Chính vì vậy, Việt Nam và các nước trong khu vực cùng với Trung Quốc và Nhật Bản sẽ ít nhiều cũng bị tác động từ mối quan hệ của hai nước này.. Như vậy, tập trung nghiên cứu qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN THUỲ DƯƠNG
QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2009
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 11
1.1.2 Chủ nghĩa thể chế 12
1.1.3 Chủ nghĩa khu vực mới 14
1.1.4 Quan niệm về an ninh 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Những vấn đề lịch sử 16
1.2.2 Toàn cầu hoá kinh tế và nhu cầu phát triển hai bên 17
1.2.3 Thực tiễn cải cách ở Trung Quốc và điều chỉnh chính sách ở Nhật Bản 23 Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT 30
2.1 Vài nét về quan hệ chính trị Trung - Nhật thời kỳ chiến tranh lạnh (trước những năm 1990) 30
Trang 32.2 Quan hệ chính trị Trung – Nhật sau chiến tranh lạnh qua một số vấn đề
cụ thể 33
2.2.1 Quan hệ chính trị qua nhận thức các vấn đề lịch sử 35
2.2.2 Quan hệ chính trị qua vấn đề chủ quyền , lãnh thổ 40
2.2.3 Quan hệ chính trị qua vấn đề Đài Loan 45
2.2.4 Quan hệ chính trị Trung – Nhật dưới tác động của nhân tố Mỹ 47
2.2.5 Quan hệ chính trị Trung – Nhật qua việc xử lý quan hệ với các tổ chức khu vực 51
2.2.6 Quan hệ ngoại giao - chính trị Trung – Nhật qua các chuyến thăm lã nh đạo cấp cao 55
2.3 Đánh giá chung về quan hệ chính trị Trung - Nhật 62
2.3.1 Lạnh về chính trị, nóng về kinh tế 62
2.3.2 Sự đan xen quan hệ đối tác – đối thủ chiến lược 67
2.3.3 Tính dễ tổn thương trong quan hệ chính trị Trung - Nhật 71
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ TRUNG - NHẬT VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM 75
3.1 Triển vọng quan hệ chính trị Trung - Nhật 75
3.1.1 Sự gia tăng xu hướng hòa bình , hợp tác, cùng phát triển trong khu vực 75
3.1.2 Các kịch bản trong quan hệ Trung – Nhật 77
3.2 Nhìn nhận các tác động đến Việt Nam 81
3.2.1 Vài nét quan hệ Việt Nam với Trung Quốc - Nhật Bản gần đây 81
3.2.2 Đánh giá tác động 85
3.3 Định hướng chính sách của Việt Nam tận dụng sự cải thiện trong quan hệ chính trị Trung - Nhật 91
3.3.1 Quan điểm chỉ đạo 91
3.3.2 Các định hướng trong chính sách của Việt Nam 94
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 108
Trang 4DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
Hiệp định tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
Diễn đàn khu vực ASEAN ASEAN The Association of Southeast Asean Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
Diễn đàn hợp tác Á – Âu CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
CLCS Commission on the Limits of the Continental Shelf
Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hợp Quốc
Liên minh Châu Âu EEZ Luật đặc quyền kinh tế biển của Nhật Bản
DOC Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
DJP Đảng Dân chủ Nhật Bản
FDI Vốn đầu tư không hoàn lại
Hiệp định thương mại tự do
Tổng sản phẩm quốc nội
Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 5Hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật Bản - ASEAN
Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ
LDP Đảng tự do dân chủ Nhật Bản
ODA Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức SNG Chuyển từ tiếng Nga sang tiếng La Tinh là Sodruzhestvo
Nezavisimykh Gosudarstv Tiếng Anh : Commonwealth of Independent states (CIS) Cộng đồng các quốc gia độc lập
UNCLOS Công ước Liên hợp quốc về Luật biển
Tiền Mỹ
VJEPA Viet Nam – Japan Economic Program Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
Ngân hàng thế giới
Tổ chức thương mại thế giới XHCN Xã hội Chủ nghĩa
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự tan rã chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu làm cho cuộc đối đầu Đông - Tây gay gắt và quyết liệt cùng với cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập niên đi vào hồi kết Sự kiện này cũng dẫn đến sự tan rã của trật tự thế giới hai cực được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai và mở ra cho thế giới bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hội nhập và toàn cầu hoá Nếu như trong chiến tranh lạnh là sự tranh đua về ý thức hệ chính trị và quân sự ở đó một đất nước được khẳng định vị trí bằng tiềm lực về quân sự đứ ng đầu là Mỹ và Liên Xô thì ngày nay ngoài quân sự thì sức mạnh về kinh tế là một trong những yếu tố hàng đầu để những nước lớn khẳng định vị trí siêu cường của mình
Toàn cầu hoá là quá trình xâm nhập lẫn nhau của các xã hội trên thế giới, đó là các hoạt động cũng như quá trình gây ra những hiện tượng xuyên quốc gia cũng như gia tăng sự tuỳ thuộc vào nhau ở mức độ toàn cầu Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng Khoa học công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá kinh tế, mỗi quốc gia lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển không thể tồn tại biệt lập mà cần có những chính sách hợp tác, liên kết để phát triển Điều này đã dẫn đến khác biệt giữa hai hệ thống chiến tranh lạnh và toàn cầu hoá ở chỗ: nếu như chiến tranh lạnh là một cục diện đông cứng thì toàn cầu hoá là một quá trình phát triển năng động có tính liên kết
Trong bối cảnh toàn cầu hoá buộc các quốc gia phải mở cửa, hội nhập Và trong xu thế này các quốc gia có điều kiện cải thiện, giải quyết các vấn đề trong quan hệ song phương hay đa phương
Nhật Bản và Trung Quốc là hai cường quốc có mối quan hệ thăng trầm từ lâu đời trên nhiều mặt trong lịch sử Mặt khác Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia lớn mạnh về mặt k inh tế không chỉ trên thế giới mà đặc biệt có tầm ảnh hưởng rất
Trang 7quan trọng tới môi trường phát triển chung của khu vực Sự phát triển của mỗi nước cùng sự thay đổi quan hệ giữa họ có tác động rất lớn đến nền kinh tế, chính trị, an ninh trong đó đặc biệt là liên quan đến điều chỉnh chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới và đặc biệt là các nước trong khu vực trong khu vực Đông Á
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Á cùng với Trung Quốc và Nhật Bản Thực tế lịch sử phát triển của Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn và hiện đây là hai bạn hàng hàng đầu của Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam và các nước trong khu vực cùng với Trung Quốc và Nhật Bản sẽ ít nhiều cũng bị tác động từ mối quan hệ của hai nước này
Từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Trung Quốc, Nhật Bản đã có những cải cách, điều chỉnh trong chiến lược, chính sách phát triển tạo cơ sở cho mỗi nước, đồng thời tạo điều kiện cho khu vực có một môi trường hòa bình để phát triển Tuy nhiên quan hệ hai quốc gia, nhất là về mặt chính trị còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định Do vậy, nghiên cứu, đánh giá quan hệ này có ý nghĩa rất quan trọng
Xuất phát từ thực tiễn những vấn đề đã nêu, tôi chọn đề tài: Quan hệ chính
trị Trung - Nhật trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế làm luận văn Thạc sỹ cho
chuyên ngành Chính trị học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Quan hệ Trung - Nhật nói chung, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia nói riêng không phải là chủ đề mới Do đây là vấn đề lớn cả về nội dung và tầm quan trọng nên đã có không ít các bài viết, các công trình đề cập đến cả ở nước ngoài và trong nước
Ở nước ngoài có thể kể công trình của Triệu Toàn Thắng: Quan hệ Nhật Bản
- Trung Quốc và chính trị Nhật Bản, xuất bản năm 1999 Ở đây tác giả đã phân tích
quan hệ hai bên và đánh giá tác động của nó đến chính trị Nhật Bản Hoặc công
trình của Trương Hương Sơn: Quan điểm và đánh giá về quan hệ Trung - Nhật,
Trang 8chặng đường 30 năm bình thường quan hệ ngoại giao, xuất bản năm 2002 Đây là
tài liệu khá toàn diện, đề cập đến nhiều khía cạnh trong quan hệ song phương Tuy nhiên trong công trình này quan hệ hai quốc gia trong giai đoạn những năm đầu của thế kỷ 21 – giai đoạn mà hai quốc gia có những sự cải thiện quan hệ song phương lại chưa được xem xét…
Ở trong nước, về chủ đề trên có những công trình: Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, của tác giả Nguyễn Thanh
Bình, xuất bản năm 2004 Công trình này tập trung phân tích làm rõ quan hệ kinh tế, chính trị Nhật Bản - Trung Quốc, song chủ yếu tập trung thời kỳ chiến tranh
lạnh Tình hình n hững năm 1990 đến nay đề cập còn sơ lược Công trình: Quan hệ Trung - Nhật đầu thế kỷ XIX dưới tác động của nhân tố quốc tế, Tạp chí Nghiên
cứu Nhật Bản, tháng 2/2002 Trong bài viết này tác giả nêu ra triển vọng quan hệ song phương trong bối cảnh mới, song lại chưa có điều kiện phân tích sâu về quan
hệ chính trị… Đáng chú ý công trình: Quan hệ Trung – Asean- Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam, PGS.TS Vũ Văn Hà chủ biên, xuất bản
năm 2007 Đây là công trình khá toàn diện, xem xét quan hệ song phương và đa phương giữa ba thực thể Trung Quốc – Asean - Nhật Bản Ở đây quan hệ chính trị Nhật – Trung đã được đề cập trong tương quan phân tích với các cặp quan hệ khác Phần quan hệ chính trị tuy đã được đề cập nhưng chủ yếu tập trung về khía cạnh an ninh
Tóm lại, tuy đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ chính trị Trung - Nhật, song về cơ bản vẫn tập trung vào thời kỳ chiến tranh lạnh; hoặc có đề cập đến giai đoạn sau này nhưng chưa có tính hệ thống chuyên sâu
Như vậy, tập trung nghiên cứu quan hệ chính trị Trung - Nhật trong bối cảnh toàn cầu hoá nhằm hướng tới làm rõ tác động toàn cầu hoá kinh tế tới mối quan hệ chính trị nói chung, cũng như làm rõ quan hệ chính trị Trung Quốc - Nhật Bản thời
Trang 9kỳ sau chiến tranh lạnh nói riêng Và qua đó đánh giá tác động đến Việt Nam là rất
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
- Phân tích để làm rõ những nhân tố quy định và tác động đến quan hệ chính trị Trung - Nhật
- Phân tích những đặc trưng của mối quan hệ chính trị Trung - Nhật của giai đoạn sau chiến tranh lạnh
- Phân tích và dự báo xu hướng vận động của mối quan hệ Trung – Nhật, để từ đó rút ra được đâu là xu hướng phát triển chủ đạo của mối quan hệ này trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
- Phân tích những tác động của mối quan hệ chính trị Trung - Nhật tới Việt Nam và đánh giá được những cơ hội và thách thức cho Việt Nam dưới ảnh hưởng của mối quan hệ này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi vào tìm hiểu và phân tích mối quan hệ chính trị của hai nước Nhật Bản và Trung Quốc Nghiên cứu những tác động của mối quan hệ này tới Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phân tích mối quan hệ chính trị Trung - Nhật trong kỷ nguyên toàn cầu hoá Xem xét mối quan hệ này từ năm 1990 đến nay Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh, phân tích sự tác động qua lại giữa các mặt (kinh tế, văn hoá, chính trị…) trong quan hệ hai nước
Trang 10Đồng thời luận văn cũng xem xét, so sánh sự tiến triển quan hệ chính trị Trung - Nhật với các mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia này với các đối tác khác để làm rõ đặc trưng quan hệ chính trị Trung - Nhật
Luận v ăn đánh giá tác động của mối quan hệ Trung – Nhật tới Việt Nam từ đó đưa ra được những định hướng chính sách cho Việt Nam trong ảnh hưởng của mối quan hệ này
5 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng ngh iên cứu của luận văn là vấn đề về chính trị bị tri phối bởi yếu tố lịch sử và kinh tế , nên nghiên cứu lịch sử và kinh tế là những phương pháp quan trọng Ngoài ra , dùng phương pháp đánh giá và so sánh để xem xé t xu hướng vận động trong quan hệ quốc tế và khu vực tác động đến mối quan hệ chính trị và sự thay đổi của nó cũng được tác giả sử dụng để nghiên cứu vấn đề này
Ngoài các phương pháp lịch sử và so sá nh là chủ yếu t hì luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như :
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp biện chứng duy vật
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá ngắn gọn các cơ sở lý thuyết, thực tiễn thúc đẩy quan hệ
- Làm rõ thực trạng và đặc trưng của mối quan hệ chính trị Trung - Nhật sau chiến tranh lạnh
- Làm rõ tác động của mối quan hệ chính trị Trung - Nhật tới Việt Nam
- Góp phần dự báo và đánh giá xu hưóng vận động của mối quan hệ này từ
đó đưa ra một số định hướng chính sách đối ngoại cho Việt Nam
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn, bao gồm ba chương và các tiết như sau:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Về cơ sở lý luận ở chương này trình bày những quan niệm và khái niệm về “Chủ nghĩa thể chế” về “Mối quan hệ phổ biến”, “Chủ nghĩa khu vực mới”, “An ninh khu vực” đặt các nước trong những xu hướng đó phải quan hệ với nhau
Ngoài trình bày cơ sở lý luận thì chương một cũng đi vào nghiên cứu những cơ sở thực tiễn để đánh giá được bản chất và xu hướng biến đổi của mối quan hệ này
Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT
Ở chương này trình bày một vài nét về mối quan hệ chính trị Trung – Nhật thời kỳ trước và sau chiến tranh lạnh, từ đó đánh giá quan hệ Trung – Nhật qua một số vấn đề nổi bật, đây là những yếu tố chính chi phối mối quan hệ này như: qua nhận thức các vấn đề về lịch sử, các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ , qua vấn đề Đài Loan, quan hệ chính trị Trung – Nhật dưới tác động của nhân tố Mỹ, qua việc xử lý mối quan hệ với các tổ chức khu vực, qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước Từ đó có những đánh giá chung về đặc trưng quan hệ chính trị Trung – Nhật
Chương 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ TRUNG - NHẬT VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM
Trong chương 3, trình bày triển vọng cho quan hệ chính trị Trung – Nhật trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay Từ đó đánh giá xu hướng phát triển của mối quan hệ này thông qua đưa ra một số kịch bản trong quan hệ chính trị Trung – Nhật, để tìm ra đâu là
xu hướng phát triển chính và xu hướng này đưa đến triển vọng như thế nào trong hợp tác trong khu vực
Ngoài những đánh giá triển vọng và dự báo xu hướng phát triển của mối quan hệ chính trị Trung – Nhật nói riêng và của khu vực nói chung thì trong chương 3 cũng đưa ra một số nhìn nhận tác động của mối quan hệ này tới Việt Nam với những cơ hội và thách thức để đưa ra một số định hướng cũng như điều chỉnh về chính sách đối ngoại của Việt Nam để tận dụng được sự cải thiện trong quan hệ chính trị của hai quốc gia này
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Xuất phát từ quan niệm về phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều có những mối liên hệ , tương tác, chuyển hóa và vận độ ng, phát triển theo quy luật các mối liên h ệ đó luôn mang tính khách quan, phổ biến, đa dạng và phong phú
Tính khách quan của mối liên hệ không phụ thuộc vào ý chí của bản thân con người mà nó tồn tại độc lập và mang tính khách quan mà theo đó sự quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau là cái vốn có của nó Trong sự tương quan về mối quan hệ giữa các thực thể trong cùng khu vực và trên thế giới dù có khác nhau về mặt địa lý hay có chung một nét tương đồng về lị ch sử hay cùng khu vực thì cũng phải nằm chung trong sự vận động của thế giới nói chung và mối quan hệ tương tác lẫn nhau với các thực thể khác nói riêng là không thể tránh khỏi Không có mối liên hệ nào lại có thể tồn tại một cách độc lập, riêng lẻ
Từ tính khách quan của mối liên hệ thì nó có một tính chất nữa mang tính phổ biến vì bất cứ một sự vật , hiện tượng hay quá trình nào cũng không thể tồn tại tuyệt đối biệt lập với cá c sự vật, hiện tượng hay quá trình khác và không có một sự vật hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống gồm nhiều yếu tố tạo thành với mối liên hệ bên trong của nó và nó tồn tại với dạng một hệ thống mở với mối liên hệ bên ngoài với các hệ thống khác tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Mối liên hệ rất đa dạng và phong phú , ngoài mang tính khách quan và phổ biến như mối liên hệ bên trong , bên ngoài, mối liên hệ bản chất v à hiện tượng , mối quan hệ chủ yếu và thứ yếu , mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp… thì các sự vật và
Trang 13hiện tượng, quá trình khác nhau đều có mối liên hệ cụ thể khác nhau , giữ vai trò và
vị trí khác nhau đối với sự t ồn tại và phát triển của nó Mặt khác cùng một mối liên hệ nhưng trong nhưng điều kiện , hoàn cảnh , không gian và thời gian cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động và phát triển thì các tính chất, vai trò của mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng, quá trình sẽ không giống nhau
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến yêu cầu xem xét sự vật , hiện tượng , hay quá trình phát triển phải xem xét toàn diện và có quan điểm lịch sử cụ thể Đánh giá về quan hệ chính trị Trung – Nhật phải gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể với sự giằng buộc và tác động của nhiều yếu tố , cả yếu tố lịch sử và đương đại , cả yếu tố kinh tế lẫn chính t rị, cả yếu tố bên trong mỗi quốc gia cũng như môi trường khu vực Và chỉ có như vậy mới lý giải được sự thăng trầm của mối quan hệ này
1.1.2 Chủ nghĩa thể chế
Với sự kết thúc củ a chiến tranh lạnh , thế giới từ hai cực đố i đầu là Liên Xô và Mỹ với đặc trưng là mâu thuẫn về ý thức hệ tư tưởng luôn ở trong trạng thái đối kháng gay gắt , không khoan nhượng giữa hai cực chính trị đối lập đã trở thành thế giới của nhất siêu đa cường và sự tươ ng quan lực lượng giữa các nước lớn có nhiều thay đổi đã làm cho các quốc gia nhận thấy cần thiết phải thể chế hóa các quan hệ quốc tế tro ng khu vực và trên thế giới Từ những năm 90 trở đi đã mở ra một thời
kỳ hòa dịu, đối thoại và hợp tác trên quy mô toàn cầu
Trong xu thế vận vận động chung của toàn thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hoá nổi lên xu hướng hợp tác và liên kết khu vực trên toàn thế giới Đây không chỉ là kết quả của quá trình to àn cầu hóa mà còn là ý thức liên kết khu vực Đặc điểm chính trị nổi bật nhất là cùng tồn tại , cùng vận hành , cùng cải cách , cùng sửa đổi và cùng phát triển giữa các thể chế chính trị – xã hội, cho dù đó là Tư b ản chủ nghĩa hay Xã hội Chủ nghĩa vẫn cùng nhau hợp tác để phát triển kinh tế , giữ gìn hòa bình, không lấy hệ tư tưởng để quy chiếu và cản trở như trước Chính những cơ
Trang 14sở thực tiễn ở trên đã cho ra đời cá c trường phá i lý thuyết mới trong quan hệ quốc
tế mà nổi bật là trường phái Chủ nghĩa thể chế
Theo quan điểm của những người theo chủ nghĩa thể chế thì các nước , các quốc gia khác nhau tuy có tồn tại xung đột về mặt lợi ích nhưn g vẫn có thể hợp tác với nhau, nhằm mục đích đạt đ ược lợi ích tối đa có thể Để đạt được mục tiêu này các nước cần tạo dựng và tìm kiếm cho mình các cơ chế hợp tác đa phương trong đó
có quy định về các quy chế, nguyên tắc và lộ trình thực hiện các chính sách hợp tác
Cơ chế hợp tác đa phương phải tạo ra được sự linh hoạt và phát huy hết sức mạnh kết nối giữa các thể chế và giải quyết các vấn đề trên tinh thần hợp tác , hòa bình và cùng có lợi giữa các quốc gia trên thế giới và trong cùng khu vực Nó nổi bật là sự liên kết các khu vực ở chỗ không chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý lãnh thổ mà nó bao gồm các thực thể địa lý – kinh tế – chính t rị – xã hội… mà nó cho phép các chủ thể cùng tham gia tương tác trong khu vực có thể mở rộng và hợp tác trên những vấn đề có cùng lợi ích và các vấn đề cùng quan tâm ví dụ như : Các thành viên trong hiệp hộ i các nước Đô ng Nam Á hiện nay không chỉ có 10 nước trong khu vực Đông Nam Á mà còn mở rộng các mô hình hợp tác như ASEAN +3 (Bao gồ m 3 nước ở Đông Bắc Á : Trung Quốc , Nhật Bản , Hàn Quốc ) và thậm chí còn có cả các nước EU như Diễn đàn h ợp tác Á – Âu gọi tắt là ASEM…
Đó thực chất là những ví dụ điển hình cho mở rộng các quan hệ đa quốc gia không có giới hạn về các yếu tố địa lý trong khu vực mà còn mở rộng theo đa khu vực Đây chính là các mô hình li ên kết đa quốc gia trong cùng một khu vực diễn ra
ở các cấp độ khác nhau nhằm một mục tiêu chung là hướng tới thiết lập các quan hệ hợp tác toàn diện, tăng cường đối thoại , hiểu biết và hợp tác cùng có lợi dựa trên các quy chế , những nguyên tắc và lộ trình thực hiện các chính sách hợp tác cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội giữa các châu lục để duy trì một thế giới hòa bình và ổn định cùng nhau phá t triển
Trang 151.1.3 Chủ nghĩa khu vực mới
Trong bài viết Logic cho nền hoà bình: ASEAN và khu vực hoà bình tại Đông Nam Á, TS Muhadi Sugiono đã đặt vấn đề liên minh giữa quốc gia như sau: “trong
một thế giới được đặc trưng bởi yếu tố vô chính phủ, hợp tác không phải là bước đi đầu tiên nhằm hướng tới liên minh thân cận Không cần thiết phải có liên minh hay
kẻ thù vĩnh viễn vì đồng minh hôm nay có thể là kẻ thù ngày mai” Cách nhìn nhận của vị tiến sỹ này có lẽ đi ngược với những lời nói hoa mỹ mà các nhà ngoại giao vẫn thường dùng nhưng nó mang đầy tính lý luận rất logic một cách trực diện
Trong xu thế của một thế giới đầy biến động, đầy cạnh tranh, dẫu biết rằng
sự cạnh tranh là tiền đề cho sự phát triển nhưng đôi lúc chỉ là “ngu ngốc” và có thể hủy hoại sự phát triển nhân loại bằng các cuộc chiến tranh, nhưng tính tự tôn dân tộc luôn thúc đẩy cá nhân ở mỗi quốc gia, các nhà cầm quyền dẫu có phải gạt bỏ một phần tính nhân văn để đem về lợi ích cho tổ quốc mình Liên minh quốc gia đang trở thành một xu thế tất yếu, bởi thông qua khối liên minh đó, thông qua các hiệp định, hiệp thương sẽ đem lại lợi ích kinh tế qua xuất khẩu hàng hoá cũng như
sự “đảm bảo” về an ninh quốc gia thông qua tiếng nói cộng quốc
Cùng với sự hình thành của Chủ nghĩa thể chế , vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 cũng nổi lên trường phái Chủ nghĩa khu vực mới trong quan hệ quốc
tế Đó là sự tổng hợp và bổ xung dựa trên cơ sở lý luận về tự do hóa thương mại và hội nhập khu vực được hình thà nh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Khác với khu vực bi ệt lập thì Chủ nghĩa khu vực mới không bị giới hạn bởi những rào cản tự nhiên mà nó là quần thể khu vực mang tính tổng hợp với các mối quan hệ xuyên biên giới, lãnh thổ, văn hóa hay dân tộc , xã hội… là xã hội có tính mở , tự do và dân chủ, có tổ chức hay cơ chế điều hành chung, có khả năng đưa ra quyết sách…đây là cơ sở lý thuyết bổ sung cho việc nhìn nhận, đánh giá về tiến trình hợp tác và liên khu vực
Chủ nghĩa thể chế nhìn nhận ở góc độ nào đó nó nằm trong lòng chủ nghĩa khu vực , hợp tác khu vực không chỉ là hợp tác song phương mà còn là sự hợp tác
Trang 16đa phương của các thể chế chính trị , và quan hệ giữa các thể chế hay giữa thể chế nào đó với một hay nhiều quốc gia trong khu vực hoặc ngoài khu vực nó sẽ chi
phối quan hệ trong một khu vực mới Khu vực không tồn tại tách biệt giữa các chủ thể mà là quần thể của các mối quan hệ trên các phương diện xuyên biên giới quốc gia – cơ sở cho thúc đẩy quan hệ
1.1.4 Quan niệm về an ninh
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa kinh tế với sự phát triển như vũ bão của các nền kinh tế trên thế giới sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức như cuộc xung đột về các nguồn tài nguyên quý hiếm khi các quốc gia cạnh tranh nhau để tìm kiếm các nguyên liệu thô Các tổ chức quốc tế bị khủng hoảng do các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gây nên , khủng bố vẫn là một sự đe dọa với tất cả các nước trên thế giới và mối lo ngại về cuộc xung đột hạt nhân trong những thập kỷ tới , việc sử dụng vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ xảy ra trong tương lai, do sự phổ biến công nghệ hạt nhân…đòi hỏi các nước cùng nhau hợp tác để giải quyết hơn là đối kháng, cạnh tranh nhau về quyền lực chính trị bởi muốn phát triển thì cần có một môi trường ổn định , do đó thuật ngữ An ninh Chung ra đời
Việc thực hiện dựa trên sự cân bằng về lực lượ ng dựa trên sức mạnh liên minh quân sự hay tôn sùng , ủng hộ một trung tâm quyền lực nào đó sẽ không mang lại một nền an ninh chung Theo đó các nước trước hết phải tôn trọng chủ quyền , cùng nhau tìm cơ chế hợp tác , tăng điểm đồng thuận, thu nhỏ những bất đồng , xung đột để đồng thuận cùng phát triển Muốn vậy ngoài việc các nước phải hài hòa được yếu tố an ninh bên trong lẫn bên ngoài , cần phải có sự tương tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước cho dù các nước có chế độ chính trị , trình độ phát triển khác nhau, ở các khu vực địa lý khác nhau vẫn có thể hợp tác an ninh với nhau trong đó cần phải c hú ý tới những nước láng g iềng xung quanh , có sự gần gũi nhau về mặt địa lý sẽ là mối quan hệ quan tâm hàng đầu để có sức mạnh hạn chế hay chống lại
Trang 17sự can thiệp hay sức ép từ bên ngoài đảm bảo có một môi trường ổn định phát triển cho khu vực và trên thế giới
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Những vấn đề lịch sử
Chiến tranh vừa kìm hãm , vừa thúc đẩy quan hệ hai bên, không thể giải quyết các vấn đề bằng chiến tranh trong bối cảnh hiện nay, mà phải qua hợp tác đàm phán Tuy nhiên những vẫn đề trong lịch sử đã để lại những mố i nghi kỵ dân tộc sinh ra từ những cuộc chiến tranh giữa các nước với nhau trước đây Đặc biệt là trong quan hệ Nhật Bản và Trung Quốc vẫn đề lịch sử đã ít nhiều tạo ra tâm lý e ngại,
đề phòng lẫn nhau, hạn chế sự cởi mở và có nhiều hạn chế trong hợp tác lẫn nhau
Hiện nay vấn đề nhận thức lịch sử được coi là cơ sở cho sự phát triển của quan hệ Trung – Nhật đã gây nên tranh cãi giữa hai nước từ nhiều năm nay Người dân Trung Quốc không bao giờ quên những tôi ác mà người Nhật đã gây ra trong quá khứ, còn Nhật Bản không những không thừa nhận về những hành vi tội ác của
họ cho người dân Trung Quốc mà thậm chí các thế lực cực hữu của Nhật còn phủ nhận, bóp méo sự thật về những hành vi sai trái của họ Mối quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản luôn rơi vào trạng thái căng thẳng tron g vấn đề lịch sử để lại như việc Nhật Bản phát hành sách giáo khoa lịch sử họ đã sửa từ “xâm lượ c” thành “tiến vào Trung Quốc ” và Nhật giải thíc h rằng để chống lại phương Tây họ không thể không tiến hành ch iến tranh “giải phóng Châu Á ” Hay việc vào ngày 15 tháng 8 hàng năm, không ít những quan chức của Nhật thuộc phe c ánh hữu đến viếng đền Yasukuni nơi thờ khoảng 2,5 triệu người chết trận trong đó có 14 tội phạm trong chiến tranh thế giới lần thứ hai Đặc biệt là trong số các Thủ tướng của Nhật có Thủ tướng Koizumi từ khi lên nhận chức đã có 5 lần đến viếng đền thờ Yasukumi hàng năm và mặc dù làn sóng phản đố i của Trung Quốc và một số nước ở Châu Á rất mạnh mẽ về những hành động này nhưng ông Koizumi vẫn tuyên bố vẫn sẽ đến
Trang 18viếng tại đền thờ mặc dù ông nói những chuyến đến thăm không nhằm mục đích ca ngợi chiến tranh trong quá khứ và bác bỏ mọi sự chỉ trích từ phía Trung Quốc
Những vấn đề trong lịch sử ảnh hưởng rất lớn trong quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Nhật Bản Có những lúc quan hệ tưởng trừng như làm đóng băng tình cảm giữa hai nước và nó gây nên hệ quả về mặt lâu dài trong quan hệ ha i nước thậm chí một số nhà phân tích cho rằng vấn đề đền Yasukumi đang diễn biến t heo chiều hướng lòng tự tôn dân tộc , đã kích động đến tình cảm theo Chủ nghĩa Dân tộc và làm cho vấn đề khó giải quyết
Như vậy, vấn đề nhận thức trong lịch sử đã và đang là trở ngại trong quan hệ chính trị , ngoại giao giữa Trung Quốc – Nhật Bản Trước xu hướng toàn cầu hóa kinh tế mặc dù trong quan hệ chính trị hai nước lúc “Nóng” lúc “Lạnh” thì xu
hướng hợp tác vẫn là tất yếu , năm 1978 hai nước đã ký Hiệp ước Hòa bình hữu nghị Trung – Nhật, năm 1972 và 1998 là Tuyên bố chung Giữa hai nước đã nêu nên việc hai nước xây dựng hòa bình hữu nghị , bình thường hóa quan hệ ngoại giao, phát triển quan hệ láng riềng hữu nghị phù hợp với lợi ích của nhân dân ha i nước Đồng thời cũng đóng góp cho sự hòa hoãn cục diện căng thẳng ở Châu Á và bảo vệ hòa bình thế giới , thúc đẩy phát triển trong thế kỷ XXI
1.2.2 Toàn cầu hoá kinh tế và nhu cầu phát triển hai bên
Chiến tranh lạnh kết thúc , thế giới hai cực bị phá vỡ , toàn cầu hóa đã làm cho trật tự thế giới theo hướng đa cực Khi chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan vỡ , thì Mỹ lại có ưu thế vượt trội và có tham vọng làm bá chủ thế giới , các nước đang phát triển cố gắng vươn lên để có cơ hội cất cánh
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu của lịch sử , nó gây tác động tới mọi mặt của thế giới Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắt nguồn từ những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo ra ngoài biên giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia, các ngân hàng, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ,
Trang 19sự phát triển gắn với hiện đại hoá… Toàn cầu hoá kinh tế là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuất cao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thị
trường thế giới
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thông kém phát triển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không có thị trường mang ý nghĩa hiện đại
Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”1
Luận điểm này của C.Mác và Ph.Ăngghen cho thấy, sự quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế đã được bắt đầu từ khi Chủ nghĩa tư bản mở rộng thị trường thế giới, khi phát hiện ra châu Mỹ cách đây hơn 500 năm Sự phát triển của quốc tế hoá đời sống kinh tế lúc đầu còn theo ngành dọc, theo hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc thực dân, trên cơ sở sự phân công quốc tế và xuất khẩu tư bản xuất phát từ các chính quốc đến các nước thuộc địa, thông qua bạo lực và bóc lột kinh tế Khi Chủ nghĩa đế quốc xuất hiện, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các thế lực đế quốc trong phân chia thuộc địa và thị trường thế giới, sự quốc tế hoá đời sống kinh tế đã mở rộng cả theo chiều ngang Rồi các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai nổ ra, quan hệ chính trị và kinh tế thế giới đảo lộn, khủng hoảng và biến động, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế bị đẩy lùi
Sự xuất hiện nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917 và hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành sau chiến tranh thế giới lần thứ hai tạo nên một kiểu quan hệ mới giữa các quốc gia dân tộc Kiểu quan hệ mới này
1
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 601, 602
Trang 20bước đầu mở ra kiểu quốc tế hoá đời sống kinh tế mới, dựa trên tính ưu việt của hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa, nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế của Chủ nghĩa tư bản, đặt nền móng cho sự quốc tế hoá chân chính Song,
do những thăng trầm của lịch sử, trong những năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô sụp
đổ, hệ thống Xã hội chủ nghĩa tan rã, kiểu quan hệ kinh tế quốc tế này đã kết thúc
Tuy nhiên, lực lượng sản xuất vẫn ngày càng phát triển Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức hình thành, đời sống kinh tế quốc tế hoá, toàn cầu hoá; các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển và trở thành lực lượng chi phối thế giới Có thể nói, từ sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá kinh tế dường như chủ yếu gắn liền với Chủ nghĩa tư bản
Mặc dù vậy, trên thực tế hiện nay vẫn tồn tại một số nước Xã hội chủ nghĩa và những nước này đang phát triển Do vậy, nghiên cứu toàn cầu hoá kinh tế không thể bác bỏ một thực tiễn lịch sử là toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra trong bối cảnh hình thành cục diện kinh tế đa cực, hình thành một trật tự kinh tế, chính trị quốc tế mới, trong đó có hình thức phát triển, hợp tác, cạnh tranh và cùng nhau phồn vinh của các quốc gia dân tộc , và toàn cầu hoá là xu thế khách quan đang diễn ra trong thời đại hiện nay
Lịch sử của quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế rất lâu dài, và phải thấy rằng, cơ cấu của toàn cầu hoá bắt đầu từ sự hình thành nhà nước, quốc gia dân tộc và tư nhân hoá - những cỗ xe đi đến hiện đại Kết quả tất yếu là sự mở rộng thị trường thế giới Mở rộng thị trường thế giới gắn với việc phát triển lực lượng sản xuất và cả quan hệ sản xuất của Chủ nghĩa tư bản Sự hiện đại hoá lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Chủ nghĩa tư bản dẫn tới toàn cầu hoá Nó đi trước và quyết định quá trình toàn cầu hoá Song, cho đến nay, toàn cầu hoá lại là một trong những điều kiện để hiện đại hoá thế giới, bất chấp ý muốn của ai Sự phát triển của phương Tây thúc đẩy hiện đại hoá, toàn cầu hoá Bởi vậy, việc hiện đại hoá của thế giới, trong đó có các nước đang phát triển ở phương Đông không thể bỏ qua một
Trang 21thực tế là phải hiện đại hoá theo những kinh nghiệm của phương Tây trên nền văn hóa của phương Đông
Có thể nêu mấy điểm sau đây: Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế gia tăng, các công ty xuyên quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò hết sức quan trọng, nó thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu vực hóa
Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế, dẫn đến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực Đó là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh các nước Đông Nam Á (ASEAN), Thị trường tự do Nam Mỹ Mercosur, Khối cộng đồng kinh tế Tây Phi, và hàng chục tổ chức kinh tế khác ở khắp các châu lục
Thông qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế này, quy mô lưu thông vốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế không ngừng phát triển
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị Do vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá kinh tế hiện đại thúc đẩy sự thẩm thấu lẫn nhau chẳng những của các nền kinh tế mà còn lan toả ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và tất cả các quốc gia trên thế giới Sự hội nhập của các nước đang phát triển nó tạo nên những thời cơ và thách thức
Như trên đã phân tích, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, có tác động tương hỗ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội, cả về chính trị, văn hóa và xã hội…
Toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đem lại sự tăng trưởng kinh tế cao Toàn cầu hoá làm tăng nhanh tổng sản phẩm của thế giới, với giá trị hiện nay ước tính khoảng 30.000 tỷ USD, gấp 23 lần giá trị tổng sản phẩm thế giới vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX (1.300 tỷ USD) Sự
Trang 22chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu có những thay đổi cơ bản Nếu năm 1960, nông, lâm, thuỷ sản chiếm 10,4%; cây công nghiệp chiếm 28,1% và dịch vụ chiếm 50,4% thì đến năm 1990, cơ cấu GDP của thế giới tương ứng đã là 4,4%; 21,4% và 62,4% Sự liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống ngày càng tăng, với tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều lần tốc độ tăng trưởng sản xuất Hệ thống thông tin toàn cầu phát triển nhanh chóng, kết nối các vùng địa lý trên trái đất vào một hệ thống, góp phần tác động có hiệu quả vào các quá trình kinh tế – chính trị – xã hội – quân sự – văn hóa toàn cầu…
Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại sẽ làm giảm hoặc huỷ
bỏ các hàng rào ngăn cách, làm cho hàng hoá của mỗi nước có thị trường tiêu thụ rộng hơn, do đó kích thích sản xuất phát triển Nhờ đó sẽ thúc đẩy phân công lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hoá, làm cho các nguồn lực ở mỗi nước được
sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn
Tự do hoá thương mại đặt ra cho các doanh nghiệp phải tiến hành những cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế của mình và hạn chế những rủi ro, thách thức trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt
Toàn cầu hoá làm gia tăng các luồng chuyển giao vốn và công nghệ: Toàn cầu hoá làm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI, với những đặc điểm chính là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng; chủ thể đầu tư và chủ thể thu hút đầu tư ngày càng đa dạng; lượng lưu động vốn cho vay tăng rất nhanh; tự do hoá đầu tư trở thành mục tiêu, chính sách đầu tư quốc tế của tất cả các nước
Toàn cầu hoá củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc: Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá, các thể chế quốc tế ngày càng được tăng cường để đảm bảo điều tiết và quản lý các quan hệ quốc tế Tính đến nay, đã có khoảng 120 thể chế khu vực và toàn cầu Hàng trăm tổ chức quốc tế các loại, bao gồm các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ… đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là những sản
Trang 23phẩm của toàn cầu hoá, đồng thời chúng có tác động làm cho quá trình toàn cầu hoá được tăng cường
Chính nhờ toàn cầu hoá liên kết các nước lại với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước về nhiều mặt, nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với lợi ích của nhiều quốc gia Hơn nữa, các thể chế quốc tế cũng ràng buộc lợi ích và nghĩa
vụ của các quốc gia Tất cả những điều nói trên giúp hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế
Toàn cầu hóa kinh tế là cốt lõi của toàn cầu hóa , là cơ sở và động lực thúc đẩy toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực khác nhau Trong xu thế hiện nay toàn cầu hóa nổi lên như một xu hướng chủ đạo , chi phối đời sống nhân loại và quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại , đang lôi cuốn các nước tích cực và chủ động tham gia của các nước với nhiều cấp độ và nội dung khác nhau như hội nhập khu vực và quốc tế , hội nhập kinh tế , hội nhập văn hóa Nhu cầu phát triển hai bên dẫn đến đòi hỏi môi trường ổn định và dẫn đến việc phải hợp tác giải quyết
Trung Quốc và Nhật Bản là hai cường quốc trong khu vực Đông Á liên quan trực tiếp trong việc hợp tác của toàn khu vực Mặc dù hai nước còn có những áp lực trong quan hệ chính trị trong lịch sử còn để lại nhưng hợp tác về kinh tế giữa hai nước này ngày càng phát triển mạnh mẽ bởi :
Hai nước này đang ở tình độ phát triển khác nhau và có các lợi thế khác nhau nhất là về nguồn nhân lực , công nghệ và tri thức…Tuy nhiên chính nhưng điều này lại làm cho hai nước có nhu cầu hợp tác với nhau vì : Trung Quốc là một quốc gia
có số dân đông nhất thế giới đây là nơi có nguồn nhân lực dồi dào trái ngược với một dân số ít đang già ở Nhật để cần sử dụng nhiều lao động trong các ngành công nghiệp chế tạo như dệt , may mặc và nhựa Bên cạnh đó giá trị nguồn nhân lực ở Trung Quốc lại rẻ, với số dân đông cũng là thị trường tiêu thu tiềm năng Nhìn lại những hoạt động xuất khẩu của Nhật vào Trung Quốc những năm qua ta thấy xu hướng xuất khẩu vào Trung Quốc và thực tế nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản của
Trang 24Trung Quốc những năm qua luôn tăng với tốc độ rất cao mặc dù chúng ta thấy được Nhật đang gặp khó khăn trong các hoạt động xuất khẩu trên thị trường thế giới
Bên cạnh đó Nhật Bản là nước có hàm lượng công nghệ cao , nhiều vốn đầu
tư rất cần cho quá trình đang đẩy nhanh công nghiệp hóa ở Trung Quốc , sẽ mở rộng nhu cầu đối với các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của Nhật Bản thân Nhật Bản hiện nay đang thực hiện cơ cấu lại kinh tế , trở thành nền kinh tế tri thức và hỗ trợ các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao Chính vì vậy Nhật thực hiện chuyển các cơ sở công nghiệp sang một số các quốc gia trong k hu vực trong đó chủ yếu là Trung Quốc vì hai nước nằm gần nhau , có nhân công dồi dào và rẻ, có ít những quy định hạn chế về môi trường và là thị trường rộng lớn
Chính vì thế giới đang ở trong kỷ nguyên toàn cầu hóa ki nh tế buộc các nước phải mở cửa, quan hệ, hợp tác với nhau và với nhu cầu phát triển của hai thực thể là Trung Quốc và Nhật Bản để giành vị trí thống trị khu vực và có tham vọng trở thành bá chủ thế giới thay thế Mỹ , thì chiến lược và chính sách của cả hai là hợp tác trên cơ sở tạo ra môi trường hòa bình , ổn định để phát triển trong đó phát triển kinh tế giữ vai trò chủ đạo Xu hướng hợp tác sẽ tạo ra sức mạnh để cùng nhau giải quyết các vấn đề trong khu vực, cũng như hợp tác để chống lại sức ép, can thiệp, cạnh tranh từ các yếu tố bên ngoài, hợp tác để hai bên cùng có lợi và cùng nhau phát triển
1.2.3 Thực tiễn cải cách ở Trung Quốc và điều chỉnh chính sách ở Nhật Bản
Những cải cách, điều chỉnh ở hai nước những năm 1990 đến nay hiện đang là
cơ sở cho cải thiện quan hệ hai bên Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc cả Trung Quốc và Nhật Bản đều có nguyện vọng hòa bình , ổn định để x ây dựng đất nước và coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm Xuất phát từ mục tiêu này cả hai nước đều có sự cải cách và điều chỉnh trên mọi linh vực đặc biệt là chính sách đối ngoại với các nước láng riềng và trong khu vực theo hướng “cầu đồng , tồn dị”, tăng thêm những điểm tương đồng và nỗ lực tháo gỡ những khác biệt , những khúc mắc trong quan hệ hai bên
Trang 25Trong nửa thế kỷ tồn tại của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chỉ từ khi đất nước thực hiện quốc sách chiến lược cải cách - mở cửa do Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (họp tháng 12/1978) vạch ra, Trung Quốc mới thực sự bước vào con đường xây dựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nước mạnh
Chỉ trong 20 năm, bộ mặt đất nước Trung Quốc đã thay đổi hẳn nhờ giành được những thành tựu mà một số nước trên thế giới phải trải qua hàng trăm năm mới có được Công cuộc cải cách mở cửa đã đưa Trung Quốc lên một vị thế mới trên trường quốc tế, nhờ có một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao liên tục, một tiềm năng kinh tế hùng mạnh và mức sống được cải thiện nhanh chóng chưa từng
có trong lịch sử Trung Quốc Chủ tịch Giang Trạch Dân đã coi công cuộc cải cách
mở cửa là một trong ba sự kiện vĩ đại nhất của Trung Quốc trong thế kỷ này, cùng với Cách mạng Tân Hợi và việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Trung Quốc không phải là nước duy nhất thực hiện cải cách kinh tế, xoá bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cũ chuyển sang nề n kinh tế tự do hóa và khu vực hóa, song nước này đã gặt hái được nhiều thành công khiến cho các nước khác phải ngưỡng mộ Một viện sỹ của Nga , Ông Bôgômôlôp đã nhận xét, có nhiều người cho rằng các nước chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường "nhất định sẽ kéo theo các xung đột đổ máu hay ít ra là mất mát và thiếu thốn vật chất Kinh nghiệm của các nước Trung và Đông Âu, của Nga và các nước SNG khác dường nhu khẳng định điều đó Thế nhưng cải cách thị trường của Trung Quốc đã chứng minh điều ngược lại Ngay từ những ngày đầu, cải cách của Trung Quốc đã cải thiện về kinh tế và cuộc sống cho nhân dân, và cho đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao"
Cải cách kinh tế Trung Quốc đã được tiến hành thông qua một loạt các cải cách theo từng giai đoạ n Nói chung, các cuộc cải cách không phải là hệ quả của một chiến lược lớn mà là các phản ứng tức thì đối với các vấn đề cấp bách Trong một số trường hợp, như đóng cửa các doanh nghiệp quốc doanh, chính phủ đã đã bị
Trang 26miễn cưỡng bởi những sự kiện và hoàn cảnh kinh tế để thực hiện những hành động mà mình không mong muốn Đến năm 2005, 70% thuộc lĩnh vực tư nhân và đến năm 2007, GDP bình quân tăng hơn 9%, thực lực kinh tế từ vị trí thứ 10 tăng lên thứ 4, ngoại thương từ thứ 32 vươn lên thứ 3, thu hút đầu tư nước ngoài đứng thứ 2 và dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới, lĩnh vực quốc doanh khá nhỏ do khoảng 200 doanh nghiệp nhà nước lớn chi phối tập trung chủ yếu vào dịch vụ tiện ích, công nghiệp nặng và các nguồn năng lượng Đời sống nhân dân đã từ chỗ chưa giải quyết được vấn đề no ấm, nay về tổng thể đã bước vào giai đoạn khá giả, thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng nhanh Vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế cũng được nâng cao Những điều đó chứng tỏ rằng con đường xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc lựa chọn là đúng đắn, không những phù hợp với thực tiễn, giúp cho Trung Quốc phát triển, mà còn đóng góp nhất định cho sự tăng trưởng của kinh tế thế giới
Một thời kỳ dài trước đây, Trung Quốc đã thực hiện bế quan toả quốc, hậu quả là không thành công trong việc hiện đại hoá kinh tế, trì trệ lạc hậu kéo dài, không tiếp thu được thành quả văn minh của loài người, không tận dụng được nguồn vốn bên ngoài, không tham gia được vào sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế Rút bài học đó, từ thập kỷ 80 Trung Quốc thay đổi cách nghĩ, nhận thức lại là Chủ nghĩa Xã hội phải tiếp thu mọi thành quả văn minh của nhân loại, đặc biệt là của các nước phát triển phương Tây; Chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của tiến trình phát triển lịch sử của loại người, nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần mà nó sáng tạo ra trong mấy trăm năm vượt qua tất cả những gì mà loài người đã tạo ra trước đó Trung Quốc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trên cơ
sở kinh tế văn hoá lạc hậu, càng phải thực hiện mở cửa, tiếp thu thành quả văn minh của thế giới, do đó không những phải cải tạo thể chế cũ xây dựng thể chế mới, mà còn phải tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý kinh
Trang 27doanh của các nước tư bản phát triển Trong quá trình đó, Trung Quốc đã có chọn lọc để không tiếp thu những mặt không tốt của các nước này
Trong quá trìn h thực hiện cải cách Trung Quốc kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước với mở cửa ra thế giới Trung Quốc coi cải cách và mở cửa là hai mặt của một chỉnh thể Sự kết hợp giữa hai mặt này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của cải cách
Chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay ít dùng cách thức đối đầu mà
tỏ ra tinh vi khôn khéo hơn, tự tin hơn, và nhiều lần mang tinh thần xây dựng đối với các vấn đề khu vực và toàn cầu Ngược hẳn với thập kỷ trước, Từ giữa thập kỷ
90, Trung Quốc đã tăng về số lượng và chiều sâu các quan hệ song phương, tham gia các thoả ước về thương mại và an ninh khác nhau, tăng cường hoạt động trong các tổ chức đa phương quan trọng, và giúp vào việc đối phó với các vấn đề an ninh toàn cầu, nước có đông dân số nhất này hiện nay đã gần như hành động trong khuôn khổ hệ thống quốc tế Trung Quốc cũng chấp nhận hầu hết các thể chế quốc tế, các qui ước chung như phương tiện cổ vũ cho lợi ích quốc gia các quyết định về chính sách ngoại giao cũng trở nên tinh vi hơn trong việc làm rõ các mục tiêu của
họ như thúc đẩy các quan hệ song phương và đa phương với các nước , các tổ chức trong khu vực và trên thế giới Những thay đổi này cho thấy cố gắng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc mới đây muốn bước qua thời cô lập hậu Thiên An Môn, tuy nhiên để phá vỡ sự cô lập này thì Trung Quốc thấy rằng không thể yêu cầu trực tiếp Mỹ và các nước phương Tây, nên Trung Quốc đã coi Nhật Bản như là đầu mối để khai thông quan hệ chính trị với thế giới, xây dựng lại hình ảnh của mình, bảo vệ và thúc đẩy lợi ích kinh tế của Trung Quốc, tăng cường anh ninh quốc phòng; họ cũng chứng tỏ cố gắng đề phòng ảnh hưởng của Mỹ ở khắp thế giới Nói rộng ra, các cơ quan quyết định chính sách ngoại giao của Trung Quốc đang cho thấy rằng họ tự coi
họ là một cường quốc đang lên với nhiều lợi ích và trách nhiệm khác nhau
Trang 28Có thể khẳng định rằng, môi trường quốc tế hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Do đó, từ nửa cuối những năm 1990, Trung Quốc đã có sự điều chỉnh về chính sách đối ngoại Trung Quốc không chỉ giảm bớt các hành động quân sự mang tính chất khiêu khích ở eo biển Đài Loan, ở Biển Đông, mà còn tích cực triển khai chính sách ngoại giao đa phương như tăng cường quan hệ với Nga và các nước vùng Trung Á, cải thiện quan hệ với các nước Tây Âu, với các nước ASEAN, Châu Phi, với Mỹ và đặc biệt là Nhật Bản
Ở Nhật Bản từ sau chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật Bản đã tiến hành những chính sách ngoại giao tương đối năng động, khôn khéo và thận trọng Cùng với sự phát triển thành công về kinh tế, chính sách đối ngoại đã góp phần đáng kể nâng cao vị trí của Nhật Bản trong khu vực cũng như trên trường quốc tế
Những năm 90 chính sách đối ngoại của Nhật được đặc trưng bởi việc củng
cố quan hệ với Mỹ qua việc ký Tuyên bố chung về “An ninh Nhật - Mỹ trong thế
kỷ 21” năm 1996 và đưa ra Phương châm phòng thủ mới Nhật - Mỹ vào năm 1997 Không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà quan hệ kinh tế Nhật - Mỹ cũng rất lớn , Mỹ là bạn hàng số một của Nhật Bản với lượng kim ngạch buôn bán tăng hết sức nhanh Ví dụ, kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước đã đạt 184,29 tỉ USD vào năm 2001, trong đó Nhật Bản xuất siêu 58,11 tỉ USD
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhất là việc Mỹ giảm dần sự hiện diện ở Châu Á (rút khỏi các căn cứ quân sự ở Philippin năm 1991) là cơ hội tốt để Nhật Bản tự do hoạt động hơn trong việc tìm kiếm vai trò chính trị trên vũ đài quốc tế mà trước hết là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, do đó sự ủng hộ của Trung Quốc là điều quan trọng Với quan điểm “ sự ổn định và phát triển của Trung Quốc
có ý nghĩa rất lớn đối với sự ổn định và phát triển của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” và “thị trường khổng lồ của Trung Quốc là rất cần cho nền kinh tế dựa vào ngoại thương” của Nhật Bản và quan điểm “vốn và kĩ thuật của Nhật Bản rất cần
Trang 29đối với phát triển kinh tế” của Trung Quốc chính là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ như vậy
Trong lĩnh vực kinh tế hai nước nhanh chóng trở thành những đối tác quan trọng của nhau, Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc và Trung Quốc cũng đã vươn lên thành bạn hàng lớn thứ hai của Nhật Bản sau Mỹ Chẳng hạn năm 2001 kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Nhật Bản và Trung Quốc đạt 88,89
tỉ USD chiếm xấp xỉ khoảng 20% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc Ngoài ra còn một điểm nổi bật trong quan hệ kinh tế giữa hai nước là việc Nhật Bản tiến hành viện trợ ODA rất lớn cho Trung Quốc Mặc dù là nước nhận được viện trợ ODA tương đối muộn so với các nước, nhưng cho đến nay Trung Quốc là nước nhận được nhiều viện trợ lớn thứ hai của Nhật Bản sau Indonesia với điều kiện ưu đãi hơn các nước khác là được viện trợ theo từng kế hoạch 5 năm của Trung Quốc, điều này đã góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế của Trung Quốc
Thực tiễn cải cách ở Trung Quốc và điều chỉnh chính sách ở Nhật Bản sau chiến tranh lạnh đã có những dầu hiệu tích cực làm cho quan hệ giữa hai nước đầm
ấm hơn Mặc dù vậy quan hệ Nhật - Trung cũng còn tồn tại nhiều vấn đề đã và sẽ còn tác động vào quan hệ giữa hai nước như vấn đề sách giáo khoa lịch sử, vấn đề lãnh thổ, vấn đề Đài Loan, vấn đề hạt nhận trên Bán đảo Triều Tiên , vấn đề tranh chấp biển đảo và gần đây là va chạm kinh tế Cho dù hiện nay chính phủ hai nước
cố gắng làm dịu những vấn đề này bằng những nhượng bộ lẫn nhau, nhưng trong thời gian tới khi Trung Quốc đã thực sự trở thành một cường quốc kinh tế và quân
sự thì liệu Trung Quốc còn nhượng bộ nữa hay không? cho nên không phải ngẫu nhiên mà ở Nhật Bản đã xuất hiện thuyết “ sự đe doạ của Trung Quốc” Do đó, quan hệ giữa hai nước trong tương lai sẽ như thế nào phụ thuộc rất lớn vào nhân tố Trung Quốc nhưng cũng có thể khẳng định rằng nước Mỹ vẫn sẽ còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì quan hệ giữa hai nước
Trang 30Tiểu kết chương 1
Quan hệ Trung – Nhật nói chung , quan hệ chính trị nói riêng là mối quan hệ
có lịch sử lâu dài , đồng thời là mối quan hệ chủ đạo nội vùng Đông Á có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của t oàn khu vực Sự tồn tại, vận động của cặp quan hệ này có cơ sở lịch sử , thực tiễn và được điều chỉnh không chỉ bởi nhu cầu phát triển của bản thân Trung Quốc hay Nhật Bản, mà còn bởi xu thế phát triển chung của khu vự c và quốc tế
Sau chiến tranh lạnh , rào cản phân định hệ tư tưởng trong quan hệ quốc tế đã
bị phá bỏ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới mà cơ sở của nó là kết quả trong phát triển khoa h ọc công nghệ , đã đẩy thế giới vào thời
kỳ phát triển mới – thời kỳ hội nhập và phát triển Điều này đem lại cơ hội mở rộng quan hệ quốc tế với mọi quốc gia trong đó có Trung Quốc và Nhật Bản
Chính trong bối cảnh toà n cầu hóa , hội nhập và phát triển quan hệ Trung – Nhật nói chung , quan hệ chính trị Trung – Nhật nói riêng đã có cơ sở và điều kiện điều chỉnh theo hướng tích cực vì lợi ích chung của các bên Sự điều chỉnh này nằm trong xu thế thể chế hóa quan hệ quốc tế , trong xu thế kết hợp giữa hợp tác song phương với đa phương , giữa khu vực và toàn cầu trên nên tảng của quan niệm mới trong đảm bảo an ninh phát triển chung
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ TRUNG - NHẬT
2.1 Vài nét về quan hệ chính trị Trung - Nhật thời kỳ c hiến tranh lạnh (trước những năm 1990)
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là nước bại trận còn phe Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô là các nước thắng trận Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quân đội Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu
sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồng minh Mục tiêu chủ yếu của lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt và thiết lập dân chủ hóa nước Nhật Song lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản lúc này chủ yếu là người Mỹ nên các chính sách thực thi của họ không nằm ngoài mục tiêu đảm bảo Nhật Bản không thể trở thành mối đe dọa đối với Mỹ
Khi cách mạng Trung Quốc thành công ngày 1 tháng 10 năm 1949 cộng với
sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mỹ đã thực hiện "đường lối đảo ngược", cấu kết với Nhật Bản hình thành đồng minh chiến lược nhằm ngăn chặn làn sóng cộng sản ở Châu Á Trong Thế chiến hai, quan hệ Trung - Mỹ là đồng minh chống phát xít, quan hệ Trung - Nhật và quan hệ Mỹ - Nhật là kẻ thù Sau ngày cách mạng thành công, Trung Quốc đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa còn Mỹ, Nhật đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, quan hệ ba nước là quan hệ hai hệ thống chính trị đối lập Xuất phát từ mối quan hệ Trung - Mỹ, để xây dựng cho mình một liên minh chống cộng , Mỹ buộc phải chuyên quan hệ Mỹ - Nhật từ là kẻ thù trong chiến tranh thành mối quan hệ đồng minh chiến lược Như vậy, quan hệ Trung - Nhật trong thời kỳ chiến tranh là đối kháng trực tiếp, còn trong giai đoạn sau chiến tranh là gián tiếp do sự lôi kéo của Mỹ
Tháng 2/1950, Trung Quốc cũng đã ký với Liên Xô "Hiệp ước hữu nghị, đồng minh và tương trợ" tại Moskva Để tăng cường hơn nữa mối quan hệ đồng
Trang 32minh chiến lược giữa Mỹ và Nhật với chiêu bài ngăn chặn "làn sóng đỏ", tháng 9 năm 1952 hai nước đã ký kết "Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ" Sau năm 1945, hai hệ thống chính trị thế giới đối lập nhau đã được hình thành, bắt đầu từ một thời kỳ Chiến tranh lạnh Quan hệ giữa Trung Quốc - Mỹ và quan hệ giữa Trung Quốc - Nhật Bản đã trở nên đối đầu
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản tuy lệ thuộc vào chính sách an ninh của Mỹ nhưng Nhật Bản phải chi phí quân sự ít, với sự giúp đỡ của Mỹ và cùng với mục đích chấn hưng nền kinh tế đất nước nên bước vào thập kỷ 70 Nhật Bản đã cất cánh trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Mỹ còn
bỏ xa Trung Quốc Trên lĩnh vực kinh tế Nhật Bản là đối thủ đáng gườm của Mỹ, hai nước đã từng xảy ra "cuộc chiến tranh thương mại" còn Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển không cạnh tranh nổi với Mỹ hay Nhật Bản
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao và quân sự hai nước Trung Quốc và Mỹ đều là uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và đều thuộc câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân còn Nhật Bản được xem là người lùn trong cả hai lĩnh vực này
Từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã có tiền đề cho rằng: Nếu Nhật Bản được tái vũ trang quân sự thì sẽ đe dọa hoà bình, ổn định và an ninh ở Châu Á Nhưng chính sự yếu kém về chính sách an ninh của Nhật Bản đã tạo ra một khoảng trống an ninh về quyền lực mà Mỹ đã lấp đầy với "Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ" còn Trung Quốc thì đứng ngoài cuộc Đầu thập kỷ 60, mối quan hệ Trung - Xô có nhiều vấn đề gay cấn lớn, tháng 4/1962 xảy ra cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc với Liên Xô Mặc dù Trung Quốc không đoạn tuyệt với con đường Xã hội chủ nghĩa nhưng đã quay lưng lại với Liên Xô, quan hệ Xô - Trung trở nên căng thẳng Có một thời Trung Quốc đã thi hành chính sách "tọa sơn quan hổ đấu" (ngồi trên núi xem hổ đánh nhau) nhưng rồi cảm thấy bất lợi, thế cô lập, còn Mỹ thì
bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam Trước tình hình đó hai bên đã bí mật
Trang 33đàm phán với nhau Tháng 2/1972, Tổng thống Mỹ Nicxon thăm Trung Quốc, hai bên đã ký kết "Thông cáo chung Thượng Hải" Quan hệ Trung - Mỹ sau Thế chiến thứ hai là "đối thủ" thì nay đã bắt tay tìm đến nhau với những thảo hiệp: Mỹ công nhận một nước Trung Quốc, đổi lại Trung Quốc thừa nhận sự có mặt của quân đội Mỹ ở một số nước của Đông Nam Á Quan hệ Mỹ - Nhật lúc này gắn bó tới mức nhiều nhà phân tích cho rằng: Nếu Mỹ "hắt hơi" thì Nhật Bản cũng "sổ mũi" nên khi quan hệ Trung - Mỹ đã đổi chiều thì quan hệ Trung - Nhật không thể không thay đổi
Thông cáo chung Thượng Hải ký vừa được ráo mực thì sáng 9/1972 tại Đại
lễ đường nhân dân ở Bắc Kinh, Nhật Bản và Trung Quốc đã ký kết "Tuyên bố chung Nhật - Trung" tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Mặc dù quan hệ Trung - Mỹ và quan hệ Trung - Nhật thời kỳ đầu tiến triển tương đối chậm
do còn một số điểm bất đồng xung quanh vấn đề "chống bá quyền" Chỉ đến năm
1978, khi Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ và cũng năm đó Trung Quốc và Nhật Bản đã ký kết "Hiệp ước hoà bình hữu nghị Trung - Nhật"
Đây là thời điểm Trung Quốc bắt đầu tiến hành mở cửa, nền kinh tế còn yếu, chưa ngang tầm với mục đích chính trị, đã thi hành chính sách ngoại giao toàn cầu, nhằm tăng cường sức mạnh ở Châu Á, tạo đối trọng với Liên Xô Năm 1989 xảy ra
"sự kiện Thiên An Môn" quan hệ Trung - Mỹ và quan hệ Trung - Nhật vẫn được duy trì Dương cao chiêu bài Trung Quốc "vi phạm nhân quyền", Mỹ và một số nước phương Tây ép Nhật Bản ngừng viện trợ đợt 3 cho Trung Quốc
Đến đầu những năm 1990 khi cuộc chiến tranh lạnh đi vào hồi kết , thế giới mở ra một trang mới – kỷ nguyên toàn cầu hóa đòi hỏi các nước trên thế giới nói chung, Nhật Bản và Trung Quốc nói riêng phải tăng cường quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực đặc biệt là kinh tế… vì vậy bước sang kỷ nguyên mới m ối quan hệ chính trị Trung – Nhật sẽ có nhiều thay đổi
Trang 342.2 Quan hệ chính trị Trung – Nhật sau chiến tranh lạnh qua một số vấn đề cụ thể
Lịch sử quan hệ Trung – Nhật được quy định bởi rất nhiều yếu tố trong đó
có, sự t ác động của tình hình thế giới và khu vực Nếu như trong thời kỳ chiến tranh lạnh quan hệ Trung – Nhật bị chi phối bởi quan hệ Liên Xô – Mỹ, thì kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc , toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho các nướ c có xu hướng tăng cường hợp tác để phát triển hơn là đối đầu với nhau nhất là từ khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thì mối quan hệ Trung – Nhật cũng được cải thiện
Từ sau Thế chiến thứ II, kinh tế Nhật Bản hồi phục nhanh chóng và bước vào giai đoạn phát triển được xem là thần kỳ (1955 - 1973) Giai đọan 18 năm sau đó, tốc độ phát triển chậm lại nhưng Nhật duy trì ở mức trung bình năm 6% nhờ thành công trong việc khắc phục hai cuộc khủng hoảng năng lượng (1973 và 1979) và sự kiện đồng Yên lên giá đột ngột (1985 - 1987)
Nhật Bản cũng thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao hơn, hình thành sự phân công mới với các nền kinh tế đang lên ở Đông Á Do
đó, trong thập niên 1980, Nhật Bản vươn lên thành cường quốc kinh tế có ảnh hưởng nhiều mặt trên thế giới (mậu dịch, đầu tư nước ngoài, ODA viện trợ và vốn vay ưu đãi cho các nước đi sau) Từ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật suy thoái, trì trệ hơn 10 năm nhưng về mặt đối ngoại, nhất là đối với khu vực Đông Á, Nhật vẫn giữ vai trò quan trọng và có chiến lược củng cố vai trò của mình ở khu vực
Từ năm 2003 kinh tế hồi phục càng làm cho Nhật tự tin hơn trong chiến lược đối ngoại Đặc biệt cũng từ năm 2003 Nhật tích cực vận động để được trở thành uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc
Trong giai đoạn kinh tế Nhật suy sụp cũng là lúc Trung Quốc trỗi dậy mạnh
mẽ Suốt hơn 20 năm cải cách, mở của, kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình mỗi năm 10% Bước sang thế kỷ 21, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO (2001), các
Trang 35chỉ tiêu kinh tế chính như tổng sản phẩm trong nước (GDP), kim ngạch xuất khẩu, v.v cho thấy Trung Quốc ngày càng tiến vào hàng ngũ những nước lớn Hiện nay về quy mô kinh tế Trung Quốc đứng thứ hai thế giới Trong thời kỳ Giang Trạch Dân cầm quyền (1992-2002), ý thức nước lớn và quyết tâm thực hiện chiến lược
“Đại phục hưng dân tộc Trung Hoa” được giương cao Trước sự cảnh giác của nhiều nước Châu Á lân cận, Trung Quốc đưa ra khái niệm “hoà bình quật khởi” để nhấn mạnh là Trung Quốc sẽ vươn lên thành nước lớn nhưng bằng các biện pháp hoà bình như mở rộng ngoại thương, tận dụng tư bản và công nghệ thế giới…
Từ giữa những năm 1990, Nhật Bản từ một cường quốc kinh tế muốn vươn lên thành một cường quốc nhiều mặt, kể cả chính trị và các quan hệ quốc tế Còn Trung Quốc từ một nước có tiếng nói mạnh trên chính truờng quốc tế đã vươn lên thành một nước lớn về kinh tế Trong lịch sử Châu Á, đây là lần đầu tiên cả Nhật Bản và Trung Quốc đều trở thành cường quốc và đang tranh nhau củng cố vai trò của mình tại khu vực này
Tuy nhiên sự tranh dành vị trí cũng như ảnh hưởng của hai nước này tro ng khu vực và trên thế giới , thậm trí là với Trung Quốc là một cường quốc đang nổi lên mạnh mẽ còn đe dọa vị trí số một của Mỹ và vượt xa Nhật Bản thì quan hệ vừa hợp tác vừa kìm chế là không thể tránh khỏi và nó tồn tại ở dạng “Lạnh về chính trị, nóng về kinh tế” tuy nhiên chính trị là biểu hiện tập chung của kinh tế , muốn kinh tế phát triển thì phải tăng cường hợp tác cả về mặt chính trị
Điều cũng cần nhận thấy là , cả Trung Quốc và Nhật Bản là những cường quốc với sức mạnh vượt trội cả về kinh tế và quân sự , song trong bối cảnh toà n cầu hóa, khi mà lợi ích các quốc gia đan xen , tùy thuộc vào nhau thì không thể giành ưu thế thông qua các giải pháp quân sự Chính bối cảnh toàn cầu hóa bắt buộc và cho phép Trung Quốc và Nhật Bản hợp tác, cạnh tranh vớ i nhau trên mọi phương diện , kể cả về chính trị Trước chiến tranh lạnh , sự đối đầu giữa hai hệ thống với hai hệ
tư tưởng trái ngược nhau không cho phép (hay là cản trở) sự xích lại của hai bên về
Trang 36mặt chính trị Toàn cầu hóa đã phá bỏ mọi rào cản về không gian , mở ra thời kỳ mới: Hội nhập và phát triển không phân biệt chế độ chính trị Đây chính là cơ hội
để Trung Quốc và Nhật Bản cải thiện quan hệ chính trị
Để thấy rõ được sự tiế n triển trong quan hệ chính trị Trung Quốc – Nhật Bản, chúng ta xem xét cụ thể biểu hiện quan hệ này qua một số vấn đề bấy lâu nay là cản trở, là chìa khóa để giải quyết quan hệ hai bên
2.2.1 Quan hệ chính trị qua nhận thức các vấn đề lịch sử
Vấn đề nhận thức về lịch sử là vấn đề chính trị tế nhị trong quan hệ Trung Nhật Từ năm 2001, liên tục xảy ra sự kiện Nhật bất chấp sự thật lịch sử sửa đổi sách giáo khoa lịch sử , xuyên tạc lịch sử xâ m lược Trung Quốc , cũng như Thủ tướng Nhật Koizumi nhiều lần đến viếng đền Yasukuni, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quan hệ Trung Nhật Đây là một vấn đề gây tranh cãi ở hai nước trong nhiều năm nay, vì nó là cơ sở chính trị và tiền đề rất quan trọng cho sự phát triển mối quan hệ chính trị giữa hai nước
Trong đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao Trung Nhật năm 1972, Chính phủ Nhật bà y tỏ sự đay xót và trách nhiệm to lớn và phản tỉnh sâu sắc trước vết thương chiến tranh của nhân dân Trung Quốc do chiến tranh xâm lược Trung Quốc để lại Với tiền đề này , xuất phát từ lợi ích căn bản của nhà nước, chính phủ Trung Quốc quyết định từ bỏ yêu cầu bồi thương chiến tranh đối với Nhật
Năm 1978, Hiệp ước hữu nghị hoà bình Trung - Nhật được hội nghị lần thứ 3, Ủy ban thường vụ quốc hội Trung Quốc khóa 5 phê chuẩn một lần nữa xác nhận quyết định từ bỏ yêu cầu bồi thường chiến tranh đối với Nhật với hình thức văn bản pháp luật Người dân Trung Quốc luôn khẳng định sẽ không bao giờ họ quên những tội ác mà quân đội Nhật gây ra trong chiến tranh Về phía Nhật Bản không những họ không thừa nhận mà còn phả n tỉnh , hay suy nghĩ về những tội ác tro ng chiến tranh của họ gây ra Thậm chí ở Nhật Bản thế lực cực hữu còn bóp méo qua những hành vi sai trái của họ như sửa sách giáo khoa của
Trang 37Nhật Bản , đã sửa từ “tiến vào Trung Quố c” thay cho từ “xâm lược” và họ giải thích rằng để chống lại phương Tây thì Nhật Bản không thể không tiến hành chiến tranh để giải phóng Trung Quốc
Cuốn sách giáo khoa vừa được Bộ Giáo dục Nhật Bản thông qua không dùng từ "xâm lược" khi nhắc đến cuộc chiếm đóng quân sự với các nước Châu Á khác trong nửa đầu thế kỷ 20 Vụ thảm sát Nam Kinh (Trung Quốc), sự kiện mà một số sử gia cho biết ít nhất 300.000 thường dân bị lính Nhật sát hại, được gọi là một "vụ việc" trong đó "nhiều" người Trung Quốc bị giết Trung Quốc cho rằng, những cuốn sách giáo khoa được Bộ Giáo dục Nhật Bản thông qua đã che đậy tội ác của những người theo chủ nghĩa quân phiệt và tô hồng lịch sử cuộc xâm lược Trung Quốc muốn Nhật Bản phản ánh đầy đủ lịch sử v à sửa sách giáo khoa và họ cho rằng "Bản chất của vấn đề sách giáo khoa là câu hỏi liệu chính phủ Nhật Bản
có thể thật sự công nhận và thừa nhận cuộc xâm chiếm Trung Quốc cũng như có quan điểm lịch sử đúng đắn trong giáo dục thế hệ trẻ hay không"
Bên cạnh vấn đề sách giáo khoa thì đã nhiều năm nay, cứ đến dịp kỉ niệm ngày phát xít Nhật bại trận trong chiến tranh thế giới lần thứ II vào ngày 15 tháng 8 hàng năm thì ngôi đền Yasukuni ở Tokyo - nơi thờ linh hồn khoảng 2,5 triệu người chết trận trong đó có 14 tội phạm chiến tranh lại trở thành địa điểm nhạy cảm trong
dư luận quốc tế, nhất là tại các nước Châu Á Nếu có một vị thủ tướng Nhật đến thăm đền Yasukuni và ngay sau đó là những làn sóng phản ứng gay gắt lại chuyến
đi đó không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở một số nước Châu Á
Chúng ta hẳn còn nhớ một sự kiện đặc biệt cuốn hút sự chú ý của dư luận Nhật Bản và quốc tế là chuyến viếng thăm đền Yasukuni vào ngày 15 tháng 8 năm
1975 của cựu Thủ tướng đương nhiệm Miki Takeo vào dịp kỷ niệm kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương Chuyến đi này là một sự kiện nổi bật vì nó đã khơi lên một cuộc tranh luận xung quanh vấn đề nan giải là đó có phải là một hành vi tôn giáo mà Hiến pháp đã cấm hay không và nên đánh giá về cuộc chiến vừa qua như thế
Trang 38nào? Điều không thể chối cãi là chuyến đi đó đã dọn đường cho những chuyến thăm chính thức tiếp về sau
Sau thủ tướng Miki, ông Nakasone Yasusiro - vị Thủ tướng kế nhiệm đã đánh dấu việc ”Chấm dứt giai đoạn sau chiến tranh” bằng cuộc viếng thăm chính thức đền Yasukuni vào ngày 15 tháng 8 năm 1995 Ông đã mạnh dạn ký vào sổ lưu niệm của đền với dòng chữ “Thủ tướng nội các” và ủng hộ 30000 yên lấy từ quỹ công Hành động này đã tạo ra một tiền lệ cho phép một quan chức chính phủ với
tư cách chính thức có thể sử dụng quỹ công để ủng hộ một tổ chức tôn giáo Cuộc viếng thăm của thủ tướng Nakasone đã làm dấy lên sự phản đối và tranh luận ở trong và ngoài nước đặc biệt là ảnh hưởng tới quan hệ chính trị, ngoại giao Trung – Nhật
Ngoài những vấn đề được đặt ra như lần trước,dư luận còn đặt vấn đề đâu là ranh giới giữa con người quan chức và con người như cá nhân? Liệu việc ủng hộ cho đền Yasukuni có phải là một hành vi tôn giáo hay chỉ là một nghi lễ có tính chất tập quán thông thường? Chuyến viếng thăm lần này thực sự đã làm dấy lên làn sóng phản đối dữ dội của các nước Châu Á Một trong những nguyên nhân làm tăng thêm tình hình căng thẳng là hài cốt của 14 tên tội phạm chiến tranh loại A đã được bí mật đưa về quàn tại ngôi đền và bị báo chí tiết lộ sau đó Dư luận quốc tế cho rằng việc thủ tướng Nhật Bản đến viếng thăm đền Yasukuni như vậy là đồng nghĩa với việc tạo điều kiện phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Chính vì vậy mà các chuyến thăm đền sau đó của các thủ tướng Nhật Bản bị đình chỉ
Tuy nhiên sau đó trước sức ép của các thế lực cánh hữu và các tổ chức xã hội, ngày 13 tháng 8 năm 2001 thủ tướng Koizumi sau nhiều lần cân nhắc đã quyết định đến viếng thăm ngôi đền này Trong chuyến viếng thăm đền của của thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã có một nhóm 20 thanh niên Hàn Quốc biểu thị thái độ phản ứng bằng cách chặt đứt ngón tay út của mình Còn người dân Trung Quốc thì dấy lên những đợt sóng phản đối mạnh mẽ Hành động này của Ông Koizumi không chỉ nhằm giữ lời hứa khi Ông đang vận động cho cuộc đua giành chức Chủ tịch
Trang 39Đảng Dân chủ tự do (LDP) cầm quyền vào tháng 4 năm đó, mà còn phản ánh một
xu thế quan điểm bảo thủ trong xã hội Nhật Bản
Như ở đầu đã đề cập đến, cuộc viếng thăm của thủ tướng Koizumi đã dấy lên
sự phản ứng quyết liệt của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Châu
Á khác Bộ ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố “thực sự lấy làm tiếc” về chuyến thăm đó và các nhà lãnh đạo Nhật Bản thành thực muốn duy trì mối quan hệ hữu hảo và hợp tác với các nước láng giềng thì phải tôn trọng tình cảm dân tộc của các quốc gia đó trong sự hiểu biết đúng đắn quá khứ lịch sử Trong cuộc họp Hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo ASEAN tại Kua la Lămpơ (Malaixia) ông Koizumi đã một lần nữa từ chối việc không đến thăm ngôi đền cho dù Trung Quốc và Hàn Quốc và một số nước trong khu vực cùng lên án và phản đối mạnh mẽ
Cuộc chiến tranh thế giới thứ II đẫm máu đã lùi xa gần sáu thập kỷ nhưng những dấu ấn tội ác mà chủ nghĩa phát xít đã gây ra cho nhân dân tại các nước Châu Á đặc biệt là Trung Quốc thì khó có thể xoá mờ Các cuộc viếng thăm của thủ tướng Nhật Bản đến ngôi đền Yasukuni chắc chắn còn được đề cập đến tại Nhật Bản trong tương lai Tuy nhiên những cuộc viếng thăm đó sẽ còn là những sự kiện nhạy cảm và gây phản ứng rất phức tạp trong dư luận ở ngay Nhật Bản cũng như trong dư luận quốc tế, tại các nước Châu Á và đặc biệt là Trung Quốc Theo như các nhà phân tích nước ngoài nếu không giải quyết triệt để những vấn đề còn tồ n tại trong lịch sử một cách tích cực thì sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển quan hệ hợp tác láng riềng giữa hai nước , thậm chí có thể làm đóng băng tình cảm và để lại những hậu quả về lâu dài vì nó kích động đến lò ng tự tôn dân tộc và làm cho vẫn đề càng khó giải quyết
Như vậy nhận thức lịch sử là vấn đề rất quan trọng trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc , nó là vật cản trong quan hệ chính trị – ngoại giao điều đó phụ thuộc rất lớn vào chính sách ngoại giao và hành động của chính phủ Nhật Bản
Trang 40Có thể thấy rằng với chính sách và hành xử của ông Koizumi đã đẩy quan hệ Trung – Nhật vào tình trạng lạnh nhạt trong s uốt nhiệm kỳ của ông (2001 - 2006) Tuy nhiên để khôi phục nền kinh tế , tạo cơ sở đảm bảo sức mạnh tổng hợp quốc gia, Nhật cần thiết phải có điều chỉnh Sau khi lên nắm quyền , Thủ tướng Shinzo Abe và tiếp sau là Thủ tướng Yasuno Fukuda đã làm mềm hoá vấn đề thăm đền Yasukumi Hai Thủ tướng kế nhiệm Koizumi đã không đến thăm đền mà chỉ gửi quà lưu niệm , còn Thủ tướng Fukuda nói không đến thăm đền Mở ra cơ hội cải thiện quan hệ ngoại giao chính trị giữa hai quốc gia
Đầu năm 2009, Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso tuy không đến thăm đền nhưng, nhưng đã gửi cây cảnh đến đó đã gây phản ứng “ lo ngại và không hài lòng từ phía Trung Quốc ” Phản ứng này của Trung Quốc được xem là thận trọng và có mức độ Thực tế cả hai quốc gia nhận thấy , trong bối cảnh suy thoái kinh tế rất cần
có cơ hội thị trường , kỹ thuật, vốn để cải thiện tình hình kinh tế Do vậy hai bên vẫn duy trì quan hệ chính trị ngoại giao là cơ sở cho gia tăng quan hệ nói chung
Hiện nay ở Nhật Bản sau khi bầu cử lại Chủ tịch Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) Yukio Hatoyama chính thức nhậm chức Thủ tướng Nhật, đánh dấu sự chuyển giao quyền lực từ Đảng Tự do Dân chủ (LDP) cầm quyền tại Nhật hơn 50 năm qua sang phe đối lập Nó cũng như một “luồn gió mới” cho cả Nhật Bản và Trung Quốc bởi nếu Thủ tướng mới đương nhiệm có chính sách giải quyết tốt các vấn đề về lịch sử giữa hai nước thì cũng đồ ng nghĩa hạn chế đ ược những căng thẳng và bất đồng trong quan hệ chính trị – ngoại giao giữa chính phủ hai nước , nguời dân hai nước nói chung và đóng góp vào việc hòa ho ãn giảm căng thẳng ở Châu Á và trên thế giới , tạo mô i trường hòa bình , ổn định để phát triển giữa các nước trong thế kỷ mới
Khi còn là Chủ tịch Đảng Dân chủ , ông Hatoyama cũng đã tuyên bố sẽ không tới thăm đền nếu trở thành Thủ tướng Chính với chủ trương mềm hóa vấn
đề đền Yasukuni , quan hệ chính trị ngoại giao hiện nay của Nhật Bản và Trung