MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN1MỞ ĐẦU5Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ KHÔNG GIAN LỄ HỘI GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH81.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu81.2. Một số khái niệm101.3. Vai trò của việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội gắn với hoạt động du lịch16Tiểu kết Chương 118Chương 2 : THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHÔNG GIAN LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH192.1. Tổng quan khu di tích chùa Hương192.2. Các giá trị nổi bật ở chùa Hương212.3. Tài nguyên du lịch ở chùa Hương252.4. Thực trạng việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với hoạt động du lịch37Tiểu kết Chương 248Chương 3 : GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHÔNG GIAN LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG GẮN VỚI DU LỊCH493.1. Một số định hướng phát triển du lịch lễ hội chùa Hương493.2. Giải pháp533.3. Một số kiến nghị61Tiểu kết Chương 363KẾT LUẬN65TÀI LIỆU THAM KHẢO62PHỤ LỤC70 DANH MỤC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂUBiểu đồ 1. Biểu đồ đánh giá chất lượng về hệ thống giao thông,vận chuyển ở chùa Hương37Biểu đồ 2. Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú tại khu di tích chùa Hương40Biểu đồ 3. Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại chùa Hương41Biểu đồ 4. Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí tại khu di tích chùa Hương42Biểu đồ 5. Biểu đồ cơ cấu khách tham gia lễ hội chùa Hương43Biểu đồ 6. Biểu đồ thể hiện mục đích của du khách đến với lễ hội chùa Hương44 DANH MỤC VIẾT TẮTChữ viết tắtChữ viết đầy đủTSTiến sĩTr.TrangPGS.TSPhó giáo sư. Tiến sĩ Nxb.Nhà xuất bảnUBNDUỷ ban nhân dân MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuDanh thắng chùa Hương từ xa xưa đã nức tiếng thiên hạ, được mệnh danh là “kì sơn thủy tú” của Việt Nam. Những ai đã đến thăm chùa Hương cũng đều bị cuốn hút bởi vẻ đẹp diễm lệ của phong cảnh và chìm đắm trong không gian thanh tịnh và thoát tục của bầu không khí nơi đây. Đặc biệt, khi nhắc đến chùa Hương người ta thường nhớ đến ngay lễ hội truyền thống đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian lễ hội chùa Hương. Cứ mỗi độ xuân về đến ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, chùa Hương khai hội, hàng triệu Phật tử cùng du khách từ khắp bốn phương về trảy hội chung vui trong không khí lễ hội. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng Giêng đến ngày 16 tháng 2 âm lịch ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng). Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ của các sinh hoạt văn hóa dân tộc. Trẩy hội chùa Hương là hành động giải tỏa hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục thực là nền tảng, ước mơ là ước vọng của con người.Trong những năm gần đây, chùa Hương luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ các ban ngành Trung ương đến địa phương, góp phần làm cho thắng cảnh Hương Sơn càng thêm hấp dẫn. Theo thống kê, mỗi năm lễ hội chùa Hương thu hút khoảng 1,5 triệu lượt khách du lịch về chiêm cảnh, bái Phật. Qua đó tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cũng như ngân sách địa phương, bên cạnh đó còn tạo công việc làm cho hàng ngàn người dân và dân cư lân cận. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc bảo tồn và phát huy không gian và thời gian của khu quần thể. Du khách đến với chùa Hương từ nhu cầu tâm linh là chủ yếu, nhưng chưa khai thác hết nhu cầu tâm linh của khách. Việc gắn kết giữa du lịch tâm linh của quần thể thắng cảnh Hương Sơn và du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống trên địa bàn chưa được khai thác hiệu quả, phát huy tối đa. Mặt khác, chưa có sự kết nối quần thể thắng cảnh chùa Hương với các điểm du lịch khác trên địa bàn thành phố để tạo thành các điểm, tour du lịch có tính chuyên nghiệp liên kết, liên hoàn trong và ngoài thành phố. Bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh, dịch vụ thương mại trong lễ hội như chặt chém, thêm tiền đò, bán thịt giả cầy, mèo rừng tràn lan... cũng như ý thức của một bộ phận khách du lịch chưa nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cũng như ảnh hưởng ít nhiều đến giá trị văn hóa trong mùa lễ hội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo tồn không gian lễ hội chùa Hương cũng như phát huy được các giá trị truyền thống vốn có của nó.Vì vậy, nhóm em đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với phát triển du lịch” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của nhóm. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài nghiên cứu Xây dựng cơ sở lý luận về lễ hội và không gian lễ hội; Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương; Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy không gian lễ hội tại chùa Hương gắn với phát triển du lịch.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu3.1. Đối tượng nghiên cứuĐề tài tập trung nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành và các giá trị nổi bật của chùa Hương.3.2. Khách thể nghiên cứuĐề tài tập trung nghiên cứu về khu du tích chùa Hương (xã Hương Sơn huyện Mỹ Đức Hà Nội).4. Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, lễ hội, không gian lễ hội trong hoạt động du lịch. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích chùa Hương tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Đưa ra được những giải pháp nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên, thu hút các nhà đầu tư, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và quảng bá hình ảnh du lịch lễ hội chùa Hương nhằm bảo tồn và phát triển du lịch.5. Phạm vi nghiên cứu Không gian nghiên cứu: khu di tích chùa Hương Hương Sơn huyện Mỹ Đức Hà Nội. Thời gian nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu không gian lễ hội tại Chùa Hương trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2018.6. Phương pháp nghiên cứuĐể hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, nhóm em đã sử dụng một số phương pháp như sau: Phương pháp phân tích tổng hợp : phân tích, nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng. Sau đó tổng hợp tài liệu tìm kiếm, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: thu thập mọi tài liệu, dẫn chứng. Kết quả thu thập thông tin từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê, quan sát cần được xử lý để xây dựng luận cứ, phục vụ việc chứng minh, đưa ra luận điểm. Phương pháp nghiên cứu thực địa: là phương pháp quan sát để lấy được các thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, quan sát để phân tích hệ thống đối tượng nghiên cứu.7. Cấu trúc khóa luậnNgoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung Khóa luận bao gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội và không gian lễ hội gắn với hoạt động du lịchChương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại chùa HươngChương 3: Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với phát triển du lịchChương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ KHÔNG GIAN LỄ HỘI GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến lễ hội trong du lịchVề đề tài lễ hội, có rất nhiều học giả, dịch giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc về lễ hội như : “Bảo tàng di tích lễ hội” (1992) của tác giả Phan Khanh 13. “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam”(2000) của Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Trang 5. “60 lễ hội truyền thống Việt Nam” (2000) của tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ 14. “Lễ hội cổ truyền của người Việt: cấu trúc và thành tố” (2000) của Nguyễn Chí Bền 4, “Lễ Hội Truyền Thống Và Hiện Đại” (2005) của Thu Linh, Đặng Văn Lung 15, “Nhận diện bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống của người Việt” (2011), của Nguyễn Quang Lê 7 hay Nguyễn Trọng Báu với “Phong tục, tập quán và lễ hội của người Việt” (2012) 10, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam với “Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại” (2015) 21.Với những nghiên cứu trên các tác giả đã đưa đến cho người đọc một hệ thống hóa chi tiết về lễ hội Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên lại ít đề cập đến vấn đề lễ hội trong du lịch.Trong những năm trở lại đây, du lịch được chú trọng phát triển và lễ hội được đưa vào khai thác sử dụng triệt để trong hoạt động du lịch. Các công trình nghiên cứu về lễ hội gắn với du lịch ngày càng được quan tâm. Tiêu biểu phải kể đến như : Dương Văn Sáu với “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” 1, Lê Thị Tuyết Mai với “Du lịch lễ hội Việt Nam”,...Ngoài ra, còn kể đến một số đề tài nghiên cứu của các bạn sinh viên Khoa Du lịch Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội làm đã nghiên cứu về du lịch lễ hội phải kể đến như: đề tài của sinh viên Nguyễn Thị Bích – Khóa 5 “Khai thác giá trị văn hóa của di tích chùa Đọi và lễ hội chùa Đọi trong hoạt động du lịch” 8, đề tài của Đào Thị Hằng – Khóa 6 “Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội tại đền tranh huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương” 2, đề tài của Phạm Thị Thu Hà – Khóa 8 “Thực trạng khai thác du lịch lễ hội tại chùa Keo Hành Thiện Nam Định” 11.1.1.2. Tổng quan nghiên cứu về di tích chùa HươngCó rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chùa Hương như đề tài của Trần Thị Duệ Anh (2017), “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch tâm linh ở chùa Hương”, Đại học Công nghiệp Hà Nội 19; Nguyễn Thị Oanh (2016), “Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích chùa Hương”, Đại học Công nghiệp Hà Nội 9; đề tài của Trần Nguyệt Hằng(2015), “Phát triển du lịch ở chùa Hương theo hướng bền vững”, Đại học Công nghiệp Hà Nội 17. Hầu hết những đề tài trên đều tập trung đến các mảng du lịch tâm linh, du lịch bền vững, môi trường… còn các đề tài nghiên cứu khác như đề tài nghiên cứu của Vũ Hoài Châu (2014), “Nghiên cứu du lịch lễ hội chùa Hương ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ yếu tập trung nghiên cứu đưa ra các lý luận về du lịch lễ hội, đưa ra những thực trạng hoạt động du lịch chùa Hương để có nhữn giải pháp góp phần phát triển du lịch lễ hội chùa Hương 22.Trên đây là một số đề tài nghiên cứu tuy nhiên vẫn chưa thực sự đi sâu vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử… Chính vì vậy, nhóm em đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với du lịch” để làm sáng tỏ các luận cứ về du lịch, lễ hội, không gian lễ hội đồng thời chỉ ra thực trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương đang diễn ra như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHIỆP HÀ NỘI
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên chuyên đề: Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương
gắn với phát triển du lịch
Người hướng dẫn : Nguyễn Hải Đường
Họ và tên sinh viên : Hoàng Thị Hà
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ KHÔNG GIAN LỄ HỘI GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Một số khái niệm 10
1.3 Vai trò của việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội gắn với hoạt động du lịch 16
Tiểu kết Chương 1 18
Chương 2 : THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHÔNG GIAN LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 19
2.1 Tổng quan khu di tích chùa Hương 19
2.2 Các giá trị nổi bật ở chùa Hương 21
2.3 Tài nguyên du lịch ở chùa Hương 25
2.4 Thực trạng việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với hoạt động du lịch 37
Tiểu kết Chương 2 48
Chương 3 : GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHÔNG GIAN LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG GẮN VỚI DU LỊCH 49
3.1 Một số định hướng phát triển du lịch lễ hội chùa Hương 49
3.2 Giải pháp 53
3.3 Một số kiến nghị 61
Tiểu kết Chương 3 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 70
Trang 4DANH MỤC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1 Biểu đồ đánh giá chất lượng về hệ thống giao thông,vận chuyển ở chùa Hương 37Biểu đồ 2 Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú tại khu di tích chùa Hương 40Biểu đồ 3 Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại chùa Hương 41Biểu đồ 4 Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí tại khu di tích chùa Hương 42Biểu đồ 5 Biểu đồ cơ cấu khách tham gia lễ hội chùa Hương 43Biểu đồ 6 Biểu đồ thể hiện mục đích của du khách đến với lễ hội chùa Hương 44
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Danh thắng chùa Hương từ xa xưa đã nức tiếng thiên hạ, được mệnhdanh là “kì sơn thủy tú” của Việt Nam Những ai đã đến thăm chùa Hươngcũng đều bị cuốn hút bởi vẻ đẹp diễm lệ của phong cảnh và chìm đắm trongkhông gian thanh tịnh và thoát tục của bầu không khí nơi đây Đặc biệt, khinhắc đến chùa Hương người ta thường nhớ đến ngay lễ hội truyền thống đậmmàu sắc tín ngưỡng dân gian - lễ hội chùa Hương
Cứ mỗi độ xuân về đến ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, chùa Hươngkhai hội, hàng triệu Phật tử cùng du khách từ khắp bốn phương về trảy hộichung vui trong không khí lễ hội Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng Giêngđến ngày 16 tháng 2 âm lịch - ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) Lễ hội chùaHương là nơi hội tụ của các sinh hoạt văn hóa dân tộc Trẩy hội chùa Hương
là hành động giải tỏa hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục- thực là nền tảng,ước mơ là ước vọng của con người
Trong những năm gần đây, chùa Hương luôn nhận được sự quan tâm,
hỗ trợ từ các ban ngành Trung ương đến địa phương, góp phần làm cho thắngcảnh Hương Sơn càng thêm hấp dẫn Theo thống kê, mỗi năm lễ hội chùaHương thu hút khoảng 1,5 triệu lượt khách du lịch về chiêm cảnh, bái Phật.Qua đó tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cũng như ngân sách địaphương, bên cạnh đó còn tạo công việc làm cho hàng ngàn người dân và dân
cư lân cận Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc bảo tồn vàphát huy không gian và thời gian của khu quần thể Du khách đến với chùaHương từ nhu cầu tâm linh là chủ yếu, nhưng chưa khai thác hết nhu cầu tâmlinh của khách Việc gắn kết giữa du lịch tâm linh của quần thể thắng cảnhHương Sơn và du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống trên địa bàn
Trang 7chưa được khai thác hiệu quả, phát huy tối đa Mặt khác, chưa có sự kết nốiquần thể thắng cảnh chùa Hương với các điểm du lịch khác trên địa bàn thànhphố để tạo thành các điểm, tour du lịch có tính chuyên nghiệp liên kết, liênhoàn trong và ngoài thành phố Bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh, dịch
vụ thương mại trong lễ hội như chặt chém, thêm tiền đò, bán thịt giả cầy, mèorừng tràn lan cũng như ý thức của một bộ phận khách du lịch chưa nângcao ý thức bảo vệ môi trường cũng như ảnh hưởng ít nhiều đến giá trị vănhóa trong mùa lễ hội Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo tồn khônggian lễ hội chùa Hương cũng như phát huy được các giá trị truyền thống vốn
có của nó
Vì vậy, nhóm em đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy không gian lễ
hội chùa Hương gắn với phát triển du lịch” làm đề tài nghiên cứu cho khóa
luận tốt nghiệp của nhóm
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về lễ hội và không gian lễ hội;
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương;
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy khônggian lễ hội tại chùa Hương gắn với phát triển du lịch
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, lịch sử hìnhthành và các giá trị nổi bật của chùa Hương
3.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về khu du tích chùa Hương (xã Hương Sơn
- huyện Mỹ Đức - Hà Nội)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, lễ hội, không gian lễ hội trong
Trang 8- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tíchchùa Hương tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đưa ra được những giải pháp nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên, thu hútcác nhà đầu tư, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và quảng bá hình ảnh
du lịch lễ hội chùa Hương nhằm bảo tồn và phát triển du lịch
5 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: khu di tích chùa Hương - Hương Sơn - huyện
Mỹ Đức - Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu không gian lễ hội tại Chùa
Hương trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, nhóm em đã sử dụng một
số phương pháp như sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp : phân tích, nghiên cứu các tài liệu,
lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểusâu sắc về đối tượng Sau đó tổng hợp tài liệu tìm kiếm, liên kết từng mặt,từng bộ phận thông tin đã được phân tích để tạo ra một hệ thống lý thuyết mớiđầy đủ và sâu sắc về đối tượng
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: thu thập mọi tài liệu, dẫn
chứng Kết quả thu thập thông tin từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê,quan sát cần được xử lý để xây dựng luận cứ, phục vụ việc chứng minh, đưa
ra luận điểm
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: là phương pháp quan sát để lấy
được các thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, quan sát để phân tích
hệ thống đối tượng nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
Khóa luận bao gồm 3 chương:
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội và không gian lễ hội gắn với hoạt
động du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương
Chương 3: Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa
Hương gắn với phát triển du lịch
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ KHÔNG GIAN LỄ HỘI
GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến lễ hội trong du lịch
Về đề tài lễ hội, có rất nhiều học giả, dịch giả quan tâm nghiên cứu sâu
sắc về lễ hội như : “Bảo tàng di tích lễ hội” (1992) của tác giả Phan Khanh [13] “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam”(2000) của Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Trang [5] “60 lễ hội truyền thống Việt Nam” (2000) của tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ [14] “Lễ hội cổ truyền của người Việt: cấu trúc và thành tố” (2000) của Nguyễn Chí Bền [4], “Lễ Hội Truyền Thống
Và Hiện Đại” (2005) của Thu Linh, Đặng Văn Lung [15], “Nhận diện bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống của người Việt” (2011), của Nguyễn Quang Lê [7] hay Nguyễn Trọng Báu với “Phong tục, tập quán và lễ hội của người Việt” (2012) [10], Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam với “Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại” (2015)
[21]
Với những nghiên cứu trên các tác giả đã đưa đến cho người đọc một
hệ thống hóa chi tiết về lễ hội Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiêncứu trên lại ít đề cập đến vấn đề lễ hội trong du lịch
Trong những năm trở lại đây, du lịch được chú trọng phát triển và lễhội được đưa vào khai thác sử dụng triệt để trong hoạt động du lịch Các côngtrình nghiên cứu về lễ hội gắn với du lịch ngày càng được quan tâm Tiêu
biểu phải kể đến như : Dương Văn Sáu với “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” [1], Lê Thị Tuyết Mai với “Du lịch lễ hội Việt Nam”,
Ngoài ra, còn kể đến một số đề tài nghiên cứu của các bạn sinh viên
Trang 11lịch lễ hội phải kể đến như: đề tài của sinh viên Nguyễn Thị Bích – Khóa 5
“Khai thác giá trị văn hóa của di tích chùa Đọi và lễ hội chùa Đọi trong hoạt động du lịch” [8], đề tài của Đào Thị Hằng – Khóa 6 “Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội tại đền tranh huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương” [2], đề tài của Phạm Thị Thu Hà – Khóa 8 “Thực trạng khai thác du lịch lễ hội tại chùa Keo Hành Thiện Nam Định” [11].
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về di tích chùa Hương
Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chùa Hương như đề
tài của Trần Thị Duệ Anh (2017), “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch tâm linh ở chùa Hương”, Đại học Công nghiệp Hà Nội [19]; Nguyễn Thị Oanh (2016), “Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích chùa Hương”, Đại học Công nghiệp Hà Nội [9]; đề tài của Trần Nguyệt Hằng(2015), “Phát triển du lịch ở chùa Hương theo hướng bền vững”, Đại học Công nghiệp Hà Nội [17]
Hầu hết những đề tài trên đều tập trung đến các mảng du lịch tâm linh,
du lịch bền vững, môi trường… còn các đề tài nghiên cứu khác như đề tài
nghiên cứu của Vũ Hoài Châu (2014), “Nghiên cứu du lịch lễ hội chùa Hương ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn chủ yếu tập trung nghiên cứu đưa ra các lý luận về du lịch lễ hội, đưa ranhững thực trạng hoạt động du lịch chùa Hương để có nhữn giải pháp gópphần phát triển du lịch lễ hội chùa Hương [22]
Trên đây là một số đề tài nghiên cứu tuy nhiên vẫn chưa thực sự đi sâuvào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử… Chính vì vậy,
nhóm em đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội chùa Hương gắn với du lịch” để làm sáng tỏ các luận cứ về du lịch, lễ hội, không gian lễ hội
đồng thời chỉ ra thực trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương đang diễn ra như
Trang 12thế nào có những điểm thuận lợi hay tích cực để có những định hướng giải phápbảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của không gian lễ hội chùa Hương.
Trang 131.2 Một số khái niệm
1.2.1 Du lịch
Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế ngày một phát triển,nhu cầu du lịch, thư giãn, nghỉ ngơi, tham quan ngày một tăng Du lịch pháttriển nhanh chóng và trở thành một hoạt động kinh tế xã hội cao, thu húthàng tỉ người trên thế giới tham gia Du lịch không chỉ phát triên trên thế giới
mà còn ở Việt Nam, nó sẽ trở thành một ngành dịch vụ được chú trọng đi đầutrong tương lai Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta, nhận thức về dulịch vẫn chưa còn thống nhất trên thực tế phát triển của ngành du lịch về mặtlĩnh vực cũng như đào tạo, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhấtmột số khái niệm cơ bản về du lịch là điều cần thiết
- Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tornos với ý nghĩa đimột vòng Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành Tornur sau đó thành Tour.Tiếng Pháp nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn Toursite là người đidạo chơi [3;tr.8]
Do hoàn cảnh thời gian, khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ khácnhau, đúng như một chuyên gia nhận định: “đối với du lịch,có bao nhiêu tácgiả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa…”[3;tr.9]
- Vào năm 1941, ông Hunziker và Kraff (Thụy Sĩ) đã đưa ra địnhnghĩa: Du lịch là tổng hợp những hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từviệc di chuyển và dừng lại của con người ở nơi không phải là nơi cư trúthường xuyên của họ ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất
kì hoạt động thu nhập nào tại nơi đến
- Theo Guer Freuler: du lịch là một hiện tượng thời đại của chúng tadựa trên sự tăng trưởng của nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi môi
Trang 14trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹpcủa thiên nhiên
- Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cánhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần ,đạo đức , do đó tạo nên các hoạt động kinh tế
- Theo M.Coltman: du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mốiquan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà kinh doanh
du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trìnhthu hút và đón tiếp khách du lịch
- Theo Liên Hợp Quốc năm 1963 định nghĩa về du lịch như sau: du lịch
là tổng hợp các mối quan hệ hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từcuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thườngxuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trúkhông phải là nơi làm việc của họ
- Theo Pirogionic (1985) thì: du lịch là một dạng hoạt động của dân cưtrong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bênngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theoviệc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa
- Về đến Việt Nam, khái niệm “du lịch” được Bách khoa toàn thư ViệtNam được hiểu:
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực
của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danhlam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao
về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử vănhóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu nước; đối với người
Trang 15vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
- Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) đã đưa ra khái niệm về du lịchnhư sau: du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoàinơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìmhiểu, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.2.2 Lễ hội
Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóariêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “ lễ hội” là loạihình tiêu biểu nhất Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tậpthể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất,hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử Lễ hội nước nào cũng cónhững hình thức rước xách, diễu hành, vui chơi, nhưng ở mỗi quốc gia thì lễhội lại có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó
Vì thế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống
xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế - xãhội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng tộc người Vậy “lễ hội” là gì ?
- Mỗi vùng miền, một quốc gia lại có hình thức tổ chức lễ hội khácnhau Chính vì thế mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinhhoạt văn hóa này Sau đây là một số khái niệm điển hình về “Lễ hội” như: Khinghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng:
“Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó làcuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sốngkhông thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết vàquy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trênthế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc
Trang 16sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà
ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả”
- Từ điển Bách Khoa Toàn Thư định nghĩa: “Lễ hội là hệ thống cáchành vi, tác động nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thầnlinh,phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống màbản thân họ chưa có khả năng thực hiện” [26]
- Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, nhóm tác giả đã định nghĩa lễ
hội thông qua việc lý giải nguồn gốc, thời điểm ra đời lễ hội từ nghi lễ nôngnghiệp: “Cư dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cưdân nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước Vòng quay của thiên nhiên
và mùa vụ tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh Khoảng thời gian nghỉngơi này là dịp để người dân cảm ơn thần linh đã phù hộ cho mùa vụ đã qua
và cầu mong phù hộ cho một mùa màng sắp tới, dần dà biến thiên thời gian đãlắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dânđược gọi là lễ hội” [16;tr.97]
- Theo tác giả Dương Văn Sáu trong cuốn giáo trình “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” thì lễ hội được hiểu là “hình thức sinh
hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian vàkhông gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hayhuyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của conngười với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội”[1;tr.35]
- Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” của Phan Đăng Nhật cho rằng: Lễ hội
là 1 pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số phong tục, tín ngưỡng, vănhóa,nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc… Lễhội còn là nơi bảo tồn , tích tụ văn hóa của nhiều thời kì lịch sử trong quá khứdồn nén lại cho tương lai [12;tr.131]
Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ
Trang 17các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộcsống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệmmột sự kiện quan trọng với cả cộng đồng.
Phân loại lễ hội
Lễ hội Việt Nam được phân loại thành:
- Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có côngvới nước, với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyềnthống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trịtốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội
- Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh nhữngdanh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng
- Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá
về văn hóa, thể thao, du lịch bao gồm các Festival, liên hoan văn hóa, thểthao, du lịch, tuần văn hóa, thể thao, du lịch, tuần văn hóa- du lịch, thángvăn hóa - du lịch, năm văn hóa - du lịch
- Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do
tổ chức của Việt nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tạiViệt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoàivới công chúng Việt Nam[27]
Cấu trúc của lễ hội
Theo giáo trình “ Địa lí du lịch Việt Nam” của tác giả Nguyễn MinhTuệ (chủ biên) đã chia lễ hội thành hai phần: phần nghi lễ và phần hội
Phần nghi lễ
- Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các lễ hội, dù lớn hay nhỏ, dù dàihay ngắn với những nghi thức nghiêm trang trọng thể
Trang 18- Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệmlịch sử, hướng về một sự kiện trọng đại, một vị anh hung dân tộc lỗi lạc có sựảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội.
- Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền, thầnlinh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc
- Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc với các yếu tố văn hóa linhthiêng đầy giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khichuyển sang phần hội
Trang 19Phần hội
- Phần hội diễn ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lí vàvăn hóa cộng đồng, chưa đựng những quan niệm của một dân tộc về thực tếlịch sử, xã hội và thiên nhiên
- Trong hội thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát,tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công người xưa Tất cả những gì tiêu biểucho một vùng đất, cho một làng xã được phô diễn, đem lại niềm vui cho mọi người
1.2.3 Không gian lễ hội
Không gian lễ hội là không gian ba chiều, bao gồm không gian địa lý(trời, đất, núi, sông, rừng, biển…), không gian xã hội (cộng đồng dân cư làng,liên làng, siêu làng cùng những thiết chế văn hóa xã hội), không gian tâm linh(đình, chùa, miếu, cùng những tình cảm, suy nghĩ, khát vọng, ước muốn củacon người), trong đó không gian tâm linh rất quan trọng
Lễ hội truyền thống thường diễn ra trong không gian các làng quê
(hội làng hoặc liên làng), hoặc cấp vùng hay cấp quốc gia Không gian lễ
hội có tính chất phạm vị hẹp hay rộng thì còn phụ thuộc vào lễ hội ấy Mỗimột lễ hội gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội trong không gian lễ hộiphần tế lễ thực hiện chủ yếu tại đình, miếu, nhà thờ, chùa chiền; phầnnghênh nước, vui chơi, hoạt động văn nghệ, thể thao… tổ chức tại sânđình, bãi cát, trên đầm phá, sông biển…
Trong bài viết của tác giả Nguyễn Tri Phương đăng trên Tạp chí di sản,PGS.TS.Lương Hồng Quang - Phó viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuậtquốc gia Việt Nam đã đưa ra quan điểm : “Sự mở rộng hay thay đổi tính chấtthời gian, không gian tổ chức: lễ hội xưa chỉ mang một tính chất là một khônggian sinh hoạt tâm linh của cộng đồng dân cư tại chỗ, nay được mở rộng cho
cả những khách hành hương bên ngoài”[25]
Trang 20Trong không gian lễ hội luôn luôn có sự song song tồn tại và đan xengiữa những định chế của làng, xã với luật pháp của triều đình Trung Ương,đồng thời, chúng ta cũng có thể nhận thấy mối liên hệ và sự tương phản củanhững quan niệm, thiết chế khắt khe ở trung tâm linh thiêng (đình, chùa)với sự sự tự do, phóng khoáng của cá nhân ở khu vực xung quanh đếnmức có thể vượt qua mọi lễ giáo của chế độ phong kiến để vươn tới nhữngkhát vọng của mình ở những trò vui chơi trong lễ hội mà ngày thường họkhông thể vượt qua.
1.1 Vai trò của việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội gắn với hoạt động du lịch
Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội để gắn kết tinh thần cộng đồng
- Theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh “lễ hội nào cũng là của và thuộc về mộtcộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng, xã (hội làng), cộngđồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhàthờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng), quốc tế đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn,như gia tộc, dòng họ Chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộngđồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng
- Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảnggắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sởhữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chiphối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu
sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)
Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộngcảm của sức mạnh cộng đồng
Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội giúp cho du khách hướng về
cội nguồn dân tộc
Trang 21- Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thầncủa người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử NgườiViệt Nam từ ngàn đời xưa đã có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễhội là sự kiện thể hiện truyền thống quy báu đó Không gian lễ hội là mộtkhông gian để du khách là người con Việt Nam sinh sống trên hay ngoài Tổquốc có thể trở về với cội nguồn tự nhiên hay cội nguồn của dân tộc.
- Lễ hội đáp ứng một cách thiết thực, hiệu quả đời sống văn hóa tinhthần, tâm linh của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạtđộng hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng, miền, dân tộc,tri ân công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền bối đã
có công dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc
Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
- Không gian lễ hội bao gồm cả không gian địa lí và không gian xã hộitức là yếu tố về mặt vị trí địa lí của lễ hội và cộng đồng dân cư nơi diễn ra lễhội Lễ hội ra đời từ rất xa xưa và có tính thiêng của nó vì vậy mà rất thu hút
du khách xa gần đến để chiêm bái Điều này đã làm cho một số dịch vụ được
mở ra để đáp ứng nhu cầu tối đa của khách đi du lịch và càng ngày được mởrộng bởi cộng đồng dân cư địa phương nơi đó Lễ hội đã đem lại nguồn thunhập đáng kể cho một số bộ phận dân cư địa phương
- Lễ hội là yếu tố kích thích cho hoạt động du lịch, thu hút du kháchquốc tế, đẩy mạnh du lịch nội địa nếu như được chọn lọc, đầu tư, phát triểnđúng Việc tổ chức có hiệu quả các hoạt động lễ hội trong không gian lễ hội
đã có tác dụng khai thác tiềm năng du lịch, tạo nguồn thu lớn bổ sung chonguồn thu ngân sách quốc gia
Bảo tồn và phát huy không gian lễ hội sẽ là nguồn lực quan trọng
cho phát triển du lịch.
Trang 22- Cộng đồng là nền tảng phát triển của mọi xã hội Lễ hội là một phầnkhông thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Mỗi lễ hộimang bản sắc văn hóa đặc trưng, gắn liền với những đặc điểm cụ thể về địa
lý, tập quán, nghi lễ, ẩm thực, tín ngưỡng Vì vậy, nếu coi mỗi lễ hội là mộtmàu sắc thì đất nước ta là một bản hòa ca của những sắc màu Với sự đa dạng
và phong phú ấy, kho tàng lễ hội Việt Nam không chỉ là những di sản phi vậtthể phục vụ đời sống tinh thần của người dân mà còn là tài nguyên du lịchnhân văn có thể trở thành sản phẩm độc đáo phục vụ du khách Đây là mộtyếu tố làm cho lễ hội trở thành một sản phẩm du lịch Nó sẽ càng ngày đượckhai thác, đưa vào sử dụng tối đa trong du lịch dể đem lại nguồn lợi kinh tếkhông chỉ cho chính cộng đồng địa phương, cho chính quyền địa phương màcòn đem lại nguồn lợi cho kinh tế đất nước
Tiểu kết Chương 1
Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng về du lịch, trong đó lễhội được xem như một bộ phận cấu thành tiềm năng ấy Trong di sản văn hoácủa các thế hệ trước để lại, lễ hội dân tộc có tác dụng hữu hiệu với ngành dulịch không chỉ hôm nay mà cả ngày mai ở cả hai mặt: giới thiệu đất nước, conngười và kinh doanh Khai thác, giới thiệu những lễ hội dân tộc biến nó thànhngười bạn đồng hành trong cuộc sống hôm nay là công việc của ngành dulịch Chương 1 đã xây dựng cơ sở lí luận cốt lõi nhất để làm nền tảng nghiêncứu Nội dung liên quan chủ yếu đến du lịch, lễ hội, không gian lễ hội, vai tròcủa việc bảo tồn và phát huy không gian lễ hội gắn với hoạt động du lịch.Những cơ sở này sẽ vận dụng linh hoạt trong phần đánh giá thực trạng hoạtđộng du lịch tại chùa Hương, những định hướng và giải pháp bảo tồn và pháthuy không gian văn hóa tại chùa Hương Sơn
Trang 24Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHÔNG GIAN LỄ HỘI
CHÙA HƯƠNG GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 2.1 Tổng quan khu di tích chùa Hương
2.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
- Chùa Hương nằm Cách trung tâm thủ đô thành phố Hà Nội 62km vềphía tây nam ,thuộc địa bàn xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức , tỉnh Hà Tây cũ,nay thuộc địa phận Hà Nội, nằm ven bờ sông Đáy Do vậy, đây là một vị trírất thuận lợi cho việc di chuyển của du khách, du khách có thể đi đường bộhoặc đường sông
Địa hình, địa chất, địa mạo
- Khu du lịch chùa Hương thuộc dãy núi Hương Sơn, dãy núi này ở bênsườn đông của dãy núi đá vôi chạy từ Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La, MộcChâu xuống đến Hà Tây, Hòa Bình, Sông Đáy, chạy theo hướng Bắc - Đông
- Giữa sông núi là cả một hệ khe, nối suối Tuyết và suối Yến , thuận lợicho việc dẫn nước qua lại cung cấp nước cho Thung Dâu, Thung Mơ,… phơitrải nước của các hang động
- Tuy nhiên, do độ chia cắt ngang dày đặc với hệ thống hố rụt, phễu,máng trũng; những dẫy chuỗi, các hố nhỏ riêng biệt dạng tháp và tháp cụtđược liên kết với nhau ở mạng phức tạp , các hệ thống khe dòng chảy, nhữngmảng rừng nhiệt đới gió mùa xen kẽ đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về mộtvùng núi non hùng vĩ, đa dạng cạnh đồng bằng
- Hiện nay, do quá trình xâm thực, rửa lũ vẫn đang diễn ra trên khối núiHương Sơn chính là mẫu tiêu biểu cho quá trình địa chất, đã và đang diễn
Trang 25biến mang đặc trưng rất rõ nét của Karst nhiệt đới ẩm đa dạng về hình tháitrong các thung lũng đã tạo thành những phong cảnh trông giống viện bảotàng đá tuyệt đẹp.
- Nhìn chung, về địa hình, địa chất, địa mạo khu vực chùa Hương chothấy đây là nơi có địa hình núi thấp xâm thực nhưng nằm ngay cạnh đồngbằng, có phong cảnh ‘‘sơn thủy hữu tình’’ có lợi thế rất lớn về mức độ hấpdẫn du khách
Khí hậu , thời tiết
- Khí hậu, thời tiết luôn là yếu tố ảnh hưởng lớn tới du khách Chínhkhí hậu tạo ra từng loại thời tiết và định ra mùa du lịch.Khu du lịch ChùaHương nằm hoàn toàn trong vành đai khí hậu nóng Đặc biệt với lễ hội chùaHương thời tiết mùa xuân là quan trọng vì nó trực tiếp tác động đến các hoạtđộng của lễ hội
2.1.2 Lịch sử hình thành chùa Hương
Chùa Hương gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ bà Chúa Ba Theotruyền thuyết thì ở vùng “Linh Sơn phúc địa” này vào thế kỉ đầu tiên đã cócông chúa Diệu Thiện (con vua Diệu Trang) tục gọi là bà Chúa Ba ứng thâncủa Bồ Tát Quán Thế Âm đã đi tu hành 9 năm trong động Hương Tích rồiđắc đạo thành Phật để đi cứu hộ chúng sinh đây cũng là giữa mùa xuân, mùacủa trăm hoa đua nở cây cối xanh tươi, khí trời mát mẻ
Trang 26 Khi câu chuyện này được truyền bá, các Thiền Sư, Tổ Đức đã chốngtích tới đây, nhàn du mây nước Kết quả ba vị hòa thượng đời vua Lê ThánhTông (1442 - 1497) đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên Thảo AmThiên Trù gọi là chùa Ngoài, người ta lấy tên chung cả 2 chùa và cả khu vực
là chùa Hương hay “Thiên Hương Sái Bảo” Hương Tích có ý nghĩa là dấuvết thơm tho, ý nói đây là nơi tu hành của Bồ Tát Quan Âm, còn Thiên Trùđọc theo âm hán việt nghĩa là bếp trời, vì chùa nằm trong khu vực ứng vớimột ngôi sao chủ về ẩm thực Do đó, khi đi trẩy hội chùa Hương tức đi chiêmbái cả khu vực chùa Thiên - Hương của vùng núi Hương Sơn Hàng năm cómấy chục vạn lượt người hành hương đến đây dâng nén hương thơm lên đứcPhật cùng một lời cầu nguyện
Kể từ khi vua Lê Thánh Tông đi tuần phương Nam lần thứ 2 và chư
vị liệt tổ chống tích trượng khai sơn phát hiện đến nay Trải qua hàng ngànnăm với chiều sâu lịch sử và bề dày truyền thống văn hóa đã tô bồi cho vùngthiên nhiên hùng vĩ này một bức tranh “Kì Sơn thủy tú”, dãy núi đã bị sự xâmlược lâu đời của thiên nhiên nên mạch nước đã khoét núi tạo thành nhiều hangđộng với nét đẹp tự nhiên
Năm 1687, hòa thượng Trần Đạo Viên Quang mới chống thiền trượng hoằngtruyền và xiển dương đạo Phật khiến vùng đất này trở thành thiên sơn phúc địa
Đến đầu năm 1947, chùa Hương đã trải qua 9 đời tổ sư nối tiếp xâydựng và luôn nhận được sự ủng hộ của thiện tín muôn phương và nhân dân sởtại Ngày 17/2/1947, giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù va Tiên Sơn nhưng sauhòa bình lặp lại với sự chỉ đạo của ngành văn hóa và chủ trương đúng đắncủa nhà nước, thắng cảnh chùa Hương không những được khôi phục mà ngàycàng mở rộng phát triển đến ngày nay
Trang 272.2 Các giá trị nổi bật ở chùa Hương
Toàn bộ thắng cảnh chùa Hương là một bức tranh toàn mỹ về cả bố cụclẫn màu sắc, nội dung và đường nét Âm hưởng của bức tranh ấy là sự hòaquyện giữa đạo với đời, của thiên nhiên hoang sơ với bóng dáng con người.Hằng năm, chùa Hương đón tiếp hàng ngàn lượt khách du lịch đến thăm vàchiêm bái Phật Trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam chùa Hương được coinhư một báu vật quốc gia và là một tài sản vô giá mang trong mình nhiều giá trị
2.2.1 Giá trị tự nhiên, không gian, cảnh quan, môi trường
- Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng, không chỉ bởi cảnh đẹp mà
nó còn là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam.Không giống bất kỳ nơi nào, Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùahang động gắn liền với núi rừng, và trở thành một quần thể thắng cảnh rộnglớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo Chính tạo hóa đãkhéo bày đặt cho nơi đây núi non sông nước hiền hòa và rồi con người đã thổihồn vào những điều kỳ diệu đó nó trở lên lung linh, sinh động và nhiều màusắc mà làm cho nơi đây được mệnh danh là “Kỳ sơn thuỷ tú ” Theo các nhànghiên cứu dãy núi đá vôi Hương Sơn có cách ngày nay khoảng hơn 200 triệunăm, núi Chùa Hương không hùng vĩ chất ngất nhưng có vẻ đẹp kỳ thú vớinhững tên gọi mang tính bí ẩn của thuyết phong thuỷ như: Núi Long, Ly,Quy, Phượng Mộc mạc dân giã gắn liền với nhân dân lao động như: núi ConTrăn, núi Mâm Xôi, Núi Con Gà, Núi Con Voi ….làm hấp dẫn, say mê không
ít du khách đi đặt chân đến nơi đây
- Hương Sơn có những khu rừng nguyên sinh với những thảm động,thực vật phong phú và quý hiếm, tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, đadạng sinh học do sự chia cắt ngang dày đặc với hệ thống hố rụt, phễu,mãngđược kết hợp xen kẽ với hệ thống các khe dòng chảy, những mảng nhiệt đới
Trang 28gió mùa mà tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về một vùng núi non hùng vĩ đa dạngcạnh cánh đồng bằng như vậy Tất cả những yếu tố thuận lợi đó đã tạo choHương Sơn một vẻ đẹp không những về “ Tiểu sơn lâm mà có đại kỳ quan
”mà còn hình thành lên những di tích có giá trị lịch sử văn hóa tín ngưỡng lâuđời , tạo lên một lễ hội văn hoá lớn
2.2.2 Giá trị lịch sử - huyền thoại
- Chùa Hương ra đời không chỉ nổi tiếng bởi cảnh đẹp thiên nhiên màcòn có một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam.Chùa Hương ra đời gắn với truyền thuyết: ở vùng “ Linh Sơn phúc địa” nàythì nơi đây là nơi tu trì và trác tích của đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát đãđược Việt hoá và danh xưng là Phật Bà chùa Hương, nghĩa là “Dấu vết thơmtho”
- Chùa Hương là nơi in dấu tích Phật gắn liền với truyền thuyết về việc
tu hành đắc đạo của bà Chúa Ba Theo huyền thoại, Đức Quan Âm Bồ Tát đã
tu hành trong chín năm để rồi đắc đạo thành Phật tại Hương Tích Được vuacha rất yêu qúy nhưng bà không chịu nghe lời Cha, không chịu lấy chồng màquyết chí tu hành trong chín năm nên bị vua cha sai lính giết.Ngọc Hoàng biếtchuyện sai thần lính hóa hổ đến để cứu và đưa bà đến núi Hương Sơn Bàsang một vũng nước trong hang bên cạnh tắm gội, rửa sạch oan ức, bụi trần.Nơi đó sau này thành chùa Giải Oan, có giếng Thiên Nhiên Thanh Trì còn gọi
là giếng Giải Oan và dòng suối giải oan chảy trước cửa hang Người xưatương truyền ai có điều gì oan ức , khi đên đây hãy thành tâm lễ Phật và uốngnước giếng Giải Oan là sẽ giải được oan ức trong lòng Sau chín năm tuhành và đắc đạo, tuy đã trở thành Quan Thế Âm bồ tát nhưng bà không về trời
mà ở lại trần gian để cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh Bà trở về để chữabệnh cho cha và giúp đất nước dẹp loạn, bắt đầu sự nghiệp phổ độ chúngsinh, lắng nghe những nơi than kêu phiền muộn để cứu giúp
Trang 29- Câu chuyện về bà chúa Ba là câu chuyện nhà phật sáng tác dựa trêncác kinh điển đạo Phật Nam Hải Quan Thế Âm bồ tát là biểu tượng đẹp đẽcủa sự chân tu giữ đạo cứu đời, trở thành hình tượng gần gũi, thân thương,cảm thông sâu sắc nỗi bất hạnh của con người và dân chúng Việc lưu truyềnPhật thoại về bà chúa Ba và hang Phật Tích ở nơi thờ Tam Phủ đã khẳng định
sự thắng thua của đạo Phật ở đất Hương Sơn Ở đó, Phật hiện thân trong tínngưỡng thờ đá mà người dâm quen gọi là bụt mọc Sức mạnh huyền diệu củaPhật pháp đồng nhất với linh hồn thiêng liêng trong những cây đá, nhũ đá sẽtruyền cho các tín đồ niềm tin, tăng thêm sức mạnh cho mỗi người
- Ngoài ra vùng đất Hương Sơn còn gắn liền với nhiều sự tích và nhữnggiai thoại về nhũng vị anh hùng có công đánh giặc giữ nước, ví như sự tích về
99 chú voi, mâm xôi con gà, long, ly quy, phượng, vv Tất cả đã tạo choChùa Hương những nét đặc trưng của một vùng đất mang nhiều mầu sắc tâmlinh và được con người thần tượng hóa, tạo nên một bản sắc riêng được minhchứng đó là Lễ hội Chùa Hương
2.2.3 Giá trị tâm linh
- Chùa Hương là một quần thể tôn giáo - văn hóa Việt Nam gồm hàngchục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình thờ tín ngưỡngnông nghiệp Khu vực chính là chùa Ngoài hay còn gọi là chùa Trò là nơi thờcác vị sơn thần thượng đẳng với đủ sắc màu của Đạo giáo.Đền Cửa Vòng là
“chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, là người cai quản cả vùng rừngnúi xung quanh với cái tên : “tì nữ túy Hồng” của sơn thần tối cao Chùa ĐàiBắc, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.Như vậy ở chùa Hương hệ thống tín ngưỡng tâm linh gần như là một tổng thểtôn giáo ở Việt Nam, có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo phật có cả Nho giáo
- Hằng năm cứ đến ngày 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, chùaHương bắt đầu khai hội Phật tử cùng du khách bốn phương không chỉ đến
Trang 30thăm mà còn đến để chiếm bái Phật - Hành trình về một miền đất Phật – nơi
Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành
- Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáonhư bơi thuyền,leo núi, hát chèo, hát văn… Khi nhắc đến chùa Hương là nghĩngay đến con đò - một dạng văn hóa thuyền của cư dân Việt từ thuở xa xưa vàđến nay ngày hội bơi thuyền ở chùa Hương tạo cảm hững mãnh liệt cho người đihội Rời con thuyền, giã từ sông nước, con người bắt đầu hòa nhập vào núi vãncảnh chùa chiền và bắt đầu hành trình mới - hành trình leo núi Khách thâpphương đến chiêm bái Phật không chỉ dừng lại ở chốn Phật mà còn được giải tỏahòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục - thực là nền tảng và tiên là ước vọng
2.3.4 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật
- Hương Sơn vốn đã đẹp lại được bàn tay con người tạo hóa, tô điểmcàng trở nên trữ tình Cách đây 2000 năm con người tìm ra động Hương Tích
và mãi đến năm 1575 mới dựng chùa,tô tượng để mọi người đến Đến thờiHậu Lê năm Chính Hòa thứ 7 (1682) chùa được tôn tạo và trùng tu Nhữngngôi chùa và các pho tượng trong hang có giá trị mang đến dấu ấn lịch sử.Qua thời gian và chiến tranh đến nay, nơi đây bị tàn phá nên không còn như xưa
- Quần thể di tích danh lam thắng cảnh chùa Hương bao gồm 18 đềncùa, hang động như đền Trình, đền Mẫu, đền Thượng, chùa Tiên Sơn, chùaGiải Oan, chùa Vân Long, độngTuyết Sơn, chùa Thiên Trù…trong đó nổi bậtnhất là động Hương Tích, một động được chúa Trịnh Sâm khắc lên trước cửađộng “Nam thiên đệ nhất Động”
- Quần thể di tích danh lam thắng cảnh chùa Hương còn có những côngtrình điêu khắc tuyệt đẹp nổi bật là công trình điêu khắc pho tượng Phật BàQuan Âm bằng đá xanh vào thời Tây Sơn (1873) Khác với ước lệ có sẵn vềtượng Phật Bà mặt vàng tai to… Mà một phần dựa vào chân dung của bà
Trang 31Chúa Ba một phần rút ra từ nét đẹpcủa con người tạo nên thanh sắc thu hútkhách du lịch.
2.3 Tài nguyên du lịch ở chùa Hương
2.3.1 Các di tích văn hóa
2.3.1.1 Động Hương Tích
Theo truyền thuyết phong thủy, động Hương Tích là miệng một conrồng lớn, núi Đụn Gạo là lưỡi rồng, cổ xưa từ trên cửa động xuống đến sânđộng phải qua hai cây cầu bắc song song bằng gỗ lim (gọi là Bạch Liên Kiều)qua hang sâu, dưới có nước (gọi là Liên Trì - ao sen) Cửa động bằng đá xanhđược ghép dựng năm Đinh Mão (1927) tuy không bề thế nhưng cũng gợi lên
vẻ thâm nghiêm linh địa của động Lối vào động Hương Tích, trên vách đácao bên trái có khắc năm chữ “Nam thiên đệ nhất động” là của chúa Tĩnh ĐôVương - Trịnh Sâm đặt bút đề tháng ba năm Canh Dần (1770) khi nhà Chúatuần du Sơn Nam Theo truyền thuyết và ngọc phả thì động này được tìm racách đây hơn 2000 năm, nhưng mãi tới năm 1575 nhân dân mới dựng chùa vàlập bàn thờ Phật Trong động những khối thạch nhũ to nhỏ được người xưathổi hồn đặt tên theo hình dáng tự nhiên Trên trần động Hương Tích, rủxuống chín nhũ đá hình chín con rồng chầu một khối thạch nhũ dưới nềnđộng, gọi là “Cửu Long Tranh Châu”, Núi Đụn Gạo, Cây Vàng, Cây Bạc, contrâu, con lợn, ao bèo, buồng tằm, né kén, Núi Cô, Núi Cậu và cả Bầu Sữa Mẹthánh thót nhỏ như đếm thời gian mà du khách đến đây ai cũng mong mìnhmay mắn cỏ được một giọt lấy khước
Ngoài cảnh thiên nhiên tạo ra còn có cả dấu tích của bàn tay con người
tô điểm từ xa xưa: chiếc bệ đá hoa sen, bốn góc bệ là hình người đóng khố,hai tay giơ lên đỡ cả khối đá tỏ sức mạnh với thời gian, năm tháng Bệ đá này
do hai bà phi tần của vương triều Lê - Trịnh công đức, không ghi rồ niên đại
Trang 32Viên Khánh Chân nhân (2) Vương phủ thị nội cung tần Vương Thị Đãnghiệu Diệu Chung Đức Viên Chân nhân Văn chuông ghi: Quả chuông đồnglớn treo ở động Hương Tích hiện nay có niên đại Ất Mùi (1655) đời Vua LêThần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm thứ 3
Những pho tượng đồng thờ trên tam bảo động Hương Tích là do giađình bà Trịnh Thị Ngọc Du hiệu Diệu Hương Viên Kim Chân nhân công đức.Tượng đúc năm Ất Dậu (1705) niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ nhất đời vua Lê DụTông Năm Đinh Hợi (1767) niên hiệu Vua Lê Cảnh Hưng năm thứ 28, giađình quan Tả Đô Đốc thái phủ Liêu Quận công Vũ Đình Trác cùng phu nhânNguyễn Thị Tân công đức đúc pho tượng Phật Bà Quan Thế Âm (nhiều tay)thờ hàng giữa ở tam bảo động Hương Tích Riêng pho tượng Chúa Bà Quan
Âm tọa sơn tạc đá xanh, do gia đình ông Nguyễn Huy Nhật tước Nhật QuangHầu và phu nhân là Nguyễn Thị Huề hiệu Thiện Cơ công đức năm Quý Sửu(1793) là một pho tượng đá quý, có những đường nét tạc khắc tuyệt đẹp dướitriều nhà Nguyễn Tây Sơn, hiện thờ giữa tam bảo
Ở Động Hương Tích, tín ngưỡng đạo Phật cùng tâm thức nhân dân đãtạo nên lễ hội dân gian có bề dày lịch sử, mang đậm đà bản sắc nền văn hóanông nghiệp Việt Nam
2.3.1.2 Chùa Thiên Trù
Chùa Thiên Trù - Quần thể di tích chùa Hương, còn có tên gọi là chùaTrò, chùa Ngoài Theo truyền thuyết, xưa có lần vua Lê Thánh Tông đi tuầnthú qua đây, đã đóng quân nghỉ tại thung lũng có chùa này và cho quân línhthổi cơm ăn Ngẫu nhiên nhà vua quan tâm đến thiên văn địa lý khu vực chùa,thấy ứng với địa phận trên trời nằm vào chòm sao Thiên Trù (Bếp Trời), mộtsao chủ trong Tử vi nấu nướng về sự ăn uống, nhân đấy nhà vua đặt tên chochùa là chùa Thiên Trù, còn thung lũng là thung lũng Phụ Mã Sau sự kiện
Trang 33đinh Năm 1686, thời Lê Trung Hưng, niên hiệu Chính Hòa thứ VII, thiền sưTrần Đạo - hiệu Viên Quang Chân Nhân đã trùng tu lại Thiên Trù, tụ tập cácnhà tu hành đạo Phật và lưu giữ Kinh, Luật, Luận của đạo Phật và họ tu hànhPhật Pháp tại đây Chính vì vậy, chùa được xây dựng với quy mô rộng lớn,lúc đó có tới trên trăm nóc nhà, với những công trình kiến trúc quy mô tinhxảo Như vậy, Thiên Trù coi như là một thiền viện, được ngài Viên QuangChân Nhân lập thành tông môn Thiên Trù Cũng trong thời gian này, ngàiViên Quang Chân Nhân phát hiện ra động Hương Tích trên núi cao Trongthời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa đã bị tàn phá Những di tíchcòn lại của Thiên Trù xưa đến nay chỉ còn lại một vườn tháp, trong đó đángchú ý nhất là tháp Thiên Thuỷ và Viên Công bảo tháp, đó là hai công trìnhnghệ thuật đất nung của thế kỷ thứ XVII.
Sau năm 1954 cho tới nay, chùa Thiên Trù được xây dựng và trùng tunhiều lần Đáng chú ý là vào đầu năm 1992, trong khuôn viên chùa ThiênTrù, Điện Hương Thuỷ và điện thờ Mầu Liễu Hạnh được khánh thành.Đầu năm 1993, tại khu Thiên Trù, nhà Tổ đường và nhà Bảo điện sau chùaThiên Trù cũng được khánh thành Cũng trong năm 1993, Động Vân ThuỷThiền Thiên (nằm ở phía trên Thiên Thuỷ tháp) cũng được khai mở và khánhthành, ở đây thờ phụng các Thánh Thượng Ngàn (Thượng Ngàn Chúa Tể).Năm 1994, cổng Nam Thiên Môn khánh thành; năm 1995 Quan Âm Cáchoàn thành, năm 2004 khánh thành Bảo tháp Chân tịnh (dưới chân gácchuông chùa Thiên Trù) Những công trình trên là những khối kiến trúc làmtăng vẻ đẹp thanh huyền tịch tĩnh không gian Thiên Trù và chùa Thiên Trù.Thiên Trù ngày nay có khuôn viên rộng lớn và nhiều di tích hợp lại tạo ra mộtkhông gian kiến trúc hoành tráng Đây cũng là nơi an cư và tu thiền nhập địnhcủa các nhà tu hành Khách thập phương đi trẩy hội vào tới đây thường nghỉchân ăn uống để dưỡng sức mà lên động chính Hương Tích
Trang 342.3.1.3 Đền Trình
Đền Trình với tên chữ là Ngũ Nhạc Linh Từ và tên dân gian thường gọi
là Đền Trình, một di tích lịch sử văn hoá trong khu thắng cảnh Hương Sơn.Theo thuyết phong thuỷ, dãy núi Ngũ nhạc có hình thế một con rồng lớn,dáng núi uy nghiêm, minh đường tụ thuỷ, sinh khí trường tồn, từ xa xưa dânthôn đã dựng ở đầu dãy núi một ngôi đền nhỏ để thờ một vị thần Tướng đãgóp công đánh giặc Ân phò Vua Hùng Huy Vương thứ VI
Theo gia phả nhà đền nghi lại: Vào đời Vua Hùng Huy Vương thứ VI,
Ở Bộ Vũ Linh Quận Siêu Loại - Hương Vĩnh Thế có gia đình Lạc Tướngdòng dõi Vua Hùng, Hùng công kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Liễu - người
ở vùng núi Hương Tích Vợ chồng ăn ở đức độ, hay làm việc thiện, hiềm nỗituổi cao mà chưa sinh được quý tử nối nghiệp vương gia Một hôm bà Liễunói với Hùng công: thiếp kết duyên với Vương gia là do thiên định, thiếp xin
về quê Hương Tích cầu quý tử để nối nghiệp Vương Gia Hùng công nghe nóirất đỗi ngỡ ngàng vội sai gia nhân cùng bà Liễu về vùng núi Hương Tích.Trong những ngày nghỉ tại Yến Vỹ bà Liễu một mình đi vào núi Ngũ Nhạc,được thần núi cho biết: Tiên nữ giáng thế nay sắp phải về trời, thiên đình choHoàng Hổ Tinh xuống đầu thai, mai sau cứu nước phò Vua trả nghĩa mối trầnduyên Bà Liễu bái tạ thần linh, cảm tạ dân hương Yến Vỹ Về đến nhà bàLiễu kể lại chuyện cho Hùng công nghe, Hùng công biết là trời sai thần tướngxuống làm con mình, nhưng cũng đau buồn vì chẳng bao lâu nữa là vợ chồng
xa cách Buồn vui lẫn lộn không nói lên lời Thấm thoát ngày tháng thoi đưa,
bà Liễu đã mang thai được 14 tháng Một hôm, đầy nhà hương thơm ngàongạt, ánh hào quang sáng rực bà Liễu sinh hạ một người con trai, mặt vuôngtrán rộng, tay dài quá gối, tướng mạo đã lộ rõ vẻ lẫm liệt oai phong Vợ chồngHùng công cùng gia nhân vui mừng khôn xiết Được một trăm ngày Hùngcông mời già lão hương dân tới đặt tên con là Hùng Lang Hùng công lại sai
Trang 35gia nhân sắm sửa lễ nghi cùng mình về núi Ngũ Nhạc tạ ơn trời đất Trongnhững ngày ở lại đây Hùng công vẫn nhớ những lời vợ nói: Khi nào bất giácthấy lòng đau như cắt, cũng là lúc gia nhân hốt hoảng báo tin bà Liễu đã hoá
về trời, để lại cho Hùng Công một phong thư:
"Phong thư gửi lại chốn nhân gianĐọc kỹ lang quân sẽ rõ ràngThần núi xuống trần mừng để lạiNgày sau giúp nước cứu nhân gian"
Hùng công đọc thư lòng đau thương khôn xiết Sau khi lo việc an nghỉcho bà Liễu, Hùng công nói với gia nhân: “Con ta và vợ ta đều có tiền duyên
ở Hương Tích nơi lưu dấu thơm của phật, cảnh kỳ sơn tú thuỷ quần tiên tụhội, ta xin lưu lại nơi đây nuôi dạy con ta và trả nghĩa mối nhân duyên thiênđịnh” Thoi đưa ngày tháng năm Hùng Lang được 13 tuổi thì Hùng Công vềtrời, Hùng Lang vô cùng thương tiếc cùng già lão hương dân ngậm ngùi tiễnđưa Hùng công về cõi trời Đến năm Hùng Lang được 18 tuổi đã là người tinhthông võ nghệ, uy đức khác thừơng, hương dân rất tôn kính Một hôm HùngLang vào núi Ngũ Nhạc chợt thấy từ góc cây Thiên Tuế phát ra một ánh hàoquang, vội lần theo thấy một thanh kiếm Hùng Lang nhận lấy kiếm thần, bái
tạ trời đất và trở về quê cùng trai tráng luyện tập võ nghệ Năm sau nhà Vua
mở hội kén hiền tài, Hùng Lang cùng một số trai tráng lên đường dự tuyển.Hùng Lang đỗ đầu được Vua phong là quan Tư Mã đại thần, chỉ huy nhị đạothuỷ bộ đốc quân Quan Tư Mã đem tài thao lược, đức rộng trí lớn phù VuaHùng vỗ yên trăm họ Lúc bấy giờ nhà Ân ở phương Bắc cậy binh hùngtướng giỏi đem quân xâm lấn nước Văn Lang, thế giặc rất mạnh và tàn ác, điđến đâu là đốt phá hương ấp chém giết lê dân Nhà Vua hạ chỉ cho quan Tư
Mã đem quân thuỷ bộ chặn đánh giặc và sai sứ giả đi 15 bộ tìm thần tướng
Trang 36đánh giặc cứu nước Văn Lang Quan Tư Mã vâng chỉ nhà Vua hội quân dưới
cờ Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương diệt giặc Bộ tướng của giặc Ân làThạch Linh bị đại tướng Hùng Lang chém chết tại trận tiền, tàn quân giặcthua chạy về phương Bắc Giặc tan, Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương phingựa tới núi Sóc Sơn về trời, quan Tư Mã Hùng Lang đem tin thắng trận vềphụng chỉ Nhà Vua ban cho quan Tư Mã một chiếc áo cẩm bào, năm trămhoàng kim, cho hưởng lộc vùng Hương Tích làm thang mộc ấp Bái tạ nhàVua và triều thần Hùng Lang cùng với trai dân đã theo Ngài tòng chinh xin vềquê mẹ điền viên Ngài đem hoàng kim nhà Vua ban chia cho hương dân Yến
Vĩ, mở hội mừng vui với hương dân Hội vui đã về khuya, trên trời mây mưakéo đến, sấm chớp ầm ầm, một ánh hào quang sáng rực vụt lên không trung.Quan Tư Mã Hùng Lang đã về trời Hôm sau gia nhân cùng hương dân làm sớdâng lên nhà Vua, Lúc đó nhà Vua mới biết trời sai thần tướng xuống giúpđánh giặc cứu nước Văn Lang Nhà Vua hạ chiếu ban kim ngân lập đền thờNgài ở núi Ngũ Nhạc cho dân ấp Yến Vỹ ngàn năm thờ phụng
Trong cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp, Đền bị giặc Pháp đốtphá tháng 2 năm 1947 tiếp đến những năm 1951 -1953 giặc tạm chiếm đóngbốt tại làng Yến Vỹ, Đền Trình lại là mục tiêu bắn phá, cảnh quan sơ xác tiêu điều
Hoà bình lập lại với sự đóng góp nhân duyên của du khách thậpphương cùng nhân dân thôn Yến Vỹ Đền Trình từng bứoc được tu sửa lại.Năm 1962 Đền được bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốcgia Từ năm 1992 đến 1997 Đền Trình được xây dựng lại như ngày nay theokiểu chữ “Tam”(hậu cung - đại bái - tiền đường) theo nghệ thuật kiến trúcthời Lê ở Việt Nam Các bức cốn đầu dư đựơc nghệ nhân đục trạm tứ linh tứquý rất tinh xảo, bên ngoài các góc đao cách điệu rồng quài lá lật Ngoài sânĐền có tượng võ sĩ, voi chầu bằng đá tạo nên vẻ tôn nghiêm phảng phất chốn cung đình
2.3.1.4 Chùa Giải Oan
Trang 37Tọa lạc trên triền núi thấp, dưới chân mái đá cao khoảng 30 mét Trongchùa Giải Oan có một giếng nước nhỏ, gọi là giếng Thiên Nhiên thanh trìnước trong mát Hai bên chùa có hai động nhỏ, động thuyết kinh bên phải, amPhật Tích bên trái.
Chùa Giải Oan gắn với chuyện Phật Bà Quan Thế Âm thờ trong độngHương Tích: …“Sau khi được thần núi cứu từ pháp trường về chùa Giải Oan
…Khi Chúa Ba tỉnh ra, được đức Phật Tổ Như Lai chỉ vào động Hương Tích
tu hành …chín năm thành chính quả…” Chùa Giải Oan do Hòa thượngThông Dụng xây dựng nên vào thập niên thứ hai của thế kỷ XIX
Chùa làm một mái bằng gỗ lim, đến năm Đinh Mão (1927) sư tổ Giám Tíchxây dựng lại theo kiểu cổ diêm, chất liệu bằng xi măng cốt thép, mái đắp ngói ống,các góc đao đắp rồng như hiện nay Số gỗ lim chùa dỡ ra, chuyển ra làng để dânbắc cầu qua suối sang bến đò, lúc bấy giờ mới có một bến đò bên làng
ở núi rừng nhiều của cải Mặt khác khi thờ bà dân làng cầu mong bà Chúa phù
hộ cho cư dân gặp nhiều may mắn khi đi vào rừng làm nương hái lượm
Đền ở trên thế núi cao, dưới chân núi là một thung lũng khá sâu, nhìnqua thung lũng là một võng núi Người xưa dựa vào thế địa lý đó mà đặt tênđền là Đền Cửa Võng Năm canh thân (1800) Hoà Thượng Hải Viên xâydựng lại đền to rộng ra
Trang 38Ngày 19/5/1958 Bác Hồ về thăm cảnh chùa Hương đã nghỉ trưa tại đây.Ngôi đền này không những là cảnh đẹp của chùa Hương mà còn là nơi lưugiữ những dấu ấn văn hoá, lịch sử của chùa Hương hôm nay và mai sau.
2.3.1.6 Chùa Tiên Sơn - Động Tiên Sơn
Động Tiên Sơn vốn được mở mang từ lâu có thể đồng thời với ThiênTrù và Hương Tích, tức là có trước thời Lê - Trịnh; nhưng do có sự biến độngthiên nhiên, bị đất đá, cây rừng che lấp, rồi tình cờ lúc 15 giờ ngày 28 tháng 2năm Quý Mão (1903) một người dân Yến Vĩ tên là Nguyễn Văn Bách đi lấycủi trên núi Tiên, không may đánh rơi con dao quắm xuống hang Ông bènchui xuống để lấy dao lên và ông đã phát hiện ra một hang động lớn Ông đàođất, moi đá, thấy cửa động lộ ra, và trên vách đá còn khắc một bài thơ NômĐường luật:
“ Chợt khỏi Thiên Trù thoạt rẽ lênChe che cửa động một đường lenChở mây quanh quất lồng hương phật
Gõ đá vang lừng trỗi nhạcTiênBảo cái đùn đùn trên bảo toạKim quan chămchắm trước kim liênThanh sa dấu cũ còn ghi đểQuyến được xe loan biết mấy phen ”
Dưới bài thơ có ghi: “Đại nguyên soái Tổng quốc sư Trịnh TĩnhVương ngự chế” Trịnh Tĩnh Vương chính là Trịnh Sâm Vậy bài thơ ấy đíchthị là của Trịnh Sâm
Về động này cũng có một truyền thuyết khác kể rằng: Sau một trận
Trang 39thấy từ trên núi một tảng đá to lớn rơi xuống Khi lên xem thì thấy chỗ váchnúi tách ra một mảng trống như người ta mới đục một cái cửa Lần đến cửa,chàng tiều phu nhìn vào trong thì thấy trên vách đá hiện ra những hình thùgiống hình người Qúa sợ hãi, tiều phu Yến Vĩ không giám một mình vàohang, liền quay về báo cho thổ hào, lý trưởng quay lại xem thì thấy trên vách
đá trong hang có tạc một bài thơ Nôm như chép ở trên Sau khi tìm thấy động,hội Thiện làng Yến Vĩ bèn đứng ra mở chùa, lại được động chủ Hương Sơnhồi đó là Đại sư Thanh Tích tận tình giúp đỡ hỗ trợ Năm 1904, đục thêm mộtcửa bên tay phải; năm Đinh Mùi (1907) tạc ba pho tượng Bồ Tát bằng đángọc thạch dung ánh sang đèn nến rọi mặt sau, nhìn thấy trông rõ như quamột tấm kính mờ; năm Kỷ Dậu (1909) đúc toà tượng Cửu Long bằng đồng vàđến năm Tân Hợi (1911) người ta tạc thêm hai pho tượng vua Trang Vương
và Hoàng hậu bằng đá ngọc xanh Tiếp đó điện Mẫu, nhà tầng được
tiếp tục xây
Cùng chung số phận với chùa Thiên Trù, vào năm Đinh Hợi (1947),Giặc Pháp tràn vào đây đốt phá chùa động Tiên Sơn Ngày 20 tháng 6 nămNhâm Thìn (1952), một lần nữa giặc Pháp cho máy bay ném bom phá huỷ hếtnhững gì còn lại của chùa động Tiên Sơn Năm Nhâm Dần (1962), Hội Thiệnlàng Yến Vĩ đã cúng hiến toàn bộ khu vực chuà Tiên Sơn và nhà chùa để đưavào danh mục khu di tích Hương Sơn để quốc gia quản lý và tôn tạo.Từ năm
1994 đến 1996, Ban xây dựng chùa Hương và Tùng Lâm Hương Thiên, cho
mở rộng sân động, xây lại Tổ đường, Bảo điện và hai toà nhà tả, hữu vu, làmcho khu chùa động Tiên Sơn khang trang, mỹ lệ như xưa
2.3.1.7 Chùa Hinh Bồng
Năm Nhâm Thân (1932), hội thiện làng Yến Vỹ (làng sở tại) xin quantỉnh mở một động nhỏ trên đỉnh núi Thung Gạo, mượn tên là động Hinh
Trang 40Bồng Năm Quý Dậu (1933), hội thiện được bà Hải Khoát - một thương giatín đồ phật tử quê ở Hải Phòng tài trợ xây dựng thành chùa Năm Quý Mùi(1943) đúc chuông đồng lớn (hiện treo ở động) Năm Nhâm Thân (1992) donúi chấn động, một tảng đá rất lớn (hơn một trăm khối) cùng bốn khối đá nhỏ
lở lấp cửa động Hinh Bồng Những tảng đá đã được nhà chùa thuê phá dọn.Hiện nay, cùng với sự công đức của du khách thập phương, ngôi tam bảo vàđiện mẫu đã được xây để thờ Phât
2.3.1.8 Động Đại Binh
Động Đại Binh còn gọi là Thần Binh được khai sáng vào ngày mùng 2tháng 3 Tân Mùi (1991) do ông Nguyễn Văn Bạo và ông Bùi Văn Xế chủtrương Ngày mùng 6 tháng Giêng năm Quý Dậu (1993) hai cư sỹ nói trênviết đơn cúng cho nhà chùa và sát nhập vào khu di tích của Giáo hội Phật giáo
Động này vốn có từ lâu, lưu dấu tích một đạo quân người dân tộc thiểu
số do hai ông Đinh Công Tráng và Đinh Công Vân khởi nghĩa chống Pháp,sau bị vây hãm và tuẫn tiết ở nơi này Ông đã cho khắc hai chữ “Đại Binh”lên cửa động để ghi dấu, cho nên cũng có tên là hang Nghĩa Quân
2.3.1.9 Chùa Thanh Sơn - Động Hương Đài
Chùa Thanh Sơn được hình thành từ năm Canh Thân (1860) trên thếđất mà theo thuyết phong thuỷ là thế đất Phượng Hoàng ẩm thuỷ (chimPhượng Hoàng uống nước) nhìn ra vùng có nhiều gò đất mà thuyết phongthuỷ gọi là kiểu đất "tam đăng chiếu nhất thư" (ba ngọn đèn chiếu vào mộtcuốn sách) Dựa vào thuyết phong thuỷ đẹp, dân làng hội Xá đã mời các vị trụtrì chùa Thiên Trù ra yên vị lô hương và đặt nền tam bảo trên đất “PhượngHoàng uống nước”.Nhưng hoàn cảnh thời gian lúc bấy giờ các vị hoà thượng
ở Thiên Trù chỉ lui tới vui cảnh tham thiền, nên Chùa Thanh Sơn ít người qualại dần Cũng năm 1860 dân làng Hội Xá bắc cây cầu hội qua Suối Yến (cầu