1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Chuỗi Giá Trị Đậu Tương Tại Huyện Na Hang, Tỉnh Tuyên Quang

120 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Với mục đích: thông quan hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, đề tài luận văn tập trung đánh gi

Trang 1

––––––––––––––––––––––

CHẨU TRUNG KIÊN

NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẬU TƯƠNG TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

––––––––––––––––––––––

CHẨU TRUNG KIÊN

NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẬU TƯƠNG TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 8 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn Sơn

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn, trước nhà trường và phòng Đào tạo về các thông tin, số liệu trong đề tài luận văn này

Tác giả luận văn

Chẩu Trung Kiên

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, tôi đã hoàn thành xong đề tài luận văn cao học của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo cùng toàn thể các Thầy, Cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Dương Văn Sơn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, thiết kế nghiên cứu, phân tích số liệu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Na Hang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang, Phòng Nông nghiệp

và PTNT huyện Na Hang đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài luận văn này

Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Na Hang, tháng năm 2019

Học viên

Chẩu Trung Kiên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 7

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan 7

1.1.2 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 22

1.2.1 Tổng quan về đậu tương 22

1.2.2 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị có liên quan 30

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 38

2.2 Nội dung nghiên cứu 41

2.3 Phương pháp nghiên cứu 42

2.3.1 Phương pháp chọn điểm 42

Trang 6

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.3.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 44

3.4 Hệ thống chỉ nghiên cứu 45

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ đậu tương ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 48

3.1.1 Sản xuất đậu tương tại huyện Na Hang 48

3.1.2 Đặc điểm hoạt động của các hệ thống chợ tiêu thụ đậu tương ở huyện Na Hang 51

3.1.3 Giá bán đậu tương trên thị trường huyện Na Hang 52

3.1.4 Các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đậu tương 53

3.2 Chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương ở huyện Na Hang 54

3.2.1 Thực trạng ngành hàng đậu tương huyện Na Hang 54

3.2.2 Phân phối thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi 68

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang 71

3.3.1 Những ưu điểm và nhược điểm của chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương 71

3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang 72

3.4 Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương huyện Na Hang 78

3.4.1 Quan điểm 78

3.4.2 Một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị đầu tương huyện Na Hang 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Khuyến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 89

Trang 7

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

PTNT Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng mẫu điều tra 43

Bảng 2.2 Chi phí trung gian của các tác nhân chuỗi giá trị đậu tương 47

Bảng 3.1 Sản xuất đậu tương tại huyện Na Hang 49

Bảng 3.2 Thời vụ trồng đậu tương ở huyện Na Hang 50

Bảng 3.3 Giá bán đậu tương trên thị trường huyện Na Hang 52

Bảng 3.4 Các chương trình, dự án hỗ trợ sản xuất cây đậu tương Na Hang 54 Bảng 3.5 Hạch toán chi phí, lợi nhuận của người sản xuất đậu tương 60

Bảng 3.6 Thông tin hộ sản xuất đậu tương 61

Bảng 3.7 Tổng thu nhập và thu nhập từ đậu tương của người sản xuất 63

Bảng 3.8 Thu nhập của tác nhân thu gom đậu tương 65

Bảng 3.9 Thu nhập của tác nhân bán buôn đậu tương 66

Bảng 3.10 Thu nhập của tác nhân bán lẻ đậu tương 68

Bảng 3.11 So sánh thu nhập từ đậu tương của các tác nhân trong chuỗi 69

Bảng 3.12 Phân tích SWOT đậu tương huyện Na Hang 71

Bảng 3.13 Tổng hợp các nhu cầu của người tiêu dùng đậu tương huyện Na Hang 77

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ phác thảo chuỗi giá trị đậu tương Na Hang 57 Hình 3.2 So sánh thu nhập từ đậu tương của các tác nhân 70

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Với mục đích: thông quan hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, đề tài luận văn tập trung đánh giá thực trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương

và hoạt động của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị đậu tương tại địa bàn huyện Na Hang; Đánh giá những tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương của huyện, để từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Đề tài thực hiện thu thập số liệu sơ cấp bằng các phương pháp nghiên cứu thông dụng như điều tra bằng phiếu điều tra các tác nhân người sản xuất, người thu gom, bán buôn, bán lẻ và tiêu dùng đậu tương Số liệu điều tra được tổng hợp, phân tích và xử lý theo các phương pháp xác định

Kết quả nghiên cứu đã làm rõ được các nội dung sau đây:

- Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương tại địa bàn nghiên cứu

- Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị đậu tương và những điểm mạnh, điểm yếu của các tác nhân: hộ sản xuất, người thu gom, người chế biến, …

- Giải pháp phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Đề tài luận văn đã chỉ ra một số kết luận quan trọng sau đây:

Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang, tỉnh

Tuyên Quang chúng tôi có một số kết luận sau:

1- Tại huyện Na Hang đậu tương được sản xuất theo quy mô hộ gia đình Sản xuất đậu tương quy mô trang trại chưa xuất hiện, hệ thống các cơ sở, nhà máy biến đậu tương chưa hình thành Tiêu thụ đậu tương 100% là đậu tương chưa có một công nghệ bảo quản, chế biến nào được áp dụng Đậu tương Na Hang chưa có thương hiệu trên thị trường Tham gia trong chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang gồm các tác nhân chính: Người sản xuất,

Trang 11

người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ và người tiêu dùng

2- Diện tích trồng đậu tương và sản lượng đậu tương của huyện Na Hang mặc dù không lớn nhưng tương đối ổn định trong giai đoạn 2016-2018

và có xu hướng tiếp tục ổn định và gia tăng trong những năm tới theo qui hoạch ngành nông nghiệp của huyện Đậu tương được tiêu thụ phân phối đến người tiêu dùng ở các trong địa bàn tỉnh Tuyên Quang

3- Chuỗi giá trị đậu tương huyện Na Hang còn nhiều tiềm năng để tạo

ra GTGT cho sản phẩm đậu tương thông qua các hoạt động quảng bá, xúc tiến sản phẩm và tiếp cận thị trường Từ những điểm mạnh, cơ hội, điểm yếu, thách thức của ngành hàng đậu tương, nghiên cứu đã đề xuất giải pháp cụ thể cho từng tác nhân tham gia để nâng cấp chuỗi giá trị đậu tương của huyện Na Hang, theo hướng có lợi cho các tác nhân tham gia ngành hàng, đặc biệt là người trồng đậu tương

4- Trong chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương, giữa các tác nhân đã có những mối liên kết, chia sẻ thông tin sản xuất thị trường với các mức độ khác nhau Người sản xuất đã có chiến lược sản xuất đậu tương sớm tạo ra sự khác biệt về sản phẩm Sự phân bổ thu nhập và việc làm giữa các tác nhân cho thấy

có sự hợp lý nhất định Tuy nhiên, chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương vẫn còn có những hạn chế như: Các mối liên kết còn lỏng lẻo, chất lượng sản phẩm chưa được coi trọng, kết cấu tổ chức của chuỗi giá trị còn tách biệt, tác nhân chính trong chuỗi vẫn là người sản xuất mà chủ yếu là các hộ nông dân 5- Để hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện

Na Hang trong các năm tới cần nghiên cứu triển khai nhóm giải pháp cho toàn chuỗi và cho từng tác nhân tham gia chuỗi

6 - Do thực tế các nghiên cứu về chuỗi giá trị cung ứng hàng hoá dịch vụ còn ít, số liệu chưa cập nhật Xuất phát từ ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế của chuỗi, chúng tôi xét thấy cần có các nghiên cứu tiếp theo về chuỗi cung ứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất đậu tương và các hoạt động xuất khẩu

Trang 12

nhập khẩu đậu tương Ngoài ra cũng cần nghiên cứu đánh giá sâu hơn về nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng đậu tương

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là đất nước có trên 70% dân số làm nông nghiệp Trong hơn hai mươi năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, đảm bảo an ninh lương thực, đưa nước ta thành nước xuất khẩu nông sản lớn về các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thủy sản, Nông nghiệp là ngành duy nhất xuất siêu, góp phần ổn định cán cân thương mại và giúp vượt qua các cuộc khủng khoảng kinh tế Tuy nhiên, gần đây nông nghiệp cũng đứng trước những thử thách: “Được mùa mất giá, mất mùa được giá”; “Trồng - chặt”, Nguyên nhân của tồn tại là do chưa tạo dựng được thị trường của riêng mình và ổn định thị trường đầu ra, nếu không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước, nhất là thị trường quốc nội thì nông, ngư dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp cũng không thể

tiến xa hơn nữa

Trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng và

vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốc gia có sản lượng xuất khẩu nông sản lớn, nhưng tính bền vững trong sản xuất của chúng

ta chưa cao, hiện bộc lộ nhiều khiếm khuyết lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đến thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Các công đoạn tạo nên giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị nông sản hầu như đều nằm ở ngoài lãnh thổ Việt Nam như chế biến, phân phối, trong khi các công đoạn trong nước đều tạo ra giá trị gia tăng thấp, nhất là khâu sản xuất Do đó, nâng cao giá trị gia tăng thông qua việc tạo thêm giá trị ở mỗi khâu và phân chia hài hòa trong chuỗi sẽ góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của nông sản, cải thiện thu nhập của nông dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp

Trang 14

Cây đậu tương là cây công nghiệp, cây thực phẩm chiến lược có giá trị đối với đời sống con người Có vai trò cung cấp thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho gia súc và làm giàu cho chất đất Do đó cây đậu tương hiện nay không chỉ được trong vụ xuân như một số cây trồng phụ mà

nó đã trở thành cây trồng chính trong vụ Hè thu ở những vùng đồng bằng và trung du miền núi phía bắc, có thể thay thế hẳn cho vụ lúa mùa, trên các chân đất màu đồi, phù hợp với công thức luân canh ba vụ Đậu tương là cây gắn bó nhiều năm với người nông dân huyện Na Hang, do đặc tính dễ chăm sóc và có hương vị rất đặc trưng được người tiêu dùng trong và ngoài huyện rất ưa chuộng Xu hướng tiêu dùng cây đậu tương có dấu hiệu tăng trong những năm gần đây

Na Hang là huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Tuyên Quang, đã và đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn Tiềm năng phát triển thành vùng nguyên liệu đậu tương cho công nghiệp chế biến cũng như xuất khẩu chính là lợi thế rất lớn của nguời nông dân Tuy nhiên, lợi thế này chưa được khai thác tốt Thông tin về ngành hàng đậu tương đến với nông dân còn ít, sản xuất nhỏ lẻ, giá thành sản phẩm còn cao, các hoạt động liên quan đến sản xuất đậu trong chuỗi giá trị hàng hoá nông sản còn rời rạc, liên kết yếu, Điều này phần nào giải thích tại sao tốc độ tăng diện tích, sản lượng đậu tương chưa cao Trong khi đó thị trường tiêu thụ đậu tương của huyện Na Hang và các vùng lân cận rất lớn, nên việc gia tăng diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương là rất cần thiết Tuy nhiên, phần lớn lượng đậu tương làm ra được bán dưới dạng thô, chưa được qua sơ chế, chất lượng sản phẩm còn thấp, lại bị cạnh tranh với các bởi đậu tương Hà Giang, Bắc Kạn, Lào Cai,… cộng với trình độ canh tác của người nông dân còn hạn chế, cũng như quy mô diện tích trồng còn nhỏ lẻ, manh mún Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương trở nên rất cần thiết, nhằm góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, và do vậy sẽ góp

Trang 15

phần nâng cao lợi nhuận cho tất cả các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị tương, đặc biệt là người nông dân trồng đậu tương

Việc nghiên cứu chuỗi giá trị đậu tương tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho các nhà quản lý kinh tế, các nhà chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh đậu tương, những mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân trong chuỗi, từ đó đề xuất những giải pháp tác động hợp lý nhằm hình thành, hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương góp phần thúc đẩy việc mở rộng diện tích và tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân Xuất phát

từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang

- Đánh giá thực trạng sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đậu tương

và hoạt động của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị đậu tương tại địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Đánh giá những tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương của huyện

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương Đối tượng điều tra khảo sát của đề tài là các tác nhân của chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương, gồm: hộ sản xuất đậu tương, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng sản phẩm đậu tương

Trang 16

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chính như: Thực trạng sản xuất

và tiêu thụ đậu tương, chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương, các yếu tố ảnh ưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương và đề xuất các giải pháp hoàn thiện và phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

h Phạm vi về không gian

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện, song một số nội dung chuyên sâu được khảo sát tại tại một số xã, thị trấn, hộ gia đình sản xuất, hộ kinh doanh đậu tương

- Phạm vi về thời gian

Các thông tin thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ năm 2015 - 2017, thông tin sơ cấp thu thập năm 2018; Các giải pháp đề xuất

có thể áp dụng cho năm 2020 - 2025 và các năm tiếp theo

4 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

4.1 Đóng góp mới của đề tài luận văn

Đề tài đã xác định rằng: Sự hình thành phát triển của chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện Na Hang đã mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xã hội quan trọng như: thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo, phân công lại lao động nông thôn và tạo

ra sự liên kết chặt chẽ có trách nhiệm giữa các nhà sản xuất kinh doanh với người tiêu dùng sản phẩm đậu tương

Tại huyện Na Hang đậu tương được sản xuất theo quy mô hộ gia đình Sản xuất đậu tương quy mô trang trại chưa xuất hiện, hệ thống các cơ sở, nhà máy biến đậu tương chưa hình thành Tiêu thụ đậu tương 100% là đậu tương chưa có một công nghệ bảo quản, chế biến nào được áp dụng Đậu tương Na Hang chưa có thương hiệu trên thị trường Tham gia trong chuỗi giá trị ngành

Trang 17

hàng đậu tương huyện Na Hang gồm các tác nhân chính: Người sản xuất, ười thu gom, người bán buôn, người bán lẻ và người tiêu dùng

ng-Trong chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương, giữa các tác nhân đã có những mối liên kết, chia sẻ thông tin sản xuất thị trường với các mức độ khác nhau Người sản xuất đã có chiến lợc sản xuất đậu tương sớm tạo ra sự khác biệt về sản phẩm Sự phân bổ thu nhập và việc làm giữa các tác nhân cho thấy

có sự hợp lý nhất định Tuy nhiên, chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương vẫn còn có những hạn chế như: Các mối liên kết còn lỏng lẻo, chất lượng sản phẩm chưa được coi trọng, kết cấu tổ chức của chuỗi giá trị còn tách biệt, tác nhân chính trong chuỗi vẫn là người sản xuất mà chủ yếu là các hộ nông dân Các tác nhân khác như : người thu gom, bán buôn, bán lẻ và đặc biệt là người tiêu dùng có tác động rất ít tới sự phát triển của chuỗi, Chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương gần như mang tính một chiều Nguyên nhân do các yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan như rủi ro về thời tiết, khí hậu, rủi ro về dịch bệnh, giá cả, khó đề phòng Các yếu tố dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất đậu tương như: giống, vật tư, phân bón, thuốc BVTV, cần được kiểm soát tốt về chất lượng các loại hình dịch vụ sản xuất nông nghiệp (máy làm đất, thuỷ lợi, khuyến nông, ) hay các cơ sở hạ tầng (chợ, mạng lưới giao thông, thông tin liên đậu tương, ) cần được tăng cường, đầu tư và nâng cấp

Để hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng đậu tương huyện

Na Hang trong các năm tới cần nghiên cứu triển khai nhóm giải pháp cho toàn chuỗi và cho từng tác nhân tham gia chuỗi

Do thực tế các nghiên cứu về chuỗi giá trị cung ứng hàng hoá dịch vụ còn ít, số liệu chưa cập nhật Xuất phát từ ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế của chuỗi, chúng tôi xét thấy cần có các nghiên cứu tiếp theo về chuỗi cung ứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất đậu tương và các hoạt động xuất khẩu nhập khẩu đậu tương Ngoài ra cũng cần nghiên cứu đánh giá sâu hơn về nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng đậu tương

Trang 18

4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn những liên quan đến chuỗi giá trị đậu tương Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các dự án, chương trình hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt đợc một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững

4.3 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững chuỗi giá trị đậu tương tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tác giả hy vọng rằng, những giải pháp mà đề tài đề xuất sẽ được chính quyền huyện Na Hang, các cơ quan chuyên môn của huyện Na Hang và các địa phương khác có điều kiện tương tự như Na Hang có thể tham khảo, vận dụng, áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển sản xuất, tăng thu nhập và phát triển kinh tế

xã hội địa phương

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.1.1.1 Chuỗi sản xuất - cung ứng

Đây là khái niệm tương đối mới và sử dụng trong kinh tế thị trường với mục tiêu là sản xuất hàng hóa theo ngành hàng Từ quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau chúng tôi cho rằng, một chuỗi sản xuất được hiểu

đó là tất cả các bên tham gia vào một hoạt động kinh tế có sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó tới người tiêu dùng

Trong một chuỗi sản xuất - cung ứng: Dòng luân chuyển thông tin thường không phải là chủ yếu mà mục tiêu chính hướng đến là chi phí và giá Chiến lược sản xuất thường tập trung vào các sản phẩm, hàng hoá cơ bản Định hướng của chuỗi sản xuất - cung ứng chủ yếu là hướng cung, Vấn đề trọng tâm của chuỗi sản xuất chính là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

và kết cấu tổ chức trong chuỗi là các tác nhân tham gia độc lập

1.1.1.2 Chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ là nói đến những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi

Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng: Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất

Trang 20

định Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất

với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ xung giá trị cho sản phẩm cuối cùng

Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt

động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm

đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa

họ hình thành và phát triển như thế nào,

Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội

và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như đất đai, nước), có thể làm thoái hoá đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ, do quan hệ quyền lực giữa các hộ và cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc

dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị

Những mối quan ngại này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp Lý do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể

áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo

Trang 21

1.1.1.3 Ngành hàng

Theo Trần Tiến Khai (2000): Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière) được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất lúc

đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại một địa phương có thể được kết nối với công nghiệp chế biến, với thương mại, với xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng rộng rãi và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng

Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài

Theo Fabre (trích theo Trần Tiến Khai và nnk, 2011): “Ngành hàng được

coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng” Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hoạt

động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ Nói cách khác ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sản phẩm, chế biến và đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm nông nghiệp

Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp

Trang 22

Như vậy, nói đến ngành hàng là hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan

hệ móc xích với nhau Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó

Sự dịch chuyển được xem xét theo ba dạng sau:

- Sự dịch chuyển về mặt thời gian:

Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác

Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ

Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm

- Sự dịch chuyển về mặt không gian:

Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ

- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm):

Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra

Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính

sách Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô

Trang 23

hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau

và các phương thức điều tiết” (trích theo Trần Tiến Khai và nnk, 2011)

Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chúng ta thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ

1.1.1.4 Tác nhân

Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự

quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ Tác nhân được phân ra làm hai loại:

- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh, )

- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy, ) Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp

các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các

hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi

không gian phân tích

Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn, Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch

về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nó

Trang 24

cho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì

ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng

1.1.1.5 Sản phẩm

Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng Sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất của rừng tác nhân Do tính chất phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính Sản phẩm của ngành hàng thường lấy tên sản phẩm của tác nhân đầu tiên

1.1.2 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị

Phân tích chuỗi giá trị có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, theo nhiều tác giả, các phương pháp này được chia thành ba phương pháp hay bước cơ bản sau đây:

- Lập bản đồ chuỗi giá trị

- Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị

- Phân tích kinh tế đối với các chuỗi giá trị và so sánh đối chuẩn

Ngoài ra, nghiên cứu thị trường và phân tích trở ngại cũng là những nội dung có liên quan chặt chẽ tới phân tích chuỗi giá trị Bởi vì việc lập bản đồ các kênh thị trường cùng với các phân tích kinh tế là những đầu vào quan trọng trong nghiên cứu thị trường và phân tích trở ngại sẽ chuẩn bị cho việc xây dựng một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị

1.1.2.1 Lập bản đồ chuỗi giá trị

Lập bản đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị Các bản đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh, các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này Các bản đồ chuỗi là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào nên chúng là yếu tố không thể thiếu

Trang 25

Bản đồ chuỗi giá trị bao gồm nhiều loại bản đồ với các chức năng và mức độ chi tiết khác nhau, về cơ bản có các loại bản đồ sau đây:

- Bản đồ cơ sở (bản đồ tổng thể):

Bản đồ cơ sở cung cấp cái nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi giá trị Bản

đồ cơ sở này cần mô tả các liên kết chính hay các phân đoạn của chuỗi giá trị với các nội dung:

+ Các giai đoạn sản xuất và các chức năng marketing

+ Các nhà vận hành chuỗi giá trị thực hiện những chức năng này

+ Các liên kết kinh doanh dọc giữa các nhà vận hành

Ba yếu tố của bản đồ cơ sở đại diện cho cấp vi mô của chuỗi giá trị Ở cấp này giá trị gia tăng sẽ được tạo ra Các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà

hỗ trợ cấp trung (các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ) cũng có thể nằm trong bản

đồ chuỗi

Các bước xây dựng một bản đồ chuỗi giá trị tổng thể:

+ Xác định sản phẩm cuối cùng

+ Xác định thị trường cuối cùng/Nhóm khách hàng cuối cùng

+ Lập danh sách các hoạt động/chức năng hiện đang được thực hiện để đưa sản phẩm cuối cùng ra thị trường Bắt đầu từ điểm bán cuối cùng (cửa hàng tiêu thụ/đại lý trên thị trường nội địa hoặc các nhà xuất khẩu), sau đó quay ngược lại với các hoạt động sản xuất và marketing cần thiết để bán sản phẩm trên thị trường

+ Lập danh sách các hoạt động/chức năng từ cung cấp các đầu vào kỹ thuật đặc thù cho đến hoạt động bán hàng cuối cùng

+ Xây dựng kênh chính bằng cách xác định các nhà vận hành thực hiện các chức năng của chuỗi

- Bản đồ tiểu chuỗi (các kênh):

Bản đồ tiểu chuỗi phản ánh cụ thể chuỗi giá trị tổng thể và bổ sung thêm nhiều chi tiết có liên quan nhưng chưa được phản ánh ở bản đồ tổng thể Bản

Trang 26

đồ tổng thể có thể mô tả các “tiểu chuỗi” tương ứng với các sản phẩm cụ thể

khác nhau và các kênh phân phối khác nhau Nhưng bản đồ tiểu chuỗi còn mô tả thêm các kênh cung cấp thay thế và các thị trường mà các kênh này hướng tới

- Bản đồ các liên kết chuỗi và quản trị điều hành:

Quản trị chuỗi phản ánh cách thức phối hợp các nhà vận hành chuỗi trong tất cả các giai đoạn của chuỗi Mổi quan hệ giữa các nhà vận hành có thể là một trao đổi thị trường tự do hay các hợp đồng liên kết Loại hình liên kết phụ thuộc vào chất lượng và tính phức tạp của sản phẩm cuối cùng Các kiểu quan hệ khác nhau có thể được mô hình hóa một cách dễ dàng trên bản

đồ chuỗi bàng các ký hiệu khác nhau

- Bản đồ các nhà hỗ trợ chuỗi (cấp trung):

Chức năng cơ sở và nhà vận hành chuỗi là thuộc cấp trung trong chuỗi giá trị, có nghĩa là các chủ thể trong thị trường tương ứng bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ vận hành Ngoài cấp độ vi mô, các chuỗi giá trị còn có thể được mô tả ở cấp trung, bao gồm cả các cơ quan và các tổ chức kinh doanh đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng kinh doanh và cung cấp các dịch vụ

hỗ trợ

Các nhà hỗ trợ chuỗi bao gồm các hiệp hội kinh doanh, các hiệp hội công nghiệp, các cơ quan chuyên biệt của ngành, các vụ chuyên biệt, các đơn vị trong

cơ quan nhà nước, các quỹ phát triển hoặc các chương trình phát triển

1.1.2.2 Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị

Các biến số trong chuỗi giá trị luôn biến động theo thời gian Do vậy, việc lượng hóa chuỗi giá trị sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá, so sánh tình trạng hiện tại và dự báo tiềm năng của chuỗi trong tương lai

Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị bao gồm các con số kèm theo bản đồ chuỗi cơ sở như số lượng chủ thể, lượng sản xuất hay thị phần của các phân đoạn cụ thể trong chuỗi Tùy thuộc vào từng mối quan tâm cụ thể mà các phân tích chuỗi tập trung vào bất kỳ khía cạnh nào có liên quan

Trang 27

như các đặc tính của chủ thể, các dịch vụ hay các điều kiện về chính trị, luật pháp và thể chế có tác dụng ngăn cản hoặc khuyến khích phát triển chuỗi

a) Lượng hóa bản đồ chuỗi cơ sở

Lượng hóa bản đồ chuỗi cơ sở có nghĩa là hoạt động bổ sung các con số

về các thành tố của bản đồ chuỗi như:

- Số lượng các nhà vận hành (quy mô của các trang trại và doanh nghiệp)

- Số lượng việc làm và người lao động của môi nhóm nhà vận hành

- Số lượng các nhà vận hành là người nghèo trong tòng giai đoạn

- Tỷ trọng các dòng sản phẩm của các tiểu chuỗi/các kênh phân phối khác nhau

- Thị phần của chuỗi giá trị (hoặc tiểu chuỗi giá trị) được tính bằng phần trăm giá trị bán ra trên toàn bộ thị trường

b) Phóng to: Lập bản đồ các thành tố và phân đoạn trong chuỗi:

Các phân tích miêu tả có thể được xây dựng chi tiết hơn thông qua việc

cụ thể hóa các phần trong bản đồ chuỗi cơ sở, từ đó tạo ra các bản đồ theo chủ điểm như mô tả các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ, mối quan hệ tương tác của các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ với các nhà vận hành trong chuỗi lớn

Lập bản đồ chi tiết là một kiểu phóng to theo tỷ lệ giống như các bản đồ địa lý, bản đồ chuỗi tổng thể có tỷ lệ nhỏ, trong khi các bản đồ chi tiết về các phân đoạn cụ thể của chuỗi hoặc các kênh phân phối có tỷ lệ lớn Xây dựng bản đồ chi tiết của chuỗi sẽ có ích hơn là đề cập quá nhiều thông tin vào một bản đồ chuỗi duy nhất

c) Các nghiên cứu chuỗi đặc biệt

- Các phân tích liên kết kinh doanh và quản trị điều hành

Phân tích các liên kết kinh doanh bao gồm việc xác định mức độ và tính bền vững của hợp tác, sự có mặt của các công ty đầu mối, thái độ và cam kết của họ Ngoài ra còn phân tích các xung đột nảy sinh từ những khác biệt của các bên đàm phán, các thông tin không cân xứng và sự cạnh tranh nguồn lực giữa các nhà vận hành chuỗi

Trang 28

Các nghiên cứu liên kết kinh doanh cũng bao gồm cả cấp độ tổ chức ngành, đặc biệt là năng lực của các hiệp hội kinh doanh thương mại

- Các phân tích thành phần tham gia

Mỗi nhóm nhà vận hành và nhà cung cấp dịch vụ thường có các đặc tính liên quan đến khả năng tham gia của họ vào một dự án nâng cấp chuỗi giá trị Một phân tích thành phần tham gia là đặc biệt quan trọng trong trường hợp các chủ thể tham gia thị trường là những người nghèo và có năng lực yếu

kém số lượng các nhà vận hành chuỗi được xếp thành ba mức “siêu nhỏ”,

“nhỏ” hoặc “trung bình”

Phân tích thành phần tham gia bao gồm các nội dung về thu nhập, số lượng thành viên tham gia, chi phí, khả năng kỹ thuật, quản lý, marketing, tiếp cận thị trường, năng lực phối hợp theo chiều ngang và chiều dọc,

Các điều kiện khung ở cấp vĩ mô

Việc đánh giá khung pháp luật và các điều kiện vĩ mô của phát triển chuỗi bao gồm nghiên cứu các chính sách thương mại quốc tế và các chính sách quốc gia có liên quan, đồng thời nghiên cứu các điều luật hiện hành về thị trường đang đề cập đến Ngoài ra cũng cần nghiên cứu các yếu tố về xã hội và văn hóa quyết định hành vi kinh doanh

1.1.2.3 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị

Trong quá trình phân tích chuỗi giá trị ngành hàng, tuỳ yêu cầu của ngành hàng, có thể sử dụng các công cụ sau đây để phân tích:

a) Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích

- Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chon một số nhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được

- Các câu hỏi chính có thể sử dụng khi lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên là:

Trang 29

+ Việc chọn những chuỗi giá trị để phân tích dựa trên những tiêu chí chính nào?

+ Có những chuỗi giá trị tiềm năng nào có thể phân tích?

+ Sau khi áp dụng những tiêu chí lựa chọn, những chuỗi giá trị nào là thích hợp nhất để phân tích?

- Các bước tiến hành thực hiện công cụ này như sau:

Quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựa chọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm Bốn bước này bao gồm việc xác định một hệ thống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ

tự ưu tiên các chuỗi giá trị, đánh giá tương đối mức độ quan trọng của các tiêu chí đó, xác định các tiểu ngành, sản phẩm, hàng hóa tiềm năng có thể xem xét

và sau đó lập một ma trận để xếp thứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên Lựa chọn ưu tiên cuối cùng có thể xác định dựa vào kết quả xếp loại đạt được

b) Lập sơ đồ chuỗi giá trị

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn

- Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm 3 mục tiêu sau:

+ Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân và các quy trình trong một chuỗi giá trị

+ Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị

+ Cung cấp cho các bên có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị

- Các câu hỏi chính: Không có sơ đồ chuỗi giá trị nào hoàn toàn toàn diện và bao gồm tất cả mọi yếu tố Việc quyết định lập sơ đồ những gì phụ

Trang 30

thuộc vào các nguồn lực ta có, phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu và nhiệm

vụ của tổ chức của chúng ta Một chuỗi giá trị, cũng như thực tiễn, có rất nhiều khía cạnh: dòng sản phẩm thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích luỹ được, Vì vậy, việc chọn xem sẽ đưa vào những khía cạnh nào mà ta muốn lập sơ đồ là rất quan trọng

Những câu hỏi sau có thể hướng dẫn chọn những vấn đề nào để đưa vào

sơ đồ:

+ Có những quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị?

+ Ai tham gia vào những quy trình này và họ thực tế làm những gì? + Có những dòng sản phẩm, thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị? + Khối lượng của sản phẩm, số lượng những người tham gia, số công việc tạo ra như thế nào?

+ Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đâu và được chuyển đi đâu? + Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị?

+ Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?

+ Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi giá trị?

- Lập sơ đồ chuỗi giá trị bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Lập sơ đồ các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị

+ Bước 2: Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình này

+ Bước 3: Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức

+ Bước 4: Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và số công việc

+ Bước 5: Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý

+ Bước 6: Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị

+ Bước 7: Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị

Trang 31

+ Bước 8: Lập sơ đồ các dịch vụ kinh doanh cung cấp cho chuỗi giá trị

c) Chi phí và lợi nhuận

Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một

số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói một cách đơn giản hơn, là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra

và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được

- Để xác định được chi phí và lợi nhuận chúng ta cần dựa vào một số câu hỏi chính sau:

+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia là

gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?

+ Thu nhập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao nhiêu? Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia là bao nhiêu? + Lợi nhuận thuần, lợi nhuận biên và mức hoà vốn của mỗi người tham gia là bao nhiêu?

+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên thay đổi theo thời gian như thế nào?

+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên được phân chia giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?

+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn so với các chuỗi giá trị sản phẩm khác? Nói cách khác, chi phí cơ hội của việc thuê mua các nguồn lực sản xuất cho chuỗi giá trị cụ thể này là thế nào?

+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn các chuỗi giá trị tương tự ở những nơi khác?

+ Nguyên nhân của việc phân chia chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị là gì?

d) Phân tích công nghệ và kiến thức của các tác nhân tham gia trong chuỗi

Công cụ này giúp xem xét xem những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị đang sử dụng những công nghệ như thế nào? công nghệ này có phù hợp

Trang 32

với họ hay không và liệu có thể thay thổi để cải thiện giá trị của sản phẩm được không?

- Mục tiêu của công cụ này:

+ Để phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ trong việc sử dụng trong chuỗi giá trị

+ Để đảm bảo một loại hình của công nghệ hiện tại và đòi hỏi trong chuỗi giá trị

+ Để phân tích tính hợp lý của công nghệ (có đủ điều kiện, hợp, có thể tiếp cận, có thể tái tạo và thay thế) phù hợp với những kỹ năng của công nghệ

ở các mức khác nhau của chuỗi giá trị

+ Để phân tích các lựa chọn nâng cao trong chuỗi giá trị cung cấp những chất lượng đồi hỏi của sản phẩm đầu ra

+ Phân tích tác động của đầu tư bên ngoài trong kiến thức và công nghệ

e) Phân tích các thu nhập trong chuỗi giá trị

Phân tích tác động của việc tham gia vào các chuỗi giá trị tới việc phân

bổ thu nhập trong và giữa các mức khác nhau của chuỗi giá trị ở cấp bậc của người tham gia đơn lẻ; Phân tích tác động của các hệ thống quản trị chuỗi giá trị khác nhau tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng; Miêu tả sự tác động của sự phân bổ thu nhập tới người nghèo và những nhóm người yếu thế và tiềm năng đối với sự giảm nghèo từ các chuỗi giá trị khác nhau

g) Phân tích việc làm trong chuỗi giá trị

Mục đích của việc phân tích này là: Để phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa và trong các cấp khác nhau của chuỗi giá trị

ở cấp người tham gia cá nhân; Miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị

và trong số những tầng lớp giàu khác nhau và làm thế nào để người nghèo và nhóm yếu thế có thể tham gia vào chuỗi; Miêu tả sự năng động của việc làm trong và dọc theo chuỗi giá trị và sự bao gồm, tách rời người nghèo và các nhóm yếu thế; Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi

Trang 33

giá trị đến sự phân bổ việc làm; Phân tích sự tác động của các chiến lược nâng cao khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm

h) Quản trị và các dịch vụ

Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm điều tra các quy tắc hoạt động trong chuỗi giá trị và đánh giá sự phân phối quyền lực giữa những người tham gia khác nhau Quản trị là một khái niệm rộng bao gồm hệ thống điều phối, tổ chức và kiểm soát mà bảo vệ và nâng cao việc tạo ra giá trị dọc theo chuỗi Quản trị bao hàm sự tác động qua lại giữa những người tham gia trong chuỗi là không ngẫu nhiên, nhưng được tổ chức trong một hệ thống cho phép đáp ứng những đòi hỏi cụ thể về sản phẩm, phương pháp và hậu cần Ví dụ, việc tham gia thị trường quốc tế thường phụ thuộc vào sự tuân thủ những quy định và chuẩn mực quốc tế; một hệ thống quản trị hiệu quả đảm bảo rằng những chuẩn mực yêu cầu có thể được đáp ứng bởi tất cả các khâu trong chuỗi Phân tích quản trị và các dịch vụ có thể giúp xác định đòn bẩy can thiệp nhằm tăng tính hiệu quả chung của chuỗi giá trị Các quy tắc có thể không được lập ra một cách đầy đủ và duy trì yếu, làm giảm các khả năng tạo

ra giá trị Việc phân tích các dịch vụ và quản trị cũng có thể giúp đánh giá lợi thế và bất lợi của các quy tắc đối với các nhóm khác nhau, do vậy khám phá

ra các khó khăn hệ thống ảnh hưởng tới những người tham gia yếu hơn Việc phân tích các dịch vụ và quản trị có thể giúp hiểu những vấn đề quan trọng liên quan đến việc hoà nhập của người nghèo vào chuỗi giá trị Trước hết rất quan trọng để sử dụng phân tích quản trị để xác định xem liệu người nghèo có tiếp cận được với các nguồn lực hay liệu có những rào cản cơ cấu đối với tiếp cận chuỗi giá trị Ví dụ, khi các nguồn lực được kiểm soát bởi một số ít những người tham gia có quyền lực liên quan bởi tình bạn hay quan hệ tin tưởng thì người tham gia mới muốn tham gia vào chuỗi sẽ gặp phải những rào cản về kinh tế và xã hội Trong một chuỗi giá trị mà bị thống trị bởi một vài người tham gia trung tâm thì người nghèo sẽ có khả năng ở thế bất lợi

Trang 34

1.1.2.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước, Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:

Thứ nhất, phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ

thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể

Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định

sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển (nhất là về nông nghiệp) khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa

Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc

nâng cấp chuỗi giá trị

Thứ tư, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị

chuỗi giá trị

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tổng quan về đậu tương

1.2.1.1 Mô tả sơ bộ về đặc điểm hình thái cây đậu tương

- Rễ: đậu tương (còn gọi là đậu nành) là cây hai lá mầm có rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 - 40 cm, độ ăn lan khoảng 20 - 40 cm Trên rễ có các nốt sần cố định đạm do vi khuẩn cộng sinh Rhizobium japonicum Nốt sần hữu hiệu là nốt sần khi cắt ra có màu hồng

Trang 35

- Thân: thân cây đậu tương có màu xanh hoặc tím ít phân cành, có từ 14 -15 lóng, chiều cao cây trung bình từ 0,5 - 1,2 m

- Lá: gồm có các dạng lá theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây: lá mầm, lá đơn và lá kép có 3 lá chét

- Hoa: Hoa đậu nành thuộc hoa cánh bướm, mọc thành chùm trung bình mỗi chùm có từ 7 – 8 hoa, hoa có màu tím hoặc trắng Hoa đậu tương ra nhiều nhưng tỷ lệ đậu quả thấp 20-30%

- Quả (trái): Thuộc loại quả nang tự khai, số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗi chùm hoa và có thể đạt tới 400 quả trên một cây, mỗi quả trung bình có từ 2 – 3 hạt, có khi có 4 hạt Quả mọc ra từ đốt cây đậu, những đốt ở phía gốc thường quả ít hoặc không có quả, từ đốt thứ 5-6 trở lên tỷ lệ đậu quả cao và quả chắc nhiều Trên cành thường từ đốt 2-3 trở lên mới có quả chắc, những quả trên đầu cành thường lép nhiều

- Hạt: hạt có hình tròn, bầu dục, tròn dẹp; màu vàng, vàng xanh, nâu đen Trong hạt, phôi thường chiếm 2%, 2 lá tử điệp chiếm 90% và vỏ hạt 8% tổng khối lượng hạt Hạt to nhỏ khác nhau tuỳ theo giống, khối lượng một nghìn hạt thay đổi từ 20-400g trung bình từ l00g-200g Rốn hạt của các giống khác nhau thì có màu sắc và hình dạng khác nhau, đây là một biểu hiện đặc trưng của các giống

1.2.1.2 Dinh dưỡng trong hạt đậu tương

Cây đậu tương có tên khoa học là Glycine max Merr, là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao

Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prôtein trung bình khoảng từ 35,5 - 40% Trong khi đó hàm lượng prôtein trong gạo chỉ 6,2

- 12%; ngô: 9,8 - 13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 - 20% và trứng: 13

- 14,8%, lipit từ 15- 20%, hyđrát các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtit và lipit Prôtein của

Trang 36

đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các prôtein có nguồn gốc thực vật Hàm lượng prôtein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng prôtein có trong cá, thịt và cao gấp 2 lần so với các loại đậu đỗ khác

Hàm lượng axít a min quan trọng có chứa lưu huỳnh như Methionin và Sixtin của đậu tượng cao gần bằng hàm lượng các chất này có trong trứng gà Hàm lượng Cazein, đặc biệt Lisin cao gần gấp rưỡi lần chất này có trong trứng Vì thế mà khi nói về giá trị của prôtein trong hạt đậu tương là nói đến hàm lượng prôtein cao và sự cân đối của các loại axít amin cần thiết Prôtein của đậu tương dễ tiêu hoá hơn thịt và không có các thành phần tạo Cholesterol Ngày nay người ta mới biết thêm hạt đậu tương có chứa lexithin,

có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tăng thêm trí nhớ, tái tạo các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể

Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng Lipit của đậu tương chứa tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như: axit Linoleic chiếm 52-65%, Oleic từ 25-36%, Linolenolic khoảng 2-3% Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ

mỡ động mạch

Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đáng chú ý là hàm lượng vitamin B1 và B2 ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C, Đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều, nhất là vitamin C Phân tích thành phần sinh hoá cho thấy trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần khác như: vitamin PP, và nhiều chất khoáng khác như Ca, P, Fe, Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4.700 cal/kg Vì có nhiều đạm chất nên đậu nành đã được coi như “thịt không xương” ở nhiều quốc gia Á châu Tại Nhật Bản, Trung Hoa có tới 60% đạm tiêu thụ hàng ngày đều do đậu nành cung cấp

Trang 37

Đạm này rất tốt để thay thế cho thịt động vật vì có ít mỡ và Cholesterol Đậu nành có nhiều đạm chất hơn thịt, nhiều calcium hơn sữa bò, nhiều lecithin hơn trứng Các Amino acid cần thiết mà cơ thể không tạo ra được thì đều có trong đậu nành Khi đậu nành ăn chung với một số ngũ cốc như ngô bắp thì

nó sẽ bổ sung một số amino acid mà ngô không có Với trẻ em, chất đạm của đậu nành là món ăn quý giá cho các em bị dị ứng với sữa bò hoặc không tiêu thụ được đường Lactose Đậu nành sẽ giúp các em tăng trưởng tốt

1.2.1.3 Các sản phẩm từ đậu tương

Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu tương, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu tương, okara, đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần

ăn hàng ngày của người cũng như gia súc Hiện nay, từ hạt đậu tương người

ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm thực phẩm được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi, khô và lên men như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu, đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương, bánh kẹo và thịt nhân tạo, Đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột Đậu tương là thức ăn tốt cho những người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng

Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị

1.2.1.4 Sản xuất đậu tương

Trên thế giới, đậu tương là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á Các nước trồng đậu

Trang 38

tương đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lượng là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc,…

Ở nước ta, đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất, chiếm khoảng 38% tổng diện tích đậu tương của

cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạ/ha Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương ở trung du miền núi thấp như chưa có bộ giống tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương Ở miền Bắc nước ta, đậu tương được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Giang,… và Đồng Bằng Sông Hồng

Trên thực tế, sản xuất đậu tương ở Việt Nam tiếp tục không đáp ứng cho nhu cầu của ngành công nghiệp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và công nghiệp ép dầu Mặc dù không bị cạnh tranh bởi điều kiện tự nhiên

và kế hoạch của Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên phát triển trồng đậu nành lên đến 350.000 ha với sản lượng 700.000 tấn vào năm 2020 Nhưng kế hoạch này đang gặp khó khăn do chi phí sản xuất đậu tương trong nước cao, năng suất thấp và quỹ đất nông nghiệp không còn

1.2.1.5 Tiêu thụ, xuất nhập khẩu và giá cả đậu tương

a) Tiêu thụ

Đậu nành sản xuất trong nước và nhập khẩu sử dụng cho người và thức

ăn chăn nuôi Đậu nành sản xuất trong nước dùng để chế biến nhiều loại thực phẩm như tàu hũ, sữa đậu nành, sữa bột đậu nành, một ít dùng để sản xuất nước tương, tương, chao, Đậu nành trong nước hiếm khi sử dụng để làm thức ăn chăn nuôi Đậu nành nhập khẩu sử dụng cho 2 nhà máy ép dầu đậu

Trang 39

nành đưa vào hoạt động bắt đầu từ năm 2011 Trong tổng số đậu nành hạt nhập khẩu, 80% sử dụng cho ép dầu, 5% để sản xuất thức ăn chăn nuôi, và 15% thực phẩm cho người

Nhu cầu về lượng protein (bao gồm đậu nành hạt và bã đậu nành) cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi và thủy sản tăng mạnh trong thời gian gần đây Chẳng hạn: Sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng 10,2% năm 2012 so với năm trước đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT ước tính sản lượng thức ăn chăn nuôi đạt 14 triệu tấn để sản xuất 4,7 triệu tấn thịt năm 2013 Nguồn protein từ đậu nành chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần thức ăn chăn nuôi Hơn nữa, nhu cầu sử dụng dầu thực vật, trong đó có dầu đậu nành ngày càng tăng Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu đậu nành nhưng nhu cầu dầu đậu nành trong thời gian tới không tăng mạnh bằng bã đậu nành

Hiện nay, Việt Nam có 2 nhà máy ép dầu đậu nành Bunge và Quang Minh Nhà máy Quang Minh có khả năng ép 4,000 tấn/ngày Năm 2012, Công ty Bunge Việt Nam ép 900.000 tấn đậu nành nhập từ Mỹ, Argentina và Brazil, sản xuất 650.000 tấn bã đậu nành và 180,000 tấn dầu đậu nành đưa ra thị trường Công ty Bunge nâng công suất lên 1 triệu tấn đậu nành bắt đầu từ năm 2013 Hàng năm, Công ty Quang Minh sử dụng khoảng 140 000 tấn đậu nành chủ yếu nhập từ Mỹ, Canada, Argentina và Paraguay Một nguồn tin đáng tin cậy cho biết: nhà máy Quang Minh đang có kế hoạch nhập 250.000 tấn đậu nành ép dầu năm 2013 Dựa trên các số liệu nêu trên, niên vụ 2011/12 lượng đậu nành ép dầu đạt 1,04 triệu tấn, và niên vụ 2012/13 đạt 1,23 triệu tấn Dự báo niên vụ 2013/14 ép đậu nành đạt 1,3 triệu tấn dựa vào năng lức của các nhà máy

Tiêu thụ thực phẩm đậu nành tiếp tục tăng trưởng mỗi năm khoảng 8% Niên vụ 2012/13 và 2013/14 đạt lần lượt 340.000 tấn và 360.000 tấn

6-b) Nhập khẩu

Việt Nam là nước luôn phải nhập khẩu đậu tương Ví dụ, nhập khẩu đậu tương năm 2012 lên đến 1,29 triệu tấn, tăng 26 % so với năm 2011; trong đó

Trang 40

có 36 % nhập từ Mỹ Đậu nành Mỹ xuất sang Việt Nam lên đến 461.000 tấn, gấp đôi năm 2011 do nhu cầu cho chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và thủy sản tăng Dự báo năm 2013 và 2014 và các năm tiếp theo Việt Nam sẽ nhập 1,45 triệu tấn và 1,55-1,9 triệu tấn đậu nành

Một ví dụ khác, năm 2012 Việt Nam sản xuất được 214.000 tấn dầu đậu nành, nhưng vẫn tiếp tục nhập 669.000 tấn dầu thô và dầu tinh chế Năm

2012, dầu tinh chế tăng 43 % so với năm trước đạt 605.000 tấn do thuế nhập khẩu bằng không khi nhập từ nước khối ASEAN Sản xuất dầu thô trong nước tăng lên nên nửa loại dầu này giảm 79 % so với năm trước Dự báo nhập khẩu dầu thực vật năm 2013 chỉ còn 670.000-740.000 tấn, do sản xuất trong nước tăng lên Năm 2012, Việt Nam xuất 114.000 tấn dầu thực vật Trong đó dầu đậu nành xuất 110.000 tấn và 120.000 tấn cho niên vụ 2012/2013 và 2013/2014

Mặc dù sản xuất đậu tương ở trong nước không bị cạnh tranh, kế hoạch của chính phủ Việt Nam ưu tiên phát triển sản xuất cây có dầu với mục tiêu đưa diện tích lên 350.000 ha và sản lượng đạt 700.000 tấn vào năm 2020 Kế hoạch này tập trung phát triển ở đồng bằng sông Hồng, vùng đồi núi ở phía Bắc và Tây Nguyên Tuy nhiên kế hoạch này đang gặp khó khăn do chi phí đầu tư cao, năng suất thấp và tốc độ mở rộng diện tích chậm Theo các nhà máy chế biến đậu nành, giá đậu nành trong nước 16.000-17.000 đồng/kg (0,77-0,82 USD/kg), đắt hơn so với đậu nành nhập khẩu chỉ có 14,600- 15,000 đồng/kg (tức $0,70-$0,71) Đây là trở ngại chính của phát triển sản xuất đậu nành trong tương lai

Hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang ban hành qui định khung (Regulatory framework) đánh giá và xét duyệt các giống cây trồng chuyển gene và sử dụng chúng trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi Bộ cũng đang xây dựng qui trình (Circular on the Procedure) chứng nhận an toàn sinh học cho các sản phẩm chuyển gene Qui trình này sẽ là khung pháp lý cơ bản để

Ngày đăng: 20/03/2020, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w