1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách tôn giáo của đảng và nhà nước ta tại thành phố hồ chí minh ( 1990 2005)

116 273 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 743,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một mức độ nhất định, sự can thiệp của các thế lực này đã làm cho tính phức tạp của vấn đề tôn giáo ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi chúng ta phải nắm chắc và xử lý đúng đắn vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HOÀNG NGỌC PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(1990 – 2005)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội-2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HOÀNG NGỌC PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(1990 – 2005)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60 301 20 Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Trần Luân

Hà Nội-2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, tư liệu được dẫn trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận văn

Hoàng Ngọc Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 11

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo 11

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo 11

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 16

1.2 Các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo 22

1.3 Những chính sách tôn giáo chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta 30

Chương 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1990 - 2005 39

2.1 Đặc điểm tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh 39

2.1.1 Vài nét khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh 39

2.1.2 Đặc điểm của ba tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh 41

2.2 Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1990 - 2005 47

2.2.1 Thực hiện chính sách đối với tín đồ 48

Trang 5

2.2.2 Thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhà tu hành 51

2.2.3 Thực hiện chính sách đối với các tổ chức tôn giáo 56

2.2.4 Thực hiện chính sách đối với nơi thờ tự 60

2.2.5 Thực hiện chính sách đối với ấn phẩm và đồ dùng trong việc đạo 60

2.2.6 Thực hiện chính sách đất đai và hoạt động kinh tế của tôn giáo 61

2.2.7 Thực hiện chính sách đối với các hoạt động văn hóa, xã hội của tôn giáo 64

2.2.8 Chính sách đối với quan hệ quốc tế của tôn giáo 65

2.2.9 Một số tồn tại và hạn chế 67

2.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 81

2.3.1 Nhận thức đúng đắn vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội 81

2.3.2 Quản lý chuyên biệt và đa ngành 82

2.3.3 Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo 84

2.3.4 Truyên truyền, giáo dục, xây dựng nhân tố tích cực 85

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 101

I- SỐ LIỆU CHUNG VỀ TÔN GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CUỐI NĂM 101

II- THỐNG KÊ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO 103

Thuyết minh thống kê theo quận, huyện 105

Trang 6

III- THỐNG KÊ TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO 106

Thống kê Công giáo năm 2005 108

IV- THỐNG KÊ TÌNH HÌNH TIN LÀNH 110

Thống kê Tin lành năm 2005 112

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội, mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Vì vậy, từ khi

ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo

để theo các đạo mới Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan

Ở Việt Nam hiện có 6 tôn giáo lớn đang tồn tại với khoảng 20 triệu tín

đồ Trong đó có khoảng 10 triệu tín đồ Phật giáo; 6 triệu tín đồ Công giáo; gần 66,7 ngàn tín đồ Hồi giáo Trong số bốn tôn giáo du nhập vào Việt Nam, đạo Tin lành đến muộn nhất, vào khoảng cuối thế kỷ XIX, hiện có gần 6,4 ngàn tín đồ Có hai tôn giáo nội sinh từ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân vùng Nam Bộ là đạo Cao Đài, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, hiện có gần 2,3 triệu tín đồ và Phật giáo Hòa Hảo ra đời vào năm 1939, hiện có trên 1,2 triệu tín đồ Trong những năm gần đây có thêm hai tôn giáo nữa được công nhận là Tịnh độ cư sĩ Phật hội và Tứ Ân hiếu nghĩa Hiện có khoảng trên 2 triệu tín

Trang 8

đồ đang theo hai tôn giáo này

Ngày nay, cùng với hội nhập với quốc tế, Việt Nam đã có nhiều thay đổi

về cơ cấu xã hội và lợi ích xã hội thay đổi, quan niệm, tư tưởng của nhân dân ngày càng có xu hướng đa dạng, nhiều người tìm kiếm sự an ủi tâm lý từ tôn giáo Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống của một bộ phận nhân dân ngày càng tăng lên Cùng với sự phát triển của các tôn giáo, hoạt động của các thế lực thù địch có xu hướng ngày càng can thiệp sâu hơn vào đời sống chính trị ở nước ta Trong một mức độ nhất định, sự can thiệp của các thế lực này đã làm cho tính phức tạp của vấn đề tôn giáo ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi chúng ta phải nắm chắc và xử lý đúng đắn vấn đề tôn giáo, vừa không thể chỉ dùng biện pháp hành chính để quản lý tôn giáo, đồng thời cũng không thể từ bỏ vai trò quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động của tôn giáo mà cần tăng cường làm tốt công tác tôn giáo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ những người theo tôn giáo, cùng phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Tôn giáo ở Việt Nam là vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước

ta phải có chủ trương, chính sách thích hợp trong hoàn cảnh và điều kiện mới, nhất là khi nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để tập hợp quần chúng nhằm chống phá cách mạng nước ta trong âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ

Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới đã có những chuyển biến sâu sắc và đạt được kết quả quan trọng Việc thực hiện tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng đã đi vào nề nếp bên cạnh việc bảo đảm sự phát triển của kinh tế -

xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, trong đó có cả đồng bào theo đạo Đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cũng như sự quản lý có hiệu lực của Nhà nước Việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà

Trang 9

nước ta đang được tiến hành một cách có hiệu quả trên phạm vi cả nước, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất nước, là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của cả nước, là địa bàn trọng điểm về tôn giáo Trong thời kỳ đổi mới thực hiện đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Tìm hiểu việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tại thành phố mang tên Bác trong thời kỳ đổi mới

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề Thực

hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tại Thành phố Hồ Chí Minh (1990 - 2005) làm đề tài luận văn cao học của mình, tập trung vào ba

tôn giáo lớn là Phật giáo, Công giáo và Tin lành Đó cũng là nội dung chính của luận văn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những năm đầu của thế kỷ XX, tôn giáo học đã có những bước phát triển mới về cả nguyên tắc tiếp cận cũng như các phương pháp nghiên cứu tôn giáo Các học giả đã từng bước sử dụng các phương pháp đa dạng của xã hội học, tâm lý học và cận tâm lý để tiếp cận các mặt, các khía cạnh riêng biệt của tôn giáo Đáng chú ý là việc các nhà tôn giáo mácxít đã kế thừa, chọn lọc các kết quả và thành tựu đạt được của tôn giáo học phương Tây, sử dụng các tài liệu, các luận điểm, những kết luận khác nhau một cách khoa học để xây dựng các quan điểm của mình dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học Có thể kể ra

hàng loạt tác phẩm như: Tôn giáo học đại cương, Lịch sử và lý luận về tôn

giáo học, Tôn giáo thế giới, Xã hội học tôn giáo, Tâm lý học tôn giáo (Khoa

Triết học trường Đại học Tổng hợp quốc gia Lômônôxốp) hay tác phẩm:

Triết học - Tôn giáo - Sự tiến triển đặc biệt của tôn giáo (Viện hàn lâm

Khoa học Liên Xô)

Trang 10

Ở Việt Nam, những vấn đề học thuật về tôn giáo và những tôn giáo cụ thể của dân tộc đã được đề cập từ rất lâu bởi các nhà truyền giáo, nhà sư, học giả đặc biệt là những nhà nghiên cứu có uy tín và tên tuổi như: Nguyễn An Ninh, Trần Văn Giàu, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Thượng tọa Thích Minh Châu, Minh Chi, Đặng Nghiêm Vạn Các tác phẩm của họ chứa đựng một khối lượng lớn những tri thức quý báu về tín ngưỡng cổ truyền, Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo ở Việt Nam; thông qua đó phân tích những tính quy luật của sự phát triển của tôn giáo, quá trình dung hợp, pha trộn, vay mượn của tôn giáo dưới tác động của các điều kiện lịch sử cụ thể Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về tôn giáo ngày càng nhiều, phong phú và có tính chuyên sâu hơn về mặt học thuật Đáng chú ý là các công trình của Viện Nghiên cứu tôn giáo thuộc Viện Khoa

học xã hội Việt Nam như: Những vấn đề tôn giáo hiện nay (Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1995), Về tôn giáo - tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) Tác phẩm Lý luận về tôn giáo và tôn giáo ở

Việt Nam của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (Nxb Quân

đội nhân dân, Hà Nội, 1996) đã đặt ra nhiều vấn đề mới mang tính cấp bách đối với tôn giáo

Hiện nay có nhiều công trình, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Có thể nêu

một số luận văn, luận án như: Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật

giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam (Lê Hữu Tuấn, năm 1999), Ảnh hưởng của thế giới quan Công giáo đối với đời sống tinh thần tín đồ Công giáo Việt Nam - Những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh hiện nay

(Mai Quan Hiện, năm 2000) Riêng về vấn đề tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Trần Chí Mỹ đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Triết học tại

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài Xây dựng đời sống văn

Trang 11

hóa tinh thần ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay (năm

2000), Thân Ngọc Anh bảo vệ thành công luận văn Cao học Ảnh hưởng của

Phật giáo tới đời sống tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (năm 2004) Đặc biệt là bản Báo cáo tổng kết của đề tài Một số vấn đề cấp bách trong sinh hoạt tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh (trong bối cảnh thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo trong những năm gần đây) do GS Đỗ Quang Hưng làm đồng chủ biên

Trên cơ sở quan điểm truyền thống đã xuất hiện hàng loạt những hệ thống phương pháp mới trong lĩnh vực xã hội học - tôn giáo, tâm lý học - tôn giáo Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất, không những về vấn đề lý luận mà cả về phương pháp nghiên cứu Mặt khác, tôn giáo là một hiện tượng hết sức phức tạp nên còn nhiều khía cạnh cần được tìm hiểu sâu và làm sáng tỏ Luận văn chỉ góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam và quá trình thực hiện chính sách ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1990 đến năm 2005 trên

cơ sở các nguồn tài liệu khác nhau Tuy nhiên, bước đầu tiếp cận với đối tượng phức tạp, mới mẻ, năng lực kiến thức tôn giáo của tác giả còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu quá trình hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

về tôn giáo Ngoài ra, luận văn còn kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp so sánh, lịch sử,

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005 có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ sự đổi mới về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề tôn giáo và bước đầu phân tích, đánh giá những thành tựu và những hạn chế của quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Qua những đánh giá chung, luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo của Đảng

và Nhà nước, cụ thể là ở Thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Nội dung Chương 1 trình bày cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo Trên cơ sở đó, cùng với thực trạng tình hình tôn giáo và nhu cầu của một bộ phận đồng bào có đạo, Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn đường lối và ban hành các chính sách tôn giáo thể hiện nhận thức đúng và chính sách phù hợp với bản chất vấn đề tôn giáo và thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta

Nội dung chương 2 nghiên cứu việc thực hiện chính sách tôn giáo của

Trang 13

Đảng và Nhà nước ta tại Thành phố Hồ Chí Minh - nơi tập trung nhiều tôn giáo và có sự tồn tại của ba tôn giáo lớn nhất Việt Nam là Phật giáo, Công giáo và Tin Lành, rút ra những thành tựu và hạn chế Luận văn cũng mạnh dạn nêu ra nhận xét, rút ra một số giải pháp và kiến nghị trên phương diện tham khảo để việc thực hiện chính sách tôn giáo ở khu vực này đạt nhiều hiệu quả hơn

Trang 14

Chương 1 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề tôn giáo

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo

Các nhà triết học trước chủ nghĩa Mác, kể cả những nhà duy vật, đều là những người theo chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm về đời sống xã hội, vì

họ mới dừng lại ở chỗ xác nhận một sự thực là: khác với tự nhiên - nơi mà những lực lượng vô tri vô giác đang hoạt động, thì trong xã hội, con người là một trong những thực thể có ý thức, có khả năng tự kiểm soát các hoạt động riêng của mình Từ đó mà họ đều cho rằng, xã hội vận hành theo một cách riêng của nó, hoặc theo ý chí của một thế lực siêu nhiên có nhân tính (như Đức Chúa) hay không có nhân tính (như Ý niệm tuyệt đối), hoặc theo ý chí chủ quan của chính loài người

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó

có nguồn gốc từ những sự hạn chế của các mối quan hệ giữa con người với tự

nhiên và giữa con người với con người Trong tác phẩm Chống Đuyrinh,

Ăngghen đã đưa ra một nhận định quan trọng vào loại bậc nhất của những người cộng sản về tôn giáo Trong tác phẩm này, ông đã định nghĩa về tôn giáo, là:

“Sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [17, tr.437]

Trang 15

Còn Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của

Hêghen cũng đã khẳng định rằng “con người sáng tạo ra tôn giáo” [16,

tr.569]

Trong lý luận nhận thức của Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng để nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [39, tr.179], ta có thể nhận thấy rằng, tôn giáo là kết quả từ một sự phản ánh của thế giới tự nhiên vào bộ não con người một cách sai lầm hoặc là một sự phản ánh không toàn diện thế giới khách quan, khiến con người hiểu sai hoặc không hiểu hết các hiện tượng trong tự nhiên Cùng với những hạn chế mang tính chất thời đại bắt nguồn từ một nền khoa học còn rất thô sơ, mang nặng tính cảm tính, những phản ánh không đúng đắn này của nhận thức đã tạo nên những rào cản giữa con người và sự thực khách quan của thế giới tự nhiên, dẫn đến việc con người không thể trả lời được các câu hỏi về tự nhiên bí ẩn,

và kết quả cuối cùng là khiến con người phải tìm đến tôn giáo

Trong suốt giai đoạn đầu của thời kỳ Công xã nguyên thủy, tôn giáo vẫn chưa tồn tại, mà chỉ đến cuối thời kỳ này, và sang thời kỳ Cổ đại thì những tôn giáo đầu tiên mới bắt đầu hình thành Đó là do chỉ đến thời kỳ này con người mới có đủ những tri thức để xây dựng, hoàn thiện hệ thống kinh sách và tín điều, mà quan trọng nhất là việc xuất hiện chữ viết để ghi chép kinh sách

Khi xem xét những tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ này, ta nhận thấy chúng mang nhiều đặc điểm xuất phát từ những tín ngưỡng rất sơ khai Tôn giáo của người Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp - La Mã hay Giécmanh đều

là những tôn giáo đa thần (polytheism), mang nhiều màu sắc tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”; các thần thánh đều đại diện cho những lực lượng thiên nhiên,

và “những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa một cách hết sức

Trang 16

nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp” [17, tr.437] Là đại diện cho những lực lượng

siêu nhiên, thần thánh của các tôn giáo chi phối đời sống con người Và bắt nguồn từ đó, những lực lượng chỉ mang tính tự nhiên đã dần mang tính xã hội Và cũng từ đó, tôn giáo mang tính giai cấp

Tính xã hội của tôn giáo được thể hiện qua nhận định của Mác trong

Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen Ông viết:

“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là

thuốc phiện của nhân dân” [16, tr.570]

Nhận định này đã toát lên đầy đủ tính xã hội của tôn giáo, nó là sự đền bù lại cho sự nghèo nàn của hiện thực xã hội - với những nghèo nàn của tri trức để

lý giải thế giới, tôn giáo lấp đầy vào đó bằng những huyền thoại: thế giới được tạo thành ra sao? Mây, gió, sấm, chớp sự thật là thế nào? Và với những sự nghèo nàn trong đời sống do sự thấp kém của trình độ khoa học - kỹ thuật cùng với sự bất công, bạo ngược của xã hội đương thời, tôn giáo như một liều thuốc

an thần xoa dịu những vết đau của con người Lời khẳng định “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” là hoàn toàn chính xác trong thời điểm ấy

Tính giai cấp của tôn giáo được thể hiện qua sự lợi dụng tôn giáo để bảo

vệ và củng cố quyền lợi của những lực lượng thuộc tầng lớp trên của xã hội,

có địa vị, có tiền của và có tri thức hơn; đồng thời, họ không ngừng tác động làm tôn giáo ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn Một thực tế lịch sử là: kinh sách và những tín điều của tôn giáo chỉ có thể được hoàn thiện và lưu truyền dưới dạng văn bản bởi những cá nhân và tổ chức thuộc tầng lớp trên trong xã hội Do đó, cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan

mà tư tưởng của tầng lớp này dần trở thành nền tảng chủ yếu cho các tôn giáo

Trang 17

Một sự kiện quan trọng có thể minh chứng cho sự tác động của tầng lớp quý tộc tới tôn giáo, đó chính là sự kiện “Cộng đồng Nicaea”: Hoàng đế La Mã là Constantine đã triệu tập hội nghị tất cả các giám mục Kitô giáo tại Nicaea

(Thổ Nhĩ Kỳ) năm 325 để biên soạn bộ Kinh thánh Tân ước như chúng ta

thấy ngày nay, mà mục đích chính là để thống nhất các chi nhánh của Kitô giáo, đưa tôn giáo này trở thành công cụ để mê hoặc nhân dân, củng cố quyền lực của bản thân Hoàng đế

Vì vậy, Từ điển triết học đã tổng kết quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

về tôn giáo như sau:

“Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài thống trị họ trong cuộc sống hằng ngày, sự phản ánh trong đó các lực lượng trần thế mang hình thức các lực lượng siêu phàm Chủ nghĩa Mác coi tôn giáo là một hiện tượng xã hội chế định và vì vậy là một hiện tượng nhất thời trong lịch sử Trong suốt một thời kỳ lịch sử lâu dài của loài người, người ta không hề biết đến một tôn giáo nào cả Tôn giáo xuất hiện trong một giai đoạn nhất định của chế độ công xã nguyên thủy với tư cách là sự phản ánh tình trạng bất lực của con người trước các lực lượng khủng khiếp và bí ẩn của tự nhiên” [52, tr.588]

Trong Chống Đuyrinh, Ăngghen đã phê phán thái độ bài tôn giáo cực

đoan của Đuyrinh:

“Trong xã hội tự do, không thể có sự thờ cúng; bởi vì mỗi thành viên của

xã hội đều khắc phục được cái quan niệm ấu trĩ nguyên thủy cho rằng ở đằng sau thiên nhiên hay bên trên thiên nhiên, có những đấng mà người ta có thể dùng những vật hy sinh hay những lời cầu nguyện để tác động đến” “Vì thế,

hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa, được hiểu một cách đúng đắn, phải phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần, và do đó, phế bỏ tất cả những yếu tố cơ bản của sự thờ cúng” [17, tr.436]

Trang 18

Bởi vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội, cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh tôn giáo và chủ nghĩa xã hội

khoa học đối lập nhau về thế giới quan, không thể để tư tưởng tôn giáo thâm nhập vào chính đảng của giai cấp công nhân Những mặt tiêu cực của tôn giáo phải bị khắc phục và đẩy lùi, dần đến chỗ xóa bỏ hoàn toàn Đây là một nguyên tắc nhưng cũng là yêu cầu quan trọng nhất cần phải quán triệt trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo của những người cộng sản Chỉ có thế tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin - tư tưởng khoa học chân chính, chủ đạo trong chủ nghĩa xã hội mới có thể đi sâu vào quần chúng nhân dân, mới tạo được nền tảng cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng xã hội mới

Hai là, phải tuyệt đối không được sử dụng các biện pháp bạo lực để xóa

bỏ tôn giáo Vi phạm nguyên tắc này là cố tình đẩy xã hội tới chỗ phân chia, đẩy những người theo đạo vào chỗ buộc phải chống lại chính quyền nhân dân Vi phạm nguyên tắc này cũng là đi ngược lại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vi phạm nghiêm trọng tới quyền thiết yếu nhất của con người: quyền được tự do; và trong đó có quyền được tự do theo hay không theo một tôn giáo Chính quyền nhân dân nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là chính quyền của nhân dân nữa, tổ chức đảng nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là Đảng Cộng sản nữa Bên cạnh đó, cần phải không ngừng phát huy những giá trị tốt đẹp, tích cực của tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa; cần phải nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân

Ba là, cần không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó

có cả mối liên hệ giữa người theo đạo và những người không theo đạo Đó là yêu cầu hàng đầu để xây dựng đất nước và xã hội, nhưng cũng là một cách thức quan trọng để những người theo đạo hòa nhập vào cuộc sống tích cực

Trang 19

của xã hội, để họ nhận ra rằng cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất, để giúp

họ chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; chứ không phải luôn trong trạng thái thụ động, tiêu cực vì chỉ quan tâm tới việc sống sao bây giờ cho mai sau đến được với “nước Thiên Đường” hay

“cõi Niết Bàn”

Bốn là, không ngừng thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục, giúp

quần chúng nhân dân hiểu, nắm được những lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó nhận thức được rằng những tư tưởng duy tâm là hoàn toàn không có căn cứ Việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học cũng như thế giới quan duy vật không chỉ đẩy lùi những sai lầm trong nhận thức của tư duy tôn giáo, mà chủ yếu là góp phần nâng cao trình độ kiến thức cho toàn dân

Năm là, phải kết hợp nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của

nhân dân theo đạo với nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống những thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, để tuyên tryền chống phá cách mạng Cuộc đấu tranh này vừa phải khẩn trương, kiên quyết vừa phải thận trọng và có sách lược đúng, nếu không sẽ dễ dàng bị nhìn nhận

là chính sách đàn áp tôn giáo

Sáu là, phải giải quyết vấn đề tôn giáo trên lập trường quan điểm lịch sử,

tức là phải nhìn nhận vai trò, tác động của tôn giáo tới đời sống xã hội trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau là có thể rất khác nhau Bởi vậy mối quan hệ với tôn giáo cũng cần phải rất linh hoạt và mềm dẻo: có những thời điểm phải biết sử dụng tôn giáo như một thứ vũ khí lợi hại để chống lại những kẻ thù chung của cả dân tộc

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Đại hội VII (1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên đã trân

trọng ghi trong Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác -

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam cho hành

Trang 20

động” Tiếp đến, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX

khẳng định:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau những di sản quý báu, trong đó có những quan điểm của Người về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Những lời di huấn, các bài viết, các hành động cũng như phong cách ứng

xử của Người đối với các tôn giáo nói chung và đối với tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành của đạo Công giáo nói riêng là những bài học quý báu Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,

tự do không tín ngưỡng là nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Một trong những điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

đó là sự đoàn kết tôn giáo, mà cụ thể là đoàn kết lương giáo - kế thừa và

phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc Có thể thấy, tư tưởng đoàn kết lương - giáo, hòa hợp dân tộc của Người được hình thành trên những cơ sở

kế thừa tinh hoa của truyền thống đoàn kết toàn dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đại đoàn kết toàn dân, trong đó

có đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo là nhân tố cơ bản đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong mọi giai đoạn Tư tưởng ấy nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc, được thể hiện rõ qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao và giáo

Trang 21

dục ý thức trong cộng đồng: “Lực lượng toàn dân tộc là lực lượng vĩ đại hơn

ai hết Không ai chiến thắng được lực lượng đó” [41, tr.20]

Để tập hợp và đoàn kết lương - giáo, Người thường xuyên nhắc nhở đồng bào và chiến sỹ cả nước phải quan tâm, chăm sóc cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo và mong sao: “Sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui” [40, tr.15] Năm 1962, khi nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ Mặt trận, Người căn dặn:

“Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào Lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc” [44, tr.606] Bên cạnh đó, phải kể đến vai trò quần chúng trong sự nghiệp cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng cho chiến lược đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp mặt các đại biểu các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Người đã nói: Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc Người kêu gọi các tôn giáo hãy dẹp bỏ hiềm khích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà Tiếp đến, sau

khi ký Hiệp định Giơnevơ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào

cả nước hãy đoàn kết: “Tôi tha thiết kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta thật thà cộng tác, vì dân, vì nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta” Khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá miền Bắc, Người lại tiếp tục ra lời kêu gọi: “Đồng bào các dân tộc, các tôn giáo hãy đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ cứu nước” Đồng thời, Người chỉ rõ: “Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo

Trang 22

hay không Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ nền độc lập Trong Công giáo

có câu “tam vị nhất thế”, ngã Phật có câu “Vạn chúng nhất linh” nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”

Để phát huy khối đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ và luôn thể

hiện sự tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tự do tín

ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quan điểm quan trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Tư tưởng đó được thể hiện nhất quán cả trong các trước tác và các hoạt động thực tiễn của Người, trong cách mạng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa,

và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn

giáo của Đảng và Nhà nước ta Trong Tuyên ngôn độc lập Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã viết: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,

có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” Người đã kế thừa

và phát triển những giá trị tư tưởng tiến bộ về quyền con người trong các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trên thế giới Chỉ một ngày sau khi đọc bản

Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong

phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên

6 vấn đề cấp bách cần làm ngay, trong đó, vấn đề thứ sáu là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương,

để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO

và Lương Giáo đoàn kết” [41, tr.9] Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,

trong đó ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng” [30, tr.387] Sắc

lệnh số 234/SL ngày 14-6-1955 đã quy định hoạt động tôn giáo trong chế độ mới Với 5 chương, 16 điều, sắc lệnh đã chi tiết và cụ thể hóa quyền tự do

Trang 23

tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và được đồng bào theo đạo và không theo đạo nhiệt liệt hoan nghênh, thực hiện

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: mọi công dân Việt Nam “có quyền tự do

tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Chính phủ bảo đảm

quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Mọi công dân có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi của người công dân (kể cả trong bầu cử người vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước) và phải làm mọi nghĩa

vụ của công dân Trong khi đó, các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các

cơ sở thờ tự Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật Nhà nước Song song với việc giảng đạo thì các tôn giáo xuất bản và phát hành sách có tính chất tôn giáo nhưng cần phải

tuân theo Luật xuất bản, được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt

động tôn giáo của mình Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam có nhiệm vụ bảo

hộ những nơi thờ tự, các trường giáo lý của tôn giáo, các di sản văn hóa trong tôn giáo

Tuy nhiên, phải trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại sự đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tín ngưỡng và tự

do tư tưởng của người khác hoặc làm trái với pháp luật Tôn trọng tự do tín ngưỡng cần đi đôi với việc phân biệt rõ nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, xâm hại đến độc lập dân tộc Chia rẽ dân tộc là thủ đoạn xảo quyệt của thực dân, đế quốc, của các thế lực phản động, Người nói: “Địch âm mưu chia rẽ thì

ta nêu lên khẩu hiệu: đoàn kết toàn dân” [30, tr.430] Nhờ nâng cao tinh thần đoàn kết lương - giáo, hòa hợp dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp

Trang 24

được nhiều chức sắc, tín đồ các tôn giáo và họ cũng hết lòng phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước Từ đó, những định kiến, mặc cảm về vấn đề tôn giáo do lịch

sử để lại đã xóa dần và âm mưu chia rẽ tôn giáo của các thế lực thù địch thất bại Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết lương - giáo là đoàn kết lâu dài, toàn diện,

là vấn đề chiến lược, tạo sức mạnh cho cách mạng Việt Nam trong bất cứ giai đoạn nào

Một quan điểm khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là giải

quyết hài hòa vấn đề tôn giáo với lợi ích quốc gia, dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng việc vận động mọi người tôn trọng niềm tin “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức giáo dục những người theo đạo và không theo đạo đoàn kết để đạt mục đích giải phóng dân tộc và cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc Do vậy, phải có thái độ mềm dẻo, hiểu đúng bản chất để giải quyết; có cách nhìn nhận, đánh giá về tôn giáo một cách đúng đắn, khách quan và biện chứng

Năm 1958, trong buổi tiếp xúc cử tri tại Hà Nội, khi trả lời câu hỏi:

“Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?” Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại và khẳng định thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo ở Việt Nam: “Không! Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do Ở Việt Nam cũng vậy” [43, tr.176]

Là một hiện tượng xã hội phức tạp, tôn giáo cũng có những mặt tích cực và tiêu cực, Hồ Chí Minh khuyên mọi người giữ gìn và phát huy cái tốt, đồng thời hạn chế và loại bỏ cái xấu có trong tôn giáo Người nêu ra những giá trị đạo đức và văn hóa vốn có của tôn giáo để những người theo đạo và không theo đạo biết và làm theo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”

Trang 25

[42, tr.225] Người coi tôn giáo là di sản văn hóa của nhân loại, do đó, phải tôn trọng, chấp nhận sự khác nhau về nhận thức; phải biết khai thác sự tương đồng để tìm ra mẫu số chung về mục tiêu để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ cao cả là độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người chân chính yêu nước đồng thời cũng là những tín đồ trung thành của Chúa Giêsu Bởi Chúa Giêsu hy sinh vì mong muốn cho loài người được tự do, hạnh phúc Người kêu gọi đồng bào cả lương lẫn giáo cũng vì tự do hạnh phúc của toàn dân mà hy sinh phấn đấu Người nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo với dân tộc hết sức giản dị, dễ hiểu và khái quát nên những nét độc đáo, sâu sắc: kính Chúa gắn liền với yêu nước, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì đạo mới có tự do Bởi vì, đối với người theo đạo, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn Kẻ chống lại Tổ quốc cũng chính là kẻ phản Chúa - đó là mẫu số chung

mà Người đưa ra để giải quyết hài hòa vấn đề tôn giáo

1.2 Các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo

Tôn giáo là một vấn đề được Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc trong tiến trình cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Những quan điểm về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Có ba quan điểm cơ bản về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Thứ nhất, đồng bào các tôn giáo là một lực lượng cách mạng, phải đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân

Ngay sau khi thành lập (1930), Đảng ta đã thấy được Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo Tuy mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển, có

Trang 26

giáo lý, giáo luật, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, vai trò xã hội khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ cùng tồn tại trong lòng dân tộc Đồng bào tín đồ các tôn giáo phần lớn là nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm Vì vậy, Đảng ta đã xác định: Đồng bào các tôn giáo cũng là lực lượng cách mạng, phải đoàn kết họ trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống phong kiến, đế quốc Quan điểm đúng đắn đó đã giúp cho Đảng tranh thủ, đoàn kết được tín đồ, chức sắc các tôn giáo cùng toàn dân tộc tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng tiếp tục thực hiện chính sách đoàn kết đồng bào theo đạo và không theo đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân Vì vậy, ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, đại đa số đồng bào các tôn giáo đều đứng về phía cách mạng, cùng toàn dân đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tích cực tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Tuy người cộng sản và người theo tôn giáo khác nhau về thế giới quan, nhưng trong cách ứng xử với tôn giáo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn tôn trọng niềm tin của người có đạo, cho dù là niềm tin hư ảo; việc theo một tôn giáo, tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân Vì thế, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3-9-1945), Nhà nước ta đã công khai tuyên bố chính sách “tự do tín ngưỡng” Chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân không chỉ thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng mà còn được thể chế hóa trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác

Trang 27

Thứ ba, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, xâm phạm độc lập, chủ quyền quốc gia

Ngay từ khi mới thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nhận thức rõ: Âm mưu có tính quy luật của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động là tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo để chống phá phong trào cách mạng thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng Đối với nước ta, bên cạnh đa số quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo là nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, vẫn còn một bộ phận chức sắc, tín đồ bị mua chuộc, lôi kéo tham gia vào hoạt động chống lại dân tộc, trong số đó có một số kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động Vì thế, bên cạnh chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi

âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống lại dân tộc và cách mạng

Ba quan điểm cơ bản trên của Đảng ta về tôn giáo được thực hiện, nhất quán trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam và được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ của cách mạng đặt ra trong mỗi giai đoạn lịch

sử Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986), các tôn giáo của Việt Nam có sự phục hồi, phát triển nhanh chóng và có nhiều tác động trực tiếp tới tình hình kinh tế - xã hội và an ninh, trật tự ở các địa phương Nhận rõ điều đó, Đảng ta đã kịp thời tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác tôn giáo; trên cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện những chủ trương, chính sách đối với tôn giáo, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế Sự đổi mới

về tôn giáo của Đảng ta được thể hiện qua các quan đểm:

Một là, khẳng định tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, các nguồn gốc nảy sinh tôn giáo vẫn tồn tại và tác động thường xuyên tới sự phát triển của các tôn giáo Do không

Trang 28

nhận thức đúng đắn quy luật này, cộng với những mặc cảm, định kiến về tôn giáo, nên trước đây đã có nơi, có lúc, chúng ta có chủ trương, biện pháp đối

xử thô bạo với tôn giáo, tìm cách thu hẹp, hạn chế các hoạt động tôn giáo, làm mất lòng tin của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo với Đảng và Nhà nước

Để chấn chỉnh, khắc phục những lệch lạc trên, một số Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã

hội ở nước ta” Quan điểm này là cơ sở cho việc xem xét, giải quyết các vấn

đề tôn giáo của nước ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, khách quan trong khi xem xét, giải quyết các hoạt động tôn giáo; đảm bảo cho các tôn giáo ở Việt Nam sinh hoạt một cách bình thường, tuân thủ pháp luật, đồng hành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội Quan điểm này cũng yêu cầu các cấp, các ngành và mọi cán bộ, đảng viên phải khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội trong giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo nói chung, với hoạt động tôn giáo nói riêng

Hai là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân

Trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 16-10-1990, Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ

phận nhân dân lao động” Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta lại tiếp tục khẳng định:

“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”

Để thống nhất nhận thức và khẳng định lại quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Trang 29

khóa IX (tháng 1/2003) đã tiếp tục khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội” Nhu cầu tinh thần ở đây cần được hiểu

là “nhu cầu tự thân” của một bộ phận quần chúng có đức tin tôn giáo sâu sắc

và của một bộ phận quần chúng do những hoàn cảnh, điều kiện nào đó đã tin theo và gia nhập các tôn giáo trong quá trình họ tiếp cận với tôn giáo

Việc xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân” cũng có ý nghĩa là Đảng ta xác nhận sự tồn tại khách quan của tôn giáo trong đời sống xã hội Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và thực tiễn tình hình tôn giáo ở nước ta

Ba là, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng

xã hội mới

Đây là quan điểm của Đảng ta xác định tại Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, tôn giáo nào cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực thể hiện

ở chỗ răn dạy tín đồ hướng thiện, làm điều lành, tránh điều ác Còn mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ làm cho con người sống an phận và chấp nhận “sự an bài”, thậm chí hạn chế họ tham gia vào quá trình cải tạo hiện thực xã hội bằng các phương pháp cách mạng Chính đây là cơ sở xã hội mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá cách mạng

Xác nhận “đạo đức tôn giáo còn có nhiều điều phù hợp với quá trình xây dựng xã hội mới”, có nghĩa là thừa nhận vai trò tích cực nhất định của tôn giáo với đời sống xã hội Hiện nay, trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề xã hội đang bị “xuống cấp” nghiêm trọng thì những giá trị nhân bản, đạo đức và văn hóa vốn có trong văn hóa, đạo đức của loài người được các tôn giáo tiếp thu và truyền bá vì lý do tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, đạo đức tốt đẹp trong

Trang 30

các thành phần dân cư ở nước ta Cho nên, công tác tôn giáo phải biết khai thác, phát huy những mặt tích cực của đạo đức tôn giáo phục vụ cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Bốn là, công tác tôn giáo phải quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng

Xuất phát từ nhận thức “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân lao động” và “Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới”, Đảng ta xác định phải “quan tâm, giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng” Yêu cầu này đặt ra cho các cấp, các ngành chức năng phải có biện pháp, chủ trương cụ thể chăm

lo đến đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng có đạo Quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, tín đồ là trách nhiệm của các cấp chính quyền, các ngành chức năng, chứ không phải là sự “chiếu cố”, “ban ơn” cho quần chúng Để thực hiện tốt yêu cầu trên, Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị còn chỉ rõ: “Phải khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái

độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”

Đồng thời, việc quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, tín đồ cần phải nâng cao cảnh giác “kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng” Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định: “Chúng

ta không chống tôn giáo mà chỉ chống ai lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng” Trong lịch sử Việt Nam, tôn giáo đã từng bị lợi dụng để chống lại sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Dưới ngọn cờ “chống cộng”, các phần tử phản động đội lốt tôn giáo đã tuyên truyền, kích động cho cái gọi

là “hữu thần và vô thần như nước với lửa” không thể cùng tồn tại Song, chính sách chia rẽ lương - giáo để dễ cai trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

đã bị thất bại

Trang 31

Trong giai đoạn cách mạng mới, các thế lực thù địch vẫn luôn âm mưu phục thù, chúng tiến hành nhiều thủ đoạn xảo quyệt nhằm lợi dụng tôn giáo

để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam Vì thế, cần phải không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời phát hiện, đấu tranh, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống lại dân tộc, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Năm là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng, công tác đối với con người

Thực tiễn mấy chục năm tiến hành công tác tôn giáo, phục vụ cho chiến lược giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Đảng ta đã tổng kết kinh nghiệm và khẳng định “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, công tác đối với con người” Sự khẳng định này thể hiện tư duy mới, nhận thức mới của Đảng ta khi đặt vấn đề tôn giáo thuộc phạm trù chung để xem xét và tác động Đồng bào theo tôn giáo hay không theo tôn giáo đều là công dân Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau trước pháp luật Hơn nữa, so với người không theo tôn giáo, bộ phận quần chúng tín đồ còn chịu nhiều sự ràng buộc bởi thần quyền và giáo quyền; thậm chí luôn bị các thế lực tìm cách mê hoặc, lôi kéo, lợi dụng Trong công tác vận động quần chúng phải quan tâm đến các lợi ích thiết thân, chính đáng của quần chúng tín đồ nói chung, chức sắc, chức việc nói riêng làm cốt lõi; kết hợp với các quá trình vận động, giáo dục, thuyết phục, tổ chức phát huy lực lượng quần chúng tín đồ tích cực tham gia vào công cuộc đổi mới đất nước

Chính sách tôn giáo phải là một bộ phận trong chính sách xã hội nói chung của Nhà nước ta Trong quá trình thực hiện các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - văn hóa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, lực lượng

Trang 32

quần chúng tín đồ cần phải được huy động như mọi nguồn lực con người trong cộng đồng các dân tộc của đất nước Trong đấu tranh chống kẻ địch lợi dụng tôn giáo, công tác vận động quần chúng giữ vai trò rất to lớn Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ:

“Cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo chỉ thành công thông qua công tác vận động quần chúng làm cho tín đồ và các chức sắc nhận rõ âm mưu, thủ đoạn đen tối của bọn phản động, tự giác đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc”

Sáu là, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo

Tín đồ các tôn giáo ở nước ta chiếm khoảng ¼ dân số cả nước, với đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành hàng chục vạn người Hoạt động của các tôn giáo ở nước ta lại rất đa dạng, phức tạp, quan hệ đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Những năm qua, bên cạnh xu hướng hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ pháp luật là chủ đạo, vẫn còn những khuynh hướng “muốn tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước” đòi

“tôn giáo độc lập với Nhà nước” Các thế lực thù địch vẫn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để can thiệp vào nội bộ nước ta Do vậy, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng

Quán triệt quan điểm này, đòi hỏi phải thực hiện sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất của Đảng đối với công tác tôn giáo Nhà nước phải tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải tiến hành công tác vận động, tổ chức phong trào yêu nước trong quần chúng có đạo;

Trang 33

thông quá đó để xây dựng, củng cố, phát triển tổ chức của mình ở cơ sở có đông tín đồ và trong hàng ngũ chức sắc

1.3 Những chính sách tôn giáo chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước ta thể hiện bằng hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước Đến

năm 1990, Đảng Cộng sản Việt Nam có sự đổi mới mạnh mẽ trong chính sách

đối với tôn giáo qua Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ

Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) Về tăng cường công tác

tôn giáo trong tình hình mới Đây là dấu mốc mở đầu cho bước phát triển về

nhận thức của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo Nghị quyết 24-NQ/TW chứa đựng nhiều nội dung quan trọng, trong đó có các nội dung sau được coi

Bốn là, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống

chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 34

Các quan điểm đổi mới trên đây của Đảng xuất phát từ các lý do sau:

Thứ nhất, trong điều kiện lịch sử hiện tại, xã hội trần thế vẫn chưa đủ

khả năng đáp ứng đầy đủ những nhu cầu, khát vọng hiện thực của con người

và nhu cầu được bù đắp, được che chở bởi sức mạnh của các “lực lượng siêu nhiên” vẫn có tính khách quan

Thứ hai, các tôn giáo trên thế giới đã có lịch sử tồn tại lâu dài cùng nhân

loại Trong quá trình đó, tôn giáo đã có những ảnh hưởng to lớn đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Những ảnh hưởng đó không phải lúc nào cũng tạo nên những biến đổi theo hướng tích cực, song vai trò về văn hóa, đạo đức của tôn giáo đối với con người là không thể phủ nhận

Trong lịch sử Việt Nam, mặc dù các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng tôn giáo hòng cản trở sự phát triển của dân tộc, tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và một bộ phận tín đồ, chức sắc các tôn giáo vì thiên kiến hoặc vì lợi ích cá nhân ích kỷ, hoặc bị lường gạt, ép buộc đã vô tình hay

cố ý tiếp tay cho các thế lực đó Song tuyệt đại bộ phận đồng bào có đạo vẫn đồng hành cùng dân tộc, vẫn phát huy nét hay, nét đẹp nhất là về mặt văn hóa, đạo đức của tôn giáo, làm phong phú đời sống tinh thần của dân tộc

Thứ ba, trong điều kiện của nước ta, một quốc gia độc lập, có chủ quyền,

dù có tín ngưỡng, tôn giáo hay không vẫn là những công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, vẫn là những chủ thể của đất nước Vì vậy, mặc dù đối tượng tác động của công tác tôn giáo có những đặc thù song phương thức tác động đúng đắn nhất, hiệu quả nhất và cũng nhân đạo nhất là vận động, là lôi cuốn đồng bào có đạo thực hiện các mục tiêu phát triển của dân tộc, đó là: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Dĩ nhiên, điều này không hề mâu thuẫn với việc nghiêm trị các hành vi lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vi phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức, dù họ là ai, có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 35

Thứ tư, bài học thành công của dân tộc là bài học đoàn kết, là phát huy

sức mạnh tổng hợp của dân tộc Đối với hoạt động của hệ thống chính trị cũng vậy, muốn đưa lại hiệu quả tích cực, ngoài việc phân công, phân nhiệm

cụ thể giữa các cơ quan, tổ chức cần thiết phải quán triệt về nhận thức rằng, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải có cơ chế để phối hợp hoạt động phù hợp

Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị này có hai luận điểm mang

tính đột phá là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận

nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới Phải đặt hai luận điểm này trong thời điểm lịch sử lúc đó ta mới hiểu rõ

hết ý nghĩa của khung cảnh “lịch sử phê bình mácxít về tôn giáo” đang diễn

ra Bộ phận các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ nhưng những quan điểm tả khuynh về tôn giáo vẫn còn chế ngự Đặc điểm chủ yếu ở giai đoạn

đó là, phê bình tôn giáo chủ yếu căn cứ vào thuyết vô thần luận mácxít và các hình thái vô thần duy vật khác Ở Trung quốc, đã có những dấu hiệu đổi mới đầu tiên với việc bàn luận về những đặc điểm về tôn giáo ở Trung Quốc và khả năng thích ứng với chủ nghĩa xã hội của tôn giáo (năm 1982)

Với nước ta, hai luận điểm trên đã nhanh chóng tạo nên sự đột phá nhận

thức: không thể nhìn tôn giáo qua mệnh đề của Mác đã bị cắt xén và phiến

diện “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” Phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực tại xã hội” và là nhu cầu của một bộ phận quần chúng (có văn bản

còn nói là một bộ phận quan trọng) và nó hoàn toàn có thể đồng hành với chủ nghĩa xã hội Riêng luận đề mới mẻ về văn hóa tôn giáo đã khơi dậy trực tiếp

những suy nghĩ, hành động tích cực của quần chúng, người có tôn giáo cũng như người không có tôn giáo Khi các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuôn khổ của văn hóa dân tộc, một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hóa dân tộc, mặt khác tạo ra thêm một con đường đoàn kết

Trang 36

dân tộc, tôn giáo Khai thác tốt các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo thuận lợi trong quá trình “tìm về dân tộc”

Kể từ sau Nghị quyết 24-NQ/TW, Đảng ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn giáo: Chỉ thị 37-CT/TW ngày

2-7-1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới, một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải công khai trên báo Nhân Dân và

hàng loạt các tờ báo khác Và nhất là ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban

Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết số 25-NQ/TW Về công tác

tôn giáo Có thể nói cho đến nay, về lĩnh vực tôn giáo, đây là nghị quyết quan

trọng nhất, có ý nghĩa nhất Quan trọng và ý nghĩa nhất bởi, lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, vấn đề tôn giáo được đưa ra bàn bạc, quyết định ở cấp Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 25-NQ/TW đã thể hiện khá đầy đủ nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ ngày đổi mới về lĩnh vực rất phức tạp và nhạy cảm này Ngoài việc tiếp tục khẳng định những nội dung

cơ bản của Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VI, Chỉ thị số 37-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và một số văn kiện khác Nghị quyết số 25-NQ/TW có một số điểm phát triển mới:

Một là, nghị quyết khẳng định cụ thể và rõ ràng hơn về sự tồn tại khách

quan của tôn giáo trong đời sống xã hội Nếu các nghị quyết trước đây chỉ khẳng định tôn giáo là hiện tượng còn tồn tại lâu dài thì Nghị quyết số 25-NQ/TW cho rằng: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở nước ta” [23, tr.48]

Hai là, trong các văn kiện trước đây, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

của nhân dân được nhất quán thừa nhận và Nhà nước cam kết tôn trọng quyền

tự do đó, song ở mức độ nhất định, vẫn còn chưa thật cụ thể Tuy nhiên,

Trang 37

đến Nghị quyết số 25-NQ/TW, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền được sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật” [23, tr.48]

Rõ ràng đây là bước tiến trong nhận thức nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của một bộ phận nhân dân, làm cho nhu cầu đó không chỉ được thừa nhận, được thỏa mãn về mặt tư tưởng mà còn có thể được thể hiện qua hành vi trong sinh hoạt tôn giáo của người dân Điều này cũng phù hợp với các công ước của Liên Hiệp quốc rằng, công dân không chỉ

có quyền được tự do lựa chọn đức tin, thay đổi đức tin mà còn được tự do

“bày tỏ đức tin thầm kín hay công khai”

Ba là, lần đầu tiên, trong Văn kiện Hội nghị Trung ương, việc giữ gìn và

phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân được chính thức thừa nhận Đây có thể xem là một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Điều này cho thấy, cùng với vấn đề tôn giáo, vấn đề thờ cúng tổ tiên và những người có công với Tổ quốc được đặt trong phạm trù văn hóa và vì là một phạm trù thuộc lĩnh vực văn hóa nên nó là đối tượng tác động chủ yếu của công tác vận động nhân dân

Từ những nhận thức mới về công tác tôn giáo của Đảng ta, Nhà nước ta

đã có sự đổi mới trong chính sách tôn giáo Ngoài những quy phạm pháp luật

chứa đựng trong các điều luật của các bộ luật (Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng

hình sự, Luật đất đai, ) cho đến nay, những văn bản có tính pháp lý cao nhất

như các bản Hiếp pháp, từ năm 1991 đến nay, Nhà nước ta đã cho ban hành hàng loạt các văn bản riêng về tôn giáo, tín ngưỡng

Có thể xem Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21-3-1991 của Hội đồng

Bộ trưởng Quy định về các hoạt động tôn giáo là văn bản mở đầu Năm 1993,

Chính phủ ra Nghị định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

Trang 38

chức của cơ quan có tầm quan trọng bậc nhất về quản lý nhà nước về tôn giáo là Ban Tôn giáo của Chính phủ Sau đó là nhiều văn bản khác nhau để

quản lý công tác tôn giáo: Nghị định 26/NĐ-CP ngày 19-4-1999 của Chính phủ Về các hoạt động tôn giáo, Quyết định số 125/2003 của Thủ tướng Chính phủ ngày 18-6-2003 Về việc phê duyệt chương trình hành động của

Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) Về công tác tôn giáo Đặc biệt, lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban

hành Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo Pháp lệnh này đã được Chủ tịch

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký lệnh ban hành vào ngày 29-6-2004 Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo là một văn bản pháp lý quan trọng, chứa đựng những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo, theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đặt trong khuôn khổ rộng rãi hơn để thực hiện

Ngày 1-3-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP

Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo và

ngày 4-2-2005, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg về Một

số công tác đối với đạo Tin Lành Về mặt vĩ mô, sự đổi mới mạnh mẽ của

chính sách tôn giáo của Nhà nước bắt nguồn từ tinh thần của Nghị quyết số 24-NQ/TW nói trên Trong đó, lần đầu tiên, công tác tôn giáo của Nhà nước

ta từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) vốn được xem chủ yếu là công tác đánh địch lợi dụng, nay được coi chủ yếu là công tác vận động quần chúng (phạm trù công tác dân vận) với quan điểm mới: “Thực chất công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”

Nhà nước ta đã xúc tiến mạnh mẽ trong việc thể chế hóa các quyền tự

do tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo Lần đầu tiên, từ năm 1991 đến nay, Nhà nước ta thể hiện quyết tâm

Trang 39

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực quản lý tôn giáo bằng việc ban hành hàng loạt quy định, nghị định, chỉ thị, thông tư và

đỉnh cao nhất đến nay là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nói trên

Có thể nói, hàng loạt các văn bản pháp lý đã thể hiện sinh động sự đổi mới của chính sách tôn giáo, tựu trung ở một số điểm sau:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa Nhà nước và các tôn giáo, nói đúng hơn là

các tổ chức tôn giáo (Giáo hội, Hội thánh, Ban Trị sự, Hội đồng giáo xứ ) đã được cải thiện căn bản theo hướng pháp quyền Một mô hình nhà nước thế tục mácxít, về bản chất là nhà nước thế tục vô thần do Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế từ Sắc lệnh 234 (1955), nay đã hiện ra rõ rệt Mô hình này tỏ ra thích hợp với đời sống tôn giáo ở Việt Nam, được đông đảo đồng bào có đạo và quần chúng nói chung hoan nghênh và bước đầu được thế giới nhìn nhận Trên cả ba khâu: theo đạo, hành đạo và quản đạo đã được thể chế hóa và cơ bản đã phù hợp với thực tiễn

Thứ hai, về mối quan hệ giữa “hoạt động tôn giáo” và “công tác tôn

giáo” cũng được giải quyết tốt hơn Mối quan hệ này vốn không hề đơn giản

vì các “hoạt động tôn giáo” vốn là lợi ích sống còn của các chủ thể tôn giáo, trong khi đó “công tác tôn giáo” lại là vấn đề thuộc phạm trù quản lý của Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị

Nhà nước ta hiểu rõ những kinh nghiệm quá khứ, khi mà sự tương tác giữa hai chủ thể “hoạt động tôn giáo” và “công tác tôn giáo” diễn ra không thuận lợi, dẫn đến xung đột, triệt tiêu lẫn nhau Ở đây, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các quan điểm của Đảng ta về sự khai thác các điểm tương đồng, đồng thuận xã hội có ý nghĩa lớn “giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc

vì dân giàu, dân chủ, văn minh”, luôn là kim chỉ nam cho công tác tôn giáo

Thứ ba, vận dụng kinh nghiệm của lịch sử dân tộc và quốc tế về luật

pháp tôn giáo, để sự thể chế hóa về quyền hạn và nghĩa vụ của công dân, trước hết là cộng đồng các tôn giáo ngày càng phải hợp hơn

Trang 40

Đây cũng là nét mới trong chính sách tôn giáo của Nhà nước ta hiện nay, trực tiếp tạo nên bầu không khí phấn khởi trong các chức sắc và tín đồ các tôn giáo, ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt lương - giáo mà các thế lực đế quốc, thực dân phong kiến trước đây cố tình khoét sâu mâu thuẫn, nay đã được gỡ bỏ căn bản, tạo nên sự đồng thuận xã hội, thống nhất giữa đạo

và đời Có thể nói, sự đổi mới chính sách tôn giáo đã đem lại hiệu quả to lớn trong việc góp phần quyết định tạo ra sự ổn định, sinh hoạt tôn giáo ngày càng thuận lợi, bình thường

*

* * Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam là vấn đề lớn, phức tạp Khi giải quyết vấn

đề tôn giáo đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có nhận thức đúng bản chất vấn

đề tôn giáo; có chủ trương, chính sách thích hợp trong hoàn cảnh và điều kiện mới, nhất là khi nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá nước ta; xác định thái độ hành xử đối với tôn giáo một cách đúng đắn Trên cơ sở kế thừa và phát triển

lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo,

Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị khóa VI về Tăng cường công tác tôn giáo

trong tình hình mới và Nghị quyết 25 của Trung ương khóa IX Về công tác tôn giáo cơ bản đã có nhận thức mới, đúng đắn về tôn giáo và đã xác định các

chính sách tôn giáo phù hợp với nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân Vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào vừa đúng chính sách vừa có thái độ hành xử mềm dẻo, thật lòng, có nguyên tắc trong công tác tôn giáo, để đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào hiện thực đời sống tôn giáo

Ngày đăng: 20/03/2020, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w