Tình hình nghiên cứu đề tài Tình hình nghiên cứu ở trong nước: Các nghiên cứu về Vân Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam chỉ mới được khởi động và triển khai trong thời gian gần
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, quan tâm và chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Tiến Sâm
Trong suốt quá trình học chương trình đào tạo thạc sỹ, tôi đã nhận được
sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của các cán bộ đào tạo và giảng dạy của khoa Đông Phương học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong suốt thời gian qua, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ và động viên của đông đảo người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và trân trọng nhất đối với tất cả những sự giúp đỡ và quan tâm này
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
ADF: VAY ƯU ĐÃI
ASEAN: HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
BCIM: HỢP TÁC BĂNGLAĐÉT – TRUNG QUỐC-ẤN ĐỘ- MIANMA CBTA: HIỆP ĐỊNH VẬN TẢI QUA BIÊN GIỚI
CHDCND: CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN
CNXH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CHXHCN: CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
COC: BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ Ở BIỂN ĐÔNG
DOC: TUYÊN BỐ VỀ CÁCH ỨNG XỬ Ở BIỂN ĐÔNG
ĐCS: ĐẢNG CỘNG SẢN
EU: LIÊN MINH CHÂU ÂU
FDI: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
Trang 3SFA – TFI: KHUNG CHIẾN LƯỢC VỀ TẠO THUẬN LỢI THƯƠNG
MẠI VÀ ĐẦU TƯ TRONG TIỂU VÙNG GMS
XNC: XUẤT NHẬP CẢNH
XNK: XUẤT NHẬP KHẨU
TFS: HÃNG PHIM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TNHH: TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
VAT: THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VCCI: PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VDC: CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU
WHO: TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
Trang BẢNG 1: Kêt cấu dân số theo độ tuổi của Vân Nam 3 BẢNG 2: GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của Vân Nam giai
đoạn 2003 - 2007
26
BẢNG 3: Giá trị công nghiệp và tốc độ tăng trưởng của Vân
Nam giai đoạn 2003 - 2007
27
BẢNG 4: Đầu tư tài sản cố định toàn xã hội và tốc độ tăng
trưởng giai đoạn 2003 – 2007 của Vân Nam
29
BẢNG 5: Tổng kim ngạch hàng hoá bán lẻ toàn xã hội và tốc độ
tăng trưởng giai đoạn 2003 - 2007
30
BẢNG 6: Thu nhập khả dụng bình quân của cư dân thành thị và
tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2003 - 2007
31
BẢNG 7: Thu nhập thuần bình quân của cư dân nông thôn và
tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2003 - 2007
31
BẢNG 8: Ưu hoá trọng điểm nâng cấp kết cấu sản xuất 43 BẢNG 9: Ưu hoá “bốn tập hợp” nâng cấp kết cấu sản xuất 44 BẢNG 10: Kim ngạch Xuất nhập khẩu Việt Nam – Vân Nam
giai đoạn 1992 - 2001
74
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
1.1.3.3 Ưu thế về cơ chế hợp tác và chính sách 10 1.1.3.4 Ưu thế về khai thác tài nguyên hợp tác bổ trợ kinh tế 22
1.2 Quá trình cải cách mở cửa ở Vân Nam – thành tựu và triển vọng 25
1.2.2 Triển vọng phát triển kinh tế xã hội Vân Nam trong thời gian tới 41 1.2.2.1 Phương châm phát triển của Vân Nam 41 1.2.2.2 Mục tiêu các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu 43 1.2.2.3 Phương hướng phát triển mở cửa đối ngoại 45 CHƯƠNG 2: QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – VÂN NAM 49
2.1 Quá trình phát triển của quan hệ Việt – Trung và tác động tới quan
hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam từ 1991 tới nay
Trang 62.2.1.1 Quan hệ chính trị - đối ngoại 59
2.2.2.4 Quan hệ đầu tư và hợp tác kinh tế kỹ thuật 88
2.3 Triển vọng quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam 97
2.3.1 Những vấn đề tồn tại trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam 97 2.3.1.1 Cơ sở hạ tầng không đáp ứng được nhu cầu phát triển hợp tác
kinh tế thương mại
97
2.3.1.2 Phối hợp chính sách thiếu đồng bộ, hoàn bị và linh hoạt 99 2.3.1.3 Mức độ hiện thực hoá các chương trình hợp tác còn thấp 100 2.3.1.4 Hoạt động thương mại – du lịch chưa tương xứng với tiềm năng
và tiềm ẩn nhiều nguy cơ
101
2.3.1.5 Hợp tác kỹ thuật - đầu tư còn hạn chế 104
2.2.2 Triển vọng quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam 104 2.2.2.1 Hoàn thiện thể chế - cơ chế hợp tác 105 2.2.2.2 Cải thiện điều kiện giao thông vận tải và quản lý cửa khẩu 106
Trang 72.2.2.3 Đẩy mạnh hợp tác thương mại 108
2.2.2.4 Hợp tác kinh tế - kỹ thuật với trọng tâm là ngành khoáng
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Kể từ khi chính sách cải cách mở cửa được thực hiện, Trung Quốc
đã chuyển mình mạnh mẽ và ngày càng tương xứng với vị thế và tiềm lực vốn có của mình Ngày nay, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong cân bằng quyền lực và giải quyết các vấn đề chung toàn cầu Trong khi
đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong vòng hai thập kỷ qua, Trung Quốc đang phải giải quyết các vấn đề nổi lên như sự chênh lệch giàu nghèo, giữa các vùng miền nông thôn và thành thị, miền Đông – miền Trung - miền Tây đất nước Trung Quốc cũng phải đối mặt với các thách thức về suy giảm môi trường cũng như thiếu hụt năng lượng Giải quyết các thách thức này, Trung Quốc đã điều chỉnh chiến lược phát triển của mình với mục tiêu xây dựng một xã hội hài hoà nhằm đạt được 5 sự cân bằng: giữa thành thị và nông thôn, vùng nội địa và ven biển, phát triển kinh tế và xã hội, con người và môi trường thiên nhiên, phát triển bên trong và hội nhập Tích cực tham dự và thể hiện vai trò chủ chốt trong các chương trình hợp tác khu vực đồng thời phối hợp phát triển kinh tế -
xã hội ở các khu vực biên giới còn chậm phát triển là cách thức Trung Quốc lựa chọn nhằm đạt được cả 5 sự cân bằng trên
Vân Nam nằm ở Tây Nam của Trung Quốc, có tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế xã hội đồng thời lại nằm ở vị trí địa lý đặc thù, là ngã ba
có khả năng nối liền ba vùng kinh tế đang phát triển năng động nhất của châu Á nói riêng và của thế giới nói chung là Trung Quốc (mà nối dài ra
là Đông Bắc Á) – ASEAN – Nam Á (trong đó Ấn Độ đang nổi lên như một cực tăng trưởng quan trọng) Sự phát triển của Vân Nam không chỉ quan trọng đối với Trung Quốc mà còn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
Trang 9phát triển của toàn khu vực nhất là với các nước láng giềng có chung đường biên giới với Vân Nam như Việt Nam
Mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam – Trung Quốc đang ngày càng được khẳng định và củng cố Tăng cường hợp tác song phương trong điều kiện toàn cầu hoá (khi cả hai nước tích cực tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, khẳng định vị thế quan trọng hơn trên trường quốc tế và cùng trở thành thành viên của WTO) lẫn khu vực hoá (với sự ra đời và nâng tầm hợp tác nhanh chóng của các chương trình hội nhập ASEAN – Trung Quốc) là nguyện vọng chung đồng thời cũng là xu thế tất yếu Vân Nam và Việt Nam có nhiều mối liên hệ về địa lý, lịch sử,
xã hội và kinh tế, đặt trong các chương trình hợp tác Việt Trung đang được thiết kế và hiện thực hoá, Vân Nam càng nổi lên như một đối tác quan trọng của Việt Nam Trong bối cảnh đó, đi sâu triển khai một cách toàn diện những nghiên cứu về Vân Nam và mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam là một nhu cầu bức thiết và cấp bách, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn vô cùng to lớn
Chính bởi lẽ đó, luận văn này lựa chọn đề tài nghiên cứu là Cải cách
mở cửa ở Vân Nam (Trung Quốc) và quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Các nghiên cứu về Vân Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam chỉ mới được khởi động và triển khai trong thời gian gần đây, chủ yếu là từ khi chương trình hợp tác GMS bắt đầu đi vào giai đoạn thực chất, khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc được thoả thuận hình thành và nhất là kể từ sau khi chiến lược hợp tác “hai hành lang một vành đai” được hai nước Việt Nam Trung Quốc đưa ra và hưởng ứng Điểm
Trang 10đặc biệt của các nghiên cứu này là ngay đối với các nghiên cứu của nước ngoài (mà ở đây là Trung Quốc) thì một số lượng khá lớn cũng đã được dịch Việt hoá và giới thiệu rộng rãi tại các Hội thảo, diễn đàn hoặc trong các tạp chí, ấn phẩm nghiên cứu tại Việt Nam Các nghiên cứu hiện được thực hiện song song tại hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan nghiên cứu với những công trình đáng chú ý là:
- Khối cơ quan quản lý nhà nước:
Bộ Kế hoạch đầu tư là cơ quan chủ quản cấp nhà nước của hợp tác GMS và Hai hành lang - Một vành đai trong đó Vụ Kinh tế đối ngoại – Phòng các Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFI) là đầu mối quốc gia của Việt Nam tham gia chương trình hợp tác GMS và Phòng Hội nhập kinh tế Châu Á, Châu Mĩ là đầu mối quốc gia của Việt Nam tham gia chương trình hợp tác Hai hành lang - Một vành đai Giữ vai trò điều phối cấp quốc gia, các nghiên cứu tại đây chủ yếu xoay quanh các dự án và hoạt
động gặp gỡ hội thảo các cấp khác nhau, trong đó Bộ tài liệu “Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng – tài liệu tổng hợp” công bố vào
tháng 10/2008 là đầy đủ và bao quát hơn cả Điểm hạn chế là các nghiên cứu và phân tích thường tập trung vào cơ sở hạ tầng, đồng thời các dữ liệu và phân tích so sánh dữ liệu về Vân Nam lại thường sử dụng dữ liệu tượng trưng của cả Trung Quốc, không thể hiện được rõ nét tình hình Vân Nam và đối sánh tương quan giữa Vân Nam với các nước, trong đó
Trang 11Tích cực tham gia nghiên cứu về Vân Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam hơn cả là tỉnh Lào Cai, bên cạnh việc phối hợp tổ chức hàng loạt những diễn đàn - hội thảo - toạ đàm về lĩnh vực này với sự tham gia của cả các chuyên gia Việt Nam và Trung Quốc, Lào Cai đã xây dựng hệ
thống Cơ sở dữ liệu Tây Nam Trung Quốc trong đó tập hợp khá đầy đủ
dữ liệu về Vân Nam, những bài phát biểu và phân tích của các chuyên gia trong nước và chuyên gia Trung Quốc đã được Việt hoá về nhiều mặt trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam Điểm hạn chế của Cơ sở dữ liệu này là hiện không tiếp tục được cập nhật và do đó, tài liệu số liệu chỉ tạm dừng ở thời điểm năm 2004 và các quan điểm phân tích khó tránh khỏi hạn chế tại thời điểm đó
- Khối cơ quan nghiên cứu: Viện khoa học xã hội Việt Nam mà đặc biệt là Viện nghiên cứu Trung Quốc đã nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Vân Nam từ khá sớm với nhiều nghiên cứu công phu Đáng kể nhất là hai
cuộc hội thảo khoa học về chủ đề này: “Phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - Trung Quốc” vào năm 2006 và “Các giải pháp phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh mới” vào năm
2007 Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc cũng liên tục đăng tải các công trình nghiên cứu có liên quan của các học giả trong và ngoài nước, tiêu
biểu là các công trình: Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong tiến trình khu vực hoá của Doãn Công Khánh; Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và việc xây dựng “hai hành lang một vành đai kinh tế” của Đỗ Tiến Sâm, Hợp tác kinh tế Trung Quốc – ASEAN và Vân Nam với “hai hành lang, một vành đai” của Chu Chấn Minh v v… Tuy vậy,
cho tới nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào của Việt Nam về tình hình kinh tế - xã hội của Vân Nam từ cải cách mở cửa cho tới
Trang 12nay, bên cạnh đó, các nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Vân Nam tuy phong phú nhưng trong giới hạn nội dung ngắn thường chỉ tập trung vào một vài luận điểm vấn đề cụ thể hoặc khái lược tình hình chung thiếu chi tiết
Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc: Các nghiên cứu về cải cách mở
cửa ở Vân Nam rất toàn diện, phong phú và đa dạng do tầm quan trọng của các nghiên cứu này trong phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và nghiên cứu tuyên truyền Đáng kể nhất
là các nghiên cứu được công bố trong Kế hoạch 5 năm các giai đoạn (trong đó gần nhất và toàn diện nhất là Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 từ 2006-2010) của tỉnh Vân Nam và trang thông tin riêng kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa Vân Nam của chính quyền tỉnh (địa chỉ http://www.yunnan.cn/feature/node_3300.htm)
Về phần các nghiên cứu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam, chủ yếu thực hiện dưới hình thức các công trình nghiên cứu đăng tải tại các tạp chí nghiên cứu chủ yếu về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Trung Quốc như “Đông Nam Á tung hoành”, “Nam dương vấn đề nghiên cứu”, “Đương đại Á Thái”, “Quốc tế kinh tế hợp tác”, thường được lồng ghép trong nhiều tầng quan hệ hợp tác, từ hợp tác Trung Quốc – ASEAN, hợp tác Vân Nam – GMS tới quan hệ Việt – Trung, hợp tác Hai hành lang - Một vành đai v v…Điểm thú vị là trong các tạp chí này, các nghiên cứu của nhiều tác giả Việt Nam cũng đã được viết - dịch sang tiếng Trung Tuy vậy, các nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Việt Nam – Vân Nam còn rất khiêm tốn về số lượng và nội dung
Tình hình nghiên cứu cho thấy, với cả hai mảng nghiên cứu của đề tài này là cải cách mở cửa ở Vân Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam, hiện ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu trong
Trang 13nước hay một công trình nghiên cứu nước ngoài được giới thiệu ở trong nước nào nghiên cứu trực tiếp và bao quát vào hai nội dung kể trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là góp phần xây dựng một hệ thống dữ liệu bao quát về tình hình cải cách mở cửa của Vân Nam (Trung Quốc) và mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ cho đến nay và những triển vọng trong tương lai
Để thực hiện được mục đích đó, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản là:
- Nghiên cứu khái quát về tình hình Vân Nam trong cải cách mở cửa;
- Phân tích những ưu thế nổi trội của Vân Nam với tư cách là tiền đề thuận lợi cho phát triển kinh tế và tăng cường hợp tác khu vực;
- Nghiên cứu khái quát về quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam kể
từ khi hai nước Việt Trung bình thường hoá quan hệ tới nay;
- Phân tích những vấn đề đang còn tồn tại trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam và dự báo triển vọng phát triển của quan hệ hợp tác này trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với tỉnh Vân Nam
Phạm vi nghiên cứu của từng đối tượng bao gồm:
- Đối với tỉnh Vân Nam: nghiên cứu tình hình cải cách mở cửa của tỉnh Vân Nam
- Đối với quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam: nghiên cứu quan
hệ hợp tác kể từ khi hai nước Việt Nam – Trung Quốc bình thường hoá quan hệ (năm 1991) tới nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Phương pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh tế - xã hội được sử dụng là phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, lôgíc
và các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm khác
Luận văn cũng kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan tới một số nội dung của đề tài Luận văn tiến hành thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu trong và ngoài nước cần thiết
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ là một nghiên cứu tổng quát
và cụ thể về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vân Nam, một nghiên cứu tổng hợp và cập nhật về quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ cho tới cuối năm 2008 Những thông tin, số liệu, phân tích và dự báo triển vọng của luận văn có giá trị tham khảo cho việc hoạch định các chính sách đối ngoại và cho các nghiên cứu
có liên quan
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và tham khảo cho sinh viên - học viên các ngành có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục các bảng số liệu, các hình và các từ viết tắt, các phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn được chia thành 2 chương như sau:
Chương 1: Cải cách mở cửa ở Vân Nam (Trung Quốc).Chương
này gồm hai nội dung lớn Một là tập trung nghiên cứu các điều kiện tự
nhiên và xã hội của Vân Nam, trên cơ sở đó phân tích những ưu thế của tỉnh này trong việc phát triển kinh tế xã hội và thể hiện các vai trò đối nội
Trang 15- đối ngoại Hai là tập trung nghiên cứu tình hình Vân Nam kể từ khi
thực hiện cải cách mở cửa cho tới nay đồng thời phân tích kế hoạch và triển vọng phát triển trong thời gian tới của tỉnh này
Chương 2: Quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam Chương này
gồm ba nội dung lớn Một là nghiên cứu khái quát về quan hệ hợp tác
Việt Nam – Trung Quốc kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ cho tới nay với tư cách là tiền đề, bối cảnh cho đối tượng nghiên cứu chính là
quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam Hai là nghiên cứu những thành
tựu chủ yếu trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam kể từ 1991 đến nay, bao trùm các lĩnh vực đối ngoại – an ninh, kinh tế (thương mại, đầu
tư, hợp tác kỹ thuật, du lịch) và văn hoá – giáo dục Ba là phân tích
những vấn đề tồn tại trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Vân Nam và triển vọng phát triển của quan hệ hợp tác này trong thời gian tới
Do đề tài nghiên cứu mang tính thời sự cao và vẫn đang tiếp tục được triển khai, nguồn tư liệu phong phú những vẫn cần được bổ sung và cập nhật thêm, với thời gian có hạn cùng sự hiểu biết và kinh nghiệm của người nghiên cứu còn nhiều hạn chế, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các chuyên gia và độc giả để tiếp tục phát triển và hoàn thiện đề tài nghiên cứu có ý nghĩa này
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CẢI CÁCH MỞ CỬA Ở VÂN NAM
.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội của Vân Nam
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Tên gọi tắt của Vân Nam là “Vân” hoặc “Điền”, nằm ở biên giới Tây Nam của Trung Quốc Tổng diện tích 394 nghìn km2, chiếm 4,1% tổng diện tích toàn quốc Phía Đông giáp Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và tỉnh Quý Châu, phía Bắc trông sang tỉnh Tứ Xuyên qua con sông Kim Sa, phía Tây Bắc giáp Khu tự trị Tây Tạng, phía Tây giáp Myanma, phía Nam và Đông Nam tiếp giáp với Lào và Việt Nam, có 4.061 km đường biên giới trên đất liền
Địa thế của tỉnh Vân Nam là phía Bắc cao, phía Nam thấp, chênh lệch độ cao lớn Phía Nam độ cao so với mặt nước biển nói chung là 1.500-2.200m, phía Bắc khoảng 3.000-4.000m Trong diện tích đất đai toàn tỉnh, sơn địa chiếm khoảng 84%, cao nguyên gò đồi chiếm 10%, bồn địa khe lũng chiếm khoảng 6%, bình quân nằm ở độ cao 2.000 m so với mực nước biển Trong 128 đơn vị hành chính bao gồm 127 huyện (thành phố, khu) và thành phố Đông Xuyên, ngoài hai khu vực là Ngũ Hoa và Bàn Long của thành phố Côn Minh thì tỷ trọng đất núi đồi đều chiếm trên 70% diện tích đất, không có một huyện một khu nào là thuần tuý bằng phẳng
Hệ thống sông ngòi chằng chịt,cực kỳ phức tạp Trong toàn tỉnh có hơn 600 sông lớn nhỏ trong đó lớn nhất có 180 sông chủ yếu đều là xuất phát từ thượng nguồn để
đổ ra biển Có 6 hệ thống sông lớn: sông Kim Sa - Trường Giang, sông Nam Bàn – Chu Giang, Nguyên giang - Hồng Hà, sông Lan Thương – sông Mê kông, Nộ giang – sông Tát Nhĩ Ôn, sông Độc Long, sông Đại Doanh, sông Thuỵ Lệ - Irrawady Đặc điểm của các hệ thống sông này là chủ yếu bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng và chảy theo hướng Bắc – Nam, khác với xu hướng Tây – Đông của phần lớn hệ thống sông của Trung Quốc
Trang 17Hồ ao ở Vân Nam cũng rất nhiều, xếp vào hàng một trong những tỉnh nhiều nhất Trung Quốc Số lượng hồ có diện tích từ 1km2 trở lên có 37 hồ, tổng diện tích mặt nước là 1.066 km2 với tổng trữ lượng nước là 30 tỷ m3
Vân Nam nằm trên cao nguyên ở vĩ tuyến thấp, vị trí địa lý đặc thù, địa mạo địa hình phức tạp, khí hậu gió mùa cao nguyên hình thành chủ yếu từ ảnh hưởng của khí lưu áp suất cao từ phía nam Bănglađét Phần lớn các khu vực trong tỉnh có thời tiết đông ấm hạ mát với đặc trưng khí hậu bốn mùa đều như mùa xuân Loại hình khí hậu toàn tỉnh đa dạng phong phú, có tổng cộng 7 loại khí hậu bao gồm bắc nhiệt đới, nhiệt đới nam Á, nhiệt đới trung Á, nhiệt đới bắc Á, nam ôn đới, trung ôn đới và khí hậu cao nguyên Nhiệt độ bình quân từ 5-24 ℃, chênh lệch nhiệt độ giữa phía Bắc và phía Nam là khoảng 19℃ Lên cao cứ 100 m thì nhiệt độ lại giảm xuống khoảng 0,6℃ Chênh lệch nhiệt độ trong năm nhỏ nhưng trong ngày lại lớn Nhiệt độ nóng nhất bình quân vào mùa hè là 19-22 độ , lạnh nhất bình quân vào mùa đông là 6-8 độ Trong khi đó, nhiệt độ trong ngày sẽ thay đổi từ sáng mát trưa nóng, đặc biệt là vào hai mùa đông và xuân, chênh lệch nhiệt độ trong ngày có thể đạt tới 12-20℃
Lượng mưa hàng năm của phần lớn các vùng trong tỉnh là 1.100 mm trong đó chủ yếu tập trung vào thời gian 3 tháng từ tháng 6-8, chiếm khoảng 60% tổng lưu lượng mưa cho cả năm Từ tháng 11 đến tiết đông xuân vào tháng 4 năm sau là mùa khô, lượng mưa chỉ vào khoảng 10-20%, thậm chí còn ít hơn Ngoài ra, do sự thay đổi của
độ cao, phân bố lượng mưa cũng không đồng đều
Đặc điểm khí hậu này của Vân Nam có điểm tích cực là thích nghi với nhiều loại cây trồng và kinh tế trồng trọt cũng như sự phát triển của ngành du lịch Điểm bất lợi
là ở chỗ mùa mưa và mùa khô quá tập trung, phân bố không đồng đầu lại đi kèm với những thiên tai như lũ quét, đóng băng, mưa đá v v… gây nguy hại cho sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Điều kiện xã hội:
Trang 18Dân số toàn tỉnh tính đến hết năm 2007 là 45,14 triệu người, tỷ lệ sinh là 13,08‰,
tỷ lệ tử vong là 6,22‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 6,86‰ So sánh với năm 2006, dân số tăng thêm 310 ngàn người (so với mức tăng bình quân 397 ngàn người từ 2000 đến 2007 và mức tăng 484 ngàn người của năm 2000 so với năm 1999), tỷ lệ sinh giảm 0,12‰, tỷ lệ tử vong giảm 0,08‰ và tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm 13,08‰ Điều này cho thấy hiệu quả của nhiều chính sách sinh đẻ kế hoạch hoá giá đình mà Vân Nam đã thực hiện trong thời gian qua, đồng thời duy trì trạng thái tăng trưởng ổn định với tốc độ thấp của tổng dân số
Năm 1990, tuổi thọ bình quân của người dân Vân Nam là 64,55 tuổi trong đó nam giới là 63,41 tuổi và nữ giới là 65,73 tuổi Đến năm 2000, các số liệu này sau cuộc điều tra dân số lần lượt là 67,55 tuổi, 66,09 tuổi và 69,19 tuổi Theo tính toán, tuổi thọ dân số vào năm 2007 đã là 69,41 tuổi, của nam giới là 67,62 tuổi và nữ giới là 71,40 tuổi
Về kết cấu dân số, năm 2007, số dân trong độ tuổi lao động từ 15-64 của Vân Nam là 31,0862 triệu người, chiếm 68,87% dân số toàn tỉnh So với năm 2000, dân số trong độ tuổi lao động tăng thêm 2,3 triệu người và tỷ trọng tăng thêm 0,92%
Bảng 1: Kêt cấu dân số theo độ tuổi của Vân Nam Đơn vị:%
Trang 19Về tốc độ đô thị hoá, năm 2007, tỷ lệ thành thị hoá của Vân Nam đạt 31,63%, tăng 8,25% so với năm 2000 và tăng bình quân 1,18% mỗi năm
Vân Nam là tỉnh có nhiều dân tộc nhất Trung Quốc Điều tra chọn mẫu dân số năm 2007 cho kết quả, tổng số người dân tộc thiểu số ở Vân Nam là 15,1256 triệu người, tăng 6,83% so với năm 2000[51] Cả nước có 56 dân tộc thì Vân Nam đã có
52 dân tộc Dân tộc thiểu số chiếm 38,07% tổng dân số trong toàn tỉnh Trên 20 dân tộc có số dân trên 8000 người, đó là các dân tộc: Di, Bạch, Hà Nhì, Choang, Thái, Mông, Lisu, Hồi, La Khố, Wả, Tây, Dao, Tạng, Cảnh Pha, Bố Lang, Phổ Mễ, Nộ, A Xương, Ki Nô, Mông cổ, Độc Long, Mãn, Thuỷ, Bố y dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam phân bố đa dạng, một số dân tộc vừa có những nơi sống tập trung nhất định, lại vừa sống chung với các dân tộc khác; một số dân tộc tập trung cao độ ở một khu vực, một châu, thậm chí là trong một huyện, một xã 25 dân tộc có số dân trên 5000 người
và có khu vực sống tập trung nhất định Có 10 dân tộc sống chủ yếu ở khu vực bằng phẳng và lưu vực sông biên giới gồm: Hồi, Mãn, Bạch, Nạp Tây, Mông cổ, Choang, Thái, A xương, Bố Y, Thuỷ, dân số khoảng 4,5 triệu người; chủ yếu sống tập trung ở khu vực bán sơn địa có 8 dân tộc là Hà Nhì, Dao, La Khố, Wả, Cảnh pha, Bố Lang, Đức Ngang, Ki Nô và một bộ phận người Di, dân số khoảng 5 triệu; chủ yếu sống tập trung ở khu vực núi có 6 dân tộc là Mông, Lisu, Tạng, Phổ mễ, Nộ, Độc Long và một
bộ phận người Di, dân số khoảng 4 triệu Cả tỉnh không huyện nào chỉ có một dân tộc; riêng dân tộc Hồi và dân tộc Di thì tuyệt đại đa số các huyện trong cả tỉnh đều có Đặc điểm xã hội của Vân Nam, tương ứng với lịch sử phát triển phức tạp trên một vùng quang cảnh địa lý đa dạng, mang nhiều điểm phong phú và đặc thù Số lượng đông đảo các dân tộc thiểu số cùng với lịch sử cộng cư lâu dài trên mảnh đất này đã sớm mang lại cho Vân Nam nhiều lợi thế về dung hợp văn hoá, tạo nên những sản phẩm du lịch, sản phẩm hàng hoá đặc thù độc đáo với tiềm năng khai thác vẫn còn rất
to lớn Nhưng mặt khác, những vấn đề phức tạp của một xã hội ít đồng nhất lại phân
bố trong một vùng địa lý rộng lớn với điều kiện khác biệt nhau sẽ phân tán sức phát
Trang 20triển tập trung của toàn tỉnh Đồng thời, với vị trí là một tỉnh biên giới, liền kề với các quốc gia láng giềng bằng những địa hình khá hiểm trở và lịch sử biến động các dân tộc thiểu số giữa các nước phức tạp, làm sao để giữ vững ổn định xã hội, phát triển
xã hội hài hoà nơi mà mọi công dân thuộc các dân tộc đều được hưởng thành quả của cải cách và phát triển kinh tế một cách bình đẳng là nhiệm vụ nặng nề đầy thử thách
mà chính quyền tỉnh và chính quyền trung ương phải luôn nỗ lực thực hiện
1.1.3 Ưu thế và vai trò của Vân Nam
Những đặc điểm tự nhiên và xã hội đã sớm tạo cho Vân Nam nhiều ưu thế và lợi thế để phát triển kinh tế xã hội Mặt khác, đặt những đặc điểm điều kiện ấy trong bối cảnh tương quan với các địa phương khác của Trung Quốc, với vị trí địa đầu đối ngoại của Trung Quốc và với các quốc gia láng giềng trong khu vực, Vân Nam càng
có thêm nhiều ưu thế để khẳng định vai trò của mình trong phát triển kinh tế Trung Quốc nói riêng và phát triển kinh tế khu vực cùng thịnh vượng nói chung Những ưu thế riêng của Vân Nam đan cài và hoà hợp với nhau trong nhiều lĩnh vực, có thể phân tách thành 5 ưu thế chủ đạo: ưu thế về địa lý, về lịch sử - xã hội, về cơ chế hợp tác và chính sách, về khai thác tài nguyên và bổ trợ kinh tế
1.1.3.1 Ưu thế về địa lý
Về vị trí địa lý, Vân Nam giống như một viên ngọc bảy sắc, trạm trổ ở phần giao nhau giữa Đông Nam Á và một phần đại lục Nam Á, là con đường đất liền để Trung Quốc tiến vào bán đảo Trung Nam (tức Đông Dương), bán đảo Trung Á, đồng thời là cánh cửa quan trọng để các nước Đông Nam Á, Đông Á tiến vào Trung Quốc Vân Nam là bộ phận hợp thành của 3 vành đai kinh tế khu vực lớn là vành đai kinh tế Trung Hoa, ASEAN, liên minh kinh tế 7 nước Nam Á, là con đường mà khu vực Tây Nam rộng lớn của Trung Quốc tất phải đi qua để đến với khu vực Đông Nam Á và Nam Á và ngược lại
Vân Nam là một trong những tỉnh tiếp giáp với nhiều nước láng giềng nhất, có đường biên giới dài nhất trên toàn quốc Phía Tây Nam tỉnh Vân Nam tiếp giáp với
Trang 21Myanma, phía Nam tiếp giáp với Lào, Việt Nam, chiếm gần 1/5 trong số 14 quốc gia tiếp giáp trực tiếp với Trung Quốc Độ dài toàn bộ đường biên giới là 4060 km, chiếm 1/5 độ dài đường biên là 22.000 km trên đất liền của Trung Quốc Theo số liệu của Trung Quốc, đường biên giới Vân Nam – Myanma dài 1997 km, Vân Nam – Lào dài 710 km, Việt Nam – Vân Nam dài 1353 km[57]; còn theo số liệu của Việt Nam, tổng chiều dài đường biên giới Việt – Trung là 1406 km (trong đó đoạn Việt Nam – Vân Nam dài khoảng 800 km) Có 8 châu/thành phố biên giới với tổng cộng 26 huyện/thành phố biên giới, tiếp giáp với ranh giới đường sông có 11 huyện/thành phố
và tiếp giáp thổ nhưỡng với 6 tỉnh (bang) và 32 huyện (thành phố, thị trấn) của các nước láng giềng Vân Nam hiện có 12 cửa khẩu quốc gia cấp I, 8 cửa khẩu quốc gia cấp II, 90 con đường và 103 cặp chợ biên giới có đầy đủ điều kiện tiếp xúc với bên ngoài với một mạng lưới mở cửa bao gồm cả đường thuỷ, bộ và đường hàng không [56] Trong 31 tỉnh thành trong cả nước, Vân Nam có số lượng cửa khẩu cấp I đứng thứ 4, chỉ xếp sau Quảng Đông, Hắc Long Giang, Quảng Tây và Tân Cương Đường biên giới dài hơn 4000 km nối liền với các nước Đông Nam Á xung quanh, so với các vùng biên giới trên đất liền khác của Trung Quốc, vừa không có trở ngại núi cao, sông lớn, không có trở ngại vùng sa mạc rộng mênh mông, cũng không có các vùng đất đóng băng, quanh năm bốn mùa đều có thể dễ dàng ra vào nội địa các nước Đông Nam Á, Nam Á, là con đường tự nhiên có ưu thế về điều kiện địa lý trên đất liền của Trung Quốc
Vân Nam là khu vực thượng lưu của nhiều con sông lớn chảy ra vùng ven biển Đông Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Vân Nam có 6 hệ thống sông xuyên quốc gia là: Trường Giang, Chu Giang, Mêkông, Irrawaddy, sông Hồng; hơn
600 sông lớn nhỏ trong nội địa, là tỉnh có hệ thống sông nhiều nhất, nguồn tài nguyên nước phong phú nhất trên cả nước Vân Nam có 63 sông có giá trị khai thác vận tải, đặc biệt là các sông: sông Lan Thương- Mêkông, Nguyên Giang - sông Hồng và sông Đại Doanh - Irrawaddy, có giá trị khai thác về vận tải biển đường dài quốc tế và liên
Trang 22vận Trong 5 năm trở lại đây, tổng luợng hàng vận chuyển xuất nhập khẩu vận tải biển quốc tế của sông Lan Thương- Mêkông đạt 2 triệu tấn, kim ngạch thương mại đạt trên 10 tỷ NDT, đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho các nước và người dân ở vùng ven sông Theo ước tính của Bộ Giao thông Trung Quốc, đến năm 2010, lượng hàng hoá vận chuyển theo đường thuỷ quốc tế trên sông Lan Thương-Mêkông sẽ đạt 1,5 triệu tấn, số lượng hành khách vận chuyển đạt 400 nghìn lượt người Từ Hà Khẩu (Vân Nam) xuôi dòng tới Hải Phòng (Việt Nam), với hành trình đường thuỷ dài 486
km, vận tải thuỷ trên Nguyên giang-sông Hồng là cảng thông ra biển gần nhất của Vân Nam, có thể xây dựng thành con đường vận tải thuỷ liên vận thông ra biển thuận tiện nhất của Vân Nam Môi trường bên ngoài của con đường liên vận trên bộ và đường thuỷ sông Irrawaddy nối Côn Minh-Trung Quốc với Rangoon Mynanma đã khai thông, khi hai nước Trung Quốc-Myanma ký hiệp định liên vận thì con đường buôn bán từ Trung Quốc thẳng tới Ấn Độ Dương sẽ được khai thông nhanh chóng Ngoài ra, tuyến vận tải thuỷ sông Kim Sa-Trường Giang nối Hoa Đông với biển Đông Thái Bình Dương, con đường vận tải thuỷ Châu Giang qua Hoa Nam tiến vào biển Nam Thái Bình Dương…cũng có giá trị và tiềm năng khai thác vận tải quan trọng
Trang 23tơ lụa, lại nổi tiếng với nghề kinh doanh tơ lụa, nên còn được các nhà lịch sử gọi là
“Con đường tơ lụa phương Đông” Từ đó trở đi, Vân Nam trở thành con đường quan trọng trong thương mại và trao đổi giữa Trung Quốc với Myanma, Ấn Độ và cả các nước phương Tây
Hơn 2000 năm nay, con đường lâu đời nối liền Trung Quốc với Đông Nam Á, Đông Á này chưa hề bị gián đoạn Phật giáo truyền từ Ấn Độ vào Vân Nam thông qua con đường tơ lụa phía Nam, thương gia Trung Quốc và nước ngoài trao đổi hàng hoá thông qua con đường lâu đời này, dân tộc địa phương sống xuyên biên giới, kết hôn với nhau và qua lại lẫn nhau Một yếu tố quan trọng khác thúc đẩy giao lưu văn hoá , trao đổi kinh tế giữa Vân Nam với các nước láng giềng là các đợt di cư của các tộc người thiểu số và người Hoa
Vân Nam là cửa ngõ thông thương với các quốc gia Ấn Độ với vùng Trung Nguyên Trung Quốc nên hàng hoá của các nước Tây Á, Trung Á, Trung Quốc giao lưu qua sông Hồng khá phổ biến Trên tuyến biên giới lưu vực sông Hồng, các triều đại phong kiến Việt nam, Trung Quốc đều xây dựng một số trung tâm buôn bán lớn Qua sông Hồng, hàng hoá của Giao Chỉ đã vận chuyển cung cấp cho Nam Chiếu, Đại
Lý quốc các mặt hàng chủ yếu là muối, vỏ sò, ngọc ngà, châu báu, các sản phẩm của biển Hàng hoá của Nam Chiếu, Đại Lý vào Lào Cai và xuống vùng đồng bằng Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng, đồ sắt (vũ khí, đồ sinh hoạt ) và tơ lụa Suốt từ thế kỷ
10 đến thế kỷ 19, Nhà nước quân chủ độc lập Việt Nam đều luôn áp dụng chiến lược
“Hoà hiếu với phương Bắc” Do đó quan hệ văn hoá, kinh tế ở vùng biên giới được tự
do trao đổi
Cuối triều Thanh và đầu Dân Quốc, con đường tơ lụa phương Nam một thời vẫn rất sầm uất, các địa phương như Đằng Xung, Bảo Sơn… đã trở thành các thị trấn thông thương sầm uất thời đó do có sự phát triển của con đường này Đường bộ Vân Nam-Myanma, đường bộ Trung - Ấn sau này đều được sửa và xây dựng dọc theo con
Trang 24kết có nhiều điều quy định về buôn bán ở biên giới Tiếp theo, trong 2 năm 1886,
1887, Pháp lại ký với nhà Thanh các hiệp ước bổ xung như “Hiệp ước Thương Mại
ký ngày 25-4-1886” và “Hiệp ước bổ xung ký ngày 26.6.1887” Nhưng hiệp ước này
có các điều khoản quy định mở cửa vùng biên giới Vân Nam và đẩy mạnh buôn bán, xuất nhập cảnh
Ngày 24/7/1889, chuyến tàu Xì lóp (chạy bằng bơi nước) đầu tiên từ Hà Nội đến Lào Cai an toàn, mở ra hướng đầu tư mới và tăng cường các tàu chạy bằng hơi nước trên tuyến sông Hồng Từ cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp tập trung nghiên cứu xây dựng tuyến đường (đường sắt Điền - Việt) Năm 1910, sau khi đường sắt Điền - Việt (đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam) được thông xe toàn tuyến, hàng hoá được vận chuyển theo đường sắt từ cửa biển Hải Phòng qua Lào Cai đến Côn Minh chỉ mất ba ngày rưỡi, so với vận chuyển đường thuỷ bộ xưa kia đã giảm được
26 ngày rưỡi [31] Mặt hàng chủ lực trong kinh tế xuất khẩu của Vân Nam thời kỳ đó
là thiếc, các loại gia súc bao bì thuốc chữa bệnh, rau quả khô và tươi Các sản phẩm than, xi măng, hàng dệt may (ở Nam Định), sản phẩm sơn, hoá học của Bắc Kỳ cũng là các mặt hàng quen thuộc xuất khẩu sang Vân Nam Sự trao đổi kinh tế qua tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh đã góp phần thúc đẩy sự
ra đời các đô thị mới, các trung tâm thương mại, buôn bán sầm uất Cảng biển Hải Phòng nhờ có tuyến đường sắt đã trở thành của biển của cả vùng Tây Nam Trung Quốc
Thời kỳ Cận đại là thời kỳ mở cửa mạnh mẽ Bên cạnh sự trao đổi kinh tế diễn ra rộng lớn trên tuyến đường sông Hồng và đường sắt Điền - Việt thì sự giao lưu văn hoá cũng được đẩy mạnh Trong trao đổi kinh tế các thương nhân và số người di cư
từ Vân Nam đến các tỉnh biên giới phía bắc Lào, Việt Nam, Thái Lan và Myanma và ngược lại vẫn tiếp tục diễn ra Hai luồng cư dân di cư đen xen đã thúc đẩy sự giao lưu văn hoá
Trang 25Đặc biệt có thời kỳ Bác Hồ vị lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp đã hoạt động tại Côn Minh, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước Ngoài Hồ Chí Minh, Vân Nam cũng đã tiếp đón nhiều nhà lãnh đạo cách mạng trong khu vực như Thakin Nu (Myanma), Norodom Sihanouk (Căm pu chia), Souvanna Phouma – Souphanouvong - Kaysone Phomvihane (Lào) Thời kỳ cách mạng ở Việt Nam và Lào, tỉnh Vân Nam còn viện trợ cho một số đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội cách mạng Pathet Lào về vũ khí, đạn dược, khí tài thông tin, quân trang Trường cán bộ quân chính của Việt Nam thành lập ở Vân Nam đã góp phần đẩy mạnh giao lưu văn hoá , xây dựng tình hữu nghị Việt Trung Nhiều bộ phim, sách báo, văn hoá phẩm của Trung Quốc đã đến với nhân dân các tỉnh vùng biên ở Việt Nam – Lào - Myanma, tạo thuận lợi cho giao lưu văn hoá Đặc biệt là sự phối hợp giữa các đơn vị quân đội ở biên giới các nước với Vân Nam truy quét tàn quân quốc dân đảng, truy quét thổ phỉ đã góp phần xây dựng tình bạn chiến đấu
Cho đến nay, trong địa phận tỉnh Vân Nam, ngoài dân tộc Hán, còn có 16 dân tộc sống xuyên biên giới (trong tổng số 25 dân tộc thiểu số của toàn Trung Quốc), cư dân vùng biên Trung Quốc và cư dân vùng biên các nước xung quanh hiểu ngôn ngữ của nhau, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán giống nhau, hơn nữa còn kết hôn với nhau, tự do qua lại, là đặc trưng văn hoá riêng biệt hiếm gặp ở bất cứ vùng nào khác của Trung Hoa đại lục
1.1.3.3 Ưu thế về cơ chế hợp tác và chính sách
Do tồn tại khoảng cách tương đối lớn giữa các quốc gia trong lĩnh vực như trình
độ sức sản xuất, kết cấu kinh tế, để đạt đến nhất thể hoá kinh tế hoàn toàn vẫn cần một quá trình phát triển khá dài Trong quá trình này, thông qua việc xây dựng thị trường hàng hoá, thị trường thương mại yếu tố sản xuất chung hoặc thị trường thương mại mang tính tổng hợp của cả hai, chính sách ngoại thương và chính sách kinh tế vĩ
mô phối hợp giữa các nước, định ra chính sách thương mại, đầu tư ưu đãi hơn đối với
Trang 26các nước ngoài khu vực, nhằm đạt tới hạn chế thấp nhất chi phí rủi ro, chi phí cơ hội
và tối đại hoá lợi ích, Vân Nam cùng các nước láng giềng và trong khu vực có địa lý gần gũi đã hình thành tổ chức phát triển kinh tế khu vực với mức độ nhất thể hoá ngày càng cao
Trong những năm gần đây, Vân Nam nắm chắc thời cơ lịch sử to lớn là toàn cầu hoá kinh tế và nhất thể hoá kinh tế không ngừng đẩy nhanh, đặc biệt là việc đẩy nhanh tiến trình xây dựng khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, sự phát triển trong hợp tác tiểu vùng sông Mêkông, thúc đẩy của hợp tác kinh tế khu vực Bănglađét-Trung Quốc- Ấn Độ-Myanma, cùng Việt Nam, Lào, Thái Lan xây dựng cơ chế hợp tác song phương “Vân Nam-Bắc Lào”, “Vân Nam-Bắc Việt Nam”, “Vân Nam- Bắc Thái Lan” Tháng 6 năm 2006, Trung Quốc đưa ra sáng kiến về chiến lược phát triển “một trục hai cánh” trong Diễn đàn hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ tổ chức tại Quảng Tây hay còn được gọi là “chiến lược 3M” bởi nó có hình hài một chữ M đồng thời cũng bao hàm cả 3 cấu phần là hợp tác kinh tế biển (Marine), hợp tác kinh
tế lục địa – thông qua mối liên kết giữa Nam Ninh và Singapore (Mainland) và hợp tác tiểu vùng MêKông (Mekong) Chiến lược phát triển này thể hiện quan điểm và chiến lược toàn diện của Trung Quốc đối với hợp tác khu vực Đông Nam Á trong đó Vân Nam đóng vai trò chủ chốt trong “một cánh” Hiện nay Vân Nam đã bước đầu hình thành khung hợp tác quốc tế mang tính khu vực nhiều tầng nấc, nhiều lĩnh vực, lấy các nước xung quanh làm cơ sở, tiểu vùng làm hạt nhân, bao trùm các nước ASEAN và Đông Á, giữ vai trò cầu nối Trung - ngoại trong hợp tác khu vực “tam giác sông Chu mở rộng” Đặc biệt qua nhiều năm xây dựng, điều kiện cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không, thông tin… của tỉnh Vân Nam được cải thiện hơn nhiều, có đủ điều kiện từ lục địa nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nối liền ba thị trường lớn: Trung Quốc, Đông Nam Á và Nam Á, đã trở thành căn cứ địa chính trong chiến lược mở cửa cùng có lợi hướng về phía Nam của Trung Quốc
Trang 27- Về hợp tác đối nội:
Hợp tác vùng 6 tỉnh (Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Tây Tạng, Quảng Tây) – 7 bên (6 tỉnh nêu trên cùng thành phố Thành Đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên) Tây Nam Trung Quốc là khởi điểm và cơ sở cho mở cửa đối nội của Vân Nam Hội
nghị Trung ương 4 khoá 15 ĐCS Trung Quốc tháng 9/1999 đã đề ra chiến lược đại khai phát miền Tây, chiến lược này được điều chỉnh theo hướng kết hợp phát triển kinh tế vùng biên giới với phát triển kinh tế khu vực, nằm trong chiến lược chung về
mở cửa của Trung Quốc Hợp tác kinh tế nhiều bên của khu vực Tây Nam hiện có các khung hợp tác cơ bản là Nam – Quý – Côn (Nam Ninh – Quý Dương – Côn Minh), Thành Du (Thành Đô – Trùng Khánh), Xuyên - Điền - Tạng (Tứ Xuyên – Vân Nam – Tây Tạng) Nam – Quý – Côn lên kế hoạch tăng cường phối hợp trên nhiều phương diện từ xây dựng giao thông, phát triển và khai thác năng lượng đến bảo vệ môi trường sinh thái; Thành Đô – Trùng Khánh cùng nỗ lực hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, bất động sản, ô tô, xe máy và linh kiện; Xuyên - Điền - Tạng hợp tác để xây dựng sản phẩm du lịch tầm cỡ thế giới trong phạm vi 3 tỉnh là
“khu du lịch sinh thái Shangri-la Trung Quốc” (Shangri-la là khu vực bao gồm phía Tây Nam Tứ Xuyên, Tây Bắc Vân Nam và đông nam Tây Tạng với 9 châu và 50 huyện Cụ thể là châu Cam Thù, châu Lương Sơn, Phàn Chi Hoa của Tứ Xuyên, châu Địch Khánh, châu Đại Lý, châu Nộ Giang, khu Lệ Giang của Vân Nam, khu Xương
Đô và khu Lâm Chi của Tây Tạng Nơi đây có cao nguyên tuyết phủ, sông hồ, thảo nguyên, rừng rậm, động thực vật hoang dã với nhiều cảnh quan kỳ vĩ) Hợp tác trong khu vực Tây Nam được phát triển ổn định với sự điều phối của Hiệp hội điều phối kinh tế 6 tỉnh và Hiệp hội điều phối “Khu du lịch sinh thái Shangri-la Trung Quốc”
Mô hình phát triển kinh tế vùng dựa chủ yếu có hạt nhân là khu kinh tế Nam Quý Côn và vành đai kinh tế thượng du Trường Giang (một khu một vành đai) “Một khu một vành đai” bao trùm ba tuyến phát triển kinh tế chủ đạo là doanh nghiệp, vùng công nghiệp và thành phố trung tâm đi kèm với trữ lượng tài nguyên to lớn và đội
Trang 28ngũ nhân lực kỹ thuật Hiện, vành đai kinh tế thượng du Trường Giang phủ trùm các thành phố trung tâm là Trùng Khánh, Thành Đô, Lasha, Phàn Chi Hoa với một loạt các ngành sản xuất ưu thế bao gồm chế tạo cơ khí ô tô, gia công sản xuất thực phẩm Khu kinh tế Nam Quý Côn có ưu thế về tài nguyên du lịch, ngành công nghiệp kim loại màu đã có cơ sở nhất định Với những chính sách và nỗ lực đầu tư vào mạng lưới giao thông vận tải và thông tin liên lạc, hai mô hình kinh tế này sẽ là chủ thể tiên phong cho kinh tế vùng Tây Nam Mặc dù có nhiều lợi thế vượt trội về tài nguyên, không gian và khí hậu, Tây Nam bộ vẫn là khu vực thuộc vào hàng kém phát triển nhất của Trung Quốc Những nỗ lực phát triển kinh tế từng tỉnh gắn liền với cải thiện
và tận dụng tốt nhất môi trường kinh tế vùng hiện vẫn chỉ mới ở giai đoạn đuổi kịp với mặt bằng chung của phát triển kinh tế cả nước
Một cơ chế hợp tác đối nội vươn tới đối ngoại quan trọng khác của Vân Nam là
hợp tác “Tam giác sông Chu mở rộng” Khái niệm “Tam giác sông Chu” được nêu ra
lần đầu vào tháng 10 năm 1994 tại Quảng Đông với ý tưởng xây dựng khu kinh tế tam giác sông Chu giang trong phạm vi 9 thành phố của Quảng Đông là Quảng Châu, Thâm Quyến, Phật Sơn, Chu Hải, Đông Quang, Trung Sơn, Huệ Châu, Giang Môn, Tân Khánh với tổng diện tích bao phủ chỉ chiếm 14% diện tích Quảng Đông, dân số chiếm khoảng 61% dân số toàn tỉnh nhưng GDP của riêng khu vực này đã chiếm tới khoảng 10% GDP của toàn Trung Quốc “Tam giác sông Chu” sau được mở rộng phạm vi khái niệm theo đó trở thành khu vực với 3 địa phương là Quảng Đông, Hongkong và Macao, xét về quy mô kinh tế, sau khi mở rộng “Tam giác sông Chu” lớn gấp 2,2 lần “Tam giác sông Trường Giang” “Tam giác sông Chu mở rộng” được nêu ra từ năm 2003 bao gồm 9 tỉnh thuộc hoặc liền kề với lưu vực sông Chu, có quan
hệ kinh tế thương mại mật thiết là Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu và Quảng Đông cùng với hai đặc khu hành chính đặc biệt Hongkong và Macao, gọi tắt là “9+2” bao trùm một diện tích là 2,0006 triệu km2 9 tỉnh và đặc khu chỉ chiếm 20,9% tổng diện tích cả nước, dân số chiếm
Trang 29khoảng 34-35% nhưng quy mô GDP chiếm tới 33,3% GDP toàn Trung Quốc Khu trung tâm của vùng kinh tế này là Hongkong và Quảng Châu với mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế cấp thế giới trong đó Hongkong đóng vai trò trung tâm tài chính và dịch vụ quốc tế, Quảng Châu giữ vị trí là trung tâm sản xuất toàn cầu Bao quanh khu trung tâm này là hai vành đai kinh tế, một là vành đai kinh tế mật thiết bao gồm Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến; vành đai kinh tế bán mật thiết gồm Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Hồ Bắc, Đài Loan và 10 quốc gia ASEAN Mục tiêu tổng thể của phát triển “Tam giác sông Chu mở rộng” trong tương lai là trở thành vành đai kinh tế quan trọng nhất của Trung Quốc và Châu Á, khu tiên phong và khu trung tâm của liên minh kinh tế châu Á, vành đai kinh tế cấp thế giới Các chức năng định hướng của nó chủ yếu bao gồm vùng sản xuất chế tạo cấp thế giới, vành đai kinh tế sinh thái cấp thế giới (vành đai nông nghiệp sinh thái,
du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường sinh thái), vành đai thương mại tự do và vận chuyển hàng hoá của thế giới, vành đai dung hợp văn hoá Đông Tây và sáng tạo văn minh mới của nhân loại
- Về hợp tác đối ngoại:
Trong nhiều năm trước đây trọng điểm quan hệ của Trung Quốc luôn được đặt vào các cường như Mỹ, Nhật, EU, song các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung và các nước láng giềng nói riêng với lợi thế gần cận về địa lý, là những thị trường dễ tính với hàng hoá Trung Quốc và là khu vực có tài nguyên phong phú, đa dạng, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nên các nước trong vùng ngày càng có
vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của Trung Quốc Ngược lại, các nước Đông Nam Á nói chung và các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc nói riêng cũng tìm thấy ở người láng giềng khổng lồ của mình một đối tác vừa hợp tác vừa cạnh tranh về thương mại và đầu tư, một thị trường rộng lớn và dễ tính, là người bạn hợp tác về thương mại và đầu tư lớn trong tương lai Là tỉnh tiếp giáp trực tiếp
Trang 30với nhiều quốc gia Đông Nam Á nhất, hiện Vân Nam đang trực tiếp tham gia vào 5
cơ chế hợp tác đối ngoại với các nước trong khu vực với mức độ phát triển không đồng đều, cụ thể là:
Khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN là cơ chế hợp tác thương mại tự do
giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN do Trung Quốc đề xướng xây dựng Tháng
10 năm 2002, Trung Quốc cùng 10 nước ASEAN đã ký kết “Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc và ASEAN”, chính thức khởi động xây dựng khu mậu dịch tự do Đây sẽ là khu kinh tế bao trùm 1,7 tỷ người tiêu dùng với tổng lượng thương mại lên tới 1.200 tỷ USD, đồng thời cũng sẽ là khu mậu dịch tự do có dân số đông nhất, do các nước đang phát triển xây dựng lớn nhất trên thế giới "Hiê ̣p nghi ̣ khung Hợp tác kinh tế toàn diê ̣n Trung Quốc -ASEAN" quyết đi ̣nh xây dựng Khu vực
mâ ̣u di ̣ch tự do Trung Quốc -ASEAN vào năm 2010, đề ra các mụ c tiêu hợp tác kinh tế toàn diê ̣n như Trung Quốc và ASEAN tăng cường và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế -thương ma ̣i và đầu tư giữa các bên ký kết ; thúc đẩy thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ, từng bước thực hiê ̣n tự do hóa về thương mại hàng hoá và dịch vu ̣, đồng thời xây dựng cơ chế đầu tư minh ba ̣ch , tự do và tiê ̣n lợi; mở ra lĩnh vực mới hợp tác kinh tế gắn bó hơn giữa các bên
Để đẩy nhanh tiến trình xây dựng khu mậu dịch tự do này, tháng 10 năm 2003, lãnh đạo Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết và công bố “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc và ASEAN vì hoà bình và thịnh vượng”, 2004 thông qua kế hoạch hành động về quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc ASEAN, quy hoạch toàn diện hợp tác trên các lĩnh vực giữa Trung Quốc và ASEAN Tiếp sau chương trình “thu hoạch sớm” (EH) về cắt giảm thuế quan đã được thực thi năm 2004, tháng 7 năm 2005, “Hiệp định thương mại hàng hoá” của khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN được chính thức thực thi Nội dung cơ bản nhất của Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN – Trung Quốc là các lộ trình cắt giảm thuế quan của
Trang 31ASEAN và Trung Quốc và nguyên tắc hưởng ưu đãi Có hai nhóm hàng hoá chủ yếu
có lộ trình cắt giảm thuế khác nhau là Nhóm các hàng hoá cắt giảm thuế thông thường (NT) và Nhóm các hàng hoá nhạy cảm (SEL) Theo lộ trình này, hai bên đã tiến hành cắt giảm thuế suất đối với khoảng 7 nghìn mục thuế Tháng 1 năm 2007, Trung Quốc cùng 10 nước ASEAN ký kết “Hiệp định thương mại dịch vụ” của khu mậu dịch tự do Trung Quốc ASEAN, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình xây dựng khu mậu dịch tự do này, đạt cơ sở vững chắc cho việc xây dựng toàn diện khu mậu dịch tự do đúng thời hạn
Hợp tác kinh tế khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông đang tiến triển thuận lợi 6 nước
trong khu vực lưu vực sông Mê Kông gồm Trung Quốc, Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam đã cùng tham gia vào cơ chế hợp tác kinh tế tiểu vùng (gọi tắt
là GMS) dưới sự khởi xướng của ngân hàng phát triển Châu Á ADB vào năm 1992 Tôn chỉ của nó là tăng cường các mối liên hệ giữa các nước trong tiểu vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của tiểu vùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội các nước, thực hiện tiểu vùng cùng thịnh vượng Với tư cách là tỉnh chủ yếu của Trung Quốc tham gia vào hợp tác tiểu vùng và là phó trưởng đoàn trong đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia hội nghị cấp bộ trưởng GMS, đến nay Vân Nam đã tham gia 13 hội nghị cấp bộ trưởng đồng thời là đơn vị tổ chức hội nghị cấp bộ trưởng năm 1996
và 2003 Hội nghị thượng đỉnh về hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng
đã được tổ chức 3 lần lần lượt là GMS 1 Phnomphenh năm 2002, GMS 2 Côn Minh
năm 2005, GMS 3 Vienchăn năm 2008 Sau hội nghị GMS 2, khuôn khổ chiến lược
hợp tác vì một tiểu vùng thịnh vượng và phát triển hài hoà đã được xác định trên 4 nội dung chính: 1- củng cố hạ tầng cơ sở cho sự phát triển; 2- cải thiện môi trường đầu tư và thương mại, thúc đẩy tự do hoá về kinh tế; 3- tăng cường cơ sở xã hội và môi trường và 4- huy động tài chính và đẩy mạnh các quan hệ đối tác… Các hành kinh tế xây dựng trong phạm vi hợp tác GMS này có thể đóng vai trò tích cực nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực trên nhiều cấp độ Trung Quốc đang thay
Trang 32đổi chiến lược của mình đối với tiểu vùng Mê kông mở rộng và muốn trở thành quốc gia hàng đầu trong tiểu vùng Mặt khác, Trung Quốc muốn thể hiện xu thế tham gia tiểu vùng GMS với tư cách là nhà tài trợ cho tiểu vùng GMS chứ không phải là nước nhận hỗ trợ từ các Chương trình hợp tác tiểu vùng GMS Nhìn chung, sự phát triển cơ
sở hạ tầng liên kết tiểu vùng có tác động rất lớn đến quan hệ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lục địa Chính sự phát triển cơ sở hạ tầng đã tăng lưu lượng thương mại qua biên giới tiểu vùng và giữa các nước trong tiểu vùng; kích thích các nền kinh tế đang chuyển đổi đẩy nhanh sang nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh hướng ngoại; thúc đẩy việc hình thành các đặc khu kinh tế mở và đặc khu mậu dịch tự do; tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống và góp phần xoá đói, giảm nghèo ở các quốc gia dọc hai bờ Đông - Tây Mêkông; thúc đẩy hoạt động dịch vụ, thu hút đầu tư bao gồm cả khu vực kinh tế tư nhân; góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trong tiểu vùng, đặc biệt là góp phần hạn chế sự biệt lập, khép kín của các vùng sâu, vùng xa của một số nước trong Đông Nam Á lục địa như Myanmar, miền Tây Việt Nam, Đông Bắc Thái Lan, Bắc Lào và Tây Nam Trung Quốc; góp phần tạo thuận lợi phát triển vùng Tây Nam Trung Quốc gồm 10 tỉnh trong đó có tỉnh Vân Nam thuộc tiểu vùng Đồng thời , đây cũng là cơ hội để Hongkong, Ma Cao tăng cường đầu tư vào phía Tây lục địa còn nhiều tiềm năng như thị trường Myanma, Lào và Đông Bắc Thái Lan thậm chí cả với Ấn Độ và Bănglađét Cho đến nay Đài Loan, Hồng Kông vẫn là những nhà đầu tư đáng kể vào khu vực
Cơ chế hợp tác kinh tế khu vực Bănglađét - Ấn Độ - Myanma – Trung Quốc
đang khởi động mạnh mẽ Hợp tác kinh tế khu vực Bănglađét - Ấn Độ - Myanma –
Trung Quốc (gọi tắt là “hợp tác BCIM”) có phạm vi bao trùm tỉnh Vân Nam của
Trung Quốc, bang Tây Bengal và vùng Đông Bắc Ấn Độ cùng toàn bộ lãnh thổ Myanma và Bănglađét với tổng diện tích 1,65 triệu km2, tổng số dân là trên 4 tỷ người Cơ chế hợp tác này được tỉnh Vân Nam đề xuất xây dựng và tích cực xúc tiến, đồng thời cũng là cơ chế hợp tác tiểu vùng đa bên duy nhất của Trung Quốc đối với
Trang 33khu vực Nam Á Mục tiêu của nó là thúc đẩy thành lập tổ chức hợp tác Côn Minh, xây dựng khu mậu dịch tự do mang tính khu vực Cho đến nay, đã tổ chức được 7 hội nghị trong đó hội nghị lần thứ nhất và thứ 5 đã được tổ chức tại Côn Minh vào năm
1999 và 2004 Trong “Tuyên bố chung Trung Ấn” được phát biểu nhân chuyến thăm chính thức của chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Ấn Độ tháng 11/2006 đã khẳng định, hai bên hoàn toàn ủng hộ ý tưởng tổ chức trạm xe đường bộ Kolkata - Côn Minh (đi qua Băng la đét và Myanma) được nêu trong diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực Băng la đét
- Ấn Độ - Myanma – Trung Quốc Hiện nay, theo sự sắp xếp của chính phủ, Vân Nam đang thúc đẩy nâng cao hợp tác kinh tế khu vực Bănglađét-Trung Quốc-Ấn Độ- Myanma từ bình diện “hai quỹ đạo” dân gian lên bình diện “một quỹ đạo” chính phủ, thúc đẩy phát triển đi vào chiều sâu Mục tiêu của cơ chế hợp tác này là xúc tiến việc thành lập tổ chức hợp tác Côn Minh, xây dựng khu vực mậu dịch tự do khu vực Các con đường thuỷ, bộ qua Myanmar tới Ấn Độ Dương đối với Trung Quốc có một ý nghĩa kinh tế to lớn Từ lối thoát ra Ấn Độ Dương này Trung Quốc sẽ không phải đi vòng qua eo biển Malacca như trước nữa Việc tiếp cận nhanh với Ấn Độ Dương giúp Trung Quốc thuận lợi hơn trong xuất khẩu hàng hoá giá rẻ tới các nước Đông Nam Á lục địa, Ấn Độ và các láng giềng khác Tỉnh Vân Nam lại có điều kiện thuận lợi tiếp xúc, giao lưu với các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực và thế giới
Hợp tác kinh tế thương mại “Hai hành lang Một vành đai” Việt Trung đang
bước vào giai đoạn triển khai thực chất Tháng 10 năm 2004, chính phủ hai nước Việt Nam Trung Quốc đã ra tuyên bố chung nêu rõ hai bên tích cực nghiên cứu xây dựng vấn đề “Hai hành lang Một vành đai” Hai hành lang Một vành đai là khái niệm bao gồm hai hành lang “Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh”và
“Nam Ninh - Lạng Sơn – Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh”và “vành đai kinh tế vịnh Bắc bộ” Ngày 17/11/2006, “Tuyên bố chung Việt Nam Trung Quốc”tại Hà Nội nêu rõ đẩy nhanh tiến trình xây dựng “Hai hành lang Một vành đai”, xúc tiến vững
Trang 34chắc thiết thực các dự án hợp tác cụ thể Mục tiêu của sáng kiến hợp tác Hai hành lang - Một vành đai bao gồm: (i) xây dựng và phát triển Hai hành lang - Một vành đai
để trở thành trung tâm kinh tế lớn, đóng vai trò là lực đẩy quan trọng trong phát triển các mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc; (ii) tận dụng lợi thế và các tiềm năng và thế mạnh của mỗi vùng dọc các hành lang và vành đai, xây dựng và phát triển các mối quan hệ kinh tế song phương và đa phương để phát triển ổn định, nhanh chóng và toàn diện, hợp tác phát triển trong các lĩnh vực chủ chốt thông qua các cơ chế hiệu quả và phù hợp; (iii) thông qua phát triển hợp tác vùng, thúc đẩy tình hữu nghị và hoà bình giữa các khu vực đường biên của hai nước và khu vực Vịnh Bắc Bộ, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội tại các vùng liên quan, trở thành cầu nối hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN [4]
Đặc biệt, cùng với việc từng bước thúc đẩy xây dựng hành lang kinh tế Côn Minh-Hà Nội, Vân Nam có thể cung cấp các dịch vụ với chất lượng tốt cho hai nước Việt - Trung trong việc triển khai hợp tác mạnh hơn nữa với các thị trường mới nổi như Nam Á, thúc đẩy hai nước Việt - Trung tăng cường hợp tác, mở ra triển vọng mới cho hợp tác quốc tế trong khu vực Với việc xây dựng hai tuyến hành lang kinh
tế Việt – Trung này sẽ giúp hàng hoá của hai bên dễ dàng xâm nhập vào thị trường của nhau Nói riêng về Trung Quốc, hàng hoá của nước này hết sức thuận lợi xâm nhập vào thị trường miền Bắc Việt Nam; từ đó hàng hoá được đưa xuống các tỉnh miền Trung và miền Nam Thông qua các hành lang kinh tế Việt – Trung, Trung Quốc còn có nhiều thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hoá hai chiều từ miền Tây sang miền Đông và ngược lại, hoặc xuất khẩu ra nước ngoài Hai hành lang kinh tế này được thiết lập sẽ làm giảm chi phí vận chuyển hàng hoá giữa các vùng của Trung Quốc Nếu Trung Quốc vận chuyển hàng từ Côn Minh (Vân Nam) ra cảng biển Phòng Thành (Quảng Tây) bằng đường sắt sẽ phải đi quãng đường dài gần 1.400 km, bằng đường bộ dài gần 2.000 km nhưng nếu vận chuyển qua cửa khẩu Lào Cai ra
Trang 35cảng Hải Phòng bằng đường sắt chỉ là 900 km, đường bộ là 1000 km, giảm gần một nửa chiều dài
Vân Nam tham gia trực tiếp vào hành lang Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, và hiện cũng chỉ có hành lang này đang được tiến hành xây dựng.[4] Khu vực mà tuyến hành lang kinh tế này đi qua là một trong những khu vực kinh tế phát triển của Vân Nam Đoạn từ Hà Khẩu đến Côn Minh là nơi có vị trí địa
lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, điều kiện phát triển tương đối tốt, cơ
sở hạ tầng tương đối đồng bộ, tố chất lao động cũng tương đối cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh, môi trường đầu tư hấp dẫn của tỉnh Vân Nam Đoạn trên lãnh thổ Việt Nam có Hải Phòng, Hà Nội là hai thành phố có tốc độ tăng trưởng nhanh Hà Nội là trung tâm kinh tế của các tỉnh Bắc Bộ Việt Nam, Hải Phòng là thành phố cảng lớn thứ hai của Việt Nam, kinh tế tăng trưởng nhanh, tiềm năng phát triển mạnh Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh là khu kinh tế trọng điểm phía bắc của Việt Nam Các tỉnh tiếp giáp với Vân Nam như Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu đều là khu vực có tài nguyên về động thực vật, khoáng sản phong phú Do khu vực hành lang kinh tế Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh có tính bổ sung nhau rất mạnh, nên việc xây dựng tuyến hành lang này sẽ làm cho yếu tố sản xuất cả một vùng từ Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng sẽ nâng cao hơn tính bổ sung lẫn nhau,
có thể tận dụng tài nguyên phong phú về khoáng sản, thủy lợi, sinh vật và du lịch, đặc biệt là các ngành nghề có ưu thế của vành đai này để xây dựng khu vực sản xuất mang tính đặc thù của khu vực, có lợi cho việc tăng cường hơn nữa ưu thế cạnh tranh của hành lang kinh tế, làm cho khu vực này phát triển nhanh và hiệu quả hơn
Cơ chế hợp tác Trung Quốc (Vân Nam) – phía Bắc Thái Lan Tháng 4 năm 2004,
tổ công tác hợp tác Vân Nam - Bắc Thái Lan đã tổ chức hội nghị lần thứ nhất tại Côn Minh, chính thức khởi động cơ chế hợp tác Vân Nam - Bắc Thái Lan Cơ chế hợp tác này là cơ chế quan trọng trong khuôn khổ thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược
Trang 36Trung Quốc – Thái Lan, thực hiện cùng phát triển bền vững kinh tế xã hội, cải thiện mức sống người dân, giải quyết và điều phối những vấn đề thực tế trong giao lưu hợp tác Tháng 2 năm 2006, hai nước Trung Quốc Thái Lan đã tổ chức hội nghị của tổ công tác lần thứ hai tại Chiềng Mai Thái Lan, đạt được 3 nhận thức chung trong hợp tác kinh tế thương mại: một là hai bên dốc sức nỗ lực cải thiện điều kiện cơ sở của thương mại mỗi bên, xúc tiến phát triển thương mại giữa Vân Nam với Thái Lan (phía Bắc); hai là hai bên khuyến khích doanh nghiệp hai nước tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại như hội chợ thương mại bán lẻ, hội chợ giao dịch v v…, thúc đẩy thành lập Ban quản lý kinh doanh Vân Nam – Thái Lan (phía Bắc); ba là hai nước thành lập tổ đầu tư thương mại trong khuôn khổ tổ công tác, tiếp tục tăng cường hợp tác đa lĩnh vực kinh tế thương mại giữa hai nước
Hợp tác Trung Quốc (Vân Nam) - Bắc Lào đã đạt được nhận thức chung Cơ chế
tổ công tác hợp tácVân Nam Trung Quốc - Bắc Lào là nhận thức chung mà lãnh đạo hai nước đã đạt được, được xây dựng nhằm thúc đẩy khai thác phát triển khu vực bắc Lào, tăng cường hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Vân Nam với Lào Tháng 10 năm 2004
tổ công tác đã tổ chức hội nghị lần thứ nhất tại Savannakhet Lào, hội nghị lần thứ 2 tổ chức tại Côn Minh tháng 11 năm 2005 Ba nhận thức chung về các vấn đề phát triển kinh tế thương mại đã được tuyên bố là: một là hai nước cần cùng nhau thúc đẩy thương mại Vân Nam – Lào phát triển ổn định, không ngừng mở rộng quy mô đầu tư của Vân Nam vào Lào; hai là cần hợp tác khai thác tài nguyên đặc biệt là điều tra tài nguyên khoáng sản, xây dựng bản đồ địa chất khoáng sản, thăm dò khai thác quặng
bô xít, quặng đồng và sivinit; ba là xúc tiến hợp tác nông nghiệp với trọng điểm là dự
án trồng cao su thay thế và hợp tác khu thí nghiệm nông nghiệp Lào “Tuyên bố chung Trung Lào” tháng 11 năm 2006 nêu rõ phát huy vai trò điều phối của cơ chế hợp tác Vân Nam - Bắc Lào, tăng cường trao đổi kinh tế thương mại các tỉnh vùng biên, tiếp tục tạo điều kiện cho thương mại song phương phát triển Tỉnh Vân Nam là một trong những địa phương Trung Quốc đi đầu trong việc thúc đẩy hợp tác làm ăn
Trang 37với Lào.Những năm gần đây, tỉnh Vân Nam và Lào đã ký kết 12 hiệp định hợp tác kinh tế thương mại với tổng trị giá lên tới 1,6 tỷ USD, trong đó có thoả thuận về việc hợp tác phát triển ngành sản xuất cao su trị giá 120 triệu USD
Các hợp tác đối ngoại tuy có nhiều lợi thế và tham vọng, có nhiều tiến triển nhưng tựu chung lại vẫn còn đang ở giai đoạn xây dựng và hoàn thiện cơ chế, cải tạo, xây dựng mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng
1.1.3.4 Ưu thế về khai thác tài nguyên hợp tác bổ trợ kinh tế
Tổng lượng tài nguyên của Vân Nam đứng hàng thứ 6 trong 31 khu vực tỉnh thành của Trung Quốc, lượng tài nguyên bình quân đầu người gấp 3 lần mức bình quân trong cả nước Tỉnh có 4 nguồn tài nguyên ưu thế lớn:
Một là, tài nguyên sinh vật phong phú, được tôn xưng là “vương quốc thực vật”,
“vương quốc động vật”, “quê hương của hoa cỏ”, “quê hương của cây dược liệu”, các chủng loại thực vật cao cấp, động vật có xương sống chiếm trên 50% số lượng trong
cả nước Vân Nam là tỉnh có nhiều chủng loại thực vật nhất trên toàn quốc, không những có các loài thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới, hàn đới, mà còn có rất nhiều loại thực vật cổ, diễn sinh, đặc biệt là những loài có nguồn gốc từ nước ngoài Trong gần 30.000 loài thực vật cao cấp trong cả nước thì Vân Nam có 18.000 loài, chiếm trên một nửa tổng số loài của cả nước Mật độ bao phủ rừng trên tổng diện tích đất đai của toàn tỉnh đạt 49,91% Cuối năm 2007, Vân Nam có tổng cộng 176 khu bảo tồn tự nhiên trong đó có 16 khu cấp quốc gia và 45 khu cấp tỉnh[49]
Hai là, trữ lượng tài nguyên khoáng sản chủ yếu là phốt pho và kim loại màu rất
lớn, tập trung cao độ, trữ lượng có thể quy hoạch được của 25 loại khoáng sản như phốt pho, đống, chì, kẽm.v.v đứng hàng thứ 3 trên toàn quốc, trữ lượng mỏ có P2O5trong hàm lượng phốt pho lớn hơn 30% chiếm 35% các mỏ, trữ lượng kẽm chiếm 22,67% trong cả nước Đến nay đã phát hiện trên 150 loại khoáng sản có thể dùng được, chiếm 93% các loại khoáng sản đã phát hiện trên toàn quốc, trong đó giá trị
Trang 38tiềm năng trữ lượng có thể đạt đến 3000 tỷ NDT Tính theo giá trị tiềm năng thì khoáng sản nhiên liệu chiếm khoảng 40%, khoáng sản kim loại chiếm khoảng 7,3%, khoáng sản phi kim loại chiếm khoảng 52,7% Khoáng sản đã thăm dò kỹ trữ lượng
có 92 loại với 2700 điểm mỏ[19]
Ba là, tài nguyên thuỷ điện dồi dào Tỉnh Vân Nam có lượng mưa dồi dào, nhiều
sông hồ, lượng mưa bình quân hàng năm là 222,2 tỷ m3, lượng nước quá cảnh khoảng
160 tỷ m3, cộng cả hai loại tính bình quân đầu người khoảng 1 vạn m3, gấp 4 lần lượng bình quân đầu người trong cả nước Nguồn tài nguyên nước phong phú đã hình thành nên nguồn thuỷ năng phong phú, đồng thời trở thành ưu thế lớn nhất về nguồn năng lượng Tổng trữ lượng điện theo lý thuyết trong toàn tỉnh là 103.640.000 Kw, dung lượng máy phát có thể phát ra là 71.168.000 Kw[19]
Bốn là, tài nguyên du lịch phong phú Nhờ có hoàn cảnh điạ lý phức tạp, đa dạng,
điều kiện khí hậu ôn hoà, lịch sử văn hoá cổ kính; và là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, tạo thành một nguồn du lịch không đâu có được, Vân Nam đã trở thành nơi du lịch cả bốn mùa nổi tiếng ở trong nước và trên thế giới Phong cảnh thiên nhiên của Vân Nam có kỳ quan dung nham cac-xtơ, hiện tượng độc nhất vô nhị, 3 dòng sông cùng chảy bên nhau, những đỉnh núi phủ tuyết ở Bắc bán cầu, nơi gần xích đạo nhất, "Viện bảo tàng nhiệt đới" hiếm thấy Cảnh quan dân tộc bao gồm 25 nền văn hoá và phong tục đậm đà bản sắc dân tộc thiểu số Đặc biệt là trang phục, nghi lễ hôn nhân, tập quán ẩm thực, ca múa, văn hoá, tôn giáo và kiến trúc độc đáo đã tạo ra một bức tranh phong cảnh dân tộc muôn màu vẻ, làm cho Vân Nam vinh dự được mệnh danh là "Đại quan viên phong tục dân tộc".Các địa điểm du lịch nổi tiếng của Vân Nam bao gồm Côn Minh, thành cổ Lệ Giang (đã được xếp hạng di sản văn hoá thế giới), Thạch Lâm (đã được xếp hạng di sản thiên nhiên thế giới), Ngọc Long tuyết sơn, Đại Lý v v…
Vân Nam là vùng công nghiệp thuốc lá chủ chốt, vùng sản xuất hoa, (cây cảnh chủ yếu xuất khẩu hoa tươi của Vân Nam chiếm hơn ½ xuất khẩu hoa trên toàn quốc),
Trang 39vùng công nghiệp luyện kim loại màu (1/2 sản lượng thiếc của Trung Quốc sản xuất
ở Vân Nam), vùng khai phát thuỷ điện chủ chốt, vùng chế tạo máy móc… của Trung Quốc Những ngành này đã hình thành cơ sở và điều kiện tốt, sẽ tạo cơ sở vật chất lâu dài và lực lượng tiềm năng phát triển mạnh cho hợp tác khu vực Riêng với khu vực ASEAN, tiềm năng thương mại bổ trợ đôi bên rất to lớn và đang được đẩy mạnh khai thác rất tích cực Các mặt hàng xuất khẩu của Vân Nam sang ASEAN và Nam Á đa dạng, không chỉ có các mặt hàng nguyên liệu kim loại màu như đồng, bạc, chì mà các mặt hàng gia công chế tạo như sản phẩm cơ điện, dệt may, gang thép, phân bón và điện lực cũng đang ngày càng chiếm vị trí lớn hơn trong giỏ hàng xuất khẩu Các mặt hàng Vân Nam nhập khẩu nhiều nhất từ ASEAN bao gồm các quặng kim loại, nông sản, phụ liệu công nghiệp Nhìn chung, tuy chưa phải là trung tâm kinh tế phát triển của Trung Quốc nhưng so sánh với trình độ sản xuất và công nghiệp hoá các nước láng giềng nhất là của các tỉnh biên giới tiếp giáp với Vân Nam thì Vân Nam vẫn có
sự chênh lệch nhất định Nhờ đó, xét mặt bằng chung Vân Nam vẫn có nhiều ưu thế
về thương mại
Tựu chung, Vân Nam có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh cả về điều kiện tự nhiên
và điều kiện kinh tế xã hội, là nền tảng quý báu để phát triển nhanh và bền vững Tuy vậy, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, những khó khăn và cản trở về vị trí, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và cơ tầng kinh tế - xã hội của Vân Nam đã luôn là những trở lực to lớn khiến trình độ phát triển của Vân Nam còn ở mức độ thấp và những ưu thế vẫn còn đang ở dạng tiềm năng Mặt khác, tuy nằm tại trung tâm của khu vực phát triển năng động Trung Quốc – ASEAN – Nam Á nhưng tiếp giáp với Vân Nam chủ yếu lại là những vùng - nền kinh tế với trình độ phát triển còn khiêm tốn Khả năng phát triển giao thương thông qua cơ sở hạ tầng trên đất liền trong một khu vực địa lý phức tạp cũng đỏi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực Cải thiện được những nút thắt này sẽ gặp nhiều thách thức, nhưng triển vọng thành quả mà nó mang lại sẽ vô cùng to lớn
Trang 401.2 Quá trình cải cách mở cửa ở Vân Nam – thành tựu và triển vọng
1.2.1 Thành tựu cải cách mở cửa ở Vân Nam
Lịch sử phát triển lâu dài đã giúp Vân Nam có một số cơ sở kinh tế nhất định trước khi bước vào thời kỳ cải cách mở cửa Hoạt động khai thác thuộc địa của Pháp với tuyến đường sắt Điền Việt cùng những chủ trương phát triển công nghiệp thuốc lá, chè và khai thác khoáng sản vào giai đoạn đầu khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời bước đầu tạo nền móng cho ngành nông nghiệp hàng hoá và các cơ sở công nghiệp Cùng với đó là vai trò thông thương biên giới của Vân Nam sớm giúp tỉnh này có truyền thống hoạt động thương mại và hoạt động biên mậu Cải cách mở cửa được tiến hành ở Trung Quốc từ năm 1978 nhưng phải đến những năm cuối của thập kỷ 80 và đặc biệt là những năm của thập kỷ 90 thế kỷ XX, Vân Nam mới bắt nhịp vào guồng vận động mạnh mẽ sôi động này với thuận lợi trong nước là hai chiến lược phát triển lớn của Trung Quốc bao gồm mở cửa vùng biên và đại khai phát miền Tây và bối cảnh quốc tế là việc chính phủ hai nước Việt Nam – Trung Quốc bình thường hoá quan hệ Năm 1999, chiến lược phát triển “ba mục tiêu” đã nêu rõ mục tiêu xây dựng Vân Nam trở thành tỉnh mạnh kinh tế xanh, tỉnh lớn về văn hoá dân tộc
và con đường thông quốc tế để Trung Quốc nối với Đông Nam Á, Nam Á
Những thành tựu cải cách mở cửa của Vân Nam tuy còn khiêm tốn nhưng là những thành tựu bước đầu của một khu vực đầy tiềm năng Đây là kết quả của cả một quá trình không ngừng đổi mới và phát triển về tư duy kinh tế, quản lý và chiến lược,
bộ mặt đời sống chính trị kinh tế văn hoá Vân Nam không ngừng khởi sắc và vị thế của Vân Nam ngày càng trở nên vững chắc và quan trọng Ở cả hai mặt trận là cải cách kinh tế và mở cửa đối ngoại, Vân Nam đều thu được những thành quả to lớn 1.2.1.1 Về cải cách kinh tế: