Với những cơ hội và thách thức mới trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế thì hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư bao gồm cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước cần được tiếp
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO B ộ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
Trang 3Phần mở đầu
M Ụ C L Ụ C
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU T ư VÀ PHÁP
LUẬT ĐẦU T ư
1.1 KHÁI NIỆM VÈ ĐÀU T ư VÀ PHÁP LUẬT ĐÀU T ư
1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU T ư VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU T ư ĐỐI VỚI PHÁT TRIẾN KINH TẾ
1.3 S ự PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ'Ở VIỆT NAM
1.3.1 Pháp luật đầu tư giai đoạn từ 1975 đến khi có Luật Đầu tư 2005
- Pháp luật đầu tư giai đoạn 1975 - 1986
- Pháp luật đầu tư giai đoạn 1987 - 1996
- Pháp luật đầu tư giai đoạn 1998 - 2004
1.3.2 Pháp luật đầu tư giai đoạn 2005 đến nay
1.4 LUẬT ĐẲU TƯ - KẾT QUẢ TẤT YẾU CỦA x u THÊ NHÁT THÊ HOÁ PHÁP
LUẬT ĐẨU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
1.4.1 Luật Đầu tư 2005 - Kết quả tất yếu của xu hướng nhất thể hoá môi trường pháp lý của hoạt động đầu tư
1.4.2 Tác động của Luật Đầu tư 2005
CHƯƠNG 2 LUẬT ĐÀU TƯ 2005 TIẾP CẢN TỪ PHÍA ĐÒI HỎI
LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC PHAT TRIỂN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
2.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA LUẬT ĐẲU TƯ VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT ĐẦU TƯ CHƯNG
Trang 42.2 MỘT SỐ ĐIÊM MỚI c ơ BẢN CỦA LUẬT ĐÀU T ư 2005 33
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư
2.2.2 Hình thức đầu tư
2.2.3 Ưu đãi đầu tư, lĩnh vực, địa bàn un đãi và hỗ trợ đầu tư
2.2.4 Thủ tục đầu tư trực tiếp
2.2.5 Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước
2.2.6 Chủ thể quan hệ đầu tư
2.2.7 Các biện pháp đảm bảo đầu tư và khuyến khích đầu tư
2.2.8 Triển khai thực hiện dự án đầu tư
CHUƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THựC HIỆN LUẬT ĐẦU 57
TƯ 2005
3.1 CÁC GIẢI PHÁP VÊ XÂY DựNG PHÁP LUẬT 57
3.1.1 Rà soát và loại bỏ các quy định của pháp luật hiện hành 5 9
mâu thuẫn với Luật Đầu tư 20053.1.2 Tuyên truyền, phổ biến Luật Đầu tư 2005 603.1.3 Minh bạch hoá các thủ tục pháp lý liên quan đến hoạt động đầu 61tư
3.2 CÁC GIẢI PHÁP VỀ T ổ CHỨC VÀ CHÍNH SÁCH '
3.2.1 Ban hành danh mục địa bàn, lĩnh vực đầu tư được ưu đãi 623.2.2 Đảm bảo tính công bằng khi xem xét về ưu đãi đầu tư mở rộng '
và đầu tư theo chiều sâu
3.2.3 Tiến hành rà soát các ưu đãi đầu tư mà trái với quy định của Luật
Trang 5D A N H M Ụ C C H Ữ V I Ế T T Ắ T
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
KKĐT Khuyến khích đầu tư
ƯBND ư ỷ ban Nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WTO World Trade Organisation (Tổ chức thương mại thế giới)
CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
BCC Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business cooperation contract)BOT Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (Build-Operate-Transfer)BTO Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (Build-Transfer-Operate)
BT Xây dựng - Chuyển giao (Built-Transfer)
APEC Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
(Asia - Paciíic Economic Co - Operation)XHCN Xã hộ chủ nghĩa
TW Trung ương
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Chủ trương họp tác đầu tư với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, khả năng quản lý và thị trường thế giới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã được xác định và cụ thể hóa ừong các văn kiện của Đảng Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987 mở đầu cho việc thu hút có hiệu quả và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo phương châm
đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả họp tác quốc tế Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài
Song song với việc mở rộng và thu hút đầu tư nước ngơài, Nhà nước ta cũng tiến hành xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư trong nước So với pháp luật đầu
tư trực tiếp nước ngoài thì hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư trong nước còn đồ
sộ hơn nhiều với hàng ngàn văn bản quy phạm pháp luật, trong đó không ít những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập với sự vận động của cơ chế kinh tế mới Nhiều văn bản tuy đã trở nên bất cập song vẫn chưa bị bãi bỏ hoặc chưa được kịp thời sửa đổi, bổ sung Một số lĩnh vực của nền kinh tế còn thiếu sự điều chỉnh của pháp luật
Trong khi ở nhiều nước trên thế giới chỉ tồn ỉại một khung pháp luật về đầu tư
áp dụng chung cho mọi đối tượng, thì ở Việt Nam pháp luật đầu tiên về đầu tư vẫn bị phân thành hai mảng độc lập với rất nhiều sự khác nhau về phương pháp và nội dung điều chỉnh Sự tồn tại của hai khung pháp luật về đầu tư đã làm cho các chủ thể muốn
5
Trang 7đầu tư kinh doanh chưa được bình đẳng thực sự về mặt kinh tế bởi các chính sách và biện pháp khuyến khích bảo hộ đầu tư hay hạn chế đầu tư được áp dụng rất khác nhau đối với các chủ thể đầu tư.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước sang một giai đoạn mới của công cuộc đổi mới và phát triển theo định hướng của Đảng và nhà nước “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực và thế giới” Với những cơ hội và thách thức mới trong phạm
vi quốc gia, khu vực và quốc tế thì hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư bao gồm
cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước cần được tiếp tục sửa đổi và bổ sung, hoàn thiện theo hướng xác lập quyền bình đẳng thực sự cho các chủ thể kinh doanh, tạo năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu tư trong nước Việc hoàn thiện pháp luật đầu tư diễn ra ừong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành cải cách nhiều thể chế, chính sách và cả pháp luật để gia nhập WTO một tổ chức mà nguyên tắc cơ bản được dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại là không phân biệt đối xử với hai quychế phái sinh từ nó là quy chế đãi ngộ quốc gia và quy chế tối huệ quốc Vì vậy việc soạn thảo và ban hành Luật Đầu tư năm 2005 không thể không tính đến các thoả thuận về thương mại và đầu tư của WTO Vì thế, điều rất dễ giải thích là Luật Đầu tư 2005 được áp dụng chung cho hoạt động đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư trong nước và đầu
tư nước ngoài Luật đầu tư có rất nhiều điểm mới mang tính đột phá và có thể coi là một ừong những luật tăng cơ hội cho Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên, việc thực hiện tốt Luật Đầu tư 2005 đòi hỏi phải có những nhận thức đúng đắn, nhất là về những nội dung của Luật, những điểm thay đổi mang tính đột phá Nhận thức đúng những cơ sở lý luận và thực tiễn của cách tiếp cận mới, những điểm mới trong Luật Đầu tư điều chỉnh hoạt động đầu tư sẽ giúp thực hiện có hiệu quả luật này trong thực tế
Từ những lý do trên đây tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Cơ sở lỷ luận và thực
tiễn Cba những điểm mới trong Luật Đầu tư 2005
2 Mục đích nghiên cứu
6
Trang 8Mục đích của công trình nghiên cứu này là tìm hiểu các cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới của Luật Đầu tư 2005, được ban hành luật đầu tư áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế Vì Luật Đầu tư 2005 có cách tiếp cận mới trong điều chỉnh các quan hệ đầu tư nên việc nhận diện các cơ sở lý luận và thực tiễn của cách tiếp cận này cũng như những điểm mới của luật rất có ý nghĩa đối với việc nhận thức đúng và thực hiện nó một cách hiệu quả.
Để thực hiện mục đích ưên, công trình nghiên cứu này hướng tới thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nhận diện và luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới,
cơ sở lý luận và thực tiễn của cách tiếp cận mới trong việc điều chỉnh hoạt động đầu
tư bằng pháp luật
- Nghiên cứu những điểm mới cơ bản của Luật Đầu tư 2005, nhất là về thủ tục đăng ký và cấp phép đầu tư; về thẩm đinh đầu tư; về quyền của các nhà đầu tư và lý giải chúng tò góc độ lý luận và thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp bước đầu nhằm triển khai thực hiện Luật đầu tư2005
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật đầu tư nói chung và Luật Đầu tư 2005 nói riêng liên quan đến nhiều vấn đề Bên cạnh đó pháp luật đầu tư bao gồm rất nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sách đầu tư cũng như các chính sách có liên quan Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu Luật Đầu tư năm 2005 với việc có tham chiếu một số văn bản pháp luật về đầu tư có liên quan đến việc làm rõ những điểm mới, cách tiếp cận mới của Luật Đầu tư năm 2005 Các văn bản có thế được nghiên cứu và tham chiếu bao gồm các văn bản pháp luật thực định về đầu tư nước ngoài, các văn bản pháp luật đầu tư trong nước, các chính sách và chủ trương đầu tư
Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu thực tiễn công tác thi hành pháp luật đầu
tư nước ngoài và tình hình đầu tư trong nước, những vướng mắc của hai mảng pháp luật này trước khi Luật Đầu tư 2005 được ban hành
7
Trang 94 Tình hình nghiên cứu
Công tác nghiên cứu về pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, pháp luật khuyến khích đầu tư trong nước đã được tổ chức khá phong phú Các đề tài nghiên cứu về hai đạo luật này dưới góc độ cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như điểm mới của hai đạo luật này tương đối nhiều như: “Cợ sở khoa học của việc hoàn thiện khung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” “Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” Nguyễn Thị Lan Hương 2005 “Hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong xu hướng xây dựng Luật Doanh nghiệp chung” Nguyễn Hữu Lộc 2005
Pháp luật về đầu tư cũng đã được xem xét dưới một số khía cạnh như: “Sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”
“Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” “Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài - thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Trần Thị Kim Oanh 2005 “Pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực” Nguyễn Thị Hà 2003
Ở nước ta trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp luật và cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong và ngoài nước đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Mỗi một công trình đã đề cập đến những nội dung khác nhau của pháp luật đầu tư nước ngoài, hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong và
_ _ > * ? _ Ị ' Ạ _ P T ’ _ ? - / - Ạ _ 1 ^ 1 1 Ạ i Ạ _ ÍV 4 Ặ _ A , _ / _1 1 _ 1 • Ặ _
ngoài nước nói riêng Tât cả các công trinh kê ưên cũng đã đê cập một cách trực tiêp hoặc gián tiếp đến nhiều nội dung về pháp luật đầu tư ở những khía cạnh và phạm vi khác nhau của khung pháp luật đầu tư trong khoảng thời gian trước khi Luật Đầu tư
2005 được ban hành Vì vậy công trình nghiên cứu Luật Đầu tư 2005 là mới mẻ ở thời điểm hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận vân sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển kinh tế
8
Trang 10Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, hệ thống hóa, diễn giải, quy nạp và so sánh.
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của Luật đầu tư 2005 đối với việc hoàn thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc trở thành thành'viên của WTO Những kết luận và tư liệu của luận văn cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan thực thi pháp luật về nội dung của Luật đầu tư 2005 để từ đó triển khai thực hiện tốt hơn Luật này Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai tốt Luật đầu tư 2005 trong thực tiễn
7 Bố cục của luận văn gồm có 03 phần
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết thúc
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ 1.1 Khái niêm đầu tư và Luât Đầu tư • •
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Khái niệm đầu tư hiểu theo cách phổ thông là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”
Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là “chìa khoá” của sự tăng trưởng kinh tế Các nguồn lực được sử dụng để đầu tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ
Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau (cá nhân, tổ chức) tiến hành và ngày càng phong phú Tuy vậy, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại những lợi ích xác định Những lợi ích đạt được của đầu tư có thể là sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất
là “sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận”
Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật Đầu tư 2005, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật Luật Đầu tư
2005, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhàm mục đích kinh doanh, đã đưa
10
Trang 12ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc
vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan ”,
Từ định nghĩa nêu trên, có nhiều cách để phân loại đầu tư tùy theo từng tiêu chí Trong phạm vi của luận văn tôi xin trình bày một số tiêu chí như sau:
Thứ nhất, dựa vào mục đích đầu tự, có thể phân loại đầu tư thành đầu tư công
cộng và đầu tư tư nhân
“Đầu tư công cộng1'1 có thể hiểu là một nhà nước hoặc một quốc gia, một tổ
chức, một chính phủ tài trợ quốc tế công cộng dành cho một số quốc gia khác nhằm đáp ứng một số nhu cầu lợi ích công cộng của họ thông qua sự quản lý của nhà nước hoặc một số tổ chức liên chính phủ như Ngân hàng thế giới, các ngân hàng phát ừiển các khu vực
“Đầu tư tư nhân” là hoạt động của tư nhân (thể nhân, pháp nhân) kinh doanh
nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận riêng
Thứ hai, nếu dựa vào tính chất đầu tư, chúng ta có thể chia đầu tư thành đầu tư
trực tiếp và đầu tư gián tiếp
“Đầu tư trực tiếp” được định nghĩa tại Điều 3 Luật Đầu tư 2005 như sau: Đầu
tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Đặc điểm nổi bật của các hình thức đầu tư này là các nhà đầu tư thường kiểm soát hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp có vốn đầu tư của mình Đầu tư trực tiếp mang theo sự đồng bộ về nguồn lực của đối tác kinh doanh (vốn, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, khả năng cung ứng vốn và năng lực marketing ) nên tạo ra nhiều ngành nghề mới và thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm: Thành lập
tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, họp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh
1 ]
Trang 13“Đá« tư gián tiếp” Theo định nghĩa tại Điều 3 - Luật Đầu tư năm 2005 thì “Đầu
tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư” Khác với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp thì nhà đầu tư chỉ đưa vốn vào, không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Thứ ba, nếu dựa vào nguồn gốc của vốn đầu tư, chúng ta có thể chia đầu tư
thành hai loại: Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
+ v ề đầu tư nước ngoài: Theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Đầu tư 2005 của Việt
Nam thì: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” Như vậy, khái niệm đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, đồng thời pháp luật đầu tư của Việt Nam không loại trừ bất cứ một đối tượng nào
+ v ề đầu tư trong nước: Theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Đầu tư 2005 thì: “Đầu
tư trong nước là việc nhà đầu tư ừong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”
Hiện nay, vấn đề tăng nhanh vốn đầu tư và tăng liên tục tốc độ tăng trưởng kinh
tế là một vấn đề sống còn của dân tộc Khuyến khích đầu tư trong nước đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài như hai dòng chảy vào một con kênh, tạo nguồn lực cho đất nước trong hiện tại và những năm sắp tới v ề lâu về dài thì nguồn lực bên trong
sẽ tăng dần và trở thành chủ đạo Nhưng trước mắt, trong khi nguồn lực bên trong còn
có hạn, hơn nữa lại chưa tạo ra được môi trường đầu tư để huy động tối đa nguồn lực
đó, thì nguồn lực bên ngoài lại chiếm tỷ trọng lớn và đáp ứng được những dự án đầu
tư quan trọng nhất
1.1.2 Khái niêm Luât Đầu tư • •
Theo nghĩa rộng, Luật Đầu tư bao gồm tập họp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động đầu
tư Các quan hệ đầu tư trải rộng trên nhiều giai đoạn, nhiều lĩnh vực của quá trình tổ
12
Trang 14chức và triển khai hoạt động đầu tư, trong đó cơ bản phải kể đến là: quan hệ giữa Nhà nước với nhà đầu tư trong quản lý hoạt động đầu tư; quan hệ giữa các nhà đầu tư với nhau (trong họp tác kinh doanh hay thành lập doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu); quan hệ giữa nhà đầu tư (với tư cách chủ sở hữu cơ sở kinh doanh) và người quản lý
cơ sở kinh doanh; quan hệ giữa nhà đầu tư và các chủ thể khác (trong sử dụng đất, thuê lao động, trong lĩnh vực tài chính, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ) Các quan
hệ này có sự khác nhau nhất định về cả tính chất nội dung và thành phần chủ thể Với đối tượng điều chỉnh như vậy, Luật Đầu tư là hệ thống các quy tắc xử sự, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và tiến hành hoạt động đầu tư Từ quan điểm truyền thống của lý luận pháp luật ở Việt Nam, Luật Đầu tư theo nghĩa rộng là một lĩnh vực pháp luật, bao gồm các quy phạm, các chế định được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau (như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự ) Nói cách khác, luật đầu tư theo nghĩa rộng là một lĩnh vực pháp luật, chứa đựng các quy phạm thuộc nhiều ngành luật khác nhau, điều chỉnh quá trình tổ chức và tiến hành hoạt động đầu tư
Theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của Luật Đầu tư là các quan hệ đầu tư kinh doanh - một bộ phận của các quan hệ thương mại Các quan hệ đầu tư kinh doanh phát sinh trong quá trình các nhà đầu tư bỏ vốn bàng các loại tài sản khác nhau
để tạo lập cơ sở tiến hành các hoạt động đầu tư (bao gồm chuẩn bị đầu tư , thực hiện
và quản lý dự án đầu tư)
Theo nghĩa này, có thể định nghĩa:
“Luật Đầu tư là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện
và quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh”
1.2 Vai trò của đầu tư đổi với việc phát triển kỉnh tế
1.2.1 Vai trò của đầu tư trong nước
Chưa tính đến những đóng góp của hoạt động đầu tư trong nước trước đó, chỉ tính sau 3 năm thực hiện Luật KKĐTTN, tính đến hết ngày 31.12.1997, đã có 963 dự
13
Trang 15án với tổng số vốn đầu tư là hơn 8 tỷ đồng Trong đó, có 35 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp do TW quản lý, chiếm 3,6% trong tổng số dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư trong cả nước, với tổng số vốn đầu tư của các dự án là hơn 1.299.733 tỷ đồng Nhưng đến Luật KKĐTTN sửa đổi thì việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của 64 tỉnh thành đã có hơn 4 nghìn dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi theo Luật sửa đổi này, với tổng số vốn đầu tư thực hiện đã lên tới hơn 60 tỷ Chỉ qua những số liệu rất khái quát này, chúng ta cũng đã thấy được vai trò của đầu tư trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các dự án được cấp phép đầu tư ngày càng tăng, nguồn vốn đầu tư ngày càng lớn điều này đã giải quyết được tình trạng công ăn việc làm cho nhiều lao động trong xã hội sử dụng vào để thực hiện các dự án cũng đã tăng lên, nạn thất nghiệp trong xã hội cũng dần được đẩy lùi, góp phần ổn định đời sống xã hội Qua hai con số thống kê được Tổng hợp từ “Báo cáo các địa phương và hồ sơ lưu lại tại Cục Phát triển Doanh nghiệp” của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư năm 2002 thì số lao động có công ăn việc làm đã tăng lên tò 123.078 người lên 437.010 người từ 2002 đến 2003.
1.2.2 Vai trò của đầu tư nước ngoài
Tính đến hết 30/06/2004, ữên phạm vi cả nước có 5393 dự án được cấp giấy phép đầu tư, ữong đó 4.620 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 43
tỷ USD Thời kỳ 1988 - 1990 có 219 dự án với số vốn đăng ký đạt 1,6 tỷ USD; thời
kỳ 1991 - 1995 có 1.398 dự án với số vốn đăng ký đạt 16,24 tỷ USD; thời kỳ 1996 -
2000 có 1.648 dự án với số vốn đăng ký đạt 20,8 tỷ USD; thời kỳ 2001 đến nay dự án với số vốn đăng ký đạt trên 6 tỷ USD
Nhìn chung từ 1988 đến nay, đã có trên 2000 dự án ĐTNN tăng vốn với quy
mô vốn tăng thêm đạt 9 tỷ USD Thời kỳ 1991 - 1995 có 226 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 2 tỷ USD Riêng thời kỳ 1996 - 2000 có trên 825 dự án ĐTNN tăng vốn mở rộng kinh doanh, với số vốn tăng thêm đạt 3,9 tỷ USD, gấp 1,8 lần quy mô tăng vốn của 5 năm trước Trong giai đoạn từ 2001 đến nay, mặc dù quy mô ĐTNN giảm so với giai đoạn trước nhưng quy mô tăng vốn vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng vốn ĐTNN vào Việt Nam, có 981 lượt dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt
Trang 16gần 3 tỷ USD (Theo số liệu của báo cáo tổng kết 17 năm thi hành Luật Đầu tư, phần II
- Tình hình thực hiện Luật ĐTNN tại Việt Nam)
1.2.3 Đánh glá chung về val trò của đầu tư và tác động của pháp luật
Với những số liệu nêu trên, có thể thấy trong bất cứ sự biến động nào của đời sống kinh tế xã hội thì hoạt động đầu tư vẫn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế Tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào vốn đầu tư và
dự án đầu tư hiệu quả Từ năm 2004 tới nay, hoạt động đầu tư tại Việt Nam đã tiếp tục
có sự chuyển biến tích cực v ố n đăng ký mới và vốn đầu tư thực hiện đều tăng cao so với năm trước và đạt mức cao nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đến nay Sự gia tăng của hoạt động đầu tư là một trong những nguyên nhân lý giải tốc
độ tăng trưởng cao của kinh tế Việt Nam ừpng những năm vừa qua Bên canh những nguyên nhân như tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh được đảm bảo, công cuộc đổi mới tiếp tục được thực hiện nhất quán, vị thế của đất nước được nâng cao thì những thay đổi của hệ thống pháp luật và ảnh hưởng của chúng đối với sự gia tăng của hoạt động đầu tư là yếu tố cần được nhấn mạnh Sự thay đổi của hệ thống pháp luật, nhất là những quy định về đầu tư, cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài đều hướng tới sự đáp ứng các yêu cầu của phát triển kinh tế trường và hội nhập kinh tế quốc tế Những quy định nhằm đơn giản hoá thủ tục thành lập và đăng ký doanh nghiệp liền thay đổi và bổ sung trong thời gian từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp
1999 Tương tự như vậy là các quy định về mua bán hàng hoá, về xuất nhập khẩu và thuế Những thủ tục hành chính đã được đon giản hoá đối với hoạt động đầu tư đã làm cho môi trường đầu tư ở Việt Nam thông thoáng hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước đó, nhất là trước năm 1999
Như vậy, có thể thấy rằng, trong bối cảnh hiện tại, mức độ đáp ứng, mức độ hài hoà của hệ thống pháp luật đối với các yêu cầu của kinh tế thị trường có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động đầu tư và đối với sự phát triển của nền kinh tế Yêu cầu của kinh tế thị trường là các chủ thể của nó phải bình đẳng và có khả năng cạnh tranh và
có môi trường để cạnh tranh lành mạnh Hệ thống pháp luật đã đáp ứng phần nào đòi hỏi này thông qua việc giảm bớt những sự khác biệt trong ưu đãi giữa đầu tư nước
15
Trang 17ngoài và đầu tư trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Việc ban hành Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 và các văn bản về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà, nước đều nhằm tạo ra trong nền kinh tế những chủ thể có sở hữu đan xen Đây là bước khởi đầu trong việc tiến tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử dựa trên tiêu chí sở hữu Tuy nhiên, do vẫn còn tồn tại hai mảng pháp luật khác nhau về đầu tư nên tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể của thị trường vẫn chưa thể có được những đảm bảo pháp lý chắc chắn Thêm vào đó, sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước sẽ không tạo được nền tảng pháp lý cho Việt Nam thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia một khi Việt Nam gia nhập WTO Những điều đó cho thấy dù có những bước tiến lớn đối với việc thúc đẩy hoạt động đầu tư pháp luật về đầu tư vẫn cần có những bước phát triển mới.
1.3 Sự phát triển của Pháp Luật Đầu tư tại Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư diễn ra trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế và xã hội trong nước và tình hình quốc tế có những thay đổi thường xuyên, các yếu tố thuận lợi và khó khăn đan xen, ràng buộc lẫn nhau Vì vậy cần phải phân kỳ quá ừình xây dựng và phát ừiển của pháp luật đầu tư theo một trật tự nhất định để có sự nhận thức một cách có hệ thống các thời kỳ đó Phân kỳ quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật đầu tư thành các giai đoạn dựa vào các căn cứ xác định nhằm những mục tiêu nhất định và tò đó thấy được sự tiến triển của tính thống nhất trong pháp luật đầu tư ở Việt Nam
Mục đích của việc phân kỳ quá trình hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là để làm rõ đặc trưng của từng thời kỳ xây dựng và phát triển của pháp luật đầu tư tại Việt Nam Để đạt được mục đích này, việc phân kỳ có thể dựa trên các yếu tố như : Tình hĩnh kinh tế, xã hội của đất nước và đường lối, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những thay đổi trong hệ thống pháp luật của đất nước Căn cứ vào những yếu tố nêu trên, có thể chia quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành 2 giai đoạn, chủ yếu xét
ở tính thống nhất củạ pháp luật, tính tổng thể của các yếu tố kinh tế, xã hội và hội
16
Trang 18nhập Đó là giai đoạn trước khi Luật Đầu tư 2005 ban hành và giai đoạn từ khi Luật Đầu tư 2005 được ban hành Tuy nhiên xét về tính sự kiện và xét ở các yếu tố như hoàn cảnh kinh tế, xã hội thì giai đoạn trước khi Luật Đầu tư 2005 được ban hành chứa đựng nhiều sự kiện và các yếu tố biến động cục bộ hơn Giai đoạn thứ hai là giai đoạn pháp luật đầu tư Việt Nam đã định hình nhằm hội nhập kinh tế theo hướng tương thích với quy chế đãi ngộ quốc gia, một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO.
1.3.1 Pháp luật đầu tư giai đoạn từ 1975 đến khỉ có Luật Đầu tư 2005
Đây là giai đoạn có sự phát triển song hành của hai khung pháp luật đầu tư với những ưu tiên nghiêng về đầu tư nước ngoài hay đầu tư trong nước tuỳ theo từng thời
kỳ khác nhau trong giai đoạn đó Đây là giai đoạn Việt Nam có những thay đổi lớn, đặc biệt là việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
Pháp luật đầu tư giai đoạn 1975 - 1986
Sau khi giải phóng miền Nam năm 1975, thống nhất đất nước về mặt nhà nước năm 1976, chúng ta mới có điều kiện xây dựng lại nền kinh tế bị chiến ữanh tàn phá nghiêm trọng và phát triển đất nước Đại Hội IV của Đảng đã khẳng định chủ trương
“Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng vậ cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” Đồng thời, ừanh thủ vốn và kỹ thuật để tận dụng khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước ta nhằm nhanh chóng đưa nước ta lên ữình độ tiên tiến của thế giới
Thể chế hóa đường lối, chính sách kinh tế và đối ngoại của Đảng, ngày 18/4/1977, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Điều lệ đầu tư nước ngoài ở nước CHXHCNVN được ban hành kèm theo Nghị định số 115/HĐCP (sau đây gọi là Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977) Đây là văn bản pháp lý đầu tiên thể hiện bước đầu quan điểm “mở cửa” của Đảng và nhà nước ta, bởi lẽ điều lệ khuyến khích đẩu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trừ những ngành nghề bị
T H Ư V ! Ệ N
TRƯỞNG ĐA! SiO' 7 -ÚA: H A , \ :t
P H Ó N G Đ O C - ịM Ò
Trang 19-cấm Điều lệ đã đặt nền tảng cho việc hình thành một khung pháp luật đầu tư riêng với đặc thù là sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài.
Pháp luật đầu tư trong nước giai đoạn này chủ yếu là những hoạt động đầu tư từ ngân sách vào các doanh nghiệp nhà nước Do kinh tế tư nhân giai đoạn này chưa trở thành một thành phần đáng kể của nền kinh tế nên chưa có nhu cầu phải có các văn bản pháp luật về đầu tư Hoạt động đầu tư từ ngân sách được tiến hành theo kế hoạch ngân sách và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước
Pháp luật đầu tư giai đoạn 1987 - 1996
Sau Nghị quyết Hội nghị toàn thể lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa
V, sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với chính sách mở rộng đầu tư nước ngoài Luật Đầu tư nước ngoài được kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa VIII ngày 19/12/1987 thông qua Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã có một bước tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật lập pháp, về sự phù hợp với tập quán và luật pháp quốc tế, tạo môi trường pháp
lý tương đối đầy đủ cho hoạt động đầu tư nựớc ngoài tại Việt Nam Để thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 139 và Nghị định
số 27 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Trong thời gian từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cho đến khi sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất vào năm
1990 Việt Nam đã cấp được 157 giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư là 4 tỷ USD.’ Ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7, Quốc Hội khóa VIII đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và đưa ra một số nội dung chính được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Cho phép tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được trực tiếp hợp tác với đầu tư nước ngoài;
- Mở ra hình thức hợp tác kinh doanh nhiều bên và liên doanh nhiều bên;
- Quy định về liên doanh mới (giữa xí nghiệp liên doanh với cá nhân, tổ chức nước ngoài)
- Đưa ra một số ưu đãi đối với các xí nghiệp sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu
18
Trang 20Tuy nhiên, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990 chỉ giải quyết được bốn vướng mắc lớn đã nêu trên, còn nhiều vướng mắc khác, chưa kể một số vướng mắc mới phát sinh, đã cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tại thời điểm năm 1992, việc sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 lại được đặt ra một cách bức xúc do những chuyển biến tích cực ừong đời sống kinh tế đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật đầu tư nước ngoài nói riêng; nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài do tính cạnh tranh trong việc thu hút đầu
tư ngày càng gay gắt; do những bất cập trong thực tiễn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn trước năm 1992 Ngày 23/12/1992, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Luật này đã sửa đổi, bổ sung 9 điều, bổ sung mới 3 điều tập trung vào 9 vấn đề quan trọng sau đây: Thứ nhất, cho phép doanh nghiệp tư nhân hợp tác đầu tư với nước ngoài; thử hai, quy định hạn chế góp vốn bằng nguồn tài nguyên; thứ ba, quy định tăng dần tỷ ừọng góp vốn của bên Việt Nam; thứ tư, tăng thời hạn đầu tư lên 50 năm đến 70 năm; thứ năm, mở tài khoản vốn vay ở nước ngoài; thứ sáu, quy định về khu chế xuất; thứ bảy,
bổ sung phương thức BOT; thứ tám, bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có sự thay đổi của pháp luật; thứ chín, cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp liên doanh
Qua hai lần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư ở nước ngoài đã từng bước được hoàn thiện, tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh, phần nào đáp ứng được mong đợi của nhà đầu tư nước ngoài tại thời điểm đó
Cùng với việc sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài hàng loạt các văn bản dưới luật liên quan đến lĩnh vực này cũng được sửa đổi hoặc ban hành mới Trong số đó đặc biệt cần kể đến Nghị định số 18/CP ngày 26/12/1992 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Cho đến trước khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, nước ta đã ban hành khoảng 110 văn bản luật và dưới luật liên quan đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 21Thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ VIII về phát triển kinh tế xã hội với mức độ hội nhập kinh tế sâu hơn , Nhà nước đã tiến hành việc sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Ngày 12/11/1996, Quốc Hội đã ban hành Luật đầu tư mới Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được ban hành trong bối cảnh hệ thống pháp luật về kinh tế đã được xây dựng, sửa đổi, bổ sung tương đối đầy đủ, so với trước kia Nhiều đạo luật quan trọng đã được ban hành vào thời điểm này như Bộ Luật Dân Sự, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thu hút tối đa mọi nguồn vốn đầu tư, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 12/CP ngày 18/2/1997 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và 15 văn bản pháp luật khác có liên quan đến đầu tư nước ngoài.
Pháp luật đầu tư trong nước bắt đầu được chú ữọng phát triển Văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong nước đầu tiên là Luật Công ty năm 1990 Tiếp sau
đó, các văn bản pháp luật về đầu tư quan trọng khác được ban hành bao gồm: Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước; Luật Tổ chức tín dụng
So với Pháp Luật về các biện pháp khuyến khích ĐTNN, Pháp Luật khuyến khích ĐTTN ra đời muộn hơn, tuy nhiên nó đã phản ánh rõ chính sách huy động nguồn vốn ĐTTN và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dồi dào ở Việt Nam Thực tế cho thấy Việt Nam là một nước có nguồn lực về tài nguyên rất lớn, nhưng việc sử dụng nguồn lực này vẫn chưa thật hiệu quả Vì vậy cần phải có những biện pháp khuyến khích nhằm tăng cường hoạt động đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế Việc phát huy nội lực trong nước để khai thác có hiệu quả những tiềm năng sẵn có là những vấn đề cần được chú trọng Với tinh thần đó, Nghị Quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh quan điểm “huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là phát huy tối đa mọi nguồn lực trong nước nhằm góp phần phát ừiển kinh
tế, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Đảng và Nhà nước ta
đã khuyển khích các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển kinh tế Ngày 22/6/1994, Quốc hội đã thông qua Luật Khuyến khích ĐTTN, tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất Tuy nhiên do môi trường đầu tư chưa
20
Trang 22thông thoáng, thủ tục đầu tư còn nhiều khó khăn, phức tạp nên kết quả đầu tư còn thấp, mức độ đầu tư chưa cao.
Luật Khuyến khích ĐTTN được ban hành nhằm các mục tiêu:
- Trước hết, nhằm thúc đẩy, khuyến khích tố chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư kinh doanh, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Sự đầu tư của họ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho các bên mà còn trực tiếp phát triển quy mô cũng như năng lực sản xuất trong nước Qua hoạt động đầu
tư mà nhiều doanh nghiệp được thành lập, nâng cấp, mở rộng đồng thời tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống của nhân dân
- Luật Khuyến khích ĐTTN với những quy định về ưu đãi đầu tư, bảo đảm và
hỗ trợ đầu tư đã gián tiếp định hướng cho nhà đầu tư đi vào những ngành, nghề, lĩnh vực cụ thể, phù hợp với khả năng của họ cũng như phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của nhà nước Điều đó đã tạo bước chuyển dịch cơ cầu kinh tế về ngành và lĩnh vực đầu tư, tạo sự phát triển hài hòa cho nền kinh tế
- Luật Khuyến khích ĐTTN còn góp phần định hướng đầu tư vào các vùng dân tộc, miền núi, hải đảo, những vùng nông thôn và những vùng đặc biệt khó khăn Điều
đó tạo điều kiện cho các khu vực này có cơ hội nâng cấp hạ tầng cơ sở, giảm chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vừng kinh tế trong cả nước
Luật Khuyến khích ĐTTN có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện ở những khía cạnh sau: [11, tr 38]
Thứ nhất, xét ở khía cạnh tạo môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư thì Luật
Đầu tư trong nước đã góp phần tạo ra tính toàn diện và tính hệ thống của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ thị trường Luật Đầu tư trong nước khắc phục được tình trạng thiếu quan tâm đầy đủ đối với các nguồn lực ữong nước và tình ừạng điều chỉnh tản mạn, tình thế đối với hoạt động đầu tư
Thứ hai, về mặt chính trị, Luật Đầu tứ trong nước thể hiện những cố gắng của
nhà nước và xã hội trong việc hiện thực hoá chủ trương phát huy, tận dụng và phát triển nội lực trong việc phát ừiển đất nước
Trang 23Thứ ba, v ề mặt kinh tế - xã hội, Luật Khuyến khích ĐTTN góp phần động viên
nguồn vốn tiềm năng của nhân dân vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo thêm việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và mức sống cũa người dân
Luật Khuyến khích ĐTTN (1994) ra đời trong bối cảnh của một nền kinh tế quan liêu bao cấp vừa mới bị xóa bỏ và nền kinh tế thị trường vừa mới được khai sinh Cơ chế kinh tế cũ vẫn đang kìm hãm sự phát triển của một nền kinh tế nhiều tiềm năng Trong khi đó quan điểm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về cải cách kinh tế đã chấp nhận quy luật kinh tế thị trường và xem đó như một định hướng quan trọng để đưa nền kinh tế nghèo nàn, thụ động của chúng ta phát triển Ngoài những tiến bộ và đóng góp tích cực như đã tạo ra môi trường pháp lý về Khuyến khích ĐTTN Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thể chế hóa trong các điều luật phần nào đã góp phần thúc đẩy hoạt động Khuyến khích ĐTTN Nhưng qua ba năm triển khai và thực hiện, Luật Khuyến khích ĐTTN hiện hành cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội trước mắt cũng như lâu dài
ở nước ta, như môi trường đầu tư và kinh doanh chưa ổn định, chưa thông thoáng, chưa hấp dẫn các nhà đầu tư, nhiều biện pháp hỗ ừợ của Nhà nước đã được quy định nhưng chưa được áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt là về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, về vốn, công nghệ và các dịch vụ cho đầu tư Các ưu đãi về thuế còn hạn chế không thực sự khuyến khích các nhà đầu tư Những quy định của Luật đã thể hiện
sự cạn kiệt, bất lực không đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ kinh tế xã hội đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng
Chính vì vậy, đòi hỏi bức xúc của lĩnh vực đầu tư và Khuyến khích ĐTTN là phải có một văn bản pháp lý mới, mang nội dung tiến bộ đáp ứng những yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Ngày 20 tháng 5 năm 1998 Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3 đã nhất trí thông qua Luật Khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi
v ề nội dung, nhìn chung, Luật Khuyến khích ĐTTN sửa đổi có nhiều nội dung mới,
tiến bộ, có lợi cho các nhà đầu tư Có thể nói, Luật mới sửa đổi là một bước tiến quan
22
Trang 24trọng về chính sách khuyến khích đầu tư Có thể nói, Luật mới sửa đổi là một bước tiến quan trọng về chính sách khuyến khích đầu tư trong nước của Đảng và Nhà nước
ta, đặc biệt là chính sách bảo đảm, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư
+ v ề bảo đảm và hỗ trợ đầu tư: Đã có nhiều biện pháp tích cực tháo gỡ những hạn chế vướng mắc cản trở việc thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Bảo đảm về hiệu lực hồi tố do thay đổi quy định của Pháp luật; hỗ trợ về đất đai; tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng; Nhà nước lập và khuyến khích lập các quỹ hỗ trợ đầu tư, Quỹ hỗ ừợ xuất nhập khẩu; hỗ trợ các dịch vụ cho đầu tư.+ v ề ưu đãi đầu tư, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) đã quy đinh
cụ thể việc miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, ưu đãi về tín dụng
Pháp luật đầu tư giai đoạn 1998 - 2004
Tuy nhiên, tò sau năm 1997, tinh hình trong nước cũng như khu vực và thế giới
có nhiều thay đổi Trong bối cảnh đó, pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trước năm 1997 được coi là hấp dẫn, thông thoáng, đang mất dần tính cạnh ừanh, trong khi độ rủi ro của việc đầu tư ở Việt Nam bị đánh giá là tăng lên Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 là nhu cầu cấp thiết Ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Luật này đã bổ sung hai điều mới và sửa đổi, bổ sung 20 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm
2000 đã đưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/07/2000 định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Luật Đầu tư trong nước giai đoạn này được chú trọng phát triển và hoàn thiện Điều này được lý giải bởi sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam Trong giai đoạn này, các văn bản pháp luật quan trọng nhất liên quan đến đầu tư là Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Bảo hiểm
1.3.2 Pháp luật đầu tư giai đoạn 2005 đến nay
23
Trang 25Giai đoạn thứ hai bắt đầu tò việc baii hành Luật Đầu tư 2005 với việc nhất thể
hoá hai khung pháp luật đầu tư Đây được coi là giai đoạn điều chỉnh thống nhất đối
với hoạt động đầu tư được tiến hành bởi bất cứ chủ thể nào, đầu tư trong nước hoặc
đầu tư nước ngoài Trong những năm đầu của giai đoạn này, việc áp dụng thống nhất
pháp luật đầu tư có những điều kiện tiền đề rất quan trọng Đó là việc Việt Nam đã
hoàn tất quá trình hội nhập của mình bằng việc gia nhập WTO, tổ chức thành công hội
nghị APEC Bên cạnh đó, trong gần hai năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có
những thay đổi rất lớn Nhiều Bộ luật, nhiều luật quan trọng liên quan đến đầu tư và
thương mại được ban hành: Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Xây dựng,
Luật Kinh doanh bất động, Luật Đấu thầu Những luật này được ban hành có sự cân
nhắc đến việc Việt Nam sẽ gia nhập WTO nên về cơ bản rất thuận lợi cho việc thực
hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể của nền kinh tế, tự do hoá thương mại
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những điều kiện tiền đề Việc thực hiện tốt Luật Đầu tư
2005 phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố khác mà luận văn đề cập ở Chương III.
1.4 Luật Đầu tư 2005 - Kết quả của xu hướng nhất thể hóa pháp luật đầu
tư và tác động của nó
1.4.1 Luật đầu tư 2005 - Kết qủa tất yếu của xu hướng nhất thể hóa môi trường pháp lý của hoạt động đầu tư
Đặc điểm nổi bật trong chính sách mở cửa của nước ta hiện nay là sự hợp tác
đã được diễn ra trên cả ba tầng nấc: với các nước láng giềng có cùng biên giới; với
các nước trong khu vực Đông Nam Á và mở rộng ra các nước châu Á Thái Bình
Dương và tất cả các nước, các trung tâm kinh tế trên Thế giới và các tổ chức quốc tế
Quá trình hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh chóng thích ứng với một bối
cảnh cạnh tranh phù họp với tập quán kinh doanh của khu vực và thế giới Đây là một
thách thức to lớn đòi hỏi có sự chuyển biến mạnh mẽ cả ở tầm quản lý vĩ mô và bộ
máy sản xuất kinh doanh ở tầm vi mô Trong bối cảnh đó đầu tư trong nước đòi hỏi
phải có một môi trường pháp lý ngang bằng với đầu tư nước ngoài Sự tồn tại hai hệ
đạo luật: Luật Khuyến khích ĐTTN và Luật ĐTNN đã gây khó khăn và rào cản cho
việc tham gia thị truờng của các nhà đầu tư Song bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về
24
Trang 26kinh doanh nói chung còn thiếu tính đồng bộ, ít ổn định, thiếu minh bạch và gây không ít trở ngại cho hoạt động kinh doanh Hệ thống pháp luật này đã phần nào tạo nên sự không bình đẳng khi áp dụng cho các loại hình kinh tế thuộc nhiều loại hình sở hữu Có thể nói rằng, trong hơn 17 năm qua, khung pháp luật về kinh doanh nói chung và về đầu tư nói riêng không ngừng hoàn thiện và phát triển, nhiều đạo luật mới được ban hành như Bộ luật Dân sự, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật Tổ chức tín dụng, các Luật về Thuế, Luật Kinh doanh Bảo hiểm Việc ban hành các luật trên đây cùng các văn bản hướng dẫn thi hành một mặt tạo dựng môi trường pháp lý theo hướng từng bước thu hẹp sự cách biệt, tạo cơ sở cho việc tiến tới hình thành khung pháp lý bình đẳng của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Tuy vậy, các văn bản này vẫn còn có những quy định chồng chéo, không thống nhất, ngày càng nới rộng khoảng cách giữa các doanh nghiệp Một số trường họp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư nên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ Do đó, nếu không sớm có một đạo luật chung về đầu tư sẽ không tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, bình đẳng, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng kém hấp dẫn Luật Đầu tư 2005 có thể trở thành một giải pháp để thúc đẩy đầu
tư và sự phát triển thị trường trong nước Nói một cách khác việc xây dựng' một đạo luật thống nhất về đầu tư là một điều kiện tiên quyết cho các chủ đầu tư trong và ngoài nước có được cơ hội thuận lợi để cạnh tranh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với quốc tế
Việc nhất thể hóa sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động khuyến khích đầu tư tại Việt Nam diễn ra bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, nhu cầu bảo đảm quyền tự do, bình đảng trong kinh doanh của các chủ thể Nguyên tắc tự do kinh doanh và bình đẳng trong kinh doanh được pháp luật
nước ta chính thức thừa nhận trong nhiều đạo luật và đã trở thanh nguyên tắc Hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, sau đó lại cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật Bảo đảm quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh là tư tưởng chủ đạo khi xây dựng pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật về đầu tư nói riêng, góp phần tạo ra cơ sở quan trọng cho việc giải phóng năng lực sản xuất và phát triển quan
25
Trang 27hệ kinh tế ở nước ta Nguyên tắc bình đẳng và tự do kinh doanh dưới góc độ pháp lý biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ cơ bản của nhà đầu tư Trong nền kinh tế thị trường
có nhiều thanh phần kinh tế với các hình thức sở hữu đa dạng, phong phú, luôn nảy sinh các lợi ích đối lập nhau, luôn cạnh tranh để tồn tại và phát triển thì việc đảm bảo quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh là điều tối cần thiết Các nhà đầu tư phải được hưởng một cơ chế pháp lý thống nhất, được Nhà nước đảm bảo hành lang pháp
lý an toàn và công bằng cho các hoạt động đầu tư Chỉ có thể đáp ứng được yêu cầu
đó khi có một hệ thống pháp luật đầu tư đồng bộ nhất quán trên cơ sở đảm bảo triệt để quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh cho các nhà đầu tư; không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, thành phần kinh tế và khả năng tài chính của các chủ thể đầu tư
Thứ hai, xu thế hội nhập và hợp tác quốc tể Trong tình hình hiện nay, với sự đòi
hỏi của họp tác và phát triển thì thực trạng về hệ thống pháp luật khuyến khích đầu tư
ở nước ta chưa thể đáp ứng được Sự phân tách thành hai bộ phận trong pháp luật đầu
tư tại Việt Nam là một điều không thích hợp trong môi trường pháp luật khuyến khích đầu tư so với nhiều quốc gia khác Sự không thống nhất về mặt pháp luật vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa dễ gây ra tâm lý nghi ngại từ phía các nhà đầu tư và các nước đối tác Hơn nữa, ngày nay dưới tác động của các cam kết quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết thì việc thống nhất sự điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư tại Việt Nam có một ý nghĩa quan trọng
Thứ ba, bảo đảm sự thống nhất của pháp luật Sự thống nhất là một thuộc tính
quan trọng của pháp luật mà biểu hiện cụ thể của nó là tính đồng bộ, tính phù hợp và tính toàn diện, không có sự khác biệt và mâu thuẫn nhau giữa các bộ phận pháp luật
điều chỉnh những hành vi tương tự v ề mặt lý luận, các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội và tính chất của các quy phạm pháp luật do chính đặc điểm của các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh quy định Trong lĩnh vực đầu tư, sở dĩ có
sự phân biệt pháp luật đầu tư nước ngoài với pháp luật đầu tư trong nước ở nước ta trong những năm qua là vì hai bộ phận pháp luật này điều chỉnh các hành vi đầu tư của các chủ thể khác nhau, có các quyền và nghĩa vụ khác nhau phát sinh từ các nhóm quan hệ xã hội khác nhau Hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật
26
Trang 28về đầu tư tại Việt Nam là cần sớm có sự thống nhất trong các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của các thành phần kinh tế khác nhau, không phân biệt trong quốc doanh với ngoài quốc doanh, không phân biệt đầu tư trong nước với đầu tư
Thứ tư, yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước Sự vận động của các quan hệ
kinh tế và theo đó là sự vận động không ngừng hoàn thiện của các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư ở nước ta trong 14 năm qua đã dẫn đến sự xích lại gần nhau hon giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Trên thực tế, hướng phát triển của pháp luật về FDI theo xu thế nhất thể hoá pháp luật về đầu tư ở nước ta đã và đang diễn ra
Như vậy, hướng thống nhất pháp luật về đầu tư ữong tương lai sẽ là xây dựng một mặt bằng pháp luật đầu tư chung trên cơ sơ nhất thể hóa hai bộ phận pháp luật đầu tư hiện hành trong những đạo luật áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và đầu
tư nước ngoài Thực hiện được việc này chính là mục tiêu lý tưởng, là phương hướng lâu dài, song còn phụ thuộc nhiều yếu tố và tất nhiên, cần phải có thời gian và những điều kiện nhất định Chính vì vậy, cần phải tiếp tục nhất thể hoá theo những bước đi phù họp Giải pháp trước mắt, theo chúng tôi là tiến hành từng bước tạo sự thống nhất, đồng bộ trong quy định của pháp luật đối với đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở một số khía cạnh pháp lý cụ thể trên nguyên tắc tiếp tục giảm dần khoảng cách giữa pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài với hoạt động đầu tư trong nước
1.4.2 Tác động của Luật Đầu tư 2005
Luật Đầu tư 2005 đã có những tác động rất lớn ứong môi trường kinh tế xã hội rất thuận lợi Năm 2006 tinh hình chính trị - xã hội nước ta tiếp tục ổn định, chính sách đổi mới, thể chế kinh tế thị trường đang được hoàn thiện, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh trong nhiều năm qua đã tạo lòng tin cho các nhà đầu tư Thêm vào
đó, quan hệ chính trị giữa Việt Nam và hầu hết các nuớc đều diễn ra theo chiều hướng tích cực cũng là những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến quan hệ kinh tế, đầu
tư Với việc triển khai các luật mới, thủ tục đầu tư được đơn giản hoá, thể chế kinh tế
27
Trang 29thị trường ngày càng hoàn thiện, môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng và minh bạch Nhờ đó hoạt động đầu tư đã gia tăng đáng kể và năm 2006 vốn đăng ký đạt mức cao nhất tò trước đến nay.
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả nước thu hút được gần 10 tỷ USD vốn đăng ký mới, tăng 41,5% so với cùng kỳ năm trước, trong
đó có khoảng 800 dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng ký trên 7,6 tỷ USD, tăng 60,8 % so với cùng kỳ năm trước Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong năm 2006 đạt 9,4 triệu, điều này chứng tỏ số lượng dự án có quy mô đã tăng lên (số liệu được thống kê từ tạp chí Cộng sản số 124 năm 2007)
Trong năm 2006 vị thế của nước ta trên thế giới tiếp tục được nâng cao hơn sau khi trở thành thành viên thứ 150 của WTO, tổ chức thành công hội nghị APEC lần thứ 14 và được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Thời gian gần đây, có nhiều yếu tố để đưa ra nhận định về khả năng xuất hiện một làn sóng đầu tư mới của nước ngoài vào Việt Nam Làn sóng này dường như âm ỉ
từ sau các động thái Việt Nam đàm phán vòng cuối cùng để gia nhập WTO, khi các tập đoàn lớn của Nhật Bản, Hoa Kỳ gửi các đoàn vào Việt Nam tìm hiểu môi trường đầu tư, kinh doanh để tìm kiếm cơ hội đầu tư Rồi hàng loạt các sự kiện diễn ra tại Việt Nam năm 2006 đã góp phần làm nổi lên làn sóng đầu tư mà đỉnh cao là vốn đăng
ký thực hiện của năm 2006 đều đạt mức đỉnh điểm kể từ khi nước ta thực thi Luật Đầu
tư 2005
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh của nước
ta nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thông thoáng và minh bạch cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài là yếu tố quan trọng được cộng đồng quốc tế quan tâm Đặc biệt, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Sở hữu trí tuệ và một số luật khác được ban hành và
có hiệu lực trong năm 2006 đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá kinh tế thị trường và đường lối mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư
Trang 30Qua đây, chúng ta thấy được một chặng đường hình thành và phát triển của Luật Đầu tư một cách thống nhất Mỗi một giai đoạn phát triển của Luật Đầu tư bao giờ cũng phản ánh một giai đoạn phát triển kinh tế của thời kỳ đó Sự phát triển và hoàn thiện của Luật Đầu tư ngày càng phù hợp và đáp ứng với xu thế phát triển hội nhập của đất nước trong môi thời kỳ Và Luật Đầu tư 2005 ra đời như là một xu thế tất yêu đối với nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường.
29
Trang 31CHƯƠNG 2 LUẬT ĐẦU T ư 2005 TIẾP CẬN TỪ PHÍA ĐÒI HỎI LÝ LUẬN VÀ THựC “ * • •
TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ■ ■
2.1 Tính tất yếu của Luật Đầu tư với tư cách là Luật Đầu tư chung
Thực hiện công cuộc đổi mới, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật ĐTNN tại Việt Nam, Luật KKĐT
trong nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước tạo nên một khung
pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm
của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, phù họp với yêu cầu hội nhập; tạo
môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
Nhờ hiệu quả của hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư đã ban hành, việc huy động
nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tăng
Tuy nhiên, những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy
nhanh CNH, HĐH, chủ động hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những đòi hỏi khách
quan đối với việc cần thiết phải xây dựng một môi trường đầu tư mới vì:
- Thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới thời gian qua cho thấy, hệ thống pháp luật về đầu tư và môi trường kinh doanh tại Việt Nam không ngừng được hoàn thiện,
theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập “cùng một sân chơi chung” cho các
thành phần kinh tế Những khác biệt về điều kiện đầu tư, kinh doanh như điều kiện gia
nhập thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra và hoạt động quản lý doanh nghiệp giữa
đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đã thu hẹp đáng kể, thậm chí nhiều chính sách
đã được hòa đồng Tuy nhiên, do các luật liên quan đến đầu tư trong nước và nước
ngoài được ban hành ở các thời điểm khác nhau, có phạm vi đối tượng khác nhau nên
các chính sách về đầu tư chưa có sự nhất quán, chưa thực sự tạo được “một sân chơi”
bình đẳng; tình trạng phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư vẫn còn tồn tại, đã hạn chế
việc phát huy nguồn lực Những bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành
phần kinh tế ngày càng bộc lộ rõ trước sự phát triển năng động, đa dạng của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
30
Trang 32thường xuyên rà soát hệ thống giấy phép kinh doanh hiện có cũng như kiểm soát giấy phép kinh doanh mới ban hành nhằm tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam luôn luôn khẳng định việc Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, nhưng đi vào từng vấn đề cụ thể thì lại rất chung chung, nên việc thực hiện các
dự án gặp rất nhiều khó khăn Nghị định số 24 đã quy định “nhà đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư, đối tác đầu tư, hình thức đầu tư, địa bàn đầu tư, thời hạn đầu
tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ góp vốn pháp định phù họp với quy định của Luật Đầu tư nước ngoài và Nghị định này” (Điều 3 khoản 2) Nhưng thực tế cho thấy, các nhà đầu tư thường bị hạn chế về quyền tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu
tư, quy mô dự án Nguyên nhân là do Pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành thiếu những quy định xác định rõ ràng quyền tự do lựa chọn đối tác đầu tư và cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài [27, tr 1 ]
Hiện nay quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế vì họ chỉ được hoạt động kinh doanh trong phạm vi của Giấy phép đầu tư; và vì thế họ chịu rủi ro so với nhà đầu tư trong nước Luật Đầu tư 2005 sẽ xóa bỏ hầu hết các hạn chế,
nó cho phép nhà đầu tư được tự chủ trong các quyết định đầu tư của mình, trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư và hình thức huy động vốn đầu tư Luật Đầu tư 2005 mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ mà pháp luật không cấm bằng việc xây dựng các “danh sách loại trừ” và
“cơ chế”, một điều mà các nhà đầu tư trong nước vẫn được hưởng theo Luật Doanh nghiệp hình thức đầu tư, Luật Đầu tư 2005 cho phép nhà đầu tư nước ngoài được đầu
tư thành lập doanh nghiệp và được đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành nghề pháp lý như nhà đầu tư trong nước Bên cạnh đó, nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư gián tiếp thông qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu hay qua các quỹ đầu tư và định chế tài chính trung gian - đây có thể là một phương thức hữu hiệu, điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài
Mặt khác, các nhà đầu tư còn được tự do lựa chọn hĩnh thức, quy mô đầu tư, tiếp cận các nguồn lực đầu tư, tự do chuyển nhượng vốn, điều chỉnh dự án, tiếp nhận
32
Trang 33- Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và khu vực đang diễn ra ngày càng gay gắt, nhất là khi Trung Quốc gia nhập WTO và các nước trong
khu vực đang cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do hóa đầu tư,
thương mại, làm cho hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài của ta được coi là hấp
dẫn, nay đang giảm dần tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực Do đó, Luật
đầu tư cần thể hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích phải có tính cạnh tranh cao hơn
hoặc ít nhất cũng phải tương đương so với các nước trong khu vực
Luật Đầu tư 2005 có khá nhiều điểm mới mang tính đột phá trong việc đáp ứng
các yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Điểm mới cơ bản
nhất của Luật Đầu tư 2005 là việc áp dụng thống nhất các quy định của Luật đối với
toàn bộ hoạt động đầu tư được tiến hành bởi tất cả các chủ thể, không kể đó là nhà đầu
tư nước ngoài hay trong nước Bên cạnh đó, những điểm mới dưới đây cũng cần được
làm rõ tò các khía cạnh lý luận và thực tiễn [8, Ừ.2]
2.2 Môt sổ điểm mới cơ bản của Luât Đầu tư 2005 • •
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư
Việc mở rộng quyền tự do kinh doanh để doanh nghiệp có thể đầu tư và hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực mà pháp luật không cấm là một trong những nguyên tắc quan
trọng nhất của đạo luật này Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh này trên thực tế vẫn
có nguy cơ bị xâm phạm do nhiều cơ quan công quyền đang sử dụng giấy phép kinh
doanh và điều kiện kinh doanh như một công cụ quản lý nhà nước để kiểm soát doanh
nghiệp Bất chấp một số nỗ lực cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh và đăng ký
kinh doanh trong thời gian vừa qua, việc ban hành giấy phép kinh doanh mới và áp
đặt các điều kiện kinh doanh lại có xu hướng trỗi dậy Doanh nghiệp vẫn tiếp tục
phàn nàn về tình trạng tồn tại rất nhiều giấy phép kinh doanh và điều kiện kinh doanh
bất họp lý và kèm theo là thủ tục cấp phép thiếu minh bạch và không rõ ràng Thiết
lập một cơ chế kiểm soát mạnh mẽ chất lượng các giấy phép kinh doanh cũng như
việc thực thi các quy định về giấy phép kinh doanh là một nhu cầu cấp thiết mà cộng
đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đang đặt ra Đây là một cơ chế đòi hỏi phải
31
Trang 34gì để phân biệt đối xử với những người mang lại lợi ích cho xã hội nếu những lợi ích
xã hội lớn hơn không đòi hỏi phải làm như vậy
v ề phương diện thực tiễn, việc thực hiện các biện pháp phân biệt đối xử đốivới các nhà đầu tư trong thời kỳ trước đây không mang lại lợi ích cho nền kinh tế.Ngược lại, những hạn chế này khi thì làm nản lòng nhà đầu tư trong nước, lúc thì làm nản lòng nhà đầu tư nước ngoài Kết quả là luồng vốn đầu tư vào nền kinh tế không có được kết quả như mong muốn và tính canh tranh của nền kinh tế không cao
2.2.2 Hình thức đầu tư
Các hình thức đầu tư bao gồm đầu tư hình thành tổ chức kinh tế, đầu tư theo dự án, mua cổ phần, góp vốn trức tiếp vào các tổ chức kinh tế, sáp nhập và mua lại, các hình thức đầu tư gián tiếp Trong đó hình thức đầu tư gián tiếp là vấn đề mới
Thực tế, đầu tư gián tiếp được thực hiện thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác Hình thức đầu tư gián tiếp được quy định trong luật góp phần vào việc thu hút vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn còn nhàn rỗi trong dân Kinh nghiệm và thực tiễn bán đầu giá cổ phiếu của một số công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội thời gian qua là những ví dụ sinh động Tuy vậy, các hoạt động đầu tư gián tiếp chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, thông qua các sàn giao dịch, không trực tiếp quản lý, kiểm soát công ty và cần phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành như Chứng khoán, Luật về Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm, nên đây là cơ sở ban đầu để chúng ta tiếp tục có những văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này
Luật Đầu tư 2005 có quy định mới hơn so với Luật ĐTNN và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước về hình thức đầu tư Tại Điều 4 Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định có 03 hình thức đầu tư cơ bản là:
- Họp tác trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh)
- Thành lập doanh nghiệp liên doanh (liên doanh)
- Thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (độc doanh)
34