Từ xuất phát điểm đã được kiểm nghiệm qua lịch sử đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP
GIỮA CÁC CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học
Hà Nội - 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP
GIỮA CÁC CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.20
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học Người hướng dẫn: PGS.TS LƯU VĂN AN
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC
NHÀ NƯỚC 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước 12
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.2 Một số nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước 19
1.2 Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước 23
1.2.1 Nội dung thống nhất trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước 24
1.2.2 Nội dung phân công trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước 28
1.2.3 Nội dung phối hợp trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước 30
1.2.4 Quan hệ biện chứng của nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp 31
1.3 Tính tất yếu của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam 35
1.3.1 Xét về bản chất, quyền lực Nhà nước ta bắt nguồn từ nhân dân 35
1.3.2 Vận dụng nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ” là phù hợp với nền chính trị Việt Nam 37
1.3.3 Vận dụng nguyên tắc “ Thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ” là nhân tố để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân 38
1.3.4 Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phải tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp” 38
1.3.5 Đảm bảo tính định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp ” 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT,
PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG QUYỀN
LỰC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 42
2.1 Những quy định pháp lý về nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ta 42
2.1.1 Về thống nhất quyền lực nhà nước 42
2.1.2 Về phân công giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước 44
2.1.3 Về phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực
nhà nước 48
2.2 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động của quyền lực
nhà nước 50
2.2.1 Những thành tựu 50
2.2.2 Những hạn chế 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG TỔ CHỨC VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA 68
3.1 Phương hướng đổi mới, hoàn thiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay 68
3.1.1 Về phương diện lý luận 68
3.1.2 Về phương diện thực tiễn 72
3.2 Giải pháp đổi mới, hoàn thiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay 78
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo Nhà nước nhằm đảm bảo nguyên tắc thống nhất, có sự phân công và phối hợp quyền lực 78
3.2.2 Đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, làm cho Quốc hội có thực quyền 79
Trang 53.2.3 Phát huy vai trò của Chính phủ với tư cách là cơ quan thực thi pháp luật và
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất 81
3.2.4 Đổi mới hoạt động tư pháp phải theo hướng tăng tính độc lập và thẩm quyền của hệ thống toà án, chuyên nghiệp hoá hoạt động tư pháp 83
3.2.5 Phân định nhiệm vụ, chức năng cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp rõ ràng, tránh chồng chéo 85
3.2.6 Nâng cao ý thức thực hiện pháp luật, thế chế hoá các quy định và cơ chế để nhân dân thuận tiện tham gia giám sát đối với các cơ quan quyền lực
nhà nước 87
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
1 Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa CHXHCN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhà nước ra đời không phải là kết quả của một sự phát triển ngẫu nhiên
mà nó là sản phẩm của lịch sử xã hội gắn liền với sự hình thành và sự vận động giai cấp Nhà nước luôn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội trong tất cả các thời đại Thực tế lịch sử đã chứng minh, trong cuộc đấu tranh giai cấp, giai cấp nào nắm được quyền lực nhà nước thì giai cấp đó thiết lập được sự thống trị đối với toàn xã hội Theo Lênin, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của giai cấp cầm quyền là phải tổ chức quyền lực nhà nước sao cho nhà nước có đủ sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình
Theo suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi nhà nước ra đời đến nay, đã có bốn kiểu nhà nước thay thế nhau và kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước Trong lịch sử, giai cấp cầm quyền qua các thời đại đã dựa trên hai nguyên tắc cơ bản để tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước, đó là: nguyên tắc tập quyền và nguyên tắc phân quyền Việc lựa chọn nguyên tắc nào một mặt phụ thuộc vào bản chất nhà nước và mặt khác còn do điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước dân chủ dù được xây dựng trên bất cứ nguyên tắc nào đều phải đảm bảo những cơ sở pháp lý để nhà nước tiến hành có hiệu quả các hình thức hoạt động cơ bản là hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Chỉ có trên cơ sở đó nhà nước mới thực hiện được đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của mình
Song, tổ chức quyền lực nhà nước luôn là vấn đề phức tạp, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của một chế độ chính trị - xã hội
Trang 8Từ xuất phát điểm đã được kiểm nghiệm qua lịch sử đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta
có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
Nhà nước ta hiện nay là Nhà nước XHCN, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Để phù hợp với mục tiêu bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân, Đảng ta xác định: “ Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [17, tr.45] Điều 2 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi cũng chỉ rõ: “ Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [27]
Về phương diện lý luận, nguyên tắc “ quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp ” được đánh giá là một bước phát triển trong tư duy, là sự sáng tạo, nhạy bén của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên khi đi vào giải quyết các vấn đề cụ thể cả trên mô hình lý thuyết và tổ chức thực hiện thì vẫn còn nhiều vấn đề nan giải Tình trạng chưa xác định rõ ràng các vấn đề như: Thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp như thế nào? Thống nhất vào cơ quan nào, phân công và phối hợp giữa các quyền được thể hiện ra sao?… là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những tiêu cực trong
Trang 9hoạt động của bộ máy nhà nước, làm suy giảm hiệu lực sức mạnh của nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân
Những thành tựu to lớn của hơn 20 năm đổi mới đã tạo niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân ta phát huy sức mạnh cả dân tộc, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển vào cuối thập niên này và đến năm 2020 đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện được mục đích đó, chúng ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là cải cách nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Trong nhiều năm qua, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đẩy mạnh cải cách thể chế, tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước nhằm phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế nhằm hoàn thiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực chuyên môn cao; tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hướng tới xây dựng một nhà nước tinh gọn, hiệu quả Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa vững chắc, cải cách hành chính còn chậm, bộ máy nhà nước còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan còn chồng chéo, việc xác định quyền hạn, trách nhiệm giữa các chức danh chưa rõ ràng; tình trạng quan liêu chưa được khắc phục… Muốn thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới, chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, trước hết là quán triệt nguyên tắc thống nhất, phân công
và phối hợp giữa các cơ quan trong tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước Vấn đề đặt ra là cần làm sáng tỏ hơn nữa về lý luận, khảo sát việc thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn để đề ra giải pháp thúc đẩy, nâng cao vai trò của quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay Đó cũng chính là lý do tác giả
Trang 10chọn đề tài: " Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay " làm luận văn tốt nghiệp Cao học
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vấn đề quyền lực nhà nước, thực hiện nguyên tắc thống nhất, phân công
và phối hợp trong tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước Việt Nam đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau
Lý luận về nhà nước và tổ chức quyền lực nhà nước được trình bày và phân tích khá kỹ trong các công trình của các nhà tư tưởng phương Tây thời kỳ cận
đại như:" Khảo luận thứ hai về chính quyền " của J Locke [37];“ Bàn về Tinh thần pháp luật” của Montesqueu [40], “Bàn về khế ước xã hội” của Rousseau
[49]… Trong các tác phẩm của mình, Mác, Ăngghen, Lê nin và Hồ Chí Chí Minh cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước, quyền lực nhà nước, nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân, vì dân
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện nhiều công trình liên
quan đến vấn đề này, tiêu biểu là: “ Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội ” (2000) của Phạm Ngọc Kỳ; [34]; "Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước ”(2004) của Nguyễn Đăng Dung [6]; “ Thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam ” ( 2004 ) của
Lê Quốc Hùng [31]; “ Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước ” (2005 ) của Nguyễn Thị Hồi [33]…
Các công trình này đề cập từ nhiều góc độ ( triết học, lịch sử, pháp lý ) về tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Từ việc nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn quản lý hành chính, cải
cách hành chính ở nước ta và yêu cầu cải cách hành chính hiện nay có “ Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ thống hành chính Việt Nam”
(2006), của Phạm Bính [2]
Trang 11Vấn đề nhà nước pháp quyền ở nước ta cũng được nghiên cứu trong
một số sách chuyên khảo như: " Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam " (2005) của Đào Trí Úc (chủ biên) [54]; " Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới " (2006) của Nguyễn Văn Yểu,
Lê Hữu Nghĩa (đồng chủ biên) [ 64] …
Các công trình nêu trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của nhà nước: tổ chức bộ máy nhà nước, nguyên tắc hoạt động của quyền lực nhà nước, lý luận về thống nhất, phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước… Đây là những kết quả nghiên cứu rất quan trọng, là cơ sở để tác giả luận văn kế thừa và phát triển Luận văn này là sự hệ thống lại những vấn đề
lý luận và đi sâu nghiên cứu những vấn đề thực tiễn nảy sinh trong quá trình
tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 MỤC ĐÍCH
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và khảo sát việc thực hiện nguyên tắc “ quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp ”, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện nguyên tắc đó ở nước ta hiện nay
Trang 12- Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế, nguyên nhân trong việc thực hiện nguyên tắc trên, tác giả luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức quyền lực nhà nước ta, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động quyền lực nhà nước của mỗi quốc gia luôn gắn liền với bản chất nhà nước, thể chế chính trị, thể chế nhà nước, thể chế kinh tế, do vậy đề tài luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; trong
đó, tập trung vào giai đoạn thực hiện Hiến pháp mới ( từ năm 1992 đến nay )
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động quyền lực nhà nước Việt Nam được xây dựng trên nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, do vậy phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu dựa trên những cơ sở và phương pháp sau:
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Những nguyên lý, lý luận đó đòi hỏi bảo đảm tính khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển; phải dựa vào những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội; phải đứng trên lập trường duy vật khoa học và thế giới quan của giai cấp công nhân để xem xét, đánh giá các vấn đề
- Những quan điểm, chủ trương, chính sách của ĐCSVN về đổi mới và cải cách hệ thống chính trị theo định hướng XHCN, đặc biệt là quan điểm về
Trang 13thực hiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động quyền lực nhà nước ở Việt Nam
- Các phương pháp cụ thể: Phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp thống kê, nghiên cứu và phân tích tài liệu, khảo sát thực tế, thu thập và
xử lý tài liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng hợp, lôgic - lịch sử, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá để làm rõ vấn đề đặt ra
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Đề tài luận văn là một cách tiếp cận để nhận thức tổ chức bộ máy và hoạt động của nhà nước Hơn nữa, việc hoàn hiện nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động quyền lực nhà nước ” là một nội dung, một cách thức thực hiện công cuộc cải cách nhà nước ở nước ta hiện nay
- Đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận và khả năng vận dụng vào thực tiễn,
do vậy kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tư liệu tham khảo, được sử dụng
để nghiên cứu, nhận thức về tổ chức bộ máy và quan hệ, hoạt động của hệ thống chính trị nước ta Kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng trong nhận thức về cải cách hành chính, trong việc lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành, các địa phương, đồng thời góp phần vào việc xây dựng, bổ sung những vấn đề lý luận nói chung, trong việc thực hiện nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức và hoạt động quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, cải cách phương thức thực hiện quyền lực nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói riêng
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 7 tiết
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1.1 Một số khái niệm cơ bản và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm quyền lực
Quyền lực là khái niệm được loài người nhận biết và nghiên cứu rất sớm - thời cổ đại Từ khi ý thức được các vấn đề chính trị người ta cũng đã đề cập đến vấn đề quyền lực và coi đó là một trong những vấn đề cơ bản của chính trị
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng chính trị đã bàn đến phạm trù quyền lực như là một trong những cơ sở chủ yếu nhất để tổ chức đời sống xã hội Đến nay, lý luận về quyền lực vẫn còn là vấn đề trung tâm của các nghiên cứu chính trị, xã hội, nó đã được bổ sung, phát triển rất nhiều nhưng hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm quyền lực Quyền lực
theo tiếng Latinh là potere,, theo tiếng Nga là vlast, theo tiếng Anh là power
[ 52, tr 1409] ( tiếng Anh không có động từ quyền lực, vì thế thường phải gắn thêm một động từ vào đó hoặc sử dụng động từ “ ảnh hưởng ” hoặc “ thi hành” )
Dù quan niệm, cách tiếp cận về quyền lực còn có những điểm khác nhau, nhưng các ngôn ngữ đều có điểm thống nhất: quyền lực liên quan đến sức mạnh, sự ảnh hưởng, định hướng, kiểm soát, quản lý, thống trị Để làm
rõ khái niệm quyền lực, cần khảo sát các cách tiếp cận khác nhau
Ở phương Đông, mà tiêu biểu là Trung Quốc, vấn đề quyền lực cũng đã được đặt ra tương đối sớm Khi mà thế quyền (quyền lực nhà nước) chưa đủ
để cai trị, người ta biết mượn uy của “ thần quyền ” để bổ sung cho thế quyền
Trang 15“Mệnh trời” được coi như uy lực tuyệt đối bao trùm thiên hạ Khổng Tử, một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc cho rằng: trong chính trị, đạo đức là quyền lực tối thượng Đạo đức đã tiềm ẩn trong những người quân tử - nhà chính trị,
nó như một thứ đặc ân mà trời ban cho, chỉ cần tu thân thì sẽ đạt được Khi
“tu ” được “ thân ”, có được đạo đức thì “ tề ” được “ gia ” và “ bình ” được
“thiên hạ” Ông ví “ đức của người quân tử ( người cai trị ) như gió, đức của
kẻ tiểu nhân ( người bị trị ) như cỏ, gió thổi tất cỏ sẽ lướt theo ” Một cách thực tế hơn, Hàn Phi Tử cho rằng, để có được quyền lực, bậc vua chúa cần phải nắm vững hai điều là thưởng và phạt Bởi theo ông, con người ai cũng ham lợi và ghét hại; dùng thưởng và phạt thì sẽ khống chế được người khác, buộc họ phải theo ý mình
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, Platôn cho rằng, quyền lực không phải của một người mà phải được di chuyển từ người này sang người khác Trong tác phẩm “ Chính trị ” và “ Hiến pháp Aten ”, Arixtôt đã nêu quan điểm về quyền lực, theo ông quyền lực không chỉ là cái vốn có của sự vật, hiện tượng biết cảm giác mà còn là của giới tự nhiên vô cơ Thời trung đại, các nhà thần học lại đưa quyền lực của Thượng đế lên vị trí hàng đầu Thời Phục hưng, các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa tự do đưa vấn đề lật đổ quyền lực phong kiến và thiết lập quyền lực tư sản là nhiệm vụ trung tâm
Từ giữa thế kỷ XX đến nay, khoa học chính trị đã được nghiên cứu và phát triển ở nhiều nước phương Tây Các nhà nghiên cứu đã nêu ra các quan điểm khác nhau về quyền lực Nhà xã hội học người Anh B Rutxen (B.Russel) cho rằng: quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách
có chủ ý L.Lipsơn (Lebi Lipson) xem quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ một hành động phối hợp A.Tôpphơlơ (Avin Toffler) khẳng định: quyền lực là cái buộc người khác phải hành động theo ý của ta Như vậy, với nghĩa chung nhất các nhà khoa học nêu trên cho rằng, quyền lực là cái mà nhờ đó
Trang 16buộc người khác phải phục tùng; là khả năng thực hiện ý chí của mình trong quan hệ với người khác
Theo các tác giả “ Tập bài giảng Chính trị học ”, quyền lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động của đời sống xã hội, trong đó chủ thể này
có thể chi phối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ có sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ xã hội [59, tr 236 - 238 ]
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin từ góc độ duy vật lịch sử đã đề cập đến vấn đề quyền lực từ trong bản chất của nó Đó là, trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nắm được quyền kiểm soát tư liệu sản xuất thì giai cấp đó cũng nắm được quyền điều khiển, chi phối các lĩnh vực cơ bản khác của xã hội Cách tiếp cận này là chìa khoá cho ta nghiên cứu vấn đề quyền lực một cách khoa học và hữu hiệu
Quyền lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động, trong đó chủ thể này có thể chi phối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ
có sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ xã hội Đó là quan hệ giữa hai chủ thể: chi phối và bị chi phối; chỉ huy, ra lệnh và tuân thủ phục tùng Dấu hiệu của sự tồn tại quyền lực và quan hệ quyền lực là người này có thể bắt buộc người ( nhóm người ) khác phải tuân theo những mệnh lệnh, ý chí của mình Quyền lực là mối quan hệ xã hội đặc biệt, ai chi phối được mối quan hệ đó thì buộc người khác phải phục tùng; việc vận dụng có kết quả mối quan hệ đó sẽ cho phép đạt được mục tiêu nhờ hoạt động phối hợp; việc nắm giữ và sử dụng mối quan hệ đó sẽ cho phép chủ thể có tác động tới hành vi, phẩm hạnh của người khác
Từ những cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến quan niệm: Quyền lực là quyền sử dụng sức mạnh của một chủ thể buộc các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ sức mạnh và vị thế nào đó trong quan hệ xã hội
Trang 17Quan niệm như trên về quyền lực là cơ sở để xem xét phạm trù quyền lực khác như quyền lực chính trị và đặc biệt là quyền lực nhà nước
* Khái niệm quyền lực chính trị
Nếu như quyền lực xuất hiện rất sớm trong lịch sử, xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của con người, với những hoạt động mang tính chất cộng đồng của xã hội loài người thì quyền lực chính trị lại xuất hiện muộn hơn Nó ra đời cùng với sự ra đời của chế độ tư hữu, xã hội có phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp
Xã hội loài người đã có một giai đoạn lịch sử không có sự phân chia thành giai cấp và cũng không có quyền lực chính trị Đó là xã hội nguyên thuỷ Trong các thị tộc, bộ lạc nguyên thuỷ, quyền lực công biểu hiện thành các chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán tập trung ở quyền lực của Hội đồng công xã và trao cho người thủ lĩnh thừa hành
Khi xã hội cộng sản nguyên thuỷ được thay bằng xã hội chiếm hữu nô
lệ, tức là khi chế độ tư hữu thay thế chế độ công hữu tất yếu dẫn đến hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp - thì quyền lực công ( bộ phận cơ bản) được tổ chức thành nhà nước Nhà nước xuất hiện dường như để điều hoà, làm dịu mâu thuẫn giai cấp, để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt cả xã hội Cuộc đấu tranh giành quyền lực nhà nước trở thành vấn đề trung tâm, then chốt trong hoạt động của các giai cấp, các lực lượng xã hội Khi một giai cấp đoạt được quyền lực nhà nước và trở thành giai cấp thống trị thì giai cấp đó sẽ dùng quyền lực nhà nước để thiết lập sự thống trị của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, để đảm bảo thực hiện lợi ích của giai cấp mình và đàn áp sự chống đối của các giai cấp đối lập Do đó, quyền lực chính trị - quyền lực của giai cấp thống trị - xuất hiện trong đời sống xã hội Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp để giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị mà cơ bản là giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, đã diễn ra
Trang 18trong suốt quá trình lịch sử từ khi xã hội nguyên thuỷ tan rã và xã hội nô lệ ra đời cho đến nay Kết quả là đưa đến sự thay đổi hình thức của quyền lực chính trị, hình thức thống trị giai cấp
Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lực chính trị Tiêu biểu là các quan niệm sau:
- Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị
- Quyền lực chính trị là quyền lực xã hội nhằm giải quyết lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại
- Quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình - chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
- Quyền lực chính trị là quyền lực của nhà nước, các đảng chính trị, các
tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan tự quản địa phương
- Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân ( trong điều kiện CNXH ); nó nói lên khả năng của một giai cấp nhằm thực hiện lợi ích khách quan của mình Quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác
Từ những quan niệm trên có thể hiểu một cách chung nhất: Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh chính trị của một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội nhằm áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội
có lợi cho giai cấp mình, hướng tới mục đích thống trị xã hội
* Khái niệm quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước từ trước tới nay luôn được bàn đến như một vấn đề trung tâm của đời sống chính trị, xã hội
Trang 19Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chưa có chính trị, nhà nước, trong các thị tộc, bộ lạc hình thành quyền lực công cộng Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp ra đời, và nhà nước được hình thành trên cơ sở đấu tranh giai cấp Vì vậy, quyền lực nhà nước có mối quan hệ biện chứng, trực tiếp với quyền lực công và các quyền lực chính trị khác
Quyền lực nhà nước về hình thức là quyền lực chung của cả xã hội, là quyền lực công cộng, nhưng cái thể hiện quyền lực công đó bao giờ cũng bị quy định, chi phối bởi giai cấp hay lực lượng xã hội thống trị, nghĩa là, về thực chất, quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền
Giai cấp cầm quyền tổ chức ra bộ máy nhà nước và sử dụng nó để thực thi quyền lực chính trị của mình Điều đó cũng có nghĩa là: nhà nước nào cũng là công cụ của giai cấp thống trị, được giai cấp ấy sử dụng để áp đặt ý chí của mình đối với các giai cấp, nhóm xã hội khác
Quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp ( hoặc liên minh giai cấp ) cầm quyền, được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra, buộc các giai cấp, các tầng lớp khác phải phục tùng ý chí của mình Quyền lực nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của quyền lực chính trị, do đó nếu có sự thay đổi căn bản của nó bằng việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giai cấp khác sẽ trực tiếp dẫn đến thay đổi căn bản tính chất chế độ chính trị
Trong lịch sử loài người, tổ chức quyền lực nhà nước luôn là vấn đề phức
tạp nhất, là nguyên nhân và mục đích của hầu hết các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng xảy ra trong xã hội Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về vua Nhà vua vừa là người ban hành ra pháp luật, đồng thời lại là vị pháp quan tối cao trong một nhà nước
Đây là cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước chuyên chế điển hình cho việc ban
hành các quyết định tuỳ tiện của nhà vua Đặc điểm cơ bản, điển hình của
Trang 20quyền lực nhà nước phong kiến là sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực nhà nước với quyền lực tôn giáo và sự phát triển quyền lực nhà nước từ cơ chế tản quyền phong kiến sang tập quyền chuyên chế phong kiến
Dưới chế độ TBCN, các bản hiến pháp tư sản đã tuyên bố quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, được thực hiện nhân danh nhân dân Đây là điểm tiến bộ trong tiến trình lịch sử Tuy vậy, giai cấp tư sản thực hiện quyền lực chính trị của mình bằng công cụ chủ yếu là nhà nước tư sản Tận dụng được nguồn lực trí tuệ, sử dụng có hiệu quả kỹ thuật hiện đại nên giai cấp tư sản có khả năng độc quyền chi phối cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Dẫu vậy, quyền lực nhà nước tư sản không thể là thống nhất, bởi nó hình thành trên chế độ đa nguyên chính trị và vì thế hình thành cơ chế phân quyền
Dưới chế độ XHCN, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động Quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát để quyền lực thực sự
là của nhân dân Nhân dân là người chủ tối cao của quyền lực nhà nước Nhân dân không nhượng quyền, giao quyền mà uỷ quyền trong phạm vi thực thi quyền lực Tự thân cơ quan nhà nước không có quyền mà chỉ được uỷ quyền Quyền lực nhà nước là quyền lực phục vụ nhân dân
Quyền lực nhà nước là một bộ phận và là trung tâm của quyền lực
chính trị, là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng nhà nước
Như vậy, Quyền lực nhà nước là năng lực hoạt động chính trị của giai cấp cầm quyền nhằm hiện thực hóa lợi ích của mình trên cơ sở đảm bảo ở mức độ nhất định việc thực hiện lợi ích chung của xã hội
Trang 211.1.2 Một số nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước
* Nguyên tắc phân quyền
Nguyên tắc phân quyền chính là cơ sở, là nền tảng để các nước tư sản
tổ chức quyền lực nhà nước mình Học thuyết phân quyền ra đời từ rất sớm, cho đến nay, nó được vận dụng rất rộng rãi trên thế giới Song tuỳ vào điều kiện địa lý, dân cư, xã hội, chính trị khác nhau mà các nước tư sản áp dụng nguyên tắc này theo những cách riêng tạo nên nét đặc thù của mình
Ở các nước theo mô hình thể chế Quân chủ đại nghị, như Vương quốc
Anh, Nhật Bản nguyên tắc tam quyền phân lập được áp dụng trong tổ chức quyền lực nhà nước Vua là nguyên thủ quốc gia nhưng không có thực quyền Quyền lực nhà nước chủ yếu được phân chia cho ba cơ quan: quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về Toà án Trong đó, Nghị viện là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao,
có quyền thành lập và giải tán Chính phủ, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện Tuy nhiên, Chính phủ và hệ thống toà án có tính độc lập cao, có quyền kiểm tra, giám sát và tác động vào hoạt động của Nghị viện
Ở các nước theo mô hình Cộng hoà tổng thống như: Mỹ, Inđônêxia,
Philippin , nguyên tắc tam quyền phân lập được áp dụng triệt để nhất Quyền lực nhà nước được tập trung vào Tổng thống Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp, đồng thời có quyền chi phối hoạt động của Nghị viện và Toà án Trong thể chế này, quyền hành pháp
có phần lấn át quyền lập pháp và tư pháp Tuy nhiên, Nghị viện có quyền lực rất lớn, mọi quyết định của Tổng thống phải thông qua Nghị viện, Hiến pháp trao cho Nghị viện quyền giám sát hoạt động và ngăn cản sự tiếm quyền của Tổng thống Toà án Tối cao ( hoặc Toà án hiến pháp ) độc lập trong hoạt động xét xử, không bị phụ thuộc vào cơ quan lập pháp và hành pháp
Trang 22Ở các nước theo mô hình Cộng hoà đại nghị như: Đức, Hy Lạp, Ấn
Độ quyền lực nhà nước tập trung vào Nghị viện, cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra Nghị viện có quyền thành lập Chính phủ, bầu Tổng thống, đồng thời có quyền bãi miễn Chính phủ, Tổng thống Chính phủ, Tổng thống họat động và chịu trách nhiệm trước Nghị viện Nghị viện có quyền lật đổ Chính phủ và ngược lại, Chính phủ cũng có quyền giải tán hoặc yêu cầu Tổng thống giải tán Nghị viện
Ở các nước theo mô hình Cộng hoà lưỡng tính như: Pháp, Phần Lan,
Ukraina Tổng thống và Nghị viện đều do nhân dân bầu ra Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan hành pháp, có quyền giải tán Nghị viện Tổng thống chi phối mọi hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp Nhưng Nghị viện có quyền can thiệp vào quá trình thành lập Chính phủ, buộc Tổng thống phải bổ nhiệm lãnh tụ của đảng đa số trong Nghị viện làm Thủ tướng Mô hình này phụ thuộc nhiều vào yếu tố đảng phái Khi liên minh, đảng của Tổng thống chiếm đa số ghế trong Hạ viện thì quyền lực của Tổng thống gần như tuyệt đối Khi phe đối lập chiếm đa số ghế trong Hạ viện thì quyền lực của Tổng thống bị hạn chế [ 28, tr.18 - 20 ]
Tuỳ thuộc vào việc phân chia hay tập trung quyền lực nhà nước trong
thể chế nhà nước, có thể hình thành các mô hình khác nhau của việc tổ chức
thực thi quyền lực hành pháp - quản lý hành chính nhà nước
Tuỳ thuộc vào việc phân chia, phân công hay tập trung quyền lực nhà nước mà hệ thống thực thi quyền hành pháp được hình thành theo nhiều cách khác nhau: độc lập, tập trung vào một cơ quan hay có sự liên hệ với tổ chức thực thi các quyền lực khác Mối quan hệ này có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 23Trong sơ đồ này, thực thi quyền hành pháp có thể chỉ tập trung vào trong
tổ chức thực thi quyền hành pháp và mối quan hệ với cơ quan lập pháp không
có hoặc có rất hạn chế Cũng có thể thực thi quyền hành pháp được giao cho một tổ chức nhất định, nhưng để có thể thành lập tổ chức như thế, sự can thiệp của lập pháp hay cơ quan quyền lực khác tương đối mạnh
Trong mô hình phân quyền “ cứng nhắc ”, tức hệ thống quyền lực nhà
nước được trao cho ba hệ thống các cơ quan nhà nước độc lập với nhau để thực thi các quyền đó, các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước trở thành " đối trọng, kiềm chế " lẫn nhau Các tổ chức hành chính nhà nước là cơ quan thực thi quyền hành pháp được tổ chức để phù hợp với nguyên tắc này và đáp ứng các yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước
Trong mô hình phân quyền “mềm dẻo”, các nhánh quyền lực được giao
cho ba cơ quan, nhưng các cơ quan này không độc lập với nhau mà tác động qua lại, liên hệ chặt chẽ với nhau Về tổ chức, nhân sự của bộ máy hành pháp
có thể đồng thời là người của lập pháp Thủ tướng là người đứng đầu hành
Quyền lực nhà nước
thống nhất, tập trung
Quyền hành pháp tập trung
Quyền lực
nhà nước
phân chia
Phân quyền mềm dẻo
Phân quyền cứng nhắc
Quyền hành pháp phân cấp
Mô hình hình thành tổ chức hành pháp NSJBCXCSXBSJBSKBSDCFSIKCSDSUIN¦íCnước trung
ương
Trang 24pháp, thường do Nghị viện bầu ra từ thành viên của mình Cũng có quốc gia không để người của hành pháp đồng thời là nghị biểu, nhưng cũng có những quy định trong hiến pháp về mối quan hệ liên đới, chịu trách nhiệm giữa Chính phủ và Nghị viện Trong thực tiễn, nhiều quốc gia chọn mô hình này và
do tính chất mềm dẻo của nó, có nhiều " biến thể " của mô hình này nhằm phù hợp với tình hình tương quan chính trị, truyền thống dân tộc, tôn giáo, dân trí, tập quán của từng quốc gia
Trong mô hình quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất, không phân chia hệ thống các cơ quan thực thi các nhánh quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân công, phân cấp ( ai làm gì do luật pháp quy định ) và sự phối hợp giữa hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước đóng vai trò rất quan trọng
* Nguyên tắc tập quyền
Phương thức tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền được áp dụng trong các nhà nước chuyên chế từ xa xưa Đó là sự tập trung quyền lực vào tay vua, hoàng đế thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong kiến Sang chế độ dân chủ, quyền lực nhà nước tập trung vào cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra và vì lợi ích của toàn thể nhân dân Đây chính là sự phát triển mới và tiến bộ của hình thức tập trung quyền lực, đặc biệt trong các nhà nước hiện đại Trong lịch sử, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu:
Thứ nhất, quyền lực nhà nước được tập trung trên cơ sở sự thừa nhận của nhân dân Sự thừa nhận ở đây có thể do nhiều nguyên nhân, như do
phong tục, tập quán hoặc cũng có thể do cưỡng chế, ép buộc Có thể thấy rõ nhất hình thức này ở các nhà nước chủ nô, phong kiến Ở đó, quá trình chuyển giao quyền lực diễn ra theo phong tục là cha truyền con nối hoặc thông qua
Trang 25việc cướp ngôi để giành quyền lực về tay mình và dùng quyền lực ấy buộc mọi người phải thừa nhận
Thứ hai, quyền lực nhà nước được tập trung trên cơ sở nhân dân trực
tiếp là cử tri, cầm lá phiếu đi bầu ra những người, những cơ quan đại diện cho
ý chí chung của họ Các cơ quan này có nhiệm vụ là thay mặt nhân dân, nhân danh nhân dân để quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của người dân Cho đến nay, bầu cử trở thành phương thức khá phổ biến để uỷ quyền và tập trung quyền lực Tập trung quyền lực thông qua các cuộc bầu cử được coi là thành tựu của dân chủ và văn minh về chính trị Bởi bầu cử thông qua bỏ phiếu là hình thức mà mọi người có thể tham gia vào việc quyết định cuộc sống, vận mệnh của chính mình sau này Bầu ra một cơ quan đại diện, một người đại diện có năng lực, biết hi sinh vì quần chúng thì chắc chắn lợi ích của nhân dân
sẽ được bảo đảm và ngược lại Dân chủ ở đây thể hiện ở chỗ, tự mình có thể bầu ra người mà mình cho rằng có đủ khả năng để thực hiện quyền lợi của cộng đồng mình
Nguyên tắc tập quyền chủ yếu được áp dụng trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước XHCN Xét về bản chất, nó đối lập với nguyên tắc tam quyền phân lập trong quá trình tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản
1.2 Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước
Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước là vấn đề cơ bản, mấu chốt trong toàn bộ tổ chức hệ thống chính trị, trong tổ chức bộ máy nhà nước Bởi
vì, tổ chức và phân công quyền lực nhà nước đúng, phù hợp sẽ là nhân tố bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, giữ vững được bản chất của mình Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước của một nhà nước phụ thuộc vào bản chất của nhà nước đó, phụ thuộc vào truyền thống lịch sử dân tộc, vào đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp Chính vì thế, tổ
Trang 26chức và phân công quyền lực của mỗi nước đều dựa trên những nguyên tắc hiến định
1.2.1 Nội dung thống nhất trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
Trong quyền lực nhà nước, thống nhất là thuộc tính cơ bản và nó được hình thành trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, nhà nước bao giờ cũng được xây dựng bởi một lãnh thổ xác
định và một cộng đồng dân cư sinh sống Trong nhà nước ấy, quan hệ giữa cộng đồng dân cư trên một lãnh thổ xác định có chủ quyền được gọi là chủ quyền quốc gia Chủ quyền này được ý thức bởi tất cả các thành viên của cộng đồng, nó thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về chính sách đối nội và đối ngoại Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể tách rời của nhà nước
và có tính tối cao Tính tối cao này thể hiện ở chỗ quyền lực nhà nước có hiệu lực trên toàn bộ đất nước, đối với tất cả dân cư và các tổ chức, các cộng đồng
xã hội Mặt khác, bảo vệ chủ quyền quốc gia chính là bảo vệ lợi ích cũng như
ý chí của mọi công dân Bởi vì, chủ quyền quốc gia đó là sản phẩm tập trung
ý chí và lợi ích của toàn bộ thành viên trong cộng đồng xã hội, từ đó xây dựng lên nhà nước Yếu tố này xuất hiện từ trong đời sống tự nhiên của cộng đồng, được hình thành và phát triển dần dần trong quan hệ một cộng đồng xã hội chuyển thành một cộng đồng xã hội có nhà nước Đây là yếu tố đầu tiên, là cơ
sở hình thành nên tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Thứ hai, một cộng đồng muốn trở thành cộng đồng xã hội có nhà nước
thì trước hết cộng đồng đó phải có ý chí chung thống nhất phản ánh quyền lợi, lợi ích của cộng đồng mình đồng thời kết hợp với sức mạnh đoàn kết cộng đồng và xây dựng hệ thống tổ chức phù hợp để phục vụ cho lợi ích đó Quá trình này diễn ra như một quá trình xã hội hoá các cá nhân, các nhóm nhỏ để trở thành xã hội, hình thành các “ thoả thuận ” mà theo J Rutxô gọi là bản
Trang 27“khế ước xã hội ”, biểu hiện sự thống nhất lực lượng, ý chí lợi ích của cả cộng đồng Đây chính là sự thống nhất trên cơ sở hiến pháp, pháp luật nghĩa là quyền lực nhà nước được hợp thức hóa bằng pháp luật với tư cách là ý chí của nhân dân Mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất làm nền tảng cho việc tổ chức đời sống chính trị quốc gia
Thứ ba, xét về nguồn gốc, quyền lực nhà nước không phải là quyền lực
tự thân mà nó bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, nhân danh quyền lực nhân dân chứ không phải cái vốn có của nhà nước Nhà nước chính là tổ chức do nhân dân lập ra thay mặt nhân dân đứng ra quản lý xã hội Thực tế, nhà nước
có được sức mạnh vật chất, quân sự đều do nhân dân bởi nhân dân là lực lượng chủ yếu trong xã hội tạo ra của cải vật chất, tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc cho nhà nước phát triển Sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà cơ bản
là quân đội, cảnh sát, toà án… cũng là từ nhân dân mà ra Vì vậy trong một nhà nước, quyền lực nhân dân là thống nhất Có thể nói, quyền lực nhà nước
là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân và được trao cho một cơ quan với tư cách đại diện cho ý chí của nhân dân Việc nhân dân tham gia vào các cuộc bầu cử để bầu ra đại diện cho quyền lực của mình chính là biểu hiện tính thống nhất của quyền lực nhân dân Nghĩa là quyền lực nhân dân thực chất là sự uỷ quyền của nhân dân cho một bộ phận thay mặt họ để quản lý nhà nước và xã hội Tính thống nhất của quyền lực nhà nước thể hiện ở sự đại diện thống nhất của cơ quan quyền lực nhà nước Cơ quan quyền lực nhà nước sẽ là người đại diện cho ý chí của nhân dân, bảo vệ lợi ích nhân dân và thực hiện ý chí của họ với mục tiêu chung là phát triển đất nước
Thứ tư, ngay từ khi ra đời, nhà nước cũng như quyền lực nhà nước luôn
mang bản chất giai cấp Trong xã hội, giai cấp nào nắm giữ được phần lớn tư liệu sản xuất thì giai cấp đó sẽ thống trị cả xã hội Biểu hiện là giai cấp đó lập
ra nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị để bảo vệ
Trang 28quyền lợi, thực hiện lợi ích của giai cấp mình cũng như trấn áp các giai cấp khác Sự thống nhât của quyền lực nhà nước ở đây được thể hiện trong ý chí của giai cấp thống trị Để đảm bảo lợi ích của mình, giai cấp thống trị luôn luôn sử dụng những biện pháp, những phương tiện, những thủ thuật chính trị
để nắm giữ, củng cố, thực thi quyền lực chính trị của mình nhằm thoả mãn lợi ích Trong bất cứ quốc gia nào, bộ máy nhà nước cũng được tổ chức với mục tiêu bảo đảm tính thống nhất tối đa của quyền lực trong khả năng và điều kiện cho phép Chính vì thế, bộ máy quyền lực thường do một lực lượng mạnh nhất nắm giữ ( đảng chính trị ) Khi một đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước thì có điều kiện đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước Trong trường hợp không có đảng nào có đủ uy tín, sức mạnh để nắm giữ quyền lực nhà nước thì vấn đề liên minh giữa các đảng được đặt ra Và trong trường hợp này, mặc dù các đảng luôn có sự đấu tranh gay gắt với nhau nhưng ở chừng mực nhất định họ vẫn thoả hiệp với nhau nhằm đảm bảo cho quyền lực nhà nước có được sự thống nhất để nhà nước có thể quản lý và điều hành xã hội trong thời gian nhất định [ 36, tr 18 - 20 ]
Quyền lực thống nhất trong các hệ thống tổ chức nói chung và quyền lực thống nhất trong hệ thống tổ chức nhà nước là một yêu cầu, đòi hỏi để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý; nếu quyền lực không thống nhất thì không thể đạt được mục tiêu, hiệu lực, hiệu quả quản lý Trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước, quá trình quản lý các chủ thể quản lý luôn có xu hướng bảo đảm quyền lực thống nhất
Quyền lực thống nhất bao gồm sự thống nhất về ý chí và thống nhất về lực lượng, sức mạnh thực hiện ý chí, đối lập với tình trạng “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược ”
Quyền lực nhà nước thống nhất là nói đến sự thống nhất của cả chỉnh thể bộ máy nhà nước, thống nhất theo chiều ngang là giữa lập pháp, hành
Trang 29pháp, tư pháp; thống nhất theo chiều dọc là giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương các cấp Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, trước hết là cơ quan lập pháp
ở trung ương là cơ sở bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước
Để thực hiện tốt nguyên tắc này và để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đầy
đủ, đồng bộ, đặc biệt là hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định một cách rõ ràng, rành mạch
và cụ thể Những quy định về pháp luật không thống nhất, không đồng bộ thì không thể đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
Trên cơ sở quy định pháp luật, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải tuân thủ pháp luật, tránh tình trạng vi quyền và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước
Quyền lực nhà nước thống nhất là đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất, nó dựa trên cơ sở phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền được thể hiện và thực hiện trong cả hệ thống và các
cơ quan nhà nước ( giữa Nghị viện, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương các cấp) cũng như trong từng cơ quan nhà nước theo cả chiều ngang ( giữa lập pháp, hành pháp,
tư pháp) và chiều dọc ( giữa Trung ương và địa phương ) Trong đó sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước theo chiều dọc chính là sự phân cấp quản lý nhà nước Do vậy phân cấp quản lý nhà nước cũng là một bộ phận, một nội dung cụ thể của quan điểm nêu trên Từ đó, có thể thấy, sự
Trang 30thống nhất là thuộc tính vốn có và là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của nhà nước
1.2.2 Nội dung phân công trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
Sự phân công trong tổ chức quyền lực nhà nước thực chất được xuất phát từ nguyên tắc “ tam quyền phân lập ” của các nước tư sản Đó chính là sự phân chia quyền lực ra ba bộ phận với những quyền hạn, chức năng và nhiệm
vụ khác nhau Song tuỳ vào chế độ chính trị của từng quốc gia mà ba quyền này có những biểu hiện khác nhau, thể hiện đặc trưng của từng chế độ
Ở các nước tư sản, việc phân chia ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thực chất là ba cơ quan hoạt động một cách độc lập với nhau, kiềm chế, đối trọng nhau Đối với các nước XHCN thì việc phân chia thành ba cơ quan quyền lực nhà nước chỉ là phân công chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện tốt công việc Còn tất cả quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho ý chí của toàn thể nhân dân, và mục tiêu cuối cùng là phục vụ nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Quyền lực nhà nước bao gồm ba bộ phận: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền lập pháp là quyền thông qua Hiến pháp và pháp luật Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và quyền hành chính Quyền tư pháp là quyền xét xử và giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước
Sự phân công rành mạch các quyền chính là việc xác định, phân bổ, khẳng định rõ ràng thẩm quyền cho các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền Để làm được điều đó, cần thống nhất quan niệm phân công, phân cấp quyền lực là: mỗi cơ quan nhà nước, mỗi đơn vị hành chính nhà nước được pháp luật quy định các quyền riêng ( quyền mà chỉ có cơ quan đó được thực
Trang 31hiện), các quyền được thực hiện nhưng phải có sự phê chuẩn của một cơ quan, một cấp có thẩm quyền ( quyền bị cấm đoán ) Chính nguyên tắc này bảo đảm cho quyền lực tập trung, thống nhất, đan xen, phối hợp, hợp tác trong thực hiện quyền lực nhà nước
Nguyên tắc phân công, phân cấp thẩm quyền trên bảo đảm mỗi cơ quan nhà nước có một địa vị pháp lý nhất định trong thực hiện các quyền Quốc hội duy nhất lập hiến, lập pháp và là cơ quan giám sát tối cao, có nghĩa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, toàn quyền thông qua các Hiến pháp, luật và sửa đổi chúng
Có thể nói, việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “ tam quyền phân lập ” về bản chất là đối lập với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở
các nước XHCN Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những giá trị tiến
bộ của nó mà chúng ta cần kế thừa và vận dụng sáng tạo Đối với Việt Nam, việc tổ chức nhà nước theo mô hình tập quyền XHCN nhưng có sự phân công giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không phải là không có lý do,
đó chính là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tiến bộ của các mô hình tổ chức nhà nước khác Việc phân chia các quyền khác nhau và do các cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ để giúp mỗi cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình đồng thời tạo sự chuyên môn hoá trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, nghĩa là mỗi cơ quan công quyền chỉ chuyên trách việc thực hiện chức năng riêng của mình, không xâm lấn sang hoạt động của các cơ quan khác
Thống nhất quyền lực nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước luôn thuộc về nhân dân lao động Tuy nhiên, việc quá tập trung, thống nhất vào một cơ quan
dễ làm nảy sinh vấn đề tha hoá quyền lực nhà nước Người được uỷ quyền thực thi quyền lực thường có xu hướng lạm quyền, sử dụng quyền lực công để mưu lợi cá nhân Để hạn chế và đi đến khắc phục tha hoá quyền lực cần phải
Trang 32có sự phân công, phân định trách nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan nhà nước
và phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện những trách nhiệm đó
Xác định mối quan hệ giữa thống nhất với phân công phối hợp quyền lực có thể thấy rằng bản thân sự phân công quyền lực mang trong nó sự cơ chế ràng buộc lẫn nhau giữa các thiết chế quyền lực tối cao nhằm mục đích vừa đảm bảo cho mỗi loại hình cơ quan nhà nước tương đối độc lập vừa đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước Cơ chế phân công càng chặt chẽ, càng hợp lý thì quyền lực nhà nước càng thống nhất Ngược lại, nếu cơ chế phân công không hợp lý, không chặt chẽ, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước sẽ bị lỏng lẻo, dẫn đến nguy cơ quyền lực nhà nước bị phân chia
Như vậy, với bản chất của nhà nước của dân, do dân và vì dân thì sự phân chia quyền lực ra thành ba bộ phận khác nhau là nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và hiệu quả thực thi quyền lực
1.2.3 Nội dung phối hợp trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
Nguyên tắc phối hợp được xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước Đó là, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhân dân nên không thể phân chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp Việc phân chia quyền lực nhà nước ra làm ba quyền mang trong nó sự phối hợp quyền lực Ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phối hợp thống nhất ở chỗ cùng thực hiện ý chí của nhân dân và dựa trên chủ quyền của nhân dân Vì vậy, sự phân công quyền lực nhà nước không thể thực hiện một cách cứng nhắc mà phải luôn song hành với sự phối hợp tạo nên sự thống nhất quyền lực nhà nước Việc phối hợp thực hiện ý chí của nhân dân giữa các cơ quan quyền lực nhà nước tạo ra sự uyển chuyển, nhịp nhàng, đồng bộ trên cơ sở quy định của pháp luật trong thực hiện công việc Vì vậy, phối hợp làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả của công việc
Trang 33Nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước trong tổ chức bộ máy nhà nước là sự kế thừa, phát triển sáng tạo những giá trị tiến bộ về tổ chức bộ máy nhà nước trong lịch sử Nguyên tắc này là nền tảng
để các nước XHCN tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước luôn luôn thuộc về nhân dân Sự phân công phối hợp làm tăng tính minh bạch của quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước; đảm bảo dân chủ hoá tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo điều kiện đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước giúp nhân dân thực sự trở thành những người chủ của đất nước
1.2.4 Quan hệ biện chứng của nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp
Nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước xuất phát từ bản chất của chế
độ chính trị, kinh tế bởi vì chính nó đã tạo ra những điều kiện khách quan gắn kết các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân thành một khối thống nhất về
ý chí, tư tưởng và lợi ích thành một cộng đồng bền chặt làm chủ nước nhà Quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân Nguyên tắc thống nhất
quyền lực nhà nước được xuất phát từ ba phương diện: về chính trị - nền tảng
của sự thống nhất đó là quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân; quyền lực nhà nước là ý chí của giai cấp cầm quyền được thực hiện
thông qua nhà nước; về pháp lý - quyền lực nhà nước gồm 3 yếu tố không thể
phân chia là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giống như cây quyền lực gồm ba nhánh Ba nhánh quyền lực này tồn tại cùng với sự xuất hiện nhà nước Nhà nước ban hành pháp luật, nhà nước thực hiện pháp luật và nhà nước bảo vệ pháp luật
Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân nhưng lại thống nhất vào Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Nhân dân bầu ra Quốc hội
Trang 34Quốc hội thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước, đồng thời thông qua Hiến pháp quy định sự phân công, phối hợp các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Sự phân công chính
là sự phân công lao động hợp lý giữa các cơ quan nhà nước trên cơ sở hợp tác
và giám sát lẫn nhau, bảo đảm cho mỗi cơ quan thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước phản ánh được lợi ích của nhân dân, thực sự vì nhân dân Cụ thể:
- Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Để phối hợp hoạt động lập pháp, bảo đảm các đạo luật có chất lượng và khả năng thực thi trong cuộc sống, việc soạn thảo phần lớn các dự luật đều do Chính phủ đảm nhiệm, trình ra Quốc hội
- Chính phủ thực hiện quyền hành pháp Sự phân công đó là phù hợp, bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất vào Quốc hội, và bảo đảm nền hành chính quốc gia luôn luôn ổn định, thống nhất, thông suốt từ trung ương đến cơ
sở và có hiệu lực Hệ thống các cơ quan hành chính phải được tổ chức và điều hành theo một kỷ luật chung thống nhất từ trung ương đến địa phương mới có thể giải quyết tốt những công việc cụ thể phục vụ nhân dân
Sự phân công chặt chẽ đó gắn với sự giám sát lẫn nhau Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội những hoạt động của mình Quốc hội chất vấn và ra những nghị quyết về công tác của Chính phủ, bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ
- Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân được phân công thực hiện quyền tư pháp Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của quyền lực nhà nước Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, kể cả Toà án cấp trên Viện
Trang 35Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực
nhà nước được thể hiện trên các lĩnh vực: Trên lĩnh vực lập pháp, Quốc hội
thông qua luật, song việc soạn thảo thường do Chính phủ đảm nhiệm, các Ủy ban Quốc hội xem xét, cho ý kiến và quyết định việc lấy ý kiến nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua và cuối cùng là Chủ tịch nước công bố
Trong quyết định các vấn đề lớn của đất nước, các quyết định quan trọng của
Quốc hội do Chủ tịch nước công bố Trong thành lập, miễn nhiệm các chức
vụ cao cấp: Quốc hội bầu Chủ tịch nước theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội bầu Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao theo đề nghị của Chủ tịch nước Bảo đảm sự phối hợp giữa Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thành lập và
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Trong bãi bỏ các văn bản sai trái: Quốc hội bãi bỏ văn bản của các cơ quan nhà nước trái với Hiến
pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội
Tất cả các quy định trên đều thể hiện quyền lực nhà nước luôn thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể duy nhất thực hiện quyền lực nhà nước Đây là
cơ sở vững chắc nhất để xác định tính thống nhất của quyền lực nhà nước Đó cũng là nền tảng để hình thành bộ máy nhà nước phục vụ lợi ích của nhân dân
và do đó, các cơ quan nhà nước được nhân dân trao quyền bằng cách cử những người đại diện cho mình đảm nhiệm các công việc nhà nước
Thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp nhằm đảm bảo dân chủ hoá tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước, góp phần ngăn chặn có hiệu quả tệ quan liêu, tham nhũng Nội dung của nguyên tắc này đề cao vị trí, vai trò của cơ quan đại diện nhân dân, khẳng
Trang 36định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tập trung ở Quốc hội Quốc hội được xác định là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong cấu trúc của hệ thống quyền lực nhà nước Quyền lực ấy được hình thành trên cơ sở uỷ quyền trực tiếp của nhân dân Các cơ quan khác ( hành pháp, tư pháp ) chỉ là những cơ quan thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước là yêu cầu bức thiết trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Là cơ quan đại diện của các tầng lớp nhân dân, được trao chức năng lập pháp, Quốc hội có tiềm năng to lớn trong việc tập hợp những nguyện vọng riêng của từng công dân để thể hiện, khái quát thành ý chí chung Vì vậy, đề cao pháp luật là đề cao Hiến pháp và các đạo luật của Quốc hội Để bảo đảm tuân thủ triệt để pháp luật phải có cơ quan kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp đối với hoạt động của các cơ quan công quyền Cơ chế kiểm soát quyền lực trước hết là cơ chế kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật và sự tuân thủ Hiến pháp của các cơ quan nhà nước cao nhất Ngoài ra, trong cơ chế kiểm soát quyền lực có sự tham gia của công dân Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhân dân bày tỏ sự đồng tình hay phản đối, sự tiếp nhận hay không tiếp nhận cũng như yêu cầu và kiến nghị đối với Nhà nước và công chức Đó còn là quyền của các đoàn thể nhân dân trong việc yêu cầu và đề nghị kiểm soát các cơ quan chính quyền
Tổ chức quyền lực nhà nước chặt chẽ, xử lý khoa học mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước “ tối cao ” trong quá trình thực hiện quyền lực Đó là sự phân công quyền lực, cách thức tổ chức các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi nước áp dụng nguyên tắc này một cách linh hoạt cho phù hợp với tình hình đất nước mình Mỗi loại quyền lực phát huy hiệu lực của mình, không xâm phạm và cũng không bị xâm phạm bởi quyền lực khác Mỗi cơ
Trang 37quan phải có vị trí tương đối độc lập trong bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng Hiến pháp, các luật về tổ chức và hoạt động các cơ quan nhà nước Cơ chế phân công càng chặt chẽ, càng hợp
lý thì quyền lực nhà nước càng thống nhất Sự phân công quyền lực thể hiện ở
sự phân định chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước; sự phối hợp giữa các nhánh quyền lực nhịp nhàng và đồng bộ trên cơ sở các quy định của pháp luật Sự phân công và phối hợp phải được xác định một cách uyển chuyển, linh hoạt, sinh động nhằm đạt được sự thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
Tóm lại, quyền lực nhà nước thống nhất và tập trung vào Quốc hội nhưng được phân công rõ ràng, trong đó Quốc hội thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước tối cao, đồng thời Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội; Toà án và Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền tư pháp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội Đây chính là nội dung căn bản của nguyên tắc tập trung thống nhất trong tổ chức bộ máy nhà nước Đây là cơ chế đảm bảo quyền lực của nhân dân, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động thống nhất và thông suốt; mỗi hệ thống cơ quan nhà nước chủ động và
tự chịu trách nhiệm trước nhân dân, khắc phục tình trạng chồng chéo, gây cản trở công việc của nhau trong thực thi quyền lực, ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực
1.3 Tính tất yếu của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam
1.3.1 Xét về bản chất, quyền lực Nhà nước ta bắt nguồn từ nhân dân
Quyền lực nhà nước vốn là bộ phận trung tâm và cốt lõi của quyền lực chính trị là công cụ của giai cấp cầm quyền sử dụng quản lý và thống trị xã hội Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến và xã hội tư bản, nhà
Trang 38nước do thiểu số giai cấp cầm quyền nắm giữ ( chủ nô, vua quan, giai cấp tư sản ) nhằm phục vụ, bảo vệ lợi ích của mình cũng như trấn áp lại giai cấp bị trị bằng nhà tù, quân đội Nhưng đối với mô hình nhà nước XHCN, các nhà
kinh điển mácxít đã chỉ ra rằng: Nhà nước XHCN mang bản chất giai cấp công nhân Song, về cơ bản lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích
của đa số nhân dân lao động, do đó nhà nước là của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định
đi theo con đường XHCN Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên CNXH Đồng thời Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân
Khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Sự ra đời của Nhà nước là vì con người, phục vụ lợi ích chung của tất cả mọi người
và vì tiến bộ của xã hội Người đã khẳng định:
“ Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiều quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [48, tr 90]
Như vậy quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân Do
đó, quyền lực nhà nước phải thống nhất, không thể phân chia Quyền lực nhà nước phải thống nhất vào một cơ quan đại diện duy nhất và cao nhất do dân bầu ra Cơ quan đó là nơi thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân một cách tuyệt đối
Trang 391.3.2 Vận dụng nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ” là phù hợp với nền chính trị Việt Nam
Thể chế chính trị Việt Nam là thể chế cộng hoà XHCN, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội phát triển vì mục tiêu
chung của đất nước là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Đó là mục tiêu mang tính nhân văn, nhân đạo và toàn dân Chính vì thế, chế độ chính trị Việt Nam là chế độ một đảng duy nhất cầm quyền ( khác với chế độ đa đảng nắm quyền) nên Đảng đại diện cho ý chí
thống nhất của toàn dân - mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đề
ra đều vì quyền lợi của nhân dân Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý và thực hiện lợi ích của xã hội thông qua những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Vì vậy, giữa Đảng và nhân dân luôn có sự thống nhất về ý chí Đó cũng là nhân tố đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước Hơn nữa,
ở nước ta do chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, không có sự tồn tại của các nhóm lợi ích như các nước tư sản Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ( Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…) Khác với các nhóm lợi ích ở phương Tây hoạt động chủ yếu gây sức ép lên nhà nước Các đoàn thể nước ta có chức năng động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời phản ánh ý chí của nhân dân lên chính quyền, thay mặt nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền Đây là những tổ chức quần chúng, đại diện cho những lớp người khác nhau ( nông dân, phụ nữ, thanh niên,…) nhưng về cơ bản lợi ích của họ là thống nhất Chính vì lợi ích của toàn thể nhân dân là thống nhất nên yêu cầu xây dựng một nhà nước theo nguyên tắc thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ nhà nước là phù hợp với nước ta
Trang 401.3.3 Vận dụng nguyên tắc “ Thống nhất, phân công và phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước ” là nhân tố để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, nước ta là nước dân chủ, vì vậy chỉ khi nào quyền lực tập trung thống nhất vào cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, tự do thì quyền làm chủ của nhân dân mới thực sự được đảm bảo Thông qua bầu cử, nhân dân đã trực tiếp bầu ra cơ quan, người đại diện cho ý chí, nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân, cộng đồng xã hội Không những thế, dân chủ ở trong
nước ta còn thể hiện ở chỗ: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân
tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử,… do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội
sẽ cử Chính phủ - Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân” [39, tr 133].
Có thể nói “Ai muốn lo việc nước đều có quyền ra ứng cử ” là một tư
tưởng hết sức dân chủ, nhân văn Nó khẳng định rằng, dân chủ ở đây là thực
sự chứ không giả tạo, hình thức Ở các nước tư sản, người ra ứng cử phải thực
sự là người có quyền lực, có tài sản; pháp luật quy định mọi người đều có quyền ứng cử nhưng lại có những nguyên tắc bất thành văn, những chế định
mà chỉ có những người giàu có, tầng lớp trên mới có đủ khả năng thực hiện Chiến dịch vận động tranh cử rất tốn kém, đòi hỏi các ứng cử viên phải giàu
có thì mới đáp ứng được Và như vậy, dân chủ chỉ là cái vỏ bề ngoài, giả tạo
1.3.4 Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phải tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “ thống nhất, phân công và phối hợp”
Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, tuân thủ nghiêm minh pháp luật, đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Theo đó, hệ thống pháp luật do