1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát triển cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) ở phía Bắc Việt Nam

220 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 8,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) thuộc họ Đậu (Fabaceae), chúng có thể được gọi với một số tên gọi khác như Sưa bắc bộ, Sưa đỏ, Huê mộc, Huê mộc vàng, Trắc thối… Sưa là cây gỗ lớn, cao 15 - 25 m, đường kính thân 50 - 90 cm. Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét mọc lệch, có từ 7 - 17 lá chét/lá kép; Hoa tự màu trắng, thơm; Quả đậu hình trứng thuôn, dài, thường có 1 - 2 hạt/quả; Hạt mỏng, rộng khoảng 5 mm và dài 9 mm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008 [31]; Cục Lâm nghiệp, 2009 [14]). Gỗ Sưa nặng, cứng, có vân đẹp, mùi thơm đặc biệt, trong tế bào mô mềm dọc thường có tinh thể oxalat (Đỗ Văn Bản et al., 2009 [1]), khi đốt có mùi thơm như trầm và cũng có thể chưng cất lấy tinh dầu như tinh dầu Đàn hương. Tinh dầu chiết xuất từ gỗ Sưa có tác dụng làm tan sưng, ra mồ hôi (Đỗ Văn Bản et al., 2009 [1]; Phạm Quang Thu et al., 2014 [37]). Gỗ Sưa ở Trung Quốc rất được ưa chuộng để làm đồ nội thất cao cấp với màu sắc đẹp, có mùi thơm và có thể tồn tại hàng trăm năm (Yu et al., 2013 [121]). Trong y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc, nhiều loài cây thuộc chi Dalbergia đã được dùng để chữa trị các bệnh về xương khớp, đường tiêu hóa, mụn nhọt, ngoại thương… (Võ Văn Chi, 1999 [7]). Cây Sưa được sử dụng để chiết xuất các hợp chất hóa học phục vụ bào chế các loại thuốc điều trị bệnh ở Trung Quốc và Hàn Quốc, đặc biệt là chữa cao huyết áp, giảm mỡ máu, giảm cholesterol, cầm máu, nhuận khí và hoạt huyết… (Hou et al., 2011 [73]; Lee et al., 2013c [83]). Chất sesquiterpenes 1 và 2 phân lập từ tinh dầu Sưa có tác dụng chống đông máu (Tao and Wang, 2010 [108]). Các hợp chất chiết xuất từ gỗ Sưa có hoạt tính chống oxy hoá (Hou et al., 2011 [73]; Wang et al., 2014 [114]); Có tác dụng chữa bệnh đông máu cục bộ, hiện đang được nghiên cứu phát triển thành một loại thuốc đặc trị các bệnh về máu (Fan et al., 2017 [65]); Có khả năng ức chế các tác nhân gây ung thư, giảm mỡ máu và cholesterol (Lee et al., 2013a [81]; Lee et al., 2013b [82]). Có tác dụng chống viêm và chống thoái hóa cơ tim (Lee et al., 2013c [83]; Lee and Jeong, 2014 [84]). Những năm gần đây, mặc dù đã được luật pháp quy định, đồng thời các cơ quan chức năng đã tổ chức, triển khai bảo vệ rất quyết liệt. Nhưng do giá trị kinh tế quá lớn nên cây Sưa đang bị khai thác tận diệt với hàng chục vụ khai thác trộm mỗi năm. Từ năm 1997 - 2004 chỉ riêng tại Quảng Bình đã xảy ra 298 vụ khai thác, vận chuyển trái phép gỗ Sưa (Đỗ Xuân Cẩm, 2013 [5]). Những năm vừa qua, hoạt động gây trồng Sưa diễn ra khá rầm rộ nhưng đều mang tính tự phát. Các nghiên cứu về cây Sưa ở Việt Nam mới chỉ tập trung đánh giá cho một số nội dung hẹp như nghiên cứu trình tự gen phục vụ phân loại mẫu vật (Vũ Thị Thu Hiền et al., 2009 [20]) và đánh giá đa dạng sinh học trong chi Dalbergia (Phong et al., 2011 [99]); Nghiên cứu ban đầu về kỹ thuật tạo cây con (Hà Văn Tiệp, 2011 [40]; Nguyễn Minh Chí et al., 2014 [8]) và kết quả bước đầu về trồng Sưa ở vùng Tây Bắc (Hà Văn Tiệp, 2011 [40]). Những thông tin về kỹ thuật gây trồng, phát triển loài cây này ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn hạn chế, chưa có hướng dẫn kỹ thuật gây trồng. Xuất phát từ những vấn đề còn tồn tại nêu trên, việc nghiên cứu một số cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát triển cây Sưa ở phía Bắc Việt Nam là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học cũng như có ý nghĩa thiết thực trong sản xuất. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Xác định được một số cơ sở khoa học phục vụ công tác gây trồng và phát triển cây Sưa tại phía Bắc Việt Nam. Mục tiêu cụ thể: - Xác định một số gia đình Sưa có sinh trưởng triển vọng. - Xác định được biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Sưa. - Xác định được tình hình sâu bệnh, hại cây Sưa. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

====================

NÔNG PHƯƠNG NHUNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ GÂY TRỒNG

VÀ PHÁT TRIỂN CÂY SƯA (Dalbergia tonkinensis Prain)

Ở PHÍA BẮC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 131

1 Kết luận 131

2 Tồn tại 132

3 Kiến nghị 133

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Tài liệu tiếng Việt 135

Tài liệu tiếng nước ngoài 138

PHỤ LỤC 147

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

Ký hiệu/

Từ viết tắt

Giải nghĩa đầy đủ

Species of Wild Fauna and Flora

của cung cong thân cây

Trang 4

Ký hiệu/

Từ viết tắt

Giải nghĩa đầy đủ

Dextrose Agar + Tetracycline)

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh một số đặc điểm hình thái của Sưa (D tonkinensis) và Sưa

trung quốc (D odorifera) 13

Bảng 2.2: Địa điểm, thời gian và bố trí khảo nghiệm 32

Bảng 2.3: Khái quát điều kiện khí hậu, địa hình, đất, thực bì khu vực khảo nghiệm 33

Bảng 2.4: Đặc điểm đất ở hai khu vực khảo nghiệm 34

Bảng 2.5: Phân cấp bệnh hại thân, cành và lá Sưa 38

Bảng 2.6: Các công thức thí nghiệm thành phần ruột bầu 41

Bảng 2.7: Tiêu chí phân cấp bệnh hại lá cây Sưa ở giai đoạn vườn ươm 42

Bảng 2.8: Phân cấp khả năng gây bệnh trên cây Sưa 6 tháng tuổi 52

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của loại đất đến tăng trưởng và hình thân cây Sưa 59

Bảng 3.10: Kết quả điều tra sinh trưởng và bệnh hại cây Sưa ở giai đoạn vườn ươm (5 tháng tuổi) 61

Bảng 3.11: Kết quả điều tra tăng trưởng, tỷ lệ đa thân, độ thẳng thân, và bệnh hại của cây Sưa ở các giai đoạn < 5 tuổi và 5 - 10 tuổi 65

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của kỹ thuật trồng đến tăng trưởng và hình thân cây Sưa tại Tân Sơn, Phú Thọ 67

Bảng 3.13: Mức độ vượt trội về tăng trưởng của các biện pháp thâm canh tại Tân Sơn, Phú Thọ 68

Bảng 3.14: Các sản phẩm từ cây Sưa 71

Bảng 3.15: Nguồn gốc gỗ Sưa ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam 75

Bảng 3.16: Ảnh hưởng của loại túi đến hiệu quả bảo quản hạt 77

Bảng 3.17: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu quả bảo quản hạt 78

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng và bệnh hại cây Sưa 30 ngày tuổi 80

Trang 6

Bảng 3.19: Ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng và bệnh hại

cây Sưa 90 ngày tuổi 81

Bảng 3.20: Khả năng ra rễ ở các nồng độ thuốc kích thích ra rễ 85

Bảng 3.21: Khả năng ra rễ của hom ở các công thức giá thể 88

Bảng 3.22: Khả năng ra rễ của hom ở các công thức mùa vụ 88

Bảng 3.23: Khả năng ra rễ của hom ở các công thức độ dài hom 90

Bảng 3.24: Khả năng ra rễ của hom thu từ cây mẹ ở độ tuổi khác nhau 91

Bảng 3.25: Kết quả khảo nghiệm 70 gia đình Sưa tại Tân Sơn 92

Bảng 3.26: Kết quả khảo nghiệm xuất xứ Sưa tại Tân Sơn, Phú Thọ 95

Bảng 3.27: Kết quả khảo nghiệm 60 gia đình Sưa tại Đoan Hùng 97

Bảng 3.28: Kết quả khảo nghiệm xuất xứ Sưa tại Đoan Hùng 100

Bảng 3.29: Ảnh hưởng của loại đất đến tăng trưởng và bệnh hại cây Sưa 101

Bảng 3.30: Hàm lượng dinh dưỡng trong lá Sưa trồng trên các loại đất 104

Bảng 3.31: Tính chất vật lý và hóa học của bảy loại đất 105

Bảng 3.32: Kết quả phân tích tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với các chỉ tiêu dinh dưỡng trong lá và đất 106

Bảng 3.33: Kết quả phân tích tương quan đa biến giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với các chỉ tiêu dinh dưỡng trong lá 108

Bảng 3.34: Kết quả phân tích tương quan đa biến giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với các chỉ tiêu lý, hóa tính của đất 108

Bảng 3.35: Kết quả định hình thân cây ở 3 năm tuổi 109

Bảng 3.36: Tổng hợp kết quả kích thích tạo lõi của cây Sưa 111

Bảng 3.37: Thành phần sâu, bệnh hại cây Sưa 113

Bảng 3.38: Tính gây bệnh của các chủng nấm Fusarium 119

Bảng 3.39: Tính gây bệnh của các chủng nấm C manginecans 125

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Mô tả phương pháp đánh giá cung cong trên cây Sưa 38

Hình 3.2: Quả và hạt Sưa đại trà thu tại Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc 60

Hình 3.3: Cây Sưa 5 tháng tuổi gieo ươm tại Viện KHLN Việt Nam 63

Hình 3.4: Rừng trồng Sưa 2,5 năm tuổi tại Sơn La (a) và cây trong vườn hộ 7 năm tuổi tại Thái Nguyên (b) 69

Hình 3.5: Các sản phẩm từ cây Sưa: 73

Hình 3.6: Các sản phẩm từ gỗ Sưa: 74

Hình 3.7: Cây con 90 ngày tuổi ở công thức CT13 và CT9 82

Hình 3.8: Cây con 90 ngày tuổi ở các công thức thí nghiệm 83

Hình 3.9: Hom Sưa lên mô sẹo và đã ra rễ 86

Hình 3.10: Cây Sưa 3 năm tuổi trồng tại Đoan Hùng: 99

Hình 3.11: Lá cây Sưa trồng trên các loại đất 102

Hình 3.12: Cây 2 năm tuổi trồng trên đất phù sa tại Phù Ninh, Phú Thọ 103

Hình 3.13: Thí nghiệm định hình thân cây 110

Hình 3.14: Bệnh loét thân, cành Sưa 115

Hình 3.15: Cây phả hệ kết hợp với các loài thuộc chi Fusarium 116

Hình 3.16: Hệ sợi và các dạng bào tử của nấm gây bệnh 118

Hình 3.17: Cành Sưa và cây sau khi gây bệnh nhân tạo 120

Hình 3.18: Triệu chứng của bệnh chết héo trên cây Sưa 121

Hình 3.19: Cây phả hệ kết hợp với các loài thuộc chi Ceratocystis 122

Hình 3.20: Đặc điểm hiển vi của nấm C manginecans 124

Hình 3.21: Kết quả gây bệnh nhân tạo cây Sưa 6 tháng tuổi 126

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

chúng có thể được gọi với một số tên gọi khác như Sưa bắc bộ, Sưa đỏ,

đường kính thân 50 - 90 cm Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét mọclệch, có từ 7 - 17 lá chét/lá kép; Hoa tự màu trắng, thơm; Quả đậu hìnhtrứng thuôn, dài, thường có 1 - 2 hạt/quả; Hạt mỏng, rộng khoảng 5 mm

[14])

Gỗ Sưa nặng, cứng, có vân đẹp, mùi thơm đặc biệt, trong tế bào mô

có mùi thơm như trầm và cũng có thể chưng cất lấy tinh dầu như tinh dầuĐàn hương Tinh dầu chiết xuất từ gỗ Sưa có tác dụng làm tan sưng, ra

Gỗ Sưa ở Trung Quốc rất được ưa chuộng để làm đồ nội thất cao cấp với

2013 [121])

Trong y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc, nhiều loài cây thuộc

chi Dalbergia đã được dùng để chữa trị các bệnh về xương khớp, đường

được sử dụng để chiết xuất các hợp chất hóa học phục vụ bào chế các loạithuốc điều trị bệnh ở Trung Quốc và Hàn Quốc, đặc biệt là chữa cao huyết

áp, giảm mỡ máu, giảm cholesterol, cầm máu, nhuận khí và hoạt huyết…(Hou et al., 2011 [73]; Lee et al., 2013c [83]) Chất sesquiterpenes 1 và 2

Trang 9

2010 [108]) Các hợp chất chiết xuất từ gỗ Sưa có hoạt tính chống oxy

bệnh đông máu cục bộ, hiện đang được nghiên cứu phát triển thành một

2013a [81]; Lee et al., 2013b [82]) Có tác dụng chống viêm và chống

Những năm gần đây, mặc dù đã được luật pháp quy định, đồng thờicác cơ quan chức năng đã tổ chức, triển khai bảo vệ rất quyết liệt Nhưng

do giá trị kinh tế quá lớn nên cây Sưa đang bị khai thác tận diệt với hàngchục vụ khai thác trộm mỗi năm Từ năm 1997 - 2004 chỉ riêng tại Quảng

Cẩm, 2013 [5]) Những năm vừa qua, hoạt động gây trồng Sưa diễn rakhá rầm rộ nhưng đều mang tính tự phát

Các nghiên cứu về cây Sưa ở Việt Nam mới chỉ tập trung đánh giá chomột số nội dung hẹp như nghiên cứu trình tự gen phục vụ phân loại mẫu

2011 [40]) Những thông tin về kỹ thuật gây trồng, phát triển loài cây này

ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn hạn chế, chưa có hướng dẫn kỹthuật gây trồng Xuất phát từ những vấn đề còn tồn tại nêu trên, việc

nghiên cứu một số cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát triển cây Sưa ở phía Bắc Việt Nam là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học cũng

như có ý nghĩa thiết thực trong sản xuất

Trang 10

.1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Xác định được một số cơ sở khoa học phục vụ công tác gây trồng vàphát triển cây Sưa tại phía Bắc Việt Nam

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định một số gia đình Sưa có sinh trưởng triển vọng

- Xác định được biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Sưa

- Xác định được tình hình sâu bệnh, hại cây Sưa

.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain).

.1.4 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung

Trong đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu (1) tình hình gây trồng Sưatrên các mô hình hiện có; (2) thị trường một số sản phẩm từ cây Sưa ởmột số tỉnh phía Bắc Việt Nam và chính sách phát triển loài cây này ởViệt Nam, (3) một số kỹ thuật gây trồng và mối quan hệ giữa sinh trưởngvới các chỉ tiêu dinh dưỡng trong lá và đất, (4) thí nghiệm nhân giống vàkhảo nghiệm giống, (5) tình hình sâu bệnh hại và một số bệnh hại chính

Về địa điểm

Điều tra tình hình gây trồng, thị trường các sản phẩm từ cây Sưa,nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng trong lá cây Sưa trồngtrên các loại đất khác nhau được tiến hành ở một số tỉnh phía Bắc ViệtNam

Trang 11

Nghiên cứu định hình thân cây và kích thích tạo lõi được tiến hành tạiPhú Lương - Thái Nguyên, Chợ Mới - Bắc Kạn, Tam Đảo - Vĩnh Phúc vàTân Sơn - Phú Thọ.

Nghiên cứu sâu, bệnh hại cây Sưa thực hiện tại ba tỉnh Phú Thọ, TháiNguyên và Hòa Bình

Các khảo nghiệm giống được xây dựng tại Tân Sơn và Đoan Hùng,tỉnh Phú Thọ

.1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Cung cấp một số cơ sở khoa học về nhân giống, gây trồng, chính sách

và thị trường phục vụ hoạt động gây trồng và phát triển cây Sưa tại ViệtNam

Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá được thực trạng gây trồng, thị trường chế biến, tiêu thụ cácsản phẩm làm cơ sở cho các nhà quản lý định hướng phát triển cây Sưa ởViệt Nam

Xác định và xây dựng được kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, gópphần phát triển cây Sưa đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.Chọn được một số gia đình Sưa có triển vọng về sinh trưởng, hình thânthẳng và kỹ thuật nhân giống; xác định được loài sâu, bệnh hại chính vàđịnh hướng phòng chống

.1.6 Những đóng góp mới của luận án

(1) Đã xây dựng được kỹ thuật chăm sóc, định hình thân cây, tạo lõi;Bước đầu xác định được 9 gia đình có triển vọng và các biện pháp kỹthuật nhân giống Sưa

Trang 12

(2) Đã xác định được tình hình gây hại, triệu chứng bệnh và đặc điểm

sinh học của nấm Fusarium lateritium, F decemcellulare gây bệnh loét thân và nấm Ceratocystis maginecans gây bệnh chết héo đối với cây Sưa

ở Việt Nam

.1.7 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2016 đến 2020

.1.8 Bố cục luận án

ngoài phần tài liệu tham khảo, danh mục công trình đã công bố liên quan

và phụ lục, luận án được kết cấu như sau:

tài liệu tiếng nước ngoài

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

.2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm và giá trị sử dụng của cây Sưa

Đặc điểm chung:

Dalbergia là một chi lớn với 250 loài, có phân bố rộng và tập trung

chủ yếu ở vùng nhiệt đới Đa số các loài trong chi có giá trị kinh tế cao,thường được ưa dùng trong chế biến nội thất cao cấp, gỗ có mùi thơm,

[112]) Những loài có giá trị trong chi Dalbergia đều bị khai thác kiệt, hầu

hết chúng đã được liệt kê trong danh sách của CITES, điển hình như loài

Dalbergia latifolia ở Ấn Độ, D decipularis, D cearensis ở Brazil, D retusa ở Trung Mỹ, D melanoxylon ở Châu Phi, D odorifera ở Trung

Quốc, D cochinchinensis ở Đông Nam Á và D tonkinensis ở Việt Nam…

(Chen et al., 2014 [58]) Những loài này được sử dụng vào mục đíchchính là làm dụng cụ âm nhạc, làm dược phẩm, đồ nội thất cao cấp và cácsản phẩm có giá trị tâm linh

Các nghiên cứu về các loài trong chi Dalbergia ở các nước cũng

thường chỉ tập trung vào nội dung mô tả, nhận dạng để bảo tồn như các

2013 [121], Chen et al., 2014 [58]), mô tả đặc điểm phấn hoa (Yang et al.,

2015 [119]), về giá trị dược liệu (Hou et al., 2011 [73]; Lee et al., 2013c

al., 2016 [122])

Trang 14

Sưa trung quốc (Dalbergia odorifera) thuộc họ Đậu (Fabaceae), là loàiđặc hữu ở Trung Quốc và phân bố chủ yếu ở đồng bằng phía Tây và TâyNam Trung Quốc hoặc vùng đồi núi thấp với độ cao dưới 400 m Đây làloài được bảo vệ nghiêm ngặt ở Trung Quốc và đã được ghi trong Sách đỏ

Đặc điểm hình thái:

Trên thế giới, đến thời điểm hiện tại rất ít tài liệu khoa học đã công bố

về cây Sưa, hiện nay loài Sưa phân bố ở miền Nam Trung Quốc đangđược gọi là Sưa trung quốc và được định danh với tên khoa học là

Dalbergia odorifera Tuy nhiên, liệu loài Sưa trung quốc và loài Sưa ở

Việt Nam (Dalbergia tonkinensis) có phải là một loài hay thuộc hai loài

khác nhau vẫn có những quan điểm nghi vấn và đang được các nhà khoa

Sưa trung quốc (Dalbergia odorifera T Chen) là cây gỗ nhỡ, cao 10

-15 m Vỏ màu nâu hay nâu nhạt, bong vỏ, nứt dọc Cành mảnh, lúc nonmềm, rủ, rậm Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét mọc lệch, có từ 7 - 13

lá chét/lá kép; Hoa tự màu trắng, thơm; Quả đậu hình trứng thuôn, dài,thường có 1 - 2 hạt/quả; Hạt mỏng, thường rộng 5 mm và dài 10 mm(Chen et al., 2014 [58])

Nghiên cứu đặc điểm phấn hoa của 52 loài thực vật, bao gồm một số

loài cây thuộc chi Dalbergia đã được thực hiện tại đảo Hải Nam, Trung Quốc, trong đó phấn hoa của Sưa trung quốc (D odorifera) đã được thu

thập, mô tả rất chi tiết phục vụ công tác khai thác và phát triển nguồn gen

Các loài cây họ Đậu, trong đó bao gồm các loài Sưa (D tonkinensis)

Trang 15

[90]) do đó, ngoài cung cấp lâm sản, việc trồng Sưa còn có tác dụng cảitạo đất.

Đặc điểm phân bố và sinh thái:

Sưa trung quốc (D odorifera) là loài đặc hữu ở Trung Quốc, chúng

phân bố chủ yếu ở đồng bằng hoặc ở vùng đồi núi thấp thuộc các địaphương phía Tây và Tây Nam Trung Quốc, tập trung ở độ cao dưới 400 m

Sưa trung quốc (D odorifera) phân bố tự nhiên ở các trạng thái rừng

cận nhiệt đới thuộc tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến, Chiết

al., 2014 [58]) Kết quả nghiên cứu ở đảo Hải Nam, Trung Quốc cho thấychúng thường phân bố ở rừng mưa nhiệt đới và rừng nửa rụng lá, xuấthiện nhiều ở các loại rừng cây họ Dầu và ở độ cao dưới 650 m so với mực

sinh ở bìa rừng, các khoảng trống trong rừng, tập trung nhiều ở độ cao từ

Giá trị sử dụng:

Các loài cây thuộc chi Dalbergia đã được sử dụng để làm dược phẩm

cũng như thảo dược khá phổ biến và hiệu quả đối với nhiều loại bệnh

Các dẫn xuất tách chiết từ gỗ của loài D parviflora được xác định có

tác dụng chống sốc phản vệ hiệu quả, đặc biệt là hai chất cinnamyl và

2009 [106])

Các sản phẩm từ lá của loài D saxatilis được sử dụng trong y học

truyền thống ở vùng Trung Đông và Nam Á để chữa ho, thủy đậu, viêm

da, viêm phế quản và đau răng Ngoài ra, một nghiên cứu mới đây còn

Trang 16

cho thấy chúng có tác dụng giảm đau, chống viêm và hạ sốt (Hassan et al., 2015 [72]).

Cây Sưa sissoo thường được dùng để bào chế thuốc ở các nước Nam

Á Ở Ấn Độ và Pakistan, vỏ cây được dùng để làm thuốc chống viêm, hạ

Hợp chất Neoflavonoids có trong gỗ Sưa sissoo được xác định có khả

hợp chất hóa học học DBN chiết xuất từ gỗ Sưa sissoo dùng để điều trịmột số bệnh về xương khớp cho thấy chúng có khả năng ức chế tác nhângây bệnh loãng xương nhưng không gây phản ứng phụ ngoài mong muốn

Khedgikar et al., 2017 [77])

Dịch chiết từ lá của loài D paniculata có tác dụng chống oxy hóa

mạnh và đã được sử dụng điều trị chống viêm phổi hiệu quả khi thí

của cây Sưa spinose ở Ấn Độ (D spinosa) được xác định có tác dụng

Nagarajan, 2014 [94])

Hai hợp chất dalbergin và formononetin chiết xuất từ vỏ cây Sưa

melanoxylon (D melanoxylon) có tác dụng ức chế rất mạnh đối với ký sinh trùng sốt rét (Mycobacterium tuberculosis) và được dùng làm thuốc

al., 2013 [100])

Gỗ Sưa trung quốc (D odorifera) được sử dụng để chiết xuất các hợp

chất hóa học phục vụ chế biến thảo dược, bào chế các loại thuốc và

Trang 17

thường được dùng cho điều trị bệnh ở Trung Quốc và Hàn Quốc, đặc biệt

là chữa cao huyết áp, giảm mỡ máu, giảm cholesterol, cầm máu, nhuận

dầu chưng cất từ gỗ Sưa được dùng làm dược liệu, trong đó dẫn suấtsesquiterpenes 1 và 2 phân lập từ tinh dầu Sưa có tác dụng chống đông

trung quốc như 3'-hydroxymelanettin và eriodictoyl có hoạt tính chốngoxy hoá mạnh hơn so với chất chống oxy hoá tổng hợp thông thường hiện

chất chiết xuất từ cây Sưa trung quốc có tác dụng chữa bệnh đông máucục bộ và các bệnh về máu, hiện đang được nghiên cứu phát triển thành

Tại Hàn Quốc, hợp chất (2S)-pinocembrin chiết xuất từ gỗ Sưa trungquốc được xác định có khả năng chống ô xi hóa rất mạnh và ức chế các

Yun et al., 2017 [124]), hợp chất khác là

et al., 2013b [82]) Hai hợp chất 9-Hydroxy-6, 7-dimethoxydalbergiquinol chiết xuất được từ gỗ Sưa trung quốc có tác dụng chống

2013c [83]; Lee and Jeong, 2014 [84])

Gỗ Sưa ở Trung Quốc rất được ưa chuộng để làm đồ nội thất cao cấp,

đồ gỗ cao cấp làm từ gỗ Sưa có vân gỗ và màu sắc đẹp, có mùi thơm và

có thể tồn tại hàng trăm năm Chúng có giá trị sử dụng rất cao đối với thói

độ bền rất cao, ngâm trong bùn, trong nước nhiều năm vẫn không bị mụcnát và vẫn giữ được mùi thơm, phơi ngoài nắng không bị co nứt Bởi vậy,

Trang 18

từ hàng trăm năm qua, người Trung Quốc rất ưa chuộng và quan niệm gỗSưa như một loại tài sản quý, các gia đình giàu sang thường sở hữu vậtdụng làm từ gỗ Sưa để thể hiện đẳng cấp thượng lưu.

Nhìn chung, các loài cây thuộc chi Dalbergia nói chung và cây Sưa

nói riêng rất có giá trị về dược liệu, chúng được sử dụng như những loạithảo dược trong y học cổ truyền cũng như đang được nghiên cứu để bàochế các loại tân dược Giá trị của cây Sưa không chỉ bao gồm giá trị sửdụng gỗ phục vụ chế biến đồ gia dụng cao cấp mà chúng còn có giá trị rấtcao trong y học

.2.1.2 Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen

Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen:

Các hoạt động nghiên cứu bảo tồn nguồn gen các loài cây thuộc chi

Dalbergia nói chung và cây Sưa nói riêng mà cụ thể là cây Sưa trung

quốc đã được thực hiện khá bài bản, việc nghiên cứu nuôi cấy mô, tế bào

đã giúp phát triển nhanh và bảo tồn hiệu quả nhiều loài cây quý hiếm ở

Các sản phẩm từ cây Sưa có giá trị kinh tế và dược liệu cao nên chúngđang được bảo tồn bằng các chương trình do chính phủ tài trợ và pháttriển trên diện rộng ở Trung Quốc do các đơn vị sản xuất và người dânđầu tư, đặc biệt, chúng đang được trồng hỗn giao thành công với một loài

cây có giá trị cao khác là Đàn hương (Santalum album) Qua đó góp phần

[118])

Công tác thu hái và bảo quản hạt giống Sưa trung quốc đã được thực

Nghiên cứu thu thập và bảo quản phấn hoa của 52 loài thực vật, trong đó

Trang 19

bao gồm phấn hoa của cây Sưa Các mẫu phấn hoa đã được thu thập vàbảo quản phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn nguồn gen(Yang et al., 2015 [119]).

Nghiên cứu phục vụ bảo tồn Sưa trung quốc với bốn xuất xứ gồm HảiNam, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến đã được thực hiện, trong đónghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ có ảnh hưởng đến nảy mầm hạt giốngcủa từng xuất xứ Các xuất xứ Quảng Đông và Phúc Kiến có tỷ lệ nảy

cứu này đã góp phần xác định được điều kiện phù hợp để nhân giống

Liu và đồng tác giả (2014b) [88] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởngcủa nhiệt độ đến tỷ lệ nảy mầm của Sưa thu hái ở Lạng Sơn, kết quả cho

gen thực vật đã được triển khai thành công đối với nhiều loài cây có nguy

cơ bị tuyệt chủng cao Tuy nhiên, nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây Sưa

và Sưa trung quốc, đặc biệt là loài Sưa (D tonkinensis) mới chỉ có một số

nghiên cứu thăm dò, so sánh ở Trung Quốc mà chưa được thực hiện bảotồn ở trên thế giới

Nghiên cứu đa dạng di truyền

lâm nghiệp (2009) [14] và Sưa trung quốc của các tài liệu đã được công

khó phân biệt

Trang 20

Bảng 1.1: So sánh một số đặc điểm hình thái của Sưa (D tonkinensis) và

Sưa trung quốc (D odorifera)

dài, thường có 1-2 hạt/quả

Quả đậu hình trứng thuôn,dài, thường có 1-2 hạt/quả

tâm nhiều, bề mặt vỏ thô,màu sắc vỏ xám, hơi đenhay nâu

Thân thường nghiêng, lệchtâm nhiều, bề mặt vỏ thô,màu sắc vỏ xám hoặc nâu

*(Cục lâm nghiệp, 2009 [14]), **(Dẫn theo Deng et al., 2013 [63])

Kết quả nghiên cứu định loại Sưa trung quốc với các xuất xứ Hải Nam,Quảng Đông và Quảng Tây bằng kỹ thuật DNA đã xác định chúng thuộc

loài Dalbergia odorifera T Chen nhưng có độ tương đồng rất cao với hai loài Sưa khác là Sưa rimosa (D rimosa) và Sưa (D tonkinensis) với nhiều

tên địa phương khác ở Việt Nam là Sưa, Sưa đỏ, Trắc thối… và rất có thểhai giống Sưa ở Việt Nam và Trung Quốc đã được định danh với các tên

tương ứng là Dalbergia tonkinensis Prain và Dalbergia odorifera T Chen

Trang 21

hợp tác nghiên cứu để thu thập mẫu bổ sung và nghiên cứu định loại chohai loài cây này.

Nghiên cứu sử dụng 18 đoạn gen đã được đánh dấu của hai loài

Dalbergia nigra và D monticola để phân biệt với sáu loài cây khác thuộc

chi Dalbergia gồm D decipularis, D ecastaphyllum, D elegans, D.

frutescens, D miscolobium và D sissoo cho thấy tất cả các đoạn gen từ

D nigra và D monticola có thể được sử dụng để nghiên cứu di truyền

Nghiên cứu nhận dạng gỗ Sưa bằng cách so sánh các chuỗi DNA của cácmẫu gỗ đã xác định được ba cặp mồi gồm rpoC1, trnH-psbA và ITS cóthể được sử dụng trong nghiên cứu định danh loài bằng các mẫu gỗ, trong

[122])

.2.1.3 Nghiên cứu chọn giống và nhân giống

Nghiên cứu thu thập, bảo quản và đặc điểm nảy mầm hạt giống phục

vụ công tác nhân giống hữu tính các loài Sưa đã được thực hiện ở TrungQuốc

Hạt giống Sưa trung quốc có thể bảo quản lạnh trong khoảng thời gian

từ 1 đến 2 năm, thí nghiệm nảy mầm hạt trong điều kiện vô trùng trêngiấy ẩm và ở trong tối với các thang nhiệt độ cho thấy hạt nảy mầm tốt ở

25oC (Deng et al., 2013 [63]) Các nghiên cứu trước đây cho thấy yếu tố

nhiệt độ cũng có những ảnh hưởng tương tự đối với hạt giống của loài D.

sissoo (Kumar and Bhatnagar, 1976 [78]) và hạt của loài D nigra (Grande and Takaki, 2001 [66])

Ferraz-Thí nghiệm xử lý nảy mầm hạt cho thấy hạt giống Sưa (D tonkinensis)

rất khó nảy mầm khi thí nghiệm ở các thang nhiệt độ quá cao hoặc quá

Trang 22

thấp, chúng nảy mầm tốt ở nhiệt độ khoảng 25oC và nảy mầm rất kém ở

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đối với hạt giống Sưa trung quốccủa các xuất xứ khác nhau cũng cho thấy nhiệt độ đóng vai trò quan trọng

2017 [89]) Thí nghiệm ảnh hưởng của độ ẩm đến khả năng nảy mầm củahạt cho thấy bảo quản lạnh ở độ ẩm 12,35% đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao

diện Các loài cây thuộc chi Dalbergia nói chung và cây Sưa nói riêng rất

có giá trị về dược liệu, chúng được sử dụng như những loại thảo dượctrong y học cổ truyền cũng như đang được nghiên cứu để bào chế các loạitân dược Giá trị của cây Sưa không chỉ bao gồm giá trị sử dụng gỗ phục

vụ chế biến đồ gia dụng cao cấp mà chúng còn có giá trị rất cao trong yhọc

.2.1.4 Nghiên cứu gây trồng, phát triển cây Sưa

Tình hình gây trồng:

Sưa sissoo hay còn gọi là Sưa ấn độ (D sissoo Roxb) là một trong

những loài cây trồng quan trọng, được trồng rừng tập trung trên quy mô

Trang 23

Bangladesh, Sưa sissoo cũng đang được quan tâm gây trồng, phát triểntrồng rừng trên quy mô lớn nhằm cung cấp gỗ xẻ và nhiều mục đích khác(Aktar et al., 2016 [48]) Việc nhân giống loài cây này được nghiên cứukhá sâu, ngoài nhân giống từ hạt, hom cành, công nghệ nhân giống invitrocũng đã hoàn thiện phục vụ nhân nhanh trên quy mô lớn Trong đó cây

Chand, 2003 [104]; Chand and Singh, 2004 [56])

Nghiên cứu đặc điểm nảy mầm hạt giống của bốn xuất xứ Sưa trungquốc gồm Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến cho thấynhân tố nhiệt độ có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến sự nảy mầmcủa hạt rất rõ, trong đó hạt giống của cả bốn xuất xứ đều nảy mầm tốt

Sau nhiều năm nghiên cứu, hiện nay loài Sưa trung quốc đã được trồngthành rừng ở nhiều địa phương phía Nam Trung Quốc, chúng sinh trưởngtốt ở hầu hết các địa phương đã gây trồng và hình thành gỗ lõi rất giá trị(Li, 2012 [86]; Zhu et al., 1997 [125]) Cây Sưa trung quốc đã được trồngtrên diện rộng ở Trung Quốc, đồng thời được sử dụng với vai trò là câyphù trợ cho cây Đàn hương, trong đó cây Sưa trung quốc đã phát huy rất

2012 [118])

Các loài Sưa và Sưa trung quốc vừa có khả năng cố định đạm rất hiệuquả đồng thời các sản phẩm của cây Sưa cũng có giá trị cao nên chúngđang được trồng phổ biến ở Trung Quốc Đặc biệt, chúng đang được trồng

hỗn giao với cây Đàn hương (Santalum album) rất thành công ở nhiều nơi

2012 [118])

Trang 24

Tình hình sâu, bệnh hại:

Việc canh tác cây trồng nông - lâm nghiệp ở quy mô lớn thường dẫn

đến việc phát sinh dịch sâu bệnh, trong đó các loài nấm Fusarium spp đã

được xác định là một trong những nguyên nhân gây bệnh trên nhiều loài

2014a [87]) và các loài F vasinfectum gây bệnh trên cây bông, F.

nicotianae gây bệnh trên cây thuốc lá, F batatas gây bệnh trên cây thuốc

oxysporum gây bệnh trên cây nghệ tây ( Palmero et al., 2014 [98]), gây

graminearum gây bệnh trên cây lúa mì ở Argentina ( Consolo et al., 2015

[62]) Bốn loài gồm F fujikuroi, F oxysporum, F verticillioides, F.

proliferatum gây bệnh trên cây măng tây, gừng, lúa, chuối, cọ dầu và xoài

sp đã xâm nhiễm và gây bệnh chết ngược đối với cây Sưa sissoo như một

chết trong các quần thể Sưa sissoo ở Bangladesh dao động từ 39,5

Bệnh chết ngược cây Sưa sissoo ở Bangladesh do một số loài vi khuẩn

thuộc chi Pseudomonas và Bacillus gây ra, chúng gây loét thân và chảy

Ở Pakistan, bệnh chết ngược cây Sưa sissoo do các loài nấm F solani,

Botryodiplodia theobromae, Curvularia lunata và Ganoderma lucidum

Rừng trồng Sưa tại Hải Nam, Trung Quốc thường bị bệnh gỉ sắt hại lá,chúng thường xâm nhiễm hai lần mỗi năm vào đầu tháng 4 đến đầu tháng

Trang 25

6 và giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 Nguyên nhân gây bệnh được xác định

Đến nay, mới chỉ có một số công bố về sâu, bệnh hại các loài cây

thuộc chi Dalbergia và cây Sưa nói riêng Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế tại Thái Lan, rừng trồng Trắc (D cochinchinensis) có tỷ lệ cây bị chết

ngược khá cao, có thể tới 30%, bệnh hại ngay cả đối với rừng trồngkhoảng 20 năm tuổi Do vậy, nhằm phát triển hiệu quả và bền vững câySưa, rất cần có sự quan tâm nghiên cứu sâu, bệnh hại ngay từ đầu

.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

.2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm và giá trị sử dụng của cây Sưa

Đặc điểm chung:

Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) hay thường gọi với một số tên

gọi khác như Huê mộc, Huỳnh đàn, Sưa đỏ, Sưa bắc bộ, Trắc thối CâySưa là một trong những loài cây gỗ quý, hiếm, có giá trị kinh tế cao ở ViệtNam và đã được xếp vào nhóm IA, nhóm thực vật rừng nghiêm cấm khai

Thanh và Nguyễn Tiến Bân, 2007 [35])

Hiện nay chỉ còn khoảng một trăm cây có độ tuổi lớn, trên 60 năm tuổi

đã được trồng từ thời Pháp thuộc hoặc tái sinh từ các cây mẹ còn bảo tồnđược ở các công viên, khuôn viên công sở, khu di tích, các đường phố vàmột số ít cây trong tự nhiên ở các tỉnh thành, tập trung chủ yếu tại HàNội, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa,Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một số tỉnh TâyNguyên Số cây còn lại hầu hết đều ở độ tuổi nhỏ, một số cây có độ tuổi

từ 30 - 40 năm tuổi và đa phần chỉ đạt dưới 20 năm tuổi, được gây trồngvới nhiều mục đích khác nhau và từ những nguồn giống rất khó xác định

Trang 26

(Phạm Quang Thu et al., 2014 [37]) Năm 2014, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn đã bổ sung cây Sưa làm một trong những loài cây trồngrừng chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên

phủ Việt Nam đã điều chỉnh quy định quản lý thực vật, động vật rừng

phủ, 2019 [13]), trong đó đã khuyến khích gây trồng và cho phép khaithác sau khi đã được cơ quan kiểm lâm chấp thuận

Đặc điểm hình thái:

Sưa là cây gỗ lớn, cao 15 - 25 m, đường kính đạt 0,5 - 0,9 m Vỏ màuxám hay nâu xám, thịt vỏ nâu vàng, có mùi hơi tanh Lá kép lông chimmột lần lẻ, lá chét mọc lệch, có từ 7 - 17 lá chét/lá kép; Hoa tự màu trắng,thơm; Quả đậu hình trứng thuôn, dài, thường có 1 - 2 hạt/quả; Hạt mỏng,

Hoàng Nghĩa, 2008 [31]) Cây Sưa thường phân cành thấp, tán xòe rộng,

Hải, 2006 [19])

Nghiên cứu đặc điểm hình thái của cây Sưa trồng ở Huế cho thấychúng thường phân cành sớm và dễ hình thành nhiều thân trên cùng mộtgốc Đặc điểm đa thân thể hiện rõ nét nhất ở xuất xứ Bắc Bộ, các xuất xứNam Đông, Thừa Thiên Huế và Bố Trạch, Quảng Bình có tỷ lệ đơn thâncao hơn Xuất xứ Bắc Bộ còn có một số đặc trưng như chiều cao dướicành thấp, thân hơi dẹt, xoắn vặn nhiều hướng, thân thường nghiêng, lệchtâm nhiều, bề mặt vỏ thô, màu sắc vỏ xám, hơi đen hay nâu Trong khi đóxuất xứ Nam Đông có chiều cao dưới cành lớn, thân tròn, khá thẳng, ítlệch, độ thon nhỏ, bề mặt vỏ mịn và sáng Xuất xứ Bố Trạch thường thể

Trang 27

hiện các đặc điểm thân trung gian giữa hai xuất xứ và gần giống với xuất

Số lượng lá chét bình quân trên lá kép giữa các xuất xứ là đặc điểm dễnhận biết, xuất xứ Nam Đông có số lá chét bình quân từ 16 - 18 lá, xuất

Kết quả theo dõi vật hậu cho thấy khoảng thời gian từ khi cây hết rụng

lá đến khi nảy lộc và ra lá thường kéo dài khoảng một tháng, một sốtrường hợp kéo dài hơn, có thể đến 2 tháng Giai đoạn phát triển thườngkéo dài khoảng 10 tháng, từ đầu tháng 4 (ra nụ) đến cuối tháng 1 năm sau(quả chín) Thông thường, sau khi quả chín, đa phần số quả sẽ bị rụng hếtsau một thời gian Tuy nhiên, với một số trường hợp, một phần quả chín

có thể tiếp tục tồn tại trên cây một thời gian khá dài, có thể đến 4 hoặc 5

Nghĩa, 2008 [31]; Phạm Quang Thu et al., 2014 [37])

Đặc điểm phân bố và sinh thái:

Cây Sưa ở giai đoạn tuổi non có khả năng chịu bóng, khi lớn ưa sáng.Mọc rải rác trong rừng thường xanh ở đai cao dưới 700 m so với mực

2006 [19]) Cây Sưa phân bố tự nhiên ở đảo Hải Nam, Trung Quốc(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008 [31]), ở nhiều địa phương như Quảng Ninh,Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Phú Thọ, Ninh Bình, Hà Nội, Quảng

al., 1999 [51]; Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000 [6]; Phạm Hoàng

Trang 28

Hộ, 2000 [23]; Trần Hợp, 2002 [24]; Trần Minh Đức và Lê Thái Hùng,

2012 [17]; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008 [31]) Cây ưa đất màu mỡ, tầng

2008 [31])

Quần thể Sưa ở Nam Đông, Thừa Thiên Huế phân bố trên đỉnh vàsườn núi đá vôi có độ cao tuyệt đối dưới 300 m Loại đất phong hóa từ đávôi, tầng dày, thành phần cơ giới và hàm lượng mùn trung bình, đất ítchua (pH = 6,2) Độ tàn che tầng cây gỗ thấp (0,3 - 0,4), thuộc trạng tháirừng tự nhiên nghèo đang phục hồi sau khai thác chọn và sản xuất nươngrẫy Các loài cây gỗ ưu thế đi kèm phổ biến là nhóm các loài cây ưa sáng

mọc nhanh như: Ba bét (Mallotus spp.), Dâu da xoan (Allospondias

lakonensis), Hu đay (Trema orinentalis)…, và cũng đã xuất hiện một số

cây gỗ lớn trung tính như Chò (Parashorea stellata), Trường (Nephelium

melliferum), Đào (Palaquium obovatum) Một số loài thực vật quý hiếm

và đặc trưng cho khu hệ núi đá vôi cũng đã được ghi nhận tại đây như

Dây hương (Erythropalum scandens), Xạ đen (Celastrus hindsii), Tiết dê (Cissampelos pareira), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Sâm bòng bòng (Dracaena

angustifolia)… (Trần Minh Đức và Lê Thái Hùng, 2012 [17])

Giá trị sử dụng:

Sưa có cấu tạo thô đại tương đối giống với gỗ trắc và cẩm lai nhưng kếtquả nghiên cứu mô tả hiển vi đã xác định được một số đặc điểm khác biệtgiữa chúng gồm:

- Gỗ Sưa có mùi thơm rất đặc biệt mà gỗ trắc và cẩm lai không có.Trên mặt cắt ngang phần gỗ lõi vừa mới cắt thường thấy có chất nhựamàu nâu đỏ đùn ra

Trang 29

- Gỗ Sưa chủ yếu có lỗ mạch đơn đến kép ngắn 2 - 3 (gỗ trắc, cẩm lai

có mạch kép 5 - 7) Chất chứa trong mạch nhiều, màu nâu đỏ đến nâuvàng

- Mô mềm không dính mạch thường tụ hợp thành những đám, đặc biệt

có chứa chất hữu cơ màu nâu đỏ đến nâu vàng

Gỗ Sưa nặng, cứng, có mùi thơm, vân thớ đẹp, gỗ thường có màu nâu

đỏ đến nâu vàng, trong tế bào mô mềm dọc thường có tinh thể oxalat Đặcbiệt, cấu tạo của gỗ Sưa có một số đặc điểm khác biệt so với gỗ Trắc và

Ngọc Hải, 2006 [19]; Đỗ Văn Bản et al., 2009 [1]; Nguyễn Hoàng Nghĩa,

Trong y học cổ truyền của Việt Nam và Trung Quốc, nhiều loài cây

thuộc chi Dalbergia đã được dùng để chữa trị các bệnh về xương khớp,

loài cây thuộc chi Dalbergia có chứa các hợp chất hóa học có giá trị cao

trong công nghiệp dược, hai hoạt chất số 9 và số 10 phân lập từ gỗ Cẩm

Thanh Loan et al., 2013 [28]) Trong cây Sưa có các hợp chất isoflavon

2009 [42])

Hiện nay, giá trị kinh tế của gỗ Sưa rất cao, giá bán có thể tới 18 tỷ

Trang 30

cầu sử dụng gỗ quá cao nên cây Sưa đã bị khai thác kiệt ở khắp nơi, hiệnnay rất khó có thể tìm thấy cây Sưa ở trong rừng tự nhiên, đặc biệt là cây

Cây Sưa có giá trị kinh tế rất cao ở Việt Nam cả về khả năng sử dụng

gỗ làm đồ mộc cao cấp và tiềm năng chế biến dược liệu Tình trạng khaithác kiệt đã dẫn đến tình trạng gần như xóa sổ loài cây này trong tự nhiên

và chủ yếu chỉ còn cây ở các khu di tích, công viên, đường phố Cácnghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học và giá trị sử dụng đã đượcthực hiện ở một số khía cạnh tại một số địa phương nhưng chưa đầy đủ

Do vậy rất cần các nghiên cứu bổ sung phục vụ bảo tồn và phát triểnnguồn gen cây Sưa ở Việt Nam

.2.2.2 Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen

Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen:

Công tác bảo tồn nguồn gen thực vật ở Việt Nam đã được triển khaivới những chương trình bảo tồn được đầu tư liên tục cho nhiều loài cây,

Hoàng Nghĩa, 2005 [30])

Mục đích gây trồng Sưa ở Việt Nam rất đa dạng, có thể trồng vì giá trịkinh tế của gỗ Sưa, vì phong trào, làm cảnh, tạo bóng mát, trồng đểnghiên cứu khoa học, trồng vì giá trị dược liệu, vì chất lượng gỗ tốt Mặc

dù việc gây trồng Sưa trong những năm qua chưa có quy hoạch, chưa cóchiến lược nhưng đã góp phần bảo tồn nguồn gen Sưa ở Việt Nam Theothống kê hoạt động trồng Sưa ở Thừa Thiên Huế cho thấy có 27,5% sốđơn vị và hộ gia đình đã tham gia trồng Sưa với mục tiêu bảo tồn nguồn

Trang 31

Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây Sưa ở Việt Nam thuộc nhiệm vụkhoa học công nghệ triển khai bảo tồn 26 loài cây gỗ rừng tự nhiên có giátrị kinh tế hoặc bị đe dọa, trong đó rừng trồng bảo tồn Sưa đã được thiết

Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen thực vật ở Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu, đã bảo tồn thành công nhiều loài cây quý, hiếm Tuy nhiên,nghiên cứu bảo tồn cây Sưa ở Việt Nam mới được triển khai ở phạm vihẹp và cho một số nội dung mang tính thăm dò

Nghiên cứu đa dạng di truyền:

Nghiên cứu về đa dạng di truyền cho cây Sưa ở Việt Nam chưa đượcthực hiện Đến nay mới chỉ có các nghiên cứu nhận dạng nguồn gen Sưathông qua việc sử dụng phương pháp sinh học phân tử, cụ thể như nghiêncứu trình tự gen phục vụ phân loại mẫu vật, trong đó cặp mồi Dal2 được

thiết kế để nhận đoạn gen tml, qua đó cho thấy hai loài D tonkinensis và

D cochinchinensis chỉ sai khác ở đoạn gen trên duy nhất 1 nucleotide tại

vị trí thứ 56 (T) và khi so sánh trình tự nucleotide của hai loài này với 13

loài khác thuộc chi Dalbergia cho thấy có sự khác nhau ở 9 vị trí: 3

nucleotide GGA được chèn vào vị trí 255 - 257; 5 nucleotide AACTG bị

Hiền et al., 2009 [20]), một nghiên cứu khác đã đánh giá đa dạng nguồn

cứu trình tự gen của 5 mẫu lá Sưa thu tại Yên Bái phục vụ nhận dạng gen

Sưa và phân biệt với loài Cọ khiết (D hupeana) cũng như tiến tới phân

[16])

Trang 32

.2.2.3 Nghiên cứu chọn giống và nhân giống

Nguồn giống Sưa phục vụ trồng rừng và trồng cây phân tán trongnhững năm vừa qua chủ yếu là nguồn giống trôi nổi, khó xác định nguồn

Hơn nữa, các nghiên cứu chọn giống Sưa chưa được quan tâm, đếnnay mới chỉ có một số nghiên cứu ban đầu về chọn giống Kết quả nghiêncứu về đặc điểm hình thái và vật hậu của các xuất xứ Sưa tại Việt Namcho thấy có sự khác biệt khá rõ về số lá chét, đặc điểm nứt vỏ, kích thước

2014 [37])

Hạt Sưa thường có màu vàng nâu, mỏng, hình ô van khuyết, tuy nhiên,

có thể màu xám sẫm, dày, thuôn và dài Khối lượng 1.000 hạt đạt từ 80,0 137,3 g, trong đó xuất xứ Gia Lai có hạt rất to và nặng (137,3 g/1.000hạt) Tỷ lệ hạt chắc của các xuất xứ Lạng Sơn, Ninh Bình và Huế thấp(33,2 - 51,1%) trong khi xuất xứ Hưng Yên, Gia Lai và Hà Nội có tỷ lệ

et al., 2014 [37])

Kết quả nghiên cứu gieo ươm một số loài trong chi Dalbergia cho thấy với Cẩm lai (D oliveri) tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt cao nhất

trung bình là 18,6 ngày Có thể gieo hạt trực tiếp trên nền đất sau đócấy cây mạ vào bầu đất Cây con có sinh trưởng chiều cao trung bình

2014 [29])

Trang 33

nồng độ 70 ppm cho tỷ lệ hạt nảy mầm cao nhất (81,1%) và α-NAAnồng độ 3.000 ppm cho tỷ lệ hom ra rễ cao nhất (76,7%), số rễ trên

2015 [27])

Các nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống cây Sưa đã đưa ra một số kếtluận ban đầu như: Cây con ở giai đoạn vườn ươm cần được che bóng 50%(Hà Văn Tiệp, 2011 [40]), thí nghiệm phân bón cho cây Sưa trong giaiđoạn vườn ươm đã xác định được công thức bón 2 g MF1/cây phù hợp

Nghiên cứu nhân giống cây Sưa đã được thử nghiệm nhưng chưa xácđịnh được sự sai khác về tỷ lệ ra rễ và chất lượng cây hom giữa các côngthức thí nghiệm thuốc kích thích ra rễ nên nhóm tác giả đã khuyến cáo sử

Các kết quả tổng quan trên cho thấy hầu như chưa có nghiên cứuchọn giống và các nghiên cứu nhân giống vô tính cho cây Sưa mớiđược thực hiện ở một hoặc một vài công thức giâm hom

Các kết quả nghiên cứu nhân giống cho một số loài cây, đặc biệt là

kết quả giâm hom các loài thuộc chi Dalbergia là cơ sở khoa học để

đề tài triển khai nghiên cứu nhân giống Sưa

.2.2.4 Nghiên cứu gây trồng, phát triển cây Sưa

Trang 34

Sưa một cách tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu các nghiên cứu thăm dò cóthể sẽ dẫn đến những tổn thất không đáng có

Kết quả khảo sát năm 2009 cho thấy 77,5% số người dân trồng Sưa ởThừa Thiên Huế đều có mục đích, định hướng rõ ràng Chỉ một số khôngnhiều trường hợp là trồng nhưng chưa có định hướng rõ (chiếm 22,5%).Điều này cho thấy không phải ngẫu nhiên người dân đưa cây Sưa vàotrồng, trong đó động cơ lớn nhất vẫn là giá trị kinh tế lớn của gỗ Sưa Tuynhiên, việc trồng Sưa ở Thừa Thiên Huế nhìn chung vẫn mang tính tự

một số nghiên cứu ban đầu về kỹ thuật gây trồng và cũng chỉ dừng ở giaiđoạn vườn ươm và rừng mới trồng

Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng cây Sưa đã đưa ra một số kếtluận ban đầu, cụ thể như: Cây con ở giai đoạn vườn ươm cần được che

trong giai đoạn vườn ươm đã xác định được công thức bón 2 g MF1/cây

trồng Sưa 41 tháng tuổi cho thấy mật độ trồng 830 cây/ha cho sinh trưởngtốt nhất về chiều cao và ở mật độ 400 cây/ha sinh trưởng đường kính tốt

cần sử dụng túi bầu ươm cây giống phù hợp: đối với cây 6 tháng tuổi nêndùng túi bầu cỡ 8 x 12 cm; cây 6 - 12 tháng tuổi cần chuyển cây giốngsang túi bầu lớn hơn 15-16 x 18-20 cm; cây 1 - 2 năm tuổi thì sau 12tháng cần chuyển sang túi bầu to hơn nữa Trước khi đem trồng khoảng 1

[33])

Cây Sưa trồng ở Thừa Thiên Huế, trong điều kiện gây trồng và chămsóc bình thường có thể đạt tăng trưởng bình quân 1,61 cm/năm về đường

Trang 35

kính và 1,41 m/năm về chiều cao (Trần Minh Đức và Lê Thái Hùng, 2012

[17]) Kết quả nghiên cứu gây trồng cho thấy cây Sưa ưa sáng, sinhtrưởng tốt khi trồng ở điều kiện lập địa ẩm, tốt, tầng đất sâu, độ dốc vừa

al., 2013 [33])

Với tán lá to, khó bị đổ gãy, cây Sưa cũng có nhiều đặc điểm phù hợp

để trồng cảnh quan và cây đường phố, qua đó góp phần bảo tồn nguồngen quý Chỉ tính riêng tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có 221 cây, chiếm3,1% số cây trồng của quận, cây sinh trưởng tốt, đường kính trung bình

thành phố Thái Bình, cây Sưa cũng được dùng để trồng cây đường phố,

2016 [44])

Tình hình sâu, bệnh hại:

Ở Việt Nam, cây Sưa trong giai đoạn vườn ươm thường bị bệnh thối

cổ rễ do nấm Fusarium solani, nấm Pythium vexans và bệnh đốm lá do

ra, trên các cây Sưa trồng phân tán lâu năm cũng như tại các diện tíchrừng trồng Sưa tập trung đã xuất hiện một số loài sâu bệnh hại, trong đó

Xuân Phương và đồng tác giả (2013) [33], rừng trồng Sưa có thể bị sâubệnh hại, đặc biệt ở tuổi non, vì vậy khi chăm sóc cần loại bỏ các cây bịsâu bệnh hại

Nhìn chung, cây Sưa hiện đang được gây trồng tự phát tại Việt Nambằng nhiều nguồn giống thu hái từ các cây phân tán, chủ yếu từ các câynhỏ tuổi do dân trồng hoặc cây mới trồng trên các đường phố Việc pháttriển cây Sưa một cách tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu các nghiên cứu

Trang 36

thăm dò có thể sẽ dẫn đến những tổn thất không đáng có do chất lượnggiống thấp, sâu bệnh hại

Chính sách phát triển cây Sưa ở Việt Nam:

Những năm gần đây, mặc dù đã được luật pháp quy định về việc cấmkhai thác, vận chuyển và buôn bán các sản phẩm từ cây Sưa, điển hình là

NN&PTNT, 2007 [2]) Đồng thời các cơ quan chức năng đã tổ chức, triểnkhai bảo vệ rất quyết liệt Nhưng do giá trị kinh tế quá lớn, giá bán gỗ Sưa

Phụ Chính - Chương Mỹ - Hà Nội cũng được đấu giá với các mức từ 15đến 32 triệu/kg gỗ, 6,5 triệu/kg rễ và gốc nhỏ nên loài cây này đang bịkhai thác theo kiểu tận diệt với hàng chục vụ khai thác trộm mỗi năm.Theo thống kê từ năm 1997 - 2004 tại Phong Nha, Quảng Bình đã xảy ra

202 vụ khai thác, vận chuyển trái phép gỗ Sưa, 65 vụ tại Bố Trạch, Quảng

Hiệu quả của hoạt động gây trồng cây Sưa phục vụ bảo tồn và pháttriển loài cây này đã được ghi nhận ở nhiều địa phương Năm 2014, BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bổ sung cây Sưa vào danh mụccác loài cây trồng rừng chủ yếu tại bốn vùng sinh thái gồm vùng Đồngbằng Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam

chuyển sang nhóm IIA, trong đó quy định người dân, hộ gia đình và cácđơn vị trồng cây Sưa có thể khai thác sau khi đã được cơ quan quản lý cấp

Trang 37

.2.3 Nhận xét chung

Cây Sưa là cây bản địa có giá trị kinh tế cao và có khả năng sinhtrưởng tốt, chúng sinh trưởng nhanh hơn nhiều loài cây gỗ quý (cùngnhóm I) khác như Lim xanh, Lát hoa, Bách xanh…

Các nghiên cứu đã xác định được rất nhiều hợp chất hóa học có giá trịdược học cao từ gỗ Sưa Một số nghiên cứu đã xác định được ảnh hưởngcủa chế độ che bóng và nhu cầu ánh sáng đến cây Sưa ở giai đoạn vườnươm và ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của hạt giống.Nhìn chung, các nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đối với cây Sưacòn rất ít Các nghiên cứu đã công bố chủ yếu tập trung vào một số nộidung hẹp như nghiên cứu nhận dạng về gene cho loài, nghiên cứu đa dạng

di truyền và một số nghiên cứu ban đầu về kỹ thuật gây trồng

Do vậy, việc nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát

triển cây Sưa tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam rất cần thiết, có ý nghĩa khoa

học cũng như có ý nghĩa thiết thực trong sản xuất

Trang 38

Chương 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

.3.1 Nội dung nghiên cứu

.3.1.1 Điều tra tổng kết điều kiện gây trồng, các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng Sưa

- Điều tra, tổng kết điều kiện gây trồng cây Sưa

- Điều tra, tổng kết kỹ thuật gieo ươm cây Sưa

- Điều tra, tổng kết kỹ thuật trồng Sưa

.3.1.2 Phân tích các chính sách phát triển cây Sưa và thị trường một số sản phẩm từ cây Sưa

- Phân tích các chính sách phát triển cây Sưa tại Việt Nam

- Điều tra, đánh giá thị trường một số sản phẩm từ cây Sưa tại một sốtỉnh phía Bắc Việt Nam

.3.1.3 Nghiên cứu nhân giống và đánh giá khảo nghiệm giống Sưa

- Nghiên cứu bảo quản hạt giống Sưa

- Nghiên cứu nhân giống Sưa từ hạt và từ hom

- Đánh giá khảo nghiệm giống Sưa

.3.1.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng trong lá, kích thích tạo lõi và định hình thân cây

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, hình thân cây Sưa trồng trên cácloại đất khác nhau

Trang 39

- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với các chỉ tiêudinh dưỡng trong lá và đất.

- Nghiên cứu định hình thân cây

- Nghiên cứu kích thích tạo lõi

.3.1.5 Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại cây Sưa

- Nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại cây Sưa

- Nghiên cứu bệnh loét thân cành Sưa

- Nghiên cứu chết héo cây Sưa

.3.1.6 Đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng, phát triển cây Sưa

.3.2 Vật liệu nghiên cứu

.3.2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Cây Sưa trồng phân tán, trong vườn hộ và trên rừng trồng ở một sốtỉnh phía Bắc Việt Nam

- Các gia đình trong khảo nghiệm hậu thế Sưa tại Văn Luông, TânSơn, Phú Thọ thuộc chương trình hợp tác với Đại học Murdoch -Australia và khảo nghiệm hậu thế Sưa tại Cầu Hai, Đoan Hùng, Phú Thọthuộc chương trình hợp tác với Bộ phận Hợp tác Môi trường ASEAN-KOREA (AKECU) do Nguyễn Hoàng Nghĩa chủ trì Luận án kế thừa cáckhảo nghiệm nêu trên Các thông tin cơ bản về khảo nghiệm được trình

Bảng 2.2: Địa điểm, thời gian và bố trí khảo nghiệm

Địa điểm khảo

nghiệm

Năm trồng

Số lượng gia đình

Số lần lặp lại

Số cây /gia đình/lặp

Trang 40

Văn Luông, Tân Sơn Cầu Hai, Đoan HùngNhiệt độ trung bình năm

Ngày đăng: 20/03/2020, 20:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Bản, Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn Hào Hiệp, 2009. “Cấu tạo gỗ cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain)”. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (4).tr. 1131-1132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo gỗcây Sưa ("Dalbergia tonkinensis" Prain)”. "Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
4. Ngô Văn Cầm, Nguyễn Như Hiến, Cao Thị Lý, Phạm Tiến Bằng, Thiều Giang Ly và Lê Thị Thu Hồng, 2016. “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và loại hom đến khả năng ra rễ của hom Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis)”. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (2), tr. 4301-4307 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinhtrưởng và loại hom đến khả năng ra rễ của hom Thủy tùng ("Glyptostrobus"pensilis")”. "Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
5. Đỗ Xuân Cẩm, 2013. “Cây Sưa ở Huế và các loài Sưa ở Việt Nam”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, 1(99), tr. 95-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Sưa ở Huế và các loài Sưa ở Việt Nam”. "Tạp chí"Nghiên cứu và Phát triển
8. Nguyễn Minh Chí, Đặng Như Quỳnh, Nguyễn Quốc Thống, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Hồng Ngân và Trần Xuân Hinh, 2014. “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và bệnh hại của cây Sưa trong giai đoạn vườn ươm”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (23), tr 137-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởngcủa phân bón đến sinh trưởng và bệnh hại của cây Sưa trong giai đoạn vườnươm”." Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
9. Nguyễn Minh Chí và Phạm Quang Thu, 2016a. “Bệnh chết héo bạch đàn tại Việt Nam”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , (6), tr. 119-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh chết héo bạchđàn tại Việt Nam”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
10. Nguyễn Minh Chí và Phạm Quang Thu, 2016b. “Nghiên cứu mật độ bào tử nấm Ceratocystis manginecans phát tán trong rừng Keo lá tràm, keo lai và Keo tai tượng tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (1), tr. 4225-4230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mật độbào tử nấm "Ceratocystis manginecans" phát tán trong rừng Keo lá tràm,keo lai và Keo tai tượng tại Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
11. Nguyễn Minh Chí, 2017. “Nghiên cứu bệnh chết héo (Ceratocystis sp.) phục vụ chọn giống Keo lá tràm sinh trưởng nhanh, kháng bệnh tại miền Trung và Đông Nam Bộ”, Luận án tiến sỹ Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 150 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh chết héo ("Ceratocystis "sp.)phục vụ chọn giống Keo lá tràm sinh trưởng nhanh, kháng bệnh tại miềnTrung và Đông Nam Bộ
15. Phạm Thế Dũng, 2014. “Nghiên cứu nhân giống vô tính cây Cóc hành, Trôm phục vụ trồng rừng trên đất cát vùng khô hạn”. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (2), tr. 3264-3270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhân giống vô tính cây Cóc hành,Trôm phục vụ trồng rừng trên đất cát vùng khô hạn”. "Tạp chí Khoa học"Lâm nghiệp
16. Lê Hoàng Đức, Hoàng Hà, Lê Văn Sơn và Chu Hoàng Hà, 2015. “Nghiên cứu xác định trình tự gen RBCL phục vụ nhận dạng cây Sưa ( Dalbergia tonkinensis)”. Báo cáo tóm tắt “Hội nghị Khoa học kỷ niệm 40 năm (1975- 2015) thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tr. 16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiêncứu xác định trình tự gen RBCL phục vụ nhận dạng cây Sưa ("Dalbergia"tonkinensis")”. "Báo cáo tóm tắt “Hội nghị Khoa học kỷ niệm 40 năm (1975-"2015) thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
17. Trần Minh Đức và Lê Thái Hùng, 2012. “Một số kết quả khảo sát loài cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) và tình hình gây trồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế”. Tạp chí khoa học, Đại học Huế, 75A(6), tr. 19-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả khảo sát loài câySưa ("Dalbergia tonkinensis" Prain) và tình hình gây trồng ở tỉnh Thừa ThiênHuế”. "Tạp chí khoa học
19. Trần Ngọc Hải, 2006. “Bảo tồn và phát triển loài quý hiếm Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain)”. Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển loài quý hiếm Sưa "(Dalbergia"tonkinensis" Prain)”. "Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên
20. Vũ Thị Thu Hiền, Lưu Đàm Cư và Đinh Thị Phòng, 2009. “Xác định trình tự gen tRNA-LEU cho hai loài cây gỗ Sưa (Dalbergia tonkinensis) và cây gỗ Trắc đỏ (Dalbergia cochinchinensis) phục vụ phân loại mẫu vật tại Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam”. Tạp chí Công nghệ sinh học, 7(4), tr. 471-477 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định trìnhtự gen tRNA-LEU cho hai loài cây gỗ Sưa ("Dalbergia tonkinensis") và câygỗ Trắc đỏ ("Dalbergia cochinchinensis") phục vụ phân loại mẫu vật tại Bảotàng thiên nhiên Việt Nam”. "Tạp chí Công nghệ sinh học
21. Nguyễn Thị Hoàn, Đặng Văn Hà và Nguyễn Thị Yến, 2017. “Thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, (1), tr. 17- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng vàđề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội”. "Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp
22. Trương Mai Hồng, 2002. “Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian xử lý IBA tới khả năng ra rễ của các dạng hom giâm cây Cẩm lai Bà Rịa”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (5), tr. 446-447 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian xử lý IBAtới khả năng ra rễ của các dạng hom giâm cây Cẩm lai Bà Rịa”. "Tạp chí"Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
25. Nguyễn Đình Hưng, 1990. Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu gỗ một số loài cây gỗ ở Việt Nam để định loại theo các đặc điểm cấu tạo thô đại và hiển vi.Luận văn phó tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu gỗ một số loài cây"gỗ ở Việt Nam "để định loại theo các đặc điểm cấu tạo thô đại và hiển vi
27. Nguyễn Khoa Lân, Nguyễn Thị Kim Triển, Trần Hiếu Quang và Trần Thị Tú, 2015. “Thăm dò ảnh hưởng chất kích thích sinh trưởng GA 3 và α-NAA đến một số biện pháp nhân giống nhằm bảo tồn loài Trắc dây (Dalbergia annamensis A. Chev.) ở khu vực suối Đá Bàn, tỉnh Phú Yên”. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 6, tr. 1475-1480 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò ảnh hưởng chất kích thích sinh trưởng GA3 vàα-NAA đến một số biện pháp nhân giống nhằm bảo tồn loài Trắc dây("Dalbergia annamensis "A. Chev.) ở khu vực suối Đá Bàn, tỉnh PhúYên”. "Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên"sinh vật lần thứ 6
28. Phạm Thanh Loan, Trần Huy Thái, Phan Văn Kiệm, Hoàng Lê Tuấn Anh, Châu Văn Minh, Đỗ Thị Thảo và Trần Thị Sửu, 2013. “Hoạt tính sinh học của một số hợp chất phân lập từ gỗ cây Cẩm lai (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain)”. Tạp chí Sinh học, 35(4), tr. 439-444 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt tính sinh họccủa một số hợp chất phân lập từ gỗ cây Cẩm lai ("Dalbergia oliveri" Gambleex Prain)”. "Tạp chí Sinh học
29. Phạm Thanh Loan, Trần Huy Thái và Phan Văn Kiệm, 2014. “Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về khả năng nhân giống hữu tính và sinh trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia oliveri)”. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5 , tr.1147-1150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sốkết quả nghiên cứu bước đầu về khả năng nhân giống hữu tính và sinhtrưởng của cây Cẩm lai ("Dalbergia oliveri")”. "Kỷ yếu Hội nghị Khoa học"toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5
30. Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005. “Kết quả nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây rừng”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (3), tr. 27-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu bảo tồn nguồn gen câyrừng”. "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
32. Khuất Thị Hải Ninh và Nguyễn Thị Thanh Hường, 2011. “Đánh giá khảo nghiệm xuất xứ và nhân giống hom Tràm năm gân (Melaleuca quinquenervia) tại Ba Vì-Hà Nội”. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (3), tr.1849-1856 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khảonghiệm xuất xứ và nhân giống hom Tràm năm gân ("Melaleuca"quinquenervia") tại Ba Vì-Hà Nội”. "Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w