1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách tư duy hồ chí minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

132 193 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nêu rõ phương pháp cách mạng và những phong cách nổi bật mà Người đã sử dụng trong quá trình lãnh đạo Đản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Thanh Dung

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý ở nước ta hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội – 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Thanh Dung

PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện Các số liệu và kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu của tác giả nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Dung

Trang 4

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Đồng kính gửi: Ban chủ nhiệm Bộ môn Khoa học Chính trị

Tên tôi là Nguyễn Thị Thanh Dung

Sinh ngày: 17- 02 – 1981

Cơ quan công tác: Trường Đại học Giao thông Vận tải

Được công nhận là học viên cao học hình thức đào tạo: Không tập trung Thời hạn từ năm 2005 – 2008 theo Quyết định số 2539/ XHNV KH&SĐH ngày 02 – 11 – 2005 của Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập theo quy định cho học viên cao học cùng đề tài luận văn là: “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước

ta hiện nay”

Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho phép tôi được bảo vệ luận văn trước Hội Đồng chấm luận văn Thạc sỹ

Tôi xin trân thành cảm ơn./

Hà nội, ngày 15 tháng 11 năm 2008 Người làm đơn

Nguyễn Thị Thanh Dung

Trang 5

Mục lục

Trang

Lời cam đoan……… …….i

Mục lục ……… ii

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt Mở đầu……… 1

1 Tính cấp thiết của luận văn………1

2 Tình hình nghiên cứu ………2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……….….3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….3

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ……….4

6 Đóng góp của luận văn……….……….4

7 Kết cấu của luận văn……… 4

Nội dung Chương 1: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh………… ……….5

1.1 – Khái quát chung về phong cách tư duy……… ……… 5

1.1.1 – Kh¸i niÖm phong c¸ch……….5

1.1.2 - Khái niệm tư duy……….……… 12

1.1.3 - Phong cách tư duy………14

1.2 Phong c¸ch t­ duy Hå ChÝ Minh……….16

1.2.1 Cơ sở hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh ………….16

1.2.1.1 - Tư duy dân tộc Việt Nam… ………….………15

1.2.2.2 - Tư duy phương Đông ……….…….21

1.2.2.3 - Tư duy phương Tây……… ……….23

1.2.2.4 - Tư duy biện chứng Mác – xít ……… 25

1.2.2.5 – Nhân tố chủ quan thuộc của Hồ Chí Minh………… …….27

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh… …….30

1.2.2.1 – Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo……… 30

1.2.2.2 – Mọi suy nghĩ đều xuất phát từ thực tiễn……… 37

1.2.2.3 – Kế thừa và phát triển……… ……… 45

Trang 6

1.2.2.4 – Gắn ý chớ, tỡnh cảm cỏch mạng với tri thức khoa học…… 48

1.2.2.5 – Cụ thể, thiết thực và hiệu quả……… 55

1.2.2.6 – Linh hoạt, mềm dẻo……….…….62

Tiểu kết chương 1 ……… ………….……….69

Chương 2: Xõy dựng phong cỏch tư duy Hồ Chớ Minh trong đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay…………71

2.1 Thực trạng phong cỏch t- duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay………72

2.1.1 Ưu điểm……… ……… 73

2.1.2 Nhược điểm………89

2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng trên……….101

2.2 Đề xuất một số giải phỏp nhằm xõy dựng phong cỏch tư duy của đội ngũ lónh đạo, quản lý theo phong cỏch tư duy Hồ Chớ Minh…………105

2.2.1 Đổi mới tư duy về cỏn bộ và cụng tỏc cỏn bộ của Đảng và Nhà nước, cụng tỏc kiểm tra, giỏo dục, rốn luyện và bồi dưỡng lý luận đối với cỏn bộ……… 105

2.2.2 Đảng cần giỏo dục phong cỏch núi chung và đặc biệt là phong cỏch tư duy Hồ Chớ Minh trong đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý ……….108

2.2.3 Cần tạo mụi trường thực tiễn để người cỏn bộ phỏt huy tư duy tự chủ, sỏng tạo đồng thời tạo điều kiện để nhõn dõn được thực thi quyền làm chủ trong việc quản lý giỏm sỏt cỏn bộ………110

2.2.4 Người cỏn bộ lónh đạo, quản lý cần tự nõng cao tinh thần học tập, rốn luyện phong cỏch tư duy của bản thõn ……… 111

Tiểu kết chương 2……….…… ………115

K ết luận……… 118

Danh mục tài liệu tham khảo……… ……… 122

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân tài sản tinh thần to lớn, mang giá trị nhân văn cao cả

Đó là tư tưởng, đạo đức, tác phong, là toàn bộ sự nghiệp của Người Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951), Đảng ta chỉ rõ: “Đường lối chính trị, nề nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch, của Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) lại khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động”

Việc nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu rất quan trọng đối với tất cả cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là học tập những nguyên lý lý luận, mà còn là học tập phương pháp tư duy biện chứng, phương pháp luận của Mác - Ăngghen - Lênin; học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là học tập những tư tưởng, đạo đức của Người, mà còn phải học cả phong cách của Người, đặc biệt là phong cách tư duy Chính những nét đặc sắc trong phong cách tư duy đã giúp Người vận dụng sáng tạo và thành công chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta Vì vậy, tìm hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh, chỉ ra bản chất, những đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với chúng ta hiện nay Nó góp phần khắc phục các căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, duy ý chí trong cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng; đồng thời, góp phần từng bước xây dựng phong cách tư duy khoa học, nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên nhằm vận dụng sáng tạo,

Trang 9

thành công chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước hôm nay

Nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của mảng đề tài, tác giả lựa chọn đề tài “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” làm luận văn cao học

2 Tình hình nghiên cứu

Phong cách Hồ Chí Minh nói chung, phong cách tư duy Hồ Chí Minh nói riêng là mảng đề tài còn ít được nghiên cứu Cho tới nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về phong cách tư duy Hồ Chí Minh Trước đây ta thường dùng khái niệm “tác phong” Hồ Chí Minh Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, khái niệm “phong cách” mới được đặt ra khi yêu cầu xây dựng phong cách làm việc lêninnít Đến Đại hội VI của Đảng, khái niệm

“phong cách” gần như thay thế cho khái niệm tác phong Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh tiêu biểu như:

Cuốn Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh do TS Trần Văn Phòng

(Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt về phong cách tư duy Hồ Chí Minh Tác phẩm là sự tập hợp nhiều bài viết đề cập đến một số nét trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh và phong cách tư duy của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta Thông qua tác phẩm này có thể khai thác nhiều ý kiến quí báu phục vụ cho luận văn

Cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 1997 của GS Đặng Xuân Kỳ nghiên cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh một cách tương đối hoàn chỉnh Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và là một trong số ít tác phẩm đầu tiên khai thác mảng phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh Trong tác phẩm này tác giả đề cập đến một số phong cách Hồ Chí Minh như: Phong cách tư duy, phong cách sinh hoạt, phong cách ứng xử

Cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, của

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 đề cập đến

Trang 10

quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nêu rõ phương pháp cách mạng và những phong cách nổi bật mà Người đã

sử dụng trong quá trình lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta

Tác phẩm Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà

Nội, 2005, GS Song Thành cũng đề cập đến phong cách Hồ Chí Minh nhưng chuyên về phong cách ngoại giao của Người

Các công trình trên đã phần nào góp phần sáng tỏ hơn phong cách, phong cách tư duy Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu của những đề tài này, luận văn có thể kế thừa, phát triển vận dụng vào thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt về phong cách tư duy Hồ Chí Minh và vận dụng trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta một cách hoàn chỉnh và có hệ thống Vì vậy, đề tài mà học viên lựa chọn không trùng với các công trình khoa học đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

- Làm rõ những nội dung cơ bản về phong cách tư duy Hồ Chí Minh từ

đó vận dụng vào việc xây dựng phong cách tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ:

- Làm rõ khái niệm : “phong cách”, “phương pháp”, “tư duy”, “tư tưởng” và phân biệt sự khác nhau giữa các khái niệm ấy

- Phân tích cơ sở hình thành và những đặc trưng cơ bản của phong cách

tư duy Hồ Chí Minh

- Đánh giá thực trạng phong cách tư duy của cán bộ lãnh đạo, quản lý nứơc ta và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên

- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng phong cách tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nước ta theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Phong cách tư duy Hồ Chí Minh

Trang 11

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

- Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh

- Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu:

- Trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác - Lênin, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đồng thời sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh…

6 Đóng góp của luận văn

Là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về phong cách tư duy Hồ Chí Minh một cách có hệ thống Cụ thể:

- Phân tích và hệ thống hoá những cách hiểu khác nhau về khái niệm

“phong cách”, “phương pháp”, “tư duy”, “tư tưởng”, từ đó đưa ra quan điểm của tác giả về các khái niệm này

- Phân biệt “phong cách” với “phương pháp”; “tư duy” với “tư tưởng” ;

“phong cách tư duy Hồ chí Minh” với “phương pháp tư duy Hồ Chí Minh”

- Khái quát hoá cơ sở hình thành và những đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh

- Tác giả nêu ra thực trạng phong cách tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1 PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

1.1 Khái quát chung về phong cách tư duy

Mỗi con người đều có một phong cách riêng Hoàn cảnh gia đình, môi trường văn hoá, hoàn cảnh xã hội, quá trình giáo dục, nghề nghiệp, vị trí xã hội, đặc biệt là cách ứng xử của bản thân là những yếu tố hình thành phong cách của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh có một phong cách riêng, phong cách của một lãnh tụ mang phong cách của con người Việt Nam bình thường, phong cách của một công nhân, một trí thức, mang dáng dấp của một ông đồ xứ nghệ

Nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh, các nhà khoa học cũng như nhiều nhà hoạt động chính trị ở trong và ngoài nước thường đề cập đến phong cách sinh hoạt, phong cách làm việc, phong cách tư duy, phong cách nói và viết, … Luận văn này chỉ tập trung vào phong cách tư duy Hồ Chí Minh Tất nhiên, trong hệ thống phong cách Hồ Chí Minh thì phong cách tư duy giữ vai trò chủ đạo, chi phối và được thể hiện thông qua các phong cách khác Vì vậy,

để hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh cần tìm hiểu thông qua những hành động cụ thể, nói cách khác là thông qua phong cách làm việc, phong cách ứng

xử, phong cách sinh hoạt, phong cách nói và viết của Người Vậy, trước hết cần làm rõ ba khái niệm: “phong cách”, “tư duy” và “phong cách tư duy” là gì?

1.1.1 Khái niệm “phong cách”

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây, khái niệm “phong cách” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;

Theo nghĩa hẹp, khái niệm “phong cách” chỉ giới hạn trong văn học

nghệ thuật “Nó được thể hiện ở những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng

và nghệ thuật, những đặc trưng thẩm mỹ và ổn định về nội dung và hình thức

Trang 13

thể hiện, tạo nên những giá trị độc đáo của một nghệ sỹ” Người ta nói phong cách chính là con người là theo nghĩa này

Theo Đại từ điển Tiếng việt, khái niệm “phong cách” được hiểu theo 4

Theo Từ điển triết học, khái niệm “phong cách” cũng chỉ được hiểu chủ

yếu trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật [65, tr.449]

Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hoá Thông

tin, Hà Nội, 1999, “Phong cách là những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng, tình cảm của một nhà văn, một nghệ sỹ nói chung và là kết quả của sự vận dụng các phương tiện biểu đạt lựa chọn theo đề tài hay thể loại hoặc phản ứng của tác giả đối với hoàn cảnh” [66, tr 99]

Trong cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, các tác giả cho

rằng, “phong cách không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, giới hạn trong văn học nghệ thuật, mà “ còn được hiểu theo nghĩa rộng tức lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ, phẩm cách đã trở thành nề nếp ổn định của một người hay một lớp người, được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt ( nói và viết)… tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó” [26, tr.130]

Như vậy, xung quanh khái niệm “phong cách” có nhiều cách hiểu khác nhau: theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn trong văn học, nghệ thuật và theo nghĩa rộng được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của con người Nhưng dù được

hiểu theo nghĩa nào thì “phong cách” luôn là cái riêng, độc đáo, có tính hệ

Trang 14

thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể Chủ thể có thể là của một người, một lớp người hay một dân tộc, một vùng lãnh thổ Từ những yếu tố tác động đến sự

hình thành phong cách, xuất hiện những cấp độ khác nhau của phong cách

Trước hết, ở cấp độ thứ nhất: phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính

hệ thống, ổn định và đặc trưng cho một con người cụ thể

Như chúng ta đều biết, đối với mỗi người thì phong cách được hình thành và chịu sự tác động của các yếu tố như: truyền thống dân tộc, gia đình, địa phương nơi cư trú, tập quán, thói quen, v.v Trong các yếu tố tác động trên thì năng lực hoạt động của bản thân người đó giữ vai trò quyết định nhất.Con người có thể tiếp thu những truyền thống tốt, tập quán đẹp và khắc phục thói quen xấu ở mức độ như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ và khí chất của người đó Cùng một hoàn cảnh sống như nhau nhưng ở từng người có phong cách không hoàn toàn giống nhau Vì thế, phong cách mang dấu ấn cá nhân rất rõ Một nếp sống giản dị - đó chính là phong cách sinh hoạt; còn khiêm tốn lại là phong cách đạo đức của một người tự biểu hiện mình trong quan hệ với người khác Phong cách còn được thể hiện cả trong cách ăn mặc, đi lại, làm việc, trong ứng xử của mỗi người là khác nhau, tạo nên cái riêng, cái độc đáo trong bức tranh đầy màu sắc của cuộc sống mà ở đó không ai hoàn toàn giống

ai Đó còn gọi là “nét riêng” của mỗi người

Thứ hai, phong cách được hiểu là cái độc đáo, có tính hệ thống, ổn định

và đặc trưng của một nhóm người, một lớp người hay của một giai cấp, tầng lớp

nhất định

Triết học Mác từng chỉ rõ mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể Trong

đó, cá nhân cần phải có xã hội mới tồn tại và phát triển được, ngược lại, sự tồn tại và phát triển của xã hội là do các cá nhân tạo thành Điều đó cũng có nghĩa, phong cách của mỗi cá nhân được hình thành một phần dưới tác động của môi trường, nhất là môi trường làm việc Chính môi trường ấy với những đặc trưng riêng của ngành nghề sẽ tác động vào mỗi cá nhân, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Đồng thời, thông qua mỗi cá nhân ấy sẽ tạo

ra phong cách chung cho một ngành nghề nhất định Những đặc trưng riêng

Trang 15

mang màu sắc của mỗi ngành nghề ấy được thể hiện trong nhận thức, trong lối sống, trong cách mặc, cách làm việc, cách ứng xử, v.v., là khác nhau Từ đó mà trong xã hội sẽ có nhiều phong cách khác nhau giữa các nhóm người khác nhau

Cũng cần thấy rằng, phong cách theo cấp độ thứ nhất và thứ hai có mối quan hệ đan xen nhau, tác động qua lại nhau, bởi lẽ, trong mỗi môi trường nghề nghiệp nhất định đều có phong cách riêng, nhưng phong cách đó chỉ được thể hiện thông qua từng con người cụ thể làm trong các môi trường đó Mỗi cá nhân cụ thể vừa mang những đặc trưng chung do ngành nghề, do môi trường làm việc qui định lại vừa mang những đặc trưng riêng của bản thân mỗi người Như thế, phong cách được thể hiện ở một con người cụ thể, nhưng con người cụ thể đó lại tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự ảnh hưởng của chính môi trường ấy Do đó, phong cách của mỗi cá nhân vừa có cái riêng nhưng cũng có cái chung, vừa là dấu ấn của riêng mình nhưng lại mang cả những đặc trưng chung của môi trường sống Người nông dân Việt Nam, bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước nên cần cù, chịu đựng, chịu khó, có khả năng chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống… Tuy nhiên, trong giai cấp nông dân, mỗi người nông dân cụ thể, bên cạnh những đặc trưng chung đó, họ lại có những nét riêng của mỗi người do truyền thống gia đình, do trình độ nhận thức của mỗi người qui định Đây chính là một biểu hiện của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung

là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng

Thứ ba, phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và

đặc trưng của một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực

Như trên đã nói, “phong cách” được hình thành và chịu tác động của các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, tập quán, thói quen… qua các thời kỳ phát triển của lịch sử Những yếu tố đó tạo nên những đặc trưng khác nhau của một vùng, một dân tộc, hay của một khu vực xét theo

Trang 16

lãnh thổ cư trú Từ đó, tạo nên phong cách của người Việt Nam không giống phong cách người Trung Hoa và khác với phong cách người Pháp, người Mỹ… thậm chí, phong cách người phương Đông khác với phong cách người phương Tây Do vậy, mới có tư duy của người phương Đông khác tư duy người phương Tây Sự khác biệt giữa tư duy phương Đông và tư duy phương Tây sẽ được trình bày trong phần sau của luận văn Chính sự khác biệt về cách tư duy sẽ phần nào chi phối sự khác biệt trong lối sống, trong phong tục tập quán, trong cách ăn, mặc, đi lại, làm việc… ở mỗi vùng là không giống nhau Người phương Tây có cách đón chào năm mới khác người phương Đông, các tập tục, lối sống cũng không hoàn toàn giống nhau

Đến đây có thể thấy, “phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống,

ổn định và đặc trưng của chủ thể được thể hiện cả trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người” Phong cách được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, có thể là ở một con người cụ thể, một lớp người, một dân tộc hay

rộng hơn là một khu vực, gọi chung là một chủ thể Cơ sở để hình thành phong

cách bao gồm các yếu tố: điều kiện tự nhiên, môi trường, truyền thống, phong tục tập quán, thói quen, và do năng lực của con người qui định Tuỳ theo mỗi cấp độ khác nhau mà do các yếu tố khác nhau giữ vai trò quyết định hay chi phối mang đặc trưng của mỗi cấp độ Đối với phong cách của mỗi cá nhân thì năng lực hoạt động của bản thân giữ vai trò quyết định nhất; đối với một lớp người, một nhóm người thì do tính chất nghề nghiệp, do môi trường làm việc qui định; đối với một dân tộc, một khu vực thì đó là sự tổng hợp của các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá, kinh tế, truyền thống, tập quán, thói quen…giữ vai trò quyết định

Khi nghiên cứu khái niệm “phong cách”, cũng cần phân biệt với khái niệm “phương pháp” Xung quanh khái niệm phương pháp cũng có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo Từ điển Tiếng Việt “Tường giải và liên tưởng”, “phương pháp là

trình tự cần theo trong những bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một việc

có mục đích nhất định Phương pháp còn được hiểu là toàn thể những bước đi,

Trang 17

mà tư duy tiến hành theo một trật tự hợp lý luận, nhằm tìm ra chân lý khoa học ( phát hiện những điều chưa biết, chứng minh những điều đã biết, phương pháp quy nạp, diễn dịch)” [66, tr 119]

Theo Từ điển triết học giản yếu, “Phương pháp là hệ thống các nguyên

tắc điểu chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể đã được nhận thức” [53, tr.373]

Chủ Tịch Hồ Chí Minh không có định nghĩa về phương pháp, song sự hiểu hiết của Người về phương pháp được thể hiện qua việc Người sử dụng thuật ngữ phương pháp với các nghĩa rộng, hẹp khác nhau

+) Theo nghĩa rộng, phương pháp là hệ thống các nguyên tắc xuất phát

từ các quy luật vận động và tồn tại của đối tượng đã được nhận thức để định hướng và điều chỉnh quá trình nhận thức và hoạt động cải tạo đối tượng của chủ thể nhằm đạt mục đích đã định Người sử dụng trong các bài nói, bài viết dưới dạng khái quát của các nguyên tắc lý luận như: phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp luận mác xít… hay kết quả nghiên cứu “binh pháp Tôn tử” như: phương pháp tác chiến, phương pháp dùng gián điệp…

+) Theo nghĩa hẹp: phương pháp là cách làm, hành động Đó là một

phương pháp cụ thể mà chủ thể hành động lựa chọn, sử dụng để tác động vào đối tượng; là nguyên tắc được thực hiện theo một quy trình và kết hợp với các công cụ, phương tiện xác định nhằm tác động vào đối tượng để đạt được mục đích đặt ra

Trong cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, trên cơ sở khẳng

định vai trò của phương pháp và những yếu tố tác động đến việc lựa chọn, sử dụng một phương pháp nhất định trong hoạt động của con người, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa khá hợp lý về “phương pháp” đó là: “Phương pháp là toàn bộ những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát

từ các quy luật tồn tại và vận động của đối tượng, khách thể đã được nhận thức,

để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người, nhằm tác động vào đối tượng, khách thể để thực hiện mục đích

đã định” [26, tr.21]

Trang 18

Như vậy, xung quanh khái niệm “phương pháp” có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một sự khẳng định: phương pháp chính là cách thức mà chủ thể lựa chọn, sử dụng nhằm tác động vào khách thể đạt được mục

đích đã định Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa đó, có thể định nghĩa: “phương

pháp là tổng hợp các phương tiện, thao tác, cách thức, quy trình với tính chất

là một hệ thống mà con người dùng để nhận thức và cải tạo thế giới nhằm đạt được những mục đích cụ thể của mình đã định” Bản thân khái niệm “phương

pháp” cũng có sự phân loại giữa phương pháp chung, phương pháp riêng và phương pháp đặc thù Ở đây, giữa “phong cách” và “phương pháp” có sự khác biệt rất rõ:

Thứ nhất, nếu phương pháp là hệ thống các phương tiện, thao tác, cách

thức hành động thì phong cách là sự cụ thể hoá, sự thực hành từng phương

pháp trong hành động

Thứ hai, Phương pháp mang tính định hướng chung, không ổn định ở

một chủ thể còn phong cách mang tính cụ thể, ổn định được thể hiện ở mỗi chủ

thể Bởi lẽ, cùng một phương pháp nhưng mỗi chủ thể lại vận dụng ở mỗi thời điểm và cách thức khác nhau, tạo nên cái riêng của chủ thể đó - Đây là phong cách

Thứ ba, phương pháp có nhiều loại nên được thể hiện ở các chủ thể khác

nhau với những màu sắc khác nhau Còn phong cách là đặc điểm riêng, mang

đặc trưng của chủ thể

Thứ tư, Phương pháp là những nguyên tắc mang tính khách quan được

con người khái quát trong quá trình nhận thức thế giới, còn phong cách luôn

chứa đựng yếu tố chủ quan, được thể hiện thông qua lăng kính chủ quan của

con người

Thứ năm, phương pháp thể hiện cách thức tiến hành, còn phong cách bao

hàm cả cách thức, nội dung, mục đích và kết quả của việc thực hiện phương

pháp ấy trong hoạt động của con người

Như thế, có thể hiểu phương pháp là cái mang tính chung, định hướng còn việc vận dụng cái chung đó ở mỗi chủ thể khác nhau sẽ tạo ra cái riêng, đặc

Trang 19

trưng riêng cho chủ thể, đó là phong cách Tuy nhiên, giữa phương pháp và phong cách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cả hai đều là kết quả của quá trình con người tìm hiểu, khái quát, lựa chọn và vận dụng trong thực tiễn nhằm đạt được một mục đích nhất định Phương pháp chỉ được thực hiện thông qua hoạt động của con người và bằng cách đó, thông qua đó chủ thể xác lập cho mình một phong cách riêng

1 1 2 Khái niệm tư duy

Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: “ Tư là suy nghĩ, “duy” là sự liên kết

Tư duy là quá trình phản ánh tích cực và có tính khái quát thế giới hiện thực khách quan vào trong ý thức của con người, thông qua hoạt động của một thứ vật chất hữu cơ đặc biệt tức là bộ óc và trên cơ sở những tài liệu của cảm giác, tri giác, biểu tượng, thu nhận được nhờ sự tác động vào các giác quan, của những sự vật và hiện tượng bên ngoài” [29, tr.794]

Trong Từ điển triết học có viết: “Tư duy- sản phẩm cao nhất của cái vật

chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại”

[48, tr.634]

Trong Những khía cạnh tâm lý của quản lý, định nghĩa: “Tư duy là quá

trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hoặc các hiện tượng của hiện thực khách quan” [27, tr.292]

Trong Tâm lý học đại cương, định nghĩa: “Tư duy là một quá trình

nhận thức, phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan

hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [14, tr.107]

Trong Từ điển tiếngViệt tường giải và liên tưởng định nghĩa: “Tư

duy là vận dụng trí tuệ vào những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có để suy ra những ý nghĩ, những điều phán đoán… và ở trình độ cao để phát hiện cái mới trong nhận thức của con người về sự vật” [66, tr.129]

Trang 20

Như vậy, xung quanh khái niệm “tư duy” có nhiều cách định nghĩa khác nhau Có định nghĩa nghiêng về khía cạnh tâm lý học, có định nghĩa khá dài, chưa cô đọng, thiếu tập trung như trong định nghĩa của “Từ và ngữ Hán Việt” hay trong “Từ điển triết học”, v.v Trên cơ sở đó, có thể thấy: “Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp thông qua lăng kính chủ quan của con người và được tiến hành bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, v.v., nhằm tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết”

Nói cách khác, Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những

thành tựu đã thu được qua nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật

Tư duy khác tư tưởng

Trong Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng định nghĩa: “Tư tưởng là:

1 Sự suy nghĩ, hoạt động của trí tuệ nhằm một đối tượng cần biết, cần nghiên cứu, có tư tưởng sâu sắc, tiến bộ

2 Toàn bộ những sản phẩm của trí tuệ hợp thành một học thuyết.” [66, tr.192]

Trong “Từ điển Bách khoa Việt nam”, quan điểm của chủ nghĩa Mác -

Lênin về tư tưởng chỉ rõ: bản chất của tư tưởng là hình thức phản ánh thế giới bên ngoài bao gồm một mục đích, một ý định, một triển vọng để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo thế giới bên ngoài Vì thế, tư tưởng là kết quả của sự khái quát hoá kinh nghiệm của sự phát triển tri thức Tư tưởng dùng làm nguyên tắc để giải thích các hiện tượng bên ngoài

Như vậy, xung quanh hai khái niệm trên có nhiều cách hiểu khác nhau,

từ đó có thể khẳng định, “tư duy” là quá trình phân tích, tổng hợp những tri thức thông quan bộ não người Còn “tư tưởng” là kết quả của quá trình tư duy

được thể hiện ra thành những quan điểm, lập trường, chính kiến của chủ thể tư

duy Ở đây, sự khác biệt giữa tư duy và tư tưởng biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất, “tư duy” là quá trình suy nghĩ, còn “tư tưởng” là kết quả

của quá trình ấy

Trang 21

Thứ hai, Tư duy là biểu hiện bên trong, là nội dung của nhận thức còn

tư tưởng là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhận thức

Thứ ba, mục đích của tư duy là thu được những tri thức mới trên cơ sở

nhưng tri thức ban đầu giúp cho con người có những nhận thức sâu hơn về thế giới, còn những tư tưởng có vai trò trực tiếp cải tạo thực tiễn thông qua hành động của con người

Thứ tư, tư duy tồn tại trong bộ não người, còn tư tưởng thể hiện qua

ngôn ngữ (bao gồm tiếng nói và chữ viết)

Tuy nhiên, giữa tư duy và tư tưởng có mối quan hệ qua lại nhau, trong

đó, “tư duy” là cơ sở, là tiền đề để có “tư tưởng”, đến lượt mình “tư tưởng” là tài liệu, là căn cứ cho quá trình tư duy ở giai đoạn sau Và xét đến cùng thì cả hai đều phản ánh nhu cầu giải thích thế giới và cải tạo thế giới của con người Năng lực tư duy và kết quả của quá trình tư duy (tức là tư tưởng) sẽ phản ánh trình độ nhận thức và cải tạo thế giới của mỗi người là khác nhau Do vậy, tư duy và tư tưởng tồn tại ở mỗi người là khác nhau

1 1 3 Phong cách tư duy

Trên cơ sở tìm hiều khái niệm “phong cách”, “phương pháp”, “tư duy”,

“tư tưởng” có thể thấy: Phong cách tư duy là những đặc điểm riêng, có tính hệ thống, ổn định trên cơ sở thực hiện phương pháp tư duy của một chủ thể nhất định Ở đây, trong phong cách tư duy có sự thống nhất giữa cách thức thực hiện phương pháp tư duy với nội dung và kết quả của tư duy Bởi lẽ, khi tư duy tức

là chủ thể đang thực hiện một phương pháp tư duy nhất định Bằng phương pháp đó và thông qua phương pháp đó với những nội dung tri thức nhất định, chủ thể sẽ đạt được kết quả của quá trình tư duy Đó là những tư tưởng, quan điểm Do đó, phong cách tư duy là sự thống nhất của các yếu tố: cách thức tư duy, nội dung tư duy, kết quả tư duy và mục đích của tư duy Sự tổng hợp của các yếu tố này tạo thành phong cách ở mỗi chủ thể là khác nhau Vì vậy, phong cách tư duy bao giờ cũng thể hiện ra thành những đặc trưng cụ thể và phong cách tư duy chính là sự hoà quyện của cả phương pháp tư duy, quá trình tư duy

và kết quả của quá trình ấy

Trang 22

Giữa phong cách tư duy và phương pháp tư duy có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất Phương pháp tư duy là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy luật tồn tại, vận động của bản thân sự vật, hiện tượng được con người nhận thức, vận dụng để định hướng, điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của mình, nhằm biến đổi sự vật, hiện tượng theo mục đích đã định Chính cách vận dụng phương pháp tư duy để định hướng, điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn sẽ là cơ sở

để tạo nên phong cách tư duy Cho nên, có thể có nhiều phong cách tư duy khác nhau ở các chủ thể khác nhau, mặc dù ở họ có chung một phương pháp tư duy Cũng vì vậy mà nói tới phong cách tư duy là nói tới nét độc đáo, đặc trưng của một chủ thể nhất định ( chủ thể có thể là một con người, một nhóm người, một lớp người hay một dân tộc, một vùng lãnh thổ)

Phong cách Hồ Chí Minh là một điển hình cho phong cách của người Việt Nam Song, đây là phong cách của một con người với cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí mẫn tuệ, cái hành mực thước, phong cách của một lãnh

tụ, một chiến sỹ cộng sản chân chính Đó là phong cách của người anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại Phong cách Hồ Chí Minh không phải chỉ để cho mọi người ca ngợi, chiêm ngưỡng, sùng bái mà là tấm gương để mọi người noi theo, học tập Không phải chỉ người Việt Nam, từ lao động chân tay đến lao động trí óc, từ già đến trẻ, từ miền xuôi đến miền ngược, từ người tu hành đến các chính khách, thương gia

mà cả người nước ngoài ở phương Đông hay phương Tây đều tìm thấy ở phong cách Hồ Chí Minh những nét gần gũi, không xa lạ, có cả phong cách của chính mình

Phong cách Hồ Chí Minh là một chỉnh thể, phát triển theo logic đi từ suy nghĩ (phong cách tư duy) đến nói, viết (phong cách diễn đạt) và biểu hiện ra qua hoạt động sống hàng ngày (phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt) Năm mặt chủ yếu này tạo thành hệ thống phong cách Hồ Chí Minh trong đó phong cách tư duy giữ vai trò chủ đạo, chi phối và được thể hiện

Trang 23

thông qua các phong cách khác Tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều này

1.2 Phong cách tư duy Hồ Chí Minh

Phong cách Hồ Chí Minh, theo các tác giả cuốn Phương pháp và phong

cách Hồ Chí Minh có viết: “ Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách của một

người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, một lãnh tụ thiên tài của Đảng và của cả dân tộc, một chiến sỹ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế” [26, tr.134]

Phong cách tư duy của bản thân Hồ Chí Minh trong quá trình tư duy đã đóng vai trò trực tiếp dẫn đến việc xác lập những tư tưởng lớn của Người Mục đích tư duy của Hồ Chí Minh là suy nghĩ từ những cứ liệu thực tiễn Việt nam,

từ di sản tư tưởng của những người lớp trước và những người đương thời để đi tới xác định tư tưởng của chính mình Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của một quá trình tư duy khoa học Đó không phải là con số cộng những tư tưởng của quá khứ và đương thời Bắt nguồn từ truyền thống văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là từ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã kế thừa những giá trị tư tưởng của những người đi trước và đặc biệt quan trọng là

đã xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để vận dụng sáng tạo, hơn nữa còn phát triển những giá trị ấy, nhằm đưa ra những tư tưởng lớn đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, của cách mạng thế giới và phù hợp với xu thế của thời đại Tuy nhiên, căn cứ để tìm hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ

là tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong các di cảo và hành động của người mà cũng cần tìm hiểu thông qua đường lối, quan điểm của Đảng và những học trò gần gũi với Người, đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi Vậy, phong cách tư duy Hồ Chí Minh được hình thành dựa trên những cơ sở nào?

1.2.1 Cơ sở hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.2.1 Tư duy dân tộc Việt Nam

Có thể nói, phong cách tư duy của dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến phong cách tư duy Hồ Chí Minh Một trong những điểm nổi bật của tư duy

Trang 24

người Việt chính là tư duy mang tính triết lý bình dân, cụ thể, thiết thực Trong

lịch sử văn hoá Việt Nam cho ta thấy, từ rất sớm người Việt Nam đã thể hiện những thái độ ứng xử và tình cảm của con người đối với những vấn đề của cuộc sống Điều đó thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ trong kho tàng văn học dân gian của người Việt Nam Tìm hiểu kho tàng ca dao, tục ngữ chúng ta sẽ thấy được phong cách tư duy người Việt, một tư duy mang tính triết lý nhưng lại mượn những hình ảnh đời thường, quen thuộc, gắn bó với cuộc sống hàng ngày để ví von, để đúc kết những kinh nghiệm về cuộc sống Những hình ảnh

ấy thường gắn với thiên nhiên, với lao động, với những thăng trầm của lịch sử

xã hội, của nhân dân Nó thể hiện kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng, đạo đức hay kinh nghiệm trong sản xuất, những kinh nghiệm về thời tiết, chăn nuôi, những lời than hay những niềm mơ ước, lạc quan, v.v Chúng ta có thể tìm thấy vô vàn những dẫn chứng cho tư duy ấy của người Việt Nam Chẳng hạn:

Khi nói về cảnh cực khổ của người nông dân dưới chế độ phong kiến, ca dao có câu:

Gánh cực mà đổ lên non Cong lưng mà chạy, cực còn theo sau;

hay khi nói về triết lý sống, ca dao có những câu sau:

Ai ơi đừng chóng chớ chày

Có công mài sắt, có ngày nên kim;

Những người thắt đáy lưng ong Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con…

Nói về thân phận của người phụ nữ thường dân đang bế tắc trong xã hội phong kiến, có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau Dân gian thường dùng những biểu tượng trong thế giới động vật để ví von:

Em như con hạc đầu đình Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay…

Khi nói về kinh nghiệm thời tiết như:

Ai ơi nên nhớ lấy lời Trông cơ trời đất liệu thời làm ăn…

Trang 25

Như vậy, tự nhiên có khả năng chi phối hoạt động sống, lao động sản xuất nhưng con người từ sự nắm rõ những quy luật của trời đất lại đúc rút ra những kinh nghiệm để rồi lại tác động lại tự nhiên, để tự nhiên phục vụ tốt nhất cho hoạt động sống của mình

Có nhiều lý do để giải thích kiểu tư duy triết lý, bình dân, cụ thể của người Việt Nam nhưng có thể thấy hai nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất là xuất phát từ đặc điểm của nước ta là nước nông nghiệp trồng

lúa nước mà nghề nông là một nghề không tách khỏi tự nhiên và thời tiết Con người phải luôn phụ thuộc vào thời tiết để sản xuất Sự quan sát ấy đã trở nên thuần thục, con người đã nắm được các quy luật, diễn biến của tự nhiên, thời tiết một cách dễ dàng như thuộc bàn tay Từ đó, họ ứng dụng vào sản xuất, hình thành nên những kinh nghiệm của mình

Thứ hai, do sự lạc hậu về trình độ khoa học kỹ thuật và đặc trưng của

ngành nghề buộc người nông dân phải phụ thuộc chặt chẽ vào khí hậu, thời tiết

Sự quan sát, chú ý, suy nghĩ qua nhiều thế hệ đã giúp họ nắm được một phần các quy luật của tự nhiên Từ sự nắm rõ các quy luật ấy, bằng óc sáng tạo của mình, con người đã có những biện pháp thực hiện thay đổi nhau cho phù hợp và hợp thời nhất, tác động vào tự nhiên để tự nhiên trở nên thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất của mình

Rõ ràng, tư duy người Việt Nam là tư duy triết lý về cái bình dị để nuôi lớn nhân cách con người Đó là tư duy dùng cái cá biệt để nói cái phổ biến Một

tư duy luôn xuất phát từ thực tiễn, từ chính đời sống thường ngày để khái quát

thành triết lý: rất bình dị, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục con người Chính Hồ Chí Minh đã tiếp thu được cái

“minh triết” ấy của người Việt Nam Đọc các tác phẩm của Người, chúng ta thấy Người không bận tâm nhiều đến các lý thuyết, luận điểm phức tạp, mà luôn diễn đạt một cách đơn giản, hồn nhiên như mọi người dân quan niệm Độc lập, tự do, cơm ăn, áo mặc, học hành… là những gì thiết thực nhất, cụ thể nhất đối với đời sống dung dị của con người Những suy nghĩ, mong ước và hành động của Người luôn được bắt đầu từ yêu cầu của thực tiễn để rồi cải tạo thực

Trang 26

tiễn theo mong ước của đồng bào mình Muốn vậy, cần phải đi từ cái cụ thể nhất, gần gũi nhất, thiết thực nhất với quần chúng, để từ đó vận động, giáo dục

và hướng dẫn quần chúng, đưa quần chúng ra với ánh sáng của độc lập, tự do,

ấm no, hạnh phúc Vì vậy, cụ thể, thiết thực, hiệu quả, mọi suy nghĩ đều xuất phát từ thực tiễn - đó là đặc trưng của phong cách tư duy Hồ Chí Minh Phong cách tư duy của một con người là đại biểu điển hình nhất cho phong cách tư duy của một dân tộc - phong cách tư duy Hồ Chí Minh - phong cách tư duy Việt Nam

Mặt khác, cũng chính vì đặc tính của nền nông nghiệp trồng lúa nước đã

tạo nên cho người Việt một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, có thể ví với “nước”

Nhờ đó, người Việt có khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh Trong lao động, sản xuất cũng như trong chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày, người Việt Nam luôn biết ứng phó linh hoạt, uyển chuyển Ca dao ta khi nói về kinh nghiệm sản xuất và chăn nuôi có câu :

Mồng chín tháng chín có mưa, Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn

Mồng chín tháng chín không mưa, Thì con bán cả cày bừa đi buôn…

Tất cả đều hoà quyện tạo thành nét đặc trưng riêng của tư duy người Việt Nam mà sau này chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam tiêu biểu nhất cho tư duy đó Ở Người, tư duy mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn kiên định lập trường đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động cách mạng của Người Bài thơ

Học đánh cờ là một điển hình cho đặc trưng ấy trong tư duy Hồ Chí Minh

Người luôn có sự linh hoạt, tiến thoái phù hợp, tận dụng thời - thế để giành thắng lợi hoàn toàn :

Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ, Kiên quyết không ngừng thế tấn công;

Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, Gặp thời, một tốt cũng thành công [37, tr.287]

Trang 27

Nói đến tư duy người Việt, ta còn thấy một điểm nổi bật khác, chính là

tư duy sáng tạo của người Việt Nam.Tư duy ấy được thể hiện trong việc tiếp

thu có chọn lọc nền văn hoá nhân loại để làm phong phú hơn bản sắc dân tộc

Nhờ đó, khi Nho giáo vào Việt Nam, được Việt hoá và trở thành một tư tưởng Nho giáo yêu nước của Việt Nam Cũng như vậy, đối với các hệ tư tưởng khác như Phật giáo, Lão giáo, Thiên chúa giáo, v.v., đều đựơc Việt hoá, mang “màu sắc Việt Nam”, nó không còn nguyên bản như bản thân nó Tư duy này càng thể hiện rõ trong những giai đoạn sau này, qua những con người Việt Nam cụ thể Độc lập, tự chủ, sáng tạo chính là một đặc điểm nổi bật nhất của phong cách tư duy Hồ Chí Minh Người là một mẫu mực cho sự kế thừa, phát triển và nâng tư duy truyền thống của dân tộc lên một tầm cao mới Đặc điểm này chi phối và thể hiện xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiêp của Người trên mọi lĩnh vực và trở thành phong cách tư duy nổi bật của Hồ Chí Minh”

Ngoài những đặc điểm nêu trên, tư duy người Việt Nam ưa chuộng

những giai điệu mềm mỏng, nhẹ nhàng, dịu dàng, êm ái, thích những âm thanh,

âm sắc gần gũi với tự nhiên, cỏ cây, hoa lá, màu sắc hài hoà Ngôn ngữ Việt -

cái vỏ vật chất tư duy - giàu tính nhạc bởi 6 thanh đã tạo nên những từ tố gợi cảm, chỉ người Việt mới cảm thụ hết cái hay, cái đẹp, cái nên thơ của nó Từ những chất liệu bình thường trong đời sống dân dã, đã tạo nên những hình tượng xúc động, có sức truyền cảm lớn qua thơ ca Việt Nam Từ các biểu tượng trong thế giới tự nhiên như: trăng, sao, mây, gió…; cây, cỏ, hoa, lá…; rồng, phượng, chim muông…; đến các vật thể nhân tạo như: áo, khăn, gương, lược, nhà, đình, cầu, thuyền, v.v., đều được đi vào thơ ca với những giai điệu nhẹ

nhàng, êm ái, lãng mạn, dễ đi vào lòng người

Như vậy, từ những chi tiết trong tự nhiên và những vật thể nhân tạo, rất đời thường, gần gũi, quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, người Việt Nam đã biết ví von, ẩn dụ với những thủ pháp nghệ thuật để tạo ra một đặc trưng văn hoá của dân tộc mình Chính nó là một biểu hiện cụ thể của tư duy nhẹ nhàng, gần gũi với thiên nhiên, một tư duy trọng tình của người Việt Nam

Dù diễn đạt dưới hình thức nào, phương pháp ra sao… thì trọng tâm vẫn xung

Trang 28

quanh vấn đề con người Tư duy nhân văn, lấy con người làm trung tâm, tất cả đều do con người, vì con người và của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng

là một người Việt Nam tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn ấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp,

đó là bốn yếu tố lịch sử tác động qua lại, đa dạng và quyện chặt vào nhau, bắt đầu từ một con người và cuối cùng thể hiện trong một sự nghiệp” [8, tr.8] Sự nghiệp ấy của một con người, là biểu trưng cao quý nhất của một dân tộc và sáng ngời một thời đại - thời đại Hồ Chí Minh trong dân tộc Việt Nam

1.2.2.2 Tư duy phương Đông

Tư duy phương Đông cũng là một nguồn gốc quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh Trên nền tảng của tư duy dân tộc, Người đã kế thừa, vận dụng một cách tài tình tinh hoa văn hoá phương Đông để

bổ sung, phát triển và hoàn thiện phong cách tư duy Việt Nam nói chung trong

đó Hồ Chí Minh là điển hình

Một trong những nét nổi bật của truyền thống văn hoá phương Đông là

“một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết” Bởi lẽ, đối với

cả Việt Nam và phương Đông, cũng có khi không cần nói mà làm, thấy làm đúng, làm phải, khắc mọi người làm theo Nói theo cách nói của nhà nghiên cứu

Lê Trí Viễn, đó là phương pháp tư duy kiểu “vô ngôn” Đó là “nếp” tư duy trực

cảm phương Đông, “vô ngôn” nhưng biểu hiện ra hành động và có hiệu lực trong thực tiễn Truyền thống này đựơc Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo Người thường xuyên chứng minh lý luận bằng thực tiễn, bằng hành động, bằng việc làm Điều này hoàn toàn phù hợp với phong cách tư duy Việt Nam và tư duy phương Đông Trong khoảng 10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi xuống thăm, tiếp xúc với cơ sở địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội… Mỗi năm có hơn 70 lần xuống cơ sở, mỗi tháng có tới 6 lần gặp gỡ, tiếp xúc với quần chúng [6, tr.79] Điều này đủ thấy

Hồ Chí Minh gắn bó, sâu sát với quần chúng, cơ sở, với thực tiễn như thế nào

Có thể nói, cái tinh tuý của tư duy Việt Nam, tư duy phương Đông đã được Hồ Chí Minh kế thừa, rèn luyện, trau dồi trở thành cái “thần” rất Hồ Chí Minh

Trang 29

Nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một điển hình của tư duy mềm

dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, một tư duy “động” của phương Đông Đây là một

tư duy nổi bật của người phương Đông Điều này bắt nguồn từ quan niệm cho rằng, thực tại luôn biến đổi, thế giới mà chúng ta đang sống không tĩnh mà động, mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại bất biến mà luôn trong quá trình chuyển hoá thành một trạng thái khác Lấy một ví dụ: lá cây vào mùa xuân là màu xanh, sang mùa thu thì chuyển thành màu vàng và vào mùa đông thì rơi rụng xuống đất, không còn trên cành nữa Chính vì thực tại luôn thay đổi, nên người phương Đông cũng cho rằng, các cặp phạm trù đối ngược, nghịch lý, bất thường luôn tạo ra trong cuộc sống Cũ và mới, tốt và xấu, mạnh và yếu tồn tại trong mọi thứ Nếu một người sống trong môi trường nhiều người tốt, anh ta dễ trở thành người tốt, và ngược lại, sống trong môi trường nhiều người xấu cũng ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Vì thế, cái “tôi” trong phương Đông không bất biến mà luôn thay đổi, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và các yếu tố khác tác động Điều này thể hiện rất rõ trong tư tưởng của các nhà triết học phương Đông, điển hình là Lão Tử với quan niệm: hai mặt đối lập luôn tồn tại chung với nhau, đối chọi nhau nhưng có liên quan với nhau và kiềm chế lẫn nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết kế thừa tư duy biện chứng sơ khai ấy và nâng lên một tầm cao mới trên nền tảng triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Một trong những đặc điểm khác của tư duy phương Đông là sự hợp nhất,

hoà đồng giữa con người với tự nhiên, với vũ trụ bao la Âm - Dương giao cảm

với nhau tạo nên vạn vật, biểu tượng tối cao của hai khí Âm - Dương là Đất - Trời Đất - Trời giao cảm là cội nguồn của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội Người Trung Hoa cổ đại còn cho rằng: Đất, trời, Người là ba kho báu của

vũ trụ Nằm giữa Trời - Đất là con người Do đó, người ta coi “ con người” là con của Trời và Đất, là lực lượng trung gian nối Trời - Đất lại với nhau

Quan niệm thiên - nhân hợp nhất, hoà đồng ấy được biểu hiện trong tâm tưởng Hồ Chí Minh bằng sự gắn cuộc sống của mình với cỏ cây, sông, núi, con người tự nhiên hoà đồng với xã hội rồi cùng hoà nhập vào vũ trụ bao la Có thể

Trang 30

nói: mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông… đã chiếm một phần rất quan trọng trong tâm tưởng của Người từ thiếu thời cho đến lúc đi xa Tư duy, niềm tin, tình cảm, tâm hồn của Người luôn luôn gắn với tự nhiên, với vũ trụ bao la Điều

này thể hiện rõ qua chính những tác phẩm thơ ca của Người Trong tập Nhật ký

trong tù đã có không ít những bài thơ nói lên điều đó:

Ngắm trăng Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ [37, tr.288 ]

Như vậy, cùng với tư duy Việt Nam, tư duy phương Đông là nguồn gốc quan trọng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh Nhờ đó, phong cách tư duy Hồ Chí Minh vừa mang đậm tính dân tộc, lại vừa đầy chất phương Đông, nhưng lại phù hợp với sự phát triển của nền văn hoá nhân loại Đặc điểm đó còn chịu sự ảnh hưởng của tư duy phương Tây đến sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.2.3 Tư duy phương Tây

Hồ Chí Minh cũng còn chịu ảnh hưởng trực tiếp phong cách tư duy phương Tây (đề cao các giá trị tư tưởng và năng lực trí tuệ, nặng về tư duy - duy lý…) Người đi nhiều nước, biết nhiều thứ tiếng, đọc nhiều sách, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, nhất là nhân dân lao động

và giới trí thức Thực tiễn phong phú và sinh động đó đã ảnh hưởng không nhỏ trong việc hình thành phong cách tư duy sáng tạo vừa duy lý vừa duy nghiệm ở

Hồ Chí Minh

Nguyễn Ái Quốc thâm nhập vào phương Tây dễ dàng, tự nhiên Qua các chuyến đi khắp các lục địa, qua tiếp xúc quảng giao, hoạt động xã hội và cách mạng, Anh nhanh chóng tăng vốn hiểu biết tri thức và kinh nghiệm cuộc đời

Tư tưởng phương Tây lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, Nguyễn Ái Quốc học ở đó phương pháp phân tích, nhất là phân tích duy vật biện chứng mác xít Nhà ngoại giao Pháp Xanhtơny, người được coi là một

Trang 31

trong những nhân vật phương Tây biết rõ Bác Hồ nhận định là, bổ sung vào những tri thức uyên thâm của truyền thống, “vốn hiểu biết chung (mà Nguyễn

Ái Quốc) tiếp thu được qua các chuyến đi, nhất là ở Pari, cũng đủ để phát triển khả năng phân tích, sự mềm dẻo và đầu óc tò mò tìm hiểu mà trong cuộc đời ông sẽ sử dụng rất tốt” [58, tr.20] Nguyễn Ái Quốc đã học được nhiều ở những đảng viên đảng xã hội và cộng sản Pháp Anh kết bạn với Giăccơ Đuycơlô, Macxen Casanh, Giăng Lônghê là cháu ngoại của Mác Anh dự những buổi nói chuyện của nhà văn và nhà hoạt động chính trị Xêvơrinow Anh thường phát biểu ở Câu lạc bộ Ngoại ô Anh tham gia thảo luận đủ các vấn đề, từ thiên văn học, chính trị, văn học đến cách trồng rau cơrexoong và nuôi ốc sên

Năng khiếu phân tách của Nguyễn Ái Quốc càng được mài giũa từ khi Anh bước vào lĩnh vực báo chí Tổng biên tập báo “Sinh hoạt công nhân” dẫn dắt Anh đi những bước đầu Ông bắt Anh viết thật ngắn, độ năm sáu dòng, rồi viết dài ra, rồi lại viết ngắn lại Cách thể hiện ý tứ một cách cô đọng, chú trọng đến cốt lõi vấn đề, rất hợp với triết lý Á Đông Tính trong sáng của văn hoá La - tinh và sự phân tích lý tính không hề bóp nghẹt trong Bác tư duy phương Đông hướng về tổng hợp và trực giác là tiền đề của sự nhạy bén chính trị

Nguyễn Ái Quốc cũng là trong số ít người Việt Nam đầu tiên đã tiếp nhận và tôi luyện những khái niệm “Tự do, dân chủ, tiến bộ” ở phương Tây Những tư tưởng ấy trở thành những lý tưởng cách mạng mà sau này Người bỏ phiếu cho Đệ Tam quốc tế và đảng Cộng sản Pháp chỉ vì hai tổ chức này bênh vực chính nghĩa của những dân tộc thuộc địa Etmông Misơlê, Bộ trưởng các quân chủng Pháp, người được uỷ nhiệm tiếp Hồ Chủ Tịch ở Pari năm 1946, nhận định như sau về sắc thái chính kiến của Bác: “Đó là một người cộng sản theo lý tưởng… Tôi thấy ông dường như luôn luôn chịu ảnh hưởng của tác giả lớn của ông là Mác, chắc chắn là cả Lênin nữa… Nhưng trong ông có Giôrex… Ông là người đã chọn chủ nghĩa cộng sản, đúng thế, nhưng có một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc Tôi cho là trong thế giới cộng sản, ông chắc là một trong những người chấp nhận cách mạng cộng sản chủ nghĩa, phải… nhưng trong tự do”[47, tr.8]

Trang 32

Trong khi đề cao nhân dân, Hồ Chí Minh, tuy xuất thân từ một nền văn hoá nặng về cộng đồng, tập thể đã không hy sinh cá nhân con người Phần nào

đó cũng do ảnh hưởng văn hoá phương Tây nặng về cá nhân, và theo đúng tinh

thần bản Tuyên ngôn cộng sản của Mác về mối quan hệ tự do cá nhân và tự do

tập thể

Hài hước của Hồ Chí Mimh cũng pha lẫn Đông và Tây, kết hợp nhiều yếu tố: láu lỉnh và hồn nhiên nông dân với giọng châm biếm của nhà nho Việt Nam, cái dí dỏm của dân Pari Rất ghét tôn sùng cá nhân, Hồ Chí Minh biết tự nhạo mình và nhạo người khác, không ngần ngại đùa, nói vui với mọi người; tránh lề thói trịnh trọng câu nệ Trong kháng chiến chống Pháp, có lần Bác đi

bộ khá lâu trong rừng để đến thăm một đơn vị bộ đội Các chiến sỹ ta mừng rỡ đón Bác, hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm!” Bác cười đáp lại “Hồ Chủ tịch muốn nằm”, v.v

Có thể nói, phương Đông và phương Tây, quốc gia và quốc tế, hành động và thi ca, truyền thống và cách mạng, lý tính và tình cảm, những khác biệt

ấy đã được Hồ Chí Minh gắn kết trong mối quan hệ biện chứng Sức mạnh của phương Tây là tư duy duy lý, là hệ thống khái niệm, phạm trù…; ngược lại người phương Đông lại thiên về tư duy kinh nghiệm, nặng về tình cảm, coi trọng tình nghĩa, lý kết hợp với tình, đôi khi xem tình nặng hơn lý Sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình, rất tự nhiên giữa sức mạnh tư duy phương Đông với phong cách tư duy phương Tây là một trong những cơ sở để cắt nghĩa

về sự thống nhất giữa tình cảm cách mạng trong sáng với lý trí khoa học trong

tư duy của Người Đúng như triết gia Pháp Pátxcan đã viết, “người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và đắp đầy khoảng giữa”

1.2.2.4 Tư duy biện chứng Mác - xít

Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa phong cách tư duy Việt Nam, tư duy phương Đông mà còn kế thừa toàn bộ những tinh hoa trí tuệ của tư duy phương Tây, đặc biệt là phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin Chính người đã từng nói, chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc

Trang 33

biện chứng Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất đến phong cách

tư duy Hồ Chí Minh

Tiếp thu và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn con đường như Lênin đã vạch, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy vào hoàn cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Tuy không để lại cho chúng ta những “tác phẩm triết học” hoàn chỉnh, nhưng qua những tác phẩm của Người, chúng ta thấy tư duy biện chứng và quan niệm duy vật được thể hiện một cách hết sức rõ nét Đây là kết quả, là sản phẩm của một quá trình tìm tòi, học tập, nghiên cứu, tiếp biến một cách sáng tạo tinh hoa văn hoá nhân loại Có thể nói, trong hầu hết các tác phẩm mà Hồ Chí Minh đã để lại, tư duy biện chứng luôn chiếm phần nổi trội Chẳng hạn, từ

mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng Người đã vận dụng để giải quyết

quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể “cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ

mà càng phải hoà mình trong tập thể, trong xã hội” [43, tr.282]; hoặc “Lợi ích chung của nước nhà và lợi ích riêng của người dân là nhất trí; quyền lợi của công dân và nghĩa vụ của công dân là nhất trí” [41, tr.453]

Về quan điểm toàn diện, Người dạy chúng ta rằng, khi xem xét, đánh giá

con người, cán bộ phải có quan điểm lịch sử - cụ thể và toàn diện Trong “ Sửa đổi lối làm việc”, Người viết: “Xem xét cán bộ, không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ” [39, tr.278]

Phát triển là một nguyên lý của phép biện chứng, nguyên lý này được

Hồ Chí Minh vận dụng một cách khá thành công trong cuộc sống thông qua những lời nói mộc mạc, đơn sơ, nhưng thể hiện tư duy biện chứng sâu sắc Tại lớp nghiên cứu chính trị khoá I, trường Đại học nhân dân Việt Nam (21-7-1956) Người nói: “Thời gian các bạn nghiên cứu ở trường này tương đối ngắn ngủi… Những điều các bạn đến nghiên cứu ở đây có thể ví như một hạt nhân bé nhỏ Sau này, các bạn sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho hạt nhân ấy mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết trái” [42, tr.215]; hoặc trong thư gửi các bạn thanh niên (17 -8-1947), Người viết: “Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ

Trang 34

dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao…cứ như thế mà phát triển mãi không ngừng” [39, tr.186].

Về mặt đối lập, Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong

lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng” [46, tr.558]

Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc phép biện chứng duy vật, đã vận dụng thành công phép biện chứng đó và hơn thế nữa, Người còn dạy cho chúng

ta cách tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta Học để làm; “Lý luận đi đôi với thực tiễn” [43, tr.292] Trên quan điểm đó, Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên: “…phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin… mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng

ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta”[42, tr.494] Cho nên, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, đối với Người, là phải học “cái tinh thần

xử trí mọi việc, đối với mọi mgười và đối với bản thân mình” [43, tr.292]

Như vậy, có thể thấy tư duy Việt Nam, tư duy phương Đông, phương Tây, chủ nghĩa Mác - lê nin là những cơ sở khách quan quyết định sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của tư duy, chúng ta thấy yếu tố sinh học và sự tiến hoá của nó đóng vai trò hết sức quan trọng, song cái quyết định tính sáng tạo của tư duy phải là các quan hệ

xã hội Điều đó cho ta thấy, những cơ sở khách quan là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh, vì vậy cần có những nhân tố chủ quan thuộc về năng lực và phẩm chất cá nhân của Chủ Tịch

Hồ Chí Minh

1.2.2.4 Nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh

Nói về những nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh, có thể kể đến những nhân tố đó là trí thông minh, sắc sảo, nhạy bén với cái mới, thiết thực, cụ thể, ham học hỏi; có tư duy độc lập sáng tạo; có trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng, được tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác nhau, biết nhiều ngoại ngữ; một con

Trang 35

người sống có hoài bão, có lý tưởng yêu nước thương dân sâu sắc, nhất là đối với người cùng khổ bị áp bức bóc lột; có bản lĩnh kiên định, khí tiết kiên cường trong đấu tranh thực hiện mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn; Người còn là một con người có lòng tin mãnh liệt ở nhân dân; có ý chí, nghị lực phi thường; có đầu óc thực tiễn, thiết thực cụ thể, lý luận gắn liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm; Người là một con người mẫu mực về đạo đức cách mạng; tác phong bình dị, chân tình, khiêm tốn, gần gũi, hoà mình với quần chúng; có sức cảm hoá lớn đối với mọi người

Những năng lực và phẩm chất ấy của Người được thể hiện từ rất sớm

Ngay từ thời niên thiếu, Hồ Chí Minh đã tỏ rõ tinh thần ham mê học tập, say

xưa tìm tòi, nhạy bén với cái mới Chuyện kể lại: “thủa nhỏ, học trò Nam Đàn

hay rủ nhau xuống Vinh mua sách; sách nào mua không được thì cậu Cung đứng lại cửa hàng sách đọc kỳ hết mới đi về, đọc chưa hết thì hôm sau trở lại đọc nữa” [17, tr.26]

Lòng yêu nước, thương dân đã gắn liền với ý chí và hoài bão cứu nước của Người được thể hiện ở những buổi đầu còn đang sống trên quê hương, đất nước mình Người được tận mắt chứng kiến cuộc sống khổ nhục của đồng bào mình và đau xót trước cảnh thống khổ ấy Lúc bấy giờ Người đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào Rõ ràng, không chỉ có trí tuệ thông minh

mà Hồ Chí Minh còn là người sống có hoài bão, có lý tưởng yêu nước, thương

dân sâu sắc Với tấm lòng ấy, Người luôn trăn trở về vận mệnh của dân tộc

Người kính trọng các bậc chí sĩ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, nhưng Người không bằng lòng với đường lối của họ, lại càng không muốn đi theo vết mòn của lịch sử Cho nên, ngày 05 tháng 6 năm 1911, với chân phụ bếp trên chiếc tàu đô đốc Latouche Tréville, Hồ Chí Minh đã rời cảng nhà Rồng, hướng tới phương Tây, tìm đường cứu nước Sau mười năm khảo nghiệm các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội ở nhiều nước gần khắp các châu lục, Người sớm nhận thức rằng: “dù màu da có khác nhau, trên đới nay chỉ

có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ

có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [36, tr.266]

Trang 36

Với tư chất thông minh hơn người, nhạy bén với cái mới, sống vì hoài bão và lý tưởng đã giúp cho người thanh niên 30 tuổi hiểu rõ được con đường cứu nước theo lập trường vô sản Điều đó càng chứng tỏ, Hồ Chí Minh là người

có lòng tin mãnh liệt vào nhân dân lao động, có bản lĩnh kiên định, có khí tiết kiên cường, có phương pháp tư duy khoa học, nói đi đôi với làm, biết gắn lý luận với thực tiễn Do đó, khi trở thành vị lãnh tụ của đất nước, Hồ Chí Minh luôn sống giản dị, khiêm tốn, chân tình, gần gũi với mọi người và trở thành mẫu mực về phong cách, lối sống, đạo đức cho nhân dân noi theo Bản sắc cá nhân

đó được phát huy trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người Đúng như Hêlen Tuốcmêrow đã viết: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn

chỉnh của sự kết hợp: đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của C Mác, thiên tài cách mạng của V.I.Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc Tất cả đều hoà hợp trong một dáng dấp tự nhiên” [2, tr.43]

Chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng nhất góp phần hình thành, củng cố, phát triển phong cách tư duy của Người Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh có thể chia làm ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh còn ở thời niên thiếu và trưởng thành trong

sự giáo dục của gia đình, từ các thầy dạy học tình yêu quê hương, đất nước, sự cảm thông sâu sắc với nỗi vất vả, nhọc nhằn của người lao động Sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc phong cách tư duy thiên về hình ảnh, mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, bình dị, cụ thể, thiết thực của dân tộc và những yếu tố tích cựccủa tư duy phương Đông

Giai đoạn hai, là giai đoạn Người ra đi tìm đường cứu nước Giai đoạn

này, Người đi nhiều nước, đọc nhiều, am hiểu sâu sắc lịch sử tư tưởng và thể chế chính trị của nhiều nước Âu, Phi, Mỹ, Á Thực tiễn sinh động ấy đã mài sắc

tư duy của Người, đồng thời tăng thêm tình cảm của Người đối với những người lao động trên thế giới Ở giai đoạn này, Người đã tiếp thu nhiều giá trị của tư duy chính xác, chặt chẽ về logic của tư duy phương Tây Đặc biệt, Người

đã tiếp thu phương pháp tư duy biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin

Trang 37

Chính phương pháp này đã góp phần chủ yếu trong việc hình thành và củng cố thêm ở Người phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, nâng nó lên một tầm cao mới

Giai đoạn ba, là giai đoạn Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc để lãnh đạo cách

mạng Việt Nam Đây chính là giai đoạn xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt nam và trên cơ sở đó, phong cách tư duy của Người được củng cố, phát triển và hoàn chỉnh Đây cũng là giai đoạn mà tư duy của Người trở nên thiết thực, gắn với thực tiễn đất nước và thời đại Đây cũng là giai đoạn mà Hồ Chí Minh gạn đục, khơi trong, thâu hoá những nhân tố tiến bộ của tư duy Việt Nam, tư duy phương Đông, tư duy phương Tây cũng như phương pháp tư duy biện chứng duy vật vào phong cách tư duy của mình, làm cho phong cách tư duy ấy trở nên rất Hồ Chí Minh - hiện đại, khoa học

Những yếu tố trên được Hồ Chí Minh kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo, linh hoạt hình thành nên phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, thiết thực, gắn với thực tiễn đất nước và thời đại của Người Với phong cách tư duy ấy, Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu, vận dụng đúng đắn mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều mặt và đã nâng tư tưởng Việt Nam lên tầm cao mới Cả bốn nguồn gốc trên là điều kiện cần và đủ tác động tới sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.2.1 Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo

Theo các tác giả cuốn “ Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” khẳng định, đối với Hồ Chí Minh,

- “Độc lập là không lệ thuộc, không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi;

- Tự chủ là tự mình làm chủ suy nghĩ của mình, làm chủ bản thân và công việc của mình, tự mình thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc;

- Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã được thực tiễn kiểm nghiệm

là không đúng, những gì là lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước

Trang 38

kia nhưng đến nay không còn phù hợp; tìm tòi đề xuất những cái mới có thể trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra” [26, tr.141]

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo được hình thành trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh từ rất sớm Ngay từ khi mới 16 tuổi (năm 1906) Hồ Chí Minh vào Huế học Trường Quốc học, nhưng Người sớm nhận rõ nhà trường này chỉ đào tạo ra những mẫu người “ngoan ngoãn” thừa hành mệnh lệnh của thực dân

và phong kiến Khi rời Huế, Người vào Phan Thiết dạy học ở một trường tư Không bao lâu sau, Người thôi dạy học vào Sài Gòn tìm chỗ học nghề Rõ ràng,

có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó phải kể đến một nguyên nhân quan trọng

đó là nhờ có tư duy độc lập, tự chủ mới giúp Người vượt lên những quan điểm thành kiến thời bấy giờ và có một quyết định đúng đắn Bởi lẽ, khi ấy nghề dạy học vẫn là nghề cao quý, lao động chân tay vẫn bị coi là hèn kém

Sau này, khi lựa chọn con đường cứu nước, Người đã quyết định đi sang

phương Tây để tìm hiểu thực tiễn cách mạng ở các nước từ đó trở về giúp đỡ

đồng bào mình Trong bài Thăm một chiến sỹ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái

Quốc của nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam có viết: “Khi tôi độ mười ba tuổi,

lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái ( ) và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì

ẩn giấu đằng sau những chữ ấy” Vì thế mà Người nảy ra ý định muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và Người tới Paris [35, tr.477]

Có thể nói, với sự lựa chọn này chứng tỏ, vào giai đoạn đó tư duy của

Nguyễn Tất Thành đã phát triển đến trình độ chín chắn, độc lập và tự chủ,

không hề bị bối cảnh xung quanh chi phối, thể hiện một bản lĩnh, một nhân

cách riêng của vị lãnh tụ tương lai

Tư duy độc lập, tự chủ còn thể hiện ở việc xác định kẻ thù chính của dân tộc Điều này thể hiện qua cuộc tranh luận giữa quan điểm của Phan Chu Trinh

và Nguyễn Ái Quốc Phan Chu Trinh cho rằng : nguyên nhân làm cho nhân dân Việt Nam “ngu dốt”, xã hội Việt Nam xơ xác cùng cực là do bộ máy vua quan

từ triều đình đến thôn xã Muốn giải quyết tình trạng trên, theo Phan Chu Trinh, không có cách nào khác là phải dựa vào người Pháp “văn minh, hiện đại” hơn,

Trang 39

nhờ người Pháp dìu dắt, bồi dưỡng “giới thượng lưu” bản xứ để từng bước cải

tổ bộ máy cai trị với tư cách là người thanh tra - cố vấn, có nhiệm vụ dìu dắt quan chức An Nam trong việc quản lý công việc của mình

Bằng tư duy rất sắc sảo, thể hiện độc lập tự chủ từ sớm, Nguyễn Ái Quốc

đã tranh luận với Phan Chu Trinh và khẳng định thực dân Pháp mới là kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam Người viết :

Tại sao hai mươi triệu đồng bào ta không làm gì cả để buộc chính phủ phải trả lại cho chúng ta quyền làm người ? chúng ta là người, chúng ta phải được đối xử như con người Tất cả những ai không muốn coi chúng ta như đồng loại với họ đều là kẻ thù của chúng ta Chúng ta không thể chung sống với họ trên cùng một trái đất… Người ta không muốn đối xử với chúng ta như những con người thì thật là vô ích khi phải sống hèn hạ và bị lăng nhục trên trái đất này Chừng nào người ta tước mất của chúng ta quyền công dân và chính trị thì người ta vẫn tiếp tục coi chúng ta như kẻ thù, như nô lệ Trong trường hợp đó, làm sao chúng ta có thể yêu mến và tin cậy những kẻ khinh bỉ chúng ta và coi chúng ta như thù địch [67, tr.4]

Không thể nhất trí với những suy nghĩ và biện pháp của Phan Chu Trinh, trong buổi trao đổi sôi nổi đêm 19-12-1919, Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn nói :

Các bác nhiểu tuổi hơn và từng trải hơn tôi, cả hai bác (ý nói Phan Chu Trinh và Khánh Ký) tin rằng dân An Nam sẽ có thể xin và nhận được cái gì ở chính phủ một nền giáo dục ! Đồng bào ta đã từng đòi hỏi điều đó từ 60 năm nay và họ đã nhận được những gì ? Quả là quá ít ! Về sự tham gia của người

An Nam vào việc quản lý xứ sở ? Người ta sẽ nói với các bác rằng hiện nay chính quyền An Nam đang cai trị xứ sở ? Về việc hưởng thụ quyền công dân ? người ta sẽ nói với các bác rằng các người chưa đến trình độ sử dụng quyền đó Thế đấy ! thế đấy ! Vậy thì các bác còn yêu cầu gì nữa… Dân An Nam đã chờ đợi những thay đổi từ 60 năm nay Chính phủ không làm được đáng kể cho họ thoả mãn Nếu trong dân chúng có thể nào lên tiếng bày tỏ với nhà đương cục cao cấp những yêu cầu và nỗi thống khổ của họ và để kêu xin những phương thuốc chống đỡ nỗi đau họ phải gánh chịu, thì người ta trả lời họ bằng nhà tù,

Trang 40

bằng lưu đày và tử hình Nếu Bác luôn tin cậy vào sự quan tâm của chính phủ

để cải tiến mọi tình trạng hiện nay thì Bác sẽ phải đợi đến muôn đời [67, tr

121]

Rõ ràng, với các tài liệu lịch sử trên đây không cho phép chúng ta nghĩ rằng, có thể có một sự dìu dắt, khuyên bảo nào đó của Phan Chu Trinh đối với Nguyễn Ái Quốc về mặt phương hướng và quan điểm chính trị để nhờ đó mà Nguyễn Ái Quốc vươn kịp với trào lưu tư tưởng của thời đại, như ý kiến của một vài tác giả trước đây

Ở đây, đã thể hiện rõ tư duy hoàn toàn độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định rõ kẻ thù của dân tộc mình Từ đó Người lựa chọn con đường đi riêng trên hành trình cứu nước Con đường ấy khác hoàn toàn với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và nhiều sỹ phu Việt Nam yêu nước khác Con đường đi sang phương Tây học hỏi, chứng kiến, khảo nghiệm và lựa chọn con đường đi phù hợp cho dân tộc Việt Nam Con đường sang Pháp chính là con đường đánh đổ thực dân Pháp

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã có những bước ngoặt lớn trong cuộc đời cách mạng của Người cũng như của lịch sử cách mạng Việt Nam

Bước ngoặt đầu tiên đó là Nguyễn Ái Quốc sang phương Tây tìm tòi,

khảo nghiệm và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Trước khi sang Pháp, Ngừơi đã

có mười năm đèn sách, có Hán học và quốc học đủ rộng Sang châu Âu, Người

tự học tiếng Anh đủ để đọc Đichken, tiếng Pháp đủ để học Misơle, để viết truyện ngắn đăng trên Luymanite và viết kịch bản diễn ở câu lạc bộ Phô bua (Ngoại ô); nhờ ngoại ngữ, Nguyễn nắm được văn hoá phương Tây, nắm được các trào lưu chính trị thế giới Nguyễn lại là người có mười năm lăn lộn trong giới lao động chân tay Luôn Đôn và Pari, tạo ra cho tâm hồn mình một tần số, nhờ đó, tiếp thu nhanh tiếng gọi vùng lên của Cách mạng Tháng Mười Trong

số tất cả chính khách Việt Nam đầu thế kỷ, duy có một mình Nguyễn Ái Quốc

tụ hội đủ ba điều kiện trên để sớm xuất hiện như một ngôi sao sáng ngay từ lúc đầu

Ngày đăng: 20/03/2020, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w