Mặc dù chính sách kinh tế mới của Lênin chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn từ năm 1921 đến năm 1928 nhưng chính sách kinh tế mới nói chung, mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế v
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ TÂM HIẾU
BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V.I LÊNIN VÀ
SỰ VẬN DỤNG NÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ TÂM HIẾU
BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V.I LÊNIN VÀ
SỰ VẬN DỤNG NÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Thành
Hà Nội- 2012
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Ngọc Thành,
không trùng lặp với bất cứ một công trình nào được công bố trong thời gian gần đây, xcó kế thừa kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố Những tư liệu sử dụng để thực hiện đề tài được trích dẫn cụ thể, có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về nội dung luận văn này của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Lê Thị Tâm Hiếu
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Triết học- Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Học viện Quân y
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại Khoa Lý luận Mác- Lênin, Học viện Quân y đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt thời gian
qua Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Thành đã
trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu đáo trong quá trình em thực hiện và hoàn thành luận văn này
Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn luận văn này vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng toàn thể các bạn để luận văn này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Lê Thị Tâm Hiếu
Trang 55
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1 Tính cấp thiết của đề tài Error! Bookmark not defined.
2 Tình hình nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Error! Bookmark not defined.
7 Kết cấu của luận văn Error! Bookmark not defined NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN Error! Bookmark not defined Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V I LÊNIN VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Error! Bookmark not defined 1.1 Hoàn cảnh ra đời chính sách kinh tế mới của V I Lênin Error! Bookmark
not defined.
1.1.1 Tình hình nước Nga Xô viết trước khi áp dụng chính sách kinh tế mới
Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Từ chính sách “cộng sản thời chiến” sang chính sách kinh tế mới là một
sự thay đổi về biện pháp xây dựng nước Nga Xô viết của V.I Lênin Error!
Bookmark not defined.
1.2 Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin Error! Bookmark not defined.
1 2.1 Khái niệm kinh tế và khái niệm chính trị Error! Bookmark not defined 1.2.2 Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Error! Bookmark not defined 1.2.3 Chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế Error!
Bookmark not defined.
1.3 Khái niệm thị trường, kinh tế thị trường và tính tất yếu xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.3.1 Khái niệm thị trường, kinh tế thị trường Error! Bookmark not defined.
Trang 66
1.3.2 Tinh tất yếu xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam Error! Bookmark not
defined.
Chương 2: SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA LÊNIN VÀO VIỆC XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Error!
Bookmark not defined.
2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt về hoàn cảnh trong thời gian nước Nga
Xô viết thực hiện chính sách kinh tế mới và khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Error! Bookmark not defined 2.1.1 Những điểm tương đồng Error! Bookmark not defined 2.1.2 Những nét khác biệt Error! Bookmark not defined 2.2 Nội dung sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin vào xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Error! Bookmark not defined 2.2.1 Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Error!
Bookmark not defined.
2.2.2 Bảo đảm phát triển kinh tế với công bằng xã hội Error! Bookmark not
defined.
2.2.3 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước
Error! Bookmark not defined.
2.3 Những thành tựu đạt được và một số giải pháp để đảm bảo giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Error! Bookmark not defined 2.3.1 Những thành tựu đã đạt được Error! Bookmark not defined 2.3.2 Một số giải pháp để giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 77
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách đây hơn 150 năm, trên cơ sở phân tích sự phủ định biện chứng của chủ nghĩa Tư bản (CNTB), C Mác và Ph Ănghen đã nêu lên những lý luận cơ bản về CNXH Đó là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ, không còn áp bức, bất công Những quan điểm của C Mác và Ph Ănghen về Chủ nghĩa xã hội (CNXH) mới chỉ là những khái quát chung nhất về mặt lý luận
Sau này, V I Lênin là người đã đưa những lý luận về CNXH của Mác và Ănghen vào xây dựng nước Nga Xô viết Cách mạng tháng Mười Nga thành công và nước CNXH đầu tiên trên thế giới ra đời Trước sự bao vây, cấm vận của Đế quốc và bọn phản động, Lênin đã nhạy bén đổi mới tư duy lý luận về xây dựng CNXH hiện thực bằng việc thực hiện chính sách kinh tế mới để thay thế chính sách “cộng sản thời chiến” Nhờ chính sách kinh tế mới, Lênin đã bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” Trong chính sách kinh tế mới, Người đã khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị Người nhấn mạnh chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế và chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế Nguyên lý đó chỉ rõ rằng đường lối, chính sách phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế, đó là sự thể hiện nổi bật nhất sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa lý luận và thực tiễn Chỉ như vậy, chính trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ được vai trò của chính trị
Mặc dù chính sách kinh tế mới của Lênin chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn (từ năm 1921 đến năm 1928) nhưng chính sách kinh tế mới nói chung, mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị nói riêng mà Lênin đưa ra có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong xây dựng CNXH hiện thực Tác dụng đó không chỉ ở nước Nga Xô viết mà ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam dường như đang trở lại với những tư tưởng của Lênin trong chính sách kinh tế mới
Sau 25 năm đổi mới, thực tiễn trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phải vừa giữ vững ổn định chính trị, vừa phát triển kinh tế một cách bền vững Để làm được điều đó, Đảng phải luôn quan tâm và giải quyết một cách sáng suốt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, phải giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế và phát triển kinh tế là góp phần giữ vững ổn định chính trị Việc nhận thức được sự tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị, sự chi phối lẫn nhau giữa chúng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hoạch
Trang 88
định các chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước Để nhận thực mối quan hệ đó thì việc nghiên cứu chính sách kinh tế mới của Lênin, đặc biệt là nghiên cứu việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của Người, từ đó vận dụng vào thực tiễn Việt Nam là điều hết sức cần thiết Nó vừa có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Bởi vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Biện chứng giữa kinh tế và chính trị
trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin và sự vận dụng nó vào việc xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Chính sách kinh tế mới của Lênin đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu
Có một số tác giả đánh giá rất cao những nội dung mang tính chất cải cách kinh tế
trong chính sách kinh tế mới như: Anđơrét với cuốn sách “Tại sao cần tới chính sách
kinh tế mới”, Épghênhi Ambarrơxumốp với cuốn sách “Chính sách kinh tế mới qua lăng kính thời đại”
Ở Việt Nam, khi chúng ta đang tìm con đường để đổi mới, thoát khỏi khủng hoảng do nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang lại, thì chính sách kinh tế mới của Lênin là một cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp với tiến trình đổi mới ở Việt Nam Bởi vậy, nhiều học giả đã nghiên cứu những giá trị của chính sách kinh tế mới của Lênin và từ đó đánh giá, vận dụng vào sự phát triển của Việt Nam Một số tác giả ta
có thể kể đến như:
TS Trần Ngọc Hiên với “Chính sách kinh tế mới của Lênin và vận dụng vào
điều kiện ở nước ta” do Nxb Sự Thật xuất bản năm 1989 TS Lê Thanh Sinh với
“Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt Nam” do Nxb Chính trị Quốc Gia xuất bản năm 2000 TS Nguyễn Ngọc Thành với “Chính sách
kinh tế mới của V.I Lênin và cuộc sống đổi mới ở Việt Nam” và “Tính biện chứng trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” TS Phạm Ngọc Dũng với “Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng phát triển ở Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới”
Các đề tài trên đã có những đóng góp rất lớn trong việc nhận thức quan điểm của Lênin về việc xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đã góp phần vào phân tích sâu sắc những nội dung trong chính sách kinh tế mới Từ đó, các đề tài này
đã cho thấy được những giá trị trong chính sách kinh tế mới mà Việt Nam có thể kế thừa để đổi mới đất nước Các công trình này đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đường lối đổi mới và xây dựng đất nước của Đảng ta
Trang 99
Các nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu những nội dung có tính chất tổng hợp
trong chính sách kinh tế mới Đặc biệt trong cuốn sách “Tính biện chứng trong chính
sách kinh tế mới của V.I Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay ở Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Ngọc Thành đã nghiên cứu một cách chi
tiết nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh
tế mới Nhưng PGS chưa nghiên cứu một cách cụ thể sự vận dụng mối quan hệ này ở Việt Nam Ngoài ra, có một số học giả cũng nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và chính trị ở Việt Nam như Lê Văn Phụng với “Xử lý mối quan hệ chính trị
với kinh tế trong đổi mới”, Trần Đình Nghiêm “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị”, Vũ Văn Phúc “Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế”, luận
án Tiến sĩ của Lưu Thị Bích Thu “ Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay” có đề cập tới mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và chính trị ở Việt Nam nhưng lại đề cập rất khái quát quan điểm của Lênin
về mối quan hệ này
Bởi vậy, trong luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của Lênin
và sự vận dụng nó vào Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Từ quan điểm của Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới, khẳng định Đảng và Nhà nước ta đã lấy đó làm cơ
sở lý luận để thực hiện một số nội dung đổi mới đất nước Từ đó, luận văn đưa ra một số giải pháp để phát huy hơn nữa mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam
- Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau: + Phân tích làm rõ nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin thông qua các chính sách của Người
+ Phân tích làm rõ sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới để xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn mối quan hệ này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Trong chính sách kinh tế mới có rất nhiều nội dung Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chủ yếu đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới và sự vận dụng ở Việt Nam
Trang 1010
- Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc độ triết học, luận văn làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của Lênin, cũng như
sự vận dụng mối quan hệ này ở Việt Nam như thế nào
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Để thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt là lý luận của Lênin về xây dựng CNXH hiện thực, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng kinh
tế thị trường Ngoài ra, chúng tôi còn dựa trên sự kế thừa có chọn lọc những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện luận văn, chúng tôi dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích- tổng hợp, logic- lịch sử, so sánh, đối chiếu và một số phương pháp khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của Lênin, chỉ ra đó là cơ sở lý luận để Đảng ta thực hiện một số nội dung đổi mới
- Về mặt thực tiễn: Hoàn thành luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu về triết học Mác- Lênin, chính sách trong thời kỳ đổi mới của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khả, luận văn được kết cấu với 2 chương, 6 tiết
Trang 1111
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V I LÊNIN VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Hoàn cảnh ra đời chính sách kinh tế mới của V I Lênin
1.1.1 Tình hình nước Nga Xô viết trước khi áp dụng chính sách kinh tế mới
Cách mạng tháng Mười nổ ra và một đất nước CNXH đầu tiên trong lịch sử đã
ra đời ở nước Nga- Xô viết; đã biến những lý luận về CNXH của Mác- Ănghen thành hiện thực Tuy nhiên, một đất nước còn non trẻ, lại là một nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới nên luôn phải đương đầu với những chống phá từ bên trong và bên ngoài Bởi vậy, từ khi cách mạng tháng Mười thành công vang khắp năm châu, từ 1914 đến đầu năm 1921, trải qua 7 năm tồn tại, nước Nga Xô viết bị tàn phá nặng nề và lâm vào khủng hoàng trầm trọng Đó là do hai nguyên nhân chủ yếu
là chiến tranh và thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến”
Nguyên nhân thứ nhất: Sự tàn phá nặng nề của chiến tranh
Sau cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô viết chưa kịp bắt tay vào xây dựng CNXH đã phải đối đầu với chiến tranh liên miên Trong cuộc chiến tranh thế giới lần
I (1914- 1918), nước Nga đã bị tàn phá nặng nề Sau đó, nước Nga chỉ có được 4 tháng ( từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1918) là thời gian ngừng chiến để ký hoà ước Brét
và củng cố lại lực lượng Nhưng ngay sau đó, từ tháng 7/ 1918 đến tháng 3/ 1919 nước Nga phải đối mặt với cuộc nội chiến Lúc này, yêu cầu trước mắt là cần phòng thủ đất nước, động viên toàn bộ sức người, sức của để chống bọn phản cách mạng Điều quan trọng là phải đảm bảo lương thực đầy đủ cho quân đội và nhân dân thành phố, những người trực tiếp tham gia chiến tranh
Mùa hè năm 1919, giới cầm quyền ở Mỹ, Anh, Pháp và các nước khác của khối đồng minh lại mở một cuộc tiến công quân sự mới chống nước Nga Xô viết mà đứng đầu là kẻ phản cách mạng Đênikin Lúc này, nhân dân Xô viết phải đẩy lùi hai cuộc chiến tranh (nội chiến và can thiệp của nước ngoài) trong tình thế kinh tế hết sức khó khăn: thiếu nguyên nhiên liệu, giao thông rối loạn, dịch bệnh hoành hoành
Đầu năm 1920, nước Nga Xô viết về cơ bản đã lâm vào tình trạng kinh tế suy sụp nghiêm trọng do 4 năm chiến tranh đế quốc và 2 năm can thiệp vũ trang nước ngoài và nội chiến gây ra Chưa kịp bắt tay vào xây dựng, tháng 5/ 1920 đến tháng 11/ 1920, nước Nga Xô viết phải đối đầu với cuộc tấn công của khối đồng minh nhằm
đè bẹp hoàn toàn nước XHCN non trẻ, trong khi, trong nước cuộc nội chiến vẫn chưa
Trang 1212
kết thúc Nước Nga Xô viết non trẻ từ sau cách mạng tháng Mười phải liên tiếp đối đầu với 4 năm chiến tranh thế giới I và 3 năm nội chiến và can thiệp của nước ngoài Đến cuối năm 1920 chính phủ tư sản Ba Lan đã kí kết đình chiến Mưu toan của bọn
đế quốc tất cả các nước liên kết với bọn phản cách mạng trong nước hòng tiêu diệt nhà nước Xô viết đã hoàn toàn bị thất bại
Như vậy, từ năm 1914 đến 1920, nước Nga Xô viết liên tiếp xảy ra chiến tranh Thời gian tạm ngừng chiến chỉ đủ cho nước Nga Xô viết củng cố lại quân đội, thu dọn lại những đống đổ nát để tiếp tục chiến đấu, không còn thời gian cho việc xây dựng lại cơ sở hạ tầng cũng như chăm lo đời sống vật chất của nhân dân Lúc đó, cả nước Nga như một chiến trường và mọi người dân là những người chiến sỹ Đó là thời kỳ vô cùng khó khăn và túng quẫn Người ta chỉ có thể nghĩ làm sao để sống, để qua khỏi cuộc chiến tranh này, để chiến thắng một cách anh dũng, bảo vệ thành quả cách mạng chứ chưa thể nghĩ tới làm kinh tế như thế nào Lênin đã nhấn mạnh “nước Nga ra khỏi chiến tranh trong một tình cảnh giống như một người đã bị đánh gần chết, trong 7 năm trời, nó bị đánh khắp mình mẩy và may mà nó vẫn có thể chống nạng mà
đi được” [60,81] Trong các nước bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh đế quốc, không có một nước nào phải chịu đau khổ bằng nước Nga Trong đó, cuộc nội chiến đã làm nước Nga bị tàn phá và hoang tàn nhiều hơn, tai hại hơn cuộc chiến tranh với nước ngoài Do vậy, Lênin khẳng định chiến tranh “ là nguồn gốc chủ yếu gây ra những khó khăn mà chúng ta đang phải chịu đựng lúc này, lúc mà một lần nữa, vấn đề chủ chốt, vấn đề cơ bản của cách mạng lại là vấn đề quân sự, vấn đề chiến đấu…nhân dân
đã bị chiến tranh làm cho mệt mỏi và hơn bao giờ hết chiến tranh đã làm cho họ kiệt quệ hoàn toàn…là nguồn gốc chính của những khó khăn to lớn mà chúng ta đang phải chịu đựng”[54,17] Thời kỳ này có thể nhấn mạnh là thời kỳ biểu hiện mối quan
hệ chặt chẽ giữa chính trị và quân sự và nhiệm vụ của thời kỳ này cũng là chính trị và quân sự
Nguyên nhân thứ hai: Những hạn chế của chính sách “cộng sản thời chiến” được bộc lộ một cách rõ ràng sau chiến tranh
Trong 7 năm chiến tranh, để giúp nước Nga vừa có thể đương đầu chống lại thù trong, giặc ngoài, vừa xây dựng đất nước, Lênin đã dùng đến chính sách “cộng sản thời chiến”, một chính sách mà ngay cái tên của nó đã toát lên toàn bộ ý nghĩa: đây là chính sách của những người cộng sản nhằm bảo vệ đất nước trong thời chiến
Nội dung của chính sách “cộng sản thời chiến” nổi bật bao gồm việc thực hiện chế độ trưng thu lương thực thừa Chính sách này buộc những người nông dân phải
Trang 1313
nộp tất cả sản phẩm thừa, đôi khi cả sản phẩm nông nghiệp cần thiết của họ cho Nhà nước Việc thực hiện chính sách này về trước mắt sẽ có lương thực cho quân lính và người công nhân sản xuất và bảo vệ tổ quốc Đây cũng là điểm đặc biệt trong chính sách “cộng sản thời chiến” Nếu không làm như vậy thì theo Lênin “ chúng ta đã không thể thắng được bọn địa chủ và tư bản trong cái nước tiểu nông bị tàn phá này” [60, 264] Người còn khẳng định thêm: “ và việc chúng ta đã thắng…chẳng những chứng tỏ rằng công nhân và nông dân đều có khả năng làm những việc anh dũng phi thường trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mà còn chứng tỏ rằng bọn men-sê-vích, bọn xã hội chủ nghĩa- cách mạng, Cau-xky và bè lũ đã đóng vai trò đầy tớ của giai cấp tư sản, khi chúng trách chung ta về cái “chế độ cộng sản thời chiến” ấy Nhưng
đó lại là thành tích của chúng ta” [60, 264-265]
Ngoài việc thực hiện chính sách trưng thu lương thực thừa thì chính sách
“cộng sản thời chiến” còn nhấn mạnh tới việc hạn thế thương nghiệp, phân phối chủ yếu bằng hiện vật, nhanh chóng quốc doanh hoá và quản lý tập trung cao độ
Chúng ta khoan hẵng bàn những hậu quả mà chính sách “cộng sản thời chiến”
đã để lại Đầu tiên phải nhận thấy rằng, trong cuộc chiến tranh ác liệt, một mất một còn, khó khăn chồng chất, cái chết luôn cận kề thì chính sách “cộng sản thời chiến” là chính sách duy nhất phù hợp, duy nhất đúng Nó đã giúp nước Nga Xô viết sống sót
ra khỏi chiến tranh, chiến thắng cả thù trong giặc ngoài, đã làm cho Chủ nghĩa tư bản (CNTB) phải biết kiềng nể và bọn phản động phải rút lui Vị thế của Nhà nước Xô viết được củng cố và đồng thời nó biểu lộ sự bất lực của lực lượng Tư bản thế giới
Tuy nhiên bên cạnh đó cần phải khẳng định, chính sách này tuyệt nhiên không phải là chính sách của Chủ nghĩa cộng sản (CNCS) đích thực Chính khi nói về thời
kỳ này, Lênin thường chủ yếu, mặc dù không thường xuyên sử dụng từ “Chủ nghĩa cộng sản” và tính từ “ thuộc về chủ nghĩa cộng sản” trong ngoặc kép Là một người Mác xít có nhận thức sâu rộng, Người hiểu rõ tính hạn chế, tính ước lệ của những kết quả đạt được nhờ những biện pháp đó, bởi đó không phải là CNCS đích thực- chỉ có thể đạt được nhờ vào cơ sở vật chất- kỹ thuật phát triển cao và sản phẩm dồi dào Nước Nga Xô viết khi đó vẫn còn là một nước nghèo nàn lạc hậu, nền kinh tế nổi bật
là sự quyện chặt giữa Tư bản độc quyền hiện đại và tàn tích phong kiến hay mâu thuẫn giữa một bên là chế độ sở hữu ruộng đất lạc hậu và một bên là CNTB công nghiệp tài chính tiên tiến nhất
Việc thực thi chính sách “cộng sản thời chiến” cũng nhận được sự đồng thuận trong dân chúng rất cao Cần nhấn mạnh rằng việc chán ghét chiến tranh, mong muốn
Trang 1414
sớm chấm dứt cuộc chiến tranh này đã tạo nên một sự phản kháng ác liệt của các giai cấp trong các lĩnh vực của đời sống khác nhau, từ kinh tế đến chính trị và quân sự, đã thúc đẩy chính sách “cộng sản thời chiến” được thực thi nhanh hơn, tương ứng với nó
là có những biện pháp cách mạng kiên quyết trong những hoàn cảnh đặc biệt Chính lòng nhiệt tình sôi sục của quần chúng nhân dân đã đẩy việc thực hiện chính sách
“cộng sản thời chiến” lên cao trào Lúc đó “ được cao trào nhiệt tình lôi cuốn, chúng
ta, những người đã từng thức tỉnh nhiệt tình của nhân dân, - trước hết là về mặt chính trị, rồi sau về mặt quân sự, - chúng ta đã tính là có thể dựa vào nhiệt tình đó mà trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ kinh tế cũng to tát như những nhiệm vụ chính trị chung, như những nhiệm vụ quân sự” [61,189] Lúc đó, hầu như mọi người dân đều khẳng định rằng bằng lòng nhiệt tình cách mạng thì điều gì cũng có thể làm được, muốn làm gì là có thể làm ngay được Lúc đó, tất cả đều mong muốn có thể trực tiếp xây dựng nhà nước theo kiểu CSCN
Chính bởi vậy mà nhân dân, nhất là người nông dân, đã chấp nhận những chính sách có phần kỷ luật, nghiêm ngặt của chính quyền Xô viết, ngay cả chế độ trưng thu lương thực thừa Bởi họ mong mỏi được kết thúc chiến tranh, muốn sao cho mức sống tối thiểu của họ được cải thiện nhanh chóng Do đó, có thể khẳng định, chính sách “cộng sản thời chiến” được đẩy nhanh, làm mạnh trước hết từ bên dưới Chính lòng nhiệt tình cách mạng của nhân dân đã khiến mọi người cho rằng:
“…tưởng có thể dùng pháp lệnh của nhà nước vô sản để tổ chức theo kiểu cộng sản chủ nghĩa trong một nước tiểu nông…Đời sống thực tế đã vạch rõ sai lầm của chúng ta” [61, 189] Bản thân Lênin, khi đó, đã nhận thấy những nguy cơ tiềm ẩn từ lòng nhiệt tình đó Người đã nhiều lần kêu gọi “ không huỷ bỏ (tạm thời) tiền tệ và không ngăn cấm những sự giao dịch mua bán cá biệt giữa các hộ cá biệt” [53,93], “ không thể thủ tiêu tiền tệ trong thời gian đầu của bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản” [55,147]
Lênin đã nhận thấy những chính sách, đặc biệt là chính sách trưng thu lương thực thừa, xét về mặt khách quan, về mặt lợi ích kinh tế là nó chưa phù hợp Nhưng hãy thử nghĩ xem công việc bảo vệ đất nước, mà bọn men sê vích cho rằng đó là công việc “ gàn dở”, trong khi các cường quốc lại xúm lại viện trợ cho bọn bạch vệ, thì phải nói tình thế của nhà nước và nhân dân Xô viết “ cực kỳ khó khăn” đến mức độ nào Sau này, Lênin có nhận xét rằng thắng lợi của Xô viết trong 7 năm chiến tranh
đó là “ lúc đó giai cấp công nhân và nông dân đã tự nguyện chịu những sự hy sinh có thể nói là vượt quá sức chịu đựng của con người Chưa bao giờ giai cấp công nhân đã
Trang 1515
phải chịu ăn thiếu thốn, phải chịu một nạn đói như trong những năm đầu nó nắm quyền chuyên chính Rõ ràng là muốn hoàn thành được nhiệm vụ đó, thì ngoài việc thực hiện chế độ trưng thu với ý nghĩa là lấy tất cả lương thực thừa, và ngay cả một phần các vật phẩm cần thiết của nông dân nữa, chúng ta không còn biện pháp nào khác” [60,179] Bên cạnh đó, chính sách này có nhiệm vụ xây dựng đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, lúc mà “ xung quanh chúng ta là những người, những giai cấp
và những chính phủ đang công khai tỏ ra cực kỳ căm thù chúng ta” [61, 364]
Chiến tranh diễn ra trong một thời gian khá dài, đồng nghĩa với việc áp dụng chính sách “cộng sản thời chiến” trong một thời gian dài khiến nó ăn sâu vào nền kinh tế, vào quản lý kinh tế, vào ý thức của người dân Do đó, khi chiến tranh kết thúc, chính sách này vẫn được thực hiện một phần do quán tính, hơn nữa những biện pháp, pháp lý hành chính dễ hơn và quen hơn so với những biện pháp kinh tế Đồng thời, phần lớn những người lãnh đạo, đặc biệt là ở cơ quan hành chính coi đây là con đường ngắn nhất để xây dựng chủ nghĩa Cộng sản
Tuy vậy, chính sách này vi phạm một điều rất rõ rệt và nó chỉ bộc lộ ra khi chiến tranh kết thúc, là nó vi phạm lợi ích người lao động, nhất là người nông dân cũng như những kích thích cần thiết để phát triển kinh tế Vào thời điểm chiến tranh, mọi người dân đều chấp nhận và với lòng nhiệt tình cách mạng cao nên lợi ích riêng
tư, lợi ích cá nhân bị xếp sau lợi ích toàn dân Bản thân Lênin sau này cũng nhấn mạnh nhiều lần rằng chính sách “cộng sản thời chiến” chỉ là biện pháp tình thế, chính sách tạm thời và “ trong hoàn cảnh nội chiến chúng ta phải dùng những biện pháp của thời chiến Tuy nhiên, nếu từ đó chúng ta rút ra kết luận rằng những biện pháp và quan hệ đó là duy nhất có thể áp dụng được thì thật là một sai lầm lớn vô cùng”[60,35]
Sau chiến tranh, việc tiếp tục chính sách “cộng sản thời chiến” cộng với sự tàn phá nghiêm trọng của chiến tranh, nước Nga Xô viết lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, tình trạng suy thoái đã rơi vào vực thẳm Đời sống của tầng lớp nhân dân càng thêm điêu đứng, khổn khó tới mức không sao chịu nổi nữa
Thực chất cuộc khủng hoảng ở nước Nga Xô viết đã bắt đầu xuất hiện từ đầu năm 1920 nhưng phải tới sau chiến tranh, khi tất cả bắt tay xây dựng lại đất nước, biểu hiện này mới dần xuất hiện rõ rệt và nhận biết rõ hơn Cần phải khẳng định một điều là ngay sau chiến tranh 11/ 1920, Lênin cũng bắt tay vào xây dựng lại kinh tế, nhận thức lại tình hình kinh tế để có những biện pháp, bước đi phù hợp, Người không
hề có ý định kéo dài chính sách “cộng sản thời chiến”, hay coi đó là chính sách để
Trang 16Tuy nhiên, có một điều rằng, khi thực thi chính sách cũ nhiều người đã nghĩ đó
là một biện pháp xây dựng đất nước đi lên CNXH Chính chính sách ấy đã giúp nước Nga chiến thắng trong cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng lại làm cho những người dân Nga khi đó đã ngộ nhận rằng việc tổ chức sản xuất tập thể, theo một kế hoạch thống nhất và phân phối sản phẩm theo nguyên tắc bình quân cũng như việc xoá bỏ quan hệ hàng hoá- tiền tệ là điều có thể thực hiện được Nó chỉ là biện pháp tất yếu và thiết thực Nhưng nó cũng không phải là một biện pháp lỗi thời như một số nhà tư tưởng nhận định Nó là chính sách chưa hợp thời, là chính sách mà thực tiễn chưa vận động đến chỗ phù hợp cho nó phát huy hiệu quả
1.1.2 Từ chính sách “cộng sản thời chiến” sang chính sách kinh tế mới là một sự thay đổi về biện pháp xây dựng nước Nga Xô viết của V.I Lênin
Cuộc nội chiến và chiến tranh can thiệp của nước ngoài vào nước Nga Xô viết
đã kết thúc với thắng lợi to lớn của nước Nga non trẻ CNXH đã chứng minh quyền tồn tại của mình trong trận chiến đấu gay go, ác liệt Sau chiến tranh, nhiệm vụ xây dựng kinh tế được đặt ra thay cho các nhiệm vụ đàn áp kẻ thù của giai cấp bằng quân
sự Tuy nhiên, việc xây dựng kinh tế của nước Nga hiện giờ khó khăn hơn nhiều so với năm 1918 bởi sự tàn phá nặng nề của chiến tranh nhất là cuộc nội chiến, gần như làm khánh kiệt nước Nga, khiến giai cấp công nhân và nông dân mệt mỏi về tinh thần, bất bình vì lợi ích riêng của họ và gia đình họ không được bảo đảm Lúc này, cần có một chính sách kinh tế mới thích hợp với nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong hoà bình Theo Lênin đã đến lúc phải thay liên minh quân sự và chính trị của giai cấp công nhân và nông dân bằng liên minh kinh tế Chính sách kinh tế mới đã xuất phát từ đó
để xây dựng nước Nga trong tình hình mới Đây là một sự thay đổi chiến thuật và sự thay đổi chiến thuật này theo Lênin được ví như hành động chuyển từ “ xung phong” sang “ bao vây”
Trước tiên, việc chuyển chiến thuật chắc chắn sẽ khiến cho nhiều người cảm thấy bực dọc, chán nản, than khóc, phàn nàn Tuy nhiên, với Lênin “ bị một phen thất
Trang 1717
bại không nguy hiểm bằng không dám thừa nhận sự thất bại, không dám rút ở đó ra tất cả những kết luận” [61,254] Muốn chuyển chiến thuật thì cần có sự thay đổi trong tư duy, và sự thay đổi trong tư duy đầu tiên là thừa nhận có những sai lầm trong chính sách cũ, dù sai lầm đó trong chính sách cũ là không thể tránh khỏi nhưng trong thời kỳ mới cần phải sửa chữa nó Thừa nhận những sai lầm để làm tốt hơn, chu đáo hơn, thận trọng hơn và có hệ thống hơn trong những chính sách sau Lênin còn nhấn mạnh: “ Nếu chúng ta cho rằng thừa nhận một thất bại cũng giống như bỏ một vị trí, sẽ gây ra tâm trạng chán nản và làm nhụt chí đấu tranh, thì phải nói rằng những nhà cách mạng như thế không đáng giá một xu” [61,255] Việc tiếp sau của việc thừa nhận sai lầm trong tư duy đó là việc phải từ đó chuyển sang phương thức khác để phát triển, theo Lênin đó là phương thức “ bao vây” tức là sử dụng chính sách kinh tế mới
Giai đoạn “xung phong” là giai đoạn từ khoảng đầu năm 1918 cho đến mùa
xuân 1921 Đây là thời kỳ mà chính quyền Xô viết dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên tắc XHCN Với Lênin, khi nhận định lại chính sách cũ là sai lầm hay không sai lầm, Người đã khẳng định: “Đương nhiên giờ đây, khi chúng ta nhìn vào triển vọng của sự phát triển lịch sử mà đánh giá các sự kiện, chúng ta không thể không thấy rằng sắc lệnh ấy là ngây thơ và - xét về một mặt nào đó- là sai lầm"[61,251] Nhưng nó cũng không hoàn toàn sai lầm vì “ nhà nước, tức là giai cấp vô sản, đã thử chuyển sang những quan hệ
xã hội mới bằng cách có thể nói là hết sức tìm cách thích ứng với những quan hệ xã hội tồn tại khi ấy, hết sức tìm cách tiến hành từ từ và không quá mạnh” [61,252] Lênin biết rõ xây dựng nước Nga hồi đó như thế nào Vì Người đã nhận thức rõ tình hình kinh tế của nước Nga Xô viết khi đó là chế độ ruộng đất lạc hậu nhất cùng với tình trạng nông thôn dốt nát nhất và một bên là chủ nghĩa tư bản công nghiệp và tài chính tiên tiến nhất Khi đó, ở nước nga, người nông dân chiếm 82,4% dân số, sản phẩm nông nghiệp chiếm 51,4% tổng sản phẩm quốc dân Hơn ai hết, Lênin hiểu cần đưa ra chính sách phù hợp với kinh tế như thế nào để phát triển Tuy nhiên, chính quyền Xô viết non trẻ đã nhận một lời tuyên chiến của kẻ thù Chúng muốn xem chính quyền non trẻ ấy có thể đứng vững được bao lâu Và lúc đó chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc chiến tranh và cuộc chiến tranh này vì là một cuộc nội chiến nên
vô cùng tàn khốc và “ cuộc đấu tranh càng trở nên khó khăn thì càng ít có khả năng thực hiện một bước quá độ thận trọng được” [61,253] và phải dùng những biện pháp đấu tranh hết sức gắt gao, tàn khốc, quyết liệt Đây chính là biện pháp “ xung phong”, dốc toàn bộ lực lượng ra để cho chiến tranh bảo vệ đất nước và chính quyền thời đó
Trang 1818
Chính quyền Xô viết buộc phải chuyển từ nhiệm vụ kinh tế sang nhiệm vụ quân sự và chính vì vậy mà trên mặt kinh tế, theo Lênin, “ chúng ta đã bị thất bại rất nặng nề…
đó là điều không thể nghi ngờ gì nữa đối với những người cộng sản” [61,198]
Khi chuyển sang giai đoạn “bao vây” cũng là lúc phải chấm dứt những sai
lầm của chiến thuật cũ và những gì dính líu đến sai lầm đó gây trở ngại cho sự hoạt động cần được thay đổi và chuyển hẳn sang chiến thuật mới Lênin đã khẳng định, nếu cứ thừa nhận chính sách thời chiến có thể áp dụng cho thời bình mà không chịu thay đổi thì “ có nghĩa là sự phá sản của chính quyền Xô- viết và chuyên chính vô sản” [60,35] Lênin đã cảnh báo việc tiếp tục thực hiện chính sách cũ sẽ dần tới một tai hoạ cho chính quyền Xô viết non trẻ Người thấm nhuần quan điểm của Mác, Ănghen cho rằng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau cần phải có những bước đi phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể đó Nếu trái lại thì sẽ phá vỡ quy luật và chịu thất bại Chuyển sang chính sách kinh tế mới là bước đi phù hợp với quy luật ấy Chuyển sang “ bao vây” cũng tức là tiến công một cách từ từ, rút lui có tính chất chiến lược, "trong khi họ chưa đánh bại hẳn được chúng ta, chúng ta hãy rút lui và xây dựng lại tất cả, nhưng một cách chắc chắn hơn"[61,198]
Có nhiều người nhận định chính sách kinh tế mới chỉ là chính sách tình thế Lênin vội đưa ra để khắc phục chính sách cũ, mà không có sự chuẩn bị tư tưởng Hoàn toàn không phải vậy Người đã định xây dựng nước Nga với những chính sách kinh tế được xây dựng năm 1918 nhưng do chiến tranh nên chính sách xây dựng đất nước cũng phải thay đổi Lênin đã khẳng định phải có những biện pháp kinh tế mà trước đây chưa có thể thực hiện được do chiến tranh và thực sự sai lầm khi kéo dài chính sách ấy Lênin cũng thừa nhận những sai lầm trong chính sách cũ như đi quá xa trong việc quốc hữu hóa thương nghiệp và công nghiệp, trong việc đình chỉ những sự trao đổi địa phương
Chuyển sang chính sách kinh tế mới là để phù hợp với những điều kiện mới và
vì vậy, nó là chính sách mới nhưng có những cái phải lùi hơn so với chính sách cũ Lênin đã cho rằng cái chính sách kinh tế mà người ta gọi là “mới”, mới so với chính sách kinh tế của ta trước kia Nhưng về thực chất, trong chính sách đó có nhiều cái cũ hơn chính sách kinh tế trước kia của ta Nó được gọi là mới theo Lênin “ vì nó quay trở lại đàng sau”[61,350] Chính chính sách này là một bước lùi của chính quyền Xô- viết, chưa nên xây dựng trực tiếp CNXH, mà trong nhiều lĩnh vực kinh tế cần phải lùi
về CNTB nhà nước tức là “ từ bỏ biện pháp tấn công chính diện và bắt đầu một cuộc bao vây lâu dài, không thích thú, khó khăn và gian khổ, đòi hỏi phải rút lui trên hàng
Trang 1919
loạt vấn đề” [61,255] Lênin cũng thừa nhận rằng với việc thực hiện chính sách kinh
tế mới là chúng ta dường như lùi bước “ nhưng sau đó lấy đà nhảy một bước mãnh liệt hơn về phía trước Chính chỉ với điều kiện như vậy, chúng ta mới đã lùi bước bằng cách thực hiện hiện chính sách kinh tế mới của chúng ta” [62,350]
Trong chính sách kinh tế mới, Lênin khẳng định chưa thể xoá bỏ thương nghiệp mà phải phục hồi nó, thực hiện trao đổi thông qua thị trường Việc phân phối bằng hiện vật cũng đã chuyển sang phân phối sản phẩm thông qua lưu thông hàng hoá, sử dụng lại đồng tiền trong lưu thông, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá để từ đó đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và công nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân…
Chính sách kinh tế mới có nhiều điểm “lùi” hơn so với chính sách “cộng sản thời chiến”, nó có những thay đổi trong tư duy của Lênin về con đường đi lên CNXH Một trong những thành công của Lênin khi áp dụng thành công chính sách kinh tế mới vào thực tiễn là đã thực sự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chuyển từ mối quan hệ giữa chính trị và quân sự trong chính sách cũ sang mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới
1.2 Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của V.I Lênin
1 2.1 Khái niệm kinh tế và khái niệm chính trị
Thứ nhất: Khái niệm "kinh tế"
Kinh tế có thể được hiểu là tổng hoà các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội nhất định
Nguyên nghĩa của khái niệm này là “kinh bang tế thế”, là công việc của một vị vua phải đảm nhiệm để chăm sóc đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng Chữ Kinh trong “kinh bang” có nghĩa là trị nước, còn chứ “Tế” trong “tế thế” có nghĩa là giúp đời Nguồn gốc của chữ này do vua Minh Trị của Nhật
đã yêu cầu dịch ra từ tiếng Latinh, nhờ chữ này mà Minh Hoàng mới lôi kéo được tầng lớp trí thức Nho giáo tham gia kinh doanh, buôn bán và làm giàu
Thuật ngữ này có thể được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa hẹp chỉ hoạt động sản xuất và làm ăn của cá nhân hay hộ gia đình Nghĩa rộng chỉ toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định
Ngày nay, khái niệm kinh tế được hiểu với hai nghĩa cơ bản:
Trang 2020
Một là: tổng thể các quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi
trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất
Hai là: toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân hay một bộ phận của nền kinh tế
quốc dân Nó bao gồm các hình thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế
và vùng kinh tế (tức cơ cấu kinh tế) và cơ chế quản lý kinh tế
Như vậy, thuật ngữ “kinh tế” phản ánh hoạt động sản xuất của một xã hội nhất định, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của con người Nói đến kinh tế còn là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích, đây là hai vấn đề quan trọng nhất, cốt lõi nhất của kinh tế
Trong xã hội có giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp trước hết và chủ yếu biểu hiện quan hệ giữa các lợi ích mà các giai cấp đó đang theo đuổi Trong các lợi ích đó, lợi ích ưu trội, vai trò chi phối là lợi ích vật chất Thực tiễn của sự vận động và phát triển của xã hội loài người cho thấy, giai cấp nào chiếm lĩnh được hầu hết tư liệu sản xuất trong tay, hoặc là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thì giai cấp đó sẽ sản xuất
ra được nhiều sản phẩm cho xã hội hơn, và đồng thời là giai cấp nắm vị trí chi phối trong việc tổ chức lao động trong xã hội, quản lý xã hội cũng như quyết định việc phân phối sản phẩm xã hội
Trong xã hội có giai cấp, chính việc vi phạm lợi ích vật chất của các giai cấp
sẽ dẫn tới mâu thuẫn giai cấp hay nói chính xác hơn, lợi ích là nguồn gốc sâu xa của mọi cuộc cách mạng trong xã hội
Thứ hai: Khái niệm “chính trị”
Chính trị là lĩnh vực phức tạp nhất của đời sống xã hội có giai cấp Chính trị không xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Chỉ khi nào xã hội có sự phân chia thành các giai cấp, có đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được, dẫn tới việc ra đời nhà nước để nhằm giữ đấu tranh giai cấp trong vòng trật tự Nhà nước ra đời thì chính trị cũng xuất hiện Chính trị là lĩnh vực nhạy bén nhất trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng Nó tác động nhanh nhất tới các mặt của đời sống xã hội Trong các cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực tư tưởng không có vai trò quan trọng bằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị Bởi cuộc đấu tranh tranh trên lĩnh vực chính trị sẽ dẫn đến xuất hiện các chính Đảng đại diện cho các giai cấp, sẽ có bạo lực cách mạng nổ ra không phải chỉ để đòi hỏi quyền lợi về mặt kinh tế mà là quyền lực chính trị Nói cách khác, khi có đấu tranh về chính trị tức
sẽ có cuộc cách mạng nổ ra nhằm thay đổi chế độ cũ bằng chế độ mới tiến bộ hơn
Do đó, nó trở thành một động lực cho sự phát triển xã hội
Trang 2121
Chủ nghĩa Mác- Lênin, với quan điểm duy vật về lịch sử, đã xem chính trị là một hiện tượng đặc biệt của đời sống xã hội, có liên quan tới các đảng phái và Nhà nước Nó phản ánh quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, mâu thuẫn với nhau, trong đó trước hết và căn bản nhất là lợi ích kinh tế
Theo Lênin chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp; là sự tham gia của nhân dân vào công việc Nhà nước, định hướng hoạt động Nhà nước; xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động Nhà nước Bất kỳ hoạt động nào cũng có tính chất chính trị nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn với vấn đề quyền lực chính trị
Vấn đề cơ bản nhất, chủ yếu nhất của chính trị là quyền lực nhà nước Lợi ích căn bản của các giai cấp được thể hiện tập trung nhất là ở vấn đề quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị Quyền lực chính trị theo Mác và Ănghen là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà nước, từ đó ra đời quyền lực nhà nước; nó được thực hiện bằng nhà nước, thông qua nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị nói chung
Trước đây, Mác- Ăghen khi nghiên cứu và phát triển triết học khoa học về lịch
sử, đã cho thấy một cách rõ ràng các yếu tố và các mối liên hệ cơ bản của kết cấu xã hội chung tất yếu, tức hình thái kinh tế- xã hội: 1, Các lực lượng sản xuất ở một trình
độ phát triển nhất định và quan hệ sản xuất phù hợp; 2, Cơ cấu kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và các hình thái ý thức xã hội tương ứng với nó; 3, Phương thức sản xuất và các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung
Mác không những chỉ ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất mà ông còn đặc biệt chú ý phân tích mối quan
hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Mác đã chỉ rõ cơ sở hạ tầng xã hội bao giờ cũng là nhân tố quyết định kiến trúc thượng tầng hay quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là những quan hệ xã hội cơ bản quyết định mọi quan hệ về chính trị, pháp luật, tư tưởng… Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế xét đến cùng quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng Cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế
Mác đã khẳng định không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất "Nếu
Trang 2222
ta không thể nhận định về một con người căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất” [45, 15] Như vậy, muốn xây dựng và phát triển xã hội, xây dựng nhà nước bền vững thì phải giải quyết những vấn đề liên quan đến sản xuất vật chất Ở nơi đó, mâu thuẫn luôn tồn tại và luôn phải giải quyết mâu thuẫn đó nếu không sẽ dẫn đến sự phá huỷ xã hội
Từ việc đưa ra quan điểm về đời sống vật chất quyết định đến vấn đề ý thức, tinh thần của xã hội thì Mác và Ănghen khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với đời sống xã hội nói chung, tới hoạt động chính trị của nhà nước nói riêng Theo ông tương ứng với những điều kiện vật chất, phương thức sinh hoạt kinh tế, xã hội nhất định, thì có những hình thức nhà nước, và cả những cá nhân hoạt động chính trị thích hợp “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan
hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ- tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tức là cái cơ sở hình thức trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp
lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tin thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [45,14-15] Kinh tế
là cơ sở mà các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, tinh thần đều được nảy sinh trên
cơ sở ấy và một khi “ cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ
sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [45,15] trong đó có cả chính trị nữa
Tuy nhiên với tư duy biện chứng, Mác- Ănghen không chỉ thừa nhận sự quyết định của kinh tế đối với chính trị mà còn nhận thấy sự tác động trở lại của chính trị đối với sự phát triển kinh tế Theo các ông thì “ tác động ngược lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế có ba loại Nó có thể tác động cùng hướng khi ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể tác động ngược lại sự phát triển kinh tế- khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ Sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là nó có thể cản trở sự phát triển kinh tế ở những hướng nào đó và thúc đẩy sự phát triển ở những hướng khác Trường hợp này rốt cuộc dẫn đến một trong hai trường hợp trên Tuy nhiên, rõ ràng là trong trường hợp thứ hai và thứ ba, quyền lực
Trang 2323
chính trị có thể gây tác hại lớn cho sự phát triển kinh tế và có thể gây ra sự lãng phí to lớn về sức lực và vật chất”[47,678] Ănghen đã phân tích rõ vai trò ảnh hưởng của nhà nước thông qua hình tượng của bạo lực như sau: sau khi bạo lực chính trị đã trở thành độc lập đối với xã hội, sau khi đã từ đầy tớ trở thành người chủ rồi, thì nó có thể tác động theo hai chiều hướng Thứ nhất, nó tác động theo hai ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật Như thế giữa bạo lực chính trị và sự phát triển kinh tế không có sự xung đột nào và sự phát triển kinh tế được đẩy mạnh hơn Thứ hai,
nó chống lại sự phát triển kinh tế và khi đó trừ một vài ngoại lệ ra, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế Như vậy, dù chính trị có can thiệp như thế nào vào kinh tế, có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế cùng với những hệ quả về chính trị và pháp luật bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế ấy thì cuối cùng vẫn phải tuân theo sự phát triển ấy Lênin đã tiếp thu những quan niệm giá trị về mối quan
hệ kinh tế, chính trị của Mác, Ănghen để xây dựng nước Nga Xô viết
1.2.2 Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
Kế thừa quan điểm của Mác, Ănghen, Lênin đã vận dụng mối quan hệ đó để giải quyết vấn đề kinh tế xã hội nước Nga Xô viết sau chiến tranh, thể hiện qua chính sách kinh tế mới Lênin chủ trương xây dựng lại đất nước bắt đầu từ kinh tế, chuyển
từ những lợi ích chính trị, quân sự vào con đường xây dựng kinh tế và “ trước hết phải khôi phục nền kinh tế của chúng ta, làm cho nền kinh tế đó được vững
chắc”[59,166]
Việc đầu tiên phải khẳng định là việc chuyển hướng từ phục vụ lợi ích chính trị và quân sự để phục vụ cho kinh tế, lợi ích kinh tế sẽ tạo nên một sự dao động, một sự phản ứng Bởi nước Nga vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh nhưng nguy cơ chiến tranh vẫn chưa hết, nên có quan niệm cho rằng vẫn cần phải xây dựng lực lượng quân sự vững mạnh để đối phó và ngăn chặn tất cả những nguy
cơ phát triển của CNTB ở trong nước Với tư tưởng đó, một số người vẫn không muốn chuyển sang chính sách mới
Hơn ai hết, Lênin hiểu rằng để có một nền quân sự vững mạnh đương đầu với những thế lực thù địch, để có một nền chính trị ổn định, các giai cấp đoàn kết, yên tâm xây dựng CNXH thì cần phải giải quyết vấn đề kinh tế mà cơ bản là lợi ích kinh tế
Mác, Ănghen ngay thời kỳ xây dựng học thuyết khoa học và cách mạng của mình đã nhấn mạnh rằng mọi sự biến thiên của lịch sử dù dích dắc đến thế nào thì cuối cùng vẫn là thấy tính tất yếu kinh tế chi phối sự vận động của lịch sử Xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định mọi tiến bộ lịch sử Nó là nhân tố quan trọng và
Trang 2424
quyết định cuối cùng chứ không phải là nhân tố duy nhất quyết định Nếu chúng ta tách rời tư tưởng với lợi ích thì tư tưởng sẽ bị mất “ tín nhiệm”, nghĩa là “ tự nó làm nhục bản thân nó”
Từ đó, Lênin đã nhận thấy, nhà nước chuyên chính vô sản sẽ không có tác dụng gì khi nó rao giảng về CNXH, con đường đi lên CNXH lại trở nên bất lực trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế Đặc biệt, với Lênin, từ kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Tháng Mười và những năm đầu xây dựng CNXH của nước Nga Xô- viết, Người cũng nêu lên những luận đề, nhằm tổng kết sâu sắc về vai trò của kinh tế
và chính trị cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Sự thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau giữa kinh tế và chính trị, đến mức mà Lênin nhận xét rằng, khi đi vào xây dựng kiến thiết CNXH ở Nga thì nhiệm vụ nổi bật hàng đầu là phát triển kinh tế Bởi thế cần phải nhận thức rằng, cái chính trị quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất, lý thú nhất lúc này là làm kinh tế Theo Lênin, người ta cần đến kinh tế để khỏi bị chết đói và cần đến chính trị, thứ chính trị đúng đắn và sáng suốt, để khỏi tự giết chết mình Cả hai cái đều giúp con người tồn tại nhưng trước hết phải có ăn đã thì mới làm chính trị, làm tư tưởng được Do đó, chính trị thời
kỳ này là biểu hiện tập trung của kinh tế Các chính sách đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế của nước Nga Tuy vậy, để đưa ra những chính sách đúng thì cần phải có một tư duy chính trị mang tính khái quát
Thứ nhất, chính trị phải biết được muốn xây dựng kinh tế thì phải bắt đầu từ
đâu, giải quyết khâu nào? Từ nhiều sự phân tích, Lênin cho rằng cần phải bắt đầu từ nông dân, từ chính thực tiễn sản xuất vật chất và lợi ích của họ Vì sao lại như vậy?
Một là: Mâu thuẫn xã hội nảy sinh găy gắt nhất mà thông qua thực tiễn Lênin
nhận thấy đó là ở nông dân Người nông dân trong chính sách cũ họ đã góp một phần rất lớn để nuôi sống giai cấp công nhân và chính quyền Xô viết thông qua chính sách trưng thu lương thực thừa Họ tình nguyện chấp nhận chính sách gần như cho không số lương thực mà họ phải vất vả làm ra để hy vọng sau chiến tranh đời sống của họ sẽ khá hơn Nhưng chiến tranh đã kết thúc, cộng thêm nạn hạn hán, mất mùa xảy ra họ không thể sản xuất thêm lương thực Thêm vào đó, số lương thực ít ỏi mà họ sản xuất ra lại bị trưng thu mất khiến đời sống của họ càng thêm cực khổ Bên cạnh đó, người nông dân không thể hiểu và tiếp thu nổi kiểu nông trang tập thể “ một lớn hai công hữu” Chỉ có 0,4% tổng số hộ nông dân tham gia nông trang tập thể Hơn nữa bản thân nông trang tập thể “ ăn chung nồi to” đã làm cho nông dân không còn hứng thú sản xuất
Trang 2525
Sau chiến tranh, lợi ích của nông dân không đảm bảo, đời sống khốn khó lại phải chịu thêm chính sách trưng thu lương thực thừa dẫn đến việc họ không có hứng thú sản xuất, trồng trọt nữa Họ hoặc là sản xuất ít hoặc là đem ra chợ đen bán sản phẩm chứ không cho nhà nước trưng thu hết Bên cạnh đó sự bất bình cuả nông dân càng ngày càng tăng cao thành sự nổi loạn, đơn cử là cuộc bạo loạn ở Crônxtát, ở tỉnh sản xuất lúa mì Tambốp Hầu hết những người biểu tình đều có cùng một lý do là sợ chế độ trưng thu lương thực thừa vì vậy không mở rộng diện tích gieo trồng Họ giết gia súc hoặc cất giấu chúng và theo họ, cuối cùng là, sản xuất để làm gì nếu người ta
cứ lấy hết sản phẩm thừa Chỉ cần bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa thì các lực lượng bạo loạn sẽ giải tán ngay tức khắc Số người biểu tình không chỉ có nông dân
mà còn có các binh lính giải ngũ, vì trong khi họ chiến đấu ác liệt ngoài chiến trường thì gia đình họ ở nông thôn lại bị áp lực của chế độ trưng thu lương thực thừa
Khi giai cấp nông dân không muốn sản xuất cho chính quyền Xô viết thì giai cấp công nhân không có thực phẩm để sinh hoạt, không đủ nguyên liệu để sản xuất Một điều nữa là khi họ không còn nhiệt huyết cho chế độ thì tức là họ, giai cấp nông dân, không còn tin cậy ở giai cấp cầm quyền thì đó sẽ là lúc giai cấp tư sản đẩy nông dân chống lại công nhân, đẩy thế lực tiểu tư sản tự phát vô chính phủ chống lại công nhân Nếu như vậy, theo Lênin, nó sẽ trực tiếp đưa tới chỗ lật đổ nền chuyên chính vô sản và tức là khôi phục lại CNTB, khôi phục lại chính quyền tư bản- địa chủ cũ Đây chính là mối nguy hiểm chính trị to lớn, rõ ràng mà nguyên nhân sâu xa là do sự không đáp ứng đầy đủ lợi ích kinh tế
Lênin đã nhìn thấy được mối nguy hại đó Chính sự không ổn định về kinh tế,
sự vi phạm lợi ích kinh tế sẽ dẫn tới sự mất ổn định về chính trị Người đã có lần tuyên bố trước Đảng cộng sản rằng: “ Các đồng chí hãy coi chừng sự thống trị của giai cấp công nhân và nền chuyên chính của giai cấp công nhân đang bị đe dọa” [60,19] Nhưng khi đó nhiều người đã không nhận thức được điều đó và còn tuyên bố
“đó là một cách doạ dẫm”, “ khủng bố” tinh thần của Lênin Họ tập trung đi vào nghiên cứu những vấn đề chi tiết, vụn vặt của cương lĩnh và “làm việc đó ngay cả trong những điều kiện mất mùa, khủng hoảng, trong những điều kiện bị tàn phá và phục viên quân đội” [60,20] Họ hoàn toàn xa rời với cuộc sống thống khổ đến chết đói không lối thoát của nhân dân, ngoảnh mặt với những mâu thuẫn, căng thẳng đang nảy sinh và ngày càng nghiêm trọng trong xã hội
Hai là: Lênin đã nhấn thấy “trong một nước như vậy, cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện Điều kiện thứ nhất là có sự
Trang 2626
ủng hộ kịp thời của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước hay một số nước tiên tiến…Điều kiện nữa là sự thoả thuận giữa giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoặc đang nắm chính quyền nhà nước với đại đa số nông dân” [60,69] Hai điều kiện đó, như thực tiễn cách mạng XHCN ở nhiều nước cho thấy, là hình thành khối liên minh bằng hai sức mạnh: bên trong là liên minh giữa hai giai cấp công nhân và nông dân, bên ngoài là sự liên minh quốc tế XHCN Trong một nước có nền kinh tế lạc hậu không thể thiếu hai sức mạnh này, được ví như “ sức đẩy hai cánh của con chim đại bàng Thiếu một không thể được Thiếu cả hai thì cách mạng nhất định thất bại” [25,71] Với sức mạnh đó, chính quyền non trẻ của giai cấp công nhân trong một nước có nền kinh tế lạc hậu mới có thể đứng vững và tiến lên vững chắc
Tuy nhiên, khối liên minh công nông chỉ có thể thực hiện được một cách tốt nhất nếu như liên minh chính trị giữa họ được củng cố bắng liên minh kinh tế Liên minh kinh tế giữa vô sản và nông dân, giữa nền công nghiệp XHCN và nền kinh tế tiểu nông chỉ vững chắc khi bảo tồn và sử dụng các quan hệ hàng hoá- tiền tệ Thực chất, đó là cho phép áp dụng rộng rãi nguyên tắc khuyến khích vật chất đối với công nhân và nông dân nhằm phát triển sản xuất vật chất, nâng cao năng suất lao động- một trong những điều kiện chủ yếu để CNXH chiến thắng CNTB
Chính thực tiễn kinh tế và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế như vậy, Lênin đã phân tích và đưa ra các chính sách phù hợp với thực tiễn đất nước để củng cố và phát triển đất nước Bắt đầu là từ người nông dân và với lương thực của họ
Từ những điều trên, Lênin đã nhận thấy xuất phát điểm của chính sách kinh tế mới của Xô viết là giải quyết lợi ích về mặt kinh tế cho người nông dân, tức là bắt đầu từ nông nghiệp chứ không phải là từ công nghiệp Điều này đã vấp phải sự phản kháng của một số người cộng sản phái tả chồng chính sách này Họ thấy chính quyền
là của giai cấp công nhân nhưng lại bắt đầu nâng cao mức sinh hoạt vật chất cho người nông dân Theo họ, đó hoàn toàn vô lý và không thể chấp nhận được và cần phải thực hiện các chính sách trước như: tăng khẩu phần cho công nhân đang đói, phân phối rộng rãi nhiên liệu… và muốn làm được như vậy thì chính sách trưng thu lương thực thừa phải luôn là chính sách cần thiết, kể cả trong thời bình Đây gần như
là một cuộc đấu tranh về lợi ích kinh tế, giành lợi ích kinh tế cho nông dân hay cho công nhân, tức là ưu tiên phát triển nông nghiệp hay công nghiệp, là vấn đề đang đặt
ra hiện nay
Theo Lênin, những người phái tả đã quên mất rằng 80% dân số của nước Nga
Xô viết là nông dân và nền kinh tế của nước Nga vẫn phụ thuộc phần lớn vào nông
Trang 2727
nghiệp Bản thân giai cấp nông dân đã nuôi sống giai cấp công nhân và chính quyền của họ, đổi lại họ cần chính quyền tạo điều kiện cho họ sản xuất, phát triển Lênin đã nhấn mạnh “ Chúng ta phải hiểu rằng trong điều kiện cuộc khủng hoảng của kinh tế nông dân, chúng ta không thể tồn tại được bằng cách nào khác là dựa vào nền kinh tế nông dân đó để giúp đỡ thành thị và nông thôn” [60,29] và “ kẻ thù có vũ khí đang rình chúng ta và để khỏi bị nó quật ngã, chúng ta cần thiết lập những quan hệ đúng đắn giữa công nhân và nông dân” [59,386]
Đúng như vậy Giai cấp công nhân muốn tồn tại cần có một mối quan hệ chặt chẽ với nông dân Nếu không ngoài việc không được người nông dân cung cấp thực phẩm, giai cấp công nhân và chính quyền Xô viết còn đối mặt với một điều nguy hại hơn đó là “nông dân còn đi theo giai cấp tư sản và công nhân còn bị cô lập, thì họ (giai cấp công nhân) sẽ còn bị đè bẹp Nếu chúng ta quên điều đó, chúng ta sẽ bị tư bản đánh bại”[59,386] Vì sao ư, vì giai cấp nông dân theo Lênin, không phải là những người XHCN Cho nên Lênin ví việc đưa ra các kế hoạch xây dựng CNXH của nước Nga Xô viết trên nền tảng coi nông dân là người XHCN thì không khác gì việc xây dựng trên cát
Vì vậy, cần bắt đầu từ nông dân, bắt đầu từ nông nghiệp Đó là cách thức để nhà nước Xô viết giữ được chính quyền, phát triển kinh tế, xã hội và đoàn kết được giai cấp để đấu tranh chống thế lực thù địch Một điều nữa mà chỉ Lênin và những người Mác xít thấy được đó là cải thiện đời sống của nông dân cũng chính là cải thiện đời sống của công nhân Công nhân phải có lúa mì để sống và có nguyên liệu để sản xuất Vậy để có nó thì phải làm thế nào, thì “chỉ có thể tăng thêm sản xuất và thu hoạch lúa mì, tăng thêm dự trữ và vận tải nhiên liệu bằng cách cải thiện đời sống của nông dân, bằng cách nâng cao lực lượng sản xuất của họ Phải bắt đầu từ nông dân”[60,263] Theo Lênin, người nào không hiểu điều đó mà coi chính sách với nông dân như là một sự từ bỏ chuyên chính vô sản thì là họ không suy nghĩ kỹ càng và bị lời nói trống rỗng chi phối
Theo Lênin, chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và giai cấp
vô sản với sự lãnh đạo của mình phải biết đưa ra những chính sách để giải quyết những vấn đề cấp bách nhất và vấn đề cấp bách nhất ở đây nằm chính ở giai cấp nông dân Người cho rằng: “ trong thời kỳ quá độ này, trong một nước mà nông dân chiếm
đa số, chúng ta phải biết chuyển sang những biện pháp nhằm bảo đảm những yêu cầu của nông dân về mặt kinh tế, biết tiến hành đến mức tối đa những biện pháp để cải thiện tình cảnh kinh tế của nông dân Trong khi chúng ta chưa cải tạo được nông
Trang 2828
dân…thì phải bảo đảm cho nông dân được tự do kinh doanh” [60,34] Chỉ có từ con đường ấy với một loạt chính sách sau nữa mới cải thiện đời sống của công nhân, tăng cường liên minh công nông và củng cố được chuyên chính vô sản Nếu không, Lênin cảnh báo: “ hoặc là họ sẽ đuổi cổ chúng ta đi: Hoàn toàn chắc chắn là như vậy” [62,92]
Vậy là từ thực tiễn kinh tế với những mâu thuẫn nảy sinh trong xã hôi, Lênin đã tìm thấy xuất phát điểm của kinh tế và từ đó đưa ra chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách trưng thu lương thực thừa Chính thực tiễn kinh tế đã quyết định tới việc đưa ra chính sách này
Thứ hai: Từ việc phân tích tình hình thực tiễn kinh tế đúng đắn đã giúp Lênin
tìm ra được mấu chốt của điểm xuất phát kinh tế Từ đây, các vấn đề chính trị tiếp theo là đưa ra các chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn nhằm dẫn dắt nền kinh
tế đi đúng hướng và khuyến khích nền kinh tế phát triển
Một là: Chính sách thuế lương thực Chính sách này về cơ bản là “ nhượng bộ
đến mức tối đa để cho người sản xuất nhỏ có được những điều kiện tối ưu để có thể phát huy mọi lực lượng của mình… nhiệm vụ chuyển sang thuế lương thực trong
điều kiện có chính quyền vô sản” [60,34]
Vậy thuế lương thực là gì? “ Thuế lương thực là một biện pháp trong đó chúng
ta thấy có một cái gì của quá khứ và có một cái gì của tương lai” [60,177] Chính sách này là một biện pháp vừa tồn tại sự trưng thu vừa tồn tại sự trao đổi sản phẩm Đây là một trong những hình thức quá độ từ “ chế độ cộng sản thời chiến”, một chế
độ cộng sản đặc biệt do tình trạng cùng khốn cực độ, tình trạng hoang tàn của chiến tranh buộc chúng ta phải thi hành sang chế độ trao đổi sản phẩm XHCN bình thường Đây là một trong những hình thức quá độ “ từ chủ nghĩa xã hội, - với những đặc điểm
do tình trạng tiểu nông chiếm đại đa số trong dân cư tạo nên, - sang chủ nghĩa cộng sản” [52,263]
Mức thuế được định ra trong những giới hạn nhằm đảm bảo cho đất nước số lương thực thực phẩm cần thiết tối thiểu, để cung cấp cho các thành phố, còn phần lớn nông sản thuộc quyền sử dụng của nông dân Trong những năm 1921- 1922, thuế lương thực thấp hơn hai lần so với khi trưng thu trong những năm 1920- 1921 Chế
độ trưng thu lương thực thừa và thuế lương thực khác nhau không những về số lượng
mà còn về chất lượng Mức độ thuế lương thực được xác định trước khi bắt đầu công việc đồng áng mùa xuân và không thay đổi Điều này khuyến khích nông dân về mặt vật chất nhằm tăng cường sản xuất Thuế lương thực được quy định khác nhau, phụ thuộc vào thu nhập của cả nông hộ Phần thuế lương thực chủ yếu đánh vào bọn culắc
Trang 2929
và tầng lớp nông dân giàu Khi quy định mức thuế có chiếu cố đến những gia đình tăng diện tích trồng trọt và tăng năng suất lao động Như vậy, hình thức quá độ này mềm dẻo hơn và hợp lý hơn rất nhiều so với chính sách cũ Đây là biện pháp duy nhất đúng để củng cố khối liên minh công nông Thuế lương thực phù hợp với quyền lợi của người nông dân như người tư hữu Quyền lợi xã hội và cá nhân của nông dân đã được kết hợp như vậy Điều đó đẩy mạnh việc xây dựng CNXH
Chấp nhận thuế lương thực là chấp nhận tự do trao đổi và chính sự trao đổi là một sự khuyến khích, kích thích, thúc đẩy với nông dân Họ đã thấy lợi ích của mình đạt được ở trong đó Bởi vậy, họ sẽ cố gắng lao động sản xuất để có số lương thực dư
ra để đem trao đổi trên thị trường, nâng cao cuộc sống của mình Đây là chính sách từ nông dân, kích thích phát triển kinh tế nông dân nhưng cũng là lực dẩy kích thích xã hội phát triển, kích thích kinh tế phát triển Bởi vì, để có thứ trao đổi với nông dân, người công nhân cần phải lao động sản xuất tạo ra sản phẩm Chỉ khi lao động vì lợi ích của họ, những lợi ích cơ bản của họ được đáp ứng thì mới có thể thúc đẩy xã hội sản xuất, xã hội phát triển được Còn nếu lợi ích căn bản của họ không được bảo đảm thì họ chỉ hy sinh cho lợi ích xã hội ở một mức độ nhất định, có giới hạn Như vậy, bảo đảm lợi ích kinh tế giữa các giai cấp trong xã hội mà nhất là giai cấp nông dân, giai cấp chiếm đại đa số dân cư, sẽ đảm bảo cho sự ổn định chính trị
Chính sách thuế lương thực đã tạo nên một sự ổn định về chính trị, giải quyết bước đầu vấn đề lợi ích, nâng cao mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và nông dân Từ chính sách này hay từ hình thức quá độ này, chính trị cần đưa ra những chính sách vừa phù hợp với sự phát triển kinh tế hiện đại, đồng thời thúc đẩy kinh tế phát triển
Các thành phần kinh tế vẫn còn tồn tại và thay vì hạn chế nó như trong chính sách cũ thì trong chính sách mới cần phải phát huy chúng, đặc biệt là từ đó phải thừa nhận còn tồn tại nhiều giai cấp, giai tầng trong xã hội Lênin đã nhấn mạnh: “ Ở nước
ta các giai cấp vẫn còn tồn tại, việc xoá bỏ giai cấp đòi hỏi phải mất rất nhiều năm, và
kẻ nào hứa xoá bỏ giai cấp trong ít bữa nữa thì kẻ đó là đồ bịp bợm” [60, 386] Từ việc thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế sẽ đi đến thừa nhận sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mà trong đó các thành phần kinh tế được phát triển Đây chỉ là một chính sách kinh tế phù hợp với thực tiễn diễn ra
Khi thừa nhận thuế lương thực, đồng nghĩa với việc thừa nhận người nông dân
có lương thực thừa để đem ra trao đổi trên thị trường Việc trao đổi mua bán trên thị trường sẽ kích thích người dân lao động sản xuất để có thể có được những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của mình Điều này sẽ làm cho nền kinh tế sôi động hơn, tạo ra
Trang 3030
được nhiều của cải vật chất cho xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Theo Lênin: “ khẩu hiệu tự do buôn bán vẫn không thể tránh khỏi…Nó sẽ lan rộng vì nó phù hợp với những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của những người sản xuất nhỏ” [60,32]
Vì vậy, phải đề ra khẩu hiệu tự do mua bán để cho nông dân có quyền giải quyết lương thực thừa và kích thích sản xuất, kích thích sản xuất hàng hoá công nghiệp
Hai là: phát triển thương nghiệp
Phát triển thương nghiệp, cho thương nghiệp tồn tại là điều tất yếu trong thời
kỳ quá độ Bởi vì nó là mối liên hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng chục triệu tiểu nông với nền đại công nghiệp Nó là một khâu quan trọng nối liền giữa sản xuất
và tiêu dùng Việc phát triển thương nghiệp sẽ giúp cho lực lượng sản xuất được xây dựng, củng cố và phát triển cũng như thúc đẩy sản xuất và lưu thông phát triển Trước đây, chủ trương xoá bỏ thương nghiệp là một chủ trương cần thiết trong thời chiến nhưng trong thời bình nếu còn tiếp tục thì theo Lênin là “ dại đột, vì về phương diện kinh tế chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản…Chúng ta hãy cố gắng sửa chữa những khuyết điểm ấy…nếu không thì rất nguy hại” [60,267]
Thực tiễn đã chỉ ra rằng quan hệ tiền tệ cũng như thương mại chưa thể xoá bỏ Thoạt đầu, nhà nước XHCN định thiết lập liên minh kinh tế với nông dân bằng trao đổi hàng hoá trực tiếp không dùng tiền tệ, trên cơ sở vạch ra những thể lệ trao đổi đặc biệt Thương mại tư nhân bị cấm Thực tiễn chỉ rõ một cách tương đối nhanh chóng rằng không thể trao đổi hàng hoá trực tiếp mà không dùng tới tiền Tháng ba và tháng
tư năm 1922, Lênin đi tới kết luận cần cho phép thương mại nhỏ của tư nhân hoạt động Từ đó, sắc luật “ về việc trao đổi” đã cho phép thương mại nhỏ của tư nhân phát triển Tiếp theo, Lênin còn đề nghị chuyển từ chế độ trao đổi trực tiếp hàng hoá sang thương mại mở rộng Lênin còn cảnh báo “cần phải thích ứng với việc buôn bán, trao đổi nếu không sự tự phát về mua bán và lưu thông tiền tệ sẽ làm các đồng chí bị ngạt” [1,62]
Từ đó, Lênin cũng khẳng định: “ nhà nước vô sản cũng phải trở thành một
“chủ nhân” thận trọng, chu đáo và khôn khéo, trở thành nhà buôn sỉ? đúng mức- nếu
không, nhà nước vô sản không thể khôi phục được nước tiểu nông này về mặt kinh tế Ngày nay, trong những điều kiện hiện tại, bên cạnh phương Tây tư bản chủ nghĩa (lúc này vẫn còn là tư bản chủ nghĩa), chúng ta không thể tiến lên chủ nghĩa cộng sản bằng con đường nào khác"[61,190] Như vậy, để thực hiện sự quá độ kinh tế tiểu nông lên CNXH không thể không vượt qua giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá Từ
Trang 31do trao đổi đồng nghĩa với việc khuyến khích sở hữu tư nhân phát triển Nhưng đấu tranh với tình hình đó không thể bằng cách ngăn cấm Lênin đã nhấn mạnh rằng:
“ Nếu các đồng chí có thể cung cấp máy móc cho nông dân, thì các đồng chí làm cho
họ mạnh lên, và đến khi các đồng chí đã đem lại cho họ máy móc hoặc điện khí hoá thì hàng vạn hoặc hàng chục vạn cu lắc nhỏ sẽ bị quét sạch Khi chưa thể làm được như thế thì ít ra hãy đem lại cho họ một số hàng hoá nào đó đã” [60,83] Dựa vào tình hình kinh tế còn kém phát triển, tình hình nhà nước Xô viết còn non trẻ thì bắt buộc chúng ta phải cho phép sự tồn tại của các giai cấp khác nhau và đem cho các giai cấp
đó một số lợi ích nhất định để nó phát triển kinh tế, đồng thời cũng là góp phần thúc đẩy kinh tế Xô viết phát triển
Như ta đã biết trong chính sách cũ, chính phủ đã quốc hữu hoá hàng loạt xí nghiệp công nghiệp trong thời nội chiến và can thiệp đế quốc có nghĩa là tước đoạt của
tư sản thậm chí cả những xí nghiệp mà vốn không đảm nhiệm nổi cho nó hoạt động Trong điều kiện mới, các xí nghiệp đó đình trệ công việc, đã ngăn cản sự phát triển kinh tế và sự ổn định liên minh kinh tế với nông dân Tại sao lại như vậy? Bởi giai cấp công nhân còn non trẻ, lực lượng còn chưa có nhiều người đáp ứng được với công cuộc kiến thiết đất nước Họ không có đủ số lượng cần thiết những người lãnh đạo, kỹ sư và
kỹ thuật viên Bởi vậy cần phải có những người có năng lực để giúp đỡ sự kiến thiết này Thực tiễn kinh tế cho thấy giai cấp công nhân không thể một mình vực dậy đất nước, nó cần có sự liên mình chặt chẽ với nông dân và lợi dụng giai cấp khác, đó chính
là tư bản thông qua các hợp đồng tô nhượng Lênin đã nhận thấy rằng: “ trong một nước bị tàn phá chưa từng thấy, mà tuyệt đại đa số nhân dân lại là nông dân và cũng bị phá sản, nếu không có sự giúp đỡ của tư bản (tất nhiên là giúp đỡ ta thì chúng sẽ bóp nặn ta lấy những số lời quá mức), thì không thể giữ vững được chính quyền vô sản Chúng ta cần phải thấy điều đó Cho nên hoặc là những quan hệ kinh tế kiểu ấy, hoặc là không có gì hết Đặt vấn đề khác đi, là hoàn toàn không hiểu một chút gì về kinh tế thực tiễn, và là trốn tránh trách nhiệm bằng những lời nói rất hay ho” [60,82]
Như vậy với hiện thực kinh tế cần thiết phải có những kỹ sư, kỹ thuật và những người lãnh đạo các xí nghiệp có kinh nghiệm để vực dậy những xí nghiệp
Trang 3232
đang làm ăn thua lỗ, để phát triển nền sản xuất hàng hoá thì nhà nước cần phải đưa ra các chính sách để chấp nhận sự tồn tại của tư bản, chấp nhận vấn đề tô nhượng Nhà nước Xô viết hoặc là phải chấp nhận thực tiễn đó hoặc là không có gì hết
Ba là: Khuyến khích sự phát triển của CNTB nhà nước
Chấp nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hoá, thừa nhận tô nhượng có nghĩa là chấp nhận sự tồn tại, phát triển của CNTB Tuy nhiên CNTB đó, CNTB sinh ra từ kinh tế nhỏ, sinh ra từ sự tự do trao đổi khi chúng ta lại nắm trong tay các công xưởng, nhà máy, phương tiện vận tải và ngoại thương thì CNTB đó không đáng sợ Tô nhượng chính là chủ nghĩa tư bản như thế và xét về mặt quan hệ kinh tế thì tô nhượng chính là CNTB nhà nước Lênin còn nhấn mạnh rằng: “ Trao đổi hàng hoá và tự do buôn bán nhất định sẽ làm xuất hiện những nhà tư bản và những quan hệ tư bản chủ nghĩa Không việc gì phải sợ điều đó Nhà nước công nhân có trong tay đầy đủ phương tiện để cho phép những quan hệ đó- những quan hệ hiện đang có ích và cần
thiết trong hoàn cảnh sản xuất nhỏ phát triển có chừng mực nhất định và để kiểm soát
những quan hệ đó” [60,355]
Thành phần kinh tế tư bản nhà nước cần tồn tại trong thời kỳ quá độ, đặc biệt
là ở những nước trong đó cấu trúc tiểu hàng hoá chiếm địa vị đáng kể Nó thực cần thiết để phát triển kinh tế vì thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, vô sản có thể sử dụng bộ phận có kinh nghiệm nhất của tư bản để tổ chức hoạt động của các xí nghiệp Bên cạnh đó, việc cho phép thành phần kinh tế này tồn tại sẽ cho phép việc theo dõi
và kiểm soát được hàng loạt những người sản xuất nhỏ, do đấy cũng xúc tiến một cách khách quan việc thiết lập sự giám sát của nhà nước đối với nền sản xuất nhỏ Bên cạnh đó, cho phép nó phát triển cũng đồng thời là tạo điều kiện thuận lợi để cơ
sở vật chất XHCN ngày càng được củng cố, hoàn thiện
Khởi đầu của việc sử dụng CNTB nhà nước là thực hiện chế độ nhượng quyền tức chế độ tô nhượng Tô nhượng theo Lênin đó là: “Một giao kèo, một sự liên kết, liên minh giữa chính quyền nhà nước Xô viết, nghĩa là nhà nước vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước, chống lại thế lực tự phát tiểu tư hữu ( có tính chất gia trưởng
và tiểu tư sản) Người nhận tô nhượng là nhà tư bản” [60,269]
Như vậy, tô nhượng là một giao kèo, một sự liên kết giữa nhà nước vô sản với CNTB nhà nước theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi Nhà nước vô sản cho CNTB nhà nước thuê các xí nghiệp công nghiệp, đất đai, rừng hoặc sông ngòi để tư bản khai thác quặng và mở mang các ngành công nghiệp mới CNTB nhà nước chỉ được thuê trong một thời vụ nhất định và có những điều kiện có lợi cho nhà nước vô sản Khi
Trang 3333
hợp đồng hết hay trong những trường hợp một bên phá vỡ hợp đồng thì những xí nghiệp này tự động chuyển sang tay nhà nước vô sản Bên cạnh đó, có thể hướng các
xí nghiệp ấy thành những xí nghiệp XHCN
Như vậy, với việc nhận thức rằng, sự tồn tại của tư bản và sản xuất hàng hoá là một tất yếu trong thời kỳ quá độ, Lênin đã đưa ra chính sách khuyến khích sự phát triển của hình thức thành phần kinh tế tư bản nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH Đây là hình thức mà cả nhà tư bản lẫn nhà nước Xô viết cùng có lợi, trong đó nhà nước luôn nắm thế chủ động
Tô nhượng đó là chính sách cần thiết Đó là một sự liên minh cần thiết và có lợi bởi cuộc khủng hoảng kinh tế cộng với sự tàn phá của chiến tranh khiến cho nước Nga không thể tự khôi phục kinh tế một mình mà cần có sự liên minh, cụ thể là cần
có thiết bị kỹ thuật, chuyên gia của nước ngoài Nếu không làm như vậy, nếu đóng cửa và từ chối mọi sự liên minh, mọi sự giúp đỡ có điều kiện hay không có điều kiện, thì đất nước sẽ rơi vào tình trạng khó khăn hơn nữa và sẽ rất khó để đuổi kịp CNTB,
và tiến lên CNCS Nếu nhìn tình hình một cách tỉnh táo, thì theo Lênin, sẽ dễ dàng nhìn thấy điều tất nhiên đó
Theo Lênin, so với các hình thức khác của CNTB nhà nước trong lòng chế độ
Xô viết thì “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng có lẽ là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, sáng tỏ nhất, có hình thù rõ nhất” [60,270] Với tô nhượng, nhà nước Xô viết có hợp đồng trực tiếp viết trên giấy tờ với CNTB Tây Âu
là CNTB văn minh nhất, tiên tiến nhất lúc bấy giờ Chính sách tô nhượng một khi thắng lợi sẽ đưa lại cho chúng ta một số ít xí nghiệp lớn kiểu mẫu- kiểu mẫu so với những xí nghiệp của chúng ta- ngang trình độ của CNTB tiên tiến hiện đại Theo Lênin, chỉ cần mấy chục năm nữa thì những xí nghiệp đó sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước
Hình thức thứ hai của CNTB nhà nước là các hợp tác xã Lênin cho rằng:
“ Các hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù rõ rệt hơn, phức tạp hơn”[60,271] Chính sách về thuế lương thực thực sự đã nới rộng sự hoạt động, “ tự do” và quyền hạn của các hợp tác xã Các hợp tác xã đặt chính quyền Xô viết trước những khó khăn lớn hơn Các hợp tác xã chính là sự tập hợp các tiểu nghiệp chủ và nó nhất định sản sinh ra những quan hệ tư bản, tiểu tư sản Tự do và quyền lợi của hợp tác xã cũng chính là tự do và quyền lợi cho CNTB Tuy nhiên CNTB hợp tác xã khác với CNTB tư nhân vì nó là một hình thái của CNTB nhà nước và như vậy nó có lợi cho chính quyền Xô viết ở mức độ
Trang 3434
nhất định CNTB hợp tác xã giống CNTB nhà nước ở chỗ nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự kiểm kê, kiểm soát, theo dõi, cho những quan hệ đã ghi trong hợp đồng giữa nhà nước với nhà tư bản Chính sách hợp tác xã một khi thành công sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏ phát triển và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ trong một thời hạn không nhất định lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp
Như vậy, hợp tác xã là hình thức mới cải tạo tiểu nông Nhà nước Xô viết có những thứ cần thiết và đầy đủ để xây dựng CNXH, khi chính quyền ở trong tay giai cấp công nhân và có chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Lênin còn khẳng định:
“ Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa” [62,428] và “ dưới chế độ hiện nay của chúng ta, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp tư bản tư nhân, ở chỗ, nó là
xí nghiệp tập thể, nhưng nó không khác xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, nếu miếng đất trên đó được xây dựng và những tư liệu sản xuất đều thuộc về nhà nước, nghĩa là về giai cấp công nhân…Nếu không kể tô nhượng- nhân tiện cũng nói thêm là tô nhượng
đó ở nước ta không phát triển rộng lắm, - thì thường thường trong hoàn cảnh nước ta, chế độ hợp tác xã là hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa xã hội”[62,427]
Trong thời kỳ quá độ, thực tiễn kinh tế đã cho thấy còn có những hình thức, những mối quan hệ vô cùng phức tạp mà chúng ta không thể không chấp nhận hay cho nó tồn tại, kể cả sự tồn tại của nó xét ở góc độ nào đó, khi nó phát triển mà vượt qua sự kiểm soát sẽ ảnh hưởng lớn tới nhà nước XHCN Nhưng quan điểm chính trị đúng đắn phải là không thể phớt lờ, coi như nó không tồn tại Phải khẳng định sự tồn tại của nó và sử dụng nó một cách có hiệu quả trên cơ sở ta là chủ, ta chủ động Lợi dụng CNTB nhà nước là cần thiết để đảm bảo có được những hợp đồng với những nước tư bản tiên tiến và sự phát triển của công nghiệp và “ không có sự phát triển này, chúng ta không thể tiếp tục tiến lên trên con đường đi tới chủ nghĩa cộng sản” [60,34] Lợi dụng để phát triển kinh tế, để xây dựng cơ sở vật chất và từ đó lấy đà nhảy một
cũ mãnh liệt lên CNCS là cái mục đích, cái ý định của các chính sách chính trị về kinh tế Lênin đã nhấn mạnh rõ rằng “ vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy, trong một mức độ nào đó chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi” [60,376] Bên cạnh đó, Lênin còn nhấn mạnh thêm rằng: “ một nhà buôn sỉ, cái đó có vẻ như một loại điển hình kinh tế, cách xa chủ nghĩa cộng sản chẳng khác nào đất với trời Nhưng trong thực tế sinh động, chính
đó lại là một trong những mối mâu thuẫn sẽ dẫn chúng ta từ nền kinh tế tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước.”[61,190]
Trang 3535
Tại đại hội IV Quốc tế cộng sản, Lênin còn khẳng định: “ Câu hỏi mà lúc đó tôi đặt ra cho mình…là như thế này: thái độ của chúng ta đối với chủ nghĩa tư bản nhà nước phải như thế nào? Và tôi tự trả lời: chủ nghĩa tư bản nhà nước, tuy không phải là một hình thức xã hội chủ nghĩa, nhưng đối với chúng tôi và đối với nước Nga,
nó vẫn là một hình thức thuận lợi hơn là cái hình thức hiện nay Thế nghĩa là gì? Nghĩa là, trong khi đã làm xong cuộc cách mạng xã hội rồi, chúng tôi vẫn không đánh giá quá cao những mầm mống cũng như những cơ sở của kinh tế xã hội chủ nghĩa; ngược lại, ngay từ hồi đó, về cái chân lý sau đây: quả thật, tốt hơn là nên trước hết hãy thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước, để rồi, sau đó, đi lên chủ nghĩa xã hội” [62,325-326] Như vậy, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất để rồi từ đó có thể chuyển sang CNXH và CNCS, trên cơ sở chính quyền nhà nước nằm trong tay giai cấp công nhân
Như vậy, một lần nữa Lênin lại kêu gọi sự hiện thực hoá các chính sách chính trị cho kinh tế Phải biết nhìn thẳng vào thực tiễn đang vận động, biến đổi của nền kinh tế, của thời đại để từ đó đưa ra các chính sách phát triển kinh tế cho phù hợp Đặc biệt là không ngại những cái mới, không ngại những cái có liên quan tới CNTB
vì nhà nước này là nhà nước Xô viết, tất các mọi việc đều được đặt dưới quyền kiểm soát của nhà nước Xô viết, của giai cấp vô sản Cần phải hiểu những đường lối, thể
thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền
Từ đó, Lênin đã đưa ra được các chính sách tối cần thiết với nền kinh tế nước Nga Xô viết thời bấy giờ
Trang 3636
1.2.3 Chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế
Lịch sử đã chứng minh rằng không có nền kinh tế nào trong xã hội có giai cấp
mà lại không chịu sự chi phối, điều tiết của chính trị, trực tiếp hoặc gián tiếp, không
ẩn dấu bên trong thì cũng biểu hiện bên ngoài Điều khác nhau chỉ là nền chính trị nào và nhà nước đó là nhà nước của giai cấp nào
Kinh tế có vai trò quyết định tới việc đưa ra những quyết sách chính trị, những phương sách phát triển kinh tế nhưng đến lượt nó, chính trị cũng có vai trò tác động trở lại kinh tế theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực
C.Mác, Ph.Ănghen đã nhấn mạnh vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế trong luận điểm sau đây: “ Tác động ngược lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế có ba loại Nó có thể tác động cùng hướng khi ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể tác động ngược lại sự phát triển kinh tế- khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là
nó có thể cản trở sự phát triển kinh tế ở những hướng nào đó và thúc đẩy sự phát triển
ở những hướng khác Trường hợp này rốt cuộc dẫn đến một trong hai trường hợp trên Tuy nhiên, rõ ràng là trong trường hợp thứ hai và thứ ba, quyền lực chính trị có thể gây tác hại lớn cho sự phát triển kinh tế và có thể gây ra sự lãng phí to lớn về sức lực
và vật chất" [47,678]
Như vậy, chính trị có thể tác động lên kinh tế theo ba chiều hướng:
Một là nó cùng chiều với sự phát triển kinh tế thì có vai trò tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ
Hai là nó ngược chiều với sự phát triển kinh tế thì thứ chính trị đó sẽ kìm hãm
sự phát triển kinh tế
Ba là chính trị có khả năng hạn chế phần nào phạm vi tác động những khuynh hướng phát triển này hoặc có thể đẩy mạnh tác dụng của những khuynh hướng phát triển khác trong một chế độ kinh tế nhất định
Theo C.Mác và Ph.Ănghen thì chỉ có thứ chính trị tác động cùng hướng lên sự phát triển kinh tế, tuân theo quy luật cũng như nhận thức và phân tích thực tiễn một cách sáng suốt thì mới thúc đẩy kinh tế phát triển Còn lại thì đều gây tác hại lớn cho nền kinh tế, gây lãng phí to lớn về sức lực và vật chất Tuy nhiên, dù có dùng quyền lực chính trị để đi ngược lại sự phát triển kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh tế thì chính trị không thể thoát khỏi sức ép của sự phát triển kinh tế Cuối cùng, chính trị cũng phải thay đổi để phù hợp với sự phát triển kinh tế và tuân theo sự phát triển ấy
Trang 3737
Ở đây, chúng ta nhấn mạnh tới việc chính trị sai lầm sẽ chỉ đem lại những lãng phí và
sự trả giá quá đắt có thể không chỉ là vật chất mà còn có thể là con người
Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen V.I Lênin đã khẳng định: " Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế" [59,349]
Trước hết chúng ta cần phải hiểu chính trị mà V.I Lênin nói ở đây không phải
là chính trị một cách thuần tuý mà phải hiểu chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Chính trị ở đây là chính trị để làm kinh tế, nghĩa là giai cấp thống trị cần đưa
ra những đường lối, chính sách đúng đắn nhằm phát triển kinh tế
Thứ hai, chính trị ở đây còn được hiểu là phương pháp chính trị dùng để phát
triển kinh tế Có nhiều người đã nghĩ lệch lạc câu nói này của V.I.Lênin Họ cho rằng V.I.Lênin đã đi ngược lại Chủ nghĩa Mác khi khẳng định chính trị có vai trò quyết định tới kinh tế, tức là gián tiếp khẳng định kiến trúc thượng tầng có vai trò quyết định đối với cơ sở hạ tầng Nhận thức như vậy là hoàn toàn sai lầm Lênin không chỉ trung thành với chủ nghĩa Mác mà luận điểm trên của Người còn thể hiện
sự cụ thể hơn về vai trò của chính trị Ở đây Lênin nói từ chính trị "ưu tiên" so với kinh tế chứ không phải là chính trị có vai trò quyết định so với kinh tế Lênin hoàn toàn không có ý nhấn mạnh vai trò quyết định của chính trị đối với kinh tế Chính trị
ở đây còn có thể hiểu là một thủ đoạn, một công cụ để giải quyết vấn đề kinh tế và các vấn đề khác…
Giai cấp vô sản đã thực hiện một cuộc cách mạng để nhằm xây dựng một quan
hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất XHCN Bởi vậy, trong quá trình giành và củng cố quyền lực chính trị của mình, giai cấp vô sản phải thể hiện được vai trò quyền lực của mình bằng việc đưa ra những đường lối chính trị để hình thành và phát triển kinh tế XHCN Chính trong quá trình như vậy, chính trị có vai trò và ý nghĩ vô cùng to lớn Việc cho rằng chính trị giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế tức là thể hiện tính ưu việt của việc sử dụng phương pháp chính trị hơn phương pháp kinh tế trong quá trình xây dựng nước Nga Xô viết
Trong thời kỳ quá độ, công thức xây dựng đất nước của V.I Lênin đó là nhìn
về mặt chính trị để quyết định nhiệm vụ kiến thiết kinh tế tức là khi đưa ra các chính sách kinh tế phải đứng trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, vấn đề ở đây là sử dụng chính trị như một công cụ để điều tiết phát triển kinh tế ở mức độ nào là hợp lý Một sự can thiệp quá mức vào kinh tế sẽ chặn đứng sự phát triển của nó Ngược lại, không có sự can thiệp đúng mức của chính trị tức là sự phát triển của kinh tế sẽ không theo người cầm lái, thì nền kinh tế sẽ phát
Trang 3838
triển một cách tự phát, tự do Trong lịch sử, chúng ta đã ghi nhận thấy những trường hợp nền kinh tế phát triển một cách tự do đã ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của kinh
tế, xã hội như thế nào ? Muốn có một nền kinh tế phát triển bền vững vì xã hội thì cần
có sự can thiệp của nhà nước ở một mức độ nhất định, phải kết hợp giữa thị trường và
kế hoạch
Tán thành quan điểm của C Mác và Ph Ănghen với trường hợp chính trị kìm hãm kinh tế hoặc đầu tư không đúng mức vào kinh tế sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nặng nề, V.I Lênin nhiều lần đã chỉ rõ: " Cố nhiên tôi luôn luôn đã, đang và sẽ còn mong muốn rằng chúng ta làm chính trị ít hơn và làm kinh tế nhiều hơn Nhưng cũng dễ hiểu rằng muốn cho lòng mong muốn thành sự thật thì cần phải không có những nguy cơ về chính trị và những sai lầm chính trị…những sai lầm đó buộc chúng
ta phải mất nhiều thời gian để sửa chữa" [59,352]
Lênin hiểu vấn đề này hơn ai hết Bởi trước khi có chính sách kinh tế mới, chính sách "cộng sản thời chiến" ra đời nhằm xây dựng nước Nga Xô viết lên CNCS trong thời chiến Bởi vậy, một vài chính sách đã được coi như là một sai lầm không thể không phạm phải Ví dụ điển hình nhất là việc nước Nga Xô viết khi đó còn tồn tại nhiều giai cấp, sở hữu và đa thành phần kinh tế Nhưng thay vì khuyến khích chúng phát triển thì khi đó chính trị buộc phải đưa ra những chính sách loại trừ dần dần sự tồn tại của các thành phần kinh tế phi XHCN, và các giai cấp là mầm mống của sự phát triển TBCN Bằng quyền lực chính trị cũng như vì lợi ích giai cấp, bên cạnh những khó khăn thúc bách của chiến tranh, các chính sách đưa ra trong thời kỳ công sản thời chiến là một sai lầm, đi ngược lại với quy luật phát triển kinh tế
Sau chiến tranh, những nguy cơ xâm lược nội xâm và ngoại xâm bị đẩy lùi, một số chính sách được đề ra nhằm tạo ra sự phù hợp giữa các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề kinh tế ở nước Nga Xô viết Lúc này, phương pháp chính trị để nhận biết bước đi, phân tích thực tiễn là cần thiết hơn là để mặc cho kinh
tế tự phát triển Việc ưu tiên cho chính trị, dùng phương pháp chính trị ở đây cũng là
để phát triển kinh tế, cũng là ưu tiên phát triển kinh tế
Trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin đã không ngừng và kiên quyết đấu tranh với phái kinh tế và nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị cũng như khẳng định vào thời điểm này thì chính trị, phương pháp chính trị luôn chiếm vị trí hàng đầu, lo cho chính trị là lo cho sự phát triển kinh tế, ưu tiên cho chính trị cũng chính là ưu tiên cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến sự phát triển bản thân kinh tế
Trang 3939
Để phản kháng lại những lời buộc tội của phái kinh tế cho rằng Lênin đứng về phía chính trị để giải quyết mọi vấn đề, đã xa rời chủ nghĩa Mác, Lênin đã khẳng định: "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, càng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất"[59,350] Một nền kinh tế trong xã hội nhất định luôn luôn cần có sự chi phối, can thiệp của chính trị, mà tất nhiên đó là thứ chính trị của giai cấp cầm quyền Bởi vậy, giai cấp cầm quyền biểu hiện được quyền lực chính trị của mình, lợi ích của mình qua các chính sách kinh tế Nhưng để không bị các quy luật kinh tế điều khiển cũng như để điều khiển sự phát triển kinh tế phục vụ cho lợi ích của giai cấp thì giai cấp đó phải giữ vững được lập trường tư tưởng của mình Nếu chỉ tập trung vào kinh tế, phát triển kinh tế một cách tối đa, dẫn tới việc tuân theo, phục tùng theo quy luật phát triển kinh tế, bỏ qua hoặc cho rằng không cần thiết có sự can thiệp của chính trị thì nền kinh tế đó sẽ không thể
đi theo hướng mà giai cấp vô sản đặt ra là xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm tiến lên CNXH, CNCS
Giai cấp vô sản giành và củng cố quyền lực chính trị và từ đó để hình thành
và phát triển nền kinh tế XHCN ( vì lợi ích của toàn thể nhân dân) thì nền kinh tế đó phải hoạt động sao cho phục vụ toàn thể nhân dân, cũng như có một nhiệm vụ to lớn
là xây dựng nền kinh tế XHCN, tức là nó phải làm sao cho các yếu tố của CNXH phát triển mạnh mẽ như các thành phần kinh tế XHCN phát triển mạnh, đóng vai trò chủ đạo, nòng cốt
Khi hiểu được vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế và đặc biệt hơn, Lênin mong muốn rằng cần có ít sai lầm về chính trị thì mới có một nền kinh tế vững mạnh được Vậy để có ít sai lầm chính trị thì cần có người lãnh đạo sáng suốt và một
bộ máy Nhà nước làm việc có hiệu quả Chính vì vậy, để có một đường lối chính trị đúng đắn, cũng như việc thực thi các đường lối đó được thông suốt thì Lênin đã tập trung vào cải cách bộ máy nhà nước Lênin đã thẳng thắn thừa nhận rằng:" Tình hình
bộ máy nhà nước của ta rất đáng buồn, nếu không muốn nói là rất tồi tệ, đến nỗi trước hết chúng ta phải suy nghĩ nghiêm chỉnh xem nên khắc phục những khuyết điểm của
bộ máy ấy như thế nào"[62, 442-443]
Sự thật rằng nước Nga Xô viết chỉ có hai yếu tố để xây dựng bộ máy ấy
Yếu tố thứ nhất là công nhân hăng hái đấu tranh cho CNXH Nhưng họ lại không có đủ trình độ, học thức để biết cần phải xây dựng bộ máy ấy như thế nào Mà theo Lênin, việc xây dựng bộ máy nhà nước không thể giải quyết được bằng một hành động liều lĩnh, bằng sự táo bạo hay bằng những đức tính tốt đẹp nào cả, nó cần
có trình độ văn hoá
Trang 4040
Yếu tố thứ hai mà nước Nga Xô viết cần có để xây dựng bộ máy là những yếu
tố kiến thức, học thức, giáo dục, nhưng nếu so với các nước khác thì trình độ của nước Nga khi đó còn thấp "đến nực cười" Bên cạnh đó, Lênin còn không ngại ngần thừa nhận việc cải tiến bộ máy nhà nước trong thời gian qua chỉ là "một hoạt động phí công, một hoạt động, qua năm năm đã chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng hoạt động đó chỉ là vô hiệu, thậm chí còn vô ích, hay thậm chí còn có hại là khác…đã làm cho những cơ quan và đầu óc của chúng ta đóng cáu lại"[62,445] Như vậy, nhiệm vụ cải cách bộ máy nhà nước là vô cùng cấp bách
Nhiệm vụ cải cách bộ máy nhà nước là nhằm đảm bảo chính trị quan trọng nhằm thực hiện nhiệm vụ chủ yếu mà Người đề ra cho chính sách kinh tế mới để xây dựng CNXH Lênin đã khẳng định: "Hiện nay chúng ta có hai nhiệm vụ chủ yếu có ý nghĩa đánh dấu thời đại Nhiệm vụ thứ nhất là cải tạo bộ máy quản lý hoàn toàn vô giá trị mà thời đại cũ đã để lại toàn bộ cho chúng ta…Nhiệm vụ thứ hai của chúng ta
là tiến hành công tác văn hoá trong nông dân"[62,428] Trong đó, chú trọng tới hai vấn đề:
Vấn đề thứ nhất: Cải cách bộ máy nhà nước
Theo Lênin:" Không có cuộc đấu tranh triệt để và bền bỉ để cải thiện bộ máy, thì chúng ta sẽ tiêu vong trước khi tạo được cơ sở của chủ nghĩa xã hội"[60,457] Bộ máy vững chãi thì phải thích ứng được với mọi sự biến đổi Khi chiến tranh đã qua đi, hoà bình được lập lại, bộ máy đó cũng phải thay đổi về nhận thức, chính sách, để có thể xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Bộ máy cũ theo Lênin là hoàn toàn "vô giá trị"
Bên cạnh đó, theo Người, ngại thay đổi là tâm lý của nhiều người an phận thủ thường, không thấy được những sự hối thúc của thực tiễn, của nhu cầu, lợi ích của con người Nếu không nhận thức được thì nói như Lênin, Nhà nước Xô viết sẽ bị diệt vong, trước hết là vì những mâu thuẫn về lợi ích của xã hội không được đảm bảo Bộ máy nhà nước phải phục tùng cho mục tiêu chính trị Điều đó, đòi hỏi thành phần tổ chức của bộ máy phải bảo đảm được việc đông đảo quần chúng kiểm tra được công việc nhà nước, tăng cường mối liên hệ giữa quần chúng nhân dân với những người lãnh đạo Từ đó, chúng ta mới có thể đề phòng chủ nghĩa cá nhân với tệ độc đoán, từng bước thực hiện dân chủ hoá trong sinh hoạt
Tuy nhiên, cải cách bộ máy nhà nước không phải là việc đơn giản mà vô cùng phức tạp đòi hỏi thận trọng Lênin đã nhấn mạnh:" Cần phải làm việc một cách thận trọng bằng cách căn cứ vào kinh nghiệm thực tế mà sửa đổi dần dần bộ máy của chúng ta tuỳ theo mức độ cần thiết" [59,190] Theo đó, V.I Lênin còn nhấn mạnh