Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở lãnh thổ Gia Lai làm cơ sở khoa học phục vụ cho mục đích bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nói chung và tổ chứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Đức Tuệ
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI BẰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN
ĐỊA LÝ PHỤC VỤ DỰ PHÒNG BỆNH SỐT RÉT Ở LÃNH THỔ TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 62 85 15 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ ĐỊA LÝ
Hà Nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
1 Chương 1 cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu dịch bệnh
sốt rét theo quan điểm địa lý y học
5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 5
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm và phân vùng dịch tễ sốt rét trên thế giới và ở
2 Chương 2 các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
sự phát sinh và lan truyền dịch bệnh sốt rét ở Gia Lai
2.3.5 Yếu tố nhận thức, thái độ và hành vi về phòng, chống bệnh sốt rét 76
3 Chương 3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét ở Gia Lai 80
Trang 33.2.1 Theo vùng địa lý tự nhiên 83
3.3 Biến động số lượng muỗi Anopheles tại các vùng sốt rét lưu
hành
90
4 Chương 4 dự báo nguy cơ sốt rét và đề xuất một số giải pháp
tăng cường công tác y tế dự phòng bệnh sốt rét ở Gia Lai trên
cơ sở ứng dụng hệ thống thông tin địa lý
101
4.1 ứng dụng Hệ thông tin địa lý và phương pháp toán trong dự
178
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Hoá chất diệt muỗi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5STT Tên và nội dung bảng Trang
3 Bảng 2.3 So sánh mức thu nhập bình quân giữa Gia Lai và phụ
6 Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu chung của Ngành Y tế tỉnh Gia Lai 72
8 Bảng 2.8 Một số chỉ số về trung học chuyên nghiệp và cao đẳng,
đại học
75
9 Bảng 2.9 Thông tin về bệnh sốt rét qua các kênh thông tin 76
10 Bảng 2.10 Kết quả điều tra kiến thức, thái độ và hành vi của người
dân sống trong các vùng cây công nghiệp
77
12 Bảng 3.2 Phân bố muỗi Anopheles theo vùng địa lý tự nhiên 84
13 Bảng 3.3 Phân bố muỗi Anopheles theo các dạng sinh cảnh 87
14 Bảng 3.4 Phân bố bọ gậy muỗi Anopheles trên một số dạng thuỷ
21 Bảng 4.2 Danh mục đối tượng địa lý cơ sở (nhóm Hạ tầng dân cư) 105
22 Bảng 4.3 Thuộc tính đối tượng địa lý cơ sở (nhóm Địa giới hành
chính)
106
23 Bảng 4.4 Thuộc tính đối tượng địa lý cơ sở (nhóm Hạ tầng dân cư) 106
24 Bảng 4.5 Lược đồ ứng dụng CSDL nền địa lý tỷ lệ 1/50.000 107
Trang 625 Bảng 4.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh sốt rét và chỉ số của
chúng
121
26 Bảng 4.7 Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ tự nhiên bệnh dịch sốt rét 123
27 Bảng 4.8 Mức nguy cơ sốt rét tự nhiên và phân bố theo đơn vị
hành chính
123
28 Bảng 4.9 Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ thực tế bệnh dịch sốt rét 125
29 Bảng 4.10 Mức nguy cơ sốt rét thực tế và phân bố theo đơn vị hành
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Hình 1.1 Sơ đồ phân vùng dịch tễ sốt rét và can thiệp ở Việt Nam và
khu vực Miền Trung - Tây Nguyên
9
3 Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của muỗi Anopheles truyền sốt rét 28
4 Hình 1.4 Sơ đồ lây truyền bệnh sốt rét (Vũ Thị Phan, 1996) 32
9 Hình 2.4 Bản đồ phân tầng độ cao theo quy luật phân bố muỗi 53
15 Hình 2.10 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Gia Lai năm 2007 61
16 Hình 2.11 Bản đồ mật độ dân số (theo đơn vị hành chính cấp xã) tỉnh
Gia Lai
65
17 Hình 2.12 Phân bố bệnh nhân sốt rét các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên 68
19 Hình 2.14 Cơ sở dữ liệu Mạng giao thông khu vực Tây Nguyên 73
27 Hình 3.8 Tình hình sốt rét ở Gia Lai giai đoạn 2000-2005 98
Trang 832 Hình 4.2 Lược đồ ứng dụng CSDL GIS Gia Lai (nhóm Hạ tầng dân cư) 108
34 Hình 4.4 Siêu dữ liệu địa lý tỷ lệ 1/50.000 khu vực tỉnh Gia Lai 112
36 Hình 4.6 Giao diện hệ quản trị CSDL địa lý tỉnh Gia Lai 113
37 Hình 4.7 Tra cứu, tìm kiếm thông tin địa lý theo địa danh 114
38 Hình 4.8 Phân tích địa hình từ Mô hình số độ cao tỉnh Gia Lai 114
39 Hình 4.9 Phân tích, triết xuất thông tin bằng công cụ của Hệ chuyên gia 115
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết: Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng, tuy
có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, nhưng là địa bàn rộng, địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng kém, dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu Bệnh sốt rét ở Gia Lai vẫn còn diễn biến phức tạp và dai dẳng Năm 2007 toàn tỉnh có 2 trường hợp tử vong, năm 2008 tổng số người mắc sốt rét trên địa bàn tỉnh giảm, nhưng số ca tử vong lên đến 5 trường hợp Chỉ 3 tháng đầu năm 2009, số người mắc tăng 15,18%, KSTSR tăng 45,90% so với cùng kỳ năm 2008, đã có 2 trường hợp tử vong
Bệnh sốt rét chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện môi trường, có tính địa phương, phát sinh và phát triển theo mùa Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở lãnh thổ Gia Lai làm cơ sở khoa học phục vụ cho mục đích bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nói chung và tổ chức công tác y tế dự phòng bệnh sốt rét nói riêng là vấn đề cần thiết, cấp bách
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Đánh
giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội bằng hệ thống thông tin địa lý phục vụ dự phòng bệnh sốt rét ở lãnh thổ tỉnh Gia Lai"
2 Mục tiêu và nhiệm vụ: Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát sinh và lan truyền dịch bệnh sốt rét trên cơ sở ứng dụng GIS, nhằm mục tiêu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá; Dự báo nguy cơ sốt rét tự nhiên và nguy cơ sốt rét thực
tế ở Gia Lai, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác y tế
dự phòng Nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra gồm 1) Tổng quan cơ sở
lý luận, phương pháp nghiên cứu nguyên nhân và môi trường lan truyền bệnh sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam; 2) Nghiên cứu hiện trạng các yếu tố môi trường, điều kiện dịch tễ ảnh hưởng trực tiếp tới nguyên nhân phát sinh và lan truyền bệnh sốt rét ở Gia Lai; 3) Đề xuất
Trang 10- 2-
các giải pháp quy hoạch, tổ chức công tác y tế dự phòng dịch bệnh sốt rét nói riêng, dịch bệnh truyền nhiễm nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu: Về không gian được giới hạn trong lãnh thổ
tỉnh Gia Lai Về khoa học: Xây dựng các chỉ tiêu về nguyên nhân phát
sinh và cơ chế lan truyền bệnh dịch sốt rét ở Gia Lai; Dự báo nguy cơ sốt rét và đề xuất một số giải pháp phòng, chống dịch bệnh sốt rét trên
cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa lãnh thổ, các điều kiện địa lý và công tác y tế dự phòng dịch bệnh sốt rét
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Về ý nghĩa khoa học: Mở rộng
khả năng ứng dụng phương pháp nghiên cứu địa lý với việc hỗ trợ ra quyết định bằng GIS giải quyết các vấn đề cấp bách mang tính chất xã
hội, trong đó có dịch bệnh sốt rét Ý nghĩa thực tiễn: 1) Xây dựng tập
bản đồ chuyên đề về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, điều kiện dịch tễ và cơ sở dữ liệu tỉnh Gia Lai phục vụ quản lý, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ; 2) Đề xuất giải pháp và tăng cường công tác bảo đảm y tế dự phòng trong điều kiện cụ thể ở Gia Lai nhằm phòng, chống dịch bệnh sốt rét nói riêng, dịch bệnh truyền nhiễm nói chung,
từ đó, có thể áp dụng phương pháp nghiên cứu này vào các mục lĩnh vực khác
5 Những điểm mới của luận án: 1) Đã xác lập được tiêu chuẩn
đánh giá nguy cơ sốt rét tự nhiên và nguy cơ sốt rét thực tế ở Gia Lai; 2) Đã xây dựng tập bản đồ chuyên đề và cơ sở dữ liệu địa lý trên cơ sở
áp dụng Quy chuẩn thông tin địa lý quốc gia, phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh sốt rét của Gia Lai; 3) Dự báo nguy cơ tự nhiên và thực tế bệnh sốt rét ở Gia Lai với sự hỗ trợ của GIS và phương pháp toán; 4) Điều chỉnh một số giải pháp thích hợp phòng chống bệnh sốt rét trên quan điểm địa lý y học
6 Những luận điểm bảo vệ
Trang 11-Luận điểm 1: Trên quan điểm Địa lý y học, dịch bệnh sốt rét
được coi là một loại hình tai biến tự nhiên - nhân sinh, có tính địa phương, phát sinh và phát triển theo mùa, ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ cộng đồng, có nguy cơ phát triển mạnh ở vùng núi, cao nguyên tỉnh Gia Lai
-Luận điểm 2: Ứng dụng hệ thông tin địa lý và các phương pháp
toán định lượng trong quản lý và dự báo nguy cơ dịch bệnh sốt rét ở Gia Lai rất hiệu quả, có độ tin cậy cao, là cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp quy hoạch và tăng cường công tác y tế dự phòng dịch bệnh sốt rét ở Gia Lai
7 Cấu trúc của luận án: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án
gồm 04 chương được trình bày trong 142 trang đánh máy, có sử dụng
30 bảng, 42 hình, biểu đồ, bản đồ và 05 phụ lục để minh họa
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU DỊCH BỆNH SỐT RÉT THEO QUAN ĐIỂM ĐỊA LÝ Y HỌC 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét
- Bệnh và dịch bệnh sốt rét: Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm
lan truyền từ người bệnh qua người khác thông qua muỗi Anopheles cái mang KST, là một bệnh xã hội tồn tại dưới trạng thái thông thường
là SRLH địa phương và trạng thái đột biến là dịch sốt rét Dịch sốt rét
xuất hiện khi ở nơi đó số ca mắc mới tăng đột ngột so với diễn biến bình thường, có lây truyền tại chỗ, trong một quần thể di cư, tối thiểu
là cụm dân cư, một thôn, bản, buôn
- Tác nhân gây bệnh: Triệu chứng lâm sàng của bệnh đã được mô
tả từ thế kỷ 5 trước Công nguyên Phải đến năm 1880, Laveran mới phát hiện được mầm bệnh trong máu của bệnh nhân, gọi là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) Người ta đã xác định có 4 loài KSTSR gây
Trang 12- 4-
bệnh cho người là P.falciparum, P.vivax, P.malariae và P.ovale Ngoài
ra, có thêm các á chủng: P.vivax hibernans, P.vivax St Elizabeth Sự
phân bố các loài KSTSR chi phối đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét ở từng khu vực Ở Việt Nam, đã tìm thấy cả 4 loài KSTSR với cơ cấu:
P.falciparum (80-85%), P.vivax (15-20%), P.malariae (1-2%) và hiếm
gặp P.ovale
- Nguồn gây bệnh: Nguồn nhiễm là bệnh nhân sốt rét và người
mang KSTSR lạnh (người khoẻ mang KSTSR, hoặc mang KSTSR, nhưng không có triệu chứng của bệnh)
- Vectơ truyền bệnh sốt rét: Muỗi Anopheles cái là vectơ duy nhất
truyền bệnh sốt rét Điều kiện để có vectơ là KSTSR sống trong cơ thể muỗi; muỗi sống đủ thời gian để KSTSR hoàn thiện chu kỳ thoa trùng
và muỗi cái đốt người hút máu, hình thành chu trình lây truyền bệnh Hiện nay, người ta đã xác định được trên 600 loài Anopheles, khoảng
70 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét và 40 loài là vectơ chính
- Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch bệnh sốt rét: Có nhiều yếu tố
khác nhau tác động, nhưng có thể thu gọn lại thành hai nhóm nhân tố chính: các yếu tố tự nhiên và các yếu tố kinh tế-xã hội (hình 1.1)
Sự tồn tại và phát triển của bệnh, dịch sốt rét dựa trên sinh cảnh của 3 nhân tố chính là con người, vectơ và ký sinh trùng Nguy cơ phát sinh tập trung vào 4 nhân tố tự nhiên chính là khí hậu, độ che phủ thực vật, địa hình và thuỷ văn
Môi trường tự nhiên và sinh học: Sinh địa cảnh, độ cao
tuyệt đối, nhiệt độ, độ ẩm thực vật, côn trùng
Bệnh nhân sốt rét
Người mang KST lạnh
Muỗi Anopheles cái Cá thể, tập thể cảm thụ
Trang 13Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch bệnh sốt rét (Vũ Thị Phan, 1996)
Các điều kiện kinh tế xã hội, tập quán có ảnh hưởng đến sự lan truyền của dịch bệnh: kiến thức và thái độ của cộng đồng về sức khoẻ
và vệ sinh phòng dịch, yếu tố quy hoạch kinh tế xã hội, mức sống và tập quán, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí
- Mùa sốt rét: Bệnh sốt rét lây truyền quanh năm và có 1 đến 2 đỉnh cao Nếu vectơ chính là An.minimus: sốt rét có hai đỉnh cao vào đầu và cuối mùa mưa Nếu vectơ chính là An.dirus thì chỉ có 1 đỉnh cao vào giữa mùa mưa Nếu có cả hai loại vectơ An.minimus và
An.dirus thì đỉnh cao kéo dài suốt mùa mưa
1.1.2 Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
- Sốt rét trên thế giới: Theo WHO, năm 1993 dân số thế giới là 5
tỷ 540 triệu người thì có đến 2 tỷ 20 triệu người (chiếm 36%) sống trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH), 9% dân số sống trong vùng SRLH nặng Hàng năm, khoảng 300-500 triệu người mắc bệnh, từ 5- 6 triệu
ca sốt rét có KSTSR, thực thế con số này ước tính lớn hơn gấp 4-5 lần
- Sốt rét ở Việt Nam: Trước năm 1945, SRLH rộng rãi không chỉ ở
các tỉnh miền núi như Lào Cai, Yên Bái mà còn lan về các tỉnh đồng bằng gây nên những vụ dịch ở Hà Đông, Bắc Ninh Giai đoạn 1958-
1964, Miền Bắc thực hiện chiến lược tiêu diệt bệnh sốt rét và giành được thành tựu to lớn Giai đoạn 1985-1992, do khủng hoảng kinh tế
và biến động xã hội lớn sau chiến tranh, nguồn lực cho phòng, chống sốt rét cạn kiệt, dịch sốt rét quay trở lại trong phạm vi cả nước, đỉnh cao vào năm 1991, với hơn 1 triệu người mắc, 144 vụ dịch và 4.646 người chết Những năm gần đây nguy cơ dịch trở lại rất lớn, khi các biện pháp phòng, chống thiếu tích cực, không còn hiệu quả
1.1.3 Phân vùng dịch tễ sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
Môi trường kinh tế – xã hội: Hoạt động kinh tế, trình độ xã
hội, nghề nghiệp, phong tục tập quán
Trang 14- 6-
- Trên thế giới: Gilles (1938) phân vùng dịch tễ sốt rét theo khí
hậu Lysenko và Samaschko (1968) phân chia theo vùng địa lý và các tiểu vùng theo những loại hình sốt rét khác nhau WHO dựa vào chỉ số lách (CSL) và phân thành 4 vùng dịch tễ sốt rét: Vùng sốt rét lưu hành (SRLH) nhẹ: CSL < 10%, SRLH vừa (11-50%), SRLH nặng (>50%)
và SRLH rất nặng (trên 75%) Đến năm 1979, WHO lại chia theo các loại hình sốt rét: Sốt rét ở vùng bìa rừng; Vùng kinh tế khai hoang; Cộng đồng kinh tế du canh, du cư; Vùng trồng bông; Sốt rét ở những vùng chính trị, xã hội không ổn định
- Ở Việt Nam: Đã có 4 lần phân vùng dịch tễ sốt rét và 1 lần điều chỉnh phân vùng Giai đoạn 1931-1936: Các tác giả người Pháp phân
chia thành các vùng: Vùng ven biển nước lợ, Vùng đồng bằng nước ngọt (không có SRLH), Vùng đồi quá độ, đồi thấp, đồng cỏ hoặc rừng thưa (có SRLH nhẹ), Vùng đồi cao, núi đá thấp, độ cao từ 200-500m, nước chảy (SRLH nặng), Vùng núi rừng Tây Nguyên (SRLH rất nặng),
Vùng cao từ 1100-1200m (không có SRLH) Giai đoạn Tiêu diệt sốt
rét (1958-1964): Đặng Văn Ngữ phân thành 7 vùng sốt rét theo sinh
cảnh: Vùng đồng bằng, độ cao từ 0-50m (không có SRLH), Vùng nước chảy núi đồi thấp, 100-200m (có SRLH nhẹ), Vùng nước chảy, núi đồi, 200-400m (có SRLH vừa), Vùng nước chảy, núi rừng, 400-800m (SRLH nặng), Vùng cao nguyên, địa hình tương đối bằng phẳng, có khe suối, khí hậu lạnh (SRLH ở mức độ vừa và nhẹ), Vùng núi cao trên 800-1500m, khe suối ít, nước chảy thành thác, khí hậu lạnh quanh năm (không có SRLH), Vùng đồng bằng ven biển nước lợ (có SRLH nhẹ)
Sau năm 1975: Vũ Thị Phan đã phân vùng dịch tễ sốt rét trên cả nước
thành 5 vùng dịch tễ và thực hành, kế thừa sự phân vùng của Đặng Văn Ngữ khi dựa vào các yếu tố như: Yếu tố tự nhiên; Mầm bệnh; Yếu tố
về kinh tế – xã hội; Mạng lưới y tế và chuyên khoa sốt rét
Trang 15Hiện nay, do đặc điểm địa hình, sinh cảnh, vai trò của An.minimus
và An.dirus, điều kiện kinh tế xã hội và mạng lưới y tế cơ sở, khu vực
Miền Trung - Tây Nguyên được chia theo 5 vùng dịch tễ sốt rét sau:
1) Vùng sốt rét tản phát; 2) vùng SRLH nhẹ; 3) vùng SRLH vừa; 4) vùng SRLH nặng và 5) vùng SRLH rất nặng
1.1.4 Phòng, chống dịch bệnh sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam: Trên thế giới: Chiến lược tiêu diệt bệnh sốt rét bắt đầu từ năm
1955 với 4 giai đoạn: Chuẩn bị, tấn công, củng cố và bảo vệ thành quả Đến năm 1970-1978, tình hình tiêu diệt sốt rét trên thế giới càng trở nên khó khăn hơn vì nhiều loại muỗi Anopheles kháng hoá chất, hoặc trú ẩn ngoài nhà tăng lên Năm 1979, WHO ra nghị quyết chuyển hẳn
từ chiến lược tiêu diệt sốt rét sang chiến lược phòng chống sốt rét Năm
1998, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra sáng kiến “Đẩy lùi sốt rét”, tập trung vào hai nội dung quan trọng: Chẩn đoán, điều trị sớm sốt rét và phát triển các yếu tố phòng chống sốt rét bền vững
Ở Việt Nam: Chương trình tiêu diệt sốt rét ở Miền Bắc nước ta bắt
đầu từ năm 1958 Ngày 10/8/1961,Uỷ ban trung ương và các địa phương về tiêu diệt sốt rét được thành lập Đến 2/1991 phòng chống sốt rét chuyển từ giai đoạn thanh toán sốt rét không hạn định sang chiến lược phòng chống sốt rét Đến nay, chương trình thực hiện chiến lược PCSR đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song ở những vùng sốt rét lưu hành nặng vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố nguy cơ sốt rét quay lại
1.1.5 Các công trình nghiên cứu, điều tra cơ bản tỉnh Gia Lai
- Nhóm các công trình nghiên cứu các hợp phần tự nhiên: Đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá về tiềm năng của Tây Nguyên phục vụ cho mục đích quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ, nhưng trước tiên phải kể tới công trình điều tra tổng hợp do Nguyễn Văn Chiển (chủ biên, 1985 -1986) đề cập một cách tổng hợp, toàn diện
về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tây Nguyên, vẫn còn nguyên giá
Trang 16- 8-
trị cho tới tận ngày nay Ngoài ra, Về địa chất, địa mạo có các công
trình của Blondel.F, Burret.R, Fromaget.J, Jacob.Ch, Hoffet J.H được biên vẽ thành bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 và Bản đồ Địa chất Đông
Dương tỷ lệ 1/2.000.000; Về khí hậu, thủy văn và tài nguyên nước mặt,
với công trình nghiên cứu về dòng chảy ở Tây Nguyên của Ngô Đình
Tuấn, khí hậu Tây Nguyên của Nguyễn Đức Ngữ; Về địa chất thủy văn
và tài nguyên nước dưới đất có đề tài “Nước dưới đất Tây Nguyên”
của Nguyễn Thượng Hùng và của Ngô Tuấn Tú phục vụ công tác
điều tra, nghiên cứu tài nguyên nước ở cao nguyên Pleiku; Đất Tây
Nguyên cũng đã được khảo sát, xây dựng bản đồ tỷ lệ 1/100.000 với
mức độ phân loại khá chi tiết Ngoài ra, còn điều tra xây dựng các bản
đồ đất tỷ lệ 1/10.000, 1/25.000 cho một số vùng chuyên canh và nông
trường cao su, cà phê, chè; Về thực vật, có các công trình nghiên cứu
của M.Schmid, Nguyễn Văn Chiển, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá khả năng phát triển nông, lâm nghiệp của Tây Nguyên
- Nhóm các công trình nghiên cứu điều kiện dịch tễ: Vũ Thị
Phan (1980), Lê Khánh Thuận (1981) nghiên cứu về dịch tễ bệnh sốt rét; các nghiên cứu mùa bệnh sốt rét Tây Nguyên của Trần Quốc Tuý,
Võ Văn Nhẫn, Nguyễn Đức Mạnh (1980), nghiên cứu đặc điểm sinh thái dịch học và một số biện pháp phòng chống rốt rét ở các cụm nông trường cao su Đức Cơ Nguyễn Võ Hinh (2002) đưa ra các biện pháp
về tổ chức, kỹ thuật nhằm hạ thấp tỷ lệ mắc, tử vong do sốt rét Nguyễn Đắc Thành (2002) xây dựng mô hình giám sát với 10 biện pháp, thu được nhiều kết quả sau 2 năm thực hiện Tóm lại, có rất nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh dịch sốt rét ở Tây Nguyên, tuy nhiên sự đánh giá, phân tích chủ yếu trên khía cạnh lâm sàng bệnh học, ít chú ý tới sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường - là các yếu tố phát sinh, luôn tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh sốt rét tiềm tàng
1.1.6 Ứng dụng hệ thông tin địa lý trong nghiên cứu Địa lý y học: Trong các nghiên cứu về dịch bệnh và sức khoẻ, GIS đã được sử