1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao cấp: ứng dụng kinh tế học chính trị Mác Lênin vào việc nghiên cứu và tìm giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế

28 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy theo những mục đích khác nhau, người ta có thể phân chia cơ cấu kinh tế dưới những góc độ khác nhau. Do đó có nhiều loại cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành và khu vực kinh tế: Đây là bộ phận cơ bản, cốt lõi của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế cho biết số lượng, tỷ trọng và vị trí của các ngành chuyên môn hóa (như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, thương mại…) trong nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng; Khu vực (hay lĩnh vực) kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Ví dụ: Khu vực nông nghiệp (khu vực I) khu vực công nghiệp (khu vực II) khu vực dịch vụ (khu vực III). Cơ cấu vùng kinh tế (hay cơ cấu lãnh thổ) là sự phân chia nền kinh tế theo yếu tố địa lý, lãnh thổ. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội, truyền thống, kinh nghiệm sản xuất… của mỗi vùng là hiện tượng phổ biến trong tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy cơ cấu kinh tế cũng mang tính phổ biến ở mọi vùng quốc gia. Cơ cấu vùng kinh tế phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế xã hội của mỗi vùng, lãnh thổ và sự liên kết, hỗ trợ tác động giữa chúng, tạo ra sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu thành phần kinh tế: Phản ảnh cơ cấu cả về mặt kinh tế, cả về mặt xã hội. Nền kinh tế chỉ phát triển khi mọi lực lượng sản xuất được giải phóng, các nguồn lực được huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả. Vì vậy sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, bảo đảm sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, giải quyết tốt vấn đề các thành phần kinh tế sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; Ngược lại, lực lượng sản xuất phát triển sẽ tạo ra năng xuất lao động cao, sản xuất có nhiều tích lũy, tạo điều kiện giải quyết công bằng và tiến bộ xã hội, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU -* -

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã khẳngđịnh: 15 năm đổi mới (1986 - 2000) đã cho chúng ta nhiều kinhnghiệm quí báu Những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIIIcủa Đảng nêu lên đến nay vẫn còn có giá trị lớn Nhất là bài học:Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bao gồm xây dựng quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa

xã hội, nền văn hóa mới và con nguời mới - động lực trực tiếp của sựphát triển xã hội Công nghiệp hóa - hiện đại hóa chính là quá trìnhxây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, từng bướchình thành cơ cấu kinh tế mới tương ứng với mỗi trình độ đạt đượccủa cơ cấu vật chất - kỹ thuật ấy

Những cơ hội và thách thức mới của thời đại ngày nay, cùngvới sự phát triển mạnh mẻ về mọi mặt của công cuộc đổi mới đất nước

ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải làm sáng tỏ về mặt lý luận để bảo vệ

và phát triển bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin Nó nghiên cứu các quan hệ xã hội của con người trong quátrình sản xuất, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất qua các giai đoạnphát triển của lịch sử xã hội loài người, làm rỏ bản chất của các quátrình và các hiện tượng kinh tế, tìm ra các quy luật vận động của nềnkinh tế - xã hội

Sau khi học tập, nghiên cứu bộ môn kinh tế học chính trị Mác Lênin do học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện thànhphố Hồ Chí Minh tổ chức đào tạo tại phân viện thành phố Hồ ChíMinh, niên khóa 2002 - 2003

-Tôi nhận thấy những lý luận của bộ môn kinh tế học chính trịMác - Lênin vừa mang tính khoa học, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc,

nó là cơ sở lý luận giúp các nhà quản lý và các doanh nghiệp xác địnhtrọng tâm phương hướng, nội dung hoạt động phù hợp với các quyluật khách quan Không chỉ thế, các bộ môn khác cũng lấy đó làm nềntảng để nghiên cứu, phát triển lý luận của mình

Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu và tìm giải phápchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóacủa huyện Cù Lao Dung (giai đoạn từ năm 2000 - 2005) Tôi đã chọn

bộ môn khoa kinh tế học chính trị Mác - Lênin làm cơ sở lý luận để

Trang 2

phân tích thực trạng, phương hướng tới Từ đó đề xuất các giải pháp

và hy vọng góp phần vào việc hoàn thành thắng lợi nhiệm kinh tế - xãhội của huyện nhà mà Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ huyện CùLao Dung lần thứ IX (nhiệm kỳ 2002 - 2005) đã đề ra

Trong một thời gian ngắn, mặc dù đã có nhiều cố gắng suynghĩ, tìm tòi Song những nhận thức và hiểu biết vẫn còn nhất định,không tránh khỏi những thiếu sót khi viết đề tài nầy Kính mong quíthầy, cô thông cảm và chỉ bảo thêm

Nhân đây cũng xin cảm ơn các đ/c đồng nghiệp đã tích cực giúp

đỡ thêm kinh nghiệm, cũng như cơ quan, đơn vị đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi để bản thân hoàn thành việc viết đề tài nầy

Xin chân thành cảm ơn phân viện thành phố Hồ Chí Minh đãquan tâm chỉ đạo và đồng cảm ơn quý Thầy, Cô khoa bộ môn kinh tếchính trị Mác - Lênin đã tận tình hướng dẫn để bản thân hoàn thànhtiểu luận tốt nghiệp trong một thời gian ngắn

Trân trọng kình chào!

Cù Lao Dung, ngày …… tháng …… năm 2003

NGƯỜI VIẾT ĐỀ TÀI

Trong lĩnh vực kinh tế, sự phát triển của lực lượng sản xuất đãthúc đẩy sự phân công lao động xã hội Các ngành, các lĩnh vực đượcphân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật, khi các

Trang 3

ngành, các lĩnh vực kinh tế hình thành, đòi hỏi phải giải quyết mốiquan hệ giữa chúng Mối quan hệ đó vừa thể hiện hợp tác, sự hổ trợlẩn nhau, song cũng cạnh tranh nhau để phát triển Sự phân công vàmối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trìnhhình thành cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành của các yếu tố, các bộphận, các mặt, các khâu… với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tácgiữa chúng, hợp thành kết cấu của nền kinh tế quốc dân trong quátrình tái sản xuất xã hội

2)- Các loại cơ cấu kinh tế chủ yếu:

Tùy theo những mục đích khác nhau, người ta có thể phân chia

cơ cấu kinh tế dưới những góc độ khác nhau Do đó có nhiều loại cơcấu kinh tế

- Cơ cấu ngành và khu vực kinh tế: Đây là bộ phận cơ bản, cốtlõi của cơ cấu kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế cho biết số lượng, tỷtrọng và vị trí của các ngành chuyên môn hóa (như nông nghiệp, côngnghiệp, giao thông vận tải, du lịch, thương mại…) trong nền kinh tế vàmối quan hệ giữa chúng; Khu vực (hay lĩnh vực) kinh tế được hiểutheo nghĩa rộng hơn Ví dụ: Khu vực nông nghiệp (khu vực I) khu vựccông nghiệp (khu vực II) khu vực dịch vụ (khu vực III)

- Cơ cấu vùng kinh tế (hay cơ cấu lãnh thổ) là sự phân chia nềnkinh tế theo yếu tố địa lý, lãnh thổ Sự khác nhau về điều kiện tựnhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội, truyền thống, kinh nghiệm sản xuất…của mỗi vùng là hiện tượng phổ biến trong tất cả các quốc gia trên thếgiới Vì vậy cơ cấu kinh tế cũng mang tính phổ biến ở mọi vùng quốcgia Cơ cấu vùng kinh tế phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tàinguyên, tiềm lực kinh tế - xã hội của mỗi vùng, lãnh thổ và sự liên kết,

hỗ trợ tác động giữa chúng, tạo ra sự phát triển của toàn bộ nền kinh tếquốc dân

- Cơ cấu thành phần kinh tế: Phản ảnh cơ cấu cả về mặt kinh tế,

cả về mặt xã hội Nền kinh tế chỉ phát triển khi mọi lực lượng sản xuấtđược giải phóng, các nguồn lực được huy động tối đa và sử dụng cóhiệu quả Vì vậy sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải giải quyếttốt mối quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, bảo đảm sự phù hợpcủa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, giải quyết tốt vấn đềcác thành phần kinh tế sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển;Ngược lại, lực lượng sản xuất phát triển sẽ tạo ra năng xuất lao độngcao, sản xuất có nhiều tích lũy, tạo điều kiện giải quyết công bằng vàtiến bộ xã hội, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới

Trang 4

Ngoài ra còn có thể xem xét nhiều loại cơ cấu kinh tế khác như:

Cơ cấu tái sản xuất (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), cơ cấu

về qui mô (lớn, vừa, nhỏ), cơ cấu về trình độ (thủ công, cơ khí, hiệnđại)

Khi đề cập đến cơ cấu kinh tế là muốn nhấn mạnh đến tính ổnđịnh của cơ cấu kinh tế, còn khi đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

là muốn nhấn mạnh đến sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế nhằm hìnhthành một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả

3)- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Đặc trưng của cơ cấu kinh tế là luôn luôn vận động, biến đổi Vìvậy, khi xem xét cơ cấu kinh tế thì cũng là xem xét sự chuyển dịchcủa cơ cấu kinh tế đó

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là quá trình chuyển dịch cácyếu tố nguồn lực từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ,nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người trong quá trìnhphát triển; Khi thu nhập cá nhân tăng, nhu cầu tiêu dùng về lươngthực, thực phẩm không tăng hoặc tăng không đáng kể, trong khi đónhu cầu tiêu dùng về các loại sản phẩm công nghiệp và các loại hìnhhoạt động dịch vụ không ngừng tăng lên Mặt khác trong quá trình sảnxuất nông nghiệp, do được ứng dụng những khoa học kỹ thuật đã làmcho năng suất lao động có xu hướng tăng lên, ngược lại lao động có

xu hướng giảm đi

Sự vận động, biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra rất đa dạnggiữa các quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triểnkhác nhau, song vẫn hình thành những xu hướng chung mang tính quyluật

- Xu hướng chuyển từ một nền kinh tế khép kính sang một nềnkinh tế mở, ngày càng liên kết chặc chẻ với bên ngoài

- Sự chuyển dịch theo hướng tỷ trọng nông nghiệp ngày cànggiảm, khu vực công nghiệp và dịch vụ (đặc biệt là dịch vụ) ngày càngtăng

4)- Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu sự ảnhhưởng tác động của rất nhiều nhân tố Tuy nhiên, có thể nêu ra cácloại nhân tố chủ yếu:

- Nhu cầu xã hội: Nhu cầu xã hội chính là thước đo, mục tiêu đểcác nhà doanh nghiệp lấy đó làm căn cứ, làm động lực thúc đẩy hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất pháttriển do tác động của khoa học, kỹ thuật phát triển, phân công lao

Trang 5

động xã hội diễn ra một cách mạnh mẻ, lĩnh vực mới xuất hiện phá vỡ

cơ cấu có trước đó để hình thành cơ cấu mới

- Vai trò của Nhà nước: Trong nền kinh tế nhiều thành phần,Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp, nhưng Nhà nước quản lý thông qua các công cụnhư: Luật, thuế, tín dụng, kế hoạch… để tác động vào nền kinh tế của

xã hội

- Xu thế thời đại: Với sự phát triển mạnh mẻ của khoa học côngnghệ đã gắn nền sản xuất giữa các quốc gia lại với nhau

5)- Các tiêu chí đánh giá một cơ cấu kinh tế hợp lý:

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đều có ý nghĩa rấtquan trọng là phải xác lập những mối quan hệ tỷ lệ cân đối và thườngxuyên tác động làm cho nền kinh tế chuyển từ trạng thái cân đối nầysang trạng thái cân đối khác cao hơn

Cơ cấu kinh tế hợp lý là một co cấu có khả năng tạo ra quá trìnhtái sản xuất mở rộng Cơ cấu kinh tế hợp lý có thể xem xét qua cáctiêu chí chủ yếu sau đây:

- Phù hợp với quy luật khách quan

- Tạo điều kiện thực hiện tốt nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội

đã được tạo ra

- Khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực để phát triển kinh

tế, đảm bảo sự phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần,tạo ra khả năng phát triển thuận lợi cho cả tổng thể và tích lũy nhiềunhất cho nền kinh tế quốc dân

II)- CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CƠ CẤU KINH TẾ:

1)- Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

- Nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điềukiện thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vàmột số nước đã bắt đầu phát triển nền kinh tế trí thức Vì vậy, khôngchỉ chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí hóa, mà còn phảitranh thủ ứng dụng rộng rải những thành tựu khoa học và công nghệtiên tiến của thời đại

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã nêu lênquan điểm: “Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm

vụ trọng tâm: Con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước tacần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa cóbước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả

Trang 6

năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thôngtin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ởmức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học vàcông nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn trí tuệ

và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; Coi phát triển giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa” (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX, Nhà xuất bản - Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2001, trang91)

- Công nghiệp hóa trước đây được tiến hành theo cơ chế kếhoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp, với các chỉ tiêu pháp lệnh.Ngày nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng; Thịtrường phản ảnh nhu cầu xã hội, sẽ quyết định việc phân bổ các nguồnlực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, lấy hiệu quả kinh tế -

xã hội làm thước đo

- Công nghiệp hóa trước đây được coi là việc riêng của Nhànước, ngày nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàndân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữa vaitrò chủ đạo

- Phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bảncho sự phát triển nhanh và bền vững Trong mọi chủ trương, chínhsách phải nhằm giải phóng tiềm năng của con người, thường xuyênquan tâm bồi dưỡng trí lực, thể lực, sử dụng nhân tài Nâng cao đờisống vật chất và văn hóa của nhân dân, phát triển văn hóa - giáo dục,thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, động viên toàn dân cần kiệm đểcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nền kinh tế trước đây, trên thực tế đã xây dựng khép kín,hướng vào ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Ngày nay, xây dựngnền kinh tế mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại vàkinh tế đối ngoại, trên cơ sở giữa vững độc lập chủ quyền; Kết hợpkinh tế với quốc phòng - an ninh, hướng mạnh vào xuất khẩu, thay thếnhập khẩu

- Phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xáclập phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư chiều sâu để khai tháctối đa năng lực sản xuất hiện có Lực chọn dự án đầu tư với những quy

mô thích hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương; ưu tiên những dự

án vừa và nhỏ, đòi hỏi ít vốn, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh.Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sảnxuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế vàquốc phòng Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Xây

Trang 7

dựng một số tập đoàn doanh nhiệp lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiệnđại hóa.

2)- Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa - hiện đại hóa:

Nước ta từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa

xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tất yếu phải tiến hành côngnghiệp hóa - hiện đại hóa bởi vì:

- Chỉ có công nghiệp hóa - hiện đại hóa mới có thể xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật cho chế độ mới Một mặt, kế thừa những thànhquả đạt được trong xã hội tư bản chủ nghĩa; Mặt khác nó được pháttriển và hoàn thiện nhờ ứng dụng những thành tựu của chế độ xã hộimới, đó chính là nền công nghiệp tiên tiến, trong đó ngành cơ khí chếtạo giữ vai trò then chốt, có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại chocác ngành kinh tế quốc dân, nhằm không ngừng phát triển sản xuất vànâng cao đời sống về mọi mặt cho nhân dân Trong điều kiện xuhướng toàn cầu hóa, kinh tế phát triển ngày càng sâu rộng thì cơ cấunền công nghiệp hóa và chuyên môn hóa trong nước với phân côngquốc tế, nhằm kết hợp tối ưu sức mạnh của quốc gia và quốc tế, củadân tộc và thời đại

- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa tạo ra lực lượng sản xuất mới

về chất, tạo tiền đề cho sự hình thành nhiều mối quan hệ mới về kinh

tế - xã hội, chính trị Trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển, quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ từng bước được hình thành, mở rộng vàcủng cố, đời sống của nhân dân sẽ dần dần được cải thiện, liên minhcông - nông - trí và chính quyền nhà nước sẽ củng cố và kiện toàn,cách mạng tư tưởng văn hóa sẽ có nhiều điều kiện thực hiện; Giai cấpcông nhân được trưởng thành về số lượng và chất lượng Sự giúp đỡcủa công nghiệp đối với nông nghiệp, thành thị đối với nông thônđược tăng cường, từng bước thực hiện sự bình đẳng về kinh tế giữacác dân tộc, các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ Điều đó đưa đến

sự thống nhất ngày càng cao về chính trị và tinh thần trong xã hội

- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa còn là yêu cầu khách quan củaviệc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng của sự thống nhấtgiữa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nướctrong thời kỳ mới, đường lối kinh tế của Đảng ta được xác định là:

“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độclập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợptheo định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát huy cao độ nội lực, đồng thờitranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để

Trang 8

phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; Tăng trưởng kinh tế đi liềnvới phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ vàcải thiện môi trường; Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăngcường quốc phòng - an ninh (Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG,HN-2001, trang 89).

3)- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa là quá trình hình thành cơ cấu kinh tế mới:

Hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế là một nội dung quantrọng khác của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sự phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền một cách hữu cơ với quá trình pháttriển phân công lao động xã hội; quá trình hình thành các ngành kinh

tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH… các ngành, các vùng, các thànhphần kinh tế tồn tại và hoạt động trong tổng thể nền kinh tế thốngnhất Chúng có mối liên hệ tất yếu khách quan dưới những hình thức

tổ chức sản xuất nhất định, hình thành nên cơ cấu của toàn bộ nềnkinh tế quốc dân như một chỉnh thể Trong hệ thống cơ cấu đó, cơ cấungành là quan trọng nhất, bao gồm những ngành giao thông vận tải,xây dựng cơ bản và những ngành trong lĩnh vực phân phối lưu thông

đủ sức phục vụ cho công nghiệp, nông nghiệp phát triển thuận lợi

Quá trình hình thành và hoàn thiện cơ cấu của toàn bộ nền kinh

tế quốc dân diễn ra từng bước, gắn với các giai đoạn của công nghiệphóa, hiện đại hóa và mỗi bước tiến của cơ sở vật chất kỹ thuật Nóicách khác, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu, kém hiệu quảsong cơ cấu hợp lý tối ưu, có hiệu quả, gắn liền với bước tăng trưởng

cơ sở vật chất - kỹ thuật do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóatạo ra Cơ cấu kinh tế quốc dân còn phải trãi qua nhiều bước chuyểndịch, thay đổi vị trí, vai trò của từng ngành và các quan hệ tỷ lệ giữacác ngành, nhằm đạt được yêu cầu khai thác tối đa và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực (lao động, vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyênthiên nhiên, trình độ quản lý) bên trong và bên ngoài, tạo ra nhiều sảnphẩm hàng hóa cho xã hội, theo hướng: “Khi kết thúc thời kỳ quá độ,hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu công - nôngnghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngàycàng sâu rộng” (Đảng cộng sản Việt Nam, cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB ST, HN, 1991,trang 12)

Trang 9

mở rộng Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm tăng13,5% Hệ thống kết cấu hạ tầng: Bưu chính - viễn thông, đường sá,cầu, cảng, sân bay, điện, thủy lợi… được tăng cường Các ngành dịch

vụ, xuất khẩu và nhập khẩu đều phát triển Năm 2000 đã chặn được đàgiảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt hoặcvượt kế hoạch đề ra” (Đảng CSVN, VKĐHĐB TQ lần thứ IX, trang69)

Trang 10

- Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, do nhận thức vai tròcủa cơ cấu kinh tế nên chúng ta đã quan tâm đến việc hình thành một

cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả

- Sau hơn 15 năm đổi mới, chúng ta ngày càng nhận thức đầy

đủ hơn, hoàn thiện hơn và có chuyển biến tốt về phát triển kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, mở cửa hội nhập với thế giới

- Cơ cấu ngành và các khu vực kinh tế đã có những chuyển biếntích cực: khu vực nông nghiệp ngày càng giảm về tỷ trọng trong tổngsản phẩm xã hội, trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càngtăng

- Cơ cấu vùng đang hình thành theo quy hoạch của các địaphương, các địa bàn lãnh thổ và theo chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

2)- Hạn chế:

Nhìn chung cơ cấu kinh tế nước ta vẫn là một cơ cấu kinh tếkém phát triển và chậm thay đổi Văn kiện đại hội IX của Đảng tacũng đánh giá trong việc thực hiện Nghị quyết đại hội VIII có nhữngyếu kém, khuyết điểm sau: “Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, nhịp độ tăng trưởng kinh tế 5 nămqua chậm dần, năm 2000 đã tăng trở lại nhưng vẫn chưa đạt mức tăngtrưởng cao như những năm giữa thập niên 90 Nhịp độ tăng trưỏngtổng sản phẩm trong nước (GDP) và GDP bình quân đầu người, nhịp

độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu,nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu do đại hội VIII đề ra…”

- Khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp,nhất là công nghiệp chế biến chưa phát triển

- Trình độ công nghệ sản xuất còn lạc hậu, sức cạnh tranh củahàng hóa chưa thật cao, còn chênh lệch về trình độ phát triển giữa cácvùng có chiều hướng ngày càng mở rộng

- Khu vực kinh tế nhà nước chưa bảo đảm hiệu quả và chưa thật

sự thực hiện tốt vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác chưa pháthuy mạnh mẻ tiềm năng, chưa đảm bảo sự hoạt động có trật tự, kỹcương theo pháp luật

II)- PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH

TẾ Ở NƯỚC TA:

1)- Phương hướng chung:

Với những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép nước tabước vào một thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội một cách vững chắcnghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) nhằm: Đưa nước ta ra

Trang 11

khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Kế hoạch 5 năm(2001 - 2005) là bước quan trọng trong việc thực hiện chiến lược 10năm (2001 - 2010) Mục tiêu là: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơcấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đạihóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế Mởrộng kinh tế đối ngoại, tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo nhiều việclàm; cơ bản xóa đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội Tiếptục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bướcquan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Giữa vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

Một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (2001 - 2005) là:

- Nhịp độ tăng GDP bình quân 7,5%/năm Tổng GDP năm 2005gấp 2 lần so với năm 1995

- Đến năm 2005 tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp là 20 - 21%GDP, công nghiệp và xây dựng là 38 - 39% GDP, các ngành dịch vụ

là 41 - 42% GDP

- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho khoản 7,5 triệu laođộng (bình quân 1,5 triệu lao động/năm) nâng tỷ lệ lao động qua đàotạo lên 30% vào năm 2005…

2)- Phương hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu trong cơ cấu kinh tế:

- Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với côngnghiệp chế biến nông - lâm thủy sản và đổi mới cơ cấu nông thôn

- Phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết côngnghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, xâydựng chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng

- Cải tạo nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạtầng, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất

- Phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các lĩnh vực vậntải, thông tin liên lạc, thương mại, dịch vụ; phát triển mạnh mẻ cácdịch vụ thông tin, tư vấn công nghệ, pháp luật, tài chính, kiểm toán,ngân hàng, bảo hiểm… Mở rộng các loại dịch vụ đa dạng đáp ứng nhucầu đời sống xã hội

- Tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển trên cơ sở khai tháccác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, để hình thành cơ cấu kinh tế

Trang 12

hợplý; kết hợp sự phát triển có trọng điểm với sự phát triển toàn diệncác vùng lãnh thổ.

- Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước,kinh tế hợp tác, tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhàkinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài Mở rộng các hìnhthức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước và các thành phần kinh

tế khác cả trong nước và ngoài nước

3)- Các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Trong những năm trước mắt, để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế, cần tập trung vào các giải pháp sau:

- Điều chỉnh quy hoạch phát triển và kế hoạch đầu tư, chú trọngnhững sản phẩm có lợi thế cạnh tranh Ưu phát triển công nghiệp chếbiến gắn với phát triển nguồn nguyên liệu, chú ý phát triển các ngànhcông nghiệp tốn ít vốn đầu tư và thu hút nhiều lao động đẩy mạnh xâydựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật

- Ap dụng chính sách bảo hộ hợp lý, giúp đỡ và thúc đẩy cácdoanh nghiệp nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh

- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho xuất khẩu

- Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chínhsách thu hút các nguồn lực bên ngoài

- Tích cực chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế

III)- THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUYỆN CÙ LAO DUNG:

1)- Tổng quan về Cù Lao Dung:

Cù Lao Dung là huyện mới được thành lập từ ngày 29/4/2002(trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú) với diệntích tự nhiên toàn huyện là 24.942 hécta, chiếm 35% diện tích toànhuyện cũ Vị trí huyện nằm giữa Sông Hậu, sát biển đông, có 13 km

bờ biển, 4 mặt được bao bọc bởi Sông Hậu, có sông ngòi chằn chịt,địa hình trãi dài có 2 cửa sông lớn là: Định An và Trần Đề

+ Phía đông giáp tỉnh Trà Vinh

+ Phía tây giáp Sông Hậu

+ Phía nam giáp biển Đông

+ Phía bắc giáp huyện Kế Sách

Huyện được chia thành 7 xã, 1 thị trấn, bình quân diện tích đạt3.100 - 3.200 ha/xã Dân số hiện có là: 58.031 người, trong này dântộc Kình: 55.405 người, Khmer: 2.590 người, Hoa: 33 người, còn lại

Trang 13

là dân tộc khác Xã An Thạnh 3 là nơi có mật độ dân cư đông nhất:9.981 người/4.604 ha mật độ 217 người/km2.

Là một huyện mới được tách ra từ huyện Long Phú trước đâyvào ngày 29/4/2002 theo Nghị định số 04/2002/NQ-CP ngày29/4/2002 của Chính phủ Bên cạnh những thuận lợi cơ bản là địa bàn

có bờ biển, đất đai có độ phì nhiêu cao, thích hợp cho trồng trọt, chănnuôi, tài nguyên thủy hải sản khá phong phú Mặt khác huyện là địabàn có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển trong việc nuôi trồng thủysản, rừng ngập mặn và tàu bè các nơi đổ về Hiện tại huyện có 3 nôngtrường sản xuất của Trung ương và tỉnh Sóc Trăng đóng trên địa bàn.Các năm qua nhờ tập trung đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầngtrong huyện đã có bước phát triển, nhất là hệ thống giao thông, thủylợi, điện và các công trình văn hóa - xã hội

Song huyện Cù Lao Dung cũng còn nhiều khó khăn như: Thựctrạng kinh tế còn đậm nét nông thôn sâu, nhiều áp lực và phức tạp mớinảy sinh theo tốc độ phát triển của một huyện mới của tỉnh và nhữngyêu cầu ngày càng cao trong hoạt động kinh tế - xã hội, trong khi cơ

sở hạ tầng, tổ chức bộ máy, trình độ cán bộ quản lý, nguồn nhân lực…còn nhiều mặt yếu kém và hạn chế

2)- Thực trạng cơ cấu kinh tế huyện Cù Lao Dung:

Từ những năm 1996 - 2000 cơ cấu của huyện theo định hướngphát triển nông - lâm - ngư và tiểu thủ công nhiệp Năm 2002 đãchuyển sang cơ cấu kinh tế: Nông - ngư - lâm - công nghiệp và dịchvụ

Trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế chung, thông qua việcthực hiện các giải pháp cụ thể, huyện đã từng bước phát huy nội lực,kêu gọi thu hút vốn đầu tư trong nước, khôi phục các nghành nghềtruyền thống, tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương,đẩy mạnh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý nhằmphục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Kết quả lãnh đạo thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyệnnhiệm kỳ qua đã đánh giá như sau:

- Kinh tế trên địa bàn giữ được ổn định và có mức tăng trưởng

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hàng năm trên địa bàn là6,10%/năm GDP bình quân 355 USD/người

- Trên lĩnh vực nông nghiệp đã sản xuất và giải quyết trên 80%việc làm cho lao động địa phương Trong nhiều năm qua, huyện đãchủ đông tiến hành quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất tập trungtạo vùng nguyên liệu phục vụ phát triển công nghệp, thương mại, dịch

vụ nông thôn và phát triển đô thị cho những năm tiếp theo

Trang 14

Đất sản xuất nông nghiệp là 13.436 ha Trong đó cây lươngthực, thực phẩm 4.545 ha, cây mía 6.928 ha, cây ăn trái 1.963 ha vàcải tạo 145 ha vườn tạp kém hiệu quả.

- Về nuôi trồng thủy sản, lợi thế của huyện là gần biển, đất đai

và nguồn nước dồi dào Do vậy những năm gần đây công tác nuôitrồng thủy sản nước lợ phát triển và bước đầu có hiệu quả với tổngdiện tích nuôi trồng là 592 ha, tổng sản lượng thủy hải sản đạt 3.250tấn Trong đó diện tích nuôi tôm 525 ha, sản lượng đạt 350 tấn

- Bên cạnh thế mạnh về trồng trọt và chăn nuôi, huyện lại códiện tích rừng phòng hộ khá lớn ven các sông lớn, ven biển, diện tíchnày hàng năm được phát triển thêm từ 40 - 50 ha Đến nay diện tíchrừng phòng hộ có trên 1.244 ha, trong đó trồng mới 453 ha

- Về lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ: Toàn huyện có 198 cơ sởsản xuất, giá trị tổng sản lượng năm 2002 ước đạt 79 tỷ đồng Trướcđây ngành chế biến đường phát triển mạnh nhưng hiện nay do máymóc cũ kỷ, công nghệ lạc hậu, qui mô sản xuất nhỏ, chất lượng sảnphẩm và sức cạnh tranh yếu nên việc sản xuất, kinh doanh không hiệuquả, dẫn đến thua lỗ phải ngưng hoạt động

Hoạt động dịch vụ khá đa dạng, trong nhiệm kỳ qua (1996 2000) hoạt động phát triển khá ổn định, bình quân tăng 11,86%/năm.Nhìn chung các khu vực kinh tế phát triển chưa đồng đều, khu vực 1tăng bình quân 6,7%/năm, khu vực 2 giảm sút nghiêm trọng, khu vực

-3 có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 11%/năm

- Kinh tế nhà nước trên địa bàn vẫn giữa vai trò chủ đạo vàchiếm tỷ trọng lớn trong các ngành kinh tế kỹ thuật then chốt quantrọng như: điện, nước, xây dựng cơ sở hạ tầng…

- Kinh tế hợp tác hóa hiện có 14 Hợp tác xã, huy động được8,38% hộ sản xuất nông nghiệp vào kinh tế hợp tác và hợp tác xã

- Về lĩnh vực văn hóa - xã hội: Thực hiện phương châm nhànước và nhân dân cùng làm, các tuyến lộ giao thông nông thôn cơ bản

đã hoàn chỉnh, đường xe ô tô đi lại được 6/8 xã - thị trấn, xe mô tô đilại 8/8 xã - thị trấn, cơ bản đã hoàn thành các chỉ tiêu do Nghị quyếtĐảng bộ đề ra về lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, như: 8/8 xã - thịtrấn, 5.267 hộ có điện sử dụng, đạt tỷ lệ 45,70%; phục vụ cho công tácchuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèohuyện đã phát vay tín dụng 42 tỷ đồng cho nhân dân, đã giải quyếtviệc làm tại chổ cho 2.500 lao động và tỷ lệ hộ nghèo còn khoản 27%

Trong điều kiện ngân sách có hạn nhưng huyện đã có sự quantâm xây dựng mạng lưới giáo dục phát triển đều khắp, tỷ lệ huy độnghọc sinh đến trường hàng năm đạt 86% bình quân tăng mổi năm 700học sinh, ngoài ra còn làm tốt công tác phổ cập giáo dục và chống mù

Ngày đăng: 20/03/2020, 21:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w