Đánh giá kết quả các hoạt động của Hội phụ nữ Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội; 3.1.3.. Nó mang tính phi chính phủ, tồn tại độc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục đích: 8
3.2 Nhiệm vụ: 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
5.2 Cơ sở lý luận: 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu: 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu luận văn 10
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Xã hội dân sự: 11
1.1.1 Một số quan niệm về xã hội dân sự: 11
1.1.2 Đặc điểm của xã hội dân sự: 16
1.1.3 Xã hội dân sự ở Việt Nam: 17
1.2 Tổ chức chính trị - xã hội: 20
1.3 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 26
Trang 31.3.1 Sự ra đời của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 26
1.3.2 Mục đích và các đặc trưng của Hội: 28
1.3.3 Chức năng và nhiệm vụ 29
1.3.4 Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam: 31
1.4 Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV/AIDS)………… ………….32
1.4 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác phòng, chống HIV/AIDS 33
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ HIV/AIDS Ở VIỆT NAM 38
2.1 Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tại Viêt Nam 38
2.2 Phụ nữ là đối tượng bị tổn thương do HIV/AIDS 39
2.3 Đóng góp của các tổ chức quần chúng 43
Chương 3: VAI TRÒ CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM 46
3.1 Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS 46
3.2 Các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của Trung ương Hội PN Việt Nam năm 2007 - 2008 47
3.2.1 Tham mưu, chỉ đạo thực hiện Chương trình phòng chống HIV/AIDS 48
3.2.2 Công tác thông tin, giáo dục và truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi 49
3.2.3 Nâng cao năng lực cho cán bộ Hội 52
3.2.4 Phối hợp chăm sóc, hỗ trợ người có H, người bị ảnh hưởng và tư vấn xét nghiệm tự nguyện 55
3.2.5 Xây dựng mô hình 57
Trang 43.3 Đánh giá vai trò của Trung ương Hội 60
3.3.1 Tiêu chí đánh giá: 60
3.3.2 Đánh giá sự đóng góp của Trung ương Hội PN Việt Nam trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS 63
3.4 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác phòng chống HIV/AIDS của Hội liên hiệp PN 74
3.4.1 Thuận lợi: 74
3.4.2 Khó khăn: 77
3.5 Kết luận và khuyến nghị: 80
3.5.1 Kết luận: 80
3.5.2 Khuyến nghị: 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc chiến chống lại HIV/AIDS trên toàn cầu đã diễn ra trong suốt hơn hai mươi năm qua nhưng các nỗ lực dự phòng lây nhiễm vẫn chưa mang lại nhiều kết quả, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em Qua nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ và trẻ em có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gấp 2,5 lần so với nam giới cùng trang lứa bởi một số lý do nhất định như các nhân tố thuộc về cấu tạo thể chất lây nhiễm và những hạn chế trong các tình huống sinh hoạt tình dục với bạn tình Tại Việt Nam, theo thống kê về tình hình nhiễm HIV/AIDS trong toàn quốc của Cục phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) trong 03 tháng đầu năm 2008cho thấy:
Tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS còn sống là: 123.775 người; Tổng số bệnh nhân AIDS hiện còn sống: 26.214 người; Tổng số người nhiễm HIV/AIDS tử vong: 38.648 người Trong đó tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV/AIDS chiếm 30% tổng số người nhiễm HIV của cả nước đặc biệt số phụ nữ mang thai nhiễm HIV đã không ngừng gia tăng từ 0,03% năm 1995 lên 0,39% năm 2002
Tính đến ngày 31/6/2009:
- Tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS còn sống: 149.653 người
- Tổng số trường hợp AIDS còn sống: 32.400 người
- Tổng số trường hợp đã chết do AIDS: 43.265 người Phạm vi lây nhiễm không chỉ tăng trong nhóm có hành vi nguy cơ cao là tiêm chích ma tuý, gái mại dâm, nhóm phụ nữ đô thị mà đã lan rộng ra cả nước Tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn diễn ra ở nhiều nơi, mặt khác, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, tình trạng di
Trang 6dân của nhóm phụ nữ nông thôn ra thành thị tìm việc làm ít có cơ hội tiếp xúc thông tin, dịch vụ y tế cũng dẫn đến các hành vi tình dục không an toàn, là nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ Khi số người nhiễm HIV/AIDS chuyển sang giai đoạn AIDS sẽ làm tăng gánh nặng đối với gia đình, cộng đồng và đất nước Khi đó, phụ nữ với vai trò chủ yếu là sinh sản và nuôi dưỡng trong gia đình, phần lớn chị
em phụ nữ là người chăm sóc những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, đồng thời cũng trở thành lao động chính trong gia đình do đó nếu thiếu hiểu biết họ sẽ là những người có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao
Trước những khó khăn và nguy cơ của phụ nữ đối với HIV/AIDS, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam - một tổ chức chính trị xã hội, đã có những nỗ lực và đóng góp đáng kể góp phần giảm thiểu gánh nặng cho cộng đồng và hỗ trợ người phụ
nữ cải thiện cuộc sống của mình tuy nhiên nhiều người, nhiều tổ chức chưa nhìn nhận đúng vai trò của phụ nữ cũng như Hội phụ nữ trong công tác phòng chống HIV/AIDS
Tôi chọn đề tài “Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam trong công tác
phòng chống HIV/AIDS” nhằm tìm hiểu những đóng góp của Trung ương Hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam như là một bộ phận của một tổ chức chính trị - xã hội trong công tác phòng chống đại dịch HIV/AIDS tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết và giải quyết các vấn đề
xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội vận hành một cách hiệu quả theo các mục tiêu
đã được định sẵn Tuy nhiên trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của cuộc sống, trong sự tương tác với các quốc gia và trong bối cảnh toàn cầu hoá thì xã hội ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp vì vậy nhà nước không phải là
Trang 7chiếc chìa khoá vạn năng để có thể giải quyết mọi vấn đề mà trong đó căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS là một vấn nạn cho mọi quốc gia
Ở Việt Nam, công tác phòng chống đại dịch HIV/AIDS trong những năm qua đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng dân cư và giới chức Trước gánh nặng về kinh tế và những tổn thất về mặt xã hội do HIV/AIDS gây ra trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn chế, năng lực của đội ngũ các nhà chuyên môn chưa đáp ứng được thực tế bùng nổ quá nhanh của đại dịch thì nhiều tổ chức dân
sự đã được thành lập Các tổ chức này cùng với những tổ chức chính trị - xã hội được ra đời trước đó đã tự huy động nguồn lực về con người, tài chính để cùng chính phủ giải quyết các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS Sự ra đời ngày càng nhiều các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam gây sự chú ý của các nhà nghiên cứu, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào xem xét sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào công tác phòng chống HIV/AIDS nói riêng Mới đây Mạng thông tin nghiên cứu HIV/AIDS thuộc dự án REACH do Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế của chính phủ Đan Mạch tài trợ kinh phí được thành lập, là nơi tập hợp các thông tin về các dự án nghiên cứu HIV/AIDS song cũng không cho thấy bất kỳ một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của phụ
nữ Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của Uỷ ban phòng chống HIV/AIDS quốc gia Vai trò của Hội đã được thể hiện trong nhiều nỗ lực nhằm giúp đỡ, hỗ trợ đối tượng phụ nữ trên toàn quốc cải thiện cuộc sống và vươn lên bình đẳng với nam giới trong xã hội Song nghiên cứu Hội với tư các
là tổ chức chính trị - xã hội trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam là một đề tài mới mẻ
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
Đề tài hướng đến ba mục tiêu chính là:
3.1.1.Xem xét vai trò của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam với tư cách là
cơ quan cao nhất và là một bộ phận của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS;
3.1.2 Đánh giá kết quả các hoạt động của Hội phụ nữ Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội;
3.1.3 Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS của Hội phụ nữ Việt Nam từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường vai trò của Hội trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
- Chỉ ra được những khó khăn, thuận lợi trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS của Hội PN VN từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường vai trò của Hội trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 9- Các hoạt động của Trung ương Hội PN Việt Nam với tư cách là một bộ phận của tổ chức chính trị - xã hội trong công tác phòng chống HIV/AIDS
- Tài liệu sẵn có về các hoạt động của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam đối
với công tác phòng chống HIV/AIDS trong hai năm (2007 và 2008)
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Các hoạt động của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp Trung ương năm
2007 và 2008 trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Cơ sở lý luận:
- Luận văn được xây dựng trên nền tảng các quan điểm, tư tưởng của các nhà triết học Cổ đại, Trung đại, của C Mark và Anghen, tư tưởng Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu, phân tích các tài liệu thứ cấp: Tổng hợp, nghiên cứu, phân
tích các nguồn tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài trên cơ sở phương pháp luận so sánh, lịch sử, logíc v/v
6 Đóng góp của luận văn
- Đóng góp một nghiên cứu xem xét khía cạnh tích cực của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội trong số các nghiên cứu còn khá mới mẻ về vấn đề phòng chống đại dịch HIV/AIDS
- Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
Trang 107 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
- Phần 1: Mở đầu
- Phần 2: Nội dung chính (với 03 chương)
+ Chương 1: Cơ sở lý luận
+ Chương 2: Tổng quan về HIV/AIDS ở Việt Nam
+ Chương 3: Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS
- Phần 3: Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Xã hội dân sự:
1.1.1 Một số quan niệm về xã hội dân sự:
Xã hội được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ giữa con người với con người một cách tự nhiên Từ buổi đầu sơ khai, các cá nhân trong xã hội có nhu cầu lợi ích giống nhau đã tập hợp lại thành những nhóm lợi ích Sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích này tạo nên các xung đột trong xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Sự tồn tại của Nhà nước nhằm khắc phục các mâu thuẫn bằng cách thiết lập một sự thoả thuận giữa tất cả các thành viên trong xã hội thông qua hệ thống luật pháp do nhà nước đặt ra hay theo cách nói của J Locke thì đó là Khế ước xã hội Như vậy, nhà nước và pháp luật được hình thành do sự thoả thuận giữa nhân dân, khi nào sự thoả thuận ấy bị phá vỡ thì người dân có quyền thiết lập một khế ước mới bằng nhiều cách khác nhau, đó là quyền tự nhiên của con người Vì một lý do nào đó nếu nhà nước bị diệt vong hoặc thay đổi thì xã hội vẫn tồn tại và duy trì trên cơ sở các quyền tự nhiên của nó Sự ra đời của nhà nước, việc quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật, bằng các thể chế không thể lấy đi tất cả các quyền tự nhiên của con người Khi những quyền tự nhiên của con người và các quy định của nhà nước hài hoà, đáp ứng được nhu cầu sống của các cá nhân, đảm bảo tinh thần dân chủ
và không có sự đối chọi giữa nhà nước và nhân dân thì có thể coi là một xã hội
lý tưởng Bàn về vấn đề này, theo Aristotle, nhà nước tốt nhất là một chính thể
do giai cấp trung lưu nắm quyền, hài hoà các tham vọng và quyết định, hướng tới sự công bằng hơn giữa người giàu và người nghèo Một nền dân chủ bao giờ cũng tốt hơn nền chính trị độc tài chuyên chế Thứ nhất, các cá nhân có cơ hội
Trang 12tham gia vào quá trình quản lý đất nước Luật pháp là kết quả của quá trình tranh luận giữa người dân hơn là các chuyên gia Vì thông qua tranh luận sẽ tăng khả năng trí tuệ và sự thông minh của xã hội và tập thể, tối ưu hoá lợi ích của tập thể Thứ hai, mọi người khi tuân thủ luật pháp, người ta có quyền được sống mà không có sự can thiệp của nhà nước, và được bình đẳng trước pháp luật
Socrates hai nghìn năm trước đây cho rằng con người chỉ có một cuộc sống tốt lành trong điều kiện xung đột về mặt nhu cầu và lợi ích, khi các vấn đề của xã hội được giải quyết qua tranh luận trước công chúng, các suy nghĩ và lập luận khác nhau, phản biện lẫn nhau để hướng tới sự khám phá ra chân lý, cho đến khi
họ đạt được một trình độ lý luận mà không thể bị bác bỏ, lúc đó các mệnh đề đưa
ra làm cơ sở cho giải quyết các xung đột và phát triển xã hội hài hoà
Như vậy, sự tồn tại của một nhà nước pháp quyền là cần thiết để đảm bảo
xã hội vận hành theo một quỹ đạo thống nhất, song nhà nước pháp quyền cũng
có hạn chế nhất định của nó Mâu thuẫn giữa tính bắt buộc, quy chuẩn giới hạn của pháp luật và sự phong phú, sinh động của mọi nhu cầu cá nhân cho thấy có khi nhà nước pháp quyền trở nên chậm chạp thậm chí là quan liêu và tha hoá trong vận hành dẫn đến sự kìm hãm sự phát triển của xã hội nói chung và các cá nhân nói riêng Do đó cách tốt nhất để lấy lại quyền tự do tự nhiên của của con người là tổ chức thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm
từ phía nhà nước trong khi vẫn có sự điều tiết của nhà nước và bộ máy công quyền Xã hội dân sự ra đời là một trong những giải pháp cho vấn đề này
Trên thế giới, xã hội dân sự không phải là một đề tài mới nhưng cho đến thế kỷ 21 mới thực sự được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Khi nói đến xã hội dân sự người ta thường nghĩ ngay đến tính phi nhà nước của nó Đó là đặc trưng
và là một trong những nhu cầu của xã hội dân sự Thuật ngữ “Civil Society”
Trang 13được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là xã hội dân sự hoặc xã hội công dân được bắt nguồn từ phương Tây Xung quanh thuật ngữ này có nhiều khái niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Nội hàm của khái niệm “Xã hội dân sự” xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là con người sống trong cộng đồng Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (Thế kỷ XVIII), xã hội dân
sự có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán Các nhà triết học vĩ đại của thời kỳ Khai sáng, như Hobbes, Locke, Rousseau, Kant đã sử dụng khái niệm xã hội dân sự như một xã hội tự nhiên ở đó mỗi con người có quyền tự nhiên của mình bao gồm quyền sống, tự do, và sở hữu tài sản, và họ có quyền bảo vệ chúng
Kể từ năm 1750 đến năm 1850, tư tưởng về xã hội dân sự có bước chuyển biến mới phản ứng trước sự hình thành thể chế tự do của chủ nghĩa tư bản, sự sụp đổ của chế độ phong kiến, sự xuất hiện các nhóm lợi ích và tự do hoá thị trường Các nhà tư tưởng cho rằng xã hội dân sự là nơi bảo vệ lợi ích và quyền
tự do cá nhân chống lại các thể chế lạc hậu của nhà nước thông qua các hội tự nguyện Mệnh đề chủ yếu trong số các tư tưởng này là chống lại sự tập trung quyền lực của nhà nước, bảo vệ tính đa dạng, niềm tin và giá trị hợp tác của các
cá nhân, làm nền tảng cho một xã hội dân chủ Trong Luận về lịch sử xã hội dân
sự viết năm 1767, A Ferguson đã nói đại ý: xã hội dân sự, với tư cách là một xã
hội văn minh của các công dân, không thể thịnh vượng được nếu như các nhu cầu và lợi ích thuần tuý về thương mại và kinh tế lấn át đức hạnh cá nhân và
“tinh thần công” – public Spirit Theo A.ferguson, xã hội dân sự là một lĩnh vực văn hoá đạo đức nơi mà công dân quyết định vận mệnh của cộng đồng chính trị của họ, đó cũng là nơi những đức hạnh thiết yếu cho tự do được phát triển
Quan điểm này được Montesquieu chia sẻ trong Tinh thần pháp luật viết
năm 1748 Theo Montesquieu, xã hội dân sự là lĩnh vực trung gian giữa quyền
Trang 14lực chính trị (nhà nước) và công dân Nhà nước và luật pháp ra đời không phải chỉ để bảo vệ các lợi ích tư và tài sản của cá nhân, mà là nhằm tạo điều kiện cho công dân hoàn thiện và phát triển Công bằng xã hội không phải là kết quả do sự phát triển tự do của phát triển kinh tế (thị trường) đem lại, mà nó được thiết lập bởi các yếu tố và yêu cầu đạo đức cũng như những mục tiêu chính trị của cả cộng đồng trong sự phát triển lịch sử của mình Chỉ khi công dân ý thức được rằng điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của mình, quyền lợi của mình được quy định bởi bối cảnh tự nhiên, văn hóa và xã hội của cộng đồng nơi họ sinh ra thì công dân mới sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân (private interests) của
mình vì phúc lợi công của cộng đồng Trong nhà nước cộng hòa như vậy, luật pháp không phải là ý muốn tùy tiện của nhà cầm quyền, mà nó phải dựa vào tập
quán (moeurs), môi trường xã hội, tôn giáo, thương mại… cụ thể của đất nước
Đến thế kỷ XIX, Heghen mô tả xã hội dân sự như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm 3 yếu tố gia đình, nhà nước và xã hội dân sự Xã hội dân
sự được Hêghen đặt giữa gia đình và nhà nước trong tiến trình thực thi tự do đích thực Nó bao gồm cả đời sống kinh tế của cộng đồng cùng với các thể chế pháp luật và cảnh sát, liên hội để đảm bảo sự hoạt động có trật tự và ổn định Nếu trong gia đình các thành viên liên kết với nhau bởi tình thương yêu và sự tin cậy, thì trong xã hội dân sự, các thành viên liên kết với nhau bởi lợi ích cá nhân Các lợi ích cá nhân tạo nên sự phụ thuộc của cá nhân với nhau, nhưng sự khác biệt của các lợi ích cá nhân cũng có thể dẫn đến xung đột; vì vậy, trong đời sống xã
hội dân sự còn có sự hiện diện của các thể chế cảnh sát và liên hội (cooporation)
như là lực lượng “thứ ba” để dàn xếp và điều hành xã hội dân sự Ở đây, trong xã hội dân sự, Hêghen cũng cố gắng tìm ra mức độ hợp lý giữa trao quyền tự do cho
xã hội dân sự và việc điều hành giám sát Nếu xã hội dân sự có quá nhiều tự do
Trang 15thì có thể dẫn đến sự bất bình đẳng, nhưng nếu các cơ quan quyền lực can thiệp quá nhiều thì sẽ dẫn đến mất tự do và kìm hãm phát triển kinh tế
Kế thừa quan điểm của Heghen, Karl Marx cho rằng dưới chủ nghĩa tư bản lợi ích cá nhân sẽ bao trùm xã hội, trong một xã hội thị trường, Nhà nước chủ yếu bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản Trong xã hội khi đó các cá nhân chủ yếu quan tấm đến những lợi ích cá nhân mà hạn chế các lợi ích cộng đồng, chú trọng đến sản xuất và tiêu dùng, công nhân sẽ bị các chủ sở hữu tư liệu sản xuất đối xử như những hàng hoá, là công cụ sản xuất mang lại giá trị thặng dư cho mình Các cá nhân có khuynh hướng được đánh giá dựa trên nghề nghiệp, thu nhập và tài sản sở hữu, ít chú trọng đến giá trị truyền thống Sự áp bức này là không thể tránh khỏi và nó sẽ tiếp tục cho đến khi cuộc cách mạng vô sản nổ ra,
và xã hội không có giai cấp và nhà nước sẽ được hình thành, ở đó xã hội dân sự thực sự phát triển
Trang 16Chính trị sẽ không thể đi đến sự bình đẳng nếu không tạo ra một môi trường
mở để cho các lợi ích và quan điểm khác nhau bày tỏ và đại diện, đối thoại để đi đến đồng thuận do đó xã hội dân sự là môi trường quan trọng cho các cá nhân thực hiện các quyền, lợi ích đó
Có nhiều quan điểm, nhiều xu hướng khác nhau về xã hội dân sự song có thể
hiểu xã hội dân sự là một lĩnh vực đời sống xã hội, bao gồm những thiết chế tập hợp
các mối quan hệ của người dân, liên kết con người với nhau một cách tự nguyện không vì mục đích lợi nhuận và độc lập tương đối với nhà nước nhằm tạo nên một sức mạnh mới giúp các thành viên đạt được lợi ích riêng của mình, ở một mặt nào
đó hỗ trợ nhà nước giải quyết các vấn đề nẩy sinh mà do hạn chế nhất định nên chính quyền đã không thể thực hiện được triệt để
1.1.2 Đặc điểm của xã hội dân sự:
Nhìn chung các định nghĩa phổ biến về "xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình Theo tinh thần này, xã hội dân sự được tạo thành bởi một loạt các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại (công đoàn và các đoàn thể có tính chuyên nghiệp) và những tổ chức truyền thống dựa trên mối quan hệ họ hàng, dân tộc, văn hóa và khu vực, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức Những đoàn thể tự nguyện làm việc vì quyền lợi chung Chúng định hình thành và khuyến khích phát triển bởi các cộng đồng địa phương Nói một cách đơn giản, các tổ chức dân sự thể hiện nguyện vọng và nhu cầu của người dân Người dân tự tổ chức lại căn cứ theo các nhu cầu, nguyện vọng hay tín ngưỡng chung và thể hiện thành các loại hình họat động Theo đó,
xã hội dân sự có bốn đặc điểm cơ bản sau:
Trang 17- Tự nguyện: các thành viên có thể tham gia và không tham gia vào các tổ
chức, phong trào, trong quá trình đó không có sự ép buộc hay cưỡng bức hành chính như các qui định pháp luật của cả nước Nó mang tính phi chính phủ, tồn tại độc lập tương đối với nhà nước và trên cơ sở nguyện vọng của nhân dân;
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Trong quá trình hoạt động, các tổ chức dân sự
hoạt động độc lập với nhà nước, trong khuôn khổ pháp luật, không chịu sự chi phối
và can thiệp của các tổ chức khác thậm chí là nhà nước, cho dù các tổ chức này có nhận tiền tài trợ của nhà nước hay không;
- Không vì mục tiêu lợi nhuận: các tổ chức này có thể thu lợi nhuận nhưng
không chia cho các cá nhân mà đem phần lợi nhuận đó để phục vụ các mục tiêu xã hội Phi lợi nhuận tức là các tổ chức này không tham gia vào các hoạt động kinh doanh lợi nhuận, không vì mục tiêu lợi nhuận khi nó có thể tham gia vào các hoạt động có lợi nhuận kinh doanh nhưng lợi nhuận đó có được không phải để phục vụ
cá nhân;
- Nguồn tài chính đa dạng: từ nhà nước, hội phí, hoạt động kinh doanh, đóng
góp của cá nhân
1.1.3 Xã hội dân sự ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, xét theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì xã hội dân sự đã
có từ xa xưa, thể hiện ở tính cộng đồng, làng xã, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc lẫn nhau, mang đặc trưng của truyền thống văn hoá, chia sẻ trách nhiệm vì cộng đồng chung Nhiều Phường, Hội đã được ra đời và hoạt động mạnh mẽ Những năm đầu thế kỷ 20, lịch sử cận đại Việt Nam mang dấu ấn của các phong trào quần chúng và các tổ chức xã hội dân sự tham gia chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc như Hội Duy Tân, Hội khuyến học Đặc biệt Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kế thừa của các phong trào dân sự Đảng cộng sản đã vận dụng
Trang 18sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước Trong những năm 1936-1939, Đảng linh hoạt trong việc tổ chức quần chúng nhân dân, không cứng nhắc với sự ra đời của các tổ chức như: Thanh niên phản đế đoàn, Hội cứu tế bình dân, Nông hội…và các hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày như hội hát kịch, phường đi sắn, hội gặt, hội cấy….Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Mỹ, Mặt trận tổ quốc Việt Nam trở thành một tổ chức tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia với tinh thần tự nguyện vì mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc đã khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng của mình, trở thành một bộ phận không thể thiếu của cách mạng Việt Nam Mặt trận tổ quốc Việt Nam khi đó chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam để cùng hướng đến mục tiêu giải phóng đất nước nhưng Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của nó có thể được coi là một tổ chức dân sự vì hoạt động của tổ chức này không nhằm cạnh tranh quyền lực chính trị, không đấu tranh chống lại nhà nước để giành lấy quyền lãnh đạo và cai trị đất nước mà tập hợp sức mạnh quần chúng nhân dân hỗ trợ chính quyền giải quyết các vấn đề chung của toàn xã hội
Vai trò của các tổ chức, các hội và hiệp hội được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm Điều này thể hiện trong Hiến pháp các năm 1946, 1959,
1980 và 1992 “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có
quyền thông tin, có quyền hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật” Nghị quyết Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức các hội, các hội nghề nghiệp, văn hoá, hữu nghị, từ thiện, nhân đạo” và
“hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động không vì lợi nhuận và vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân” Những tổ chức này được Nhà nước uỷ quyền thực hiện một số
Trang 19nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng Qua đó nhà nước có thể tập trung nguồn lực để giải quyết các vấn đề quan trọng hơn
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường nẩy sinh nhiều vấn đề và đòi hỏi bộ máy nhà nước phải đổi mới để đáp ứng được các yêu cầu trong tình hình mới cũng như đáp ứng các nhu cầu của người dân Trong điều kiện này, bên cạnh các tổ chức đoàn thể nhân dân có truyền thống gắn liền với quá trình đấu tranh giải phòng dân tộc, nhiều tổ chức xã hội đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ và đang tích cực tham gia, đóng góp vào nhiều họat động xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam Tính đến tháng 6 năm 2005, đã có 320 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, hơn 2.150 hội có phạm vi hoạt động trong các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hàng chục vạn hội, tổ chức cộng đồng tự quản, tổ hoà giải có phạm vi hoạt động tại cấp cộng đồng Đồng thời hiện có khoảng 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có mối quan hệ với Việt Nam và
có khoảng 350 tổ chức có chương trình, dự án đối tác ở Việt Nam
Nói tóm lại, xã hội dân sự là một hiện tượng phổ biến và khách quan trong
xã hội Bản thân xã hội dân sự khá đa dạng với nhiều loại hình hoạt động khác nhau Do đáp ứng được yêu cầu của các lợi ích cá nhân và đòi hỏi của thời cuộc
mà xã hội dân sự không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi một cộng đồng nhỏ lẻ mà còn vươn ra phạm vi lớn hơn thậm chí có tầm thế giới Nhận thức được tầm quan trọng và phát huy vai trò tích cực của xã hội dân sự trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc vào mức độ thừa nhận của các chính quyền Song ở nhiều nước trên thế giới, xã hội dân sự đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ bởi những sức mạnh vật chất và tinh thần do nó mang lại
Trang 20xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhà nước, phát triển mạnh mẽ từ trung ương đến địa phương Tổ chức chính trị - xã hội là một thuật ngữ dùng để chỉ một bộ phận cơ bản cấu thành nên hệ thống chính trị Trong bất kỳ hệ thống chính trị của quốc gia nào cũng có ba bộ phận: đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước tư bản, tổ chức chính trị-
xã hội được thành lập một cách tự nguyện, tập hợp những thành viên có chung một tiêu chí hay lợi ích nào đó mang tính đặc thù (giới, độ tuổi, nghề nghiệp, v/v) không phụ thuộc vào nhà nước nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước
và các đảng chính trị Các tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc thực thi quyền lực chính trị Những tổ chức này có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến các đảng phái, giai cấp cầm quyền thậm chí có thể yêu cầu đảng cầm quyền đưa ra những chính sách, đạo luật có lợi cho nhóm lợi ích mà tổ chức đại diện thông qua các phương thức vận động hành lang, đấu tranh gây áp lực với nhà nước hay đảng cầm quyền bằng các cuộc biểu tình, mít tinh, đình công qua đó lực lượng biểu tình có thể ép buộc thay thế chính phủ, thay đổi thành phần chính phủ, thay đổi hiến pháp, ban hành các đạo luật, quyết định chính trị, có khi yêu cầu các chủ thể của nhà nước cầm quyền phải hoạt động dưới sự giám sát của đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân Ngược lại, các tổ chức chính trị - xã hội cũng sẽ trở
Trang 21thành một công cụ để các nhà chính trị, đảng sử dụng để củng cố địa vị của mình
và quản lý chặt chẽ các hoạt động của nhà nước
Việt Nam, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 về mặt cấu thành của hệ
thống chính trị cũng gồm 3 thành tố “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một
chỉnh thể gồm nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng cộng sản, cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó nhằm bảm đảm quyền lực của nhân dân” Các tổ chức chính trị - xã hội có nét chung và
riêng biệt, bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân như Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam Xét theo cấu trúc thành phần thì các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam có thể hiểu theo nghĩa rộng là: bao gồm các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội Tuy nhiên trong phạm vi của Luận văn này sẽ xem xét tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức mà hoạt động của chúng vừa mang tính chính trị vừa mang tính xã hội
Nhiều tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam được hình thành từ trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Tình hình cấp bách của thực tế và sự nhận thức của nhân dân trong công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ đòi hỏi các thành viên trong xã hội tập hợp thành những nhóm khác nhau, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đoàn kết đấu tranh vì mục tiêu độc lập tự
do cho nhân dân, cho đất nước Qua quá trình đấu tranh cách mạng, nhiều tổ chức đoàn thể đã khẳng định được vai trò quan trọng và là một bộ phận của chính quyền nhà nước, đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân lao động, là cánh tay đắc lực của đảng và nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền của dân, do dân và vì dân
Trang 22Các tổ chức chính trị - xã hội trước hết thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các hội viên, thành viên trong tổ chức mình Bầt kỳ tổ chức nào đáp ứng được nhu cầu lợi ích cho các thành viên thì mới thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, hoạt động có chất lượng và bền vững Lợi ích chung của tổ chức phải được xem xét trong mối quan hệ lợi ích, trách nhiệm và nghĩa vụ của các thành viên với cộng đồng và đất nước Mặt khác những lợi ích của các thành viên nói riêng và tổ chức nói chung cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối chỉ đạo của đảng và chính sách của nhà nước
Thứ hai, tổ chức chính trị - xã hội tập hợp các thành viên trong cộng đồng thực hiện các nhiệm vụ của địa phương và nhà nước thông qua các phong trào vận động, mít tinh, các chương trình, dự án để thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Phong trào vận động của các tổ chức chính trị
- xã hội rất phong phú và đa dạng bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá, xã hội
Thứ ba, các tổ chức cũng tham gia xây dựng và tuyên truyền đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước thông qua giáo dục, tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho các hội viên, đoàn viên Tuỳ từng tổ chức chính trị - xã hội với đối tượng, chức năng khác nhau mà có các nội dung, hình thức tuyên truyền khác nhau
Thêm nữa là các tổ chức chính trị - xã hội còn có chức năng giám sát, phản biện các chính sách, hoạt động, lối sống đạo đức của các đối tượng đảng viên, cán
bộ các cơ quan do dân cử hoặc cán bộ có nhiệm vụ thực thi quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo một Đảng cầm quyền, một nhà nước trong sạch, vững mạnh
Như vậy, các tổ chức chính trị - xã hội được coi là cơ sở chính quyền của nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân làm chủ không chỉ thông qua
Trang 23cơ quan đại diện quyền lực của mình là Nhà nước, Đảng cộng sản mà còn thông qua các tổ chức chính trị - xã hội Theo đó, các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam vừa là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính trị nhưng mặt khác các loại hình tổ chức này cũng đứng ra bảo vệ lợi ích, đảm bảo quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân trong mối tương quan độc lập tương đối với nhà nước
Nghiên cứu từ khía cạnh xã hội dân sự và xem xét các tổ chức chính trị -
xã hội trong mối quan hệ với Đảng và nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam có một số đặc điểm đặc trưng
Trước tiên, sự ra đời của các tổ chức chính trị - xã hội là do Đảng thành lập và lãnh đạo Lịch sử cách mạng Vịêt Nam đã chứng minh sự ra đời của các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triển của Đảng mà người sáng lập là chủ tịch Hồ Chí Minh Nhờ có Đảng lãnh đạo mà các tổ chức chính trị - xã hội đã được coi trọng và ngày càng phát huy vai trò của mình trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước Đảng cộng sản và các tổ chức chính trị - xã hội có mối quan hệ mật thiết nhưng vị trí của Đảng và các tổ chức lại khác nhau
Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam được tổ chức một cách hệ thống
từ Trung ương đến địa phương đồng thời có mặt và tham gia trong các lĩnh vực, các ngành khác nhau thậm chí một tổ chức chính trị - xã hội này cũng có mặt trong các tổ chức chính trị - xã hội khác như Hội phụ nữ có mặt ở tất cả các đơn
vị quốc doanh, ngoài quốc danh, trong Đoàn thanh niên v/v Điều này có nghĩa là các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ được cấu trúc theo ngành dọc mà còn tồn tại đan xen, lồng vào nhau thành một khối đoàn kết chặc chẽ
Thứ ba, các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam vừa mang tính chính trị đồng thời mang tính xã hội Tuy nhiên trong qúa trình đấu tranh giải phóng dân
Trang 24tộc chức năng chính trị được thể hiện nổi trội hơn chức năng xã hội Trong giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội dù hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng đều có một mục tiêu tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân đấu tranh để giành lấy quyền độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa Ngày nay tính nổi trội của các tổ chức chính trị - xã hội còn được thể hiện trong việc các cán bộ chuyên trách của các tổ chức này đang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và được xếp vào ngạch lương của cán bộ công chức nhà nước
Đặc điểm cuối cùng, các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam nhận ngân sách tài chính và các cơ sở vật chất từ nhà nước phục vụ cho các hoạt động của mình Do lương của cán bộ chuyên trách được nhà nước chi trả nên các tổ chức này có thể tập trung thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình cũng như các nhiệm vụ mà đảng và nhà nước giao cho mà không phải lo về vấn đề tài chính Điều này làm cho các tổ chức chính trị - xã hội bị phụ thuộc vào nhà nước, hành chính hoá các hoạt động và trở thành bộ phận quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của nhà nước
Trên cơ sở các chức năng và đặc điểm trên, các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam có Cơ quan lãnh đạo các cấp của các tổ chức chính trị - xã hội bầu cử lập ra, thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi tổ chức chính trị - xã hội là đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo của mỗi tổ chức chính trị - xã hội ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội các thành viên, hội viên ở cấp ấy
Phương thức hoạt động của các tổ chức là vận động, thuyết phục, đảm bảo dân chủ, tạo sự đoàn kết, thống nhất hành động một cách tự nguyện của mọi tầng lớp nhân dân góp phần xây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Thể
Trang 25hiện qua một số hoạt động cụ thể: Tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động; Vận động, thuyết phục, tập hợp quần chúng nhân dân tự nguyện tham gia vào các tổ chức, thực hiện đường lối của đảng vừa bằng tổ chức vừa bằng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; Kết hợp công tác vận động quần chúng của các tổ chức chính trị - xã hội với công tác quản lý của Nhà nước; Kết hợp lực lượng chuyên trách với lực lượng không chuyên trách trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội; Hoạt động đa dạng, linh hoạt trên cơ sở kinh phí từ ngân sách nhà nước, các nguồn ngân sách tài trợ và đóng góp của các thành viên
Có thể nói, là một bộ phận cấu thành nên xã hội dân sự, các tổ chức chính trị -
xã hội tập hợp các cá nhân có cùng chung lợi ích thành một khối đoàn kết để thực hiện những mục tiêu chung và đáp ứng các nhu cầu cá nhân Cho dù tổ chức do các thành viên trong xã hội tự tập hợp nhau lại nhưng các tổ chức chính trị xã hội có mối quan hệ với chính quyền nhà nước và hỗ trợ nhà nước thực hiện các chức năng quản lý
xã hội, quản lý nhà nước Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam có những đặc trưng riêng, do Đảng cộng sản thành lập, thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của Đảng và nhà nước giao cho nhưng các tổ chức này cũng có tính độc lập tương đối của mình trong khi thực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu của các thành viên mà do một số hạn chế mà chính quyền đã không thể thực hiện được Đảng, nhà nước ta đã quan tâm và đánh giá cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong công cuộc phát triển đất nước
Trang 261.3 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
1.3.1 Sự ra đời của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính Cùng với nhiều thập kỷ bị áp bức, xâm lược, đời sống người dân chịu nhiều khổ chức đã rèn luyện cho người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng
Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai
Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế,
tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
- Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten
và học chữ
Trang 27- Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh
- Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh
- Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi:
“Nam nữ bình quyền” Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng
rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (Hiệp Hội các nước Đông Nam Á) Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới
Trang 281.3.2 Mục đích và các đặc trưng của Hội:
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của
phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ và trẻ
em Với mục đích như vậy, Hội phải thường xuyên gần gũi, nắm sát các nhu cầu, lợi ích, các vấn đề của từng thành viên để từ đó hỗ trợ các hội viên của mình
giải quyết những khúc mắc, những khó khăn trong đời sống xã hội
Hội mang đầy đủ những đặc trưng của một tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị Việt Nam với cơ cấu hoạt động rộng khắp gồm 4 cấp từ Trung ương đến, Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là cấp tỉnh) đến cấp
Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi là cấp huyện)
đến cấp Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi là cấp xã)
Cơ quan lãnh đạo cao nhất ở mỗi cấp Hội là Đại hội đại biểu phụ nữ hoặc
Đại hội toàn thể hội viên của cấp đó Đại hội đại biểu phụ nữ các cấp tổ chức 5 năm một lần Trường hợp đặc biệt do Hội liên hiệp phụ nữ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định Đại hội chỉ hợp lệ khi có ít nhất 2/3 số đại biểu được triệu tập tham dự Thành phần, số lượng đại biểu Đại hội cấp nào do Ban Chấp hành cấp
đó quyết định và triệu tập Thành phần đại biểu chính thức của Đại hội mỗi cấp gồm: Uỷ viên Ban Chấp hành đương nhiệm; Đại biểu bầu từ dưới lên; Đại biểu chỉ định (không quá 10%) Ban Chấp hành các cấp do Đại hội cấp đó bầu ra là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa 2 kỳ Đại hội Ban Chấp hành TW Hội bầu ra Đoàn Chủ tịch, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ban Chấp hành các cấp (tỉnh, huyện, cơ sở) bầu
ra Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch
Như trên đã phân tích, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam sáng lập trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, trên cơ sở những nhu cầu của thực tiễn của cách mạng Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 29đã nhìn thấy vai trò, sức mạnh tổng hợp của những phụ nữ Việt Nam nên đã sáng suốt phát huy nguồn lực to lớn này cho phong trào giải phóng đất nước và thực
tế đã chứng minh sự thành công đó
Các thành viên tham gia hội phụ nữ ở các cấp, các ngành đều mang tính tự nguyện hoặc do vận động, thuyết phục để góp sức giải quyết cac vấn đề chung của đất nước, hiện thực hoá, xã hội hoá các mục tiêu của Đảng và Nhà nước đồng thời cũng hỗ trợ các hội viên phụ nữ các cấp khắc phục hoàn cảnh khó khăn, cải thiện đời sống Là một tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam, Hội phụ nữ Việt Nam tiếp nhận nguồn ngân sách của nhà nước hỗ trợ cho các hoạt động của Hội Các cán bộ chuyên trách của Hội thuộc biên chế
và được hưởng lương theo ngạch công chức nhà nước và cũng đều có thể là những thành viên của Đảng cộng sản Việt Nam Do đó các cán bộ chuyên trách này có trách nhiệm đảm bảo các hoạt động của Hội đi theo đúng mục tiêu của nhà nước và sự chỉ đạo của Đảng
b Nhiệm vụ:
- Động viên, tạo điều kiện để phụ nữ tích cực học tập, nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực về mọi mặt Tham gia tích cực vào các chương trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Trang 30- Tuyên truyền, giáo dục phụ nữ giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc và phụ nữ Việt Nam Hướng dẫn, giúp đỡ phụ
nữ tổ chức tốt cuộc sống gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội; Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội và cán
bộ nữ; giới thiệu phụ nữ có đức, có tài tham gia vào các cơ quan lãnh đạo Đảng, Chính quyền, cơ quan dân cử và đoàn thể các cấp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
- Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ; Tham mưu,
đề xuất chính sách với Đảng, Nhà nước nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng và phát triển
- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và trên thế giới vì mục tiêu bình đẳng, phát triển và hoà bình
Như vậy Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, với những đặc điểm trên đây, được xem như là một dạng tổ chức dân sự tập hợp đông đảo sức mạnh của chị
em phụ nữ trên đất nước Việt Nam Là tổ chức đại diện cho tiếng nói và bảo vệ lợi ích cho chị em phụ nữ Việt Nam, Hội đã không ngừng đổi mới qua từng giai đoạn để theo kịp sự phát triển của đất nước đồng thời đáp ứng nhu cầu của các thành viên Mặc dù với nguồn kinh phí ít ỏi do các hội viên đóng hàng tháng nhưng bằng sự sáng tạo, nỗ lực không ngừng để vượt qua mọi khó khăn Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ở các cấp địa phương đã giúp hàng ngàn đối tượng chị em phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên khẳng định mình Trải quan những thăng trầm của lịch sử, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày càng củng cố được sức mạnh và hỗ trợ nhà nước Việt Nam giải quyết nhiều vấn đề trọng đại bằng chính sức mạnh và trí tuệ của các thành viên trong công tác xoá đói giảm nghèo, xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 31Xét từ những cách hiểu và các tiêu chí trên đây, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng là một bộ phận của xã hội dân sự, đó là tổ chức tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân chị em phụ nữ trong cả nước, là tổ chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng của chị em phụ nữ và hoạt động nhằm đảm bảo quyền lợi Sự hình thành của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam do sự tự nguyện của chị em phụ nữ trong công cuộc chống giặc ngoại xâm Các hoạt động của Hội không nhằm mục đích tranh giành quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời do đòi hỏi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong điều kiện cần có sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền để thực hiện mục tiêu chung của đất nước và vai trò của Hội được khẳng đinh, trở thành một bộ phần không thể tách rời của bộ máy chính quyền, chịu sự chi phối của đảng cầm quyền nên Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam được coi là một tổ chức chính trị - xã hội, một tổ chức truyền thống và chính thức, một bộ phận của tổ chức xã hội dân sự
1.3.4 Vai trò của Trung ương Hội PN Việt Nam:
Trung ương Hội PN Việt Nam là cơ quan cao nhất của Hội PN Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, định hướng, xây dựng, triển khai, giám sát các mục tiêu, kế hoạch hoạt động của Hội viên theo chiều dọc từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở các kế hoạch và mục tiêu chung của Đảng và nhà nước đối với sự nghiệp phát triển đất nước cũng như giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong đời sống xã hội Đồng thời Trung ương Hội là cơ quan chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của Hội triển khai rút kinh nghiệm công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ cả nước thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trung ương hội có nhiệm vụ quản lý, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố Đồng thời, Trung ương hội còn thực hiện vai trò theo dõi, đề xuất chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sắp xếp
Trang 32đội ngũ cán bộ nữ và tham gia xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và nhà nước đối với phụ nữ và trẻ em
Bên cạnh đó, Trung ương Hội thực hiện nhiệm vụ tham vấn cho các cấp Bộ, ngành, các cơ quan liên quan cấp trung ương trong việc ban hành các chính sách, chương trình phát triển đất nước có liên quan đến lợi ích, quyền và nghĩa vụ của chị em phụ nữ cũng như bày tỏ tâm tư nguyện vọng của đa số chị em phụ nữ Việt Nam lên cấp cao hơn nhằm tạo sự chú ý đối với nhà nước, chính phủ để từ đó có các biện pháp giải quyết những khó khăn mà chị em phụ nữ gặp phải trong cuộc sống hành ngày Trung ương Hội PN cũng là đơn vị phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan quan để phối hợp thực hiện các hoạt động liên ngành
Trung ương Hội ban hành Điều lệ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam nhằm hướng dẫn các cấp Hội thực hiện việc tuyển chọn các hội viên và thực hiện các chức năng khác của hội Trung ương Hội phải thường xuyên nắm bắt tình hình ở địa phương liên quan đến đời sống của chị em phụ nữ để nhanh chóng có các hướng dẫn chỉ đạo, giúp các cấp theo ngành dọc và các ngành liên quan tìm ra giải pháp kịp thời
Mặt khác Trung ương Hội PN Việt Nam với tư cách là cơ quan cao nhất của tổ chức chính trị - xã hội của phụ nữ còn là cầu nối các tổ chức dân sự khác trong xã hội, trong việc hỗ trợ các nguồn lực về vật chất và tinh thần để giúp chị em phụ nữ trên khắp các địa phương Việt Nam giải quyết các khó khăn trong đời sống sinh hoạt cũng như góp phần giúp chính phủ Việt Nam giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động xã hội
Nói tóm lại, là một bộ phận quan trọng trong một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn, Trung ương Hội PN Việt Nam có trọng trách quan trọng định hướng cho hàng ngàn chị em phụ nữ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình khi là thành viên của Hội, và giúp đỡ các thành viên thực hiện được nguyện vọng, đạt được những lợi ích của riêng mình
Trang 331.4 Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV/AIDS):
- HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm
khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
- AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường
được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến
tử vong
Sau khi nhiễm HIV, cơ thể sẽ trải qua 4 giai đoạn bệnh lý như sau:
- Giai đoạn sơ nhiễm: Lúc mới nhiễm HIV sẽ có một vài biểu hiện như sốt
mệt mỏi, nhức đau tay chân kiểu như bị cảm cúm
- Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng: Giai đoạn này, cơ thể gần
như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu) cũng không biết mình bị nhiễm Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm
- Giai đoạn có liên quan đến AIDS: Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị
nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đỗ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp
- Giai đoạn bệnh AIDS: thực sự tương đương với hệ miễn dịch bị tàn phá
gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm Có một số thuốc được dùng trong giai đoạn
Trang 34này nhưng chỉ giúp kéo dài sự sống một ít, còn không hoàn toàn điều trị dứt bệnh (Thuốc ARV)
HIV lây qua 3 đường:
- Lây qua đường máu:
+ Sử dụng chung dụng cụ tiêm chích hoặc dụng cụ xuyên qua da không được tiệt trùng Ví dụ dùng chung bơm kim tiêm ở nhóm người nghiện chích ma túy
+ Truyền máu hoặc các sản phẩm thương mại từ máu mà không sàng lọc nhiễm HIV
- Quan hệ tình dụng không an toàn với người nhiễm HIV Ví dụ quan hệ tình dục không an toàn với người có hành vi nguy cơ cao như phụ nữ mại dâm, người tình dục đồng giới nam
- Mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con từ trong bào thai, trong khi đẻ và cho con bú
Liên quan đến khái niệm HIV/AIDS còn một số thuật ngữ liên quan khác như:
- Nhiễm trùng cơ hội là những nhiễm trùng xảy ra do cơ thể bị suy giảm
miễn dịch vì bị nhiễm HIV
- Kỳ thị là thái độ khinh thường hay không tôn trọng người khác vì biết
hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc người bị nghi ngờ nhiễm HIV
- Phân biệt đối xử là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ
báng, có thành kiến, từ chối hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV
- Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình
dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi dễ làm lây nhiễm HIV khác
Trang 35- Phơi nhiễm với HIV là nguy cơ bị lây nhiễm HIV do tiếp xúc trực tiếp
với máu hoặc dịch sinh học của cơ thể người nhiễm HIV
- Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS là việc thu thập thông tin định kỳ và hệ
thống về các chỉ số dịch tễ học HIV/AIDS của các nhóm đối tượng có nguy cơ khác nhau để biết được chiều hướng và kết quả theo thời gian nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS;
- Giám sát trọng điểm HIV/AIDS là việc thu thập thông tin thông qua xét
nghiệm HIV theo định kỳ và hệ thống trong các nhóm đối tượng được lựa chọn
để theo dõi tỷ lệ và chiều hướng nhiễm HIV qua các năm nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS
- Tư vấn về HIV/AIDS là quá trình đối thoại, cung cấp các kiến thức, thông
tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và người được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến
dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
- Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác
định tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người;
- HIV dương tính là kết quả xét nghiệm mẫu máu, mẫu dịch sinh học của
cơ thể người đã được xác định nhiễm HIV
- Nhóm giáo dục đồng đẳng là những người tự nguyện tập hợp thành một
nhóm để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người có cùng cảnh ngộ, lối sống
- Nhóm người di biến động là những người thường xuyên sống xa gia
đình, thay đổi chỗ ở và nơi làm việc
Trang 36- Can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV là các biện pháp:
tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp
can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an
toàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV
- Người bị ảnh hưởng do HIV/AIDS là những thành viên cùng sống trong
gia đình của người nhiễm HIV hoặc người bị bệnh AIDS
1.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác phòng, chống HIV/AIDS
Nhận thấy nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS, Đảng và Nhà nước ta coi phòng chống AIDS là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, điều này được thể hiện rõ qua các văn bản như Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ tư - khoá VII, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII đặc biệt là Chỉ thị số 52 - CT/TW ngày 11/03/1995 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống AIDS Các văn bản trên đã đề ra đường lối, chính sách, các định hướng
cơ bản về phòng chống nhiễm HIV/AIDS, làm cơ sở cho việc xây dựng pháp luật cũng như trực tiếp chỉ đạo các cấp ủy Đảng cùng với chính quyền và các đoàn thể quần chúng chú trọng công tác này
Pháp lệnh phòng chống virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) được ban hành đã đặt cơ sở nền tảng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về phòng chống nhiễm HIV/AIDS Đến nay, ngoài Pháp lệnh nói trên đã có trên 40 văn bản qui phạm pháp luật về phòng chống nhiễm HIV/AIDS bao gồm các nhóm văn bản qui phạm pháp luật qui định trực tiếp về phòng chống nhiễm HIV/AIDS; qui định về bộ máy tổ chức và hoạt động của công tác phòng chống AIDS
và các văn bản khác có liên quan
Trang 37Trong số các văn bản trên, phải kể đến Nghị định số 34/CP ngày 01/06/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh phòng chống virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Quyết định số 2557/BYT - QĐ của Bộ trưởng Bộ y tế ban hành qui định chuyên môn về xử lý nhiễm HIV/AIDS; Quyết định 1418/2000/QĐ - BYT ngày 04/5/2000 của Bộ trưởng Bộ y tế về việc ban hành thường quy giám sát HIV/AIDS ở Việt Nam; Quyết định số 1451/2000/QĐ - BYT ngày 08/5/2000 của Bộ trưởng Bộ y tế về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS; Thông tư liên tịch số 14/TTLT - BLĐTBXH - BYT ngày 16/6/2000 hướng dẫn quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS tại Cơ sở chữa bệnh thuộc Ngành lao động - thương binh và xã hội
Ngày 20 tháng 5 năm 2005, thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 423/QĐ-TTg về việc Thành lập Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam thuộc Bộ Y
tế trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức về phòng, chống HIV/AIDS từ Cục Y tế dự phòng và Phòng, chống HIV/AIDS Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản
lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động về lĩnh vực phòng, chống HIV/ AIDS trong phạm vi cả nước
Như vậy, với những văn bản này đã khẳng định, Đảng và nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến công tác phòng chống HIV/AIDS và coi đó là nhiệm vụ quan trọng của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương Và Chính phủ đã huy động nguồn lực tài chính lớn để hỗ trợ cho hoạt động này đồng thời kêu gọi các tổ chức trong nước và quốc tế góp sức cùng Việt Nam chống lại đại dịch HIV/AIDS đang lây lan nhanh chóng trong cộng đồng
Trang 38Chương 2: TỔNG QUAN VỀ HIV/AIDS Ở VIỆT NAM
2.1 Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tại Viêt Nam
Kể từ trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện tháng 12 năm
1990 tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay đại dịch HIV đang lan rộng nhanh chóng trong phạm vi cả nước và đã xuất hiện ở 64 tỉnh/thành Một số tỉnh đã có 100% số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS Ước tính có khoảng 300.000 người dân Việt Nam đang sống chung với HIV/AIDS (tăng từ 96.000 người năm 1996) Tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn (từ 15 đến 48 tuổi) chiếm khoảng 0,5% Nhóm đối tượng có nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, gái mại dâm còn cao hơn nhiều (khoảng 33% trong nhóm tiêm chích ma tuý và 16% trong nhóm bán dâm) Ước tính có khoảng gần 90.000 người Việt Nam đã chết vì AIDS Bộ Y tế ước tính mỗi năm có khoảng 18.000 đến 39.000 người nhiễm HIV/AIDS, trung bình 50-100 người chết mỗi ngày Tuy nhiên, số liệu báo cáo này không phản ánh đầy đủ số người nhiễm HIV/AIDS vì nhiễm HIV/AIDS rất phức tạp về cơ chế bệnh sinh, đa dạng về đường lây truyền và có thời kỳ ủ bệnh kéo dài không
có triệu chứng, số người bị nhiễm HIV/AIDS trên thực tế cao hơn nhiều so với
số liệu báo cáo
Trước sự bùng nổ của đại dịch HIV/AIDS, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện sự cam kết chính trị ở cấp cao đối với công cuộc phòng chống HIV/AIDS,
cụ thể là sự đồng ý Tuyên bố cam kết của phiên họp Đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về HIV/AIDS Các nhà đại diện cấp cao đã nhiều lần phát biểu về tầm quan trọng của việc đối phó với đại dịch HIV/AIDS và đã có những chính sách rất tiến bộ Năm 1994, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS mang tính liên ngành dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Uỷ ban không nằm trong phạm vi quản lý của Bộ Y tế, bao gồm nhiều Bộ, ngành và
Trang 39thành viên của các tổ chức quần chúng cùng tham gia vào quá trình tạo dựng một môi trường thuận lợi cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc và
hỗ trợ những người nhiễm HIV/AIDS trong diện rộng Các chi nhánh của Ủy ban được thành lập ở cấp địa phương tại 64 tỉnh/thành và các tổ chức quần chúng Các tổ chức này đóng vai trò đầu mối chính thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS tại địa phương
2.2 Phụ nữ là đối tượng bị tổn thương do HIV/AIDS
Cùng với sự hỗ trợ của giới chức chính phủ các quốc gia, các tổ chức quốc
tế và những nỗ lực bình đẳng giới, người phụ nữ đang không ngừng cố gắng để khẳng định mình Song, có một thực tế đáng buồn, trong khi toàn thế giới đang
cố gắng thực hiện 8 Mục tiêu Thiên niên kỷ được đề ra tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em thì mỗi ngày, lại có thêm hàng trăm phụ nữ và trẻ em bị lây nhiễm HIV được phát hiện Làm sao có thể đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng sức khỏe sinh sản, làm sao có thể tạo nên một thế hệ tương lai khỏe mạnh, thông minh khi mà cuộc sống của những người
vợ, người mẹ, những trẻ em gái đang hàng ngày bị đe dọa bởi đại dịch HIV/AIDS?
Gần 50% trong số 39,4 triệu người nhiễm HIV trên thế giới là phụ nữ Đến cuối năm 2002, trên thế giới đã có 19,2 triệu phụ nữ nhiễm HIV/AIDS, tức một nửa số người HIV/AIDS Phụ nữ trẻ ngày càng mắc AIDS nhiều hơn, tăng gấp 3 lần: từ 7% năm 1985 lên đến 25% năm 2001 trong số những người HIV/AIDS
Ở những nơi mà dịch AIDS hoành hành đã lâu, tỷ lệ phụ nữ nhiễm bệnh nhiều hơn nam giới, còn ở những nơi mới phát triển nạn dịch AIDS, tỷ lệ phụ nữ mới nhiễm bệnh nhiều hơn nam giới và tỷ lệ ngày càng tăng Điều này cho thấy
Trang 40phụ nữ là đối tượng có nguy cơ cao và dễ bị tổn thương do HIV/AIDS Lý giải cho điều này là do:
Phụ nữ do cấu tạo cơ thể nên dễ bị nhiễm HIV hơn nam giới: Nhiễm HIV
ở phụ nữ đi kèm với những nguy cơ liên quan đến phụ khoa cần được theo dõi chặt chẽ Khoảng 20-40% những phụ nữ HIV + có tổn thương ở cổ tử cung và có thể tiến triển thành ung thư trong khi ở những phụ nữ không có HIV chỉ có 3%
bị những tổn thương này Hơn nữa những tổn thương tiền ung thư này (loạn sản) lại càng dễ xảy ra khi có suy giảm miễn dịch và ít có chiều hướng khỏi tự nhiên
ở những phụ nữ HIV+ (20% khỏi tự nhiên ở phụ nữ HIV+ so với 60% phụ nữ không có HIV)
Phần lớn những nguy cơ là do nhiễm virut gây u sùi Ở những phụ nữ bị suy giảm miễn dịch nặng thì không có chỉ định điều trị tại chỗ bằng phương pháp khoét chóp (cắt bỏ phần mô bệnh ở cổ tử cung) nhưng liệu pháp chống virut bằng thuốc có hiệu quả có thể giúp phục hồi được khả năng miễn dịch và thường làm cho tổn thương biến mất Nếu kết hợp 3 liệu pháp thì những tổn thương khỏi tự nhiên cao hơn gấp đôi Nguy cơ ung thư cổ tử cung và nhiễm khuẩn khiến các thầy thuốc khuyến cáo những phụ nữ có HIV+ cần đi khám phụ khoa và làm phiến đồ tế bào âm đạo 6 tháng 1 lần
Nữ được quan tâm chữa trị muộn: Theo những khảo sát ở Pháp, những người
nhiễm HIV từ quan hệ tình dục khác giới ít được phát hiện sớm (61% phát hiện nhiễm HIV khi đã bắt đầu có biểu hiện AIDS so với những người thực hành tình dục đồng giới 44% và những người tiêm chích ma tuý 17%), nhiều nhất nhưng lại không được chữa trị ngay từ trước khi phát triển thành AIDS (56% so với 52% ở những người tình dục đồng giới và 46% ở những người tiêm chích ma tuý) Trong kiểu thực hành tình dục phổ biến nhất này số nữ không được phát hiện sớm nhiều hơn nam (45% so với 34%), không được tiếp cận với điều trị từ trước giai đoạn phát triển