1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lễ hội đền vua mai huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

136 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lễ hội đền Vua Mai thể hiện bản sắc văn hoá vùng quê Nam Đàn, văn hoá xứ Nghệ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc, thể hiện -ớc mơ, nguyện vọng và năng lực sáng tạo văn hoá của nhân dân, h-ớng

Trang 1

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 3

lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ, tác giả xin trân trọng cảm ơn sự tận tình h-ớng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Sỹ Giáo, Bộ môn Dân tộc học, khoa Lịch Sử, Tr-ờng đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn thành kính tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, Tr-ờng đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Tác giả cảm tạ sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam, Sở văn hoá Thông tin, Thể thao và Du lịch Ngệ An, Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An, Th- viện tỉnh Nghệ An, Th- viện tr-ờng

Đại học Vinh, Trung tâm văn hoá huyện Nam Đàn và nhân dân xã Vân Diên, Nam Thái, Nam Th-ợng, thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), Nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, ông Đinh Văn Hiến, TS Nguyễn Quang Hồng…đã cung cấp t- liệu, giúp đỡ tác giả trong quá trình

điền dã viết luận văn

Xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những ng-ời thân trong gia

đình và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng song thời gian và năng lực có hạn nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhận đ-ợc sự

đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và các bạn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2008

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Vinh

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận vă n Lễ hội

đền Vua Mai, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là kết quả lao

động của chính tác giả

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2008

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Vinh

Trang 5

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Mảnh đất Nam Đàn, quê h-ơng của nhiều bậc danh nhân kiệt xuất (Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu, Chủ Tịch Hồ Chí Minh….) từ xưa vốn đã nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, càng toả sáng hơn bởi những nét đẹp văn hoá

cổ truyền, giàu bản sắc, giàu tính nhân văn mà lễ hội đền Vua Mai là một nét văn hoá tiêu biểu

Lễ hội đền Vua Mai x-a kia vốn là lễ hội quốc gia (quốc lễ) đ-ợc tổ chức lớn hàng năm vào dịp tháng giêng để t-ởng nhớ Mai Hắc Đế ‟ Vua Mai cùng thân quyến và các t-ớng lĩnh Mai triều Thế nh-ng do điều kiện chiến tranh, di tích và lễ hội đền Vua Mai trong gần nửa thế kỷ qua đã không đ-ợc quan tâm thoả đáng, xứng với tầm vóc của một vị vua n-ớc Việt và là vị vua đầu tiên trên đất Nghệ An

Cũng nh- bao lễ hội cổ truyền nói chung, lễ hội cổ truyền ở Nghệ An nói riêng, lễ hội đền Vua Mai đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá, nhu cầu tín ng-ỡng tâm linh của nhân dân, giáo dục truyền thống văn hoá và chống ngoại xâm của dân tộc Lễ hội đền Vua Mai còn là môi tr-ờng để các loại hình nghệ thuật dân gian, các trò chơi dân gian có dịp thể hiện, phát triển

Lễ hội đền Vua Mai góp phần gắn kết các thành viên cộng đồng, là môi tr-ờng cộng cảm sâu sắc có tác động đến đời sống tình cảm, góp phần xây dựng tính cách và tâm hồn ng-ời dân xứ Nghệ, tâm hồn ng-ời Việt Nam

“trọng nghĩa trọng tình” và giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”

Lễ hội đền Vua Mai thể hiện bản sắc văn hoá vùng quê Nam Đàn, văn hoá xứ Nghệ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc, thể hiện -ớc mơ, nguyện vọng và năng lực sáng tạo văn hoá của nhân dân, h-ớng con ng-ời đến với chân ‟ thiện - mỹ, có ý nghĩa thiết thực trong đời sống đ-ơng đại

Trong nhiều thập kỷ qua, nhân dân ta phải dồn công sức, của cải vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nên các lễ hội trong n-ớc

Trang 6

nói chung, lễ hội đền Vua Mai nói riêng cũng bị vắng bóng một thời Những năm gần đây, thực hiện chủ tr-ơng chấn h-ng văn hoá dân tộc của

Đảng, Nhà n-ớc ta, các lễ hội trong n-ớc đã đ-ợc tái sinh, lễ hội đền Vua Mai cũng đã đ-ợc phục hồi Từ năm 2005 Sở văn hoá thông tin tỉnh Nghệ

An đã chọn lễ hội đền Vua Mai là lễ hội mở đầu cho năm du lịch Nghệ An Cũng từ đó lễ hội đền Vua Mai mới dần dần đ-ợc trở về với vị trí vốn có và

đã, đang trở thành một hoạt động văn hoá lành mạnh, có nề nếp, thu hút

đông đảo các tầng lớp nhân nhân tham gia, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

Tuy nhiên, các nhà khoa học, xuất phát từ chuyên môn nghề nghiệp chỉ tập trung vào một số khía cạnh nhất định nào đó, do vậy hầu nh- ch-a

có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về lễ hội

đền Vua Mai Chúng tôi khi tìm hiểu vấn đề này đã cố gắng cập nhật những thông tin và những số liệu mới, khẳng định những giá trị v à ý nghĩa của lễ hội đền Vua Mai và chỉ ra thực trạng lễ hội đền Vua Mai hiện nay Với

tinh thần đó, chúng tôi chọn đề tài Lễ hội đền Vua Mai, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cho luận văn thạc sĩ khoa học của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về lễ hội đã có nhiều công trình nh- Hội hè đình đám của Toan ánh (1969), Lễ hội “truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và

Đặng Văn Lung (1984), Lễ hội cổ truyền do Viện Văn hoá dân gian biên soạn (1992), Lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại do Nhà xuất bản

Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993

Liên quan tới đề tài này có một số công trình nghiên cứu nh-ng chỉ mới đề cập đến những khía cạnh cụ thể về thân thế Mai Thúc Loan, di tích

đền Vua Mai và một ít bài viết ngắn về lễ hội đền Vua Mai đ-ợc đăng tải rải rác ở một số báo, tạp chí

Về nhân vật Mai Thúc Loan, Đại Việt sử ký toàn th- do Ngô Sĩ Liên

biên soạn có viết vắn tắt về ông nh-ng vẫn giữ nguyên lập tr-ờng của sử gia nhà Đường (Trung Quốc) gọi Mai Thúc Loan là “tướng giặc” Ngô Thời Sĩ

Trang 7

đã kịp đính chính lại trong Việt sử tiêu án Những bộ sử sau này chủ yếu

dựa vào những dòng vắn tắt của chính sử để chép lại cuộc khởi nghĩa Mai

Thúc Loan nh- Việt sử l-ợc của Trần Trọng Kim, Đại Nam nhất thống chí

do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn Đáng l-u ý là ngày 08 tháng 11 năm 2008, viện Sử học Việt Nam phối hợp với tr-ờng Đại học Vinh đã tổ

chức hội thảo Mai Thúc Loan và khởi nghĩa Hoan Châu xác minh lại

một số vấn đề cơ bản, khẳng định tầm vóc của Mai Thúc Loan và quy mô của cuộc khởi nghĩa

Về di tích đền Vua Mai: Trần Mai Ph-ơng ‟ tr-ởng phòng tuyên truyền

Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An đã lập hồ sơ Lý lịch di tích

đền thờ và mộ Mai Hắc Đế năm 1994 Năm 2001 Trần Mai Ph-ơng lấy bút danh là Ph-ơng Thanh có bài viết về đền Vua Mai in trong Nghệ An, di tích và danh thắng Đến năm 2007 cùng một tác giả, cùng một nội dung bài

Đền Mai Hắc Đế đ-ợc in trong Đền miếu Việt Nam do GS Vũ Ngọc Khánh

chủ biên Năm 2008, tại hội thảo Mai Thúc Loan và khởi nghĩa Hoan Châu, Phạm Xuân Quang ‟ Phó bí th- th-ờng trực huyện uỷ Nam Đàn có

tham luận Nam Đàn với việc bảo tồn và phát huy giá trị cụm di tích của Vua Mai và lễ hội đền Vua Mai nh-ng cũng chỉ dừng lại ở việc nêu ra sơ

l-ợc về địa điểm di tích và liệt kê ngày lễ tế ở đền Vua Mai Cũng tại hội

thảo, TS Nguyễn Quang Hồng nêu ra Một số ý kiến đề xuất về lễ hội và quần thể di tích lịch sử – văn hoá của Vua Mai nh-ng chỉ tập trung ở vấn

đề: bỏ phần thi ng-ời đẹp sông Lam, sửa đổi nội dung văn tế, đề xuất khai quật thành Vạn An, trùng tu di tích động Cồn Chèn (nơi Vua Mai sinh ra và lớn lên d-ới gốc cây mai, xã Nam Thái) và đề nghị đ-a lễ hội Vua Mai vào danh sách các lễ hội cấp tỉnh Bài viết có một số t- liệu mới Tuy nhiên, vẫn ch-a đề cập đến nội dung chính của lễ hội

Ngoài ra, ở một số tạp chí văn hoá nghệ thuật, tạp chí văn hoá Nghệ

An, báo Nghệ An, báo Tiếng nói Việt Nam các tác giả Ph-ơng Thanh, Ngô Doanh có viết về lễ hội đền Vua Mai nh-ng chỉ sơ l-ợc những nét nổi bật nhất của lễ hội

Trang 8

Cho đến nay chúng tôi đ-ợc biết, ch-a có một công trình nào nghiên cứu về lễ hội đền Vua Mai một cách chuyên sâu, có hệ thống Những suy nghĩ, kiến giải mà chúng tôi đề cập trong luận văn hy vọng góp phần tăng thêm hiểu biết về lễ hội đền Vua Mai cũng là để tôn vinh công trạng của Mai Thúc Loan đối với n-ớc nhà nói chung, xứ Nghệ nói riêng

3 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:

- Nguồn tài liệu thành văn: Những công trình nghiên cứu đã đ-ợc công bố của Viện nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Nghệ An, Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An

Các bằng sắc, câu đối, hoành phi, gia phả, những bài hát văn trong

đền thờ Vua Mai

- Nguồn tài liệu truyền miệng: Truyện kể, thơ ca, hò vè của ng-ời dân Xứ Nghệ nói chung, nhân dân Nam Đàn nói riêng

Tuy nhiên, tài liệu điền dã thực địa của tác giả đ-ợc coi là nguồn tài liệu quan trọng nhất Trong hơn một năm về Nghệ An làm luận văn, tác giả

đã tiến hành các đợt điền dã sau:

Từ ngày 12 tháng 02 năm 2008 đến ngày 21 tháng 02 năm 2008 (tức

từ ngày 06 đến ngày 15 tháng giêng âm lịch) Chúng tôi đã đ-ợc chứng kiến

sự chuẩn bị chu đáo của ng-ời dân ở đây, nắm đ-ợc kế hoạch tổ chức, nội dung phân công cụ thể cho từng ban ngành, từng làng xã và chứng kiến diễn biến của lễ hội đền vua Mai

Từ ngày 06 tháng 04 năm 2008 đến hết hết tháng 8 năm 2008, công việc điền dã chia thành nhiều đợt Đây là thời gian thu thập đ-ợc nguồn tài liệu thực địa phong phú nhất

Từ ngày 09 tháng 11 đến hết ngày 22 tháng 11 năm 2008 chúng tôi tiến hành đợt điền dã để bổ sung thêm những t- liệu cần thiết

Chúng tôi cũng sử dụng camêra quay về lễ hội đền Vua Mai và máy

ảnh chụp ảnh về đền, miếu mộ và lễ hội đền Vua Mai năm 2008 cùng với

Trang 9

những di tích xung quanh Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng bản đồ mặt bằng kiến trúc khu miếu mộ Vua Mai để hình dung, đối chiếu với thực tế

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Phục dựng lại bức tranh lễ hội đền Vua Mai huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An x-a và nay

2 Nêu bật vai trò và ý nghĩa của lễ hội đền Vua Mai trong đời sống tâm linh của ng-ời dân Xứ Nghệ

3 Đề xuất những giải pháp bảo tồn lễ hội

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, th- mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 ch-ơng

Ch-ơng 1: Vua Mai và vùng quê Nam Đàn

Ch-ơng 2: Không gian của lễ hội

Ch-ơng 3: Diễn trình lễ hội

Ch-ơng 4: Giá trị và ý nghĩa của lễ hội đền Vua Mai

Trang 10

ch-ơng 1: Vua mai và vùng quê nam đàn

1.1 Vua Mai và khởi nghĩa Hoan Châu

1.1.1 Gốc tích Vua Mai

Mai Hắc Đế (Vua Mai) tên thật là Mai Thúc Loan hoặc Mai Huyền Thành, anh hùng dân tộc, ng-ời lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại sự chiếm đóng của nhà Đ-ờng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ VIII

Ông quê ở làng Mai Lâm, xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay nh-ng sinh ra, tr-ởng thành tại thôn Ngọc Trừng, xã Đông Liệt nay là xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Từ nhỏ Mai Thúc Loan đã phải đi ở nh-ng nhờ sức vóc khoẻ mạnh, thông minh tài trí hơn ng-ời lại rất giỏi võ nghệ nên Mai Thúc Loan đã sớm nổi tiếng trong vùng

Năm 713 đời Vua Huyền Tông nhà Đ-ờng ở Trung Hoa, Mai Thúc Loan đã kêu gọi và lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa đánh đuổi quân nhà

Đ-ờng Ông x-ng đế và lập nên n-ớc Vạn An Sử gọi ông là Mai Hắc Đế tức ông Vua Đen họ Mai

Để chiếm lại bằng đ-ợc n-ớc ta, Đ-ờng đế sai nội thị tả giám môn vệ t-ớng quân là D-ơng T- Húc và đô hộ là Quang Sở Khách sang đàn áp Sau nhiều trận giao chiến khốc liệt từ l-u vực sông Hồng đến l-u vực sông Lam, Mai Hắc Đế thất trận, thành Vạn An thất thủ, nghĩa quân tan rã Mai Hắc

Đế rút quân và băng hà tại căn cứ Hùng Sơn Quốc gia Vạn An rơi vào tay nhà Đ-ờng

Để t-ởng nhớ đến công ơn Mai Hắc Đế ‟ vị vua đầu tiên trên đất Nghệ An, nhân dân lập đền thờ ông trên núi Vệ và trong thung lũng Hùng Sơn

Nay đền Vua Mai nằm ven chân đê 42, thuộc khối Mai Hắc Đế, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Đền này thờ Mai Hắc Đế và ng-ời con trai kế nghiệp của ông - Mai Thúc Huy

Trang 11

Có thể nói, Mai Hắc Đế là một trong những vị vua có xuất thân kỳ lạ

mà cho đến nay vẫn ch-a có một tài liệu nào xác minh chính xác về nguồn gốc xuất thân của Ngài Bởi vậy, khi tìm hiểu về lý lịch vua Mai - chúng tôi chỉ nêu ra những giả thiết về gia thế của Mai Thúc Loan

Nguồn gốc xuất thân của Vua Mai không rõ ràng Theo Thiên nam ngũ lục, Mai Thúc Loan không có cha, còn mẹ là một phụ nữ nghèo khó, có

lần đi xem nấu muối bị một làn khói muối ngũ sắc bao phủ lấy mình rồi mang thai sinh ra ông [20] Với cách nói này chúng ta có thể hiểu Mai Hắc

Đế là con của một ng-ời phụ nữ không có chồng, bởi vậy họ của Vua Mai

có thể là họ mẹ, cũng có thể là mẹ Vua Mai đã lấy tên quê mình để đặt họ cho con (quê bà ở làng Mai Lâm, xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay)

Truyền thuyết kể về sự ra đời của Mai Thúc Loan trong một hoàn cảnh đặc biệt, sự khốn khổ cực nhọc của một ng-ời mẹ từ một vùng biển phải bỏ quê nhà lên vùng bán sơn địa và sinh ngài d-ới gốc cây mai nên Ngài có họ Mai [24, 45]

Giai thoại dân gian cho biết, Mai Thúc Loan là con của ông Mai Sinh

và bà Vương Thị, lúc có mang bà mơ thấy một vị tiên đưa cho viên “kê sơn bích” lúc giơ tay nhận thì đỡ hụt làm viên ngọc rơi vỡ thành ngàn mảnh Từ giấc mộng đ-ợc viên ngọc “kê sơn”, tên một giống gà rừng đẹp như chim Loan - Ph-ợng nên ông bà đã chọn tên giống chim đó đặt cho con trai mình: tên Mai Ph-ợng, tự Thúc Loan và ông còn có tên khác là Mai Huyền Thành [14, 24]

Một số truyền thuyết dân gian ở huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh lại nói:

bà Mai mẫu sinh con ở làng Mai Phụ, sau đó do không chịu nổi ách áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn Diêm quan, nên hai mẹ con đã bỏ làng ra đi [58, tr 58]

Ngày nay, nhân dân xã Vân Diên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An lại truyền tụng nhau: Bố của bà Mai Mẫu là tr-ởng phu đồn điền muối ở Thạch

Hà, bà Mai Mẫu có mang với phu đồn điền muối nên theo lệ làng bà bị bỏ

Trang 12

rọ trôi sông Vì th-ơng con gái nên tr-ởng phu đồn điền muối Thạch Hà lúc bấy giờ đã bố trí cho làm một hình nộm mặc áo quần giống nh- bà và đ-a

ra sông thả Nh-ng sợ dân làng biết đ-ợc ông đã bí mật đ-a bà ra vùng núi non hẻo lánh (xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An hiện nay) để trú ngụ và sinh con Chính vì vậy , Mai Mẫu đ-ợc nhân dân ở đây gọi bà là

bà Trần Thị Rơi [13]

Sử cũ chép, Mai Thúc Loan mặt mũi đen sì, sức vóc khoẻ mạnh, khi lớn lên ng-ời cao hơn bảy th-ớc, khí phách hùng vĩ, mọi ng-ời đều nể sợ [31] Với đặc điểm nhân chủng khác biệt nh- vậy đã có nhiều nghi vấn về nguồn gốc tộc ng-ời của Vua Mai Dân gian t-ơng truyền Mai Thúc Loan x-a kia da đen, tóc xoăn, mặt vuông, dáng ng-ời to khoẻ, rắn chắc đã hạ gục đ-ợc nhiều đô vật trong làng, đánh bại đ-ợc hổ, mới m-ời bảy tuổi đã gánh đ-ợc những gánh củi to và nặng hơn của ng-ời lớn Những huyền thoại về Mai Thúc Loan đ-ợc các cụ già kể lại thật phong phú và hấp dẫn

đôi khi có những điều trái ng-ợc nhau song đều toát lên vẻ đẹp của một tráng sĩ với tính cách siêu phàm, xuất chúng: hiếu động, hiếu học và rất hiếu thảo đ-ợc nhân dân ở đây vẫn l-u truyền

Gần đây, một số nhà nghiên cứu khi viết về ng-ời Chăm cũng đã đề cập đến vấn

đề nhân chủng khác biệt của Vua Mai Chẳng hạn, trong “Lâm ấp, Chăm Pa và di sản” hay “Đường về cội nguồn Chăm Pa”, TS Nguyễn Đức Hiệp cho rằng cha của Mai Thúc Loan là một ng-ời Chăm Còn PGS.TS Nguyễn Văn Huy trong bài viết “Tìm hiểu cộng

đồng người Chăm ở Việt Nam”, tuy không phân tích, lý giải nh-ng cũng chủ tr-ơng Mai Thúc Loan là ng-ời Chăm (loại hình nhân chủng Nam Đảo(*) Malayo - Polinesien) Ông viết: “Một lấn cấn khó chịu là trong suốt thời Bắc thuộc, đại bộ phận giới quý tộc Lạc Việt (Lạc hầu, Lạc t-ớng) và ng-ời Kinh - bị khuất phục bởi văn minh và văn hoá do ng-ời Hán mang lại - đã hợp tác với ng-ời Hán trong việc quản lý đất n-ớc, đ-ơng nhiên

ở những địa vị thấp hơn Những cuộc nổi dậy chống lại chính sách hà khắc và muốn tách khỏi văn minh và văn hoá của ng-ời Hán, phần lớn đều do ng-ời M-ờng (Hai Bà Tr-ng năm 42 và Bà Triệu năm 248) và ng-ời Nam Đảo (Mai Thúc Loan năm 722) khởi x-ớng”

lại là: loại hình nhân chủng Nam á gần với các c- dân Malayo - Polinesien

Trang 13

Mặt khác, sự hiện diện của ng-ời Chăm trên vùng đất ven biển thuộc các huyện Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh là một sự thật lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ Dân ven biển kể lại rằng: ng-ời Chăm cổ chủ yếu sống bằng nghề

đánh cá, c- ngụ ngay trên thuyền và tập trung đông nhất ở vùng Cửa Sót (xã Thạch Kim, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nay là huyện Lộc Hà) Những tài liệu về lịch sử ng-ời Chăm cũng cho thấy một thời gian dài từ thế kỷ IV đến thế kỷ IX, nhất là d-ới các triều vua Phạm Văn, Phạm Hồ Đạt (Bhadravarman I), VickrantavarmanI, VickrantavarmanII…Lâm ấp nhiều lần đem quân đánh chiếm và làm chủ vùng đất từ Cửu Chân trở vào, đòi ng-ời Hán cho cai quản cả quận Nhật Nam, phá châu thành của nhà Đ-ờng, xây luỹ trên Hoành Sơn Do vậy sự tập trung của binh lính và c- dân ng-ời Chăm ở vùng đất ven biển phía Nam tỉnh Hà Tĩnh là điều tất yếu [Hoàng Quốc Tuấn, 58]

Với những nguồn t- liệu đó, chúng ta có quyền nghi ngờ về nguồn gốc tộc ng-ời của Vua Mai Phải chăng Mai Thúc Loan không phải là ng-ời mang dòng máu thuần Việt? Hoặc bố Mai Thúc Loan là ng-ời Chăm, hoặc mẹ Mai Thúc Loan là ng-ời Chăm? Theo hình thức hôn nhân mẫu hệ thì Mai Thúc Loan theo họ mẹ (họ gốc của ng-ời Chăm) cũng có thể Mai Thúc Loan theo họ Mai của mẹ là ng-ời Việt?

Cho đến nay các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn ch-a đ-a ra một kết luận chính xác về nguồn gốc xuất thân của Mai Hắc Đế bởi lẽ những t- liệu viết

về ông chủ yếu dựa vào t- liệu ngoài th- tịch, phần lớn là truyền thuyết, thần tích, thần phả ch-a hội đủ thông tin khoa học để làm sáng rõ nhiều vấn

đề trong đó có vấn đề nguồn gốc tộc ng-ời của Vua Mai Bởi vậy, nhiều giả thiết, nhiều nguồn t- liệu dân gian khác nhau nói về xuất thân của Mai Thúc Loan, tất cả nêu ra đều mang tính thần kỳ, huyền hoặc Nh-ng một sự thật lịch sử là đã từng tồn tại một Nhà n-ớc Vạn An độc lập đ-ợc gần 10 năm từ năm 713 đến năm 722 d-ới sự cai quản của vị vua Đen họ Mai đ-ợc nhân dân gọi là bằng cái tên trìu mến là Mai Hắc Đế.Sử nhà Đ-ờng gọi ông

là Mai Huyền Thành Dù Mai Thúc Loan đ-ợc sinh tr-ởng trong một hoàn cảnh đặc biệt thế nào đi chăng nữa cũng không quan trọng bằng việc ông đã

“sống” như thế nào trong lòng nhân dân cùng với tiếng tăm của cuộc khởi

Trang 14

nghĩa Hoan Châu, Mai Thúc Loan đã đ-ợc nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh và nhiều địa ph-ơng đời đời biết ơn và thờ phụng

1.1.2 Khởi nghĩa Hoan Châu

1.1.2.1 Nguyên nhân khởi nghĩa

T- phả họ Mai làng Mai Lâm, xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà

Tĩnh nói Mai Thúc Loan có m-ời ng-ời con Mai triều thạc phụ truyện có

chép “Đệ nhất, đệ nhị, đệ tam hoàng tử?” Văn chầu, Văn cầu ngày giỗ Mai Hắc Đế tại đền, có bài “Chiêu hồn Đức chúa cả” Thần phả đền Đông Liệt thì gọi thiếu uý Mai Thúc Huy là “Chúa Ba” Tất cả các nguồn tư liệu đó phản ánh rằng: vài chục năm tr-ớc ngày khởi nghĩa, Mai Thúc Loan đã c-ới

vợ, sinh con, dựng nên một cảnh gia đình đông đúc, tháng ngày cùng nhau lao động kiếm sống Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra thì con cái ông đã tr-ởng thành Gia đình Mai Thúc Loan cũng nh- mọi gia đình xung quanh, phải chịu nhiều cảnh cực khổ do bọn quan lại đô hộ nhà Đ-ờng áp đặt lên đầu lên cổ nhân dân ta Số quan quân tại cấp châu nh- Châu Hoan bằng khoảng một phần t- Bọn quan lại độ hộ nhà Đ-ờng lúc đầu coi An Nam là nơi rừng thiêng n-ớc độc, nh-ng sau thấy Giao Châu có nhiều nguồn lợi: lâm sản có sừng tê, ngà voi, lông chả, h-ơng liệu, hải sản có ngọc trai, đồi mồi, nông sản có gạo thơm quả ngọt và nhiều thứ quý, chúng tranh nhau đi thậm chí

có tên còn đút lót vàng bạc cho quan trên để đ-ợc sang An Nam đô hộ phủ Sang An Nam chúng ra sức vơ vét tài nguyên sản vật, thứ thì chở về triều

đình ph-ơng Bắc theo quy chế cống phẩm, thứ thì mang về nhà làm của riêng Vì vậy sử cũ chép “có tên quan đô hộ mới nhận chức vài năm mà đã

có của đầy nhà, giàu ngang vương giả” Cũng trong cảnh bị bóc lột, cuộc sống cơ cực nh- nhân dân cả n-ớc, nhân dân Hoan Châu còn cơ cực hơn vì phải chịu thêm thứ cống phạt của một miền phong phú đặc sản Theo định

lệ vật cống thì Châu Hoan hàng năm phải nộp các thứ quả ngọt nh- cam, hồng, nhãn, vải… Quy định quả ngọt làm vật cống thu hoạch kỳ vụ nào phải nộp ngày kỳ vụ ấy để giữ nguyên đ-ợc phẩm chất Cho nên dân Châu Hoan trong một năm phải chịu nhiều vụ vất vả, cực nhọc Sự căm thù ách

Trang 15

thống trị ngoại tộc đó trong nhân dân Châu Hoan đã trở thành điều kiện tất yếu và chín muồi của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ [3]

1.1.2.2 Diễn biến

* Giải phóng Châu Hoan: Cuộc khởi nghĩa nổ ra từ làng Ngọc Trừng rồi lan nhanh khắp Châu Hoan, dần dần đ-ợc dân các châu trong n-ớc

h-ởng ứng chính lệnh Sách Tân đ-ờng th- chép “Đời Huyền Tông năm thứ

10 tháng 8, ng-ời An Nam là Mai Thúc Loan nổi lên chống, bị tiêu diệt…” Còn truyền thuyết địa ph-ơng thì ghi: Một hôm trời hè nóng bức, Mai Thúc Loan dẫn đầu một đoàn phu gánh vải (quả vải tiếng Hán gọi là quả lệ chi)

đi nộp cho bọn quan lại, dọc đ-ờng ông thấy anh em mỏi chân khát n-ớc,

ông liền đặt gánh xuống đi an ủi mọi ng-ời và hạ lệnh cho anh em dừng lại hái những quả vải to mà ăn cho đỡ khát Vừa ăn ông vừa cùng nhiều ng-ời chửi mắng bọn quân Đ-ờng đi áp tải và lên án tội áp bức bóc lột của chúng

ăn xong, mọi ng-ời làm theo ý ông: gánh vải về làng, không đi nộp nữa Thế là cuộc đánh nhau giữa ta và quân Đ-ờng bắt đầu từ đó Lúc đầu chỉ có

đoàn phu, rồi các ph-ờng săn, ph-ờng chài đến giúp ông Về sau, ng-ời theo ông đông vô kể Giặc Đ-ờng kéo về làng đàn áp Mai Thúc Loan hô hào nghĩa quân đánh trả, rồi tiến lên đánh chiếm châu lỵ Châu Hoan ở Sa Nam (thị trấn Nam Đàn ngày nay) [3,12 - 13, 24, 30, 46, 58]

Mai Thúc Loan đã tập hợp đ-ợc đông đảo nhân dân các làng kết lại thành lực l-ợng nên khi khởi nghĩa nổ ra họ đã sớm gây đ-ợc ảnh h-ởng lớn khắp Châu Hoan Họ theo mệnh lệnh Mai Thúc Loan kéo tới châu lỵ Châu Hoan đánh đuổi bọn đô hộ nhà Đ-ờng, thu phục lại châu thành, tôn Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế Đây là thành quả b-ớc đầu của cuộc khởi nghĩa Hoan Châu Sau khi giải phóng Châu Hoan, Mai Thúc Loan đã tuyên bố xoá bỏ mọi chế độ tô thuế, cống nạp… Nhân dân Châu Hoan được h-ởng một cuộc sống độc lập tự chủ

* Đánh chiếm thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay) Dựng n-ớc Vạn

An độc lập

Trang 16

Sự kiện Mai Thúc Loan chiếm đ-ợc Châu lỵ, sách Hoan Châu phong thổ thoại của Trần Danh Lâm có chép: “Đời Đường Huyền Tông, người xã

Đông Liệt nổi dậy kéo quân chiếm châu thành Châu Hoan ở địa đầu Sa Nam”[3] Chiến thắng ban đầu tạo điều kiện cho Mai Thúc Loan xác lập quyền tự chủ, phát triển quy mô cuộc khởi nghĩa ra cả n-ớc

Theo truyền thuyết thì sau khi giải phóng Châu Hoan, dân chúng kéo theo Mai Thúc Loan ngày càng đông Thần phả đền Đông Liệt chép “Có hai anh em họ Nguyễn kéo mấy trăm quân đến theo Mai Thúc Loan, cả hai

đều được cử làm tướng…” Bên cạnh hàng vạn nông dân là nhân tài các nơi cũng nô nức kéo đến, một số kẻ sĩ và trí thức cũng tìm đến yết kiến Mai Thúc Loan và khuyên ông sớm lên ngôi hoàng đế Thần phả ghi rõ “Khi Mai Thúc Loan sớm chiếm xong châu thành, có một số sĩ nhân từ xa lạ xin yết kiến và nói: “Địa dư thiên lý dĩ túc vương dã”, nghĩa là “Mảnh đất ngàn dặm thì xứng có một vị hoàng đế lắm rồi….Sau đó Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế và ra bài hịch kêu gọi nhân dân các châu trong n-ớc hãy đứng dậy

lật đổ ách thống trị của nhà Đ-ờng Thiên Nam Ngũ lục chép: trong bài

hịch có câu “Ta nghe nói ở xa vạn dặm chẳng nên sợ hãi huống n-ớc ta xa n-ớc Đ-ờng đến mấy vạn dặm, chẳng lẽ ta chịu ngồi bó tay, không tự lập

đ-ợc hay sao? Đồng thời với việc thảo hịch, Mai Thúc Loan còn cử t-ớng soái đến các Châu trong cả n-ớc và cả các n-ớc láng giềng vận động khởi nghĩa Kết quả là Vua Mai không chỉ tụ tập đ-ợc quân của 32 châu không chỉ các vùng ở đồng bằng mà bao gồm cả châu động, sách của các dân tộc vùng núi n-ớc ta Cuộc khởi nghĩa còn liên kết đ-ợc với nhiều n-ớc lân cận nh- Lâm ấp, Chân Lạp và Kim Lân hợp sức chiếm đóng đến tận Hải Nam, phản kháng lại bọn đô hộ cầm quyền của triều Đ-ờng [26,58]

Triều đình Vạn An thuở bấy giờ đã đ-ợc tổ chức khá đầy đủ so với quy mô thời Hai Bà Tr-ng và N-ớc Vạn Xuân Thời Lý với đế hiệu Lý Nam

Đế Trong Mai Triều đã có 12 văn thần võ tướng, đứng đầu gọi là “kiêm cai” đã có hình thức phong vương phong hầu như Nậm Sơn đại tướng, Đông

Trang 17

dực đại v-ơng, Nam dực đại vương, Ba đội hầu, Bạch a hầu… và còn nhiều th-ợng t-ớng, đại t-ớng khác

Ba đội hầu không rõ tên thật, được phong tước “hầu” do có công lặn lội trèo đèo sang bàn kế hợp lực với Chiêm Thành, Chân Lạp cùng cất quân

đánh Quang Sở Khách Do đó sự phối hợp lực l-ợng thêm của hai n-ớc, số quân của Mai Hắc Đế khi tiến ra chiếm thành Tống Bình có tới 30 vạn [3,43] Vua Lâm ấp đã cử t-ớng H-ơng An dẫn 10 vạn quân sang hợp lực với Vua Mai và Vua Chân Lạp cũng đã cử t-ớng Hồ A Khoa dẫn 10 vạn quân sang hợp lực Vua Mai đánh đuổi quân xâm l-ợc nhà Đ-ờng Song song với việc tổ chức triều chính và củng cố lực l-ợng vũ trang, Vua Mai đã huy động lực l-ợng để xây dựng căn cứ địa ở Sa Nam để chuẩn bị chiến đấu lâu dài Tại đây, Vua Mai đã chọn Vệ Sơn - Một quả đồi rậm rạp (thuở x-a) nằm kề sông Lam làm trung tâm đóng đại bản doanh, đóng đạo quân, chứa voi, trâu và lập phủ điện Đồng thời cho đắp một chiến luỹ kiên cố dài hơn 1.000m chạy dọc theo bờ sông Lam cho đến tận Hùng Sơn (núi Đụn) Trên luỹ cắm gỗ nhọn, quanh luỹ rào tre Chiến luỹ đó cũng chính là kinh đô của Mai triều trong những năm đất n-ớc có chiến tranh Vua Mai đã đặt tên cho kinh đô của mình là Vạn An Tạ Quang Đạm cho rằng : " Tên gọi này thể hiện một ý chí hào hùng" (Kinh đô của nhà Đ-ờng hồi đó là Tràng An) và việc Vua Mai đặt vấn đề xây dựng kinh đô lên hàng đầu trong toàn bộ công cuộc xây dựng đất n-ớc là hoàn toàn đúng đắn mang tính khoa học, bởi vì :

"Nổi dậy làm việc lớn đế v-ơng, Mai Thúc Loan không có điều kiện bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng toàn bộ đất n-ớc Song dù là đế hay v-ơng, công cuộc tự n-ớc yên dân cũng đòi hỏi một căn cứ vững chắc, một cơ sở trang nghiêm đủ để đối phó bên trong, bên ngoài về mặt văn trị cũng nh- về mặt công võ [26]

Bao quanh kinh đô Vạn An, vua Mai đã cho xây dựng một hệ thống

đồn trại yểm hộ lẫn nhau Biểu Sơn (núi hình quả bầu) bảo vệ cánh tả, Liễu Sơn bảo vệ mặt tr-ớc kinh đô còn Ngọc Đai Sơn (núi hình vàng Đai Ngọc)

Trang 18

là nơi chỉ huy tất cả hệ thống đồn trại và thống lĩnh tất cả các đạo quân thuỷ

bộ

Ngoài hệ thống đồn trại ở quanh kinh đô Vạn An kể trên Vua Mai còn chọn Hùng Sơn (một địa thế sông sâu, núi non hiểm trở thời đó) ở phía Tây kinh đô Vạn An để làm nơi cất giấu l-ơng thực và là hậu cứ nếu khi thành Vạn An thất thủ

Điều đó cho thấy Mai Thúc Loan không chỉ là một "nhà ngoại giao " tài ba mà còn là một "nhà quân sự" lỗi lạc Ngoài việc chỉ huy quân sĩ đánh

đuổi đ-ợc sự thống trị hà khắc của quân Đ-ờng ông còn khéo léo vận dụng thế ỷ dốc trong lối phòng ngự cổ truyền và triệt để tận dụng địa thế núi sông hiểm trở để có thể thoái hoá l-ỡng nan cơ độngvà chiến đấu lâu dài

Để ngăn chặn đánh giặc từ xa, ngoài hệ thống đồn luỹ ở căn cứ Sa Nam, Vua Mai còn cho xây dựng một khu chiến đấu ở phía Đông Bắc của núi Hồng Lĩnh nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đồng thời với xây dựng căn cứ địa, vua Mai còn lập x-ởng rèn giáo mác để trang bị vũ khí cho nghĩa quân cả một dãy từ cây đa Cốc (phía Tây thị trấn Nam Đàn) đến Quy Chính (phía Bắc thị trấn Nam Đàn) bấy giờ là khu vực sản xuất vũ khí của nghĩa quân

Binh hùng, t-ớng mạnh, căn cứ địa vững chắc, quân sĩ một lòng chiến đấu chẳng mấy chốc Vua Mai đã thu phục đ-ợc cả một vùng giang sơn rộng lớn, từ Châu Hoan rồi chiếm luôn cả Châu Diễn, Châu ái Thanh thế Vua Mai và nghĩa quân trở nên lừng lẫy, ông quyết định tổng tiến công

Theo truyền thuyết ở địa ph-ơng, lúc đó đại quân của Vua Mai bao gồm cả quân thuỷ và quân bộ, khí thế bừng bừng theo sông Lam v-ợt biển,

Trang 19

gi-ơng buồm, kéo cờ, đánh trống tiến ra phủ Tống Bình một cách hùng dũng Nghĩa quân đi đến đâu, dân chúng hò reo phấn khởi đến đó Khi nghĩa quân Vua Mai vừa tiến đến sông Tô Lịch (Hà Nội) thì Quang Sở Khách (là tổng quản An Nam đô hộ phủ lúc bất giờ dã đích thân dẫn đại quân đến chặn đánh Nh-ng tr-ớc sức mạnh tấn công ồ ạt của nghĩa quân Vua Mai và khí thế vùng lên nh- vũ bão của nhân dân cả n-ớc quân Đ-ờng trở lên toán loạn, số bị chết, số còn lại bỏ thành Tống Bình theo Quang Sở Khách chạy tháo thân về n-ớc

Theo Mai triều thạc phụ truyện và Đ-ờng Lâm Phùng đại v-ơng sự tích thì “Mai Hắc Đế đuổi được Quang Sở Khách về n-ớc, các hào tr-ởng,

các châu mục trong n-ớc đều nô nức kéo về kinh đô yết kiến hoàng đế, hưởng ứng chính lệnh”[3]

Sau thắng lợi đó Vua Mai đã sử dụng toà thành Tống Bình để tổ chức

bộ máy nhà n-ớc và triều hội Đồng thời cho đắp tháp dựng cờ lên núi Xuân Sơn (núi đất ở trong v-ờn Bách Thảo, Hà Nội ngày nay) N-ớc An Nam do Bắc triều phong năm 622, nay đ-ợc Vua Mai đổi thành n-ớc Vạn An và mọi chế độ tô dung, cống nạp do nhà Đ-ờng đặt ra cũng đ-ợc Vua Mai xoá

bỏ [26] Nhân dân Vạn An đ-ợc h-ởng một cuộc sống bình yên, độc lập, ruộng làng nào làng ấy cày, cây ai trồng ng-ời ấy ăn quả, trăm họ sống yên vui, đ-ờng đi vang lời ca hát Đến nay dân gian Nam Đàn vẫn còn l-u truyền câu ca:

“Con ơi, con ngủ cho lành

Trang 20

chọn làm t-ớng chỉ huy Theo Tân Đ-ờng th-: “Dương Tư Húc và Quang

Sở Khách mang sang ta 10 vạn quân tinh nhuệ đã đ-ợc chọn lọc, tiến quân theo đ-ờng cũ của Mã Viện đã sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Tr-ng

hồi đầu công nguyên” Mai triều thạc phụ truyện và truyền thuyết kể: “

T-ớng Đ-ờng là D-ơng T- Húc rất nham hiểm, nó cho quân đêm lẻn vào thành Tống Bình, quân ta đang ngủ không biết Tảng sáng, 10 vạn quân D-ơng T- Húc đánh với 10 vạn quân Mai Hắc Đế, đánh từ cửa sông vào tận núi cờ, máu chảy thành sông, x-ơng xếp thành gò, hoàng tử bỏ mệnh, các t-ớng tử trận, đánh nhau ba ngày ba đêm thì Mai Hắc Đế cho quân theo

đ-ờng thuỷ, đ-ờng bộ rút về Châu Hoan” [3]

Theo tinh thần trên chúng ta suy đoán một số chi tiết, quân Mai Hắc

Đế lúc này có 10 vạn, mà tr-ớc đó nói là có 30 vạn Vậy lúc này quân Chiêm Thành, Chân Lạp đã rút về n-ớc

Về phía D-ơng T- Húc, sau khi chiếm thành và đã ổn định bộ máy hành chính, chúng kéo quân theo đ-ờng biển, tiến vào Châu Hoan rồi đánh phá vào phòng tuyến Đan Nhai ở Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh và căn cứ Ngàn Hống (núi Hồng Lĩnh) Tại các phòng tuyến này Vua Mai (còn gọi là đệ nhị hoàng tử hay đức chúa Mai) chỉ huy và đã chiến đấu hết sức dũng cảm nh-ng do lực l-ợng giặc quá mạnh, lại thiếu kinh nghiệm trên trận mạc nên các phòng tuyến Đan Nhai, Ngàn Hống lần l-ợt vào tay giặc [3]

Sau khi đánh chiếm đ-ợc phía Nam Hồng Lĩnh, D-ơng T- Húc cho quân theo sông Lam tiến vào căn cứ Sa Nam và dựa vào thế núi đóng quân

từ bến đò Vạn Rú (Nam Đông) cho đến chân núi Voi (Nam Tân) Tại đây chúng đã tổ chức ba đợt tấn công lớn vào thành luỹ Vạn An

Đợt 1: D-ơng T- Húc kéo quân đến mặt sông và ghé sát thành Vạn

An nh-ng ở các t-ớng thống lĩnh thuỷ bộ, quản đông ph-ơng, ch-ởng tả

đông du và t-ớng Bạch Kha đã phối hợp đánh trả rất quyết liệt Quân ta tên bắn xuống nh- m-a và đá cũng phóng từ trên xuống nh- m-a để nhấn chìm thuyền giặc Đồng thời bộ binh ta cũng chặn đánh các nẻo rất quyết liệt vì vậy quân Đ-ờng không thể tiếp cận đ-ợc luỹ Vạn An

Trang 21

Đợt 2: Thua đau, giặc lui về hậu cứ, chỉnh đốn quân ngũ, binh mã Cách mấy hôm sau chúng lại tổ chức đợt tấn công thứ 2, chiến trận đã nổ ra hết sức ác liệt Nh-ng giữa chừng ta dùng kế nội công nên nhiều thuyền giặc đã tự bốc cháy, hoảng quá D-ơng T- Húc bèn đánh trống thu quân về n-ớc

Đợt 3: Một năm sau, D-ơng T- Húc mở đợt tấn công lần thứ ba vào thành Vạn An Rút kinh nghiệm sau hai lần thất bại tr-ớc, lần này D-ơng T- Húc chia quân làm hai mũi (mũi đánh trực diện do D-ơng T- Húc chỉ huy) Trận quyết chiến sống mái đã xẩy ra vô cùng ác liệt và kéo dài trong suốt 3 ngày đêm

Hai bên giành giật nhau từng th-ớc đất, quân của Vua Mai giữ vững

đ-ợc thành Vạn An trong 2 ngày đêm Sang ngày thứ ba, quân nhà Đ-ờng liều chết vừa đánh trả với nghĩa quân của ta vừa lấy xác chết của chúng chồng lại thành đống để leo lên mặt thành Quân ta kiên c-ờng chống trả, hai bên giằng co nhau, máu quân thù chảy đỏ cả núi sông giữa vòng vây của quân giặc Vua Mai cùng các t-ớng sĩ tả xung hữu đột cản đ-ờng tiến

và tiêu diệt hàng ngàn quân địch Nh-ng rồi ông đã bị th-ơng ở vai(*) Biết thế giặc mạnh, Vua Mai đã quyết định bỏ thành Vạn An, lui quân về căn cứ Hùng Sơn

Thành Vạn An nơi vào tay giặc Sau khi chiếm đ-ợc thành, D-ơng T- Húc chia quân ra nhiều cánh rồi cho tấn công luôn vào các vị trí phòng thủ ở quanh thành Vạn An (Liên Sơn, Biểu Sơn, Ngọc Đai Sơn) Quân ta đã chiến đấu rất quyết liệt, số thì giữ đồn, số thì ra bờ sông bắn tên, bẫy đá vào thuyền giặc, số thì dựa vào các đoàn voi chiến và chặn các mũi tiến công Nh-ng lúc này thế giặc đang mạnh nên các đồn trại quanh thành cũng lần l-ợt bị tiêu diệt

Vậy là sau ba đợt tấn công lâu dài và phải vất vả lắm quân Đ-ờng mới đánh chiếm xong đ-ợc căn cứ Vệ Sơn Có thể nói rằng: đó là quá trình vật lộn, tiêu diệt lực l-ợng của nhau một cách khủng khiếp, một trận chiến

(*)

Trang 22

diễn ra hết sức gay go, ác liệt Một bài văn chầu Vua Mai(*) đã phản ánh phần nào cảnh chiến tr-ờng thê thảm đó:

“Nhớ khi nội thuộc Đường triều

Sa Nam, Hùng Lĩnh chiến tr-ờng ghê thay Sông đầy máu, núi đầy thây

Núi vang hồn núi, sông đầy hồn sông Bao phen cứ địa x-ng hùng

Cờ đề đại đế, thống lung mặt thành Sống lẫm liệt, chết tinh anh

ơn vua phù hộ phúc lành cho dân”

Đến lúc này địa bàn hoạt động của nghĩa quân vua Mai chỉ còn duy nhất hậu cứ Hùng Sơn Tại căn cứ Hùng Sơn, vì vết th-ơng quá nặng, Vua Mai đã qua đời Tr-ớc khi tắt thở ông đã giao toàn quyền chỉ huy cuộc chiến đấu cho ng-ời con trai thứ ba là Mai Thúc Huy (còn gọi là Mai Thiếu

Đế) Th-ơng tiếc một vị chỉ huy tài ba, quả cảm và căm thù giặc cao độ nên mặc dù thế quân Đ-ờng lúc này rất mạnh nh-ng nghĩa quân vẫn kiên c-ờng chiến đấu, tiêu diệt địch và giữ đ-ợc hậu cứ trong một thời gian khá dài [26]

Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nh-ng tiếng vang của nó đời đời bất diệt

và tên tuổi của Mai Thúc Loan cũng đời đời khắc sâu trong lòng ng-ời dân Việt Nam Trần Bá Chí cho rằng: “ trong lịch sử Việt Nam đặc biệt là trong lịch sử Nghệ Tĩnh, Mai Thúc Loan là nhân vật kiệt xuất, là tấm g-ơng

hy sinh, đấu tranh anh dũng quả cảm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành quyền độc lập tự chủ cho đất nước” Ông nối tiếp ngọn cờ của Tr-ng Trắc, Lý Bôn, lật đổ nền thống trị của bọn phong kiến ph-ơng Bắc, lập nên n-ớc Vạn An độc lập Triều đình Mai Hắc Đế và cái tên n-ớc Vạn An đã đi vào lịch sử Việt Nam thành những sự kiện rất đỗi tự hào, thành những thiên anh hùng ca bất hủ”

Trang 23

Giáo s- Trần Quốc V-ợng đánh giá về Mai Thúc Loan và khởi nghĩa Hoan Châu như sau: “Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nh-ng là cuộc khởi nghĩa lớn nhất n-ớc ta hồi đó Nó đã tạo đ-ợc sự liên minh quốc gia để

đánh nhà Đ-ờng, làm cho nhà Đ-ờng phải một phen khốn đốn Ngay sau

đó nhà Đ-ờng phải bỏ hẳn tiến cống vải và thay đổi một số chính sách cai trị dân ta” [46] Công lao Mai Thúc Loan vang dội khắp đất n-ớc, điều ấy

đ-ợc thể hiện trong một bài thơ chữ Hán đề ở đền thờ ông, bản dịch nh- sau:

“Hùng cứ Hoan Châu, đất một ph-ơng Vạn An thành luỹ Vạn An v-ơng Bốn ph-ơng dậy tiếng hô Mai Đế Trăm trận sức d- át Lý Đ-ờng Lam thuỷ n-ớc trong không bóng ngạc Hùng Sơn gió lặng vắng hình lang

Đ-ờng đi cống vải từ đây dứt Dân nước đời đời mãi nhớ thương”

T-ởng nhớ công lao Mai Hắc Đế, nhân dân Xứ Nghệ đã lập đền thờ

ông tr-ớc núi Vệ và xây lăng mộ ông trong thung lũng Hùng Sơn - nơi ông trút hơi thở cuối cùng để nhân dân ngàn năm h-ơng khói phụng thờ

1.2 Đôi nét khái quát về huyện Nam Đàn

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí: Nam Đàn ở hạ l-u sông Lam nh-ng lại là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi núi Mảnh đất “trùng lai danh thắng địa” này nằm giữa hai dãy núi lớn là núi Đại Huệ ở phía Bắc và núi Thiên Nhẫn ở phía Nam Giữa

có dòng Lam chảy qua theo h-ớng Tây Bắc - Đông Nam, chia lãnh thổ Nam Đàn thành hai vùng: Tả Ngạn và Hữu Ngạn Vùng Tả Ngạn rộng hơn vùng Hữu Ngạn

Huyện Nam Đàn nằm ở vị trí có toạ độ địa lý: Từ 18030’ đến 18047’

vĩ độ Bắc Từ 105025’ đến 105031’ kinh độ Đông Phía Đông giáp huyện H-ng Nguyên và một phần huyện Nghi Lộc Phía Tây giáp huyện Thanh

Trang 24

Ch-ơng Phía Bắc giáp huyện Đô L-ơng và cũng một phần huyện Nghi Lộc Phía Nam giáp huyện H-ơng Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh

Diện tích tự nhiên là 29.389 ha, trong đó đất nông nghiệp là 11.521

ha (chiếm khoảng 40%)

Huyện lỵ Nam Đàn đóng ở thị trấn Sa Nam cách thành phố Vinh 21km về phía Đông Trên đất Nam Đàn có các đ-ờng giao thông lớn chạy qua nh- quộc lộ 46, Quốc lộ 15A, đ-ờng du lịch ven sông Lam Tất cả đều

đi qua Sa Nam

Huyện Nam Đàn ngày nay, xưa kia được gọi là: “huyện Nam Đường:

ở cách phủ Anh Sơn 8 dặm về phía Đông; đông tây cách 85 dặm, Nam Bắc cách nhau 28 dặm, phía Đông đến địa giới huyện H-ng Nguyên 65 dặm, phía Tây đến địa giới huyện L-ơng Sơn 20 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Thanh Ch-ơng 13 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện L-ơng Sơn 15 dặm, đời Đông Ngô là huyện Đô Giao, đời Đ-ờng là đất Châu Hoan, đời Tiền Lê là Châu Hoan Đ-ờng, thời thuộc Minh là ChâuThạch Đ-ờng, các huyện Kệ Giang và Sa Nam đều là đất này, đầu đời Lê đổi tên hiện nay, bản triều vẫn theo nh- thế, năm Gia Long thứ 12 đổi do phủ kiêm lý Nay lãnh 4 tổng 45 xã thôn” [47, tr 139]

* Khí hậu

Cũng nh- toàn xứ Nghệ, Nam Đàn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa chịu ảnh h-ởng của nhiều hệ thống thời tiết Hàng năm địa bàn Nam Đàn nhận đ-ợc bức xạ mặt trời khá phong phú nh- tổng bức xạ là 138,4kcal/cm2/năm và cán cân bức xạ là 87,3kcal/cm2/năm (tại trạm Vinh

và cả trạm Nam Đàn) Số giờ nắng trung bình năm là 1.637 giờ Và chế độ nhiệt, nhiệt độ trung bình năm ở Nam Đàn là 23,90C, chia làm hai mùa rõ rệt

Mùa nóng: th-ờng từ giữa tháng 4 đến hết tháng 10 d-ơng lịch Mùa này nhiệt độ th-ờng trên 250C, hai ba tháng liên tục v-ợt quá 280C, tháng nóng nhất là tháng 7 Khi gió mùa Tây Nam mà ng-ời Nam Đàn gọi là gió

Trang 25

Lào tràn qua dãy Tr-ờng Sơn đem theo khí nóng, khô làm cho nhiệt độ tăng

đột ngột có ngày nhiệt độ cao đến 400C Mùa nóng th-ờng có hạn hán Có năm hạn hán kéo dài ba tháng liền, thậm chí có năm 7 - 8 tháng liền Hậu quả của những trận hạn hán nh- vậy là mất mùa, dân tình khốn khổ

Vào tháng 7, 8, 9 âm lịch xứ Nghệ hay có bão Những cơn bão trực tiếp đổ vào xứ Nghệ, mỗi năm ít nhất 1 - 2 cơn, năm nhiều 3 - 4 cơn Bão th-ờng có c-ờng độ lớn Những cơn bão nh- vậy th-ờng ảnh h-ởng đến Nam Đàn Cùng với bão th-ờng có những trận lụt dữ dội Th- tịch cũng nh- nhiều bài vè còn truyền lại cho ta thấy nhiều trận lụt lớn làm n-ớc sông Lam dâng trào mênh mông, làm ngập nhiều xóm làng Nhất là các xóm làng ở hữu ngạn sông Lam tại Nam Đàn thuộc tổng Nam Hoa cũ Hoa màu

bị dìm trong n-ớc lũ nhà cửa, sản vật bị cuốn trôi Dòng n-ớc này đã phá hoại nhiều khúc sông Các làng Hoành Sơn, Dương Liễu, Trung Cần… so với vị trí làng cũ vào đời Tự Đức nay đã khác xa Các trận lụt lớn đã làm vỡ

đê Sông Lam, gây nhiều thiệt hại mà nay dấu vết còn lại ở Thịnh Lạc, ở Xuân La

Nhiều năm đang giữa mùa khô hạn, lại xảy ra những cơn gió xoáy, gió lốc và m-a đá đột ngột, dữ dội, làm tung bay nhiều nhà cửa, h- hại nhiều đồ vật, hoa màu… Nhân dân Nam Đàn vẫn còn nhớ những cơn lốc và m-a đá ở D-ơng Phổ, ở Nam Kim, ở Thanh Thuỷ…

Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn đ-ợc mô tả tóm tắt và khá

đúng trong bốn câu thơ chữ Hán sau đây của hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 - 1818) ghi trong “Nghệ An thi tập” của ông, khi ông làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777 - 1781) d-ới thời vua Lê Hiển Tông:

Hạ lai phong tự hoá

Thu khứ vũ nh- ma Thập nguyệt giang hoàn lạo Trùng cửu cúc vị hoa

Trang 26

Dịch thơ

Hè đến gió Lào nh- lửa đốt, Thu qua m-a phùn lấm tấm sa, Tháng m-ời sông còn tràn n-ớc lũ Mồng chín, tháng chín cúc ch-a hoa

[22, 45]

Mùa lạnh: th-ờng thì từ tháng 11 năm tr-ớc cho đến tháng t- năm sau ở Nam Đàn cũng nh- toàn Xứ Nghệ, mùa lạnh đến muộn hơn các tỉnh khác và chấm dứt cũng sớm hơn Mùa này nhiệt độ trung bình các tháng 12 (năm tr-ớc) và tháng 1,2 (năm sau) th-ờng là 18 - 200C, ngày thấp nhất là 6,20C Trong những tháng mùa đông, những ngày nhiệt độ thấp th-ờng có mây mù (nhất là những xã ở ven núi Thiên Nhẫn, Núi Đụn và núi Đại Huệ),

đôi khi có s-ơng mù Mùa này do những đợt gió mùa Đông Bắc (xuất hiện

do áp suất thấp ở vùng xi - bê - ri) tràn qua Thái Bình D-ơng, mang theo hơi n-ớc, làm nên mây mù dày đặc Khi đổ vào xứ Nghệ, nó gặp sự chặn lại bởi các dãy núi ở phía Nam và Tây Nam, tạo thành những trận m-a dầm

Có khi những đợt gió mùa nói trên, đợt này ch-a qua, đợt khác đã bổ sung hoặc tiếp thêm, làm cho m-a dầm dề từ ngày nọ qua ngày kia Những ngày

có m-a dầm nhiệt độ th-ờng xuống thấp Nam Đàn luôn chịu những đợt m-a dầm và rét m-ớt nh- vậy

Về l-ợng m-a

L-ợng m-a bình quân ở Xứ Nghệ thay đổi theo từng vùng tiểu khí hậu Những tiểu vùng này đều có đặc thù riêng của nó L-ợng m-a trung bình năm trên cả lãnh thổ Nghệ An khoảng 1.800mm, mùa nóng chiếm khoảng 70%, mùa lạnh chiếm khoảng 30%

ở Nam Đàn, l-ợng m-a trung bình năm khá hơn: 1.900mm Năm m-a

ít nhất 1.100mm, năm m-a lớn nhất 2.600mm Độ ẩm trung bình 87% (*)

Trang 27

ở Nam Đàn có rất nhiều núi sông danh thắng gắn liền với công trạng của những ng-ời con -u tú Nam Đàn Nếu tại núi Thiên Nhẫn, Lê Thái Tổ

đã dựng căn cứ đại địa làm đẫm máu quân Minh, ghi một chiến công oanh liệt trong lịch sử dân tộc và tô điểm rực rỡ cho mảnh đất Nam Đàn thì Đụn Sơn - hay còn gọi là Hùng Lĩnh Sơn - nằm ở phía Tây Nam Đàn, dọc theo

đ-ờng quốc lộ 46 vào những năm đầu của thế kỷ VIII, Mai Thúc Loan đã xây sào huyệt để tụ tập nghĩa binh chống lại quân nhà Đ-ờng

X-a kia cây mọc trên núi Đụn, um tùm, ngạo nghễ Hoàng Phan Thái, một nhà thơ thông minh có khí phách, quê ở Nghi Lộc, khi qua núi

Đụn, ông đã vịnh hai câu thơ sau:

“Thụ thập Đụn Sơn bài kiếm bích Phàm quy Lam phố động tinh kỳ”

Tạm dịch:

Rút Đụn cây bày nh- giáo dựng Buồm xuôi Lam phố tựa cờ dăng

Hai bên núi Đụn, bao khe suối quanh co n-ớc chảy róc rách Bên con

đ-ờng nhỏ đi vào kẻ Kia tức làng Chi Cơ có đền thờ Mai Hắc Đế (giặc Mỹ

đã thả bom phá mất đền x-a, nay đã đ-ợc phục dựng lại) Tiếng khe Bò Đái

ở Võ Nguyên tuy không còn vang vọng vì "Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh" (*) nh-ng vẫn còn rì rào bao nỗi niềm của những ng-ời con đã khuất vì tổ quốc, vì quê h-ơng Trên núi Đụn có thành Hùng Sơn, nơi Mai Thúc Loan bỏ mình và con là Mai Thúc Huy kế nghiệp Mộ mẹ Vua Mai ở Rú

Dẻ (thôn Ngọc Trừng), cách Đụn Sơn khoảng năm kilômet về h-ớng Tây Bắc Phía Tây núi, nơi gần đầm Đông Liệt là Bàu Gang Một trận quyết

sau:

“Đụn Sơn phân giải (giới hoặc nhị)

Bò Đái thất thanh

Thuỷ đáo Lam Thành

Song ng- cận địa

Thiên hạ thái bình”

Núi đụn nứt đã lâu (trên vài trăm năm), khe Bò Đái hay còn gọi là khe ồ ồ vẫn còn chảy nh-ng không còn nghe tiếng vang vọng xa nữa N-ớc sông Lam đã chảy sát núi Lam Thành Hai hòn Song Ng- nay đã gần Cửa Hội thiên hạ cũng đã thái bình

Trang 28

chiến giữa Phạm Quỳnh, Phạm Giao (t-ớng của Mạc), với Nguyễn Cảnh Mô, Phạm Đốc (t-ớng của Lê) đã diễn ra quyết liệt ở Bàu Gang này

Mộ Vua Mai, mộ Mai Thúc Huy, mộ của bao đồng chí, bao nghĩa

quân của Vua Mai vẫn còn nằm trên núi Đụn Tác giả Đại Nam nhất thống chí cho núi Đụn “thuỷ lục tụ họp” là nơi đô hội của tỉnh Nghệ An ốc lậu thoại có bài thơ vịnh núi Hùng Lĩnh rằng:

Châu Hoan ngày nay là trấn lớn Hùng Lĩnh là núi nổi tiếng từ x-a

Có khí thiêng, nên mây khói tụ tập

Đồng bằng lúa nếp, lúa tẻ nhởn nhơ

N-ớc hồ theo sông chia ra bốn phía Các sông hợp lại ở biển làm mấy lần cửa quan Bên cạnh thành cũ để lại của [Mai] Hắc Đế

Kẻ đi ng-ời về không khi nào ngớt Dịch thơ:

Hoan Châu nay trấn lớn, Hùng Lĩnh danh sơn x-a

Linh khí nhoà mây khói, Cánh đồng lúa bao la

Hồ chia nguồn bốn ngả,

Trang 29

Cửa bể sông chảy ra, Thành Hắc Đế ngay cạnh Nhộn nhịp ng-ời lại qua

(Mai Xuân Hải dịch)[35]

1.2.2 Dân c-, văn hoá

1.2.2.1 Dân c-

Đã bao đời nay, ng-ời dân Nam Đàn chủ yếu sống bằng nghề nông là chủ yếu Công cụ canh tác của họ cũng chẳng khác gì bà con Xứ Nghệ Tr-ớc cách mạng tháng Tám, với chiếc cày chìa vôi, chiếc bừa chữ nhi với những cái cuốc, cái bàn vét, cái bồ, cái thuổng, cái trang đất, cái gàu… thô sơ, lâu đời, bà con lam lũ lao động trên những cánh đồng Sáo Vạc, cánh

đồng Nam Hoa, đồng Xuân Lâm, Tràng Cát… để làm ra lương thực và hoa màu Do phân phối ruộng đất không đều, do bị áp bức và bóc lột bởi phong kiến và thực dân, do bị cùm trói trong những quan niệm lạc hậu nên lao

động không đ-ợc giải phóng, khoa học kỹ thuật không phát triển, sức sản xuất bị kìm chế, năng suất lao động không cao nên đời sống của họ vô cùng

đói khổ Đã thế, thiên nhiên ở đây cũng có bề da diết đối với con ng-ời vùng Nam Hoa nằm kẹp giữa hai con sông: Lam Giang và La Giang, ch-a nắng đã cạn, ch-a m-a đã lụt Chỉ vài trận m-a nguồn là n-ớc lũ đã đổ xuống, n-ớc trên núi Thiên Nhẫn đổ xuống dâng ngập ruộng v-ờn làng mạc, cuốn trôi nhà cửa, huỷ hoại hoa màu

Trong nghề nông, cây lúa vẫn là chủ yếu, thứ đến là ngô, khoai, sắn

Về hoa màu có đỗ, vừng, mía, lạc… cây thủ công nghiệp có bông, dâu, trẩu

Ngoài làm ruộng, ở một số vùng nh- Thanh Thuỷ, Nộn Liễu bà con còn làm v-ờn trên núi Tr-ớc đây khách qua Truông Hến, Truông Băng chắc chắn nhìn thấy những v-ờn chè xanh trải rộng, những v-ờn cây trĩu quả (hồng, nhãn, mít, thị, cam, vải, chuối, dứa, ổi ) Nghề làm v-ờn bà con th-ờng gọi là làm trại, làm rày (rẫy) khá công phu Bà con phải lấy đá xếp thành những bức t-ờng thành trên s-ờn núi Đại Huệ rồi gánh đất màu từ

Trang 30

d-ới ruộng đồng lên đổ vào, làm m-ơng đ-a n-ớc từ các khe suối về để t-ới cho cây cối, rào chè xung quanh để trâu bò và kẻ gian đỡ phá hoại…

Cũng ở gần núi, song Nam Nghĩa, Nam H-ng và Cả Nam Th-ợng, Nam Kim nữa, bà con ít trồng chè xanh, không trồng cây ăn quả mà đi củi,

đi kiếm măng, kiếm cây song, cây mây hoặc săn con chồn, con cáo…

ở Nam Đàn, nghề phụ đặc biệt là các nghề tiểu thủ công có khá nhiều Nghề quay tơ dệt vải từ Tràng Cát lên Chung Cự rồi Tự Trì, Thịnh Lạc, Xuân La, Diên Lãm và qua bên kia sông là Nam Kim, Nam Phúc… của Nam Đàn Nghề này cũng phổ biến ở Xuân Hồ, Xuân Liễu, Tàm Tang

và cả ở Hoành Sơn, Trung Cần Nong nia thúng mủng rổ rá sau khi qua bàn tay lành nghề đan lát ở Ngọc Đình, Làng Sen, Xuân La đã đến nằm la liệt tại các chợ trong vùng Tơi nón của làng Ngang, làng Thọ Toán, Chợ Liệu tuy không đẹp nh-ng bền Đ-ờng mật ở Vân Sơn, Thanh Đàm, L-ơng Giai… không những cung cấp cho bà con trong huyện mà còn bán khắp đó

đây trong và ngoài tỉnh Vàng giấy ở Vân Sơn, Nghi Lễ, Hà Nam tr-ớc kia

đã làm “vui lòng” bao ông bà, ông vải Dầu bông, dầu lạc ở làng Đan Nhiệm x-a kia th-ờng theo chân ng-ời dân xuống các Chợ Vinh, Chợ Tro

Đồ gốm Nam Thái nổi tiếng một vùng Nghề trồng dâu nuôi tằm có truyền thống ở Thịnh Lạc, Long Môn, Nhạn Tháp, Đông Sơn, Trung Cần, D-ơng Liễu…nay còn l-u truyền bao kinh nghiệm hữu ích Nam Hoa Th-ợng, Nam Hoa Hạ tr-ớc đây nổi tiếng về nghề thợ mộc, thợ chạm tài hoa Nồi

đồng ở Bố Ân, Bố Đức đ-ợc bà con gần xa -a chuộng Ngoài ra còn có nghề đan ở Ngọc Đình, làm gạch ngói ở Hữu Biệt, nghề rèn ở Vân Nam, Quy Chính, đóng thuyền ở vạn nốc Hoành Sơn, thợ nề ở Tràng Cát, Trung Cần, đào đá xây nhà ở Vân Sơn, Thanh Thuỷ, cào hến, nấu hến, quẹt hàu ở Thanh Đàm, Tuần Lã, làm t-ơng ngọt ở Tự Trì, đúc l-ỡi cày ở Vân Đồn, nuôi lợn nái ở Nam Thắng, làm bánh đúc ở Vân Diên… , làm tương rất ngon ở Thịnh Lạc, Xuân La, Đan Nhiệm… Nhưng có một nghề, sức lực của ng-ời bỏ ra nhiều song không làm ra hàng hoá đó là chống bè, chống nốc thuê của những chàng trai vùng chợ Liệu, vùng Dương Phổ, Phổ Đông…

Trang 31

Họ chống bè cho những ng-ời buôn gỗ ở Phù Long, chống nốc chè cho những ph-ờng L-ờng, ph-ờng Rộ, ph-ờng Hồng, quanh năm phơi mình trên sông n-ớc, không kể ngày đêm, nắng m-a nóng lạnh

D-ờng nh- ở Nam Đàn ai ai cũng phải làm nghề phụ để kiếm sống

Sĩ tử Nam Đàn đâu chỉ nằm dài đọc sách để đến bữa ăn cơm “năm bảy đòn xeo xeo không dậy” mà cũng phải đi buôn gánh, nhủi tép, phụ hồ thợ xây… Có một số làng chuyên nghề đánh cá ở Sông Lam, đó là làng Duyên

La tr-ớc kia, làng Tuần Lã, làng L-ơng Giai, Thanh Trai ở xã Nam Tân, xã Nam C-ờng tr-ớc kia cũng có 3 làng vạn: Tân Xuân, Th-ợng Lạc và Đông Thọ… Đây là những làng nổi, sống bập bềnh trên sông nước, dân số mỗi làng khoảng 200 - 300 ng-ời Sau đó có làng lên bờ thành lập làng riêng, có làng ghép vào đơn vị hành chính của một làng nào đó Họ đánh cá ở đoạn sông Lam từ Ph-ớng cho đến ngã ba Tam Chế Cá đánh đ-ợc: cá m-ơng, cá

đối, cá gáy, cá nầm, cá ngạnh… họ đem bán ở các chợ trong vùng chủ yếu

là các chợ bên Sông Lam

Nam Đàn có đến 27 chợ lớn, nhỏ, có 5 chợ lớn là chợ Sa Nam ở thị trấn Nam Đàn, chợ Rồng ở Trung Cần, Chợ Sáo ở Hữu Biệt, Chợ Vạc ở Nam Lĩnh và Chợ Liệu ở Xuân Lâm Chợ Liệu chung cho cả xã H-ng Lĩnh huyện H-ng Nguyên

Chợ Sa Nam th-ờng họp vào buổi sáng, quá chiều chợ tan, cảnh náo nhiệt ồn ào cũng hết, chốn sơn thuỷ hữu tình này lại trở về với vẻ thanh u của thiên nhiên Đó là một nơi 5 ngày một phiên, nhân dân đến bán mua, trao đổi những vật phẩm, những hàng hoá cần dùng Sa Nam còn là nơi đã loang vết máu của bao trận đấu tranh ác liệt trong lịch sử Vào thế kỷ VIII, huyện lỵ Vạn An ở ngay Sa Nam Khi Mai Hắc Đế dựng cờ khởi nghĩa thắng lợi huyện lỵ Vạn An trở thành quốc đô của triều đình Vua Mai, ca dao có câu:

“Sa Nam trên chợ dưới đò Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dụng binh”

Trang 32

Nghĩa quân của Vua Mai đã chiến thắng quân quan nhà Đ-ờng vô cùng dũng cảm ở Sa Nam Những cồn mô còn lại - mả nghĩa quân do D-ơng T- Húc sát hại - nói lên tinh thần bất khuất của nhân dân Sa Nam

Ngoài ra ở Nam Đàn có 22 chợ khác: ở Nam Nghĩa có Chợ Bồn, ở Thanh Thuỷ có chợ Thanh sớm, Chợ Thanh chiều, ở Vân Diên có chợ Giếng; ở Xuân Hoà có Chợ Tro, Chợ Đồn (Chợ Đồn chuyên mua bán trâu bò), ở Nam Anh có Chợ Chùa; ở Nam Xuân có Chợ Trăn; Nam Lĩnh có Chợ Dỏ; Tùng Tiến có Chợ Gia, Chợ Bụt, Chợ Gành, Hồng Long có Chợ Huyện, Chợ Hồng; Nam Kim có Chợ Đình; Nam C-ờng có Chợ Đò; Khánh Sơn có Chợ Ngang; Nam Tân có Chợ Hôm, Chợ Đình, Nam Lộc có Chợ Gia và Nam Th-ợng có Chợ Kia ở Nghệ An và Hà Tĩnh đến nay vẫn truyền câu đối:

“Thượng, Hạ, Gôi, Choi, Nầm, Trị, Phố Trăn, Tro, Sáo, Vạt, Liệu, Hồng, Đồn”

Câu đối này đã đ-a ta đi dạo một số chợ ở Đức Thọ và H-ơng Sơn (thuộc tỉnh Hà Tĩnh, vế trên) và Nam Đàn (tỉnh Nghệ An, về d-ới) Đến các chợ lớn ở Nam Đàn chúng ta đ-ợc thấy các sản vật đặc biệt về nông ngiệp,

về cây ăn quả, về hàng tiểu thủ công của vùng đất địa thế sơn thuỷ hữu tình nh- mật bốc, đ-ờng phèn của Thanh Đàm; chè xanh, dứa thơm ở Thanh Thuỷ; hồng, mít, chuối ở Xuân Liệu, chanh, cam ở Đông Sơn, Hoành Sơn, Nam Anh, lụa sồi của Long Môn, Phúc Chỉ, Nhạn Tháp, D-ơng Phổ; d-a hồng, d-a hấu ở Đông Sơn, t-ơng ngọt Tự Trì, vải tấm Hồ Liệu… cùng các sản vật nông nghiệp nh- ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng, bầu bí, rau d-a và các đồ mây tre, nồi đất, nồi đồng, chiếu cói của bà con huyện nhà [22]

1.2.2.2 Văn hoá

Huyện Nam Đàn là một vùng văn vật nổi tiếng, nhất là dọc hai bờ sông Lam Chỉ riêng trong khoảng hơn 100 năm, kể từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) cho đến khi bỏ thi cử Hán học (1920) vào thời vua Khải Định, dọc hai bờ sông Lam thuộc địa phận Nam Đàn đã có nhiều vị thi hội, thi

đình đỗ cao nh- thám hoa Nguyễn Văn Giao, ng-ời xã Trung Cần, thám

Trang 33

hoa Nguyễn Đức Đạt, ng-ời làng Hoành Sơn, hoàng giáp Nguyễn Đức Quý, ng-ời làng Hoành Sơn, hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập ng-ời xã Trung Cần, hoàng giáp Nguyễn Thái ng-ời làng Đan Nhiệm, đình nguyên V-ơng Hữu Phu (tức V-ơng Đình Thuỵ) ng-ời xã Vân Sơn, nhiều vị thi h-ơng đỗ giải nguyên nh- Lê Bá Đôn ng-ời xã Trung Cần, Lê Văn Tuy ng-ời làng Bố Ân, Phan Bội Châu ng-ời làng Đan Nhiệm, Lê Dục Hinh ng-ời xã Xuân Hồ, trong số này giải nguyên Phan Bội Châu là ng-ời nổi tiếng hơn cả Không

kể sự nghiệp chính trị của cụ Phan mà ai cũng biết, tuy ch-a thành công vì không gặp thời cơ mà sự nghiệp văn ch-ơng của cụ cũng rất đồ sộ, ít có ng-ời sánh kịp và việc thi đỗ giải nguyên của cụ cũng rất đặc biệt Có thể nói đó là một việc độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu trong lịch sử khoa cử Việt Nam Kỳ thi h-ơng năm 1900, tr-ờng Nghệ lấy đậu 30 cử nhân, trong

đó huyện Nam Đàn chiếm đến 9 ng-ời, Phan Bội Châu đậu giải nguyên và Trần Đình Tuấn ng-ời xã Xuân Hồ đậu á nguyên Nh-ng điểm đậu của hai ng-ời nhất và nhì cách nhau xa Các bài làm của cụ Phan đ-ợc phê tới 20

“ưu” và “bình lớn” (bình lớn là điểm sát ưu), còn bài của cụ Trần chỉ được 4

“ưu” và “binh lớn” Cụ Phan đ-ợc quan chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh cho yết tên riêng một bảng, còn 29 cử nhân khác thì cho yết chung vào một bảng Đây là một việc ch-a hề có từ tr-ớc đến giờ Thật là một vinh dự lớn cho Phan Bội Châu mà cho cả quê h-ơng Nam Đàn Nhân việc này, cử Đào Tấn - một danh nho và là một nhà soạn tuồng nổi tiếng quê ở tỉnh Bình

Định, lúc đó làm tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh) đã có câu đối mừng Phan Bội Châu nh- sau:

“Lưỡng tuế tam nguyên thiên hạ hữu

Độc danh nhất bảng thế gian vô”

Nghĩa là:

“Trong hai năm đậu đầu ba lần (giải nguyên, hội nguyên, đình nguyên) thiên hạ có ng-ời nh- vậy Một tên yết riêng một bảng, trong thế gian không có ai”

Trang 34

Vào cuối thế kỷ XIX ở Nam Đàn có 4 nhà nho đ-ợc giới nho sỹ tôn

là “tứ hổ”:

Thông minh bất nh- Song, Uyên bác bất nh- San, Tài hoa bất nh- Quý, C-ờng ký bất nh- L-ơng(*)

Từ lâu, việc học hành thi cử ở huyện Nam Đàn đã trở thành phong trào đua tranh trong tầng lớp nho sĩ Không riêng gì con nhà quyền quý mà nhiều nho sĩ bần hàn cũng không chịu thua kém trên đ-ờng cử nghiệp Có ng-ời dù sớm bị mồ côi cha mẹ, sống nhờ vào ng-ời thân nh-ng vẫn tìm mọi cách để học hành và thi đỗ đại khoa nh- các ông: Nguyễn Thái ở Đan Nhiệm (Xuân Hoà), Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen (Kim Liên)… Gia đình

ông cử Trần (Xuân Lâm) tuy “sáng khoai, tr-a khoai, tối khoai, khoai ba bữa”

San, tức Phan Bội Châu (Đan Nhiệm), không ai tài hoa bằng V-ơng Thúc Quý và không ai có trí nhớ bằng Trần Văn L-ơng (Kim Liên)

Trang 35

Song vẫn “ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà” Tấm g-ơng khổ học của gia đình ông đ-ợc nhân dân địa ph-ơng ca ngợi, nêu g-ơng cho mọi ng-ời:

“Làm trai có chí thì nên Học Trần đói khổ mà nghiền kinh thi,

áo rách đổi lấy võng điều Nón mê đổi lấy chữ đề vua ban”

Tuy vậy, việc học hành, thi cử vẫn không phải là con đ-ờng tiến thân

và mục đích duy nhất của nho sĩ huyện Nam Đàn Có nhiều ng-ời thi đỗ nh-ng không chịu ra làm quan mà chọn nghề làm thuốc, dạy học, sống gần gũi, chan hoà với bà con làng xóm Nhiều ng-ời uyên thâm về chữ nghĩa nh-ng không chịu ràng buộc trong khuôn khổ nho giáo Không ít ng-ời đã kịch liệt chống lại mọi quyền uy trái với đạo lý làm ng-ời, sẵn sàng kh-ớc

từ công danh, phú quý để lo việc đại nghĩa, ích n-ớc, lợi dân Họ đã đem những tri thức của mình truyền thụ cho dân, đấu tranh cho công lý, cho lẽ phải

Sự có mặt của tầng lớp trí thức này ở nông thôn làm cho nền văn học dân gian huyện Nam Đàn vốn đã phong phú lại càng phong phú thêm cả về hình thức lẫn nội dung Truyện vè là thể loại văn học dân gian đ-ợc phát triển rộng rãi ở huyện Nam Đàn Những sự biến xẩy ra trong làng, trong n-ớc th-ờng đ-ợc ghi lại bằng vè Vè tố cáo, vạch mặt bọn tổng lý, chức sắc sâu mọt, đục khoét nhân dân Vè lên án bọn vua quan bán n-ớc Vè răn

đe, chế giễu những thói h- tật xấu trong xã hội Vè biểu d-ơng, ca ngợi những anh hùng, nghĩa sĩ có công với n-ớc, có hiếu với dân Mỗi bài vè là một bài học đối với ng-ời đời

Hát ph-ờng vải đ-ợc phát triển phổ biến, gắn liền với nghề kéo sợi dệt vải của nhân dân Nó không chỉ là sinh hoạt văn hoá truyền thống giàu tính nhân văn, tài trí thông minh, chất trữ tình của nhân dân lao động mà còn là nơi thi thố tài năng, gửi gắm tâm tình về việc đời, việc n-ớc của các nho sĩ và cả một số khoa bảng Thơ ca yêu n-ớc ở đây cũng phong phú, đa dạng và có tính chiến đấu cao [4]

Trang 36

Phong tục mời nhau uống n-ớc chè xanh đã trở thành nề nếp sinh hoạt lâu đời , phổ biến của nhân dân trong huyện Nam Đàn Hằng ngày cứ vào buổi tr-a, buổi tối sau khi ăn cơm xong, hôm thì nhà này, hôm thì nhà khác, cứ năm bảy gia đình một nhóm, già trẻ, trai gái quây quần uống n-ớc chè xanh mới nấu, vừa trao đổi về kinh nghiệm làm ăn vừa trò chuyện về mọi sự buồn vui trên đời Tập tục này đã gắn mọi ng-ời lại trong sự ấm áp của “tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, tính cộng đồng trong nhân dân lao động đ-ợc củng cố

Nhìn chung, các sinh hoạt văn hoá của nhân dân huyện Nam Đàn vừa mang đặc tr-ng văn hoá Xứ Nghệ trên nền văn hoá chung của dân tộc Việt Nam, vừa phản ánh đậm đà sắc thái riêng của một vùng quê giàu truyền thống đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất n-ớc

Đó là những nét đẹp truyền thống quý báu đ-ợc ng-ời dân Nam Đàn rất đỗi tự hào ở đây mỗi hòn núi, mỗi khúc sông, mỗi xóm làng, mỗi đoạn

đ-ờng, thửa ruộng… đều có dấu vết lịch sử hào hùng và linh thiêng Mảnh

đất đã sản sinh, nuôi d-ỡng vĩ nhân của lịch sử nh- Mai Hắc Đế, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… Cuộc khởi nghĩa của Vua Mai đã lùi xa gần mười ba thế kỷ nh-ng đến nay nhân dân Nam Đàn vẫn còn l-u truyền bài vè mộc mạc:

“Có vua Mai Hắc Đế Ng-ời trên rừng d-ới bể

Từ kẻ chợ ng-ời cày Ng-ời nh- n-ớc nh- mây

Đất An Nam tụ khí Đất Nam mình tụ khí…”

Tiểu kết: Những t- liệu chính thống cho ta biết Mai Thúc Loan quê

ở Hà Tĩnh, lớn lên trên đất Nghệ An Gia thế và nguồn gốc nhân chủng của Mai Thúc Loan đến nay vẫn ch-a có tài liệu nào đủ tin cậy để chứng minh

ông là ng-ời Việt hay ng-ời Chăm Chỉ biết rằng sách xưa chép: “Mai Thúc Loan là một trong những vị anh hùng cứu n-ớc của dân tộc Việt Nam ng-ời Châu Hoan” [3] Từ ngày khởi nghĩa bùng nổ đến nay đã 1295 năm nhưng

Trang 37

cống hiến của Mai Thúc Loan vẫn đ-ợc nhân dân ghi nhận, biết ơn bằng nhiều việc làm thiết thực, có ý nghĩa và hàng năm tổ chức lễ hội đền Vua Mai để tỏ lòng tôn kính vị anh hùng đất Nghệ

Ông cha ta vẫn thường nói “Địa linh sinh nhân kiệt” Quả thật vậy, quê h-ơng núi Hồng sông Lam thơ mộng gặp lúc Tổ quốc nguy nan xứ Nghệ xuất hiện những anh hùng hào kiệt, lỗi lạc, phi th-ờng ra cứu n-ớc, giúp dân Mảnh đất “quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”

từ ngàn đời nay vẫn tự hào là vùng đất xuất hiện nhiều vị anh tài Phải chăng, cùng sinh ra trên một vùng quê, uống chung một dòng n-ớc nên cùng chung tính cách ng-ời Nam Đàn nói riêng, xứ Nghệ nói chung: khẳng khái, trọng nghĩa và không cam chịu sự áp bức, đè nén Bởi vậy ở đây có câu hát:

“Nhìn lên sông Lam thấy dòng nước xối,

Đã là ng-ời Nghệ ai chẳng tắm gội n-ớc sông Lam

N-ớc sông Lam khi đục khi trong, Cũng nh- con ng-ời xứ Nghệ; khi giận thì thét mắng khi không thì hiền hoà”

Trang 38

Ch-ơng 2: không gian của lễ hội

Không gian của lễ hội về cơ bản trùng với không gian của quần thể kiến trúc các di tích có liên quan đến Vua Mai

Thông qua các di tích lịch sử ‟ văn hoá, hậu thế thấy đ-ợc lời di huấn của tiền nhân về truyền thống văn hoá, truyền thống quật khởi của dân tộc trong lịch sử dựng n-ớc và giữ n-ớc Lễ hội diễn ra ở các di tích càng thêm tôn nghiêm, giá trị thẩm mỹ đ-ợc nâng cao, t- t-ởng nhân văn và triết lý của tôn giáo càng đ-ợc vun đắp thêm Khi có lễ hội, truyền thống tốt đẹp

về lịch sử và văn hoá đ-ợc chuyển từ dạng tĩnh sang dạng động, tạo thành

"thời điểm thiêng" mang sức truyền cảm và giáo dục cao Di tích và lễ hội gắn bó hữu cơ, mật thiết, tạo nên giá trị tinh thần và vật chất lớn lao, h-ớng con ng-ời đến với những điều cao cả và tốt đẹp [6]

2.1 Tên gọi, địa điểm phân bố quần thể di tích đền thờ và mộ Vua Mai

Tên gọi chính thức đ-ợc công bố trong các văn bản và đ-ợc viết tại

di tích là "Đền thờ và mộ Mai Hắc Đế" nh-ng để cho tiện dân gian th-ờng gọi ngắn gọn là đền thờ và mộ Vua Mai

Vào thế kỷ VIII, n-ớc ta bị nhà Đ-ờng đô hộ Năm 713, Mai Thúc Loan đã đứng lên khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Đ-ờng lập nên nhà n-ớc Vạn

An độc lập và x-ng đế Vì ông có n-ớc da đen nên nhân dân th-ờng gọi

ông là ông vua Mai đen, sử sách chép lại bằng chữ Hán dịch ra tiếng Việt là Mai Hắc Đế

Vị trí và tên gọi đền thờ và mộ Mai Hắc Đế từ khi xây dựng đến nay không thay đổi, duy chỉ có tên của các đơn vị hành chính cấp xã là có thay

đổi qua các thời kỳ nh- sau:

ở thời kỳ Nguyễn di tích thuộc làng H-ơng Lãm, tổng Nam Liễu thuộc huyện Nam Đ-ờng, phủ Anh Sơn Đến thời Đồng Khánh đổi ra là làng Diên Lãm, huyện Nam Đàn, tổng Xuân Liễu, phủ Anh Sơn

Trang 39

Hiện nay đền thờ Mai Hắc Đế thuộc khối Mai Hắc Đế, thị trấn Nam

Đàn còn mộ nằm trong một thung lũng d-ới chân núi Hùng Sơn (còn gọi là núi Đụn Sơn) thuộc xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Đoạn đ-ờng đi từ Vinh đến nơi xa nhất của di tích (mộ Vua Mai) là

25 km Từ thành phố Vinh đến di tích, khách tham quan có thể đi bằng nhiều con đ-ờng với nhiều loại ph-ơng tiện khác nhau nh- ôtô, xe máy, ghe thuyền

Nếu đi bằng đ-ờng bộ: Từ Vinh theo đ-ờng quốc lộ 46 (Vinh ‟ Nam

Đàn) về phía Tây 20 km thì đến huyện lỵ Nam Đàn Từ huyện lỵ Nam Đàn

du khách tiếp tục đi về phía Tây khoảng 1km thì sẽ phải theo đê 42 khoảng 500m là đến cổng đền thờ Vua Mai

Mộ Vua Mai còn cách đền thờ khoảng 2km về phía Tây Từ đền thờ,

du khách theo đê 42 khoảng 2km sẽ tới chân núi Hùng Sơn Từ đây con

đ-ờng có phần trở nên cheo leo và ngoạn mục hơn bởi mé trái con đ-ờng từ

đền thờ Vua Mai đến khu lăng mộ là bờ Sông Lam hiểm sâu, mé phải là vách núi dựng đứng Theo con đ-ờng ấy, qua chân núi thứ nhất đến một thung lũng rộng, du khách sẽ phải theo một đoạn đ-ờng quanh co ven s-ờn núi là đến khu lăng mộ

Nếu đi bằng đ-ờng thuỷ: Từ cầu Cửa Tiền (thành phố Vinh) du khách ng-ợc theo tả ngạn sông Lam khoảng 18 km thì đến bến đò Sa Nam (tại thị trấn Nam Đàn) đến đây du khách lên bờ, bộ hành về phía Tây rồi theo h-ớng dẫn trên là đến đền thờ Vua Mai

Trang 40

Nếu đến khu lăng mộ từ bến đò Sa Nam, du khách còn phải ng-ợc tả ngạn Sông Lam thêm khoảng 2km nữa Qua chân núi thứ nhất, nhìn lên bờ

là du khách đã nhìn thấy mộ vua Mai

An cũ Vùng đất này thuở x-a là một ngọn đồi rậm rạp hoang sơ giữa một thung lũng ba bề có núi non án ngự (*) Ngày nay, nơi đây là một vùng sầm uất, dân c- đông đúc

Câu ca dao x-a chỉ vùng đất này buôn bán nhộn nhịp:

“Sa Nam trên chợ dưới đò”

Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên”

Đặc biệt về phía Đông, cách đền thờ Mai Hắc Đế không xa có hai di tích lịch sử lớn.Đó là khu di tích l-u niệm cụ Phan Bội Châu (cách đền độ 2km) và khu di tích Kim Liên khoảng 5km

Nhìn chung, đền thờ Mai Hắc Đế đ-ợc xây dựng ở một nơi đô hội, có

bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời, nơi có nhiều danh sĩ, địa thế cao ráo, cảnh quan hùng vĩ, nên thơ, có sức hấp dẫn đối với du khách gần xa

2.2.2 Mặt bằng tổng thể kiến trúc

Tổng diện tích khu vực đền thờ: 597 m2

Từ đê 42 vào thăm đền, du khách phải đi qua vị trí của cổng đền ngày x-a Sân đền là một khoảng đất rộng lát gạch sạch sẽ, hai bên trồng hai hàng cây l-u niên ngả màu xanh t-ơi tốt

Phía Bắc là dãy Đại Huệ - một danh thắng của đất Nam Đàn x-a và nay

Phía Tây là dãy Đụn Sơn gắn với bài Sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ng-ời đời sau chữa lại câu sấm

đó : "Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” để chỉ Phan Bội Châu với trí tuệ khác thường nhưng khi trở thành “Ông già bến ngự ” có người đem câu sấm đó hỏi cụ, cụ nói: “Thánh Nam

Đàn đó không phải tôi mà là Nguyễn ái Quốc”

Ngày đăng: 20/03/2020, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w