1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Nông Nghiệp Tại Huyện Na Hang, Tỉnh Tuyên Quang

158 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bảng hỏi bao gồm các thông tin liên quan đến đặc điểm danh tính của doanh nghiệp tên doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, trụ sở chính, địa bàn hoạt động, người đại diện t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN NA HANG,

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN NA HANG,

TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 8 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn, trước nhà trường và phòng Đào tạo về các thông tin, số liệu trong đề tài luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thanh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, tôi đã hoàn thành xong đề tài luận văn cao học của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo cùng toàn thể các Thầy, Cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Dương Văn Sơn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, thiết kế nghiên cứu, phân tích

số liệu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Na Hang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang, Phòng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn huyện Na Hang đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành

đề tài luận văn này

Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019

Học viên

Nguyễn Văn Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận văn 3

3 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.1.1 Doanh nghiệp, nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp 6

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 22

1.2.1 Thực tiễn phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam và một số địa phương 22

1.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan đến doanh nghiệp nông nghiệp 30 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 40

Trang 6

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42

3.1 Văn bản pháp lý và thực trạng phát triển doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề và doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang 43 3.1.1 Một số văn bản pháp lý có liên quan đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 43 3.1.2 Thực trạng phát triển doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề và doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang 43 3.2 Khó khăn, thách thức và một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 54 3.2.1 Khó khăn, thách thức 54 3.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề huyện Na Hang 58 3.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang 65 3.3 Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 70 3.3.1 Quan điểm, định hướng 70 3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 7

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Hiệp định Thương mại tự do

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng Chính phủ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Quy định pháp luật về quy mô doanh nghiệp 11 Bảng 3.1 Số lượng các doanh nghiệp theo các ngành nghề huyện

Na Hang 44 Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp huyện Na Hang 45 Bảng 3.3 Số lượng và tỷ lệ ngành nghề kinh doanh của các doanh

nghiệp 45 Bảng 3.4 Lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp 46 Bảng 3.5 Tỷ lệ loại hình doanh nghiệp theo các ngành nghề huyện

Na Hang 46 Bảng 3.6 Tỷ lệ loại hình doanh nghiệp nông nghiệp 48 Bảng 3.7 Địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp theo các ngành

nghề 48 Bảng 3.8 Địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp 49 Bảng 3.9 Một số thông tin về doanh nghiệp theo các ngành nghề 50 Bảng 3.10 Một số thông tin về doanh nghiệp nông nghiệp 51 Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp theo các ngành

nghề 52 Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp nông nghiệp 53 Bảng 3.13 Diễn giải các biến số trong mô hình hồi quy đa biến ảnh

hưởng đến phát triển doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề 59 Bảng 3.14 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởng đến doanh thu,

lợi nhuận và thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề 61 Bảng 3.15 Diễn giải các biến số trong mô hình hồi quy đa biến ảnh

hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 65

Trang 9

Bảng 3.16 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởng đến doanh thu,

lợi nhuận và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp nông nghiệp 67

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Mục đích nghiên cứu

1.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Chỉ ra những khó khăn, thách thức, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Từ đó đề xuất giải pháp tăng cường phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Phân tích khó khăn thách thức, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất giải pháp tăng cường phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập số liệu thứ cấp

Đề tài tiến hành tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu Các

số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ: Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Nông nghiệp & PTNT, Hiệp Hội Doanh nghiệp huyện Na Hang, Chi cục Thống kê

Trang 10

huyện Na Hang, UBND huyện, các công trình nghiên cứu đã triển khai, Trên

cơ sở tổng hợp phân tích một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để rút ra những vấn đề có tính lý thuyết, lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại địa phương

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập số liệu sơ cấp bằng các phương pháp chính sau đây:

a) Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra hay còn gọi là bảng hỏi Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn Nội dung của bảng hỏi bao gồm các thông tin liên quan đến đặc điểm danh tính của doanh nghiệp (tên doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, trụ sở chính, địa bàn hoạt động, người đại diện theo pháp luật, giới tính, tuổi, học vấn, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh đối với doanh nghiệp nông nghiệp, ), nguồn lực của doanh nghiệp (vốn đăng

ký, số lao động, thời gian hoạt động, năm bắt đầu hoạt động, ), một số chỉ tiêu kết quả sản xuất, hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, thu nhập người lao động, ), khó khăn thách thức,

Điều tra tất cả 48 doanh nghiệp hoạt động trên tất cả các ngành nghề và lĩnh vực tại địa bàn huyện Na Hang Trong đó có 25 doanh nghiệp nông lâm nghiệp và 23 doanh nghiệp công nghiệp-xây dựng-giao thông vận tải

Số liệu điều tra được nhập trên Excel dựa trên form đã thiết lập Mẫu phiếu điều tra và số liệu điều tra này được trình bày ở phụ lục

b) Phương pháp quan sát trực tiếp

Quan sát trực tiếp hiện trường để thu thập các số liệu liên quan về thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các ngành nghề và lĩnh vực, đặc biệt là doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn

Trang 11

c) Phương pháp thảo luận nhóm với những người có liên quan

Những người liên quan bao gồm cán bộ quản lý cấp huyện và đại diện doanh nghiệp Nội dung thảo luận những vấn đề liên quan đến khó khăn, thách thức trong phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn

* Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

- Phương pháp phân tích Excel

Các loại số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu được được kiểm tra, phân

tổ và tổng hợp theo hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đã xây dựng sử dụng phần mềm thống kê Excel/PivotTable (Dương Văn Sơn và Bùi Đình Hòa, 2012)

Các thông tin định lượng trong bảng hỏi (phiếu điều tra) được tính toán

xử lý một số đại lượng thống kê thông dụng của mẫu như: Độ lệch chuẩn (SD), sai số chuẩn (SE) và hệ số biến động (CV%) nhằm hiểu rõ bản chất dãy số liệu

đã quan sát

- Phương pháp phân tích hồi quy đa biến

Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để phân tích mối liên hệ tương quan giữa một số biến độc lập là các biến định lượng và biến định tính (biến giả định) với các biến phụ thuộc là doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận doanh nghiệp và thu nhập của người lao động tại doanh nghiệp Bởi trên thực tế, phát triển doanh nghiệp thường được dựa trên các tiêu chí chủ yếu như sự gia tăng về doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận thu được của doanh nghiệp cũng như thu nhập của người lao động tại các doanh nghiệp mà họ làm việc

Mục đích của phân tích mô hình hồi quy này ngoài việc tìm kiếm mối liên

hệ, ước lượng sự liên hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trên đây, còn nhằm tìm hiểu lý do tại sao các doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay chưa thực

sự phát triển dựa trên việc đối chiếu, so sánh với các doanh nghiệp hoạt động trên các ngành nghề khác cùng trên địa bàn như: công nghiệp-xây dựng-giao thông-thương mại dịch vụ, Mặt khác, mặc dù cùng trong nông nghiệp, nhưng

Trang 12

lĩnh vực khác nhau cũng có thể có những lợi thế khác nhau, nên rất cần ước lượng bằng mô hình đa biến này để có những lời giải thích thỏa đáng

Mô tả chi tiết các biến số độc lập và biến số phụ thuộc sẽ được trình bày

ở mục 3.2 chương 3 Phân tích hồi quy đa biến dựa trên phần mềm IBM SPSS Statistic 20 Kết quả chi tiết các phân tích này được trình bày ở phụ lục

- Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng trong nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, thực trạng phát triển doanh nghiệp, một số kết quả sản xuất và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp Các kết quả này được biểu diễn dưới dạng các số tương đối, số tuyệt đối, số trung bình, được trình bày bằng bảng số liệu, hình,

- Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng để đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp của huyện Na Hang thông qua việc so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian, theo loại hình doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp, theo vùng Kết quả của phân tích này sẽ là cơ sở của việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng phát triển doanh nghiệp của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Đề tài đồng thời sử dụng cả nghiên cứu định tính, chỉ rõ những đặc điểm mang tính định tính của doanh nghiệp nông nghiệp, đồng thời sử dụng cả nghiên cứu định lượng thông qua xác định các thông tin định lượng của doanh nghiệp nông nghiệp trong nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả và nghiên cứu giải thích

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả để thiết lập trạng thái tồn tại của

sự vật hiện tượng, chỉ ra bộ mặt hiện thực của đối tượng nghiên cứu, là tiền đề cho nghiên cứu giải thích nhằm chỉ ra mối quan hệ tất yếu, bản chất của hiện tượng này (tức là hiện tượng cần được giải thích) với hiện tượng khác mà có quan hệ với hiện tượng giải thích

3 Kết quả, kết luận nghiên cứu

Trang 13

Huyện Na Hang hiện nay có 48 doanh nghiệp; trong đó có 25 doanh nghiệp nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 52,1% tổng số doanh nghiệp trên tất cả các ngành nghề của địa phương; có 23 doanh nghiệp công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ, chiếm tỷ lệ 47,9% tổng số doanh nghiệp toàn huyện Liên tục trong các năm 2014-2018 có sự gia tăng không những về cả số lượng các doanh nghiệp trên tất cả các ngành nghề và lĩnh vực sản xuất kinh doanh, mà còn cả trong nông lâm nghiệp Đây là con số ấn tượng đối với một địa phương miền núi như huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Trong tổng số 25 doanh nghiệp nông nghiệp, có 22 doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp và chế biến nông lâm sản, chiếm tỷ lệ 88%; có 3 doanh nghiệp thủy sản, chiếm tỷ lệ 12% tổng

số doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn

Trong hoạt động và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vẫn còn khá hạn chế, chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của một địa phương có thế mạnh về nông lâm nghiệp; Doanh nghiệp trực tiếp sản xuất nông nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ quản lý, công nghệ sản xuất chưa tiên tiến; Tình trạng doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh về nông lâm nghiệp, nhưng không có bất kỳ hoạt động nào về sản xuất, kinh doanh nông nghiệp hoặc chế biến nông lâm sản; Mức hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp còn thấp; thiếu vốn đầu tư,…

Kinh doanh trong ngành nông lâm nghiệp có doanh thu và lợi nhuận thấp hơn so với các ngành nghề kinh doanh khác như công nghiệp-xây dựng-thương mại-dịch vụ Đó là lý do tại sao nông nghiệp chưa thực sự thu hút được nhiều

dự án và doanh nghiệp như mong đợi Một điều đáng chú ý là hầu hết các doanh nghiệp trên tất cả ngành nghề và lĩnh vực hoạt động đều có địa bàn hoạt động

ở khu vực thành thị, thị trấn, nơi có điều kiện giao thông thuận lợi và cơ sở hạ tầng tốt Bức tranh chung này không chỉ đúng với doanh nghiệp về công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ mà còn đúng với cả doanh nghiệp nông

Trang 14

nghiệp Về lý thuyết, doanh nghiệp nông nghiệp được coi là doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn, nhưng ở đây rõ ràng đã có tỷ lệ rất nhỏ (chỉ có 8%) hoạt động tại địa bàn nông thôn

Các doanh nghiệp công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ tuy có doanh thu và lợi nhuận thấp hơn so với doanh nghiệp nông lâm nghiệp, nhưng thu nhập bình quân của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp công nghiệp-xây dựng lại cao hơn so với doanh nghiệp nông nghiệp, chứng tỏ rằng đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thật sự bền vững và hiệu quả Một điều đáng lưu ý là doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nông nghiêp kinh doanh tổng hợp và chế biến nông lâm sản đều có giá trị cao hơn so với doanh nghiệp thủy sản, chứng tỏ rằng kinh doanh tổng hợp đa ngành và chế biến nông lâm sản có lợi thế hơn rất nhiều so với sản xuất kinh doanh đơn ngành

là thủy sản Đồng thời cũng chỉ ra rằng tiềm năng lợi thế thủy sản hồ thủy điện

Na Hang vẫn chưa được khai thác

Để gia tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và tăng thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp hoạt động trên tất cả các lĩnh vực và ngành nghề cũng như đối với riêng các doanh nghiệp nông nghiệp cần chú ý tăng cường đầu tư vốn sản xuất kinh doanh

Nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong thời gian tới, tỉnh Tuyên Quang và huyện Na Hang cần tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tốt các nhóm giải pháp, gồm: Giải pháp chung đối với các nhóm đối tượng liên quan như: Đối với Nhà nước; đối với doanh nghiệp; đối với các tổ chức tín dụng và đối với các trang trại, hộ gia đình, đối tác tiềm năng để trở thành doanh nghiệp trong tương lai Đồng thời cũng đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể như: Nhóm giải pháp liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp nông nghiệp

Trang 15

phát triển; nhóm giải pháp liên quan đến các chính sách ưu đãi khuyến khích phát triển doanh nghiệp nông nghiệp; nhóm giải pháp hỗ trợ thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nông nghiệp

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, do năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng thấp, tăng trưởng trong ngành nông nghiệp Việt Nam những năm gần đây có xu hướng giảm, nông nghiệp phát triển kém bền vững, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn ít và có xu hướng giảm Để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp, cần triển khai các giải pháp như: cụ thể hóa các chủ trương, chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài thành các nhiệm vụ

cụ thể, triển khai đến các địa phương Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó có phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Trên cơ sở chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Chính phủ đã thể chế hóa thành các chính sách cụ thể cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trong tiến trình

cơ cấu lại nông nghiệp gắn với nông thôn mới Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, có thể kể đến một số chính sách điển hình như: Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 ban hành tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững phê duyệt tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, của các

bộ, ngành và địa phương, nông nghiệp Việt Nam đã liên tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn, đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển đất nước Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực, đến nay không chỉ đáp

Trang 17

ứng đủ nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho hơn 90 triệu dân, bảo đảm an ninh lương thực và an ninh dinh dưỡng; nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn đạt thứ hạng cao trên thế giới như: Gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, cá tra, tôm, sản phẩm gỗ chế biến,…

Có thể nói rằng tiềm năng phát triển nông nghiệp ở nước ta còn rất to lớn Mặt khác, chúng ta đã có chủ trương của Đảng và Nhà nước để phát triển nông nghiệp, nhưng các khâu trung gian, việc cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết thành các cơ chế, chính sách vào cuộc sống để phát huy tác dụng còn yếu kém

và chậm trễ Bởi vậy muốn nông nghiệp phát triển thì phải tập trung giải quyết khâu trung gian, khâu cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách trong cuộc sống trong thời gian tới

Để phát triển nông nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp phải chủ động trong xây dựng các mô hình liên kết, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất kinh doanh Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Nghị quyết số 41/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 quy định về một

số chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016 -2020

Na Hang là huyện miền núi, vùng cao của tỉnh Tuyên Quang Theo số liệu của Chi Cục thuế huyện Na Hang, hiện nay toàn huyện có 48 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên tất cả ngành nghề và lĩnh vực Trong số đó có 25 doanh nghiệp hoạt trong lĩnh vực nông lâm nghiệp (gọi tắt là doanh nghiệp nông nghiệp) trên địa bàn huyện Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp này đều có quy

mô nhỏ lẻ, siêu nhỏ và nhỏ, lĩnh vực đầu tư mất cân đối, năng lực và khả năng còn hạn chế, thiếu vốn đầu tư, địa bàn hoạt động tập trung ở thành thị, một số chỉ là hình thức có đăng ký nhưng không hoạt động, doanh thu, lợi nhuận và thu nhập người lao động còn thấp,… được đánh giá là một trong những hạn chế, yếu kém hiện nay rất cần những giải pháp khắc phục

Trang 18

Từ những luận cứ trên, với mong muốn làm rõ đặc điểm, vai trò, vị trí của doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển nông nghiệp, nông thôn tại huyện Na Hang, đồng thời tìm ra những khó khăn, tồn tại, những nút thắt để từ

đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần cải thiện môi trường đầu

tư, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, góp phần sử dụng nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm mới, tái cơ cấu kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Na Hang, tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Giải pháp phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang,

tỉnh Tuyên Quang” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với một huyện miền

núi, vùng cao còn nhiều khó khăn như Na Hang

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận văn

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Chỉ ra những khó khăn, thách thức, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Từ đó đề xuất giải pháp tăng cường phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Phân tích khó khăn, thách thức, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất giải pháp tăng cường phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Trang 19

3 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài luận văn

3.1 Đóng góp mới của đề tài luận văn

Cùng với phương pháp quan sát trực tiếp và thảo luận nhóm với những người có liên quan, đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra để thu thập thông tin số liệu sơ cấp từ 48 doanh nghiệp hoạt động trên tất cả các ngành nghề và lĩnh vực tại địa bàn huyện Na Hang Kết quả nghiên cứu cho thấy: Liên tục trong các năm 2014-2018 trên địa bàn huyện Na Hang có sự gia tăng không những về cả số lượng các doanh nghiệp trên tất cả các ngành nghề và lĩnh vực sản xuất kinh doanh, mà còn cả trong nông lâm nghiệp Tuy nhiên, trong hoạt động và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong thời gian tới, tỉnh Tuyên Quang và huyện Na Hang cần tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tốt các nhóm giải pháp thích hợp

Những định hướng và giải pháp mà đề tài luận án đề xuất sẽ được chính quyền huyện Na Hang và các địa phương khác có điều kiện tương tự có thể tham khảo, vận dụng vào chỉ đạo, tổ chức thực hiện và điều hành phát triển

Trang 20

doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nông nghiệp nói riêng, góp phần thúc đẩy phát triển và tái cơ cấu kinh tế tại địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những liên quan đến doanh nghiệp nông nghiệp

và sự phát triển doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động trên địa bàn huyện Na Hang Đối tượng điều tra khảo sát là những doanh nghiệp nông nghiệp, bao gồm các công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân trên cơ sở đối chiếu so sánh với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên tất cả ngành nghề và lĩnh vực trên địa bàn huyện Na Hang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Đề tài thực hiện trong năm 2017-2018 Số liệu điều tra sơ cấp được thực hiện trong năm 2017 và 2018 Số liệu thứ cấp được thu thập liên tục trong các năm 2014, 2015, 2016, 2017 và 2018 Các giải pháp và kiến nghị

đề xuất có giá trị đến năm 2025

- Không gian: Đề tài thực hiện trên phạm vi toàn huyện Na Hang

Doanh nghiệp nông nghiệp: Từ danh sách tổng số doanh nghiệp nông nghiệp qua các năm 2014 - 2018, đề tài tiến hành điều tra tất cả các doanh nghiệp nông nghiệp

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về doanh nghiệp nông nghiệp trên cơ

sở đối chiếu so sánh với các doanh nghiệp khác như: doanh nghiệp công xây dựng-giao thông vận tải, doanh nghiệp thương mại-dịch vụ nhằm mục đích tìm hiểu lý do tại sao doanh nghiệp nông nghiệp chưa phát triển Doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm doanh nghiệp nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, doanh nghiệp chế biến nông lâm sản và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản (gọi tắt là doanh nghiệp thủy sản)

Trang 21

Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Còn kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy doanh nghiệp là

tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh,… Chúng ta sẽ đi sau tìm hiểu các loại hình doanh

nghiệp này trong mục tiếp theo

Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước trước đây, khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được chia thành 2 nhóm: DNNN hoạt động kinh doanh hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận; và DNNN hoạt động công ích hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, cùng với quá trình cổ phần hóa, các DNNN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận ngày càng

Trang 22

ít cơ sở để tồn tại Quan điểm chủ đạo hiện nay là chỉ giữ lại các DNNN hoạt động trong một số lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế, và lĩnh vực cung cấp ‘hàng hóa công’ Các DNNN hiện nay hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (với nội dung quản trị công ty như các doanh nghiệp thông thường) và Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Theo đó, Công ty nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích là “công ty nhà nước được thiết kế, đầu tư thành lập để thực hiện mục tiêu chủ yếu, thường xuyên và ổn định là sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch.” Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng hoạt động công ích không phải “trách nhiệm độc quyền” của Nhà nước Nhà nước hoàn toàn có thể “mua lại” dịch vụ cung cấp các sản phẩm công ích đó từ các doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực tư nhân, (Nguyễn Đình Cung và nnk, 2012)

Việt Nam có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế khác nhau Chính vì vậy việc lựa chọn được một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về sau Những lợi thế so sánh

mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất cần được xem xét khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh Thông thường, những lợi thế mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư có thể là: (i) uy tín mà doanh nghiệp có thể tạo ra đối với khách hàng; (ii) phạm vi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp; (iii) mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp đó; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) mô hình tổ chức quản

lý doanh nghiệp và mức độ chi phối của nhà đầu tư tới hoạt động của doanh nghiệp

Trang 23

1.1.1.2 Nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp

a) Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng nguồn lực đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một

số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành như: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; nông nghiệp theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm, để thỏa mãn các nhu cầu của mình

Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức

xạ mặt trời, trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán, đã có từ hàng nghìn năm nay Ở các nước nghèo như nước

ta nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội

b) Doanh nghiệp nông nghiệp

Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào

và đầu ra, được tổ chức và hoạt động phù hợp với Luật Doanh nghiệp mà Quốc hội đã ban hành

Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật các hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất, gồm cả

Trang 24

việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong chế biến sản phẩm nông nghiệp, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống cây trồng/con gia súc mới,… Sản phẩm đầu ra của các doanh nghiệp nông nghiệp được dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu

Nội dung bao hàm của doanh nghiệp nông nghiệp cũng được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Theo Võ Trí Thành (2016): Lâu nay chúng ta vẫn thường nhìn nhận nó theo nghĩa hẹp, đó là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông nghiệp; song theo tôi, doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm tất cả những doanh nghiệp tham gia vào các loại hình sản xuất và dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp Nói cách khác, doanh nghiệp nào góp phần làm giảm chi phí giá thành, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp thì đều là doanh nghiệp nông nghiệp Lấy ví dụ, nếu doanh nghiệp làm trong lĩnh vực giao thông vận tải mà chủ yếu tham gia vận chuyển mặt hàng nông sản, nhưng với việc giao hàng đúng hạn, đúng chất lượng cũng đủ để coi họ là doanh nghiệp nông nghiệp Việc hiểu doanh nghiệp nông nghiệp theo một nghĩa rộng không chỉ đem lại cho chúng ta một cái nhìn thấu đáo hơn về tiềm năng của nông nghiệp, mà còn gợi ý cho các cấp quản lý nhà nước cách thức hỗ trợ, đầu tư thích hợp cho các doanh nghiệp nông nghiệp

Những lợi thế so sánh mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất cần được xem xét khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh khách nhau, thường thì có các loại hình kinh doanh như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,… Việc thành lập công ty để kinh doanh cũng trở lên đơn giản hơn bởi

các dịch vụ tư vấn thành lập công ty rất phổ biến trên thị trường hiện nay Chính

Trang 25

vì vậy việc lựa chọn được một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất kinh doanh , quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập công ty là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về sau

Doanh nghiệp nông nghiệp có thể chia thành: Công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,… Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp chủ yếu tiến hành sản xuất và kinh doanh trên địa bàn nông thôn, được hình thành từ các hộ kinh doanh, các hợp tác xã và trang trại Do vậy, theo nghĩa rộng doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm cả hộ kinh doanh và trang trại Vì vậy nội hàm này cần được đề cập trong những mục tiếp theo

Khi nói về doanh nghiệp có một thuật từ là doanh nghiệp tiên phong Vậy doanh nghiệp tiên phong là gì? Theo Võ Trí Thành (2016): Trước hết, muốn xác định được thế nào là doanh nghiệp tiên phong, chúng ta cần làm rõ quan niệm doanh nghiệp nông nghiệp Lâu nay chúng ta vẫn thường nhìn nhận

nó theo nghĩa hẹp, đó là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông nghiệp; song theo tác giả, doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm tất cả những doanh nghiệp tham gia vào các loại hình sản xuất và dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp Nói cách khác, doanh nghiệp nào góp phần làm giảm chi phí giá thành, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp thì đều là doanh nghiệp nông nghiệp Lấy ví dụ, nếu doanh nghiệp làm trong lĩnh vực giao thông vận tải mà chủ yếu tham gia vận chuyển mặt hàng nông sản, nhưng với việc giao hàng đúng hạn, đúng chất lượng cũng đủ để coi họ là doanh nghiệp nông nghiệp Việc hiểu doanh nghiệp nông nghiệp theo một nghĩa rộng không chỉ đem lại cho chúng ta một cái nhìn thấu đáo hơn về tiềm năng của nông nghiệp, mà còn gợi ý cho các cấp quản lý nhà nước cách thức hỗ trợ, đầu tư thích hợp cho các doanh nghiệp nông nghiệp (Võ Trí Thành, 2016)

1.1.1.3 Bản chất và đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp

Trang 26

- Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp chủ yếu tiến hành sản xuất và kinh doanh trên địa bàn nông thôn, được hình thành từ các hộ kinh doanh, trang trại và có thể từ các hợp tác xã Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển

từ hợp tác xã trở thành doanh nghiệp là không thể

- Các doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào kinh doanh các sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa, nhỏ

và siêu nhỏ (Bảng 1.1) và chủ yếu hoạt động ở địa bàn nông thôn

- So với các doanh nghiệp công nghiệp và doanh nghiệp ở thành thị kinh doanh cùng loại sản phẩm và dịch vụ, doanh nghiệp nông nghiệp có chi phí khởi tạo doanh nghiệp và kinh doanh cao hơn

Bảng 1.1 Quy định pháp luật về quy mô doanh nghiệp

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Số lao động

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến 50 người

Từ trên 10

tỷ đồng đến

50 tỷ đồng

Từ trên 50 người đến

100 người

Nguồn: Nguyễn Ngọc Huyền và Tô Thị Việt Nga (2016)

Quy định pháp luật về quy mô doanh nghiệp đối với các khu vực: Nông lâm nghiệp thủy sản, công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ được thể hiển ở bảng 1.1

1.1.1.4 Vai trò và các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp

Trang 27

Vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp

- Doanh nghiệp nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh

tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra sản phẩm địa phương, nội địa và xuất khẩu

- Doanh nghiệp nông nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

- Doanh nghiệp nông nghiệp còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội, tạo công ăn việc làm ở nông thôn Thực tế đó đã được phản ảnh qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp

Cho đến nay ở nước ta có các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp sau đây:

a) Hộ nông dân:

- Khái niệm: Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung trong một mái nhà, có chung nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ nhu cầu của gia đình Hộ nông dân được coi là một loại hình doanh nghiệp nông nghiệp

- Đặc điểm của hộ nông dân:

+ Mục đích của hộ nông dân là sản xuất nông lâm sản phẩm phục vụ chính họ

+ Sản xuất dựa trên công cụ thủ công và trình độ canh tác lạc hậu

+ Các thành viên trong hộ có sự gắn bó về quan hệ sở hữu, quan hệ quản

lý và quan hệ phân phối

+ Là đơn vị tái tạo nguồn lao động

- Vai trò

+ Sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu xã hội

+ Khai thác các nguồn lực (đất đai, lao động, vốn,…)

Trang 28

+ Từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, áp dụng tiến bộ khoa học

và kỹ thuật vào sản xuất

+ Góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng nông thôn

- Quá trình phát triển: Có hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1954 - 1986

+ Giai đoạn 1988 - nay

- Xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân

+ Các hộ nông dân sản xuất tự cung, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa nhỏ

+ Các hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc chuyển sang các hộ có tỷ suất hàng hóa cao

+ Các hộ có tỷ suất hàng hóa cao trở thành trang trại

+ Một số hộ chuyển sang kinh doanh các ngành nghề nông thôn

b) Trang trại

- Khái niệm: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa; tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của chủ thể độc lập; sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung tương đối lớn; cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao; hoạt động tự chủ và gắn với thị trường Trang trại được coi là một loại hình doanh nghiệp nông nghiệp

- Đặc trưng của trang trại:

+ Mục đích của trang trại là sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu thị trường + Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của chủ thể độc lập + Chủ trang trại là người có ý chí và có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh

+ Tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại tiến bộ hơn

Trang 29

- Vai trò của trang trại:

+ Thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

+ Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa

+ Tạo ra sản phẩm làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn

+ Có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất

+ Tạo việc làm và tăng thu nhập trong nông thôn

- Tiêu chí nhận dạng trang trại:

+ Giá trị sản phẩm hàng hóa tạo ra trong 1 năm: từ 40 triệu đồng trở lên + Quy mô diện tích đất đai và số lượng gia súc, gia cầm

Đối với trang trại cây hàng năm: 2 ha ở phía Bắc và 3 ha ở phía Nam Đối với trang trại cây lâu năm: 3 ha

Đối với trang trại hoa cây cảnh: 0,5 ha

+ Quy mô về vốn và lao động: Đầu tư vốn trên 20 triệu đồng Thuê 2 lao động trở lên

- Phân loại trang trại

+ Theo tính chất sở hữu, gồm: Trang trại gia đình, trang trại ủy thác cho người nhà, bạn bè quản lý

+ Theo phương hướng sản xuất: Trang trại cây thực phẩm, trang trại cây

ăn quả, trang trại cây công nghiệp, trang trại chăn nuôi đại gia súc, trang trại nuôi trồng thủy sản,…

- Tình hình phát triển trang trại:

+ Vùng trung du và miền núi: Chủ yếu là trang trại vườn rừng, vườn đồi,…được hình thành từ 3 dạng chủ yếu: Từ các hộ đồng bằng lên xây dựng vùng kinh tế mới, từ các hộ thành viên nông, lâm trường và tư nhân đến thuê đất Phương hướng kinh doanh: Kinh doanh tổng hợp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc

Trang 30

+ Vùng ven biển, gồm trang trại nuôi trồng thủy sản, trang trại nuôi trồng thủy sản kết hợp với sản xuất nông nghiệp

+ Vùng đồng bằng: Chủ yếu trang trại quy mô nhỏ, gồm trang trại trồng trọt, trang trại chăn nuôi, trang trại kết hợp sản xuất nông nghiệp với ngành nghề phi nông nghiệp

c) Doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước

- Khái niệm: Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp nông nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu,

là pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật, thực hiện các mục tiêu kinh tế -

xã hội do Nhà nước giao

- Vai trò của doanh nghiệp nhà nước:

+ Định hướng và tạo tiềm lực kinh tế cho Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết đối với nông nghiệp và nền kinh tế

+ Nắm giữ các hoạt động quan trọng của sản xuất nông nghiệp

+ Hỗ trợ kinh tế hộ nông dân

+ Giữ gìn an ninh quốc phòng

- Thực trạng phát triển của doanh nghiệp nhà nước:

+ Giai đoạn 1954 - 1986: Bao gồm các nông, lâm trường quốc doanh, công ty thuốc BVTV, thuốc thú y, vật tư nông nghiệp được Nhà nước xây dựng Điều hành và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nên chưa phát huy được vai trò Kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước

+ Giai đoạn 1988 - nay: Điều chỉnh phương hướng sản xuất kinh doanh

Tổ chức lại bộ máy quản lý gọn nhẹ Điều hành sản xuất bằng cơ chế khoán Tính chất sở hữu từng bước chuyển sang sở hữu hỗn hợp Hoạt động khó khăn trong cơ chế thị trường

Trang 31

- Phương hướng đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

+ Đối với các doanh nghiệp sản xuất:

Chuyển đổi sang chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Thực hiện bán vườn cây và giao đất lâu dài cho hộ công nhân

Đổi mới quản lý và tổ chức trong doanh nghiệp

+ Đối với các doanh nghiệp dịch vụ các yếu tố đầu vào

Củng cố các doanh nghiệp hoạt động trong các khâu quan trọng

Đổi mới tổ chức và quản lý trong các doanh nghiệp theo hướng khoán kinh doanh

+ Đối với các doanh nghiệp thủy nông

Tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới quản lý kinh doanh

Hạch toán đầy đủ và bù đắp chi phí cho các hoạt động của doanh nghiệp

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước

+ Không được quyền phát hành cổ phần

e) Công ty TNHH 2 thành viên trở lên

- Khái niệm:

Là doanh nghiệp trong đó các thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân,

số lượng không vượt quá 50 cùng cam kết góp vốn thành lập công ty

Trang 32

+ Cổ phiếu có thể ghi danh hoặc không ghi danh

+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ trường hợp pháp luật quy định

+ Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

+ Được phát hành cổ phiếu để huy động vốn

1.1.1.5 Tồn tại về doanh nghiệp nông nghiệp nước ta hiện nay

Theo Võ Trí Thành (2016): Hiện nay có thể thấy rằng, chỉ khoảng 1% doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào nông nghiệp, số vốn và lượng doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nông nghiệp cũng rất thấp Ở đây có một câu

Trang 33

hỏi đặt ra, tại sao ở một đất nước có truyền thống về nông nghiệp, có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp, mà doanh nghiệp lại không có ham thú đầu tư vào nông nghiệp và coi đó như một lĩnh vực đầu tư hứa hẹn, nhiều tiềm năng phát triển và đem lại lợi nhuận cao? Nhìn vào tình hình Việt Nam hiện nay có thể thấy tồn tại bốn vấn đề với doanh nghiệp nông nghiệp:

Thứ nhất, môi trường kinh doanh chung của Việt Nam tồn tại bốn nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp mà Báo cáo Việt Nam 2035 đã chỉ ra, đó là: (i) Quyền tài sản thiếu rõ ràng; (ii) thị trường thiếu cạnh tranh “sòng phẳng”; (iii) các thị trường yếu tố sản xuất (thị trường vốn, đất đai, lao động) méo mó; và (iv) chi phí giao dịch cho sản xuất kinh doanh cao Nếu chúng ta hiểu doanh nghiệp nông nghiệp theo nghĩa rộng thì điều đó có nghĩa, môi trường kinh doanh hiện còn không ít khó khăn vướng mắc ảnh hưởng xấu đến hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp

Thứ hai, doanh nghiệp không muốn đầu tư vào nông nghiệp và coi đó là cuộc chơi chính của mình là vì nếu nông nghiệp đạt mức tăng trưởng trung bình tốt nhất, theo thống kê thông thường, thì cũng chỉ ở mức trên 3% Mức tăng trưởng giá trị gia tăng thấp như vậy thì ai còn muốn đầu tư, trong khi có nhiều lĩnh vực đầu tư khác hứa hẹn nhiều lợi nhuận hơn, ví dụ như tài chính, bất động sản Tuy nhiên, cách nhìn và đo lường này (cũng như theo cách nghĩ của phần đông xã hội) không chuẩn và có phần lệch lạc Nếu chúng ta nhìn sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng thì giá trị gia tăng đạt được sẽ không nhỏ và tăng trưởng

sẽ không chỉ là 3%/năm Việt Nam hiện hằng năm thu được hơn 30 tỷ USD từ việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản, trong khi mỗi năm cầu thế giới đối với lương thực, thực phẩm,… là khoảng 15.000 tỷ USD Hình ảnh đó cho thấy, với hội nhập hiện nay, doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội khai thác một thị trường khổng lồ, và qua đó có thể tạo thêm rất nhiều giá trị gia tăng

Trang 34

Thứ ba, có một tồn tại nữa là nông nghiệp Việt Nam không có lợi thế về quy mô khi vẫn tồn tại tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún Tuy có tới 46% lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp nhưng giá trị gia tăng của nông nghiệp vẫn chỉ chiếm 17% GDP; năng suất lao động rất thấp Để giải quyết hai vấn đề này, có hai con đường, đó là tích tụ đất đai, qua đó tạo khả năng hấp thụ công nghệ và vốn cao, cùng dịch chuyển cơ cấu lao động Tuy nhiên, vướng mắc ở chỗ là cả hai vấn đề này đều không phải là chuyện riêng của nông nghiệp

và doanh nghiệp nông nghiệp Chỉ khi nào câu chuyện đất đai và dịch chuyển

cơ cấu lao động được giải quyết thực sự thì mới đem lại lợi thế về quy mô và tạo ra được sức hấp dẫn của lĩnh vực nông nghiệp, qua đó dẫn đến việc liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp mà chúng ta bàn thảo rất nhiều trong thời gian gần đây

Thứ tư là sản xuất nông nghiệp luôn ẩn chứa rủi ro cao, xuất phát từ ba nguyên nhân: sản xuất nông nghiệp mang tính chu kỳ cao; độ co dãn tiêu dùng theo thu nhập mặt hàng nông sản thấp, ngay cả khi thu nhập của người tiêu dùng có tăng mạnh thì sức tiêu thụ mặt hàng này cũng không cao hơn nhiều; sản xuất phụ thuộc lớn vào thời tiết, khí hậu, dịch bệnh

Vậy chúng ta giải quyết ba vấn đề này bằng cách nào? Theo tác giả, có hai cách làm hiệu quả, nhất là đầu tư vào khoa học công nghệ nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, trong sản xuất, đồng thời làm gia tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp, qua đó làm tăng độ co dãn của tiêu dùng Cùng với

đó là thực hiện chương trình bảo hiểm cho nông nghiệp Chúng ta đã thí điểm bảo hiểm nông nghiệp từ nhiều năm qua đối với các hộ sản xuất nông nghiệp tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, nhưng chưa đem lại kết quả khả quan như mong đợi (Võ Trí Thành, 2016)

Như vậy với cách nhìn rộng ra về việc hình thành và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, thì chúng ta đang đứng trước những cơ hội đầu tư và làm

ăn rất lớn trong nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam thực sự hấp dẫn và là nơi

Trang 35

có thể làm giàu Tất nhiên, đây không chỉ là câu chuyện của riêng ngành nông nghiệp Cả đất nước phải vào cuộc để phát triển doanh nghiệp nông nghiệp để tái cơ cấu kinh tế nói chung và tái cơ cấu nông nghiệp

Từ những doanh nghiệp nông nghiệp như vậy, chúng ta sẽ hình thành được chuỗi liên kết và có được những doanh nghiệp tiên phong trong nông nghiệp Có người hỏi tôi, thế nào là doanh nghiệp tiên phong, hiện những “ông lớn” đầu tư rầm rộ vào nông nghiệp như Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai,… có phải là doanh nghiệp tiên phong hay không? Theo nhiều tác giả, muốn trở thành doanh nghiệp tiên phong thì doanh nghiệp đó phải làm chủ được ba khâu trọng yếu: thực sự có R&D, nghĩa là đầu tư vào khoa học và công nghệ và ứng dụng nó ngay trong các khâu sản xuất, chế biến của mình; tạo dựng được thương hiệu, đặc biệt với doanh nghiệp nông nghiệp thì thương hiệu đó phải gắn liền với tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm; nắm được khâu phân phối hàng hóa ra thị trường trong nước và quốc

tế Nếu doanh nghiệp trong các lĩnh vực tiêu dùng khác có thể chỉ cần làm tốt hai khâu là tạo dựng thương hiệu và nắm phân phối, thì doanh nghiệp tiên phong trong nông nghiệp phải làm được tốt cả ba khâu Hiện nay, có thể nói chưa có doanh nghiệp nông nghiệp nào ở Việt Nam làm được trọn vẹn, đúng nghĩa ba khâu này (Võ Trí Thành, 2016)

Việc hình thành doanh nghiệp tiên phong sẽ góp phần thúc đẩy chuỗi liên kết giá trị trong nông nghiệp mà chúng ta đã bàn thảo khá nhiều trong những năm gần đây Dù bước đầu một số nơi đã hình thành liên kết giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân, qua đó tạo vùng nguyên liệu và đảm bảo bao tiêu sản phẩm nông nghiệp nhưng chuỗi liên kết giá trị giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nông dân vẫn chưa được đảm bảo Vừa qua tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long (MDEC 2016), một doanh nghiệp đã phát biểu rất đúng về bản chất chuỗi liên kết phổ biến hiện nay trong nông nghiệp là các doanh nghiệp ở cùng một chuỗi liên kết cũng không hợp tác được với nhau, không chia sẻ được lợi ích với nhau, thậm chí còn “ngáng chân” nhau Bên cạnh

Trang 36

đó, việc tôn trọng hợp đồng giữa người nông dân và doanh nghiệp vẫn còn bị xâm phạm, trong đó có lỗi của cả hai phía, ví dụ nông dân thấy lợi nhuận trước mắt thì

bỏ “ngang xương” việc cung cấp nông sản cho doanh nghiệp để đến với thương lái hoặc ngược lại, doanh nghiệp ép giá nông dân Vì vậy dù các ngân hàng thương mại có cho các doanh nghiệp thực hiện chuỗi liên kết giá trị vay vốn đầu tư kinh doanh, sản xuất thì các doanh nghiệp đó vẫn khó làm tốt vai trò của mình, chứ chưa nói đến việc phải phấn đấu thành doanh nghiệp tiên phong Để góp phần giải quyết vấn đề này, về trước mắt cũng như lâu dài, chúng ta cần làm tốt hai bài toán căn cơ, theo tác giả Võ Trí Thành (2016) hai yếu tố đem lại sự gắn kết của chuỗi liên kết giá trị:

(1) Đảm bảo lợi ích của người nông dân thông qua một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh gắn với đặc điểm địa lý, đặc thù văn hóa vùng miền;

(2) Tạo sự phối hợp thực sự giữa các thành viên trong chuỗi giá trị mà chúng ta xây dựng lên Đây đều là những bài toán gắn với sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp và tạo đà cho doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp tiên phong

Trong bối cảnh này, vai trò hỗ trợ của nhà nước là vô cùng cần thiết và tập trung vào ba điều: (1) Tạo ra môi trường kinh doanh chung, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp; (2) Nhà nước có thể hỗ trợ hoàn toàn (tạm gọi là cho không) trong những lĩnh vực có tính lan tỏa cao như kết cấu hạ tầng, đào tạo, R&D; (3) Còn với những hỗ trợ khác cho bản thân quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (chẳng hạn như về lãi suất) thì cơ bản áp dụng theo nguyên tắc “hỗ trợ có hoàn trả” Nhà nước có thể hỗ trợ để chia sẻ ít nhiều rủi ro ban đầu và doanh nghiệp có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh Song đây là “trò chơi thị trường”, nên nhà nước chỉ chia sẻ rủi ro một phần với doanh nghiệp (tất nhiên có xem xét, đánh giá kỹ lưỡng) và trong trường hợp thành công, doanh nghiệp cần hoàn trả phần

hỗ trợ này

Trang 37

1.1.2 Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện miền núi cao

* Khái niệm

Doanh nghiệp nông nghiệp miền núi là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào và đầu ra, được tổ chức và hoạt động phù hợp với Luật Doanh nghiệp

mà Quốc hội đã ban hành

* Ý nghĩa:

Doanh nghiệp nông nghiệp miền núi có ý nghĩa:

- Khai thác và phát huy nguồn lực sản xuất trên địa bàn

- Đã dựa vào thế mạnh để sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thi trường

- Tạo việc làm, thu nhập, đóng góp vào ngân sách nhà nước

- Góp phần xây dựng nông thôn mới, bảo đảm phát triển bền vững và dân chủ ở nông thôn

* Các nhân tố ảnh hưởng

- Tác động của thiên tai

- Tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường

- Doanh nghiệp còn thiếu năng lực tổ chức, quản lý

- Nhà nước chưa coi trọng việc hướng dẫn các điều đã ban hành

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam và một số địa phương

1.2.1.1 Thực tiễn phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã xác định rõ định hướng tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, phát huy năng lực sáng tạo của mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức; khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ là tập trung xây dựng, phát triển nền kinh tế số và công nghiệp thông minh,

Trang 38

phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; thúc đẩy khởi nghiệp trong mọi ngành, lĩnh vực Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi của tái cấu trúc nền kinh

tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Doanh nghiệp vừa là trung tâm, vừa và động lực phát triển của công nghệ mới, công nghiệp thông minh và trong thương mại hóa, ứng dụng thành công các thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn cuộc sống Các doanh nghiệp phải có tầm nhìn, mơ ước lớn vượt ra ngoài tỉnh, ra vùng và biên giới quốc gia, đưa sản phẩm và dịch vụ “Sản xuất tại Việt Nam” chinh phục thị trường trong nước, thế giới; góp phần làm thay đổi, nâng tầm thị hiếu của người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước, quốc tế

Tính tới thời điểm hiện nay, nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành và triển khai Ở cấp Trung ương có thể kể đến chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản theo quyết định số 01/2012/QĐ-TTg; chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015 NĐ-CP; chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng và khai thác dược liệu theo Nghị định 65/2017/NĐ-CP,… Mới đây nhất Nghị định Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/2018/NĐ-CP thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn với nhiều ưu đãi như miễn, giảm tiền sử dụng đất, miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước, hỗ trợ tập trung đất đai, tiếp cận hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao

Nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, cả nước hiện có khoảng 4.500 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tỷ lệ tương đối ít và chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ

và vừa Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này cũng tương đối hạn chế, chỉ chiếm 2,9% tổng số dự án FDI, chưa đến 1% tổng số vốn của FDI

Trang 39

Thời gian qua, với chủ trương khuyến khích của Đảng, Nhà nước đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như đầu tư của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty TNHH Ba Huân, mô hình nuôi tôm siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính của Tập đoàn Việt Úc đầu tư tại Bạc Liêu,… và bước đầu đã khẳng định hiệu quả Đặc biệt, vài năm gần đây, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp gia tăng, trong đó có nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn như: TH Truemilk, Dabaco, Vingroup, Hòa Phát,…

Quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền sản xuất hàng hóa tập trung thời gian gần đây cũng đã ghi nhận nhiều kết quả quan trọng Nhiều ngành sản xuất nông nghiệp như sữa, thủy sản, chăn nuôi đã “tiệm cận” công nghệ hàng đầu thế giới

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hiện còn rất khiêm tốn Tính chung cả nước chỉ có khoảng 1% tổng số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

1.2.1.2 Thực tiễn phát triển doanh nghiệp nông nghiệp tại một số địa phương

a) Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong cả nước về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp Theo tác giả Võ Trí Thành (2016): Thành phố Hồ Chí Minh định hướng phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, việc phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp là cần thiết, nhằm thu hút nguồn lực

về vốn, khoa học công nghệ, lao động có kỹ thuật, trình độ cao, nâng cao năng suất lao động nghiệp nông thôn thành phố Hiện trạng phát triển doanh nghiệp: Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích đất nông nghiệp là 115.767,79 ha (năm 2015), giảm 269,71 ha so với năm 2014 Tổng số lao động trong nông nghiệp khoảng 107.856 người, tăng 3.000 người so với năm 2010 Năng suất

Trang 40

lao động lĩnh vực nông nghiệp bình quân ước đạt 88,1 triệu đồng/người/năm, khoảng 4.000 USD/người/năm (theo giá hiện hành) Thành phố có số doanh nghiệp nông nghiệp là 451 doanh nghiệp (năm 2015), giảm 49 doanh nghiệp so với năm 2014 và tăng 302 doanh nghiệp so với năm 2011, trong đó đa phần là doanh nghiệp nông nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan (chiếm khoảng 76%), còn lại là các doanh nghiệp khai thác, nuôi trồng thủy sản và doanh nghiệp lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp Ngoài ra, thành phố hiện có khoảng

300 cửa hàng buôn bán sỉ và lẻ cá cảnh Lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp cũng đa dạng, trong đó giống cây trồng, vật nuôi có 140 doanh nghiệp, doanh nghiệp chuyên xuất khẩu cá cảnh có 10 doanh nghiệp, 04 doanh nghiệp cá sấu Tại khu nông nghiệp công nghệ cao thành phố (xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi) cũng đang có 14 dự án đầu tư với tổng diện tích 56,8 ha, tổng vốn đầu tư đạt 450 tỷ đồng, các dự án này tập trung chủ yếu vào lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao trong chọn tạo, nhân giống cây trồng có năng suất và chất lượng cao, công nghệ tế bào thực vật, công nghệ sinh học phân tử, công nghệ xử lý nông sản sau thu hoạch bằng nhiệt, sản xuất chế phẩm sinh học,

Về hỗ trợ cho doanh nghiệp nông nghiệp: Năm 2015, trên địa bàn thành phố, số cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn được các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm kiểm tra, đánh giá và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm là 378 cơ sở, lũy tiến đến nay đã cấp 1.567 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm Đã chứng nhận VietGAP trong là 88 tổ chức, cá nhân sản xuất rau với tổng diện tích 25,17 ha diện tích canh tác, tương đương 108,6 ha diện tích gieo trồng; sản lượng ước tính 2.458,9 tấn/năm; 01 tổ chức sơ chế rau với diện tích sơ chế 500m2, năng suất sơ chế

365 tấn/năm Tính lũy tiến đến nay, tổng số đơn vị sản xuất rau, quả trên địa bàn Thành phố đã được chứng nhận VietGAP là 763 tổ chức, cá nhân (bao gồm

xã viên 07 hợp tác xã và tổ hợp tác: HTX Ngã 3 Giòng, HTX Phú Lộc, HTX Thỏ Việt, HTX Phước An, HTX Nhuận Đức, HTX Nông nghiệp Xanh và Tổ

Ngày đăng: 20/03/2020, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm