Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng đã phát huy truyền thống “trung dũng, quyết thắng”, đoàn kết, kiên định, vững vàng, năng động, sáng tạo, vư
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * *
PHẠM THỊ DUNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
(1996 - 2009)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2010
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * *
PHẠM THỊ DUNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Trang 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các trích dẫn trong Luận văn đều trung thực và có xuất xứ rõ ràng Các kết luận của Luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2010
Học viên
Phạm Thị Dung
Trang 4
Lời cảm ơn
Để hoàn thành Luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị những kiến thức rất bổ ích cho tôi Đặc biệt, tôi muốn nói lời cảm ơn và sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Trần Kim Đỉnh, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình tôi bắt đầu làm cho đến khi hoàn thành Luận văn
Trang 5HĐND : Hội đồng nhân dân
GDĐT : Giáo dục – đào tạo
LLXH : Lực lượng xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân
XHHGD : Xã hội hoá giáo dục
Trang 6
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 8
Chương 1 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1996 – 2001……… 8
1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá và xã hội……… 8
1.2 Giáo dục – đào tạo Hải Phòng những năm 1986 – 1995 12
1.3 Quá trình triển khai chủ trương xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng (1996 - 2001) 21
Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 2001 – 2009……… 46
2.1 Chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục……… 46
2.2 Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2001 – 2009……… 53
2.3 Tổ chức thực hiện và kết quả……… 61
Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ 87
3.1 Nhận xét chung 87
3.2 Bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp 98
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC
Trang 8
MỞ ĐẦU
Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng
và Nhà nước, tạo động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển một nền giáo dục tiên tiến, chất lượng với sự tham gia của toàn xã hội Xã hội hoá là một trong những phương thức thực hiện để mọi người dân đều có cơ hội được học tập Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã
nêu: “Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề quan trọng
là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá các nguồn đầu tư,
mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội” Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung
ương Đảng lần thứ 2 (khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX)
và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc khóa X của Đảng đều khẳng định:
“Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục” Chủ trương xã hội
hóa giáo dục là xuất phát từ quan điểm coi sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực rất lớn và chất lượng cao Vì vậy, phải phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Trong điều kiện mới, Nhà nước chưa đủ sức
và không thể bao cấp toàn bộ sự nghiệp phát triển giáo dục thì xã hội hóa là một trong những phương thức cơ bản để phát triển giáo dục
Vì vậy, cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách Nhà nước, cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện và vững chắc đối với sự nghiệp giáo dục, thể hiện quan điểm của Đảng “Coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu”
Thực tiễn thời gian qua, xã hội hóa giáo dục đã có vai trò lớn trong việc
mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, góp phần to lớn thúc đẩy sự nghiệp giáo dục – đào tạo phát triển, đáp ứng ngày càng tốt yêu
Trang 9Bộ
Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng đã phát huy truyền thống “trung dũng, quyết thắng”, đoàn kết, kiên định, vững vàng, năng động, sáng tạo, vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế - văn hóa – xã hội, từng bước đưa thành phố phát triển xứng đáng với vị trí là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước
Giáo dục – đào tạo cũng đạt được những thành tựu to lớn, phát triển gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội Thành phố giữ vững được kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục bậc phổ thông trung học và nghề Cơ sở vật chất, thiết bị trường học đã được tăng cường Tổng vốn đầu tư phát triển lĩnh vực giáo dục và đào tạo chiếm 1,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009; chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 10% tổng chi đầu tư phát triển Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của thành phố đạt 65%, trong đó lao động qua đào tạo nghề là 43% Tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường; thành phố phát triển được đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ Tổng số cán bộ có trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ (năm 2009) là 23.122 (trong đó: thạc sỹ và tiến sỹ: 1.352
Nghị quyết số 32 – NQTW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị về xây
dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước khẳng định: “Hải Phòng phải trở thành trung tâm giáo dục đào tạo của vùng duyên hải Bắc Bộ” Đây là một định hướng quan trọng, đồng thời cũng là nhiệm vụ và thách thức to lớn đối với Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong
Trang 10
lãnh đạo phát triển sự nghiệp GDĐT thời kỳ mới Để đạt được mục tiêu trên,
xã hội hoá giáo dục là biện pháp đã và đang triển khai có hiệu quả làm giáo dục – đào tạo thành phố có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, thực trạng
xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng vẫn tồn tại hai vấn đề cơ bản cần được xem xét và giải quyết:
Một là, sự chi phối của tư tưởng bao cấp, nhất là bao cấp trong giáo dục
đã ăn sâu vào trong tiềm thức xã hội gần một nửa thế kỷ nay Thói quen của người dân là hưởng thụ nền tri thức do giáo dục mang lại bằng những chính sách ưu việt của Nhà nước Vì vậy, đứng trước những vấn đề của giáo dục, xã hội thường quen đòi hỏi nhiều hơn mà chưa thấy hết trách nhiệm trong việc tham gia cùng với giáo dục để phát triển con người
Hai là, xã hội hóa giáo dục dù sao vẫn còn là vấn đề mới mẻ, nên nhận thức về nó trong nhân dân và cả đội ngũ những người làm giáo dục cũng chưa thật đầy đủ Không ít người vẫn quan niệm rằng: xã hội hóa giáo dục là vận động xã hội đóng góp công sức và tiền của cho giáo dục Đây là cách hiểu phiến diện làm sai lệch bản chất của xã hội hóa giáo dục Mặt khác, trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa, ở một số đơn vị giáo dục đã bộc lộ tư tưởng lạm dụng tinh thần của xã hội hóa, tạo ra các khoản thu không hợp lý, không phù hợp với mong muốn của nhân dân, gây ảnh hưởng xấu và làm tổn thương đến uy tín của ngành Giáo dục – đào tạo
Chính vì vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố đối với công tác xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng từ năm 1996 đến nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, giúp chúng ta có thể hiểu rõ được thực trạng xã hội hóa giáo dục tại Hải Phòng cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố về công tác này, từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm và tìm chọn những giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục của thành phố
Với ý nghĩa trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ thành phố
Hải Phòng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục (1996 -
Trang 11
2009)” làm luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng Sản Việt Nam của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục - đào tạo nói chung và vấn đề xã hội hóa giáo dục nói riêng đã
và đang là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu, do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục được tiếp cận ở nhiều góc
độ, với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
Xét dưới góc độ nghiên cứu về đường lối giáo dục của Đảng có thể kể
đến các tác phẩm sau: “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo (1945
- 1995)” của Trần Hồng Quân chủ biên (Nxb Giáo dục, H, 1995); “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” (Nxb Khoa
học xã hội, H, 1996), “Về giáo dục” (Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000) của Phạm Minh Hạc; “Ngành giáo dục – đào tạo phía Nam bước vào thế kỷ XXI”
do Đào Trọng Tùng chủ biên (Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, H, 2000)…
Nghiên cứu riêng về vấn đề xã hội hóa giáo dục có tác phẩm như: “Xã hội
hóa công tác giáo dục” của Phạm Minh Hạc (Nxb Giáo dục, H, 1997); “Xã hội hóa công tác giáo dục – nhận thức và hành động” của Bùi Gia Thịnh, Võ
Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình (Viện khoa học giáo dục, H, 1999); “Xã hội
hoá công tác giáo dục” của Võ Tấn Quang (Nxb Đại học quốc gia, H, 2001)
Các nhà nghiên cứu khác như GS-TSKH Nguyễn Mậu Bành, PGS Võ Tấn Quang, TS Nguyễn Thanh Bình, GS-TSKH Thái Duy Tuyên, TS Đào Huy Ngân có nhiều bài viết về công tác XHHGD Viện Khoa học Giáo dục nước
ta nhiều năm qua đã tiến hành hệ thống đề tài nghiên cứu về XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, xây dựng đề án XHH giáo dục – đào tạo với những giải pháp
ở tầm vĩ mô nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước ta Các công trình trên giúp chúng ta tìm hiểu rõ về bản chất, vị trí, vai trò cũng như giải pháp để triển khai công tác xã hội hóa giáo dục có hiệu quả Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng bộ Thành phố Hải Phòng Như vậy, đây là một vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu
Trang 12
Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý luận quan trọng giúp cho người viết có được cái nhìn rõ nét về con đường phát triển của ngành GDĐT nước ta, về quá trình ngành GDĐT tổ chức thực hiện đường lối phát triển giáo dục của Đảng nói chung và xã hội hóa giáo dục nói riêng để từ đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp GDĐT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với công tác xã hội hóa giáo dục
- Kết quả thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở thành phố
- Thành tựu và hạn chế của công tác xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng trong những năm 1996 - 2009
- Về thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 (thời điểm Hải Phòng thực hiện xã hội hóa giáo dục bước đầu có hiệu quả rõ rệt) đến năm 2009 (thời điểm cập nhập về tình hình thực hiện xã hội hóa giáo dục ở thành phố)
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Thứ nhất, làm rõ các chủ trương của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với vấn đề xã hội hóa giáo dục
Trang 13
- Thứ hai, quá trình triển khai thực hiện những chủ trương mà Đảng bộ thành phố đã đề ra qua hai giai đoạn phát triển 1996 – 2001, 2001 – 2009 của công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố
- Thứ ba, bước đầu phân tích những bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị phục vụ cho đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tập hợp, hệ thống những tư liệu lịch sử có liên quan đến công tác xã hội hóa giáo dục ở thành phố Hải Phòng trong những năm 1996 – 2009
- Trình bày quá trình lãnh đạo và chỉ đạo công tác xã hội hóa giáo dục của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể từ năm 1996 đến năm 2009
- Phân tích những chủ trương, biện pháp và quá trình tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của thành phố
- Rút ra những nhận xét về thành tựu, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác này
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo
5.1 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về GDĐT nói chung, xã hội hóa giáo dục nói riêng, đặc biệt là quan điểm về phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước
- Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bằng phương pháp lịch sử, chúng tôi trình bày việc triển khai thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng theo trình tự thời gian, qua từng giai đoạn cụ thể Đồng thời, phương pháp logic giúp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của đối tượng khách quan được nhận thức Cụ
Trang 14
thể, chúng tôi đặt chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng vào thực tiễn thành phố Hải Phòng để nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố nhằm hiện thực hóa chủ trương và phát huy cao nhất hiệu quả của chủ trương này
5.2 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng để nghiên cứu chủ yếu là các văn kiện, nghị quyết của Đảng, của Thành ủy, HĐND, Quyết định của UBND thành phố Hải Phòng; các văn bản của Bộ GDĐT; các báo cáo của Sở GDĐT Hải Phòng, Phòng GDĐT các quận, huyện, thị xã; một số sách, báo của tập thể, cá nhân các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài
6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Cung cấp nguồn tư liệu cơ bản và từ góc độ lịch sử trình bày một cách
có hệ thống đường lối, chủ trương, biện pháp, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
bộ thành phố Hải Phòng về xã hội hóa giáo dục trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2009
- Đánh giá thành tựu, hạn chế của công tác xã hội giáo dục ở Hải Phòng trong thời gian 1996 – 2009
- Phân tích những bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp, kiến nghị
về công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1 Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo thực hiện chính
sách xã hội hóa giáo dục giai đoạn 1996 – 2001
Chương 2 Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo đẩy mạnh xã hội
hóa giáo dục giai đoạn 2001 – 2009
Chương 3 Nhận xét chung, bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp
Trang 15
NỘI DUNG Chương 1
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1996 – 2001 1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá và xã hội
Hải Phòng là một thành phố ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XIX Nền móng đầu tiên để từ đó Hải Phòng phát triển lên thành đô thị xuất phát từ một làng chài nhỏ gần cửa sông, ở đó có bến thuyền, trạm thuế quan và đồn canh cửa biển, với hai chức năng kinh tế và quốc phòng Sau khi ra đời với vị trí địa lý thuận lợi và trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, Hải Phòng nhanh chóng phát triển thành thành phố - hải cảng có tầm quan trọng lớn về cả mặt kinh tế
- chính trị và quân sự trên phạm vi quốc gia
Ngày nay, Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam sau thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội Thành phố nằm trên bờ vịnh Bắc Bộ, với
phần đồng bằng ven biển và phần biển đảo Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương Hải Phòng tiếp giáp với các địa phương kinh tế phát triển năng động như Quảng Ninh, Hải Dương, lại cách Thủ đô Hà Nội không xa và là một cực trong tam giác tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nên thành phố có điều kiện thuận lợi học hỏi kinh nghiệm phát triển kinh tế cũng như giao lưu văn hóa, giáo dục với các địa phương này
Địa hình Hải Phòng đa dạng, bao gồm vùng biển – hải đảo, đồng bằng ven biển và miền núi Đặc điểm này có tác động rõ nét tới sự phân bố dân cư (đông đúc ở thành phố, các thị trấn và thưa thớt ở vùng miền núi, hải đảo…) cũng như sự phân bố mạng lưới các trường học Các địa phương khác nhau có trình độ phát triển kinh tế khác nhau cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các
Trang 16đa dạng như vậy, cùng với quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH ở thành phố, Hải Phòng ngày càng cần hơn nguồn lao động có số lượng lớn và chất lượng cao
Do vậy, giáo dục – đào tạo Hải Phòng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Giáo dục – đào tạo không chỉ đào tạo nguồn nhân lực cho Hải Phòng nói riêng mà còn cho cả những địa phương xung quanh nhằm đáp ứng nhu cầu lao động lớn của thành phố
Với vị trí địa lý thuận lợi, thành phố giữ vai trò quan trọng đối với xuất nhập khẩu qua đường biển của vùng Bắc Bộ, có điều kiện tiếp nhận và ứng dụng nhanh các thành tựu GDĐT, khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại,
kỹ năng về quản lý Điều này tác động mạnh đến công tác quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Trong 10 năm 2000 - 2009, kinh tế thành phố phát triển ổn định, tăng trưởng khá nhanh và toàn diện; quy mô kinh tế được mở rộng, năng lực sản xuất - kinh doanh được nâng lên, đặc biệt là nội lực GDP tăng liên tục với tốc độ bình quân 11,1%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
tỷ trọng 2 nhóm ngành công nghiệp - dịch vụ tăng từ 82,22% năm 2000 lên 90% năm 2009 (tốc độ tăng bình quân 12%/năm); thị trường xuất khẩu được mở rộng, tăng nhanh về giá trị, chủng loại sản phẩm với kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 20%/năm (năm 2009 gấp trên 6 lần năm 2000) Thu hút vốn đầu tư phát triển tăng nhanh, bình quân 19,1%/năm Năng lực sản xuất của nhiều ngành kinh tế tăng mạnh Với tốc độ tăng trưởng trên, năm 2009, thu ngân sách thành phố đã tăng hơn
6 lần so với năm 2000, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 20,23%/năm, trong đó thu nội địa tăng bình quân 18,83%/năm Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố
Trang 17
có sự tăng trưởng vượt bậc, năm 1990 chỉ mới có 527,8 tỷ đồng nhưng đến năm 2000
đã là 5.236,3 tỷ đồng và năm 2007 là 20.055 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội đạt 22.500 tỷ đồng vào năm 2008, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển [58]
Cơ cấu kinh tế theo ngành đã có sự chuyển dịch đúng hướng với sự tăng rất nhanh của công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần của nông - lâm - ngư nghiệp
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần chênh lệch giữa các vùng, mở rộng đô thị, hiện đại hoá nông thôn, phát triển nhanh vùng ven biển Quy mô đô thị ngày càng mở rộng, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao, tập trung nhiều ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ chất lượng cao Khu vực nông thôn đã có sự thay đổi cơ bản về chất theo hướng sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp
Tỷ lệ đô thị hoá tăng nhanh (dân số đô thị từ 35% năm 2000 lên 48% năm 2009), thành phố lập thêm 2 quận mới và chuyển 1 thị xã thành quận; quy mô và diện mạo đô thị đã phát triển rõ nét Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn có nhiều chuyển biến Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhất là
hạ tầng giao thông, cảng biển được chú trọng đầu tư, theo hướng hiện đại, tạo nền tảng đẩy nhanh quá trình phát triển Hải Phòng trở thành thành phố cảng, công nghiệp văn minh, hiện đại Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được được cải thiện rõ rệt; thu nhập thực tế của người dân năm 2009 gấp hơn 5 lần so với năm 2000; phúc lợi xã hội và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng, tỷ lệ
hộ nghèo giảm nhanh Đây là cơ sở quan trọng để vận động nhân dân tham gia tích cực vào công tác xã hội hoá giáo dục của thành phố [14]
Về chất lượng dân cư, nguồn nhân lực, Hải Phòng là địa phương có nhiều lợi thế hơn các tỉnh, thành phố khác trong cả nước cho phát triển kinh tế - xã hội Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được chú trọng về mọi mặt như đổi mới phương thức hoạt động, hoạt động truyền thông dân số được triển khai đến tận xã, phường
Trang 18
nên tỷ lệ sinh giảm rõ rệt: 2,09% (năm 1995), 1,80% (năm 2003), 1,1% (năm 2009) [14]
Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số của Hải Phòng là 1.841.700 người
Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 1.453.435 người, trong đó
có 44,4% tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ; 16% trong lĩnh vực GDĐT Số người đang trong độ tuổi đi học là 158 824 người [14]
Thành phố đã xây dựng được hầu hết các thư viện ở các xã, phường, 190 nhà văn hóa, cùng với các làng văn hóa được hình thành, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí và tiến bộ xã hội Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình, báo chí từng bước được nâng cấp, đầu tư hiện đại
Trên địa bàn thành phố có 23 bệnh viện, nhiều phòng khám khu vực, 218 trạm y tế xã, phường và hàng trăm cơ sở y tế tư nhân Tất cả các trạm y tế xã, phường đều có bác sĩ, y sĩ
Trên địa bàn Hải Phòng hiện có 4 trường đại học: đại học Hàng Hải Việt Nam, đại học Y Hải Phòng, đại học Hải Phòng và đại học Dân lập Hải Phòng; 2 viện nghiên cứu: Viện nghiên cứu về biển, Viện Y học biển và 8 trường cao đẳng, hàng chục trường trung cấp chuyên nghiệp Về tiềm lực khoa học – kỹ thuật Hải Phòng đứng thứ hai sau Hà Nội ở đồng bằng sông Hồng và đứng thứ ba trong cả nước, nhờ đó có thể đào tạo và cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cao cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Mặc dù có nhiều cố gắng trong phát triển xã hội, gắn với phát triển kinh tế, song tình hình kinh kế - xã hội thành phố vẫn còn nhiều hạn chế Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém so với yêu cầu phát triển của thành phố, còn nhiều yếu tố tiềm ẩn bất ổn về an ninh xã hội; nhiều vấn đề của xã hội vẫn còn khá gay gắt như việc làm, tệ nạn xã hội Chuẩn nghèo của Hải Phòng so với nhiều địa phương trong cả nước còn thấp (250.000 đồng/người/năm), trong khi Đà Nẵng là 800.000 đồng/người/năm; thành phố Hồ Chí Minh là hơn 1.000.000 đồng/người/năm Do vậy, nếu tăng mức chuẩn nghèo lên bằng Đà Nẵng, thành phố
Hồ Chí Minh thì tỷ lệ hộ nghèo ở Hải Phòng còn cao
Trang 19
Hải Phòng có dân số trẻ, số người dưới 15 tuổi chiếm 26,96% tổng dân số
Số người trên 60 tuổi chỉ chiếm 10,49% [14] Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, đạt 45% Trình độ học vấn của người dân ở nông thôn còn thấp Theo báo cáo của Hội Nông dân thành phố, trình độ nông dân có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 6%, trình độ THCS trở xuống là 23% (chủ yếu là những người già từ 60 tuổi) Đây là những hạn chế về nguồn nhân lực cần được khắc phục ngay để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố nói chung và đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng
1.1.3 Truyền thống văn hóa – giáo dục
Hải Phòng là một vùng đất ven biển, người Hải Phòng có truyền thống lao động cần cù và dũng cảm, không chịu khuất phục trước thiên tai, khó khăn
và vất vả Chính đặc điểm này đã làm nên nét đặc sắc về tính cách, thống nhất trong đa dạng của người Hải Phòng
Các thế hệ người Hải Phòng hội tụ trên mảnh đất vùng ven biển và hải đảo đã tạo dựng nên truyền thống vật chất văn hóa và tinh thần độc đáo Truyền thống đó đã và đang được những thế hệ đi sau tiếp thu và phát huy trong điều kiện lao động mới
Hải Phòng còn là mảnh đất có truyền thống hiếu học Trong lịch sử giáo dục thi cử Nho học của nước ta Hải Phòng đã có 3 người đỗ trạng nguyên Huyện Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên) có 18 người, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy) có 14, huyện An Lão có 8, huyện An Dương có 7 người, huyện Vĩnh Lại (nay là huyện Vĩnh Bảo) có 18, huyện Tiên Minh (nay là huyện Tiên Lãng) có 11 người đỗ tiến sĩ [33] Trong đó có trạng nguyên nổi tiếng là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người đã từng cáo quan về ở ẩn, dạy học và dạy nhiều trò thành tài như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ…Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Chú đã ghi rằng:
“có tài giỏi, lưu tiếng nghìn đời” và sứ nhà Thanh cũng phải khen “An Nam lý học hữu Trình tuyển” (người An Nam giỏi lý học chỉ có Trình tuyển hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trang 20
Về văn hóa, lễ hội, các hội làng có những điểm tương đồng với các địa phương khác trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng sự khác biệt là có sự đan xen với văn hóa vùng biển Sự dung hòa, đan xen đó làm cho văn hóa Hải Phòng không bị khép kín mà luôn tiếp nhận những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài, tạo nên đặc trưng phong phú, đa dạng
Có thể nói truyền thống văn hóa lâu đời là cơ sở tạo nên tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nhạy bén với cái mới của người Hải Phòng, làm cho họ sớm tiếp thu được tinh hoa của thời đại trước những biến thiên của lịch sử Chính vì thế Hải Phòng là một trong những địa phương khởi đầu của quá trình đổi mới đất nước những năm cuối thế kỷ XX
Các truyền thống quý báu của địa phương vẫn tiếp tục được bảo tồn và phát huy đã góp phần to lớn trong sự phát triển của sự nghiệp giáo dục – đào tạo Hải Phòng thời đại mới
1.2 Giáo dục – đào tạo Hải Phòng những năm 1986 - 1995
Tháng 12 – 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng
ở thành phố Hải Phòng diễn ra trong bối cảnh phức tạp với những điều kiện thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo từ thành phố đến cơ sở phải năng động, sáng tạo và sâu sát với thực tế
Từ năm 1986, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã chủ động đề xuất
và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý cho Hải Phòng làm thí điểm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Ban Thường vụ Thành ủy đã ra các Nghị quyết chuyên đề triển khai thực hiện các chương trình kinh tế lớn Kết quả thực hiện là tình hình kinh tế của thành phố có nhiều chuyển biến tích cực: năm 1987, tỉ trọng hàng xuất khẩu chiếm 66%, hàng tiêu dùng 66%, hàng tiêu dùng chiếm 26% trong cơ cấu sản lượng công nghiệp, có thêm 50 mặt hàng mới phục vụ nhu cầu tiêu dùng Năm 1988, giá trị tổng sản lượng công nghiệp
Trang 21
tăng 9,8% so với năm 1987; cơ cấu hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu tăng 9,9%; lượng hàng hóa thông qua cảng Hải Phòng tăng 300.000 tấn, đạt 2,9 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 45,72 triệu rúp – đô la, tăng 19,1% so với năm 1987 [1,188]
Năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX xác định phương hướng chung của giáo dục – đào tạo là “nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường hiệu quả, gắn GDĐT với yêu cầu và khả năng xây dựng kinh tế” [1, tr 21]
Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X (10/1991) đặt
ra mục tiêu mà ngành GDĐT thành phố hướng tới trong 5 năm 1991 – 1995:
“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, có tâm huyết làm cho dân giàu, nước mạnh, có đạo đức cách mạng, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội [46, tr 48]
Hội nghị đại biểu Đảng bộ thành phố giữa nhiệm kỳ (khóa X) (3/1994) tiếp tục coi GDĐT là một trong lĩnh vực cần được ưu tiên hàng đầu Nghị quyết lần này của Đảng bộ đề cập đến nhiều vấn đề nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài như: “Tiếp tục đa dạng hóa các loại hình đào tạo; sắp xếp lại mạng lưới trường học, cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy, kết hợp chặt chẽ nâng cao chất lượng văn hóa, tay nghề với đạo đức, nếp sống, kỷ cương pháp luật” [47, tr 42]
Để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, Hội nghị cũng chỉ rõ thành phố cần phải đầu tư nhiều mặt: trước hết là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường học Trong đó để khắc phục tình trạng chênh lệch về chất lượng đào tạo giữa khu vực thành thị và nông thôn thành phố cần đẩy mạnh xây dựng trường kiên cố cao tầng ở ngoại thành, tiếp theo phải xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, có nhận thức, quan điểm đúng đắn, say mê với nghề Để có nguồn lực đầu tư cho giáo dục, hội nghị chỉ rõ cần thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đồng thời tăng tỉ lệ ngân sách cho GDĐT
Trang 22
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng bộ thành phố, ngành giáo dục thành phố đã tổ chức thực hiện, biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực, đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Từ năm 1991, giáo dục - đào tạo Hải Phòng đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội thành phố Quy mô giáo dục được mở rộng, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Có thể nhận định một cách tổng quát là trong thời gian đầu của công cuộc đổi mới, giáo dục – đào tạo Hải Phòng đã có bước phát triển khá vững chắc
Số lớp học, trường học và học sinh các cấp đều tăng qua từng năm, thể hiện quy mô giáo dục ngày càng lớn do quy mô dân số ngày càng tăng và việc huy động các em trong độ tuổi đến trường đã đạt được hiệu quả cao hơn Đây là tiền đề quan trọng bổ sung cho nguồn nhân lực của thành phố cả về số lượng và chất lượng
Về ngành học phổ thông, các trường phổ thông cơ sở tách ra thành các trường tiểu học và trung học cơ sở do hệ thống giáo dục – đào tạo được sắp xếp lại thành bậc tiểu học, trung học và đại học liên thông với nhau Từ năm
1992, bắt đầu thí điểm thành lập trường trung học chuyên ban: trường PTTH Ngô Quyền, PTTH Lê Chân Trường PTTH Năng khiếu Trần Phú được thành lập năm 1986, trường chuyên cấp II Vĩnh Bảo được thành lập cuối năm 1992
Giáo dục bổ túc được giao nhiệm vụ rộng lớn hơn, đổi thành giáo dục thường xuyên, không chỉ làm nhiệm vụ bổ túc văn hóa như trước đây Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Thủy Nguyên thành lập 1993 là trung tâm giáo dục thường xuyên đầu tiên của Hải Phòng Về dạy nghề, trong thời kỳ này, đã phát triển được các trung tâm dạy nghề đến tất cả các quận, huyện, thị
xã Nhiều ngành và đoàn thể cũng có trung tâm dạy nghề
Hải Phòng cũng bắt đầu đa dạng hóa các loại hình trường học, đã thành lập một số trường dân lập, trường bán công, trường tư thục Việc mở ra nhiều loại hình trường lớp: bán công, dân lập, tư thục…chính là cách xã hội hóa giáo dục một cách tích cực nhất ở Hải Phòng trong giai đoạn 1986 - 1995 Ngoài ra, việc xây dựng mô hình “xưởng – trường – phường” ở các khu vực thành thị - được xem như một điển hình về xã hội hóa giáo dục một cách toàn
Trang 23
diện (tạo nguồn lực, tạo môi trường giáo dục) – cũng bắt đầu được áp dụng ở các trường phổ thông của Hải Phòng ở giai đoạn này Điển hình như trường THCS Chu Văn An (quận Ngô Quyền) đã thiết lập được một mô hình “xưởng – trường - phòng”, kết hợp chặt chẽ với các cơ sở sản xuất trên địa bàn như Xí nghiệp nhựa Dân sinh, nhựa Văn An, Hợp tác xã Nam Thái…
Bảng 1.1 Quy mô học sinh – sinh viên giai đoạn 1986 – 1995
Năm học
Học sinh – sinh viên
1986 – 1987 1991 – 1992 1994 - 1995
Nhà trẻ 39 000 16 930 17 208 Mẫu giáo 49 703 40 895 49 077 Cấp I 163 042 193 042 202 184 Cấp II 83 555 70 078 108 099 Cấp III 32 167 17 465 27 497 Đại học, cao đẳng 4 078 1 362 9 266 Trung học chuyên nghiệp 3 501 1 887 4 712 Công nhân kỹ thuật 4 049 1 244 3 250
Nguồn: Sở Giáo dục – đào tạo Hải Phòng
Về giáo dục mầm non, trước đây, nhà trẻ và lớp mẫu giáo phần lớn chi phí là do Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đảm nhận, đến thời điểm này, ở nông thôn, phần lớn chi phí là do phụ huynh đóng góp, các trường mầm mon đều là trường dân lập Ở nội thành, các trường mẫu giáo, nhà trẻ chuyển sang bán công, phụ huynh các em đóng góp nhiều hơn trước Ở nông thôn và nội thành đã có trường mẫu giáo tư thục, các lớp mẫu giáo, nhóm trẻ tư nhân do các phòng giáo dục quản lý, chất lượng của hệ thống giáo dục mầm non được nâng lên rõ rệt
Thời kỳ này, Hải Phòng đã có 3 trường dân lập tiểu học bán trú, học 2 buổi; 1 trường trung học cơ sở bán công, 4 trường PTTH dân lập và nhiều lớp bán công, dân lập ở các trường tiểu học, trung học cơ sở và PTTH
Trang 24
Ngành học phổ thông đã coi trọng việc bồi dưỡng học sinh giỏi, củng
cố hệ chuyên và các lớp chọn Từ năm 1986 đến năm 1995 thành phố có 2 học sinh đạt giải ba toán quốc tế, 1 học sinh đạt giải Olimpic tiếng Nga và 1 học sinh đạt giải Vật lý quốc tế Năm 1995, thành phố có 83 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc Năm 1991, Hải Phòng đã được công nhận là thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học theo tiêu chuẩn quốc gia
Về giáo dục chuyên nghiệp, công tác giáo dục dạy nghề có bước phát triển mới Tính đến cuối năm 1994, 12 quận, huyện, thị xã và một số ngành, đoàn thể đã có trung tâm dạy nghề Đáng chú ý là các trung tâm dạy nghề đã tranh thủ được tài trợ quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất, trang – thiết bị cho trung tâm, làm thay đổi hẳn bộ mặt các trung tâm Một số trường dạy nghề và trường trung học chuyên nghiệp được sắp xếp theo hướng hợp lại để xây dựng thành các đơn vị mạnh
Trường Đại học Hàng Hải, trường Đại học Tại chức và phân hiệu đại học Y khoa đều được đầu tư để xây dựng trường sở khang trang và tăng cường trang – thiết bị, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục
Bước vào thời kỳ đổi mới, 100% trường sở ở Hải Phòng đã được “ngói hóa” nhưng phần lớn vẫn là nhà cấp 4 nên xuống cấp nhanh, trong khi đó, nguồn vốn ngân sách chi cho GDĐT không đáp ứng đủ Do đó, thành phố tập trung chỉ đạo phong trào xây dựng trường sở theo đúng phương châm mà các nghị quyết của Trung ương Đảng và Đảng bộ thành phố chủ trương: Nhà nước
101 xã trong số 159 xã ở ngoại thành có trường kiên cố 2 tầng, đạt tỷ lệ
Trang 2512 trường tiểu học
Đến năm học 1995 – 1996, toàn thành phố có 184 trường phổ thông cao tầng và số xã, thị trấn có trường cao tầng là 147/170 (86,5%) Cũng đến năm học 1995 – 1996, ở bậc trung học có 11, 5% số trường được trang bị máy vi tính, 5% có phòng học tiếng, 84% trường được trang bị đầy đủ trang thiết bị dạy học Bậc tiểu học 100% số trường có thiết bị đồng bộ 15 – 20 % trường phổ thông có video, riêng các trường trọng điểm thường xuyên có video phục
vụ cho việc giảng dạy và học tập
Qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong bối cảnh đất nước và thành phố còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội nhưng ngành GDĐT Hải Phòng đã được củng cố, ổn định và có nhiều mặt chuyển biến tích cực
Nhìn chung, quy mô giáo dục – đào tạo đã ổn định và có bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Số học sinh các cấp ngày càng tăng Thành phố hoàn thành phổ cập Tiểu học từ năm 1991 và tích cực triển khai phổ cập THCS
Ngành đã ngăn chặn được tình trạng tan trường, vỡ lớp, thầy bỏ dạy, trò
bỏ học, củng cố được hệ thống giáo dục và bước đầu có bước phát triển mới
Về chất lượng giáo dục - đào tạo đã có nhiều cải tiến trong nội dung, chương trình giảng dạy văn hóa, giáo dục chính trị, phẩm chất đạo đức; tăng cường
Trang 26
giáo dục hướng nghiệp; mở rộng việc dạy ngoại ngữ, nhạc, họa, thể dục thể thao…
Xã hội ngày càng đầu tư nhiều cho sự nghiệp giáo dục, thể hiện rõ nhất
là phong trào “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc tu sửa, xây dựng
cơ sở vật chất trường học Nhờ đó thành phố cơ bản xóa được tình trạng phải học ca ba ở tất cả các địa phương, đã xây thêm được nhiều trường kiên cố cao tầng, căn bản đủ thiết bị dạy ở bậc tiểu học và bước đầu trang bị thiết bị hiện đại như máy vi tính, thiết bị nghe nhìn, thiết bị dạy và học ngoại ngữ…phục
vụ chương trình giảng dạy mới
Cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp GDĐT theo hướng đa dạng, góp phần ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, trì trệ trong ngành Tầm quan trọng của hoạt động GDĐT, vị trí, vai trò của người giáo viên được khẳng định hơn Đội ngũ giáo viên được củng cố, sắp xếp, nâng cao trình độ chuyên môn Số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo ngày một tăng Đội ngũ giáo viên nhìn chung tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước, có tinh thần khắc phục khó khăn để thích ứng với yêu cầu của đổi mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy
Đạt được những thành tựu trên là do các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, xã hội và nhân dân đã ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò quan trọng giáo dục – đào tạo và có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo tích cực, tăng cường đầu tư, động viên phong trào chăm lo cho sự nghiệp giáo dục đào tạo thành phố, phong trào xã hội hóa giáo dục bước đầu được đẩy mạnh
Tuy nhiên, giáo dục Hải Phòng trong những năm 1986 – 1995 bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa đáp ứng kịp được
sự phát triển của kinh tế - xã hội thành phố thời kỳ đổi mới
Quy mô giáo dục đã phát triển nhưng cơ cấu giáo dục còn nhiều bất cập trước đòi hỏi ngày càng cao và lớn về nguồn nhân lực của thành phố Đến năm học 1994 – 1995, so với dân số trong cùng độ tuổi thì vẫn còn 18,7% số
Trang 27
trẻ em lứa tuổi 11 – 14 và 67,4% số trẻ em lứa tuổi 15 – 17 chưa tới trường
[56, tr 35]
Về chất lượng và hiệu quả GDĐT còn thấp, tính trung bình một học
sinh phổ thông phải mất 5,16 năm; 4,26 năm và 3,17 năm để hoàn thành
chương trình giáo dục thông thường 5 năm – tiểu học; 4 năm – THCS và 3
năm – THPT So với yêu cầu của chương trình thì chất lượng văn hóa chỉ đảm
bảo từ 50 – 60% và có sự chênh lệch lớn giữa vùng thành thị và nông thôn
Còn khoảng 30% học sinh tiểu học (ở xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo, miền
núi) chưa đạt chất lượng đào tạo Chất lượng văn hóa đại trà ở bậc THCS mới
đảm bảo 50% yêu cầu của chương trình Về việc đào tạo học sinh năng khiếu,
Hải Phòng đã có những trường chuyên, trường năng khiếu song sự đầu tư của
thành phố cho việc xây dựng các trường chất lượng cao còn thấp
Nguồn chi tài chính từ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục địa
phương còn hạn chế:
Bảng 1.2 So sánh chi ngân sách cho giáo dục giữa Hải Phòng
và một số địa phương khác
Đơn vị: đồng/người dân
Khó khăn về tài chính đã hạn chế đến việc đầu tư cơ sở vật chất - kỹ
thuật giáo dục: tính đến hết năm học 1994 – 1995, thành phố vẫn chưa đủ
phòng học 2 ca, chưa kể các trường tiểu học hai buổi/ngày phải cần cho mỗi
lớp một phòng học và vẫn còn gần 50% số trường tiểu học – THCS chưa được
xây dựng kiên cố cao tầng, còn là nhà cấp 4 xuống cấp 9/28 trường THPT
Trang 28
công lập cũng còn là nhà cấp 4, cần phải được xây dựng lại Để cơ sở vật chất phục vụ cho tốt cho yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục thành phố, Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục và cần thiết huy động sự đóng góp tích cực của cộng đồng xã hội
Về đội ngũ giáo viên, tuy tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn của Hải Phòng cao hơn nhiều địa phương khác trong cả nước song thực tế giảng dạy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách giáo dục Thành phố chưa có cơ chế khuyến khích động viên công tác ở những vùng xa, hẻo lánh nên có tình trạng thiếu giáo viên ở những vùng này
Những khó khăn trên đòi hỏi Đảng bộ thành phố nói chung, ngành GDĐT Hải Phòng nói riêng cần có những biện pháp, bước đi phù hợp để phát triển nhanh hoạt động GDĐT đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong thành phố cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trong đó xã hội hóa giáo dục là một biện pháp quan trọng, được thành phố quan tâm, coi đây
là một động lực to lớn thúc đẩy giáo dục – đào tạo thành phố có những bước phát triển mới
1.3 Quá trình triển khai chủ trương xã hội hóa giáo dục ở Hải Phòng (1996 - 2001)
1.3.1 Chủ trương của Đảng cộng Sản Việt Nam về xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục hiểu một cách đầy đủ là quá trình làm cho xã hội nhận thức về giáo dục, cộng đồng trách nhiệm với giáo dục, vừa chia sẻ khó khăn vừa tham gia vào các hoạt động giáo dục, làm cho giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã quy định
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146/SL ngày 10/8/1946, trong đó khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặc dốt” theo phương châm “Người biết dạy cho người chưa biết”, “Ai cũng phải học” Người xác định
ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước nhà là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa
và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ”
Trang 29vụ xây dựng kinh tế quốc dân Chú ý dựa vào dân mà phát huy công tác giáo dục.” Ngày 11 tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục đã xác định phương châm “phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”
Để đưa đất nước nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng, khó khăn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có GDĐT Mục tiêu, nhiệm vụ của GDĐT là:
“Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội” [16, tr 89]
“Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và trong cả nước…” [16, tr 91]
Để thực hiện được thắng lợi mục tiêu trên, Đại hội VI xác định: Bố trí hợp lý
cơ cấu hệ thống giáo dục Phát triển nhiều hình thức đào tạo và bồi dưỡng: chính quy và không chính quy, tập trung và tại chức Cải tiến chế độ thi cử, cấp chứng chỉ, văn bằng và học vị Thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất và năng lực cho cán bộ giáo dục và giáo viên Nâng cao vị trí xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
Trang 30
của những người dạy học Đặc biệt nhấn mạnh phải đầu tư đúng mức cho sự nghiệp giáo dục nhằm trước hết bảo đảm đủ sách giáo khoa và cơ sở cần thiết cho dạy và học Ngoài ngân sách Nhà nước cần quy định rõ sự đóng góp của các ngành và các địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội và các gia đình cho sự nghiệp giáo dục
Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa trong khi trên thế giới cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo nên bộ mặt mới của nền kinh tế tạo tiền đề hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin với những nét đặc trưng nổi bật là: Công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, giữ vai trò quan trọng hàng đầu; khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp…Những nước nghèo có thể tìm được cơ hội để phát triển nếu tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận được trình độ khoa học và công nghệ hiện đại Vai trò của năng lực thể chất, cơ bắp xuống hàng thứ yếu; cơ cấu kinh tế, hình thức tổ chức xã hội thay đổi
cơ bản Mọi hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính, của các cơ quan
xí nghiệp đều thông qua mạng máy tính
Chính sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức hay nền kinh tế dựa trên tri thức đòi hỏi phải có tư duy mới về giáo dục: tiếp cận mới về vai trò của giáo dục, về giáo dục suốt đời với phổ cập công nghệ trên cơ sở giáo dục nhân cách theo tinh thần nhân văn, nhân bản nhằm phục vụ nền kinh tế tri thức và biện pháp để đẩy mạnh sự phát triển của giáo dục đáp ứng yêu cầu mới của đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa trở thành một vấn đề cấp thiết, như là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để phát huy hiệu quả công tác xã hội hóa trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp đổi mới, nhất là góp phần giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương xã hội hóa, trước hết là xã hội hóa trên một số lĩnh vực văn hóa, xã hội: giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao…
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là một nhu cầu tất yếu khách quan trong quy luật phát triển của xã hội, đồng thời là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được hình thành trong quá trình đổi mới
Trang 31
Lần đầu tiên, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4
(khóa VII) đã chỉ rõ:“Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng
vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội” [17, tr 11]
Qua năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
và ba năm thực hiện Nghị quyết TW lần thứ 4 (khóa VII), sự nghiệp GDĐT và nhiều hoạt động xã hội khác đã có những mặt phát triển và tiến bộ rõ rệt Riêng hoạt động GDĐT đã có thành tựu to lớn sau: “Tỉ lệ người biết chữ trong dân đã nâng lên đạt mức 90%; tỉ lệ trẻ em đi học trong độ tuổi phổ cập tiểu học và số học sinh phổ thông các cấp học đều tăng; tỉ lệ lưu ban, bỏ học giảm Mạng lưới trường phổ thông
mở rộng đến khắp các xã, phường; cơ sở vật chất được cải thiện…Nhiều trường bán công và dân lập ra đời, hoạt động có hiệu quả” [19, tr 161]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém cả về chất lượng và hiệu quả Nhiều vấn đề về nội dung, chương trình, phương thức đào tạo chưa được xác định phù hợp với yêu cầu phát triển Chi phí học tập còn lớn, ảnh hưởng đến việc học hành của con em gia đình nghèo: “chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế ở nhiều nơi rất thấp Người nghèo không
đủ tiền để chữa bệnh và cho con em đi học”
Để khắc phục tình hình trên, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) xác định:
“Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục - đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo” [19, tr 107]
Đại hội đã nêu ra giải pháp phát triển với một số nội dung quan trọng sau:
- Hoàn thành cơ bản phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước và phổ cập THCS ở các thành phố lớn và những nơi có điều kiện Có chính sách giúp đỡ con
em người dân tộc thiểu số, gia đình nghèo, người tàn tật có điều kiện học tập
Trang 32Đặc biệt, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, xã hội hóa được Đảng ta
xác định là cơ sở để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: “Các vấn đề chính
sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức
xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội” [19, tr 114]
Về giáo dục – đào tạo, văn kiện Đại hội VIII đã chỉ rõ: “Cụ thể hoá chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, trước hết là vấn đề đầu tư phát triển và bảo đảm kinh phí hoạt động Ngoài việc ngân sách dành một tỷ lệ thích đáng cho sự phát triển giáo dục - đào tạo, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước, đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho giáo dục - đào tạo Những doanh nghiệp sử dụng người lao động được đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách giáo dục - đào tạo Đổi mới chế độ học phí phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội, loại bỏ những đóng góp không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục, đồng thời cải thiện điều kiện học tập cho học sinh nghèo” [19, tr
202]
Tiếp theo, tại Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII (12/1996) về “Định hướng chiến lược phát triển GDĐT trong thời kỳ CNH – HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000” đã nêu ra tư tưởng chỉ đạo sau:
Một là, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa của giáo dục - đào tạo Hai là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
Trang 33
Đảng nhận thức rõ, giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là động lực, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và từ thực tiễn phong phú của quá trình đổi mới, Đảng khẳng định mạnh mẽ quan điểm GDĐT là quốc sách hàng đầu
Ba là, phát triển giáo dục gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Bốn là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Công bằng xã hội là sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục, lá sự đối xử như nhau với mọi học sinh khi học tại các cơ
sở đào tạo khác nhau
- Mọi người dân đều có quyền học tập và học tập suốt đời Nhưng bên cạnh đó phải có nghĩa vụ cống hiến, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo trên cơ sở khả năng thực tế của từng người, từng vùng, từng địa phương và khuôn khổ luật định
- Thực hiện công bằng xã hội bằng nguyên tắc điều chỉnh và ưu tiên trong xã hội Nhất thiết phải ưu tiên người có công với đất nước và có sự trợ giúp những vùng khó khăn, dân tộc ít người, các đối tượng chính sách xã hội, học sinh nghèo, các đối tượng khuyết tật
- Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân đầu tư cho giáo dục thông qua xã hội hóa giáo dục thể hiện ở cách huy động
và mức huy động phải tùy theo điều kiện và mức thu nhập thực tế của đối tượng, tránh chủ nghĩa bình quân
Năm là, giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước
và của nhân dân
- Mọi người cùng chăm lo cho giáo dục
- Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục - đào tạo
Trang 34
- Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể
Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo
Đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo để tạo cơ hội cho mọi người có thể chọn cách học phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh của mình Cụ thể:
Đa dạng hóa giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc mầm non, THPT, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học
Hoạt động giáo dục - đào tạo được thực hiện theo nhiều phương thức như dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, đào tạo, bồi dưỡng, chính quy, không chính quy, tự học, từ xa…
Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập
Đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo phải đi đôi với quản lý chặt chẽ chuyên môn, đội ngũ giáo viên, quy chế tuyển sinh và thi cử nhằm tránh những hiện tượng tiêu cực xảy ra
Ngày 21/8/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Nghị quyết nêu rõ: “Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội, nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân;
xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm, là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực; là giải pháp quan trọng
để thực hiện chính sách công bằng xã hội, để thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa Xã hội hóa có quan hệ chặt chẽ với đa dạng hóa các hình thức hoạt động tạo cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng;
xã hội hóa không giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước, giảm bớt phần ngân sách của Nhà nước, trái lại Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu
Trang 35
để tăng tỉ lệ ngân sách cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó”
Năm 1998, Luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định rõ
ở điều 11 về “Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục”
“Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích huy động và tạo mọi điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [36, tr 12]
Luật giáo dục đã xác định rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước, vai trò tham gia của xã hội, vai trò chủ động của giáo dục nhà trường
Ngày 19/8/1999, Chính phủ ban hành Nghị định 73/CP, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và thể chế hóa các chủ trương, chính sách đối với các hình thức ngoài công lập, bán công, dân lập và tư nhân; quy định chi tiết chính sách khuyến khích các cở sở ngoài công lập về cơ sở vật chất, đất đai, thuế, phí và lệ phí, tín dụng, bảo hiểm và sự bình đẳng về quyền lợi chính trị giữa những người lao động trong các cơ sở ngoài công lập; quy định về quản
lý của Nhà nước, quản lý tài chính đối với các cơ sở ngoài công lập
Như vậy xã hội hóa giáo dục là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về xã hội hoá giáo dục thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển GDĐT Quá trình đó đã chứng minh rằng, xã hội hoá giáo dục không phải là giải pháp tình thế khi nền kinh tế đất nước còn khó khăn, điều kiện đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp, mà là một chủ trương chiến lược
Trang 36
lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển giáo dục, ngay cả khi nước ta phát triển thành một nước công nghiệp, có thu nhập quốc dân cao gấp nhiều lần so với hiện nay
1.3.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hải Phòng về xã hội hóa giáo dục
Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI (5/1996) có một ý nghĩa đặc biệt Cùng với việc tập trung chỉ đạo việc phát triển kinh tế, xã hội, Thành ủy, UBND thành phố và các cấp ủy Đảng, chính quyền thực sự coi trọng việc phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ… Đại hội xác định:
“Phải phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao dân trí, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân” [1, tr 47]
Đại hội xác định trong giai đoạn tới, phải “tiếp tục đổi mới và đầu tư đúng mức cho chiến lược con người Tăng cường các điều kiện nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố” [1, tr 317]
Đại hội xác định những giải pháp chính là:
- Tập trung nâng cao chất lượng GDĐT, quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện Trong đó, giáo dục phổ thông phải phấn đấu đạt chỉ tiêu đến năm 2000 “phổ cập giáo dục trung học cơ sở theo tiêu chuẩn quốc gia”
- Đổi mới cơ chế quản lý, phương pháp dạy và học
- Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, chú ý đào tạo giáo viên có trình độ cao
- Sắp xếp lại hệ thống các ngành học, cấp học, bảo đảm phát triển cả số lượng và chất lượng Tập trung củng cố và nâng cấp các trường chuyên, các trung tâm chất lượng cao, các trường sư phạm…
- Mở rộng phong trào xã hội hóa giáo dục Tăng cường đầu tư kinh phí và tranh thủ mọi nguồn vốn hoàn thành xây dựng kiên cố cao tầng ở các xã, phường và
bổ sung trang thiết bị hiện đại cho các trường học Có chế độ ưu đãi nhằm thu hút tài năng cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của thành phố
Trang 37
Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XI) (3/1997) đã đánh giá tình hình giáo dục, đào tạo thành phố trong 10 năm đổi mới; nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) Nghị quyết hội nghị nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ và các chương trình mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo của thành phố thời kỳ CNH, HĐH, trước mắt đến năm 2000:
- Quán triệt sâu sắc định hướng chiến lược, tư tưởng chỉ đạo mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp phát triển giáo dục, đào tạo của Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) và thực hiện Nghị quyết Đảng bộ thành phố lần thứ XI, sự nghiệp giáo dục, đào tạo Hải Phòng phải xây dựng con người Hải Phòng “vừa hồng vừa chuyên”, trước mắt thực hiện thắng lợi đẩy nhanh quá trình xây dựng Hải Phòng thành thành phố cảng hiện đại, trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, có kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, đảm bảo an ninh, quốc phòng vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân, thật sự coi trọng giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng bộ, chính quyền và toàn dân, phát triển giáo dục, đào tạo với tốc độ nhanh hơn các mục tiêu, chỉ tiêu bình quân của cả nước, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng các loại hình đào tạo…
- Xây dựng cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực cho phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài với bước đi nhanh và bền vững Ưu tiên nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần đào tạo nhân lực cho cả nước
Hội nghị nhấn mạnh hai giải pháp quan trọng là:
- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo gắn với xã hội hóa giáo dục: từ ngân sách thành phố (đạt 25% trở lên trong tổng chi ngân sách địa phương); đóng góp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trên địa bàn, đóng góp của nhân dân và các lực lượng xã hội, tranh thủ nguồn đầu tư, giúp đỡ của Trung ương
và các nguồn viện trợ quốc tế
- Nghiên cứu ban hành chế độ, chính sách của địa phương, huy động đóng góp từ phía các cơ sở sử dụng lao động để chi cho đào tạo, sử dụng một phần lao
Trang 38
động công ích để xây dựng trường Khuyến khích các đoàn thể, các tổ chức kinh tế -
xã hội và nhân dân xây dựng Quỹ “khuyến học”…
Trong chỉ đạo thực hiện, Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ và các cấp ủy Đảng đối với nhiệm vụ phát triển giáo dục - đào tạo Các cấp ủy Đảng tổ chức cho đảng viên, nhân dân quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chủ trương về giáo dục Xây dựng và thực hiện tốt chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục, đào tạo trong từng thời gian cụ thể; Các ngành các cấp triển khai đẩy mạnh phong trào “xã hội hóa giáo dục” nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia xây dựng phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học của từng gia đình, từng dòng họ, làng, xã, quận, huyện dấy lên phong trào học tập sôi nổi, rộng khắp trong toàn thành phố
Ngày 24/6/1998, Thành ủy ban hành Chỉ thị số 19/CT-TU, xác định rõ nhiệm
vụ của công tác xã hội hóa giáo dục là “Đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa nhằm huy động tốt mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư, triển khai thực hiện 10 chương trình có mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo; tiếp tục vận động đóng góp của nhân dân và các thành phần kinh tế trên cơ sở thực hiện các quy chế dân chủ ở
cơ sở, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, tài trợ quốc tế Quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực được huy động, triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”…
Tóm lại, quán triệt các Nghị quyết của Trung ương Đảng, các Nghị quyết, Chương trình, kế hoạch của Thành ủy Hải Phòng về phát triển GDĐT nói chung và
xã hội hóa giáo dục nói riêng đã giúp nâng cao nhận thức trong Đảng và nhân dân
về vị trí quốc sách hàng đầu của GDĐT và vai trò to lớn của xã hội hóa giáo dục trong thực hiện các mục tiêu, phương hướng của sự nghiệp GDĐT trong công cuộc CNH - HĐH đất nước
1.3.3 Quá trình tổ chức thực hiện và kết quả
* Tổ chức tuyền truyền chủ trương của Đảng về xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục là con đường để thực hiện dân chủ hóa giáo dục, nhằm xóa bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục và trường học, để mọi người dân được
Trang 39
thực hiện quyền làm chủ sự nghiệp giáo dục XHHGD nhằm xây dựng một xã hội
mà trong đó mọi người dân đều được hưởng sự công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ thực sự trong học tập, thông qua xã hội hóa giáo dục để xây dựng một xã hội học tập suốt đời
Cuộc vận động xã hội hóa giáo dục do Bộ GDĐT và Công đoàn Giáo dục Việt Nam chỉ đạo đã được ngành GDĐT thành phố bắt đầu triển khai thực hiện từ tháng 12 năm 1990, giám đốc Sở Giáo dục - đào tạo thành phố đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo chương trình xã hội hóa giáo dục của ngành
do đồng chí Chủ tịch Công đoàn ngành làm trưởng ban, đồng chí trưởng phòng Tổng hợp hành chính Sở làm phó ban và các trưởng phòng ban chuyên môn Sở làm ủy viên Năm 1995, Sở chỉ đạo điểm xã Mỹ Đồng (huyện Thủy Nguyên) và trường THPT Nguyễn Trãi tổ chức Đại hội cấp cơ sở Đầu năm
1996, chỉ đạo huyện Thủy Nguyên và quận Hồng Bàng tổ chức Đại hội giáo dục cấp quận, huyện
Nhờ thực hiện chính sách trên mà giáo dục Hải Phòng bước đầu có chuyển biến tích cực, xã hội, gia đình quan tâm hơn đến việc học hành, rèn luyện của con em mình; quỹ giáo dục, quỹ khuyến khích và hỗ trợ tài năng trẻ,…được thành lập ở nhiều nơi Hầu hết các cơ quan, xí nghiệp đều tổ chức liên hoan, khen thưởng con em cán bộ, công nhân viên là học sinh giỏi, học sinh tiên tiến
và đưa hoạt động này thành thường lệ hàng năm
Sau khi Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) được ban hành, Thành uỷ Hải Phòng đã mở các hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết và Chương trình hành động tới các đồng chí cán bộ chủ chốt của thành phố; đồng thời triển khai kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết cho các địa phương, đơn vị Trên cơ sở Chương trình hành động của thành phố, các địa phương, đơn vị đã xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) cho địa phương, đơn vị mình và mở hội nghị triển khai học tập, quán triệt đến cán bộ đảng viên
Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI đã có những định hướng chiến lược về công tác XHHGD Tinh thần của chủ trương này tại Đại hội đã được tổ
Trang 40Thực hiện Chỉ thị số 02/GD-ĐT ngày 22-2-1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban cán sự Đảng, Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo để tranh thủ lấy ý kiến của các nhà giáo cao tuổi có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp, cán bộ quản lý giáo dục các cấp tham gia vào dự thảo Đề án phát triển giáo dục - đào tạo Hải Phòng đến năm 2000 và định hướng 2010 Trên cơ sở đó ngành Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng các chương trình cụ thể để tham mưu cho Thành uỷ, chuẩn bị tích cực cho Hội nghị Thành uỷ lần thứ 4 (khoá XI)
Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức triển khai Nghị quyết 06 của Thành ủy, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm
vụ đến năm 2000 ở thành phố Hải Phòng cho tất cả các cán bộ chủ chốt các ngành học, cấp học trong toàn thành phố Sở Giáo dục và Đào tạo đã có công văn hướng dẫn các cấp quản lý giáo dục tổ chức nghiên cứu quán triệt các nghị quyết trên; yêu cầu các cấp học, ngành học phải có kiểm điểm sâu sắc về ưu, khuyết điểm, phân tích nguyên nhân rút ra bài học kinh nghiệm cần thiết nhằm chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục Các nghị quyết của Trung ương và thành phố được các cấp quản lý giáo dục triển khai đến tận giáo