1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những giá trị và văn hóa nghệ thuật hát chầu văn ở nước ta

33 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chầu văn là biểu hiện sinh động và có hệ thống nhất cho sự “cụ thể hóa” của đạo Tam phủ và Tứ phủ, linh thiêng mà “gắn với muôn mặt đời thường và gần gụi với mọi con người bình thường”, đáp ứng được đầy đủ mọi ước vọng của cuộc sống bấp bênh, gian khó. Hơn ở đâu hết, Chầu văn với âm nhạc, nghi lễ và lời hát chầu đã “kéo Đạo Mẫu về gần hơn với đời sống.” Điều đó thúc đẩy tính thiết thực cho mọi sự tìm tòi, nghiên cứu Chầu văn và Đạo mẫu để tìm ra được các hằng số tâm linh người Việt.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG HẦU BÓNG VÀ NGHỆ THUẬT HÁT CHẦU VĂN Ở VIỆT NAM 4

1.1 Tín ngưỡng hầu bóng của người Việt 4

1.2 Hát chầu văn 5

1.2.1 Khái niệm 5

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển 6

1.2.3 Phân loại 8

1.3 Một số tác phẩm và hình ảnh tiêu biểu 9

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG HÁT CHẦU VĂN 12

2.1 Chủ thể trong nghệ thuật diễn xướng hát chầu văn 12

2.1.1 Trình bày 12

2.1.2 Trang phục 13

2.1.3 Đạo cụ 15

2.1.4 Hóa trang 16

2.1.5 Điệu bộ 17

2.2 Lễ vật trong hát chầu văn 18

2.3 Không gian biểu diễn 19

2.4 Thời gian diễn ra 20

2.5 Nội dung bài bản 20

2.6 Âm nhạc 23

2.6.1 Nhạc cụ 23

2.6.2 Làn điệu, tiết tấu 26

2.6.3 Phần lời 27

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA CHẦU VĂN VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN 28

3.1 Giá trị của chầu văn 28

3.2 Thực trạng và vấn đề bảo tồn 30

KẾT BÀI 33

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thời gian gần đây chúng ta thường hay nghe tới cụm từ Hầu đồng hoặc cáctiết mục biểu diễn chầu văn, đặc biệt hơn khi tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Namvừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ĐạoMẫu nói chung và nghi thức hầu đồng là một tín ngưỡng dân gian phổ biến và đặcsắc của Việt Nam, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có một giá trị lịch sử rất lớn

Cùng làn điệu Chầu văn và các tiết mục múa đặc trưng, những buổi trình diễnhầu đồng đã tái hiện chân thực cung cách hầu đồng của người Việt xưa Trải quabao thời gian, tục thờ mẫu và nghi lễ hầu đồng vẫn tồn tại đến ngày nay như mộtbảo tàng sống của truyền thống văn hoá Việt Nam Chầu văn là biểu hiện sinh động

và có hệ thống nhất cho sự “cụ thể hóa” của đạo Tam phủ và Tứ phủ, linh thiêng

mà “gắn với muôn mặt đời thường và gần gụi với mọi con người bình thường”, đápứng được đầy đủ mọi ước vọng của cuộc sống bấp bênh, gian khó Hơn ở đâu hết,Chầu văn với âm nhạc, nghi lễ và lời hát chầu đã “kéo Đạo Mẫu về gần hơn với đờisống.” Điều đó thúc đẩy tính thiết thực cho mọi sự tìm tòi, nghiên cứu Chầu văn vàĐạo mẫu để tìm ra được các hằng số tâm linh người Việt Đây là một nghi lễ, mộthiện tượng tâm linh còn chứa đựng nhiều điều “bí ẩn” cho nên nhiều người coi đây

là trò “mê tín” và “nhố nhăng” Tuy nhiên, đó chỉ là "cảm giác" của những ngườichưa hiểu về hầu đồng Qua bài này, chúng tôi mong muốn sẽ giúp mọi người hiểu

rõ về nghi thức hầu đồng và nghệ thuật hát văn gắn liền với tín ngưỡng thờ MẫuTam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, mang đậm bản sắc văn hóacủa dân tộc Việt

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG HẦU BÓNG VÀ NGHỆ

THUẬT HÁT CHẦU VĂN Ở VIỆT NAM

1.1 Tín ngưỡng hầu bóng của người Việt

Phong tục thờ phụng các bậc thánh nhân, phúc thần của người Việt Nam từbao đời nay Các nghi lễ thờ phụng Phật, thánh dù ở bất kì phương diện thời đạinào thế giới tâm linh về đức tin đều ngự trị cao nhất ở trong tâm thức chúng ta Cácnghi lễ này có rất nhiều, song nghi lễ hầu bóng là tiêu biểu

Nghi lễ hầu bóng là sự tái hiện về nhân thân của các bậc Thần, Thánh trênchiếu đồng mà các ông đồng, bà đồng khi nhập đồng trong các buổi lễ nơi bản đền,bản phủ, là hoạt động tâm linh độc đáo chỉ có ở tín ngưỡng thờ Mẫu của nước ta.Trong hầu bóng người được thánh nhập gọi là thanh đồng Thanh đồng làm cái giá

để thánh nhập vào, là trung gian giữa thế giới thần linh với con người Mỗi vịThánh giáng nhập vào thanh đồng từ lúc nhập đến lúc thăng gọi là một giá đồng.Thời gian ấy kéo dài khoảng từ 15 đến 20 phút và thời điểm tổ chức các canh hầuthường là vào các ngày lễ của đền, ngày cuối năm, đầu xuân, cầu phúc lộc chomột sự kiện nào đó của người dân

Cấu trúc một canh hầu gồm có từ 1 đến 4 người, còn có 4 hầu cận ngồi ở bốngóc chiếu trên sân công đồng ( sập diễn), ở giữa là "đồng"

Trình tự một canh hầu đồng:

- Lễ rước đồng từ ngoài sân vào Công đồng, Thầy Pháp đi trước, sau là đồng

và hai cận, tiếp sau là hai cận nữa và đoàn mú phụ họa nếu có Tất cả đềutrang phục chỉnh tề, trang nghiêm, tay khoanh như lúc tế

- Thanh đồng làm lễ Phật – Thánh và có lời cáo với mọi người xung quanh.Sau đó bốn cận bước lên quỳ bốn góc chiếu và chuẩn bị

- Hát văn bắt đầu thỉnh các Mẫu

- Diễn đồng khi Thánh nhập từng giá, ra chiếu múa hát mở đầu, thắp hươnglàm lễ trình

Trang 4

- Ngồi trùm khăn phủ diện để Thánh giáng

- Tung khăn phủ diện ( lúc Thánh đã nhập )

- Thay y phục theo Thánh và múa hát theo từng Thánh

- Thánh nghỉ ngơi (uống rượu, hút thuốc, )

- Phát lộc

- Thánh thăng ( lại phủ khăn trùm đầu)

Và song hành với với nghi lễ hầu bóng phải nói đến loại hình đàn hát chầuvăn Chầu văn có môi quan hệ mật thiết và là yếu tố không thể thiếu trong các nghi

lễ hầu bóng bởi lẽ các bản văn mà cung văn thể hiện có mô tả về nhân thân, tínhcách, đức độ của các vị Thánh trong các tòa giá một cách rõ ràng, sinh động nhấtthì các ông đồng, bà đồng mới thể hiện hết được sự hiện diện của Thánh lúc Thánhnhập Có như vậy, giá trị tâm linh, giá trị tinh thần của buổi lễ mới đạt đỉnh diểmcủa sự hoàn hảo

1.2 Hát chầu văn

1.2.1 Khái niệm

Trong sách “Kiếm văn tiểu lục”, tác giả Lê Quý Đôn có viết: “ Thời Trần cólối hát trước mặt đế vương gọi là hát chầu” Giải thích nghĩa Hán Việt của từ Chầu(朝) có nghĩa là bầy tôi vào hầu vua Chữ Văn (朝) được hiểu là văn tự, bài văn, lờivăn, văn chương, nghĩa rộng hơn là nghi lễ, văn vẻ bởi lẽ văn được xem như cáidấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt gọi là văn, như văn hóa,văn minh Có thể lối hát chầu này sau đó được vận dụng trong nghi lễ thờ cúng rồi

được kết hợp với đồng bóng gọi là chầu văn Như vậy, chầu văn là một hình thức

diễn xướng dân gian gồm hát và diễn xướng theo các bài văn để hầu thánh;  là

hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo

Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo),

tín ngưỡng dân gian của Việt Nam

Hát chầu văn bao gồm 3 giai đoạn trong một canh hầu:

Trang 5

- Hát mờ trước khi lên đồng với nội dung thỉnh các vị Thánh về nhập đồng

về nội dung các bài văn, lời văn, về lối và những nghi thức, về làn điệu và kĩ thuậtđàn hát cùng với nghệ thuật diễn xướng

Nam Hà từ lâu đã được không ít nhà nghiên cứu và những nghệ nhân chầu văncoi là một trong những cái nôi của chầu văn Song ngay trên mảnh đất này, việcnghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành của nó cũng khá rắc rối, phức tạp Sự suyđoán về lại lịch sử của chầu văn trong dân gian tập trung ở nhiều ý kiến khác nhau,hướng vào các thời điểm lịch sử và địa dư khác nhau

Có không ít truyền thuyết nói về sự ra đời của nghệ thuật hát chầu văn với nộidung khá phong phú, đa dạng Dường như mỗi truyền thuyết đều gắn liền với têntuổi, lai lịch một ông hoàng, bà chúa nào đó và địa danh của từng địa phương nhấtđịnh Sự đa dạng của các truyền thuyết ấy đã chứng tỏ sự phong phú và đa dạngcủa các giá chầu văn cổ truyền và tác động của nó bấy lâu trong quần chúng nhândân

Tương truyền Đức Thánh Trần (tức Trần Hưng Đạo hay Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn) (thế kỉ XIII) là một người có tài thao lược, văn võ kiêmtoàn Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột của Trần Thái Tông) và

bà Thiện từ Quốc Mẫu Vị anh hùng dân tộc này được người đời xem như một bậc

kì nhân, là một vị tướng nhà trời giáng trần chuyển thế thành Đêm nằm ngủ bà

Trang 6

Thiện Từ Quốc Mẫu mộng thấy người nhà Trời là Sinh Vương Thái Công hiện raxin được đầu thai để xuống trần dẹp loạn Thế rồi bà mang thai lâu hơn ngườithường và sinh ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú lạ thường đặt tên là Trần Quốc Tuấn.Sinh thời Hưng Đạo Đại Vương không chỉ thông tuệ binh pháp, rất mực trungquân, ái quốc mà còn là bậc hiền nhân đức cả, giàu lòng bác ái Vì thế, khi trở vềtrời rồi Ngài vẫn luôn để tâm phù hộ con cháu, tiếp sức cùng người đời trong cáccơn giặc giã binh đao hay các kì mât mùa vì thiên tai, hận hán.

Ở những nơi thờ cúng, nhất là đến Bảo Lộc (còn gọi là đền Trần) ở thôn TứcMạc, phủ Thiên Trường (nay thuộc ngoại thành thành phố Nam Định), vào dịp lễhội người ta ngồi đồng để mong Ngài hóa thân, hiện diện ở thế gian, để ca ngợicông đức của Ngài Ngoài việc cũng lễ, cầu xin người xưa đã soạn ra một lối hátchầu trước bàn thờ để hầu bóng Ngài Đó chính là lối hát chầu văn

Có ý kiến cho rằng hát văn bắt nguồn từ việc các con nhang đệ tử, thủ nhangđồng, đền và đặc biệt là các thầy cúng chuyên khấn những bài khấn Tứ phủ và còn

ra đời từ việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Để cho dễ nhớ họ đã khấn bằng nhữngbài văn lục bát là sau này thành những lời ca trong điệu chầu văn

Hát chầu văn có lịch sử rất là lâu dài, ra đời sớm hơn so với các loại hình dân

ca khác Từ thế kỷ XVII, chầu văn phát triển mạnh ở Nam Định cùng với quá trìnhhình thành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như phủ Dầy (xã Kim Thái,huyện Vụ Bản), phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (xã

Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc), đền Cố Trạch (phường Lộc Vượng, thành phố NamĐịnh)…Sau đó phát triển ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày cànglan tỏa ra nhiều vùng trên cả nước

Giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) là thời kỳ thịnhvượng nhất của nghi lễ hát chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nóiriêng, có sự tham gia của các quan lại địa phương và triều đình Từ năm 1954, hátvăn dần dần bị mai một vì bị cho là quá ủy mị và mê tín Từ những năm 1990 đến

Trang 7

nay, với những chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng,nghi lễ này được khôi phục, phát triển trở lại và còn được sân khấu hoá, trình diễn

để phục vụ đời sống đương đại

1.2.3 Phân loại

Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu (hátphục vụ hầu đồng, lên đồng), và hát văn nơi cửa đền:

Hát thờ: được hát vào các ngày lễ tiết, hát trước ngày tiệc, ngày sóc

vọng đầu rằm, mồng một, ngày tất niên.những ngày tiệc thánh (ngày thánh đảnsinh, ngày thánh hóa ) Tuy nhiên, hát thờ trước khi vào các giá lên đồng là mộttrong những phần quan trọng nhất của chầu văn

Hát thi: dùng trong các cuộc đua tài thi hát và thường là hát đơn, chỉ

một người hát Có thể nói hát thi là hình thức biểu diễn mang giá trị nghệ thuật âmnhạc cao nhất trong hát Văn Mỗi cuộc thi hát thường quy tụ rất nhiều bậc tài danh,nhà nghề trong giới hát văn, trước là để thể hiện tài năng sau là để phục vụ chonghề nghiệp của họ bởi “chứng chỉ và thương hiệu” có được trong cuộc thi

Hát hầu: trong hát hầu theo tín ngưỡng Tứ phủ thì ba giá tam tòa

Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng chứ không tung khăn Các giá tung khănbắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, người

ta có thể kết hợp hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu kết hợp với Tứ phủ thì thườngthỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, còn nếu hầu riêng thì mới thỉnh đức ThánhVương Trần Triều đầu tiên

Hát văn nơi cửa đền: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày

đầu xuân, ngày lễ hội Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ.Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền, và hát theo yêu cầu củakhách hành hương

Trang 8

1.3 Một số tác phẩm và hình ảnh tiêu biểu

 Cô đôi thượng ngàn ( Nghệ sĩ Xuân Hinh)

Tác phẩm hát về Cô đôi thượng ngàn hay Sơn Tinh Công Chúa là một vị tiên

nữ trong truyền thuyết tính ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam Cô đôi thượng ngàn đượcthờ ở nhiều di tích đền và phủ ở phía Bắc Việt Nam và được ca ngợi trong nhữngkhúc hát văn nổi tiếng mang tên “Cô đôi thượng ngàn”

Đền chính thờ Cô Đôi Thượng Ngàn tại thôn Bồng Lai, xã Văn Phương Khi

cô về ngự, đoạn hát văn đầu thường thỉnh:

"Bồng Lai là cảnh Thiên Thai Tấu Cô Đôi Thượng đại tài hái hoa Hầu Vua hầu Mẫu bơ tòa

Tiếng tăm lừng lẫy Vua Bà yêu thương

Về đồng đánh phấn soi gương Lược ngà chải chuốt, khăn xanh vấn đầu"

 Cô Ba Thoải Cung ( Nghệ sĩ Xuân Hinh)

Hát văn về Cô Ba Thoải Cung còn gọi là Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Ba Hàn Sơn, Cô

Bơ Thác Hàn được thờ tại đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, huyện Hà Trung, tỉnhThanh Hóa Cô Ba Thoải Cung vốn là con vua Thủy Tề, được phong là Thoải CungCông Chúa Cô Ba Thoải Cung đúng hàng thứ 3 trong Tứ Phủ thánh cô Sau này côđược giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng Trong cuộc kháng chiến chống quân

Trang 9

Minh, có công giúp vua Lê Lợi trong những ngày đầu khởi nghĩa Cô còn linh ứnggiúp vua Lê trong cuộc diệt Mạc Phủ.

“Hiển danh là bóng Cô BơLên tâu xuống rộng trong tòa Thoải Cung”

 Cô Chín Sòng Sơn ( Văn Trung)

Cô Chín Sòng Sơn còn được gọi là cô Chín Giếng, một tiên cô tài phép, theohầu Mẫu Sòng, lại có tài xem bói, 1000 quẻ cô bói ra thì không sai quẻ nào, cô cóphép thần thông quản đại, ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giamhồn phách, rồi cô hành cho dở điên dở dại, sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứThanh, ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản

 Đức Thánh Trần Triều ( Thanh Long)

Trang 10

Trong đạo Mẫu, đức Thánh cha là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – vịtướng tài ba của Việt Nam và thế giới, văn võ song toàn, tinh anh kiệt xuất, làngười có công lớn nhất triều Trần trong ba lần đánh bại quân Mông Nguyên Bảnvăn này nói về Đức Thánh Trần Hưng Đạo được sử dụng để hát thi và khi hầu giáĐức Đại Vương.

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG HÁT CHẦU VĂN

2.1 Chủ thể trong nghệ thuật diễn xướng hát chầu văn

Trang 11

Những vị nghệ nhân lâu năm hát chầu văn thường rất kĩ tính trong từng khâuchuẩn bị phục trang, hóa trang Theo cách nói dân giã là “đã hành nghề” thì phải

“tận tâm tận tụy với nghề”, nếu “làm nghề” mà cẩu thả, mà không đứng đắn, dốclòng dốc sức, nguyện lấy lòng chân thành mà hầu các thánh, không những hủy hoạimột giá trị nghệ thuật độc nhất vô nhị ở Việt Nam nói chung, cả thế giới nói riêng,

mà còn sẽ bị thần thánh “phạt cho đấy” Tuy nhóm không thể liên lạc, tìm hiểu tiếpxúc sâu với một vị nghệ nhân chầu văn nào, để có được những chia sẻ, những kinhnghiệm về môn nghệ thuật này; nhưng bằng phương pháp thu thập tài liệu, nhóm

đã đút kết ra những quy luật cơ bản sau:

để khi thánh nhập thì trang phục ăn khớp với giá đồng Người phụ việc cũng lo các

lễ vật dâng cúng cùng lộc thánh để phát cho các người đến cung nghinh

Thứ tự trình diễn trong chầu văn như sau:

Trang 12

Trang phục người biểu diễn trong hát chầu văn rất đa dạng và phong phú vớinhững đường nét may vá, thêu thùa rất tỉ mỉ và công phu Khăn đỏ phủ diện khôngthể thiếu trong lễ hầu đồng Tuy vậy, trang phục được quy định rất chặt chẽ, phùhợp theo giới tính, xuất thân và đặc điểm tượng trưng của vị thần thánh ấy Qua

thống kê, chúng ta nhận thấy: Trang phục có 4 màu cơ bản: đỏ, xanh, trắng, vàng.

Thiên phủ - màu đỏ là trang phục của Mẫu Thượng Thiên và ngôi thứ nhấtgồm các vị: chầu đệ nhất, quan lớn đệ nhất…

Nhạc phủ - màu xanh là trang phục của Mẫu Thượng Ngàn và ngôi thứ haigồm các vị: chầu đệ nhị, quan lớn đệ nhị…

Trang 13

Thoải phủ - màu trắng là trang phục của Mẫu Thoải và ngôi thứ ba gồm cácvị: chầu đệ tam và quan lớn đệ tam…

Địa phủ - màu vàng, trang phục của Mẫu Địa và ngôi thứ tư gồm các vị: chầu

đệ tứ và quan lớn đệ tứ…

Trang 14

Cô Sáu thuộc phủ Thượng Ngàn (tục truyền cô là người dân tộc Nùng) trangphục là quần áo chàm ngắn vạt rộng tay, tai đeo vòng bạc, tóc cài trâm hay hoarừng, lưng đeo gùi…

Ngoài ra màu tím hoặc màu lam cũng thương được dùng cho các Thánh xuấtthân ở vùng rừng núi Mỗi bộ trang phục tùy theo đặc điểm xuất xứ, tính cách củatừng nhân vật mà có thêm những dụng cụ khác như: chầu Thượng mặc áo xiêmxanh, thêu kim tuyến, buộc chéo sau lưng, khăn bịt đầu thắt ra sau gáy, quai tua rủxuống hai bên, cổ đeo vòng bạc, lưng giắt dao rừng; các Quan lớn thì đủ cân đai,bối tử, áo bào, đi hia; Cô Bé sơn trang vân dụng trang phục như người Dao, chânquấn xà cạp; Cô Đôi thêm vòng đeo cổ; Cô Năm, Cô Bảy lại thêm yếm, xà lê thêu

ở trước ngực; Cô Bơ Thoải phủ thì khăn ba múi, áo mớ ba màu trắng, chân đi hàicánh phượng thêu hoa…

2.1.3 Đạo cụ

Đạo cụ trong biểu diễn chầu văn được chia làm ba nhóm:

- Nhóm binh khí: đao, kiếm, cờ… để thể hiện các nhân vật dung mãnh, uynghi đánh giặc như các Võ quan

- Nhóm đạo cụ thể hiện sự quyền quý, tao nhã như: hèo, quạt, hộp thuốc, bút

đề thơ, nậm rượu…

- Nhóm đạo cụ giá các Cô có mái chèo, quang gánh, lẵng hoa, nón quai thao,túi chầu dao quắm, thậm chí giá Cô Tám đồi chè còn có cả một cành chè tươi…

Trang 15

2.1.4 Hóa trang

Hóa trang là bước chuẩn bị không thể thiếu đối với các nghệ nhân biểu diễnnghệ thuật chầu văn Những người nghệ nhân lâu năm thường sẽ có người trangđiểm riêng, có thể là người chuyên trang điểm về thể loại, dòng nhân vật đó, hoặc

là người trang điểm lâu năm đã theo chân mình từ lúc bắt đầu “hành nghề”, vì lẽngười trang điểm sẽ nắm được nét đặc trưng của nhân vật thần linh ấy hoặc hiểuđường nét góc cạnh trên khuôn mặt mình, mục đích làm sao cho thể hiện thànhcông nhất nét chân dung hoạt họa vị thần thánh mà mình đảm nhận Nghệ thuật hátchầu văn là tái hiện lại nhân vật thần linh, vốn thần linh là nhân vật được truyềnthuyết hóa, thần thánh hóa, vốn dĩ chưa ai từng được diện kiến, không ai biết được

vị ấy trông như thế nào, chỉ có ở nơi không gian linh thiêng như hát chầu văn,người dân mới được tiếp xúc với thánh thần Vì vậy, hóa trang sao cho giống, khắchọa được “thần hình” thì mới đạt

Các đường nét gương mặt phải sắc sảo, hồng hào, trang điểm hát chầu vănkhông quá lòe loẹt, hoa mỹ như hát cải lương, hát tuồng, vì bản chất muốn đem lại

là cảm giác thần tiên thoát tục, hạ trần ban phước lành đến cho dân Đôi mát hồngnhuận mang sinh khí, ánh mắt sắt sảo, thâm sâu, đôi môi đỏ tươi tắn.Trang điểm

Trang 16

sắc nét tạo sắc thái biểu cảm trên khuôn mặt, thể hiện sinh khí Thường thì nhữngnhân vật Cô Bơ, Cô Tám, Cô Bảy… sẽ được trang điểm đậm hơn, nổi bật hơn.

2.1.5 Điệu bộ

Trong biểu diễn chầu văn, điệu bộ thường sẽ được thể hiện rõ nhất ở các thanhđồng, tuy nhiên để nghi lễ hầu bóng diễn ra hoàn hảo thì điệu bộ của những ngườibiểu diễn chầu văn không chỉ ở các ông, bà đồng mà còn ở gương mặt và điệu bộcủa các cung văn, nhạc công, hầu cận

Thường sẽ là những động tác múa, thể hiện sự ứng nhập của thần thánh, vìvậy động tác sẽ khác nhau tùy theo từng vị thánh Nhưng chung quy thì vẫn thấymàu sắc ảnh hưởng của chèo và vũ điệu dân gian Con người ta dễ dàng nhập linhhồn hay lên đồng là khi con người đang ở trong trạng thái hưng phấn nhất, thoảimái nhất, sảng khoái nhất Thường để đạt được trạng thái tâm lý như vậy là người

ta sẽ uống một chút rượu, hút một ít thuốc thơm Rượu men say đưa đường dẫn lốiđến với giai đoạn thăng hoa cảm xúc Người biểu diễn ngoài tuân theo tính cách,nét đặc trưng nhân vật mình đảm nhận, ngoài ra các điệu bộ, cử chỉ còn phải tuântheo trình tự buổi biểu diễn, các giai đoạn trong từng vở chầu văn, có cao trào, có

uy nghiêm, có uyển chuyển dịu dàng,…

Mỗi động tác múa trong giá chầu phản ảnh con người thật của vị thánh giángđồng và thay đổi theo đặc điểm của “giá” “Giá” quan thì thường sẽ múa cờ, múakiếm, múa đao,… “Giá” các bà chầu thì thường múa quạt, múa tay không… “Giá”các ông hoàng thì thường múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ… “Giá” các cô sẽmúa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa tay không… Trướckhi sử dụng lễ cụ, người hầu đồng bắt chéo hai lễ cụ lên trước trán, sau đó cuối đầulàm lễ Khi múa xong một giá cũng lại làm như thế để tạ lễ

Ngày đăng: 20/03/2020, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w