1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Thực Trạng Và Giải Pháp Chủ Yếu Nhằm Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Chăn Nuôi Ở Thị Xã

114 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gắn với thị trường; Phải gắn với vùng nguyên liệu quy mô, chuyên môn hóa cao và gắn với công nghiệp chế biến; Phải gắn liền với cải thiện năng lực cạnh tranh sản phẩm, nâng cấp chuỗi giá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ VĂN MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

CHĂN NUÔI Ở THỊ XÃ PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ VĂN MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

CHĂN NUÔI Ở THỊ XÃ PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 8 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn, trước Nhà trường và phòng Đào tạo về các thông tin, số liệu trong đề tài luận văn này

Tác giả luận văn

Vũ Văn Minh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tôi đã hoàn thành xong đề tài luận văn cao học của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo cùng toàn thể các Thầy, Cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Dương Văn Sơn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, thiết kế nghiên cứu, phân tích

số liệu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND thị xã Phổ Yên; Phòng Kinh tế thị xã Phổ Yên; Chi cục Thống kế thị xã Phổ Yên; các xã nghiên cứu, các chủ trang trại,… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi có thể để tôi hoàn thành đề tài luận văn này

Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019

Học viên

Vũ Văn Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾTTẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ 6

1.1.2 Lược sử phát triển kinh tế trang trại, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trang trại 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số địa phương 20

1.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 26

1.2.3 Đánh giá về khoảng trống trong các nghiên cứu 29

Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 33

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 36

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 38

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về sự phát triển trang trại thị xã Phổ Yên qua các năm 38

2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm danh tính của trang trại 38

2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về nguồn lực trang trại 38

2.4.4 Nhóm chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và môi trường sản xuất kinh doanh của trang trại 38

2.4.5 Nhóm chỉ tiêu về các biến số trong mô hình hồi quy đa biến 39

Chương 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên 40

3.1.1 Các loại trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên qua các năm 40

3.1.2 Nguồn lực chủ yếu của các trang trại chăn nuôi ở thị xã Phổ Yên 44

3.1.3 Một số chỉ tiêu kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên 51

3.2 Khó khăn, bất cập và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên 55

3.2.1 Khó khăn, bất cập trong phát triển kinh tế trang trại thị xã Phổ Yên 55

3.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên 59

3.3 Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 68

3.3.1 Quan điểm và định hướng 68

Trang 7

3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾTTẮT

AgroMonitor., Jsc Công ty Cổ phần Phân tích và Dự báo Thị trường Việt Nam

FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc NĐ-CP Nghị định của Chính phủ

NQ-CP Nghị quyết của Chính phủ

PTNT Phát triển nông thôn

QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

QTKD Quản trị kinh doanh

TT-NNPTNT Thông tư Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁCBẢNG

Bảng 2.1 Số trang trại đã được điều tra tại các xã 35 Bảng 3.1 Các loại trang trại tại thị xã Phổ Yên 41 Bảng 3.2 Trình độ cao nhất của chủ trang trại phân theo ngành

nghề 45 Bảng 3.3 Tuổi và thâm niên sản xuất kinh doanh của chủ trang trại 46 Bảng 3.4 Diện tích đất đai, số đầu vật nuôi và diện tích nhà xưởng 47 Bảng 3.5 Một số thiết bị trang trại phân theo ngành nghềsản xuất kinh

doanh của trang trại 48 Bảng 3.6 Vốn và lao động khi bắt đầu và hiện nayphân theo ngành

nghề sản xuất kinh doanh 49 Bảng 3.7 Vốn và lao động khi bắt đầu hoạt động và hiện nayphân theo

trình độ chủ trang trại 50 Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu kinh tế của trang trại phân theo ngành

nghề 51 Bảng 3.9 So sánh thu nhập người lao động khi mới hoạt độngvà hiện

nay theo trình độ của chủ trang trại 53 Bảng 3.10 So sánh thu nhập người lao động khi mới hoạt động vàhiện

nay theo ngành nghề kinh doanh 54 Bảng 3.11 Diễn giải các biến số trong mô hình hồi quy đa biến 60 Bảng 3.12 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởngđến giá trị sản

xuất của trang trại 61 Bảng 3.13 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởngđến lợi nhuận

trang trại 64 Bảng 3.14 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởngđến thu nhập

người lao động 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP

Hình 3.1 Các loại trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên 41 Hình 3.2 Diễn biến giá thịt lợn hơi tại tỉnh Thái Bình và Đồng Nai 42 Hộp 3.1 Ứng dụng công nghệ chăn nuôi lợn của Phương Bá Thực 48 Hình 3.3 Thu nhập của người lao động trong các trang trại chăn

nuôi 54 Hộp 3.2 Mô hình chăn nuôi lợn ở xã Hồng Tiến, Phổ Yên 55

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Với mục đích của đề tài luận văn là: Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn

đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi, đề tài tập trung đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi

ở thị xã Phổ Yên; Phân tích khó khăn, bất cập và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở địa bàn nghiên cứu, để từ đó đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững kinh tế trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Cùng với phương pháp quan sát trực tiếp và thảo luận với những người

có liên quan, đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra để thu nhập các thông tin, số liệu theo hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của

đề tài tại 31 trang trại chăn nuôi, trong đó có 24 trang trại chăn nuôi lợn và 7 trang trại chăn nuôi gia cầm và tổng hợp trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Số liệu điều tra được xử lý và phân tích bằng các phương pháp phân tích thông tin số liệu thông dụng như: phân tích Excel, phân tích hồi quy đa biến, thống kê mô tả và so sánh,…

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ được các nội dung liên quan của

Trang 12

nuôi này ít nhất có: đất đai bình quân mỗi trang trại là 0,926 ha; số đầu vật nuôi mỗi trang trại là 464 con/lứa; Trong đó trang trại chăn nuôi lợn nuôi 340 con/lứa, trang trại gia cầm và tổng hợp nuôi 889,3 con/lứa; Mỗi trang trại có diện tích nhà xưởng, kho bãi được đánh giá là tương đối nhỏ, chỉ đạt bình quân 333,4 mét vuông, trong đó trang trại chăn nuôi lợn chỉ có bình quân 290,8 mét vuông, thấp hơn nhiều so với trang trại chăn nuôi gia cầm và tổng hợp; Về vốn, khi mới bắt đầu hoạt động, mỗi trang trại chỉ là 961,5 triệu đồng, trong đó trang trại chăn nuôi là 986,5 triệu đồng, cao hơn so với trang trại gia cầm và chăn nuôi tổng hợp (chỉ có 875,7 triệu đồng), hiện nay số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh bình quân mỗi trang trại đã tăng lên đạt giá trị 1.529,5 triệu đồng, trong

đó trang trại chăn nuôi lợn có số vốn sản xuất bình quân là 1.499,4 triệu đồng, trang trại gia cầm và tổng hợp có vốn là 1.632,9 triệu đồng; Về lao động, khi mới bắt đầu hoạt động, mỗi trang trại có 2,5 lao động, trong đó trang trại chăn nuôi lợn có nhiều lao động hơn so với trang trại gia cầm và tổng hợp (2,5 lao động so với 2,3 lao động/trang trại), hiện nay, số lao động đã tăng thêm, đạt bình quân 2,9 lao động/trang trại Để phát triển kinh tế trang trại chính sách nguồn nhân lực cần chú trọng hơn tới những chủ trang trại, nhất là chủ trang trại trẻ tuổi

Về giá trị sản xuất tại thời điểm điều tra, mỗi trang trại có giá trị sản xuất đạt bình quân 4.840,8 triệu đồng/năm và tương đối đồng đều giữa các ngành nghề chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi tổng hợp, cũng như giữa các trang trại điều tra Tổng chi phí bình quân mỗi trang trại là 4.789 triệu đồng, trong đó trang trại chăn nuôi có tổng chi phí bình quân là 4.841,2 triệu đồng, cao hơn 52,2 triệu đồng so với trang trại chăn nuôi gia cầm và tổng hợp Lợi nhuận thu được mỗi trang trại bình quân đạt 51,81 triệu đồng/năm, trong đó trang trại chăn nuôi lợn có lợi nhuận đạt bình quân là 10,25 triệu đồng, thấp hơn so với trang trại chăn nuôi gia cầm và tổng hợp (có lợi nhuận đạt 194,28 triệu đồng) Về thu nhập, nếu như khi mới bắt đầu hoạt động trong những năm

Trang 13

đầu tiên, bình quân mỗi lao động chỉ có thu nhập 2,758 triệu đồng/tháng, thì hiện nay, mỗi lao động làm thuê trong các trang trại tại thị xã Phổ Yên đã có thu nhập bình quân đạt 5,267 triệu đồng/tháng, tăng 90,9% so với khi mới bắt đầu hoạt động

Thực tiễn phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên còn gặp phải một số khó khăn, bất cập trong như: ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân sống xung quanh trang trại, nếu giá đầu vào tăng cao, không phù hợp với đầu ra, dịch bệnh trên vật nuôi,… Mặt khác, việc ổn định thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm vẫn là vấn đề luôn có những khó khăn mà các trang trại luôn phải đối mặt Vì vậy, chính sách xây dựng thị trường tiêu thụ ổn định trong trung hạn cần hướng tới mô hình kinh doanh chuỗi giá trị bao trùm, bao gồm cả các liên kết ngang giữa các trang trại với nhau và các liên kết theo chiều dọc, tức là liên kết giữa các công ty/nhà máy chế biến, sản xuất và/hoặc các công ty xuất nhập khẩu liên kết với các trang trại

Có một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại, gồm ảnh hưởng đến giá trị sản xuất, đến lợi nhuận và thu nhập của người lao động trong trang trại Do đó để có thể gia tăng giá trị sản xuất cần gia tăng trước hết các yếu tố này, trong đó đặc biệt chú ý đến thu nhập của người lao động trong trang trại để họ yên tâm làm ăn và có thể làm việc lâu dài cho trang trại Vì vậy để tăng thu nhập cho người lao động trong trang trại cần tăng cường đầu tư cho các yếu tố này

Để phát triển kinh tế trang trại tại thị xã Phổ Yên cần ít nhất phải đáp ứng các quan điểm và định hướng chủ yếu như: Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng đến phát triển bền vững; Đảm bảo hài hòa giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển; hướng đến nền nông nghiệp bền vững; Phải dựa trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh của địa phương

Trang 14

gắn với thị trường; Phải gắn với vùng nguyên liệu quy mô, chuyên môn hóa cao và gắn với công nghiệp chế biến; Phải gắn liền với cải thiện năng lực cạnh tranh sản phẩm, nâng cấp chuỗi giá trị nông sản; Phải hướng đến chuyển dần lên hình thức cao hơn là doanh nghiệp nông nghiệp, Đồng thời cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên như: Các giải pháp chung, các giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên

Đồng thời đề tài luận văn có khuyến nghị:

- Những định hướng và giải pháp để phát triển kinh tế trang trại thị xã Phổ Yên sẽ được chính quyền thị xã Phổ Yên và các địa phương khác có điều kiện tương tự như Phổ Yên có thể tham khảo, vận dụng vào thực tiễn sản xuất

để chỉ đạo và phát triển kinh tế trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi ở địa phương một cách bền vững, góp phần tái cơ cấu nông nghiệp cũng như đóng góp cho tái cơ cấu kinh tế ở quy mô thị xã, quy mô huyện và quy mô tỉnh

- Tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu sâu thêm về việc phát triển loại hình kinh

tế tập thể này cũng như phát triển kinh tế trang trại để có thể trở thành doanh nghiệp nông nghiệp trong tương lai

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản xuất hàng hoá Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau Cho đến nay qua thử thách của thực tiễn, một số nơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ

ra hiệu quả Trong khi đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả cao và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới So với nền kinh tế tiểu nông thì kinh

tế trang trại là một bước phát triển của kinh tế hàng hoá

Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại là một quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu, mang tính sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá có quy mô từ nhỏ tới lớn Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan

Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại

Kinh tế trang trại đã đem lại thu nhập cho nhiều gia đình, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho nhiều hộ nông dân Phát triển kinh tế trang trại là hướng

đi đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá

Trang 16

Kinh tế trang trại xuất hiện trong quá trình đổi mới ở nước ta và đang được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, mặc dù mới ở bước khởi đầu, song mô hình kinh tế này đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn Ở nước ta, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân,

mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên địa bàn cả nước hiện có 33.488 trang trại trong đó, có 9.216 trang trại trồng trọt (chiếm 27,52%), 20.869 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,32%), 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7,02%) và 1.053 trang trại tổng hợp (chiếm 3,14%) Tuy nhiên, kinh tế trang trại hiện nay chưa phát triển rộng và chưa tương xứng với những tiềm năng, thế mạnh của các vùng, miền trong cả nước; chưa tạo ra bước đột phá trong việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, mặt đất, mặt nước hoang hoá ở các khu vực trung du, miền núi, ven biển để phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp; chưa đóng góp thỏa đáng vào việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh các mặt hàng nông sản mang tính hàng hoá trong điều kiện thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Kinh tế trang trại vẫn là một loại hình kinh tế còn mới

mẻ ở nước ta, vì vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu cụ thể tiềm năng và lợi thế đối với từng vùng, từng địa phương để có những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, đưa ra những giải pháp phù hợp, sát thực tế, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, yếu tố bất lợi có thể xảy ra trong quá trình đầu tư và phát triển kinh tế trang trại

Trang 17

Thị xã Phổ Yên nằm ở phía nam thuộc tỉnh Thái Nguyên, có địa hình đa dạng, có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa Theo số liệu thống kê đến hết năm 2016 toàn Thị xã có 105 trang trại đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo quy định tại Thông tư số 27/2011/TT-NNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 100% trang trại đều là trang trại chăn nuôi Kinh tế trang trại đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, cải thiện thu nhập cho nhiều hộ nông dân góp phần làm thay đổi bộ mặt của vùng nông thôn Tuy nhiên trang trại của thị xã PhổYên chưa đồng đều, còn nhiều trang trại quy mô nhỏ, năng lực sản xuất còn hạn chế, chưa có sự liên kết hợp tác, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, đã bộc lộ một số vấn đề bất cập về đất đai, vốn, công nghệ, thị trường, lao động

Vấn đề đặt ra từ thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế trang trại ở thị

xã Phổ Yên đang rất cần được quan tâm nghiên cứu đó là: (1) Sự nhận thức về

vị trí, vai trò của kinh tế trang trại trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương; (2) Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thị xã; (3) Phân tích các yếu tố tác động đến kinh tế trang trại và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự phát triển của kinh tế trang trại; và (4) Đưa ra các định hướng và các giải pháp phù hợp để phát triển kinh tế trang

trại Với ý nghĩa đó đề tài: “Nghiên cứuthực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm

phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”

là vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Trang 18

- Phân tích khó khăn, bất cập và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững kinh tế trang trại, nhất là trang trạichăn nuôi ở thị xã Phổ Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đềliên quan đến kinh tế trang trại, trang trại chăn nuôi ở thị xã Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) để làm rõ các vấn

đề liên quan đến lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế trang trại của địa phương

Đối tượng điều tra là các trang trại chăn nuôi trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về một số nguồn lực chủ yếu của trang trại, quy mô, cơ cấu, loại hình, một số chỉ tiêu kinh

tế, kết quả sản xuất kinh doanh và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4.1 Những đóng góp mới

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp cho cấp uỷ và chính quyền địa phương có đủ cơ sở khoa học để chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thị xã một cách tốt nhất

Trang 19

- Góp phần kiến nghị, đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế trang trại của Đảng và Nhà nước nói chung và địa phương cấp tỉnh, huyện nói riêng

- Là tài liệu cung cấp thông tin cậy về kinh tế trang trại cho các nhà nghiên cứu, các cấp chính quyền, người hoạch định chính sách, nhà sản xuất và những người quan tâm đến kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên nói chung, thị

xã Phổ Yên nói riêng

- Kết quả nghiên cứu giúp cho các chủ trang trại có những định hướng

và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển kinh tế trang trại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Là tài liệu tham khảo cho các độc giả quan tâm nhiên cứu khoa học về vấn đề kinh tếtrang trại

4.3 Ý nghĩa trong thực tiễn

Đề tài có thể góp phần khắc phục những vấn đề bất cập mà các trang trại đang gặp phải

Có thể đưa ra các định hướng, giải pháp thiết thực giúp người lao động, các chủtrang trại phát triển có hiệu quả, bền vững

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành ở địa phương đưa ra phương hướng để phát huy những tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển kinh tế trang trại ngày càng hiệu quả và bền vững

Trang 20

có hình thức tổ chức sản xuất mang tính tập trung với quy mô lớn hơn so với hình thức tổ chức kinh tế hộ nông dân nhỏ lẻ, đó chính là hình thức trang trại

Hiện nay vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về trang trại Sau đây, chúng ta tìm hiểu cách hiểu trang trại, nông trại:

Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) và Ngân hàng Thế giới (WB) quan niệm trang trại là nông trại (trích theo Lê Anh Vũ và Nguyễn Đức Đồng, 2017) Theo đó, các nông trại ở các nước châu Á gió mùa dùng để chỉ một khu đất canh tác nông nghiệp Khi nói đến nông trại, điều đầu tiên là yếu

tố đất đai Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất của trang trại mà còn là nơi để xây dựng các công trình phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Như vậy, khái niêm nông trại được hiểu là khu đất đủ rộng để tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi,…

Liên minh châu Âu (EU) quy định trang trại là một đơn vị tự chủ về mặt

kỹ thuật và kinh tế, có sự quản lý duy nhất, sản xuất ra nông sản Nông sản ở đây bao gồm tất cả các loại cây trồng, vật nuôi được phép sản xuất

Ở nước ta, cách tiếp cận và quan niệm về trang trại (và cả kinh tế trang trại) có nhiều điểm khác biệt so với các quan niệm trên thế giới, bởi quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của người nông dân và các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh đã không được thừa nhận hợp pháp trong một thời gian dài, đồng thời hiện nay quyền sở hữu tư nhân về đất đai không được pháp luật thừa

Trang 21

nhận Điều này làm cho các loại hình trang trại mới được hình thành trong thời gian gần đây như là kết quả của quá trình mở rộng thị trường kết hợp với tích

tụ và tập trung ruộng đất ở thời kỳ sơ khai với nhiều rào cản về mặt sở hữu, và chủ yếu trên nền tảng của các nông hộ (trích theo Lê Anh Vũ và Nguyễn Đức Đồng, 2017).Có ý kiến cho rằng, trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có

tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia

Như vậy, với tất cả những gì chúng ta biết hiện nay, có thể hiểu trang trại

là một thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức cụ thể của một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Trang trại là một hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên diện tích đủ lớn, theo quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hóa của nền kinh tế thị trường Việc điều hành và quản

lý hoạt động của trang trại cũng như tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền

sở hữu hoặc quyền sử dụng của các thành viên trong gia đình Như vậy, về mặt hình thức, trang trại vẫn có thể gắn với hộ gia đình, nên khái niệm trang trại và trang trại hộ gia đình rất khó tách rời một cách riêng biệt, tuy rằng có thể có sự khác nhau chủ yếu là quy mô khác nhau

1.1.1.2 Kinh tế trang trại

Khi nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, các nhà kinh tế thấy rằng, khi công nghiệp phát triển thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho tiêu dùng, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng xuất khẩu tăng lên rất lớn Đểđáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp thì không thể dựa vào hình thức sản xuất nông hộ với quy

Trang 22

mô nhỏ lẻ, manh mún với phương thức canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung, tự cấp Như vậy, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì đòi hỏi các hộ nông dân phải sản xuất theo hướng hàng hóa, tập trung với quy mô lớn

và hình thành nên các nông trại hay trang trại như ngày nay Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu về khoa học kinh tế, trang trại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về trang trại và kinh tế trang trại

Trong từ điển Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp” Trong các tài liệu nghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gọi là “nông trại”, “lâm trại”, “ngư trại” để phân biệt chuyên ngành sản xuất của các trang trại

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, được phát triển trên cơ sở kinh tế

hộ gia đình nông dân có sự tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn và lao động với quy mô lớn nhằm mục đích tạo ra một khối lượng hàng nông sản nhiều hơn, có hiệu quả hơn theo yêu cầu của thị trường Cần chú ý rằng, kinh tế trang trại không phải là một thành phần kinh tế Trong kinh tế trang trại, thực thể chính của nó là các trang trại

Theo Lê Anh Vũ và Nguyễn Đức Đồng (2017), kinh tế trang trại là một nấc phát triển cao hơn của kinh tế hộ gia đình, là bước phát triển đột phá chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, và do đó hàng hóa sản xuất ra đảm bảo về quy trình, chất lượng, đáp ứng các yêu cầu thương mại hóa Do vậy, phát triển kinh tế trang trại quy mô lớn sẽ thúc đẩy quá trình thương mại hóa nông nghiệp

Như vậy, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy

mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuấtvới chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản

Trang 23

1.1.1.3 Phát triển kinh tế trang trại

a) Mục đích của phát triển kinh tế trang trại

Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế trang trại là một đơn vị kinh tế tự chủ, tồn tại và cạnh tranh với các hình thức kinh tế khác

Mục đích của phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Đồng thời, quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa trong nông nghiệp và nông thôn

Trang trại được xem như là một doanh nghiệp thu nhỏ, có sự hợp tác giữa chủ trang trại và người lao động làm thuê cho trang trại

Kinh tế trang trại đã từng bước phát huy được lợi thế về tiềm năng đất đai, lao động ở khu vực nông thôn, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, sử dụng đất đai và các nguồn lực; hiệu quả bước đầu hình thành các quan hệ hợp tác mới trong sản xuất

b) Nội dung phát triển kinh tế trang trại

Nội dung của phát triển kinh tế trang trại bao gồm:

- Gia tăng số lượng trang trại: Đó là sự gia tăng số lượng trang trại bằng cách phát triển mới các cơ sở sản xuất nông nghiệp theo hình thức trang trại, hoặc chuyển hóa các hộ gia đình thành trang trại

- Mở rộng quy mô các nguồn lực sản xuất kinh doanh của trang trại Trong đó là sự mở rộng quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, quy mô

về lao động, diện tích đất đai sử dụng cho hoạt động trang trại,… Quá trình mở rộng quy mô các nguồn lực cũng là tập trung ngày càng cao của các yếu tố sản

Trang 24

xuất để trang trại có thể tiếp cận máy móc thiết bị hiện đại Vì vậy, quy mô sử dụng các nguồn lực sản xuất của trang trại là một trong những nội dung để xem xét mức độ phát triển kinh tế trang trại

- Phát triển trang trại cần theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất của trang trại theo hướng tích cực, gắn với thị trường, phù hợp với điều kiện sản xuất và điều kiện sinh thái

- Nâng cao khả năng thích nghi, thích ứng với biến đổi khí hậu, với các rủi ro thị trường

- Tăng cường năng lực liên kết trong sản xuất kinh doanh của trang trại Liên kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại được xem là chiến lược quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của trang trại Các liên kết của trang trại gồm liên kết giữa các trang trại với trang trại; liên kết giữa trang trại với các tổ chức cúng ứng dịch vụ đầu vào, cung ứng dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất của trang trại; liên kết giữa trang trại với các đơn vị chế biến nông sản, tổ chức tiêu thụ nông sản hàng hóa,…

- Nâng cao năng lực cạnh tranh của trang trại trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Năng lực cạnh tranh của trang trại là khả năng của trang trại trong việc tao ra và duy trì được lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần để thu được lợi nhuận cao Năng lực cạnh tranh của trang trại được thể hiện thông qua khả năng liên kết, hợp tác của trang trại; năng lực khoa học công nghệ, hiệu quả kinh doanh,… và nhất là năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản

c) Vị trí và vai trò của kinh tế trang trại

Về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại: Theo Nghị quyết 03 năm

2000 của Chính phủ: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy

mô và nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản

Trang 25

Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân

bổ lại lao đông, dân cư, xây dựng nông thôn mới

Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn

Vai trò của kinh tế trang trại nói chung: Kinh tế trang trại có vai trò quan trọng trong:

- Thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn

- Huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, cho đất nước

- Sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai

- Hợp tác, liên kết giữa các trang trại với nhau và với kinh tế nhà nước

về nhiều mặt để có sức cạnh tranh trên thị trường và cùng nhau chung sức giải quyết các nhu cầu xã hội

d) Một số các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của trang trại

- Các nhân tố chủ quan, ít nhất bao gồm:

+ Vốn đầu tư của chủtrang trại

+ Quy mô diện tích củatrang trại

+ Trình độ lao động của trang trại

- Các nhân tố khách quan

+ Nhân tố môi trường

+ Khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 26

1.1.2 Lược sử phát triển kinh tế trang trại, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trang trại

1.1.2.1 Lược sử về phát triển kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại có lịch sử phát triền lâu đời, các chuyên gia về sử học

và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ Ở Trung Quốc trang trại có từ đời nhà Đường Với nước ta, trang trại hình thành và phát triển dưới thời nhà Trần với tên gọi chung là các “thái ấp” Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời Năm 1802 ở Pháp

có 5.672.000 trang trại, năm 1882 ở Tây Đức có 5.278.000 trang trại, năm 1990

ở Mỹ có 5.737.000 trang trại, năm 1963 Thái Lan có 3.214.000 trang trại và Ấn

Độ có hơn 44 triệu trang trại

Quá trình phát triển công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy mô về diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên Hiện nay ở Mỹ có 2,2 triệu trang trại, sản xuất mỗi năm 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới; ở Pháp có 0,98 triệu trang trại, sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1.500 trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo đảm lương thực, thực phẩm cho hơn

100 triệu người Như vậy, trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp và là xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá

Ở hầu hết các nước trên thế giới, trang trại chăn nuôi là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao

Phương thức chăn nuôi trang trại hiện nay của các nước trên thế giới vẫn

có ba hình thức cơ bản đó là: i) Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao ii) Chăn nuôi trang trại bán thâm canh và iii) Chăn nuôi nông hộ quy

mô nhỏ và quảng canh

Trang 27

Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước ở Châu Á, Phi và Mỹ La tinh Chăn nuôi công nghiệp thâm canh các công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý đàn Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới tính

Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia súc gia cầm tại phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh và các nước Trung Đông Trong chăn nuôi quảng canh, tận dụng, dựa vào thiên nhiên sản phẩm chăn nuôi năng xuất thấp nhưng được thị trường xem như là một phần của chăn nuôi hữu cơ.Chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi sạch đang được thực hiện ở một số nước phát triển, sản phẩm chăn nuôi được người tiêu dùng ưu chuộng Xu hướng chăn nuôi gắn liền với tự nhiên đang được đặt ra cho thế kỷ 21 không chăn nuôi gà công nghiệp trên lồng tầng và không chăn nuôi heo trên nền xi măng Tuy nhiên chăn nuôi hữu cơ năng xuất thấp, giá thành sản phẩm chăn nuôi cao thường là mâu thuẫn với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn do đó đang là thách thức của nhân loại trong mở rộng quy mô và phổ cập chăn nuôi hữu cơ

Ở Việt Nam, khoảng 10 năm gần đây, một sự bứt phá của ngành chăn nuôi

là có sự chuyển đổi từ chăn nuôi tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi trang trại tập trung, tiếp cận dần tới công nghiệp hóa chăn nuôi Đây có thể coi

là bước đột phá mới trong phát triển của ngành chăn nuôi Chăn nuôi trang trại phát triển sẽ đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng nhiều và đa dạng của nhân dân về sản phẩm chăn nuôi, nâng cao tính cạnh tranh năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi, tăng cường khả năng tiếp thu công nghệ, tiên bộ khoa học mới,

là nhân tố sức mạnh thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chăn nuôi theo quy mô trang trại đã và đang là xu hướng phát triển tất yếu của ngành chăn nuôi Bởi vì chăn nuôi trang trại mới cho được số

Trang 28

lượng sản phẩm lớn, mới đủ khả năng và thông số mẫu đủ lớn để áp dụng các tiến bộ khoa học, các công nghệ phục vụ chăn nuôi cao sản, kiểm soát dịch bệnh

dễ dàng hơn so với chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ Từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi hàng hóa trên thị trường

Trong 5 năm vừa qua, chăn nuôi trang trại ở nước ta đã phát triển nhanh

về số lượng và quy mô chăn nuôi Nhìn chung, các chủ trang trại chăn nuôi cho biết trong điều kiện thuận lợi về an toàn dịch bệnh, giá thức ăn và giá thị trường tiêu thụ thì nuôi bò thịt cho lãi khoảng 1 triệu đồng/con/năm, bò sinh sản lãi 1,5-2 triệu đồng/con/năm, nuôi lợn thịt lãi bình quân 1000đ/con/ngày, lợn sinh sản lãi 2 - 2,5 triệu đồng/con/năm

Chăn nuôi trang trại ở nước ta chỉ chủ yếu lập trung vào chăn nuôi bò (8.597 trang trại, chiếm 40% tổng số trang trạichăn nuôi cả nước) và lợn (7.038 trang trại, chiếm 32,8%) Chăn nuôi gia cầm được xếp hạng thứ ba với 3.721 trang trại, chiếm 17,3% tổng số trang trại toàn quốc Chăn nuôi dê mới được chú trọng nhưng

số lượng trang trại là 1.449 trang trại, chiếm 6,75%, cao hơn 418 trang trại trâu (chiếm có 1,94%), còn lại là 250 trang trại ong và 1 trang trại gấu theo đúng tiêu chí xác định trang trại của Thông tư 69 Chăn nuôi trang trại chủ yếu tập trung ở miền Nam với 12.332 trang trại (chiếm 57,43%) Các vùng có chăn nuôi trang trại phát triển là Đông Nam bộ (7.645 trang trại chiếm 35,6%), Bắc Trung bộ (4.464 trang trại, chiếm 20,79%), vùng ĐBSH (3.257 trang trại, chiếm 15,17%) và vùng Duyên hải Nam Trung hộ (2.608 trang trại, chiếm 12,14%) Thấp nhất cả nước là vùng Tây Bắc với 577 trang trại chăn nuôi tập trung, chiếm 2,68% tổng số trang trại chăn nuôi trên toàn quốc

1.1.2.2 Chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trang trại

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển các trang trại trong thời gian qua và căn cứ vào chủ trương đối với kinh tế trang trại đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 12 năm 1997 và Nghị quyết số 06 ngày 10 tháng 11 năm

Trang 29

1989 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp và nông thôn, cần giải quyết một số vấn đề về quan điểm và chính sách nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế trang trại trong thời gian tới

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản

- Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; có việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lao động, dân cư xây dựng nông thôn mới

- Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất đã hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn

Sau đây là một sốchính sách phát triển kinh tế trang trại:

a) Chính sách về đất đai

- Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn được

Uỷ ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triền trang trại

- Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê lại quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để phát triển trang trại theo quy định của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 30

- Hộ gia đình, cá nhân đã được giao hoặc nhận chuyển nhượng, quyền

sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999

để phát triển trang trại thì được tiếp tục sử dụng và chuyển sang phần diện tích đất vượt hạn mức, theo quy định của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

b) Chính sách về thuế

- Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị quyết số 51/1999/NQ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

- Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật

về đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản xuất, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu

tư cải tạo vào mục đích sản xuất nông nghiệp

c) Chính sách đầu tư tín dụng

Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việc vay vốn được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn”, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày

29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

Trang 31

d) Chính sách lao động

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị

đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động

e) Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường

- Bộ Nông nghiệp và Phát triền nông thôn cùng với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, lâm nghiệp và các cơ sở sản xuất con giống (chăn nuôi, thuỷ sản) hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để bảo đảm đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại và hộ nông dân trong vùng

- Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật

áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nông dân trong vùng

f) Chính sách thị trường

- Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

- Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các

cơ sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh hướng dẫn việc

ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại

và nông dân trên địa bàn

Trang 32

- Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước

- Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác chủ trang trại, hộ nông dân

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp

g) Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Tải sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi

1.1.2.3 Đối tượng, đặc trưng và chỉ tiêu định lượng xác định kinh tế trang trại

a) Đối tượng được xem xét là kinh tế trang trại

Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính có kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn

b) Đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng

hoá với quy mô lớn

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của của nông hộ, thể hiện ở quy

mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông sản thuỷ sản hàng hoá

Trang 33

- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

c) Chỉ tiêu định lượng để xác định là kinh tế trang trại

Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay cho Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04/7/2003 có qui định:Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:

- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; + 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

d) Phân loại các loại hình kinh tế trang trại chăn nuôi

Trang trại chăn nuôi là loại hình trang trại đang được phát triển rất mạnh trong cả nước, nhưng chưa thực sự chuyên môn hoá mà chủ yếu phát triển chăn nuôi tổng hợp kết hợp với trồng trọt Loại này được phân ra các loại hình sau:

- Trang trại chăn nuôi đại gia súc như: Trâu, bò,… Loại hình này phát triển mạnh ở các cùng đồng bằng, trung du miền núi nơi có đồng cỏ chăn thả

và có thị trường tiêu thụ

Trang 34

- Trang trại chăn nuôi gia súc như lợn: loại hình này thì phát triển tập trung

ở các vùng đồng bằng và trung du có địa hình thấp và có thị trường nuôi trồng thuỷ sản và hải sản, hộ ít vốn có sự kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với sản xuất nông nghiệp Quy mô ở ven biển Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long gấp 2 -

3 lần vùng ven biển Bắc Bộ Vùng ven biển miền Trung sự phát triển các ngư trại còn hạn chế

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số địa phương

1.2.1.1 Trên phạm vi cả nước

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2016 trên địa bàn cả nước hiện

có 33.488 trang trại, trong đó có 9.216 trang trại trồng trọt (chiếm 27,52%), 20.869 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,32%), 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7,02%) và 1.053 trang trại tổng hợp (chiếm 3,14%).Trong đó, Trung

du và miền núi phía Bắc có 1.637 trang trại, Bắc TrungBộ có 3.145 trang trại, Tây Nguyên có 3.275 trang trại và Đông bằng Sông Cửu Long có 7.347 trang trại Đến năm 2017,trên phạm vi cả nước có 34.048trang trại, trong đó, có 9.099trang trại trồng trọt (chiếm 26,7%), 21.158 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,1%), 2.627trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7,7%) và 1.164trang trại khác (chiếm 3,4%)

Có thể nói, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao; là đơn vị sản xuất tích cực ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, cũng như chủ động tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Kinh tế trang trại là nhân tố mới ở nông thôn; là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực của kinh tế hộ, góp phần vào quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất, gắn liền với quá trình phân công lao động

ở khu vực nông thôn

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, hiện đại, trong

đó có những chính sách khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế trang trại

Trang 35

Trong đó, các tỉnh miền Bắc tuy có số lượng trang trại không nhiều, song

đã xuất hiện những mô hình phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao Tại các tỉnh Sơn La, Ðiện Biên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Ðịnh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên,… đã xuất hiện các mô hình kinh tế trang trại cho thu nhập cao

Tuy nhiên, phần lớn trang trại hiện nay sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu thông tin về thị trường nông sản, khoa học kỹ thuật và quản lý; thiếu vốn sản xuất để phát triển lâu dài Do sản xuất tự cung, tự cấp, bị động cho nên người dân thường xuyên bị thiệt hại khi giá nông sản xuống thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách ưu đãi khuyến khích

hộ nông dân sản xuất trang trại tích tụ, tập trung ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa, trong đó cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là lĩnh vực chế biến và dịch vụ nông nghiệp

1.2.1.2 Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội)

Sau dồn điền, đổi thửa, huyện Quốc Oai tập trung quy hoạch, phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững, giúp đa dạng hóa sản phẩm nông sản

có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao

Vài năm trở lại đây, mô hình kinh tế vườn trại kết hợp chăn nuôi ở huyện Quốc Oai khá phát triển Thay vì chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, nhiều gia đình đã chuyển sang chăn nuôi quy mô lớn theo mô hình trang trại Đơn cử như xã Cấn Hữu thuộc huyện Quốc Oai, đã phát triển được 219 trang trại chủ yếu theo mô hình tổng hợp hoặc chăn nuôi gà Hiện toàn xã có tổng đàn gà đẻ khoảng 60 vạn con, sản lượng trứng đạt 32 vạn quả/ngày Trong đó, 90% hộ gia đình đầu

tư chăn nuôi theo hình thức công nghiệp khép kín

Chủ tịch UBND xã Cấn Hữu Nguyễn Văn Lợi cho biết, để có các mô hình trang trại như hiện nay, xã đã quy hoạch ruộng đất, tập trung chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức cho cán bộ, nhân dân đi tham quan, học tập

Trang 36

kinh nghiệm ở nhiều nơi Ngoài ra, xã còn phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Hà Nội mở các lớp chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, trang bị kiến thức chăn nuôi cho nông dân Hiện nhiều gia đình như ông: Nguyễn Văn Lâm, Cấn Văn Mai, Nguyễn Văn Chiến, Đặng Quốc Sơn,… chăn nuôi quy mô lớn, thu nhập mỗi năm đạt từ 1,5 tỷ đồng trở lên

Tương tự, những năm gần đây, số lượng trang trại ở xã Đông Yên cũng tăng nhanh Chủ tịch Hội Chăn nuôi xã Đông Yên Đỗ Thanh Đồng cho biết, toàn xã có 46 trang trại chăn nuôi công nghiệp quy mô từ 5.000 đến 10.000 con

và hàng chục hộ nuôi gà đồi kết hợp với làm vườn Riêng gia đình ông Đồng, nhờ chăn nuôi gà kết hợp với trồng bưởi Diễn, đu đủ, mỗi năm gia đình có thu nhập khoảng 100 triệu đồng

Phó Trưởng phòng Kinh tế huyện Quốc Oai Nguyễn Thị Sắc cho biết, sau dồn điền, đổi thửa, UBND huyện đã hướng dẫn các xã lập quy hoạch vùng sản xuất Đến nay, huyện đã phê duyệt quy hoạch cho 16 xã với tổng diện tích chuyển đổi hơn 2.100ha từ trồng lúa năng suất thấp sang trồng rau an toàn, lúa chất lượng cao, cây ăn quả, thủy sản, chăn nuôi,… Toàn huyện hiện có 402 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm đạt tiêu chí của Bộ NN&PTNT cho doanh thu đạt trên 1 tỷ đồng/trang trại/năm; trên 200 gia trại có doanh thu từ 300 triệu đến dưới 1 tỷ đồng/trang trại/năm,

Cùng với mở rộng các mô hình kinh tế trang trại, các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Quốc Oai đã liên kết, thành lập các hội chăn nuôi quy mô xã nhằm hỗ trợ nhau cùng phát triển Ông Nguyễn Văn Lâm ở xã Cấn Hữu cho biết: Tham gia vào hội chăn nuôi, các hộ gia đình cùng nhập chung thức ăn, thuốc phòng dịch bệnh với số lượng lớn, giá thấp hơn so với mua lẻ ngoài thị trường Hội cũng thống nhất được giá đầu ra cho sản phẩm, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh Hiện nay, xã Cấn Hữu đã xây dựng được chuỗi sản xuất thịt lợn sinh học Hợp tác xã Đồng Tâm, có thể kiểm soát chất lượng

từ khâu chăn nuôi, giết mổ đến tiêu thụ sản phẩm

Trang 37

Một trong những tiêu chí được huyện Quốc Oai chú trọng đó là sản xuất sạch Toàn huyện đã phát triển được 11 nhóm với 220 hộ gia đình tham gia chăn nuôi theo quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn ở các xã Cấn Hữu, Đồng Quang, Thạch Thán Để tiếp tục hỗ trợ sản xuất phát triển, huyện đã thành lập Hợp tác xã Nông sản an toàn Quốc Oai, kết nối, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp an toàn của huyện, tháo gỡ đầu ra cho nông sản Qua

đó, góp phần tạo ra sự bền vững trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn

1.2.1.3 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

Theo Đinh Ngọc Tưởng (2015): Huyện Yên Lập (tỉnh Phú Thọ) là một huyện có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế trang trại, với nhiều loại hình như: trang trại trồng trọt, trang trạichăn nuôi và trang trại tổng hợp Trong những năm qua huyện đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh

tế trang trại Vì vậy trong một thời gian ngắn kinh tế trang trại đã phát triển nhanh, hiện nay là huyện có 24 trang trại, trong đó có 10 trang trạichăn nuôi Các trang trại đã thu hút được tiềm năng, lợi thế đất đai, nguồn lực vốn, lao động,… Kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trạichăn nuôi nói riêng thực sự là ngành sản xuất hàng hóa gắn với thị trường Kinh tế trang trạichăn nuôi đóng góp khoảng 0,56% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp hàng năm.Hầu hết các trang trạichăn nuôi của huyện Yên Lập sản xuất kinh doanh đều có hiệu quả kinh tế cao với giá trị sản xuất bình quân 5.303,23 triệu đồng/trang trại/năm Lợi nhuận bình quân 355,78 triệu đồng, trong đó trang trại nuôi lợn kết hợp nuôi cá có lợi nhuận khá cao 463,7 triệu đồng/năm Kinh tếtrang trại

đã huy động, khai thác tốt lượng vốn tự có trong dân để đầu tư sản xuất với mức bình quân chiếm 77,70% tổng vốn đầu tư Kinh tế trang trại đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hoá, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn Kinh tếtrang trạichăn nuôi đang trở thành hình thức sản xuất kinh doanh điển hình đối với người dân của huyện Yên Lập, là loại hình sản xuất có hiệuquả cao, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay

Trang 38

1.2.1.4 Phát triển trang trại chăn nuôi ở tỉnh Thái Nguyên

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017 tỉnh Thái Nguyên có 753 trang trại, trong đó chỉ có 1 trang trại trồng trọt, 743 trang trại chăn nuôi (chiếm

tỷ lệ 98,7%), có 4 trang trại nuôi trồng thủy sản và 5 trang trại khác Tính đến năm 2018, toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 780 trang trại chăn nuôi tập trung, tăng 5 % so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, có 374 trang trại chăn nuôi lợn, hơn 300 trang trại gia trại chăn nuôi gà, còn lại là các trang trại, gia trại chăn nuôi thủy sản, trâu, ngựa, dê, chồn, nhím, Khoảng 80% các trang trại chăn nuôi có quy mô chăn nuôi dưới 1.000 con/năm Hầu hết số trang trại chăn nuôi quy mô lớn chủ yếu tập trung ở các huyện: Phú Lương, Phú Bình và Phổ Yên Trong đó, nổi bật là chăn nuôi lợn ở Phổ Yên, Phú Lương, chăn nuôi già đồi ở Phú Bình,…

Như vậy ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của các trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là trang trại chăn nuôi Để hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại, những năm qua tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích người dân phát triển kinh tế trang trại như: hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận VietGAP, hỗ trợ 50% giá mua máy cơ giới hóa sản xuất chăn nuôi; hỗ trợ các gia đình xây dựng mô hình chăn nuôi trang trại an toàn sinh học trong vùng quy hoạch, với giống năng suất cao.Những năm qua, sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần giúp người dân trong tỉnh phát huy được lợi thế địa phương, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế

Mô hình liên kết chăn nuôi trang trại quy mô lớn;trong đó các công ty sẽ đầu tư con giống, thức ăn, thuốc thú y, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm đầu

ra Người chăn nuôi đầu tư chuồng trại và công chăm sóc theo đúng hướng dẫn Sau thời gian quy định, công ty đến nhập lại thành phẩm và người chăn nuôi được hưởng lãi theo sản phẩm, được thưởng thêm nếu chăn nuôi tốt Đây là yếu

tố then chốt góp phần phát triển bền vững chăn nuôi ở địa phương này

Trang 39

1.2.1.5 Đánh giá thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở nước ta

Những mặt được của kinh tế trang trại thời gian qua có thể tựu trung ở một số điểm sau:

Thứ nhất: Đây là một bước phát triển mới của kinh tế hộ gắn với mục tiêu

sản xuất hàng hoá qui mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra các vùng sản xuất tập trung làm tiền đề cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn, tăng tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái

Thứ hai: Kinh tế trang trại phát triển đã góp phần khai thác thêm diện

tich lớn đất trống, đồi núi trọc, diện tích còn hoang hoá (khoảng 20-30 vạn ha) đưa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhất

là ở các vùng trung du, miền núi và ven biền

Thứ ba: Góp phần huy động lượng vốn đầu tư khá lớn trong dân (có thể

tới 20.000 tỷ đồng) để đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Thứ tư: Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, ngoài 30 vạn lao

động của gia đình còn thuê thêm 10 vạn lao động thường xuyên và 30 triệu ngày công lao động thời vụ/năm

Thứ năm: Hàng năm làm ra giá trị tổng sản lượng gần 12.000 tỷ đồng,

trong đó 87% là sản phẩm hàng hoá

Cuối cùng: một số trang trại đã sản xuất và cung cấp giống tốt, làm dịch

vụ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng

Tuy vậy, sự phát triển của trang trại đang đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết:

- Chủ trương của Đảng và Nhà nước chưa được thể chế hoá thành những chính sách cụ thể, việc giao và cho thuê đất chưa được thực hiện chu đáo, nhiều chủ trang trại vẫn còn băn khoăn chưa thực sự yên tâm đầu tư phát triển sản

Trang 40

xuất, nhất là gần 30% số đất chưa được giao hoặc cho thuê ổn định lâu dài Ở hầu hết các địa phương có trang trại phát triền chưa chủ động triển khai quy hoạch sản xuất, thiếu sự gắn bó giữa trang trại với sự hình thành các vùng sản xuất tập trung và định hướng phát triển chung của vùng; hệ thống thuỷ lợi, giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, thị trường kém phát triển, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa nên trang trại chưa góp phần tích cực phát huy được đầy đủ sức mạnh kinh tế của vùng

- Phần lớn các trang trại mới chủ yếu tập trung mở rộng diện tích, áp dụng kỹ thuật truyền thống mà chưa quan tâm nhiều tới việc áp dụng các tiến

bộ kỹ thuật về giống, tưới nước, cơ giới hoá, bảo quản chế biến,… nên năng suất, chất lượng sản phẩm làm ra chưa cao Bên cạnh đó, một số chủ trang trại chưa nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường để định hướng sản xuất nên sản phẩm làm ra có lúc khó tiêu thụ, hiệu quả chưa cao Đồng thời về phía Nhà nước chưa có biện pháp hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả

1.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại

ở nước ta Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu có liên quan:

- Đề tài cấp Nhà nước “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do Thủ tướng Chính phủ giao cho Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2000, (Nguyễn Đình Hương làm chủ nhiệm) Đề tài đã đề xuất một số giải pháp cụ thể về đất đai, về vốn, về phát triển nguồn nhân lực,

về thị trường, về khoa học - công nghệ, về phát triển hạ tầng nông thôn, về phát triển công nghiệp chế biến và tăng cường quản lý Nhà nước đối với kinh tế trang trại Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đã được xuất bản thành sách:

“Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do Nguyễn Đình Hương làm chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)

Ngày đăng: 20/03/2020, 14:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w