽ có nhiệt độ tăng lên khoảng 0,30C vào năm 2020; 0,80C vào năm

2050 và 1,60C vào năm 2100 [83] Gia tăng lượng mưa vào mùa mưa, giảm vào mùa khô khiến cho mùa khô ngày càng khốc liệt hơn, hạn hán gia tăng với mức độ đáng kể Lũ lụt, lũ quét vẫn là mối đe dọa thường xuyên trong mùa mưa Tác động tiềm tàng của BĐKH về lâu dài sẽ làm thay đổi ranh giới các hệ sinh thái rừng tự nhiên và rừng trồng [6, 33, 53] Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án này, do thời gian, nguồn lực nghiên cứu còn hạn chế, các dữ liệu thu thập về khí hậu, thời tiết

chưa đủ để đề cập sâu về vấn đề này

1.1.3 Tính hệ thống, liên ngành trong đánh giá ảnh hưởng của giao thông đường bộ tới hệ sinh thái - xã hội

Việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng sự tương tác giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội được đặt trong một mối liên kết mang tính hệ thống và sự liên kết của nhiều ngành khoa học khác nhau Trên quan điểm tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, liên ngành, nghiên cứu ảnh hưởng tới hệ sinh thái – xã hội do tác động của giao thông đường bộ được chia ra 4 nhóm nhiệm vụ lớn: (i) Ảnh hưởng của phát triển giao thông tới hệ tự nhiên; (ii) Ảnh hưởng của giao thông đường bộ tới hệ xã hội; (iii) Mối tương tác giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội trong phát triển giao thông; (iv) Đề xuất mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng tại khu vực theo định hướng phát triển bền vững

Trang 22

Để giải quyết các vấn đề trên, đòi hỏi kiến thức liên ngành, có sự kết hợp của các ngành giao thông học, sinh thái học, địa lý, quy hoạch, môi trường, xã hội học

Ở quy mô khu vực biên giới Tây Nguyên, phạm vi nghiên cứu của luận án là vấn đề mất rừng, suy giảm ĐDSH, sinh kế, đói nghèo của đồng bào các dân tộc, vấn

đề an ninh biên giới, các mô hình quản lý tài nguyên Và vấn đề xem xét được đặt trong hệ thống, không có sự gián đoạn không gian theo ranh giới địa chính

Ở quy mô cấp Vùng Tây Nguyên, các vấn đề được ưu tiên nghiên cứu là bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo sinh kế của người dân gắn với nhiệm vụ an ninh – quốc phòng, phát triển bền vững Các yếu tố này nằm trong một hệ thống, có sự kết nối, tương tác chặt chẽ, qua lại với nhau và với các vùng khác

Trên quy mô quốc gia, Tây Nguyên là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, cần nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ tổ quốc Tính hệ thống ở đây còn thể hiện ở cấp độ xuyên quốc gia trong vấn đề bảo tồn ĐDSH

1.2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

a Hệ sinh thái - xã hội

Trước khi đề cập đến hệ sinh thái – xã hội, trước hết phải nói đến sinh thái học nhân văn Khái niệm này ra đời ở Mỹ vào năm 1921, do một nhóm tác giả thuộc Đại học Chicago đưa ra trong cuốn “Tổng quan về xã hội học”, trong đó, quan niệm ứng dụng các quy luật sinh thái vào nghiên cứu xã hội học Đến thập kỷ 70 của thế

kỷ XX, khoa học sinh thái nhân văn được nghiên cứu và phát triển ở các quốc gia Châu Âu và ở Mỹ Có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhiều học giả cho rằng

hệ sinh thái nhân văn được tạo ra từ hệ xã hội và hệ sinh thái Con người vừa thuộc

hệ xã hội vừa thuộc hệ sinh thái Theo Gerald (2001), quan niệm tương tác con người – môi trường như mối tương tác giữa hệ thống con người (xã hội nhân văn)

với phần sinh quyển còn lại của riêng sinh vật (Hình 1.2) [104]

Hệ xã hội nhận từ hệ sinh thái các dịch vụ sinh thái: năng lượng vật chất thông tin nuôi dưỡng sự sống Hệ sinh thái nhận từ hệ xã hội sự tương tác của con người

Trang 23

qua dòng năng lượng, vật chất, thông tin như: dân số, tri thức, tổ chức xã hội, công nghệ… Mỗi hệ sinh thái, hệ xã hội đều được cấu tạo từ các hệ thống con và đồng thời là một thành phần của hệ thống lớn hơn [104]

Hình 1.2 Mối quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ xã hội

Nguồn: [104].

Trong những năm gần đây tại Mỹ và Châu Âu, phát triển khái niệm Hệ sinh thái – xã hội Đi tiên phong trong nghiên cứu này là Elinor Ostrom (Đại học Indiana, Đại học Tổng hợp bang Arizona, Hoa Kỳ) Theo Elinor Ostrom (2007),

một hệ thống sinh thái – xã hội là một hệ sinh thái bị ảnh hưởng và liên kết chặt chẽ

với ít nhất một hệ thống xã hội Một hệ sinh thái có thể được hiểu đơn giản là một

hệ thống độc lập gồm nhiều cá thể hoặc đơn vị sinh học “Xã hội” được hiểu đơn giản là “xu hướng hình thành những mối quan hệ tương tác, lệ thuộc và hợp tác với những cá thể có dạng thức khác nhau” Hay nói rộng hơn, hệ xã hội có thể được xem như một hệ thống các cá thể có tính chất tương tác, phụ thuộc Do đó, cả hệ sinh thái và hệ xã hội chứa đựng những đơn vị có tương tác một cách phụ thuộc và

có thể chứa đựng những hệ thống tích hợp bên trong [114]

Chúng ta sử dụng thuật ngữ “Hệ sinh thái – xã hội” nhằm đề cập đến một phần của hệ xã hội mà trong đó một số mối quan hệ tương tác, lệ thuộc giữa con người

Trang 24

được điều chỉnh thông qua mối tương tác với những yếu tố tự nhiên (biophysical)

và những loài sinh vật khác (Hình 1.3) [114]

Rộng hơn, trong hệ sinh thái - xã hội chú trọng tới khía cạnh hợp tác trong hệ

xã hội là tâm điểm, nghĩa là nơi những cá nhân có chủ đích đầu tư nguồn lực vào một vài loại cơ sở hạ tầng vật chất hoặc có tính tổ chức nhằm đương đầu với những xáo trộn đa dạng bên trong và bên ngoài Khi hệ sinh thái và hệ xã hội được liên

kết, hệ sinh thái – xã hội tổng thể là một hệ thống phức hợp mang tính thích nghi,

bao hàm các hệ tích hợp và được gắn vào hệ thống đa nhân tố rộng hơn [88, 100,

Hệ thống quản trị (GS)

Các nhân tố (A)

Xã hội, Kinh tế và Thể chế (S)

Các hệ sinh thái liên quan (ECO) Nguyên nhân trực tiếp Thông tin phản hồi

Trang 25

nhân tố B và C, hoặc hoàn toàn khác biệt, tùy theo cấu trúc quản trị và quản lý hệ xã hội đó

Cơ sở h tầng công cộng (D) kết hợp hai dạng nguồn lực từ con người và từ

xã hội Nguồn lực vật chất bao gồm các công trình mang tính kĩ thuật như đê điều, kênh thoát nước, v.v… Nói đến nguồn lực xã hội, chúng ta nói về các quy tắc được

sử dụng thực tiễn bởi những nhân tố quản trị, quản lý và sử dụng hệ thống đó và những nhân tố gây giảm thiểu chi phí thực thi liên quan đến giám sát và thi hành những quy tắc đó Một ví dụ về quy tắc được sử dụng trong nhiều Hệ sinh thái – xã hội tự tổ chức là quay vòng vai trò giám sát giữa những người chiếm hữu nguồn lực Nắm giữ vai trò quản trị trung tâm Hệ sinh thái – xã hội, những người giám sát được một cơ quan chính phủ tuyển dụng và trả lương

Hình 1.4 Mô hình khái niệm của một hệ sinh thái - xã hội

Nguồn: [88]

Trong nghiên cứu nhấn mạnh hai loại yếu tố gây xáo trộn Yếu tố ngoại vi có

thể bao gồm sự chia tách vật lý (mũi tên 7) như lũ lụt, động đất, sạt lở đất, biến đổi

khí hậu mà có tác động đến tài nguyên (A) và cơ sở hạ tầng công cộng (D), hoặc

(B) Người sử dụng tài nguyên

(C) Nhà cung cấp

hạ tầng cơ sở

(A) Tài nguyên

(D)

Hạ tầng công cộng

Trang 26

các biến đổi kinh tế, xã hội (mũi tên 8), như sự gia tăng dân số, biến động kinh tế,

suy thoái hoặc lạm phát và những biến động chính trị chủ yếu mà có tác động đến người sử dụng tài nguyên (B) và nguồn cung cấp cơ sở hạ tầng công cộng (C) Yếu

tố nội tại chủ yếu là sự tái tổ chức nhanh chóng của hệ sinh thái hoặc hệ xã hội bao gồm cả các hệ tích hợp

Ở Châu Âu, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng nghiên cứu hệ sinh thái – xã hội là các nghiên cứu tiên phong, vượt qua sự phân biệt về truyền thống nghiên cứu

cơ bản và ứng dụng [109]

Trước sự tác động ngày càng tăng của con người lên sinh quyển, địa quyển, thủy quyển và khí quyển, Paul Crutzen (năm 2002) cho rằng chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên địa chất mới, mà ông gọi là Anthropocene [91] Đồng thời, cả xã hội loài người và nền kinh tế kết nối với nhau trên toàn thế giới ngày càng phụ thuộc vào các dịch vụ hệ sinh thái và việc duy trì các chức năng HST Đa dạng của hệ thống phụ thuộc lẫn nhau giữa các quá trình tự nhiên và xã hội, xảy ra ở quy mô thời gian và không gian khác nhau, do đó đòi hỏi một khái niệm thích hợp Theo quan điểm này, chúng ta nhận ra rằng một tri thức mới đã xuất hiện, đánh dấu bằng một mối quan hệ phức hợp con người với tự nhiên ở vị trí trung tâm

Glaser và cộng sự (năm 2008) định nghĩa hệ thống sinh thái - xã hội: "Một

hệ thống sinh thái - xã hội chứa đựng các thành phần sinh - địa - vật lý và các tác nhân xã hội, thể chế liên quan Hệ sinh thái - xã hội rất phức tạp và thích nghi được giới hạn bởi không gian hay ranh giới chức năng cụ thể xung quanh hệ sinh thái” [105] Quan niệm hệ thống sinh thái - xã hội đặt ra vấn đề tương ứng với các ngành khoa học: tự nhiên, khoa học xã hội và các lĩnh vực nghiên cứu về sinh thái học nhân văn

Như vậy, Hệ sinh thái – xã hội là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị sinh - vật lý - địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo Hệ sinh thái - xã hội

là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh [88, 100, 105, 109, 114] Theo đó, hệ sinh thái - xã hội có các thuộc tính sau:

Trang 27

i) Một hệ thống chức năng, gồm các yếu tố sinh-vật lý-địa và xã hội có sự tương tác thường xuyên với nhau theo một phương thức bền vững và chống chịu; ii) Một hệ thống tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian xác định, có cấu trúc, chức năng và các cấp độ tổ chức tương tác lẫn nhau;

iii) Một tổ hợp các dạng tài nguyên quan trọng (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế - xã hội và văn hóa) được phát triển và sử dụng bởi phức hợp của cả hai hệ thống, hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội;

iv) Một hệ thống phức hợp biến động không ngừng với sự thích ứng liên tục Qua đó có thể thấy áp dụng nghiên cứu ảnh hưởng của giao thông đường bộ được đặt trong hệ sinh thái – xã hội là hoàn toàn phù hợp

b Ảnh hưởng của giao thông đường bộ đến các hệ sinh thái, tài nguyên môi trường

Các nghiên cứu trên thế giới về sinh thái trong phát triển giao thông đã hình

thành nên sinh thái học giao thông đường bộ (Road ecology) Mục tiêu chính của

nghiên cứu là quần xã, số loài, mức độ suy giảm của hệ sinh thái do tác động của việc phát triển đường và giao thông [101–103, 111, 116] Theo Rodney, việc phân tích các mối tương quan phức tạp của sinh thái giao thông cần được nghiên cứu một cách hệ thống và có sự phối hợp giữa nhà sinh thái học và cơ quan phát triển giao thông, trong đó cần xác định “phát triển bền vững” là một tiêu chí hành động và định hướng lâu dài [117]

Cơ sở sinh thái học giao thông đường bộ (Foundations of road ecology) là

nghiên cứu sự tác động qua lại giữa thảm thực vật, các loài, dòng chảy, xói mòn, đời sống hoang dã với đường giao thông Forman và các nhà khoa học về sinh thái học giao thông (năm 2003) đã đưa ra khái niệm sinh thái đường bộ (Road ecology) [102] Theo đó, nghiên cứu sinh thái học về mối tương tác hữu cơ giữa con đường, phương tiện vận chuyển và môi trường là cơ sở của sinh thái học đường bộ [103]

Có, bốn lĩnh vực được tập trung xem xét:

- Con đường, phương tiện giao thông và sinh thái;

- Thảm thực vật và động vật hoang dã;

Trang 28

- Nước, hóa chất, môi trường không khí;

- Hệ thống đường bộ và đất đai

Mục tiêu chung của sinh thái học giao thông là định lượng các tác động sinh thái của con đường, nhằm tránh, giảm thiểu và bồi thường cho các tác động tiêu cực của nó đối với cá nhân, dân số, cộng đồng và các hệ sinh thái [117]

 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái

Nổi bật trong nghiên cứu ảnh hưởng giao thông đến hệ sinh thái là các nghiên cứu của Forman (năm 2003) về tác động do xây dựng và vận hành đường giao thông đến hệ sinh thái hai bên đường [101, 102] Nghiên cứu quá trình phát triển 5 triệu km đường bộ ở Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ), Forman đã đưa ra khái niệm sinh thái học đường bộ, hệ thống một cách toàn diện hơn các kiến thức về sinh thái trong giao thông, đưa ra cơ sở của sinh thái học giao thông [102, 103]

Trên thế giới hiện nay cách tiếp cận sinh thái trong phát triển đường bộ đã trở nên phổ biến, giúp giải thích sự tương tác giữa đường bộ và hệ sinh thái, cảnh quan

và các vùng sinh thái liền kề, cuối cùng đưa ra đánh giá môi trường đầy đủ hơn và giảm dấu chân sinh thái trong phát triển đường bộ [90, 93] Rees & Wackernagel (năm 1996), phân tích dấu chân sinh thái là một công cụ ước tính mức độ tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và sự đồng hóa chất thải (khả năng tự làm sạch) do các hoạt động của con người sinh ra [116] Đường bộ là một thành phần thiết yếu trong cuộc sống hiện đại, sự thiết lập hệ sinh thái đường bộ có thể ảnh hưởng đến tính bảo toàn của các hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên [93, 116]

Các tác động của giao thông đường bộ tập trung vào sự phân mảnh, suy thoái

và mất môi trường sống [102] Mất môi trường sống là khu vực môi trường tự nhiên

bị di rời để làm đường và lề đường Suy thoái môi trường sống là đề cập đến khu vực dọc theo một con đường, tại những nơi môi trường sống tự nhiên bị biến đổi đáng kể Hai nguyên nhân chính gây suy thoái một vùng môi trường sống rộng lớn

là hoạt động giao thông cùng với sự xáo trộn do con người can thiệp Phân mảnh môi trường là chỉ sự phân tách hoặc hàng rào chức năng với các dòng chảy và dịch chuyển sinh thái giữa các khu vực sinh thái hai bên của đường [102, 103]

Trang 29

 Ảnh hưởng của phát tri n đường bộ đến sự đa d ng sinh học

Nhìn chung đất, nước và đa dạng sinh học là những nguồn tài nguyên bị tác động mạnh nhất trong phát triển đường bộ, ba dạng tài nguyên này đều liên quan đến vấn đề về mất nơi sống và phân mảnh môi trường sống

Nghiên cứu tổng hợp của 4 quốc gia (Ôxtrâylia, Hà Lan, Canada, Hoa Kỳ) về các tác động của đường sá và giao thông đến hệ sinh thái, Rodney cho rằng, giao thông ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng của quần thể động vật hoang dã và chức năng sinh thái, giao thông đường bộ làm thay đổi lớn về cân bằng sinh thái [117]

Tác động của phát triển giao thông đường bộ gây ảnh hưởng đến sự phong phú của động vật, bảo tồn nguồn gen Forman và Alexander (năm 1998), Eigenbord, Bissone và Rosa (năm 2009) cho rằng, phát triển đường và giao thông ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến sự phong phú về loài của động vật có vú gần lề đường cao tốc, ảnh hưởng đến 4/7 loài sống trong khoảng cách 250-1000 m từ lề đường [101, 117] Thảm thực vật lề đường là nơi cung cấp nơi sống (habitat) cho những loài động vật có vú nhỏ cũng là nơi chịu tác động [103, 117] Động vật hoang dã sống gần đường giao thông cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn Các nghiên cứu chỉ ra loài

chim Grey Shrilee thrush – Họa mi (Colluricincla hamonica) sống gần đường giao thông hót ở tần số cao hơn chim Grey Fantail (Rhipidura fuliginosa) và xác suất

phát hiện cũng giảm ở các vùng có tiếng ồn giao thông cao [117] Loài ếch sống ở trong và xung quanh đô thị Melbourne có tiếng kêu to hơn Sự đa dạng số loài ếch rừng mưa nhiệt đới cũng suy giảm số lượng ở khu vực gần đường giao thông Để đánh giá các phản ứng hành vi, người ta theo dõi sự di cư của loài ếch Northen

Leopard (Rana pipens) vào mùa xuân, những con ếch sống gần đường giao thông

mất nhiều thời gian hơn trong di chuyển và bị chệch hướng hơn so với những con ở khu vực khác [117] Tiếng hót của chim cũng đánh giá mức độ ô nhiễm tiếng ồn Mức ồn ảnh hưởng tới mật độ quần xã chim rừng từ khoảng 42 dBA (dexibel A), đối với loài chim đồng cỏ từ khoảng 48 dBA Phần lớn các loài chim rừng nhạy cảm (như Cúc cu) chỉ ra sự suy giảm mật độ ở mức 35 dBA và chim đồng cỏ nhạy

cảm (Limosa limosa) phản ứng ở mức 43 dBA [101]

Trang 30

Tai n n trên đường bộ

Kết quả nghiên cứu ở Hà Lan ước tính, hàng năm có 159.000 động vật có vú

và 653.000 con chim bị giết chết trên đường (Roadkill) [117] Ở Bắc Mỹ, mỗi năm

có từ 1 đến 2 triệu vụ va chạm giữa xe cộ và động vật có vú, là nguyên nhân của hơn 200 ca tử vong, thiệt hại hơn một tỷ đô la về tài sản Theo kết quả từ mô hình chi phí lợi ích, nếu các biện pháp giảm thiểu được áp dụng thường xuyên thì sẽ cải thiện được an toàn giao thông và tiết kiệm cho xã hội [101] Các nghiên cứu cũng chỉ ra sự liên quan giữa độ rộng đường, mật độ phương tiện tham gia và vận tốc đến gia tăng tỷ lệ các loài bị chết do bị cán trên đường bộ

Mất nơi sống và phân mảnh môi trường

Trong phân loại quá trình không gian gây biến đổi cảnh quan Forman (năm 2006) chia ra các quá trình: xuyên thủng; phân mảnh và chia cắt; co rút; biến mất

[103] Nhấn mạnh trong quá trình chia cắt và phân mảnh là các quá trình không

gian gây biến đổi cảnh quan được đặc trưng bởi sự hình thành nhiều mảnh rời rạc có diện tích nhỏ từ một mảnh nơi sống có diện tích lớn hơn Quá trình phân mảnh tạo

ra các mảnh rời rạc mới, có kích thước nhỏ hơn, tách biệt với nhau bởi thể nền Ngược lại, quá trình chia cắt tạo ra các mảnh rời rạc mới có kích thước nhỏ hơn nhưng không tách biệt với nhau bởi thể nền Hệ quả làm tăng số lượng và tổng chiều dài đường biên mảnh rời rạc (tương tác +), giảm kích thước trung bình của mảnh rời rạc và tổng diện tích nơi sống trong vùng lõi, giảm độ liên kết về nơi sống của sinh vật (tương tác -) [68, 103]

Nghiên cứu về sinh thái học giao thông của John Davenport và Julia L Davenport (năm 2006) đã đưa ra quan điểm hướng tới sự phát triển bền vững hệ sinh thái giao thông đường bộ hiện đại, trong đó xác định các vấn đề mất nơi sống, phân mảnh môi trường, các loài xâm nhập ngoại lai, ô nhiễm, phát triển nhà cửa hai bên đường do các dự án giao thông gây ra [93]

Trong mối liên hệ với phát triển đường bộ, mất nơi sống và phân mảnh môi trường đã được xác định như: những tác động tiêu cực đáng kể đến thảm thực vật, các loài động vật hoang dã, chức năng sinh thái và chất lượng cảnh quan trong vùng

Trang 31

[97-99] Mất nơi sống sẽ thu hẹp phạm vi mà một hệ sinh thái có thể hỗ trợ sinh vật tồn tại trong môi trường đó và việc cung cấp các chức năng và dịch vụ sinh thái (bao gồm trao đổi vật chất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên) [93, 99]

Phát triển đường cũng đồng nghĩa với việc chia cắt, thay đổi dòng chảy, gây hiện tượng xói mòn, trượt lở đất dốc, suy giảm chất lượng môi trường do ô nhiễm không khí, thay đổi sinh cảnh và tác động đến các hệ sinh thái nhạy cảm Các tác động sinh thái của chúng được coi như "người khổng lồ ngủ trong bảo tồn sinh học" [117]

Hình 1.5 Ảnh hưởng mật độ đường đến nơi sống

Nguồn: [102]

Xây dựng đường phù hợp với môi trường phụ thuộc vào vị trí, hướng tuyến và các biện pháp giảm thiểu của mạng lưới Xây dựng đường ảnh hưởng đến hệ sinh thái như mất nơi sống (Habitat loss), suy thoái và phân mảnh môi trường sống (Habitat fragmentation) Tác động sinh thái học tiêu cực nhất của giao thông đến

cấu trúc và chức năng cảnh quan là sự chia cắt nơi sống (Hình 1.5) Tại các điểm

giao cắt, dọc hai lề đường, hành lang đường là những nơi chịu tác động lớn nhất Một hệ sinh thái giao thông đường bộ tối ưu khi: mật độ giao thông nhỏ trên một

Trang 32

vùng tự nhiên rộng lớn và có đường di chuyển cho động vật hoang dã ở giữa các vùng bị chia cắt [103]

Ô nhiễm

Các hoạt động trong các giai đoạn thi công đường tạo ra vô số rác thải gây tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên [107] Rác thải có thể đi vào hệ sinh thái trong các dạng: phát triển cấp tính, nguồn khuếch tán và ô nhiễm không khí Chất gây ô nhiễm phụ thuộc vào: (i) loại hình xây dựng và vật liệu, thiết bị được chọn trong giai đoạn thiết kế đường bộ, (ii) các hoạt động trong thời gian xây dựng, (iii) các loại phương tiện được sử dụng và tải trọng giao thông trong giai đoạn vận hành, (iv) quy mô và cách thức bảo dưỡng trong thời hạn hoạt động của hệ sinh thái giao thông đường bộ [93]

Chất thải gián tiếp của giao thông đường bộ xuất hiện từ các bể chứa nhiên liệu dưới lòng đất, các ống dẫn đường dài, các trạm dịch vụ, các thiết bị rửa xe ô tô, các quán ăn ven đường, kho phế liệu ô tô và các phương tiện bị loại bỏ Tất cả các loại chất thải này góp phần vào nguồn gây ô nhiễm nước ngầm [93]

c Vai trò của đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trong phát triển giao thông đường bộ

 ĐTM và ĐMC trong phát tri n giao thông đường bộ

Đánh giá tác động môi trường là quá trình đánh giá các tác động về mặt môi trường hoặc “dấu chân sinh thái” từ quá trình phát triển đặt ra Ngày nay, người ta nhận ra rằng những ứng dụng ĐTM phổ biến ở cấp độ dự án hoặc phạm vi hệ sinh thái cục bộ đã không còn khả năng xác định hoặc định lượng các tác động tích lũy ở diện rộng trong phát triển đường bộ Vì thế, Cộng đồng chung Châu Âu (EU) đã ban hành chỉ thị sửa đổi về EIA (97/11/EEC) đòi hỏi đánh giá tác động môi trường chi tiết hơn đối với các dự án đường chính để dự đoán các vấn đề môi trường tiềm

ẩn từ quy hoạch và từ dự án, tập trung vào phạm vi rộng cũng như ở mức độ cao hơn Hướng dẫn ĐTM đã được bổ sung bởi phần giới thiệu của EU về hướng dẫn

Trang 33

“Đánh giá môi trường chiến lược” (2001/42/EC) yêu cầu ưu tiên ĐMC trước khi đánh giá tác động môi trường [93]

Ở Ôxtrâylia, bắt buộc các tuyến đường phải có ĐMC, trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường xã hội trong thiết kế thi công, quy hoạch nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên [93]

ĐMC tiến hành trên lĩnh vực rộng hơn, với nhiều hoạt động, trong thời gian kéo dài hơn so với phạm vi ứng dụng của ĐTM đối với một khu vực (ví dụ, quy hoạch đa dạng sinh học cấp quốc gia) hoặc đối với một khu vực địa lý (ví dụ, quy hoạch phát triển cấp vùng) (CBD 2004 – Công ước về Đa dạng Sinh học) Vì thế, các ĐMC trong giao thông đường bộ đặt chéo các cảnh quan hoặc các vùng lên sự tương tác và các tác động phức tạp trên diện rộng [89]

Tuy nhiên, ĐMC không thay thế hay giảm vai trò của ĐTM, tại cấp độ dự án,

nó giúp tổ chức hiệu quả hơn tập hợp các vấn đề môi trường (kể cả đa dạng sinh học) trong phạm vi chiến lược và ngay thời điểm ban đầu trong quá trình ra quyết định [89] ĐMC đòi hỏi các phương pháp và công cụ như Hệ thống thông tin địa lý (GIS) tập trung vào các biện pháp đối với từng tác động hoặc từng phương pháp như Phân tích lợi ích chi phí giúp cho người ra quyết định dễ tiếp cận hơn Vì vậy, đặc tính của các tác động được đánh giá và các đề xuất cho tuyến đường ưu tiên, biện pháp giảm thiểu, đền bù và quan trắc sau đó được đưa ra Các bên liên quan tham gia cũng là một yêu cầu quan trọng trong ĐMC [59, 107, 112]

Mục đích điển hình về mặt môi trường đối với các ĐMC trong các hoạt động giao thông vận tải có thể bao gồm các vấn đề về chất lượng không khí, nước và đất,

đa dạng sinh học và tiếng ồn, có thể bao gồm cả các vấn đề khác như tác động của việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất, biến đổi khí hậu Trong vấn đề đa dạng sinh học, một ĐMC có thể cung cấp thông tin tổng quan ban đầu về những vấn đề có khả năng liên quan đến quy hoạch vận tải Ứng dụng này có thể giúp giảm nguy cơ tiềm ẩn các tác động của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đối với các sinh cảnh và cảnh quan có giá trị được bảo vệ Bởi vậy, theo Treweek, Hankard, Arnold và Thompson (năm 1998) cho rằng, một đề xuất phát

Trang 34

triển đường bộ thích hợp với các yêu cầu bắt buộc mang tính quốc tế sẽ đảm bảo cho việc bảo tồn các sinh cảnh cần được bảo vệ và các loài sinh vật sống trong đó [119] Công ước về Đa dạng Sinh học đề xuất cách tiếp cận hệ sinh thái là một khuôn khổ phù hợp để đánh giá các chính sách và các hoạt động quy hoạch liên quan đến giao thông vận tải [89]

 Quản lý tài nguyên dựa trên hệ sinh thái và dựa vào cộng đồng trong phát tri n giao thông đường bộ

Cách tiếp cận dựa trên HST (Ecosystem-based approach) là chiến lược do Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) đề xuất, đầu tiên là để quản lý tài nguyên đất, nước và sinh vật nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững các dạng tài nguyên này một cách công bằng IUCN đã đưa ra một quy trình gồm 12 nguyên tắc, được tổ chức thành 5 bước hướng dẫn áp dụng cách tiếp cận này trong quản lý tài nguyên [34, 63, 111]

Với cách tiếp cận trên hoàn toàn phù hợp trong nghiên cứu phát triển giao thông đường bộ Loại hình phát triển cơ sở hạ tầng này hầu hết đều liên quan đến sử dụng tài nguyên đất, nước và đa dạng sinh học và phải được đặt trong một mối quan

hệ phát triển bền vững để đảm bảo được tính bảo tồn ĐDSH, sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH và chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên [63]

Chương trình Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ được Liên Hiệp Quốc phát động trên cơ sở của cách tiếp cận này, trong đó tập trung phân tích mối quan hệ giữa HST (bao hàm cả HST giao thông đường bộ) đặc biệt là dịch vụ các HST và

phúc lợi của con người (Hình 1.6) [111, 115]

Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó, gồm: (i) Dịch vụ cung cấp (cung cấp các loại vật liệu, cây thuốc, thực phẩm, nước ; (ii) Dịch vụ điều tiết (điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, điều hòa nguồn nước, dịch bệnh…); (iii) Dịch vụ văn hóa - tinh thần (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật và các lợi ích phi vật chất khác,

và (iv) Dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình

Trang 35

sinh địa hóa, dòng năng lượng…) Mặt khác, con người lại tác động vào hệ sinh thái thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển KT-XH (nguyên nhân sâu xa) – tác động chính làm suy thoái các HST/ĐDSH Cần nhấn mạnh rằng mối tương tác giữa con người và HST có sự thay đổi qua lại và chịu sự tác động ở các cấp: địa phương, quốc gia và quốc tế

Hình 1.6 Mối liên quan giữa các dịch vụ hệ sinh thái và

các thành tố của cuộc sống thịnh vượng

Nguồn: [34, 111]

Con người, theo quan niệm hiện đại, đã trở thành trung tâm của HST, với hai nghĩa: i) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và ii) Các

Trang 36

hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người [111]

Như vậy, tiếp cận dựa trên HST đặt con người và thực tế sử dụng tài nguyên của mình là trung tâm của khung hoạch định chính sách Để khai thác các lợi ích từ các dịch vụ HST, con người đã đưa ra các lựa chọn hay đánh đổi trong việc ra quyết định của mình về quản lý liên quan đến các HST, làm thay đổi chức năng và dịch vụ

Sự tham gia của cộng đồng trong các dự án giao thông đường bộ bởi các nhóm lợi ích khác nhau sẽ quan tâm đến những vấn đề khác nhau Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch là những cách thức sử dụng tài nguyên trong các dự án giao thông sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống cộng đồng

Trên thế giới, các nước phát triển đã sớm nhận thức được vai trò, ảnh hưởng quan trọng của cộng đồng dân cư trong quá trình phát triển Nhiều nước đã ban hành những quy định cụ thể, rõ ràng yêu cầu các nhà đầu tư phát triển, quản lý dự

án giao thông phải có những hành động thiết thực, thể hiện sự tôn trọng các ý kiến của cộng đồng dân cư nơi dự án được triển khai

Một trong những hình thức quản lý tài nguyên thu được hiệu quả cao là quản

lý dựa vào cộng đồng Đó là một hình thức quản lý đã và đang áp dụng ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển Phương pháp này

Trang 37

lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý tài nguyên, môi trường Đưa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý tài nguyên, trực tiếp tham gia trong nhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện Đây là hình thức quản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực

tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng [30, 51, 122]

Theo Vandergeest (năm 2006), quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trong phát triển giao thông đường bộ là một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương [123] Quyền sử dụng đất, các quyền đối với đất và rừng là những yếu tố quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng Colchester (năm 1995) cho rằng khi quyền về đất của cộng đồng bị suy giảm và quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường thì việc quản lý tài nguyên theo truyền thống bị ảnh hưởng tiêu cực [90] Lynch và Alcorn (năm 1994) tranh luận rằng người dân địa phương có thể quyết định về tài nguyên, ngay cả trong trường hợp nhà nước đã công bố quyền sở hữu, mặc dù quyết định của chính phủ có thể làm mất đi động lực quản lý tài nguyên bền vững của cộng đồng [110] Vì thế cần bảo vệ quyền tài sản của cộng đồng Colchester nêu rõ quản

lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có tác động tích cực đến đa dạng sinh học [90]

Vai trò tham gia của cộng đồng được thế giới đánh giá rất cao Gần đây theo quan điểm của Elinor Ostrom (năm 2007) về phân tích kinh tế học (Đại học Indiana,

Mỹ - giải thưởng Nobel khoa học 2009), các cộng đồng địa phương (những người

sử dụng tài nguyên) có thể tự mình quản lý công sản tốt hơn so với các quyền lực áp đặt từ bên ngoài [114] Các nhà quản lý quan liêu thường không có thông tin chính xác, còn các công dân và người sử dụng tài sản đó lại nắm rõ thông tin hơn ai hết Công sản là những tài nguyên mà nhiều người có thể sử dụng nhưng việc tiêu dùng của người này làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia, ví dụ như bãi cá, đồng

cỏ, rừng, nước, không khí, đại dương… [113, 114]

Trang 38

Theo quan điểm của Ostrom (1992, 2007), muốn quản lý hiệu quả, cần phải dân chủ hóa quá trình ra quyết định, tức là đa số người sử dụng phải có quyền tác động tới việc điều chỉnh thay đổi quy định Chính quyền phải tôn trọng quyền của cộng đồng những người sử dụng tài nguyên Thêm vào đó, việc giám sát và thực thi nên để những người sử dụng tự thực hiện thay vì do người bên ngoài [113, 114]

1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

a Nghiên cứu về hệ sinh thái – xã hội ở Việt Nam

Hiện nay, các nghiên cứu về hệ sinh thái – xã hội ở trong nước chưa được đề cập đến nhiều Các khái niệm về sự tương tác giữa hệ sinh thái và hệ xã hội mới chủ yếu đề cập trong phạm trù sinh thái nhân văn Khoa học sinh thái nhân văn được Lê Trọng Cúc và Terry Rambo (1995) đưa vào Việt Nam từ những năm 90 thế kỷ

trước Theo các ông, “sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu v mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường”, khái niệm này dựa trên nguyên tắc “quan

hệ có hệ thống giữa xã hội loài người (hệ thống xã hội) và môi trường tự nhiên (hệ sinh thái)” [22, 46] Việc nhấn mạnh “Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu

mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường ở mức độ hệ thống” là một điểm quan trọng trong định nghĩa này Mục đích của nghiên cứu sinh thái nhân văn

là tìm hiểu, nhận biết đặc điểm và mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống với nhau

và sự hình thành những đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái Sinh thái nhân văn nghiên cứu ba vấn đề: (i) Các dòng năng lượng, vật chất, thông tin chuyển

từ hệ sinh thái đến hệ xã hội và từ hệ xã hội đến hệ sinh thái; (ii) Hoạt động của con người gây nên tác động đến hệ sinh thái; (iii) Hệ xã hội thích nghi và phản ứng trước thay đổi của hệ sinh thái [22, 46]

Nghiên cứu sinh thái nhân văn ở Việt Nam được thực hành gắn với các nghiên cứu ở miền núi hoặc nông thôn nông nghiệp [22, 46]

Nguyễn Thế Thôn (năm 2002) cho rằng, hệ sinh thái nhân văn là tổng thể của hai hệ thống, bao gồm hệ thống con người và kinh tế xã hội của nó cùng các sinh vật thuộc quần xã nhân văn và hệ thống môi trường sinh thái (môi trường sinh thái

tự nhiên và môi trường sinh thái nhân tạo) mà hai hệ thống đó tác động qua lại với

Trang 39

nhau trong sự thống nhất tương hỗ của tự nhiên và xã hội Hệ sinh thái nhân văn có lãnh thổ và ranh giới, lãnh thổ của hệ sinh thái nhân văn bao trùm lên các lãnh thổ sinh thái của các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo Có thể gọi lãnh thổ của HST nhân văn là lãnh thổ nhân văn Đó cũng chính là lãnh thổ hành chính của

xã hội loài người ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia, liên quốc gia [69]

Nếu thế giới sinh vật sống trong các hệ sinh thái và tiến hóa theo quy luật chọn lọc tự nhiên, thích nghi với sự thay đổi của điều kiện môi trường để phát triển, thì con người không như vậy mà tiến hóa theo hướng hoàn thiện và phát triển các công

cụ lao động Bằng cách đó, con người đã tạo ra một môi trường sống riêng cho mình – xã hội, hình thành hệ xã hội (có người còn tách thành một quyển riêng - Nhân quyển - Homosphere) [121]

Theo Trương Quang Học và cộng sự (năm 2013 và 2014), cũng có quan điểm chung với với các nhà nghiên cứu trên thế giới, hệ sinh thái – xã hội là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn Hệ sinh thái – xã hội là hệ gồm cả con người, tự nhiên và các yếu tố xã hội, trong đó nhấn mạnh vào thể chế [35-37]

Như vậy có thể thấy, trong nghiên cứu giao thông đường bộ, chính sự tương tác giữa hệ xã hội (phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy kinh tế, kết nối xã hội) và hệ sinh thái (các hệ sinh thái liên quan mà phát triển giao thông đường bộ sử dụng) trên một khu vực, vùng lãnh thổ nhất định đã tạo ra hệ sinh thái – xã hội

Tiếp cận với những quan điểm trên, luận án cho rằng, áp dụng nghiên cứu hệ sinh thái – xã hội cho các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc phát triển giao

thông đường bộ là hoàn toàn phù hợp (Hình 1.7)

Chúng tôi quan niệm rằng, thi công xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông (xây dựng tuyến đường TTBG Tây Nguyên) chính là một trong các tương tác (I) của hệ sinh thái xã hội được quyết định bởi một trong những yêu cầu của xã hội (thể chế - S) và nó được gắn vào trong mối tương tác liên quan với các hệ sinh thái (ECO) Kết quả các tác động (O) là ổn định chính trị, giữ vững an ninh - quốc phòng, sự biến động về sử dụng đất, phát triển kinh tế - xã hội, di dân, suy giảm hệ sinh thái, ĐDSH là biểu hiện trạng thái hành động do các tương tác (I) tạo ra Các

Trang 40

hợp phần này tạo nên một hệ sinh thái - xã hội, nó có liên quan với các hệ sinh thái -

xã hội khác hoặc nó là thượng hệ, hạ hệ nếu xem xét gắn kết tích hợp các yếu tố của các hợp phần trong đó

Hình 1.7 Khung phân tích hệ sinh thái - xã hội trong nghiên cứu đường tuần tra biên giới Tây Nguyên

Nguồn: [37, 114]

Tiếp cận nghiên cứu giao thông dựa trên hệ sinh thái – xã hội có thể thấy việc nhấn mạnh vào yếu tố thể chế, đặt trọng tâm việc ra quyết định của con người trong hệ này

Hệ thống tài

nguyên (RS)

(đất, nước,

ĐDSH, ranh

giới, quy mô )

Đơn vị tài nguyên (RU)

(Tính biến động, tỷ lệ phát

triển, phân bố không gian)

Trạng thái hành động Các tương tác (I) Kết quả các tác động (O)

UBND huyện, xã, các đơn vị Bộ, Ngành;

Luật tục địa phương (GS)

Đồng bào DTTS TC, MĐ (A)

Xã hội, Kinh tế và Quản lý Nhà nước (S) (Ổn định chính trị, giữ vững AN-QP, phát triển KT, chính sách)

Các hệ sinh thái liên quan (ECO) (Hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ, HST nông nghiệp, HST giao

thông) Nguyên nhân trực tiếp Thông tin phản hồi

XD cơ sở hạ tầng Khai thác tài nguyên Chuyển đổi MĐ SDĐ

Giữ vững AN-QP Phát triển KT-XH Biến đổi ĐDSH, HST

Di dân, Biến động SDĐ

Ngày đăng: 21/03/2020, 00:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w