1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tiếng dân tộc kinh ở quảng tây trung quốc

341 95 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 341
Dung lượng 4,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, những tài liệu ―Kinh tộc giản sử‖ Nxb Dân tộc Quảng Tây, năm 1984, ―Điều tra lịch sử xã hội của dân tộc Kinh Quảng Tây‖, ―Thông chí Quảng Tây - ngôn ngữ dân tộc thiểu số chí P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ XẢO BÌNH (Li Qiaoping)

NGHIÊN CỨU TIẾNG DÂN TỘC KINH Ở

QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 2

Hà Nội - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ XẢO BÌNH (Li Qiaoping)

NGHIÊN CỨU TIẾNG DÂN TỘC KINH Ở

QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Mã số: 62 22 01 25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 3

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS Trần Trí Dõi

Hà Nội - 2012 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập tại Việt Nam, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn– ĐHQGHN, và của rất nhiều bạn bè, tôi xin gửi lời cảm ơn đối với tất cả các thầy cô, các bạn đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 5

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với GS.TS Trần Trí Dõi, người thầy, và đã tận tình hướng dẫn chỉ đảo tôi hoàn thành luận án này Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo của Học viện Ngoại ngữ Đại học Dân tộc Quảng Tây đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập

ở Việt Nam Cuối cùng tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình đã luôn động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận án

Trang 6

DANH MỤCQUY TẮC VIẾT TẮT, PHIÊN ÂM QUỐC TẾ

2 Phiên âm quốc tế

Phiên âm quốc tế đƣợc sử dụng trong luận án là phiên âm quốc tế

International Phonetics Alphabet.

Trang 7

Danh mục các hình vẽ, bảng biểu, đồ thị

Bảng 2-1: Cấu trúc âm tiết tiếng Kinh

Bảng 2-2: Danh sách các thanh trong tiếng Kinh

Bản g 2- 3: Bảng so sánh để nhận diện thanh bằng với các thanh còn lại trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh

Bảng 2- 4: Bảng so sánh để nhận diện thanh huyền với các thanh còn lại trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh

Bảng 2-5: Bảng so sánh để nhận diện thanh hỏi với các thanh còn lại trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh

Bảng 2-6: Bảng so sánh để nhận diện thanh sắc với các thanh còn lại trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh

Bảng 2-7: Bảng so sánh để nhận diện thanh nặng với các thanh còn lại trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh

Bảng 2-8:Bảng những từ vay mƣợn đƣợc VTQ cho là có thanh 7’ trong tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

Trang 8

Bảng 2- 9:Bảng biểu hiện nét khu biệt các thanh trong tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

Bảng 2-10:Bảng phân xuất âm đầu trong tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

Bảng 2-11:bảng phụ âm đầu trong tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

Bảng 2-12: Bảng phân xuất âm đệm trong tiếng Kinh trong bối cảnh đồng nhất và tương tự

Bảng 2-13: Bảng phân xuất âm chính trong tiếng Kinh trong bối cảnh đồng nhất và tương tự

Bảng 2-14: Biểu kê vị trí, âm vực nguyên âm tiếng Kinh làng Vạn Vỹ Bảng 2-15: Bảng phân xuất âm cuối trong tiếng Kinh trong bối cảnh đồng nhất

Trang 9

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các quy tắc viết tắt, phiên âm quốc tế

Danh mục các hình vẽ, bảng biểu, đồ thị

MỞ ĐẦU……….………1

0.1.Lý do chọn đề tài……… 1

0.2.Khái quát về tình hình nghiên cứu tiếng Kinh………….………1

0.3.Nhiệm vụ và phạm vi tư liệu nghiên cứu của luận án……… …5

0.4.Phương pháp nghiên cứu………5

0.5.Đóng góp và ý nghĩa của luận án……… ……6

0.6.Cấu trúc của luận án……… 7

Trang 10

CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ CỦA TIẾNG KINH VÀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ

THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI……… 10

1.1 Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc……… 10

1.1.1.Tình hình chung của dân tộc Kinh……… 10

1.1.1.1 Tình hình hiện nay của dân tộc Kinh……….10

1.1.1.2 Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Kinh……….….11

1.1.2 Môi trường sinh thái tự nhiên và kinh tế xã hội của dân tộc Kinh………12

1.1.3 Khái quát về văn hóa truyền thống và tập tục của dân tộc Kinh………….13

1.1.3.1 Tôn giáo tín ngưỡng……… … 13

1.1.3.2 Ăn ở và đi lại………16

1.1.3.3 Trang phục……….17

1.1.3.4 Ngày lễ……… 18

1.1.3.5 Hôn nhân và tang lễ……… …21

1.1.3.6 Kiêng kỵ của dân tộc Kinh………22

1.1.3.7 Vui chơi giải trí của dân tộc Kinh……… 23

1.1.3.8 Văn học nghệ thuật của dân tộc Kinh………24

1.1.3.9 Kỹ thuật sản xuất của dân tộc Kinh……… 28

1.1.3.10 Danh nhân của dân tộc Kinh……….28

1.1.4 Môi trường của tiếng Kinh……… 29

1.1.4.1 Vị trí địa lý……… ….29

1.1.4.2 Giáo dục nhà trường ……… 30

1.1.4.3 Quan hệ dân tộc………31

1.1.4.4 Hôn nhân gia đình……….32

1.1.4.5 Hoàn cảnh xã hội……… 32

1.2 Nhận xét về tình trạng nghiên cứu tiếng Kinh đã có và cách tiếp cận của luận án……… 33

1.2.1 Bình luận tình hình nghiên cứu tiếng Kinh ở Trung Quốc……… … 34

1.2.2 Vấn đề mô tả một ngôn ngữ, trường hợp tiếng Kinh……… 36

1.3 Một vài vấn đề khác liên quan đến đề tài……….……….37

1.3.1 Cảnh huống ngôn ngữ……… …38

Trang 11

1.3.2 Tiếp xúc và vay mượn ngôn ngữ……… …39

1.3.3.1 Vay mượn từ vựng……….41

1.3.3.2 Giao thoa ngôn ngữ……… …44

1.3.3.3 Ngôn ngữ pha trộn……….46

1.3.3.4 Chuyển mã……… …… 47

1.3.3.5 Trộn mã……….…47

1.3.4 Thái độ ngôn ngữ……….47

1.4 Vấn đề tư liệu………49

1.4.1 Các bước thu thập tư liệu……….51

1.4.1.1 Thu thập những tư liệu liên quan đến đề tài……….51

1.4.1.2 Điêu tra điền dã……….…52

1.4.2 Tình hình tư liệu hiện nay………56

1.5 Tiểu kết……….………57

CHƯƠNG HAI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC NGỮ ÂM CỦA TIẾNG KINH………… ……60

2.1 Đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Kinh………60

2.1.1 Cấu trúc âm tiết của tiếng Kinh……… 60

2.1.1.1 Những nét cơ bản về âm tiết……… …… 60

2.1.1.2 Cấu trúc âm tiết của tiếng Kinh……… 61

2.1.2 Đặc điểm của âm tiết tiếng Kinh……….62

2.2 Bức tranh ngữ âm hiện nay của tiếng Kinh……… 63

2.2.1 Mô tả thanh điệu trong tiếng Kinh hiện nay……… 64

2.2.1.1 Thanh 1 (thanh bằng)……… 64

2.2.1.2 Thanh 2 (thanh huyền)………66

2.2.1.3 Thanh 3 (thanh hỏi )………67

2.2.1.4.Thanh 5 (thanh sắc)……… 69

2.2.1.5.Thanh 6 (thanh nặng)……… 70

Trang 12

2.2.2 Hệ thống ngữ âm đoạn tính trong tiếng Kinh……… …73

2.2.2.1 Phụ âm đầu………73

2.2.2.2 Âm đệm trong tiếng Kinh 82

2.2.2.3 Âm chính trong tiếng Kinh………83

2.2.2.4 Âm cuối 92

2.3 Tiểu kết 95

2.3.1 Tóm lược về hệ thống ngữ âm của tiếng Kinh 95

2.3.2 Một vài lưu ý 96

CHƯƠNG BA MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP TIẾNG KINH 98

3.1 Đặc điểm từ vựng tiếng Kinh hiện nay 98

3.1.1 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Kinh hiện nay 100

3.1.1.1 Từ đơn tiếng Kinh 100

3.1.1.2 Từ phức hợp tiếng Kinh 101

3.1.2 Các lớp từ trong tiếng Kinh hiện nay 104

3.1.2.1 Các lớp từ vay mượn từ tiếng Hán 105

3.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo của từ vay mượn trong tiếng Kinh 107

3.1.3 Về một số kiểu từ trong tiếng Kinh 109

3.1.3.1 Từ đồng âm 109

3.1.3.2 Từ đồng nghĩa 111

3.1.3.3 Từ trái nghĩa……… 114

3.1.4 Ngữ cố định tiếng Kinh 115

3.1.4.1 Thành ngữ tiếng Kinh 116

3.1.4.2 Quán ngữ trong tiếng Kinh……….116

3.1.4.3 Tục ngữ tiếng Kinh 117

3.2 Đặc điểm cấu trúc của ngữ pháp tiếng Kinh 118

3.2.1 Phân loại từ tiếng Kinh thành từ loại 118

3.2.1.1 Danh từ 119

Trang 13

3.2.1.2 Động từ 121

3.2.1.3 Tính từ 124

3.2.1.4 Từ tượng thanh 125

3.2.1.5 Số từ……… 126

3.2.1.6 Đơn vị từ 130

3.2.1.7 Đại từ 132

3.2.1.8 Phó từ 136

3.2.1.9 Giới từ 139

3.2.1.10 Liên từ……… …141

3.2.1.11 Trợ từ 143

3.2.1.12 Thán từ……… 145

3.2.2 Đặc điểm cấu tạo đoản ngữ trong tiếng Kinh hiện nay……… 146

3.2.2.1 Đoản ngữ liên hợp……… 146

3.2.2.2 Đoản ngữ chính phụ 146

3.2.2.3 Đoản ngữ chủ vị 147

3.2.2.4 Đoản ngữ động bổ……… 148

3.2.2.5 Đoản ngữ bổ sung………148

3.2.2.6 Đoản ngữ đồng vị………148

3.2.2.7 Đoản ngữ liên vị 148

3.2.2.8 Đoản ngữ kiêm ngữ……… ………….148

3.2.3 Đặc điểm cấu tạo câu trong tiếng Kinh hiện nay 148

3.2.3.1 Thành phần câu đơn trong tiếng Kinh 149

3.2.3.2 Phân loại câu 151

3.2.4 Tiểu kết 153

CHƯƠNG BỐN TIẾNG KINH Ở QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI VÀ TIẾNG HÁN KHU VỰC……… 155

4.1 Những khác biệt ngữ âm của tiếng Kinh so với tiếng Việt hiện

Trang 14

4.1.1 Những khác biệt của ngữ âm tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại……… 156

4.1.1.1 Những khác biệt của thanh điệu tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại… 156

4.1.1.2 Những khác biệt của âm đầu tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại…….…160

4.1.1.3 Những khác biệt của phần vần tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại… …164

4.1.2 Những khác biệt của từ vựng và ngữ pháp tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại 170

4.1.2.1 Những khác biệt của từ vựng 170

4.1.2.2 Về trật tự câu 171

4.1.2.3 Về yếu tố ngữ pháp được mượn từ tiếng Hán 172

4.2 Tình hình sử dụng hiện nay và việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc 172

4.2.1 Một vài nét chính của tình hình sử dụng 172

4.2.1.1.Giai đoạn I 173

4.2.1.2 Giai đoạn II 173

4.2.2 Việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh 174

4.2.2.1 Văn hóa dân tộc Kinh đang được bảo tồn 175

4.2.2.2 Việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh 176

4.3 Tiểu kết cho chương 4 176

4.2.1 Tiểu kết thứ nhất 176

4.2.2 Tiểu kết thứ hai 179

KẾT LUẬN 181

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 187

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 188 Phụ lục

Trang 15

MỞ ĐẦU

0.1.Lý do chọn đề tài

Tiếng Kinh là tiếng nói của dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Theo những nghiên cứu đã có ở Trung Quốc, tổ tiên của người Kinh ở đây là người Đồ Sơn Hải Phòng Việt Nam [86, tr3] Vì thế, có thể cho rằng gốc của tiếng Kinh ở đây là tiếng nói của người miền Bắc Việt Nam

Do tách biệt lâu dài với sinh hoạt ngôn ngữ gốc đồng thời chịu ảnh hưởng của tiếng nói của các tộc người khác, tiếng nói của họ đã không phải là tiếng Việt thuần túy nữa Nó đã có sự thay đổi về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp so với tiếng Việt hiện đại

Ở Trung Quốc, đã có một vài công trình nghiên cứu về tiếng Kinh Quảng Tây Trong số đó, có công trình thì tương đối đơn giản (như ―Kinh ngữ giản chí‖ [KNGC], có công trình thì nội dung chi tiết (như ―Kinh ngữ nghiên cứu‖ [KNNC]) Tuy nhiên phần nhiều việc mô tả trong các công

trình ấy, chẳng hạn như mô tả ngữ âm, lại chỉ thiên về mô tả liệt kê nên

có nhiều kiến giải chưa thật thuyết phục cần phải được kiểm tra lại Vì vậy, việc nghiên cứu tiếng Kinh - một ngôn ngữ được giả định tách ra từ tiếng Việt trung cổ - như ngôn ngữ một dân tộc thiểu số ở Trung Quốc là điều hết sức cần thiết Điều đó sẽ không chỉ có giá trị to lớn trong việc nâng cao hiểu biết đầy đủ về tiếng Kinh, hiểu biết sự biến đổi của ngôn

Trang 16

ngữ sau khi tách ra khỏi tiếng Việt mà nó còn có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở khu vực

0.2.Khái quát về tình hình nghiên cứu tiếng Kinh

Ở Trung Quốc, trước đây tiếng Kinh rất ít được quan tâm đến Mãi cho đến những năm 50 thế kỷ XX, các cơ quan hữu quan mới bắt đầu điều tra tiếng Kinh một cách có hệ thống Năm 1953, Ủy ban dân tộc Trung Nam và Ủy ban Dân tộc Quảng Tây đã từng điều tra qua một lần

(được gọi tắt là ―Cuộc điều tra những năm 50‖) Kết quả điều tra là bản báo cáo ―Cuộc điều tra dân tộc Việt ở Phòng Thành‖, nhưng không xuất bản chính thức ―Cuộc điều tra dân tộc Việt ở Phòng Thành‖ đã dành 6

trang mô tả diện mạo của tiếng Kinh, nhưng nhìn chung cuộc điều tra đó không phải là tỉ mỉ lắm Sau đó vào các năm 1959, năm 1980 và năm

1981, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thêm 3 cuộc điều tra nữa (được

gọi tắt là ―Cuộc điều tra những năm 80 thế kỷ XX‖) Trên tư liệu thu

được qua ba cuộc điều tra đó, ba nhà nghiên cứu Âu Dương Giác Á,

Trình Phương, Du Thúy Dung đã viết ra cuốn ―Kinh ngữ giản chí‖ và

được Nhà xuất bản Dân tộc Trung Quốc xuất bản chính thức vào năm

1984 ―Kinh ngữ giản chí‖ đã giới thiệu một cách vắn tắt nhưng bao gồm

cả về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh Sách cũng đề cập đến ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Kinh Đây là cuốn chuyên khảo đầu tiên viết về tiếng dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Cũng trong thời gian đó, Vương Liên Thanh đã có 2 bài báo nghiên cứu so sánh tiếng

Trang 17

Kinh với tiếng Việt, đó là ― So sánh hư từ của tiếng Kinh và tiếng Việt‖ (Ngữ văn dân tộc, số 6 năm 1983) và ―Bước đầu so sánh ngữ âm ba đảo

Kinh tộc và tiếng Kinh Hà Nội‖ (Nghiên cứu ngôn ngữ, số 2 năm 1984)

Ngoài ra, những tài liệu ―Kinh tộc giản sử‖ (Nxb Dân tộc Quảng Tây, năm 1984), ―Điều tra lịch sử xã hội của dân tộc Kinh Quảng Tây‖,

―Thông chí Quảng Tây - ngôn ngữ dân tộc thiểu số chí (Phần tiếng Kinh)‖ (Ủy ban biên soạn địa phương chí Quảng Tây, năm 2000) và

―Kinh tộc – sự điều tra làng Sơn Tâm thị xã Đông Hưng Quảng Tây‖

(Mã Cư Lý, Trần Gia Liễu, năm 2004, Côn Minh, Nxb Đại học Vân

Nam), ―Đi lại qua biên giới Trung Việt và thân phận xuyên quốc gia của

người Kinh Quảng Tây‖ (Trương Triệu Hoa, 4/2004, Hồng Kông, số 1,

cuốn hai Học san lịch sử nhân loại học), ―Ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Trung Quốc‖ (Viện Nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số Học viện Dân

tộc Trung ương, Nxb Tứ Xuyên, năm 1987) đều đã dành một số trang để giới thiệu diện mạo của tiếng Kinh Ngoài ra, cuốn ―Ngôn ngữ họ Môn

Khmer Trung Quốc và ngữ hệ Nam Á‖ (Nhan Kỳ Hương, Chu Thực Chí,

Nxb Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc, năm 1995) cũng giới

thiệu qua tiếng Kinh Điểm đáng chú ý trong sách này là các tác giả đã đề xuất thảo luận vấn đề tiếng Kinh thuộc họ ngôn ngữ nào Câu trả lời là tiếng Kinh thuộc ngôn ngữ họ Nam Á

Bước sang thế kỷ XXI, bài ―Sự biến đổi của tiếng Kinh Trung Quốc‖

của Vi Thụ Quan (Tạp chí ―Học viện Dân tộc Quảng Tây‖ Trung Quốc,

Trang 18

số 2 năm 2006) lần đầu tiên nghiên cứu tiếng Kinh từ góc độ biến đổi Về

tình hình sử dụng và việc bảo tồn tiếng Kinh, có bài ―Bản báo cáo điều

tra tình hình giáo dục và sử dụng tiếng Kinh‖ của Vi Gia Triều và Vi

Thịnh Niên (Tạp chí ―Đại học Dân tộc Trung ương‖ Trung Quốc, số 3

năm 2003) và ―Điều tra và nghiên cứu vấn đề sử dụng ngôn ngữ và văn

tự Quảng Tây‖ của Ủy ban công tác ngôn ngữ văn tự Khu tự trị dân tộc

Choang Quảng Tây (Nxb Giáo dục Quảng Tây, ngày 1 tháng 1 năm

2005) Ngoài ra, cuốn ―Bản báo cáo tình trạng đời sống ngôn ngữ Trung

Quốc năm 2005 (tập 1)‖ của Trung tâm giám sát và nghiên cứu tài

nguyên ngôn ngữ quốc gia (Thương vụ ấn thư quản, năm 2006) cũng đề cập đến tình hình sử dụng và bảo tồn của tiếng Kinh Về giao lưu ngôn

ngữ, Vương Thiệu Huy đã viết bài ―Thử bàn về hiện trạng giao lưu giữa

tiếng Kinh Quảng Tây với tiếng Hán và tiếng Việt Nam‖ (―Tung hoành

Đông Nam Á‖, số 12 năm 2005) Tháng 9 năm 2007, một công trình về

tiếng Kinh được xuất bản, đó là cuốn ―Tập bài sử ca chữ Nôm dân tộc

Kinh‖ Cuốn ―Tập bài sử ca chữ Nôm dân tộc Kinh‖ gồm 684 trang, đã

thu thập những bài hát về lịch sử dân tộc Kinh, những lời hát trong Ngày Hát của dân tộc Kinh và bài hát tự sự truyền thống của dân tộc Kinh Mỗi câu hát bằng chữ Nôm đều được đối chiếu với phiên âm quốc tế, và được dịch thẳng và dịch nghĩa ra tiếng Hán Chữ Nôm của dân tộc Kinh là những tài liệu quý báu để nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc Kinh Bảo tồn những tư liệu văn hóa chữ Nôm của dân tộc Kinh là một

Trang 19

phần quan trọng trong những thành phần quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Kinh Thu thập và chỉnh lí sách cổ và chữ Nôm dân tộc Kinh, làm cho nhiều sách cổ sắp bị thất lạc và chữ Nôm của dân tộc Kinh đƣợc giữ lại, điều đó có giá trị to lớn đối với việc nghiên cứu lịch sử văn hóa của dân tộc Kinh Tháng 12 năm 2009, một công trình nữa về tiếng Kinh rất đáng ghi nhận đƣợc ra mắt bạn đọc, đó là

cuốn ―Nghiên cứu tiếng Kinh‖ của Vi Thụ Quan gồm 594 trang, cuốn

sách đã mô tả tình hình dân tộc Kinh và hệ thống cấu trúc ngôn ngữ cũng nhƣ chữ viết của tiếng Kinh Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu tiếng Kinh toàn diện nhất, điển hình nhất theo cách mô tả của Trung Quốc về ngôn ngữ này

Ở Việt Nam, Hoàng Thị Châu cũng có một bài viết về tiếng Kinh bằng tiếng Anh là ―How is a Language Formed‖ (PAN-ASIATIC LINGUISTICS, January 8-10, 1996) Bài báo của giáo sƣ chủ yếu so sánh ngữ âm giữa tiếng Kinh và tiếng Việt

Nhìn lại tình hình nghiên cứu tiếng Kinh đã có, chúng ta thấy đa số đều là mô tả đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh với cách nhìn đồng đại Nhƣ chúng tôi đã nói ở trên, phần lớn những mô tả này đều là những mô tả liệt kê mà chƣa xuất trình đƣợc những minh chứng để chứng minh một cách thuyết phục, chẳng hạn, bức tranh ngữ

âm đó Cách miêu tả liệt kê, theo chúng tôi, có thể là phù hợp khi miêu tả

từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh Nhƣng việc miêu tả ngữ âm mà chỉ

Trang 20

dừng lại liệt kê thì những kết luận sẽ còn có đôi điều phải được thảo luận lại

Ngoài ra cũng đã có bài mô tả một số hiện tượng ngôn ngữ với cách nhìn lịch đại, chỉ ra sự phát triển diễn biến của tiếng Kinh Đồng thời cũng có bài so sánh theo cách đối chiếu tiếng Kinh với tiếng Việt Song chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về ngữ âm tiếng Kinh theo cách mô tả ngữ âm - âm vị học Cũng chưa có công trình nào nhấn mạnh một cách đầy đủ sự khác biệt giữa tiếng Kinh và tiếng Việt để chứng minh một cách thuyết phục trước đây chúng là một ngôn ngữ Đây chính là những vấn đề mà luận án chúng tôi sẽ bổ sung để góp phần có được một bức tranh mô tả hoàn chỉnh hơn nữa về tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc

0.3.Nhiệm vụ và phạm vi tư liệu nghiên cứu của luận án

Từ tình hình nghiên cứu đã có, luận án của chúng tôi đặt nhiệm vụ sau

đây Thứ nhất, mô tả theo cách mô tả ngữ âm - âm vị học hệ thống ngữ

âm tiếng Kinh; thứ hai, trên cơ sở mô tả ngữ âm của mình, luận án sẽ

bước đầu có những lý giải về sự khác biệt giữa tiếng Kinh với tiếng Việt

để nhìn nhận tính kế thừa về mặt lịch sử giữa hai ngôn ngữ Thứ ba là mô

tả về từ vựng và ngữ pháp của ngôn ngữ này Trong luận án, ở nhiệm vụ thứ ba chúng tôi mô tả bổ sung thêm cho những mô tả đã có, nhằm góp

phần làm cho bức tranh về tiếng Kinh được nhận diện đầy đủ hơn

Trang 21

Để thực hiện những nhiệm vụ chính nói trên, luận án sẽ lấy tiếng Kinh tại làng Vạn Vỹ (xã Giang Bình, thị xã Đông Hưng Quảng Tây Trung Quốc) làm đối tượng miêu tả chính Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, để có lợi cho việc lý giải về sự khác biệt giữa tiếng Kinh và tiếng Việt, chúng tôi có thể dẫn thêm tư liệu tiếng Kinh làng Sơn Tâm và

Vu Đầu Như vậy, phạm vi tư liệu của chúng tôi chủ yếu là tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

0.4.Phương pháp nghiên cứu

Luận án, như vậy chủ yếu là tiến hành nghiên cứu đồng đại tiếng Kinh Cụ thể là, cùng với những tài liệu đã có, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra điền dã để nắm được thêm tài liệu trực tiếp về tiếng Kinh Vạn Vỹ Trên cơ sở tư liệu đó, chúng tôi dành ưu tiên cho việc miêu tả đặc điểm ngữ âm của tiếng Kinh và trên cơ sở đó bước đầu giải thích một vài biến đổi ngữ âm của ngôn ngữ này Sau đó, trong chừng mực cho phép chúng tôi sẽ miêu tả bổ sung một vài nội dung về từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh

Thực hiện cách làm việc ấy, ngoài phương pháp thu thập tư liệu là

phương pháp nghiên cứu điền dã, phương pháp làm việc chính của luận

án là phương pháp miêu tả Ngoài ra, để phục vụ cho những nhiệm vụ

nghiên cứu chính, trong luận án chúng tôi cũng áp dụng những thủ pháp

nghiên cứu khác như thủ pháp thống kê, thủ pháp so sánh nhằm so sánh

Trang 22

tiếng Kinh với tiếng Việt hiện nay để chỉ ra sự khác biệt giữa tiếng Kinh với tiếng Việt

Ngoài ra, do hiện nay tiếng Kinh lại có một vài hiện tượng giống nhau với tiếng Hán nói chung và Việt phương ngữ nói riêng, cho nên khi cần

chúng tôi cũng áp dụng thủ pháp đối chiếu để qua đó bước đầu thử nêu

lên những nhận xét về tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Kinh với những ngôn ngữ nói trên Như vậy, tuy luận án lấy nghiên cứu đồng đại tiếng Kinh là chính nhưng đôi khi chúng tôi cũng có lý giải thêm về lịch đại để hiểu đồng đại một cách sâu hơn

0.5.Đóng góp và ý nghĩa của luận án

Chúng tôi nhận thấy luận án của mình có thể có hai đóng góp Thứ

nhất, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về ngữ

âm tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Bởi vì, những công trình có

trước chúng tôi, do những mục đích khác nhau đã mô tả theo nhiệm vụ của mình cả đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh nên thường miêu tả chưa thật chi tiết Vì thế, hiểu biết của chúng ta ở địa hạt này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu cho những nghiên cứu sâu hơn Do vậy, chúng tôi sẽ ưu tiên trước hết dành chương 1 cho việc miêu tả hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ Thứ hai, qua việc miêu tả ấy, đến lượt mình, nó sẽ làm sáng tỏ một vấn đề là tiếng Kinh ở Quảng Tây đã kế thừa ngữ âm tiếng Việt trước đây như thế nào trong một môi trường mới

Trang 23

Theo chúng tôi, cùng với hai đóng góp đó luận án cũng sẽ có những đóng góp về miêu tả ngữ pháp và từ vựng của tiếng Kinh Qua đó, chúng góp phần trình bày những chứng cớ thể hiện tiếng Kinh đã kế thừa tiếng Việt trước đây như thế nào Đồng thời, nó góp thêm tư liệu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tiếng Hán với tiếng Kinh Đó chính là ý nghĩa của luận

án đối với lý luận ngôn ngữ khi nghiên cứu lịch sử hay tiếp xúc ngôn ngữ

ở khu vực

Ở Trung Quốc, các nhà ngôn ngữ học đã coi tiếng Kinh là thứ ngôn ngữ có nguy cơ bị biến mất Vì vậy, mô tả chi tiết ngữ âm của luận án có một số ý nghĩa về thực tế như sau:

- Thứ nhất, luận án sẽ cung cấp một bức tranh toàn diện về tiếng Kinh

ở Quảng Tây Trung Quốc Từ đó nó sẽ cung cấp được những số liệu cụ thể về sự biến đổi của tiếng Kinh, góp sức vào việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số, một vấn đề luôn được Trung Quốc coi trọng Bởi vì Trung Quốc đã xếp ngôn ngữ có nguy cơ bị biến mất là loại di sản văn hóa phi vật thể

- Thứ hai, luận án cung cấp tư liệu góp phần chứng minh quy luật chung của tiếp xúc ngôn ngữ, quy luật đó là tiếp xúc - vay mượn - biến đổi nhờ sự giao lưu văn hóa giữa dân tộc Kinh và dân tộc Hán

- Thứ ba, qua luận án, có thể biết được tình hình của tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc và xu thế phát triển sau này của ngôn ngữ Điều

Trang 24

đó có giá trị cho việc nghiên cứu sự diễn biến ngôn ngữ của dân tộc Việt khi họ sinh sống ở nước ngoài, một nội dung mà Việt Nam rất quan tâm

0.6.Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương với

các nội dung chính như sau:

Chương 1: Cảnh huống ngôn ngữ của tiếng Kinh và một vài vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Ở chương viết này, trước hết luận án cung cấp cho người đọc một bức

tranh khái quát về ―Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc‖ Sau đó, chúng tôi sẽ trình bày một vài nội dung liên quan đến ―lý thuyết‖ phục vụ

cho nhiệm vụ của đề tài Cuối cùng, luận án cũng sẽ cung cấp để người đọc nhận biết quá trình thu thập tư liệu phục vụ cho mục đích mô tả của luận án

Chương 2: Mô tả đặc điểm cấu trúc ngữ âm của tiếng Kinh

Đây là một trong những chương thể hiện nhiệm vụ chính của luận án

Ở chương thứ hai này, luận án trước hết sẽ miêu tả những ―đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Kinh‖ Sau đó luận án sẽ miêu tả âm vị học ―bức tranh ngữ âm hiện nay của tiếng Kinh‖ thể hiện qua việc mô tả hệ thống thanh điệu, hệ thống ngữ âm đoạn tính tiếng Kinh Như vậy, với chương viết này, chúng tôi hy vọng người đọc sẽ nhận được một bức tranh toàn cảnh

và chi tiết về hệ thống ngữ âm tiếng Kinh, mà cụ thể là tiếng Kinh ở làng Vạn Vỹ

Trang 25

Chương 3: Một số đặc điểm cấu trúc từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh

Ở hai nội dung này, mô tả của Vi Thụ Quan [107], theo chúng tôi, là tương đối chi tiết Vì thế, trong chương thứ ba này, chúng tôi sẽ chỉ miêu

tả những gì mà công trình của Vi Thụ Quan chưa mô tả liên quan đến vấn

đề cấu tạo từ, các lớp từ vựng trong tiếng Kinh Cũng vậy, trong chương này, chúng tôi chỉ sẽ mô tả thêm một số ―đặc điểm cấu trúc ngữ pháp tiếng Kinh‖ mà chúng tôi nhận thấy chưa có ở công trình ―Nghiên cứu tiếng Kinh‖ Như vậy, việc mô tả hai bình diện này của tiếng Kinh cũng

là những nhiệm vụ chính của chúng tôi

Chương 4: Tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc trong mối tương quan với tiếng Việt hiện đại và tiếng Hán

Trong chương viết thứ tư này, chúng tôi sẽ trình bày một vấn đề cụ

thể như sau Khi đã cho tiếng Kinh là sự tiếp tục của tiếng Việt trước đây trong một môi trường mới, chúng ta cần nhận biết sự kế thừa ấy là như thế nào Chính vì vậy, qua mô tả chi tiết về ngữ âm làng Vạn Vỹ ở chương 2, chúng tôi bước đầu nhận diện ―những dấu ấn đáng chú ý‖ trong kế thừa tiếng Việt ở tiếng Kinh là gì Công việc chính của chương viết này là làm sáng rõ những khác biệt giữa mô tả của chúng tôi và mô tả của Vi Thụ Quan đã có trước đó Làm như vậy cũng có nghĩa là chúng tôi

sẽ chỉ ra ―những khác biệt của tiếng Kinh so với tiếng Việt hiện đại‖ về ngữ âm như thế nào Sau đó qua sự khác biệt ấy, bước đầu góp phần vào

Trang 26

việc lý giải đặc điểm phát triển của tiếng Kinh trong một môi trường mới

ở Trung Quốc

Cũng xin nói thêm là do khuôn khổ một luận án Tiến sỹ, với mục đích

mô tả toàn diện tiếng Kinh để góp phần cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cảnh về ngôn ngữ này, ở mỗi chưong viết dù có cố gắng kết quả miêu tả của chúng tôi cũng mới chỉ là bước đầu, bổ sung thêm cho những

gì đã có Hy vọng rằng, trong tương lai, từng vấn đề cụ thể như ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ này sẽ được mô tả sâu hơn ở mỗi một chuyên luận dàng riêng cho nó Nếu được như vậy, chắc chắn, từng nội dung sẽ có những thời lượng đủ cho việc trình bày chi tiết vấn đề

CHƯƠNG MỘT

Trang 27

CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ CỦA TIẾNG KINH VÀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc

1.1.1.Tình hình chung của dân tộc Kinh

1.1.1.1 Tình hình hiện nay của dân tộc Kinh

Dân tộc Kinh là một trong 55 dân tộc ít người của Trung Quốc, họ chủ yếu tập trung sinh sống tại ba làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu (hay còn có tên gọi khác là Mú Thầu) thuộc xã Giang Bình thị xã Đông Hưng thành phố Phòng Thành Cảng, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc Làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu được người Trung Quốc gọi là ―Kinh tộc ba đảo‖ Số người Kinh còn lại sống đan xen với đồng bào các dân tộc Hán, Choang và Dao tại các làng Đàm Cát, Hồng Khảm, Hằng Vọng, Trúc Sơn, Giang Sơn và Giang Long …cũng đều thuộc xã Giang Bình Theo kết quả thống kế dân số toàn quốc lần thứ năm (năm 2000), dân số dân tộc Kinh là 22,517 người, đứng thứ 41 trong số 55 dân tộc ít người Trung Quốc

Dân tộc Kinh có ngôn ngữ riêng của mình: tiếng Kinh Tiếng Kinh là công cụ giao tiếp chủ yếu của người Kinh trong cộng đồng Dân tộc Kinh không có chữ viết latinh, từ xưa đến nay đều sử dụng chữ Hán để ghi tiếng Kinh gọi là ―chữ Nôm‖ Tổ tiên của người Kinh đã từng tự tạo ra một loại chữ viết gọi là chữ Nôm này Họ kết hợp sử dụng chữ Nôm và

Trang 28

chữ Hán để viết kinh thư, ghi lại ca dao và văn hiến Nhưng vì số lượng của loại chữ viết Nôm có giới hạn, vì vậy người Kinh thường dùng chung với chữ Hán; đồng thời phạm vi lưu thông cũng có hạn, chỉ dùng để viết văn hiến, kinh thư và bài hát, chưa trở thành chữ viết thông dụng Cho đến nay vẫn chỉ có một số rất ít người Kinh biết được loại chữ viết Nôm này

Dân tộc Kinh lấy nghề cá làm chính, nông nghiệp trồng trọt làm phụ, thuộc loại hình kinh tế văn hóa nghề cá và nông nghiệp ven biển Nghề cá

là ngành nghề truyền thống của cư dân dân tộc Kinh Ngoài đánh cá ra, người Kinh còn bắt cua, ốc v.v…

Ngoài nghề cá ra, người Kinh cũng có sản xuất nông nghiệp, chủ yếu

là trồng lúa, khoai lang, ngô, khoai sọ và lạc v.v Vùng dân tộc Kinh còn trồng nhiều hoa quả nhiệt đới như chuối, nhãn, đu đủ, mít v.v

1.1.1.2 Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Kinh

Về nguồn gốc của dân tộc Kinh, chúng tôi đã tìm thấy những tài liệu

ghi trong cuốn Bản báo cáo điều tra về dân tộc Việt ở Phòng Thành năm

1953 như sau: Làng Vạn Vỹ vẫn giữ văn bản trả lời về khai thác ruộng

đất của dịch mục Võ Đình Tân, lý trưởng Ngô Đình Mễ, Sơn Vạn An Hải châu Vạn Ninh phủ Hải Ninh tỉnh Quảng An, trong văn bản có nhắc đến niên hiệu ―năm thứ mười hai Minh Mạng‖ và ―năm thứ mười tám năm Minh Mạng‖; quy ước làng dùng niên hiệu ―năm thứ hai mươi tám Tự Đức‖, trong đó có một bản ghi ―năm thứ ba Hồng Thuận, tổ tiên ta từ

Trang 29

quê hương Đồ Sơn phiêu bạt đến đây‖…sau khi tra cứu được biết, năm Hồng Thuận là niên hiệu của Lê Đồng Giao Chỉ đời Minh Trung Quốc, tức năm 1511; thời Minh Mạng tương đương với những năm Đạo Quang đời Thanh, còn năm thứ mười Tự Đức tương đương năm thứ sáu Hàm Phong đời Thanh, tức năm 1856… [113,tr18] Từ những nội dung của tài

liệu trên cho thấy, người ta có căn cứ để nói rằng tổ tiên người Kinh là

người miền Bắc Việt Nam

Trong thời kỳ đầu những năm 50 thế kỷ XX, ở Trung Quốc dân tộc Kinh từng được gọi là ―dân tộc Việt‖ Năm 1958, khi thành lập huyện tự trị các dân tộc Đông Hưng, dựa theo lịch sử, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, tập tục và nguyện vọng của người dân, và được sự phê duyệt của Quốc vụ viện Trung Quốc, dân tộc này được chính thức đặt tên là dân tộc Kinh

[113, tr19] Như vậy, tên gọi dân tộc Kinh được xuất hiện ở Trung Quốc

từ năm 1958 và nó được thay thế cho tên gọi dân tộc Việt trước đó

1.1.2 Môi trường sinh thái tự nhiên và kinh tế xã hội của dân tộc Kinh

Kinh tộc ba đảo Sơn Tâm, Vạn Vỹ và và Vu Đầu nằm ở cực tây nam đường biển Trung Quốc, nằm trong tọa độ địa lý 21°39 vĩ độ Bắc và 108°22 kinh độ Đông, trông ra Vịnh Bắc Bộ, phía sau là dãy núi Thập Vạn, cách Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không xa, trong

đó gần Việt Nam nhất là đảo Vạn Vỹ Tổng diện tích của Kinh tộc ba đảo

là 20,8 ki lô mét vuông Khí hậu của ba đảo này thuộc cận nhiệt đới, nhiệt

Trang 30

độ cao nhất trong năm là 34°c, nhiệt độ thấp nhất là 10°, nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5°c -25,1°c Bốn mùa không rõ rệt, tuy rằng mùa hè nhiệt độ khá cao, nhưng vì có gió biển điều tiết, cho nên cũng không khô ráo oi bức Lượng mưa đầy đủ, lượng mưa trung bình hàng năm 1300mm Địa hình của ba đảo không cao, chỉ cao hơn mặt biển 8 mét

Sau khi Trung Quốc thi hành chính sách cải cách mở cửa, người Kinh vừa sản xuất nông nghiệp, vừa tận dụng ưu thế địa phương, ra sức phát triển nghề cá, tính tích cực sản xuất của quần chúng nhân dân không ngừng được nâng cao, trình độ sản xuất kinh tế và mức sống nhân dân nâng cao hàng năm, nhiều loại hình kinh tế cũng xuất hiện, có một số người dân sản xuất nông nghiệp, một số người dân khác lại làm nghề cá truyền thống, còn có một số người Kinh đi buôn qua biên giới Hơn mười năm trở lại đây, ngươi Kinh ra sức phát triển ngành du lịch Bãi biển ở đảo Vạn Vỹ có màu vàng óng, nên được mệnh danh là ―bãi vàng‖ ―Bãi vàng‖ dài 8 cây số, phẳng lặng, sóng êm, nước ấm, là một bãi tắm thiên nhiên, trùng hợp với chủ đề ―biển cả, bãi cát, ánh nắng‖ của ngành du lịch quốc tế Dân tộc Kinh lại là một dân tộc xuyên quốc gia, có văn hóa tập tục truyền thống đặc biệt như trang phục, ăn uống, nhà ở, ngày lễ, ngày hát và biểu diễn đàn bầu v.v Ngành du lịch với đặc điểm của văn hóa truyền thống dân tộc Kinh ngày càng được phát triển Với sự phát triển những ngành nghề đa dạng này, dân tộc Kinh đã trở thành một dân tộc thiểu số giàu có nhất Trung Quốc Năm 2006, thu nhập bình quân đầu

Trang 31

người dân tộc Kinh là 3976 đồng nhân dân tệ, cao hơn 1176 đồng nhân dân tệ so với thu nhập bình quân đầu người Quảng Tây Diện tích nhà gạch bê tông cốt sắt bình quân đầu người là 30 Tỷ lệ phổ cập đồ điện gia dụng 96%, tỷ lệ phổ cập điện thoại cố định và điện thoại di động 90%,

tỷ lệ phổ cập xe máy 97%, có một số gia đình đã mua ô tô, máy tình cũng dần đi vào gia đình người Kinh [123]

1.1.3 Khái quát về văn hóa truyền thống và tập tục của dân tộc Kinh

Trong quá trình phát triển lâu dài, nhân dân dân tộc Kinh đã sáng tạo

và phát triển văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần phong phú rực rỡ bằng bàn tay và trí tuệ của mình Từ hiện trạng sản xuất, đời sống kinh tế, ăn ở

đi lại và tập tục, văn hóa nghệ thuật mang đậm sắc thái dân tộc vẫn giữ lại, chúng ta đều có thể lĩnh hội được văn hóa truyền thống của dân tộc Kinh

1.1.3.1 Tôn giáo tín ngưỡng

Phần lớn người Kinh đều là tín đồ Đạo giáo, trong đó cũng pha trộn một số thành phần Phật giáo và phù thủy Đạo giáo có quan hệ mật thiết với hoạt động sản xuất, nhất là quan hệ sản xuất nghề cá

Người Kinh cúng đa thần, thờ cúng ở dân gian mang đậm sắc thái tự nhiên; một phần là chịu ảnh hưởng của Đạo giáo và Phật giáo, một phần

là bắt nguồn từ truyền thuyết thần thoại của dân gian Những vị thần mà người Kinh thờ cúng thường chia thành ―gia thần‖, ―thần chùa‖, ―thần

Trang 32

đình‖ dựa theo nơi cúng và thần tự nhiên dân gian Thờ cúng thần linh dân gian, chú trọng trình độ tham dự của thần linh đối với sinh hoạt tập tục, chứ không quan tâm đến thần vị, thần cách và cao thấp của thần quyền

―Gia thần‖ thường chỉ những vị thần linh được thờ trong nhà, tức là tổ tiên Người Kinh cho tổ tiên là thần linh, có thể phù hộ con cháu mình Mỗi vị tổ tiên đều có bát hương cố định, mỗi khi ngày tết đến, ngày mồng một hoặc ngày rằm, hay sinh đẻ hoặc cưới xin đều thắp hương thờ cúng

tổ tiên

―Thần chùa‖ thường chỉ những vị thần được thờ trong đền chùa Ở vùng Kinh Quảng Tây, Chùa Linh Quang, Đền Ba Bà và Đền Phục Ba là những đền chùa thường thấy nhất Chùa Linh Quang thờ phật Quan Âm, Đền Ba Bà cũng thờ Phật Quan Âm, ngoài ra còn thờ công chúa Liễu Hạnh và Bà Đức Triều; còn Đền Phục Ba thì thờ tướng Mã Viễn thời Đông Hán

―Thần Đình‖ là những vị thần được thờ trong Hát Đình Các vị thần được cúng ở Hát Đình có quan hệ mật thiết với sinh hoạt tập tục của người Kinh ―Hát Đình‖ là nơi thờ cúng ―thần phù hộ làng xã‖, cũng là nơi nghị sự của làng xã, đồng thời còn là nơi thờ cúng thần linh, ăn cỗ làng, ca hát Trên bàn thờ Hát Đình đặt thần vị của các vị thần, nhưng thần linh của các đảo thờ cúng có khác biệt Hát Đình ở Vạn Vỹ và Vu Đầu thờ cúng Trấn Hải đại vương, An Linh đại vương và Quang Đạo đại

Trang 33

vương, gọi là ―năm linh quan‖, trong đó Trấn Hải đại vương là chủ thần, còn lại bốn vị thần khác là thần phụ Chủ thần được cúng ở Hát Đình đảo Sơn Tâm là Quang Đạo đại vương, thần phụ là Trấn Hải đại vương và Bản Kính đại vương Trấn Hải đại vương lại có tên gọi là ―Bạch Long Trấn Hải đại vương‖ Tương truyền, ngày xưa, ở hang Bạch Long có một con thần rết ăn thịt người, thường làm sóng làm gió, đánh lật tàu thuyền,

ăn thịt dân chài Dân chài không có cách gì khác, mỗi lần ra biển đành phải cho con thần rết ăn một người mới được Một hôm, có một vị thần tiên hóa thành một ông ăn mày đi tàu ra biển, ném một quả bí đỏ nóng bỏng vào miệng của con thần rết, và chặt nó thành ba khúc, cái đầu con rết hóa thành đảo Vu Đầu, phần mình hóa thành đảo Sơn Tâm, còn cái đuôi hóa thành đảo Vạn Vỹ, bộ răng hóa thành đảo Vạn Trụ (Trà Cổ của Việt Nam) Để ghi nhớ công ơn to lớn của vị thần tiên này, người Kinh ở

ba đảo này tôn vị thần là ―Bạch Long Trấn Hải đại vương‖ và thờ cúng ở Hát Đình Nhưng trên thực tế, mỗi khi đến ―Ngày hát‖, Trấn Hải đại vương lại là một trong những vị thần phải đi rước đón Cao Sơn đại vương lại gọi là thần Cao Sơn, tên gọi đầy đủ là thần thượng đẳng thái tạ thần Cao Sơn, là vị thần cai quản rừng núi Quảng Đạt đại vương có tên gọi đầy đủ là ―Thánh tổ linh ứng Quảng Đạt đại vương‖, An Linh đại vương có tên gọi đầy đủ là ―Điểm tước thần vũ An Linh đại vương‖ Quảng Đạt đại vương, An Linh đại vương và Quang Đạo đại vương là ba

Trang 34

vị thần làng xã, là ba vị thần ngoại lai theo tổ tiên người Kinh từ An Nam

đến ba đảo [124]

Các vị thần dân gian khác mà người Kinh thờ cúng nhiều nhất là ông Táo Quân (tức là vua bếp), ông Thổ Địa, Thiên Quan, Ông Biển, Bà Biển

Dân gian dân tộc Kinh cho rằng, Táo Quân là ―thiên thần‖ mà vua Ngọc Hoàng cử đi các gia đình để giám sát người dân trong trần gian Bài

vị thần của Táo Quân thường được đặt bên cạnh cái bếp, được hưởng thức ăn hàng ngày Vì vậy, ngoài ngày 23 tháng chạp ra, thường ngày thì không thờ riêng nữa Ngày 23 tháng chạp là ngày Táo Quân trở về thiên cung bẩm Ngọc Hoàng, trong những ngày Táo Quân đi vắng, nói năng làm việc đều có thể tùy tiện hơn Cho đến giao thừa, lại thắp hương cho Táo Quân, rước đón ông trở về trần gian

Người Kinh thường đặt khám thờ Thiên Quan và Thổ Địa trong sân nhà, ngay ở chỗ hướng về cổng phòng khách Khám thờ chia làm hai tầng, tầng trên là bài vị thần Thiên Quan, trên bài vị có ghi ―Thiên Địa nạp cát‖ Thần Thiên Quan và Thổ Địa do thần tự nhiên thiên địa lịch sử diễn biến mà thành, về sau thêm vào màu sắc của Đạo giáo, tức tôn thờ

―Thiên Quan ban phúc, Địa Quan xá tội‖ Thiên Quan và Thổ Địa do mỗi nhà tự thờ, cứ đến ngày tết và ngày mồng 1, ngày rằm âm lịch là thờ cúng

Trang 35

Ông Biển và Bà Biển là hai vị thần được người dân dân tộc Kinh thờ

ở bờ biển, không có bài vị thần Dân gian dân tộc Kinh quan niệm hai vị thần có thể chi phối được mùa của ngư nghiệp Vì thế, khi đan lưới mới hoặc đóng tàu mới xong, chưa ra biển đánh bắt cá, hoặc trước khi mùa đánh bắt cá bắt đầu hoặc sau khi mùa đánh cá kết thúc, người Kinh đều chuẩn bị đồ cúng, đến bờ biển cúng Ông Biển, Bà Biển, cầu nguyện ra biển bình yên, đánh bắt được nhiều cá

Đầu thế kỷ XX, giáo sĩ phương Tây vào vùng Kinh truyền đạo, một

số người Kinh bắt đầu theo đạo Thiên chúa, và xây nhà thờ ở Giang Bình, Hằng Vọng và Trúc Sơn, ở đấy cầu nguyện và làm lễ mi-sa theo giáo luật

1.1.3.2 Ăn ở và đi lại

Về mặt ăn uống, ngày xưa, đời sống người Kinh khá nghèo nàn, đồ ăn chính là cơm, đồ ăn phụ là ngô, khoai lang và khoai sọ v.v Từ khi cải cách mở cửa, người Kinh thường ăn các loại hải sản như cá, tôm, cua, ốc, cũng thích ăn xôi Phần lớn người Kinh đều thích ăn đồ ăn ngọt, nhất là thích đãi khách bằng cháo nếp ngọt Ngoài ra, người Kinh còn thích ăn nước mắm, phở và bánh đa

Đàn ông người Kinh cũng rất thích hút thuốc, nhất là thích hút thuốc lào Ngày xưa, phụ nữ thích ăn trầu cau, thích nhuộm răng đen, và cho là đẹp Hiện nay, vì quan niệm thẩm mỹ của người Kinh đã thay đổi, cho nên không còn ăn trầu cau nữa

Trang 36

Nhà ở truyền thống của người Kinh là nhà tranh Vách nhà tranh đan bằng gỗ và thanh tre, hay bôi lên một lớp bùn, mái nhà là tranh, lá cây hoặc rơm Nóc đỉnh còn chặn gạch hoặc đá để khỏi bị gió thổi mất Nhà tranh thường chia làm ba gian, bố mẹ ở gian giữa, con cái ở hai bên gian phòng Đến những năm 50 thế kỷ XX, theo sự phát triển của sản xuất, điều kiện nhà ở cũng được cải thiện Đã xuất hiện và phổ cập nhà đá, loại kiến trúc nhà ở đặc biệt Nhà đá là loại nhà ở lấy đá làm tường, tảng đá dài 75cm, rộng 25cm, cao 20cm Cả tòa nhà gồm ba gian, hai bên là buồng ngủ, gian giữa vừa là nơi cúng thần, vừa là nơi tiếp khách và nơi

ăn cơm, uống chè, trò chuyện Nhà tường đá mái ngói vừa chắc chắn bền lâu, lại chống gió chịu ẩm, rất thích hợp khí hậu và đời sống vùng ven biển, là phát minh sáng tạo kiệt xuất của nhân dân dân tộc Kinh Song vì khó lấy đá, đi mua lại đắt, vả lại rất nặng, vì vậy, đến những năm 90, nhà

đá dần được thay bằng nhà lầu bê tông cốt sắt, đặc điểm kiến trúc không khác gì dân tộc Hán

Mạng lưới giao thông của ba đảo rất tiện lợi Giữa ba đảo có đường nhựa nối tiếp với nhau, cũng có đường đến xã Giang Bình, xe cộ lớn nhỏ đều có thể qua lại Xa thì có đường nối với đường bộ cấp hai từ Phòng Thành đến Đông Hưng, hàng ngày có hơn mười chuyến xe đến Đông Hưng, Phòng Thành và Nam Ninh Đường biển có thể đến tận Vịnh Hạ Long Việt Nam

1.1.3.3 Trang phục

Trang 37

Trang phục truyền thống của người Kinh giản dị, đẹp mắt và thực dụng Phụ nữ thường mặc áo bà ba, quần rộng màu đen hoặc màu nâu, đi đất Khi đi ăn cỗ mới khoác một chiếc áo trắng, còn gọi là áo dài

Con trai dân tộc Kinh mặc áo tứ thân, thắt lưng, mặc quần rộng

Song, tùy theo sự phát triển của xã hội, mức sống nâng cao và ảnh hưởng của văn hóa Hán, từ những năm 20, 30 thế kỷ XX, trang phục của người Kinh bắt đầu thay đổi, đến những năm 50, người mặc trang phục người Hán ngày càng nhiều, từ những năm 80 trở về sau, ngoài những ông bà già 70, 80 tuổi ra, còn lại đều không mặc trang phục truyền thống của mình nữa, chỉ trong những ngày lễ long trọng, phụ nữ người Kinh mới mặc trang phục truyền thống của mình

1.1.3.4 Ngày lễ

Dân tộc Kinh có bảy ngày lễ lớn trong một năm, đó là Ngày Hát1, Tết Nguyên Đán, tết Thanh Minh, tết Đoan Ngọ, tết Trung Nguyên, tết Trung Thu và Tết Ăn cơm mới Trong đó Ngày Hát là ngày lễ long trọng nhất của dân tộc Kinh

Theo người Kinh kể, nguồn gốc của Ngày Hát có hai lý do: một là bắt nguồn từ truyền thuyết về Trấn Hải đại vương, vì người Kinh coi Trấn

1 ―Ngày Hát‖ của dân tộc Kinh có hai nghĩa: một là ―ăn‖, hai là ―hát‖, vì ngày tết đó là ngày tế thần, tức rước

thần về ăn, nghe hát, dân làng cũng tập trung lại để ăn và ca múa Ở làng Sơn Tâm, nơi tổ chức ngày tết này gọi là― ”, tức ―ăn đình‖, tên gọi ngày tết này là ―Ngày Ăn‖; còn làng Vu Dầu và Vạn Vỹ lại gọi là― ‖,tức

Trang 38

Hải đại vương là thần bảo vệ mình, năm nào cũng rước về cúng, lâu rồi thì hình thành ngày tết truyền thống của dân tộc mình Truyền thuyết thứ hai là: trong thời nhà Trần, có một vị thần hát đến vùng dân tộc Kinh, lấy danh nghĩa là múa để động viên nhân dân dân tộc Kinh nổi dậy chống nền thống trị của nhà Trần, được nhân dân dân tộc Kinh yêu mến và ngưỡng mộ Về sau nhân dân xây ―Hát Đình‖ và thờ ông ấy

Thời gian tổ chức ngày hát của dân tộc Kinh không hoàn toàn giống nhau Vạn Vỹ và Vu Đầu tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 6 âm lịch, còn Sơn Tâm lại tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 8 Nơi hát là hát ở đình làng Cứ đến Ngày Hát, người Kinh dù già hay trẻ, nam hay nữ đều mặc quần áo rực rỡ của ngày lễ, tập trung trước hát đình rước thần, tế thần, ca hát, cầu nguyện được mùa, thịnh vượng

Ngày hát thường kéo dài ba ngày Trong ba ngày hát này có các trình

tự như sau: rước thần, tế thần, ăn cỗ, ca hát và tiễn thần Đến ngày hát, đoàn người rước thần khiêng xe thần đến bãi biển, hướng về biển cả, tổ chức nghi thức đơn giản rước thần về hát đình Dọc đường, người dân dân tộc Kinh đều đốt pháo để chào mừng Ba giờ chiều ngày đầu bắt đầu

tế thần Trước hết là chủ tế đọc văn tế, rồi thắp hương và dâng rượu, đồng thời hát ―bài thắp hương‖, nhảy ―múa dâng rượu‖ và ―múa thiên đăng‖ v.v để bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với thần linh Tiếp theo là ăn

cỗ Theo quy định, sau khi tế thần, miễn là con trai 18 tuổi trở lên là có thể ngồi mâm tham gia ca hát, nhưng phải ngồi theo thứ bậc, mỗi mâm 6

Trang 39

đến 8 người, vừa ăn cỗ vừa nghe hát, thưởng thức điệu múa Còn phụ nữ thì không thể ngồi ăn cùng, chỉ có thể ngồi bên cạnh bưng thức ăn và nghe hát, như thế diễn ra ba ngày ba đêm liền Vai chính của ca hat có ba người, một nam hai nữ Vai nam gọi là ―anh hát‖, còn vai nữ thì gọi là

―cô hát‖ ―Anh hát‖ chỉ đánh đàn đệm nhạc, hai ―cô hát‖ thì lần lượt hát Lời hát viết bằng chữ Nôm, nội dung của bài hát chủ yếu phản ánh lịch sử truyền thống của dân tộc Kinh, truyền thuyết của Ngày Hát, chẳng hạn như ―Thần linh linh‖, ―Để đời sau ghi nhớ mãi‖ v.v Ca hát xong là Ngày Hát kết thúc

Ngày hát là tín ngưỡng dân tộc của dân tộc Kinh, cũng là một hoạt động vui chơi giải trí văn hóa dân gian do làng xã tổ chức Khi đến Ngày Hát, những người Kinh bất cứ công tác ở đâu, dù bận như thế nào, cũng tranh thủ về nhà dự Ngày Hát, ngoài ra còn mời bạn bè Việt Nam đến dự Ngày hát được du nhập vào Trung Quốc theo dân tộc Kinh đã mấy trăm năm, đây là một ngày hội truyền thống mang đậm nét văn hóa hải dương,

là sự thể hiện quan trọng của tín ngưỡng thần biển và nghệ thuật văn hóa truyền thống của dân tộc Kinh Năm 2006, Ngày Hát của dân tộc Kinh đã được xếp vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp nhà nước Trung Quốc

Người Kinh cũng ăn tết Nguyên Đán như người Hán, nhưng cũng có một số tập tục riêng của mình Ngày ba mươi tết, nhà nào cũng chuẩn bị thức ăn sẵn và khoai lang, ngày mồng một Tết thì ăn những đồ ăn sẵn,

Trang 40

không nấu nướng nữa Người Kinh làm như thế có ngụ ý ―niên niên có dư‖, tức năm nào cũng có nhiều thứ dư thừa, nghĩa là sung túc Chiều đến hát đình tế thần, thờ cúng tổ tiên Sáng ngày mồng 1 Tết nhà nào cũng đến bên cạnh cái giếng thắp hương tế thần, mua ―nước mới‖, cầu chúc gia đình mình năm mới sung túc hơn năm cũ Ngày đó người Kinh cũng không ăn thịt, chỉ ăn cháo ngọt, bánh chưng và khoai lang Ngày mồng 1 Tết người Kinh thường không đi chúc Tết bạn bè họ hàng, cũng không thích người khác đến nhà mình chúc Tết Cho đến ngày mồng 2 Tết mới

ra ngoài chúc Tết bạn bè, họ hàng Những hoạt động ngày Tết của dân tộc Kinh kéo dài đến ngày 15 tháng riêng mới kết thúc

Tết Thanh Minh Vì chịu ảnh hưởng của phong tục người Hán địa phương, ngày mồng 3 tháng 3, tức tết Thanh Minh, người Kinh ở đảo Sơn Tâm cũng mang xôi, thịt lợn đi tảo mộ thờ cúng tổ tiên Nhưng người Kinh ở đảo Vu Đầu và Vạn Vỹ không tảo mộ vào tết Thanh Minh, mà là tảo mộ vào ngày 20 đến 30 tháng 12 âm lịch, cho rằng làm như thế để đón tổ tiên về nhà ăn tết

Tết Đoan Ngọ Theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và mức sống nâng cao, tục ăn tết Đoan Ngọ cũng thay đổi dần Những năm 80 thế kỷ

XX, cứ đến ngày mồng 5 tháng 5, nhà nào cũng làm bánh giầy gói bánh

tẻ, sáng thờ cúng thần linh và tổ tiên, trưa ăn bánh tẻ, ngoài ra còn dùng

lá ngải cứu đan một con hổ con treo trước cửa để trừ tà đuổi ma Tùy theo

sự tiến bộ của xã hội, ít có người treo lá ngải cứu nữa, mà thay vào đó là

Ngày đăng: 21/03/2020, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w